1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm t EMB 1 vào khẩu phần ăn đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà ROSS 308 giai đoạn 1 49 ngày tuổi, nuôi tại sơn cẩm phú lương thái nguyên

65 830 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm T-EMB-1 vào khẩu phần ăn đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà ROSS 308 giai đoạn 1 49 ngày tuổi, nuôi tại Sơn Cẩm Phú Lương Thái Nguyên
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Chăn nuôi và Thú y
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 797,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khóa Luận cực hay và bổ ích !!!!!!!

Trang 1

MỤC LỤC

Phần 1: CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1

1.1 Điều tra cơ bản 1

1.1.1 Điều kiện tự nhiên 1

1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 2

1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp 5

1.1.4 Nhận xét chung 8

1.2 Nội dung, phương pháp và kết quả công tác phục vụ sản xuất 9

1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất 9

1.2.2 Phương pháp tiến hành 10

1.2.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 10

1.3 Kết luận 16

1.3.1 Những kết quả chủ yếu đạt được 16

1.3.2 Tồn tại 16

Phần 2: CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 17

2.1 Tính cấp thiết đề tài 17

2.2 Tổng quan tài liệu 19

2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 19

2.2.2 Giới thiệu chế phẩm T - EMB - 1 33

2.2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 35

2.3 Đối tượng, nội dung, địa điểm, thời gian và phương pháp tiến hành 36

2.3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 36

2.3.2 Nội dung nghiên cứu 36

2.3.3 Phương pháp nghiên cứu 36

2.3.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi 37

2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 40

2.4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 40

Trang 2

2.4.1 Tỷ lệ nuôi sống 40

2.4.2 Sinh trưởng tích lũy 42

2.4.3 Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối 44

2.4.4 Tiêu thụ thức ăn 48

2.4.5 Hiệu suất sử dụng thức ăn 50

2.4.6 Chỉ số sản xuất cuả gà thí nghiệm 54

2.4.7 Kết quả mổ khảo sát khả năng cho thịt của đàn gà thí nghiệm 55

2.4.8 Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng 55

2.5 Kết luận và đề nghị 57

2.5.1 Kết luận 57

2.5.2 Đề nghị 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 3

DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT

CS : Cộng sự

CRD : Bệnh hô hấp mãn tính CTV : Cộng tác viên

ĐC : Đối chứng LMLM : Lở mồm lông móng NXB : Nhà xuất bản

UBND : Ủy ban nhân dân TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam THT : Tụ huyết trùng

TN : Thí nghiệm

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Lịch sử dụng vaccine cho đàn gà 12

Bảng 1.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 15

Bảng 2.1 Liều lượng sử dụng chế phẩm T - EMB - 1 34

Bảng 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 37

Bảng 2.3 Thành phần giá trị dinh dưỡng của khẩu phần cơ sở 37

Bảng 2.4 Tỷ lệ nuôi sống của gà qua các tuần tuổi 41

Bảng 2.5 Khối lượng gà qua các tuần tuổi 42

Bảng 2.6 Sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm 45

Bảng 2.7 Tiêu thụ thức ăn của gà 49

Bảng 2.8 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng 51

Bảng 2.9 Tiêu tốn Protein và ME cho tăng khối lượng 53

Bảng 2.10 Chỉ số sản xuất của gà 54

Bảng 2.11 Một số chỉ tiêu mổ khảo sát của gà thí nghiệm 55

Bảng 2.12 Chi phí thức ăn để sản xuất 1 kg tăng khối lượng sống của gà 56

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Tế bào Bacillus subtilis 23

Hình 2.2 Tế bào nấm men Saccharomyces cerevisae 24

Hình 2.3 Chế phẩm T - EMB - 1 34

Hình 2.1 Đồ thị sinh trưởng tích lũy của gà thịt qua các tuần tuổi 44

Hình 2.2 Sinh trưởng tuyệt đối của đàn gà qua các tuần tuổi 47

Hình 2.3 Đồ thị sinh trưởng tương đối của đàn gà Ross 308 qua các tuần tuổi 48

Trang 6

Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT

1.1 ĐIỀU TRA CƠ BẢN

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1.1 Vị trí địa lý

Nằm ở cực Nam của huyện, Sơn Cẩm cách thành phố Thái Nguyên 7

km và trung tâm huyện 15km về phía Bắc, ranh giới của xã được xác định như sau: Phía Đông tiếp giáp với xã Cao Ngạn thành phố Thái Nguyên; Phía Tây tiếp giáp với xã An Khánh huyện Đại Từ; Phía Nam tiếp giáp với phường Tân Long Thành phố Thái Nguyên; Phía Bắc tiếp giáp với xã Cổ Lũng huyện Phú Lương

1.1.1.2 Địa hình - đất đai

* Địa hình

Xã Sơn Cẩm thuộc huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, nhưng so với các xã trong vùng thì Sơn Cẩm có địa hình bằng phẳng hơn, tuy vậy vẫn có một vài ngọn núi, trong đó lớn nhất là ngọn núi Sơn Cẩm nằm ven quốc lộ 3 Với nhiều đồi và núi thấp, độ cao thường dưới 150m, vùng đồi núi có độ dốc

từ 8 - 150 chiếm trên 16,7% tổng diện tích của xã

1.1.1.3 Khí hậu, thủy văn

* Khí hậu

Sơn Cẩm nằm gần với thành phố Thái Nguyên nên được xếp trong vùng khí hậu chung của miền núi phía Bắc Việt Nam, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa nóng, lạnh rõ rệt

Trang 7

- Mùa lạnh (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) nhiệt độ xuống thấp, thời gian này khí hậu khô hanh, độ ẩm trung bình 76 - 78%; biên độ nhiệt trong ngày dao động từ 13 - 240C, có ngày giảm xuống còn 8 - 100C Ngoài ra, còn chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, giá rét và sương muối kéo dài gây ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của cây trồng, phát triển và sức chống

đỡ bệnh ở vật nuôi

- Mùa nóng (từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm) có nhiệt độ cao, dao

động từ 21 - 36 0C; độ ẩm từ 80 - 86 % Số giờ nắng trung bình 1 năm là

1.628 giờ

Lượng mưa trung bình từ 2.000 - 2.100 mm/năm Từ tháng 4 đến tháng

10, mưa nhiều chiếm trên 90 % tổng lượng mưa cả năm Tháng 7 có lượng

mưa lớn nhất (bình quân từ 410 mm - 420 mm/tháng) Tháng 11 và tháng 12

ít mưa, lượng mưa trung bình chỉ khoảng từ 24 đến 25 mm/tháng Tuy lượng mưa phân bố không đồng đều trong năm, nhưng khí hậu vào mùa mưa thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Đối với người chăn nuôi thì thời gian này cần phải chú ý đến công tác thú y, đề phòng dịch bệnh trên đàn vật nuôi, giảm thiệt hại có thể xảy ra

* Thủy văn

Trên địa bàn xã có 2 hệ thống sông ngòi chảy qua là Sông Đu và sông Cầu Đây là nguồn cung cấp nước chủ yếu đảm bảo cho sinh hoạt và sản xuất của xã Hầu hết các sông đều hẹp và dốc, nên trong mùa nóng, mưa nhiều, thường xảy ra lũ lụt, xói mòn và sạt lở đất, gây nhiều thiệt hại cho sản xuất và đời sống, sinh hoạt của nhân dân

1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

1.1.2.1 Kinh tế

Xã Sơn Cẩm có cơ cấu kinh tế đa dạng, nhiều thành phần cùng hoạt động: Nông - Công - Lâm nghiệp và dịch vụ, tạo mối quan hệ qua lại hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển

Sơn Cẩm xa trung tâm huyện nhưng lại gần với thành phố Thái Nguyên nên có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, đặc biệt là công nghiệp, tiểu công nghiệp và xây dựng Tỷ trọng sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp là 47,8%, thu nhập khoảng 15 tỷ đồng Tuy vậy, sản xuất

Trang 8

nông nghiệp vẫn chiếm hơn 50% tổng thu nhập, bao gồm cả ngành trồng trọt

và chăn nuôi

Sơn Cẩm có một nền kinh tế phát triển hơn so với các xã khác trong huyện Phú Lương Nhờ mỏ than Khánh Hòa, nhà máy luyện cốc Sơn Cẩm và trục quốc lộ 3 chạy qua đã tạo công ăn việc làm và ngành dịch vụ - cơ khí phát triển, tăng thu nhập cho người dân trong xã

Năm 2011, tổng thu ngân sách trên địa bàn xã gần 37 tỷ đồng, đạt 113% kế hoạch (Theo báo cáo UBND xã Sơn Cẩm năm 2011)[21] Theo quy hoạch dự kiến của UBND tỉnh Thái Nguyên, xã Sơn Cẩm dự kiến sẽ hình thành cụm công nghiệp Sơn Cẩm 1 với diện tích là 75 ha và Sơn Cẩm 2 với diện tích là 50 ha, đồng thời bổ sung thêm một cụm công nghiệp may với diện tích15 ha

1.1.2.2 Xã hội

* Dân số

Sơn Cẩm là địa phương đông dân nhất và có mật độ dân số chỉ đứng sau hai thị trấn Giang Tiên và Đu của huyện Phú Lương Tổng dân số của xã khoảng 14520 người với 3728 hộ gia đình Mật độ dân số là 854 người/km2

* Dân tộc

Xã Sơn Cẩm có 8 dân tộc anh em chung sống: Kinh, Sán Dìu, Nùng, Tày, Sán Chí, Thái, Hoa, Dao Đa số là dân tộc Kinh (60%), dân tộc thiểu số chiếm 40% dân số toàn xã Các dân tộc sống đan xen, đoàn kết, hoà thuận và

hỗ trợ nhau cùng phát triển Những năm qua, các chính sách dân tộc và miền núi của Đảng và Nhà nước được thực hiện trên địa bàn xã đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, rút ngắn dần khoảng cách chênh lệch giữa các dân tộc trong vùng

1.1.2.3 Giao thông

* Giao thông đường bộ

Địa bàn xã có tuyến quốc lộ 3, là tuyến đường bắt đầu từ Hà Nội qua tỉnh Thái Nguyên đến cửa khẩu Tà Lùng (Cao Bằng) với chiều dài quốc lộ chạy qua xã là 3 km và tuyến quốc lộ 1B mới chạy qua

Trang 9

* Giao thông đường sắt

Tuyến đường sắt Quan Triều - Núi Hồng chuyên chở khoáng sản cũng qua địa bàn xã và chạy song song với tuyến quốc lộ 3 Được xây dựng từ rất lâu nhưng vẫn giữ nguyên và phát huy tác dụng như thủa ban đầu

* Giao thông đường thủy

Dưới thời Pháp thuộc, sông Cầu là tuyến giao thông quan trọng của huyện Phú Lương và cả tỉnh Thái Nguyên Hiện nay dòng sông Cầu trên địa bàn ít được khai thác tiềm năng về vận chuyển đường thủy

1.1.2.4 Giáo dục - Đào tạo

Tiếp giáp với thành phố Thái Nguyên, chịu sức hút và ảnh hưởng rất nhiều tới lĩnh vực giáo dục, nhưng huyện Phú Lương nói chung hay xã Sơn Cẩm nói riêng vẫn vững vàng và khẳng định được vị trí, vai trò giáo dục của mình tới sự nghiệp “trồng người” trong khu vực

Xã đã có hệ thống trường đào tạo từ mầm non tới bậc trung học phổ thông khá phong phú như : Trường Mầm non Khánh Hòa, trường Tiểu học Sơn Cẩm, trường Trung học cơ sở Sơn Cẩm, trường trung học Phổ thông Khánh Hòa Ngoài ra, trường Cao đẳng công nghiệp Thái Nguyên, trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Việt Bắc-Vinacomin của Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam cũng nằm trên địa bàn xã

Với số lượng và hệ thống các trường phổ thông khá phong phú, đã đáp ứng khá tốt nhu cầu học tập của người dân Bên cạnh đó sự phát triển của các trường nghề trên địa bàn đã góp phần đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ cho con

em đồng bào các dân tộc trong khu vực

Trang 10

1.1.2.6 An ninh quốc phòng

Trên địa bàn xã có Trại giam Phú Sơn 4 là cơ sở điển hình của cả nước

về đầu tư cơ sở vật chất phục vụ công tác cải tạo , rèn luyện những người phạm tội trở thành công dân có ích của cả nước

Trong những năm qua , xã đã rất chú ý tới công tác củng cố và tăng cường an ninh quốc phòng , kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng và an ninh với phát triển kinh tế xã hội; Phát động rộng rãi phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, phong trào tự quản, giữ gìn an ninh trật tự ở nông thôn Lực lượng vũ trang của xã đã thực hiện nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, trực phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai, tìm kiếm cứu nạn tham gia vào

kế hoạch phòng chống lụt bão của xã sẵn sàng hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao

1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp

1.1.3.1 Tình hình sản xuất ngành trồng trọt

Ngành trồng trọt đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế của

xã Để nâng cao hiệu quả sản xuất, xã đã thử nghiệm xây dựng các mô hình trên cơ sở dồn điền đổi thửa, cơ giới hóa gắn với liên kết “4 nhà” theo hướng sản xuất hàng hóa Đẩy mạnh ứng dụng các giống năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất và thực hiện thâm canh tăng vụ

* Cây nông nghiệp: Chủ lực của xã là cây lúa, với diện tích trồng khá

lớn (280 ha) Ngoài ra, còn có một số cây khác như: Khoai lang, lạc, ngô, đậu tương… và nhiều loại rau màu được trồng xen giữa các vụ lúa nhưng chủ yếu

là trồng vào vụ đông

* Cây ăn quả: Na, nhãn, vải… được trồng với diện tích lớn, song thiếu

tập trung, chưa thâm canh nên năng suất còn thấp Sản phẩm chỉ mang tính tự cung tự cấp, chưa là hàng hóa kinh doanh

* Cây công nghiệp và lâm nghiệp: Được gắn với thương hiệu là “Đệ

nhất danh trà”của tỉnh Thái Nguyên, xã Sơn Cẩm đã có nhiều chú trọng trong việc lựa chọn giống chè, quy trình trồng trọt, chế biến… nhằm đưa cây chè là cây chủ lực trong hướng phát triển cây công nghiệp của địa phương

Bên cạnh đó, để ngăn chặn được tình trạng suy thoái về diện tích và chất lượng rừng, thực hiện theo đường lối lãnh đạo của cấp trên, xã đã giao

Trang 11

đất, giao rừng cho các hộ nông dân nên diện tích đất trồng cây lâm nghiệp ngày càng mở rộng (năm 2011 đã trồng mới và trồng lại được 43,5 ha rừng) Ngoài ra, người dân được hướng dẫn chăm sóc và khai thác gỗ theo đúng quy định Tình trạng chặt phá rừng trái phép đã giảm, công tác phòng cháy chữa cháy được áp dụng nghiêm ngặt, không để sự cố đáng tiếc nào xảy ra

1.1.3.2 Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi

Tình hình chăn nuôi của tỉnh Thái Nguyên trong những năm gần đây đang phát triển khá mạnh Ngành chăn nuôi của tỉnh đang phát triển theo hướng tập trung, hiện đại, đầu tư lớn sản xuất hàng hóa có giá trị, hiệu quả kinh tế cao Sơn Cẩm cũng vậy, là xã giáp thành phố Thái Nguyên và gần trường Đại học Nông Lâm nên có nhiều thuận lợi trong việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và chuyển giao con giống mới trong chăn nuôi Nhiều trang trại trong xã được đầu tư đồng bộ từ con giống, chuồng trại, thức

ăn, thú y và xử lý chất thải chăn nuôi với trang thiết bị tiên tiến Tuy nhiên, tỷ

lệ chăn nuôi nhỏ lẻ, tận dụng các phụ phẩm của ngành trồng trọt là chủ yếu

* Chăn nuôi trâu bò

Tổng đàn trâu bò của xã năm 2011 khoảng 245 con, trong đó chủ yếu là trâu Do phương thức chăn nuôi trâu bò nhỏ lẻ số lượng ít, tận dụng phụ phẩm, ít chủ động nguồn thức ăn, ít ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nên

đã ảnh hưởng tới sức khỏe, sinh trưởng, tình hình dịch bệnh của đàn trâu bò Tuy nhiên một số hộ chăn nuôi trâu đã bắt đầu chuyển đổi hình thức chăn nuôi trâu, bò theo hướng đầu tư thâm canh , ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về con giống , thức ăn, quy trình chăn nuôi và tiến hành chăn nuôi với quy mô lớn nhằm tạo ra nguồn cung cấp thực phẩm lớn cho thị trường Nhờ đó chăn nuôi trâu , bò, đang có hướng phát triển mới , mang lại hiệu quả kinh

tế cho người chăn nuôi

* Chăn nuôi lợn

Thời gian gần đây, cơ quan chức năng trên cả nước đã phát hiện không ít cơ sở chăn nuôi vì chạy theo lợi nhuận, coi thường sức khỏe của người tiêu dùng nên đã sử dụng nhiều hóa chất cấm trong bảo quản thịt và thức ăn chăn nuôi lợn Vì lí do này, không ít người dân trong xã đã chọn phương pháp chăn

nuôi “lợn sạch” với số lượng từ 1 - 2 con Sử dụng thức ăn chủ yếu là tận

Trang 12

dụng phế phụ phẩm của ngành trồng trọt như: Ngô, khoai, sắn…Tuy nhiên, để

có được đàn lợn chất lượng tốt, năng suất cao, đáp ứng cho nhu cầu thị trường thì, đã có một số hộ gia đình mạnh dạn đầu tư vốn, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi Việc định hướng trong công tác giống được coi là việc cần phải làm đầu tiên Nhiều giống lợn ngoại siêu nạc và đặc sản đã được người chăn nuôi lựa chọn Do áp dụng các tiến bộ khoa học , kỹ thuật, năng xuất chăn nuôi và sản lượng thịt lợn của xã đã tăng lên đáng kể Tổng sản lượng thịt hơi các loại năm 2011 là 880 tấn

* Chăn nuôi gia cầm

Trước tình hình giá gà thương phẩm trên thị trường thường bấp bênh, trong khi đó giá con giống và thức ăn chăn nuôi lên xuống thất thường, đã gây nhiều khó khăn cho các trang trại chăn nuôi trên địa bàn xã Hiện nay, trên địa bàn xã đang tồn tại một thực tế đó là đa số các gia đình chăn nuôi gà theo hình thức trang trại và gia trại, song họ thường sản xuất độc lập, ít có sự liên kết Do đó, vẫn thường xảy ra tình trạng thấy giá cao thì ồ ạt nuôi, đến khi giá giảm bất ngờ thì trở tay không kịp Điều đó đã buộc các hộ chăn nu ôi phải thực hiện một hướng chăn nuôi mới , liên kết với các cơ sở thức ăn lớn để được đảm bảo về con giống , quy trình kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm Với hướng chăn nuôi gia công này, nhiều trang trại có quy mô nuôi từ 2000- 16.000con/ lứa đã được mọc lên, người chăn nuôi có thu nhập ổn định , dịch bệnh được đảm bảo , chăn nuôi ổn định và phát triển Ngoài chăn nuôi trang trại, chăn nuôi gia cầm theo phương thức truyền thống nhỏ lẻ vẫn phát triển ở hầu hết các gia đình , nhằm cung cấp thực phẩm tại chỗ , chất lượng cao cho các gia đình Do vậy, tỷ trọng chăn nuôi gia đình vẫn ở mức cao Tuy nhiên

do phương thức chăn nuôi này mang tính tự phát , quy mô nhỏ, ít được đầu tư khoa học kỹ thuật nên năng suất thấp , sản lượng ít , tiềm ẩn nhiều nguy cơ phát sinh ra dịch bệnh lớn

1.1.3.3 Công tác thú y

Tình hình dịch bệnh luôn là hiểm họa cản trở ngành nông nghiệp tiến lên, nên với người chăn nuôi thì công tác thú y luôn được chú trọng hàng đầu Trong đó với phương châm “ phòng hơn chữa bệnh”

Trang 13

Theo sự hướng dẫn và chỉ đạo của cấp trên, năm 2011 xã đã thực hiện tiêm phòng cho vật nuôi và đạt được một số kết quả sau: Tiêm vacxin LMLM trâu bò, lợn nái, lợn đực giống; Vacxin THT trâu bò, vacxin dịch tả lợn cho lợn nái, đực giống; Vacxin phòng bệnh dại chó, mèo … và tiêm phòng bổ sung vacxin cúm gia cầm Cụ thể đã đạt kết quả như sau:

- Tiêm phòng cho đàn trâu bò: 2 đợt tiêm với 453 lượt con

- Tiêm phòng cho đàn lợn: 2 đợt tiêm với 6370 lượt con

- Tiêm phòng cúm cho gia cầm: 3 đợt với 64.239 lượt con

- Tiêm phòng dại cho đàn chó: 2 đợt được 3199 lượt con/2974 con (trong đó bổ sung lần 2 được 225 con)

Vì vậy, trong thời gian gần đây, chăn nuôi của xã phát triển khá, dịch bệnh được khống chế

1.1.4 Nhận xét chung

1.1.4.1 Thuận lợi

- Xã Sơn Cẩm được thiên nhiên ưu ái, với nguồn khoáng sản than đá rất lớn, là điều kiện thuận lợi để phát triển ngành công nghiệp khai thác khoáng sản và các ngành dịch vụ khác

- Xã có hệ thống đường giao thông khá phát triển , có nhiều trục đường quốc lộ, tỉnh lộ chạy qua, hệ thống gia thông đường thủy, đường sắt khá thuận lợi Điều đó giúp cho việc lưu thông hàng hóa , tiếp nhận thông tin dễ dàng , đây là điều kiện thuận lợi cho sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng phát triển

- Địa hình của xã khá đa dạng bao gồm cả đất đồi núi cao, dốc và nhiều khu bằng phẳng Đây là điều kiện tốt để phát triển nhiều loại hình chăn nuôi

đa dạng, phong phú Một số giống vật nuôi quý hiếm, giống địa phương đã được bà con nông dân lựa chọn đầu tư, chăn nuôi

- Là nơi tiếp giáp giữa vùng trung du và khu vực miền núi, lại gần thành phố Thái Nguyên nên Sơn Cẩm là xã được thu hút nhiều nguồn hỗ trợ,

dự án từ Nhà nước cho người nông dân để phát triển ngành nông nghiệp nói chung hay chăn nuôi thú y nói riêng

Trang 14

1.1.4.2 Khó khăn và hạn chế

- Sơn Cẩm là một xã đông dân , mật độ dân số cao , nên diện tích đất dùng cho sản xuất nông nghiệp tính trên đầu dân còn thấp Diện tích đất dùng trong chăn nuôi, nhất là chăn nuôi đại gia súc còn eo hẹp

- Đất đai của xã nhìn chung là bạc màu, không được chú ý bồi đắp hàng năm, nên năng suất các loại cây trồng nhìn chung thấp

- Trình độ dân trí nhìn chung thấp và không đồng đều Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn ở tỷ lệ thấp Thiếu đội ngũ cán bộ khoa học và doanh nhân giỏi

- Công nghiệp của xã chủ yếu là khai thác khoáng sản, nhưng chưa chú

ý đầu tư đến bảo vệ môi trường , nên hậu quả ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng

- Cơ sở vật chất phục vụ sản xuất nói chung còn nghèo nàn , lạc hậu Chưa có chế độ ưu đãi về v ốn, khoa học và nguồn nhiên liệu cho phát triển sản xuất nông nghiệp

1.2 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ CÔNG TÁC PHỤC

VỤ SẢN XUẤT

1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất

Trên cơ sở điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương, đặc biệt là dựa trên điều kiện thực tiễn của cơ sở thực tập, chúng tôi đề ra một

số nội dung phục vụ sản xuất như sau:

1.2.1.1 Công tác giống

a) Công tác chăm sóc nuôi dưỡng: Tiến hành thực hiện quy trình chăm

sóc, nuôi dưỡng gà thịt

b) Công tác thú y: Thực hiện quy trình vệ sinh thú y, tiêm phòng dịch,

chẩn đoán và điều trị bệnh cho gà

Trong thời gian thực tập chúng tôi thực hiện quy định về công tác thú y thực hiện trong trại gà như sau:

- Ra vào trại đúng nội quy

- Làm tốt công tác vệ sinh môi trường xung quanh chuồng trại

- Thực hiện nghiêm túc quy trình tiêm phòng vaccine

- Phát hiện và điều trị bệnh kịp thời cho vật nuôi

Trang 15

- Tích cực tham gia các công tác tuyên truyền, vận động và các hoạt động phong trào về vệ sinh phòng bệnh

1.2.2 Phương pháp tiến hành

Trong thời gian thực tập tại cơ sở, theo yêu cầu của nội dung thực tập tốt nghiệp, chúng tôi đề ra một số biện pháp thực hiện như sau:

- Tìm hiểu kỹ tình hình chăn nuôi ở cơ sở thực tập

- Xây dựng kế hoạch làm việc cụ thể, hợp lý

- Rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp qua các việc chăm sóc nuôi dưỡng, tiêm phòng và vệ sinh thú y để nâng cao tay nghề và áp dụng những kiến thức

1.2.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất

Trong quá trình thực tập tại xã Sơn Cẩm huyện Phú Lương, được sự giúp đỡ tận tình của thầy, cô giáo hướng dẫn và cán bộ xã cũng như công nhân viên của trại, cùng với sự nỗ lực của bản thân Tôi đã đạt được một số kết quả như sau:

1.2.3.1 Công tác giống

Do cơ sở là nông hộ nuôi gia công gà cho công ty Dabaco nên công tác chọn giống chủ yếu do cán bộ kỹ thuật cung cấp giống đảm nhiệm Con giống được chọn là những gà trên 35 gam, lông khô bông, mắt sáng, chân bóng mượt, đứng vững, nhanh nhẹn, rốn khép kín Gà sinh ra từ đàn bố mẹ sạch các bệnh truyền nhiễm: Newcatle, CRD (bệnh hô hấp mãn tính), gumboro, viêm phế quản truyền nhiễm, bạch lỵ

1.2.3.2 Công tác chăm sóc nuôi dưỡng

a) Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng

Tùy theo từng giai đoạn phát triển của gà để áp dụng quy trình nuôi dưỡng cho phù hợp Cụ thể như sau:

Trang 16

+ Giai đoạn úm gà con: Trước khi nhập gà, chúng tôi đã tiến hành pha nước uống cho gà Nước uống phải sạch và pha đường Glucozo 5%, nhóm bếp than và bật đèn gas cho nhiệt độ trong chuồng ấm trước khi gà về 1 tiếng

để đảm bảo nhiệt độ cho gà Khi nhập gà, chúng tôi tiến hành cho gà con vào quây đã có sẵn các khay nước để gà tập uống Cho gà uống hết lượt sau 2 - 3 giờ thì bỏ toàn bộ khay ra rửa sạch, lau khô để bắt đầu cho gà ăn

Giai đoạn này yếu tố nhiệt độ rất quan trọng, trong quây là 330C, sau một tuần tuổi thì nhiệt độ giảm dần theo ngày tuổi và khi gà lớn nhiệt độ tiêu chuẩn cho gà phát triển tốt nhất là 220C

Thường xuyên theo dõi đàn gà để điều chỉnh nhiệt độ phù hợp cho sự phát triển của gà Quây gà, máng ăn, máng uống rèm che đều được điều chỉnh phù hợp theo tuổi gà (độ lớn của gà) ánh sáng được đảm bảo cho gà hoạt động bình thường

+ Giai đoạn nuôi: Ở giai đoạn này, chúng tôi thay dần máng ăn gai (máng ăn tròn) bằng máng ăn dành cho gà lớn , thay máng uống nhỏ bằng máng uống tự động Những dụng cụ được thay thế và những dụng cụ thay thế phải được cọ rửa, sát trùng và phơi nắng trước khi sử dụng Hàng ngày vào các buổi sáng sớm và đầu giờ chiều chúng tôi tiến hành cọ rửa máng uống, thu dọn máng ăn đảm bảo máng ăn, máng uống luôn sạch sẽ Qua quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng và theo dõi chúng tôi thấy rằng nhu cầu nước uống, thức ăn của gà tăng dần theo lứa tuổi Lượng thức ăn còn thay đổi theo thời tiết Sau khi cho gà uống nước khoảng 15 phút, chúng tôi tiến hành cho gà ăn,

ở giai đoạn này chúng tôi cho gà ăn tự do đến khi xuất bán

và tránh hiện tượng gà mổ nhau

Trang 17

1.2.3.3 Công tác thú y

a) Công tác phòng bệnh cho đàn gà

Trong chăn nuôi, công tác phòng dịch bệnh rất quan trọng, là yếu tố quyết định đến hiệu quả chăn nuôi Do vậy, trong quá trình chăn nuôi, chúng tôi cùng với cán bộ kỹ thuật công nhân viên của trại thường xuyên quét dọn chuồng trại, khai thông cống rãnh, phát quang bụi rậm, phun thuốc sát trùng, tẩy uế máng ăn, máng uống, cũng như phải sát trùng giầy dép trước khi vào chuồng gà Trước khi vào chuồng cho gà ăn, uống phải thay bằng quần áo lao động đã được giặt sạch Gà nuôi ở trại được sử dụng thuốc phòng bệnh Trong thời gian thực tập tại cơ sở , chúng tôi đã tiến hành phòng bệnh cho gà bằng vaccine để gà có miễn dịch chủ động đảm bảo an toàn trước dịch bệnh Trước

và sau khi sử dụng vaccine 1 ngày không được dùng nước có pha thuốc khử

để tránh làm ảnh hưởng đến chất lượng của vaccine và cho gà uống nước

đường Glucose và Amilyte (Vitamin - Acide amine - khoáng vi lượng) nhằm

tăng cường sức đề kháng cho gà Vaccine được pha để nhỏ mắt, mũi hay uống tùy thuộc vào phương pháp sử dụng do nhà sản xuất vaccine khuyến cáo Lịch dùng vaccine cho gà được thực hiện như sau:

Bảng 1.1 Lịch sử dụng vaccine cho đàn gà

7 Ma5+clone30 (ND+IB) Nhỏ 1 giọt vào mắt

14 CevacIBDL(Gumboro lần1) Nhỏ 1 giọt vào mồm

18 Gumboro D78 (lần 2) Pha vào nước cho uống

21 ND avinew+ IB H120 Pha vào nước cho uống Ngoài ra, trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng, chúng tôi luôn theo dõi tình hình sức khỏe của đàn gà để chẩn đoán, phát hiện bệnh và có những hướng điều trị kịp thời

b) Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh cho gà

Trong thời gian thực tập tại cơ sở , chúng tôi đã tiến hành chẩn đoán và điều trị một số bệnh sau:

Trang 18

* Bệnh nấm đường tiêu hóa

- Nguyên nhân: Bệnh nấm đường tiêu hóa ở gà do một loại nấm tên là Candida albicans gây ra Candida albicans là loại nấm men đơn bào có đường kính 2 - 4μ, sinh sản thành chuỗi và sinh nội độc tố Nhiệt độ thích hợp cho nấm Candida albicans phát triển là từ 20- 370C Candida albicans có sức đề kháng yếu: Trong mủ, nước tiểu, nấm tồn tại trong vòng 1 tháng; ánh nắng, nước sôi có tác dụng diệt nấm nhanh; ở nhiệt độ 700C nấm mất hoạt lực sau

10 - 15 phút, nhưng sức đề kháng sẽ tăng lên trong điều kiện khô và lạnh Các chất hóa học như iod, formol 2%, chloramin, thuốc tím đều có tác dụng diệt nấm tốt

- Bệnh tích: Bệnh tích điển hình tập trung ở niêm mạc đường tiêu hóa,

ở diều rất điển hình là niêm mạc phủ nhiều niêm dịch màu trắng sữa, dưới lớp dịch nhờn là những điểm trắng rải rác xen kẽ với những điểm xuất huyết Bệnh có thể lan đến túi khí làm vỡ túi khí, bệnh lan đến dạ dày và ruột làm cho dạ dày, ruột chứa nhiều dịch nhờn màu trắng, đôi chỗ có tụ máu xuất huyết

- Điều trị: Dùng dung dịch sulfat đồng:1gam/2 lít nước hoặc uống Gentaviolet, liều dùng là 80 ml + 100 lít nước cho uống 2 tiếng rồi đổ bỏ

- Tỷ lệ khỏi bệnh: 76,66%

Trang 19

* Bệnh cầu trùng

- Nguyên nhân: Là bệnh do ký sinh trùng Eimeria gây ra Gây bệnh ở

gà có 9 loại cầu trùng khác nhau Tỷ lệ nhiễm bệnh cao nhất ở giai đoạn từ 15

- 45 ngày tuổi Bệnh xảy ra quanh năm nhưng nặng nhất là vào vụ xuân hè khi thời tiết nóng ẩm

- Triệu chứng thường gặp ở 2 thể:

+ Cầu trùng manh tràng: Gà bệnh ủ rũ, bỏ ăn, uống nhiều nước, phân lỏng lẫn máu tươi hoặc có màu sôcôla; mào, chân nhợt nhạt (do thiếu máu);

có thể chết hàng loạt nếu không điều trị kịp thời

+ Cầu trùng ruột non: Gà ủ rũ xù lông, cánh sã, chậm chạp ỉa chảy, phân màu đen như bùn, đôi khi có lẫn máu, gà gầy chậm lớn, chết rải rác có máu

- Bệnh tích: Ruột non sưng phồng, bên trong có nhiều dịch nhầy lẫn máu và fibrin, bề mặt niêm mạc có những đốm trắng xám

- Điều trị: Avicoc 1 gam/lít nước, cho uống 3 - 5 ngày, và để chống chảy máu có thể kết hợp cho uống thêm Vitamin K, hoặc cho uống Coxiclin; thành phần chính là Toltrazuril 2,5%; liều điều trị 1 ml/1 lít nước

- Tỷ lệ khỏi bệnh là: 78,12%

* Bệnh CRD

- Nguyên nhân: Do Mycoplasma gallisepticum gây ra Gà 2 - 12 tuần tuổi và gà sắp đẻ dễ bị nhiễm hơn các lứa tuổi khác, bệnh thường hay phát vào vụ đông xuân khi trời có mưa phùn, gió mùa, độ ẩm không khí cao

- Triệu chứng: Thời gian ủ bệnh từ 6 - 21 ngày Gà trưởng thành và gà đẻ: Tăng trọng chậm, thở khò khè, chảy nước mũi, ăn ít, gà trở nên gầy ốm,

gà đẻ giảm sản lượng trứng nhưng vẫn duy trì ở mức độ thấp Gà thịt: Xảy ra giữa 4 - 8 tuần tuổi với triệu chứng nặng hơn so với các loại gà khác do kết hợp với các mầm bệnh khác (thường với E.Coli), vì vậy trên gà thịt còn gọi là

thể kết hợp E.coli - CRD (C - CRD) với các triệu chứng: Âm rale khí quản,

chảy nước mũi, ho, sưng mặt, sưng mí mắt, viêm kết mạc

- Phòng bệnh: Thực hiện tốt quy trình vệ sinh thú y, chuồng thông thoáng, mật độ hợp lý, chăm sóc và nuôi dưỡng tốt, cho uống thuốc để phòng bệnh

- Điều trị: Tyloguard 100% dạng bột pha 100 g + 190 lít nước cho uống

3 - 5 ngày hoặc Enrofloxacin: Liều 2 ml/1 lít nước cho uống

Trang 20

- Tỷ lệ khỏi bệnh là: 97,05%

* Tham gia các hoạt động khác

Trong quá trình thực tập, ngoài việc chăm sóc và nuôi dưỡng đàn gà thí nghiệm bản thân tôi đã tham gia công việc sau:

- Tiêu độc, khử trùng dụng cụ chăn nuôi, chuồng trại và khu vực xung quanh

- Chăm sóc những con gà khác không thuộc đàn gà thí nghiệm

- Quét dọn kho để trấu và thức ăn, đi đóng trấu

- Đóng phân gà vào bao (khi gà đã xuất chuồng)

- Nhổ cỏ khu vực xung quanh chuồng trại

c) Kết quả công tác phục vụ sản xuất

Sau thời gian thực tập tại trang trại chăn nuôi nông hộ thuộc xã Sơn Cẩm huyện Phú Lương, tôi đã tham gia và hoàn thành được một số công tác phục vụ sản xuất đã đề ra Kết quả của công tác này được thể hiện tổng quát qua bảng dưới đây:

Bảng 1.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất

Nội dung công việc Số lượng

(con)

Kết quả

An toàn/khỏi (con) Tỷ lệ (%)

1 Nuôi dưỡng, chăm sóc

2 Phòng bệnh

Trang 21

1.3 KẾT LUẬN

1.3.1 Những kết quả chủ yếu đạt được

Qua thời gian thực tập tại cơ sở, được sự giúp đỡ của kỹ thuật viên trong trại, chủ trại và chính quyền địa phương, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình cuả thầy, cô giáo hướng dẫn, tôi đã được tiếp cận với thực tế sản xuất và thu được một số kết quả sau: Nắm được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng bệnh, biết cách chẩn đoán, điều trị một số bệnh thông thường cho đàn gà, nâng cao được kiến thức chuyên môn, học hỏi thêm được kinh nghiệm trong chăn nuôi, trong công tác quản lý và những điều bổ ích trong cuộc sống, rèn luyện cho mình tác phong làm việc nghiêm túc, có hiệu quả Đây là những bài học kinh nghiệm rất bổ ích cho bản thân tôi cũng như tất cả các bạn sinh viên trước khi tốt nghiệp ra trường

- Tay nghề chưa cao, đôi khi chưa mạnh dạn trong công việc

- Qua thời gian thực tập tôi thấy từ kiến thức sách vở vận dụng vào thực tế sản xuất là một quá trình lâu dài Do vậy tôi nhận thấy mình cần phải học hỏi nhiều hơn, cố gắng rèn luyện để vươn lên, khắc phục những khó khăn

và sai sót của bản thân

Trang 22

Phần 2

CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

2.1 TÍNH CẤP THIẾT ĐỀ TÀI

Chăn nuôi gia cầm giữ vai trò quan trọng trong ngành chăn nuôi, nó đã

và đang cung cấp một nguồn thực phẩm lớn, giá trị dinh dưỡng cao cho con người Ở Việt Nam, sản phẩm thịt của gia cầm chiếm từ 20 - 25% số lượng thịt cung cấp cho toàn xã hội Thịt và trứng gia cầm có giá trị dinh dưỡng cao

và không bị giới hạn bởi tôn giáo Hàm lượng protein trong thịt gia cầm là 22%, trong khi đó thịt bò chỉ có 20% protein, thịt lợn có 18% protein Thịt và trứng gia cầm là món ăn ưa dùng của người Việt Nam, thường được dùng trong các lễ hội và những bữa ăn sang trọng

Chăn nuôi gia cầm là nghề sản xuất có thời gia n quay vòng vốn nhanh , cho năng suất cao, sản phẩm lớn và đa dạng, có nhiều phương thức chăn nuôi

từ đơn giản đến thâm canh cao, có thể áp dụng ở nhiều loại hình kinh tế khác nhau với quy mô chăn nuôi đa dạng Vì vậy, nghề này rất dễ dàng phát triển

và mang lại hiệu quả kinh tế lớn cho người chăn nuôi

Đặc biệt, trong những năm gần đây được sự quan tâm của nhà nước, sự đầu tư khoa học kỹ thuật của các nhà chuyên môn, chăn nuôi gia cầm đã có tốc độ tăng trưởng nhanh cả về số và chất lượng Theo số liệu thống kê năm

2011, tổng đàn gia cầm của cả nước là 293,7 triệu con, tăng 5,9% so với năm

2010 (Cục chăn nuôi, 2010) [29] Sự tăng trưởng đó có đóng góp quan trọng của việc nghiên cứu và ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại vào chăn nuôi, đó là việc chuyển giao về con giống, thức ăn, dinh dưỡng, vệ sinh thú y, phòng bệnh, quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, điện khí hóa và tự động hóa trong chăn nuôi

Trong chăn nuôi gia cầm, chi phí thức ăn chiếm khoảng 70% giá thành thực phẩm Vì vậy, để nâng cao hiệu quả thì giảm chi phí thức ăn là yếu tố chiến lược của người chăn nuôi Những năm qua, nhiều nhà khoa học về dinh dưỡng đã tập trung nghiên cứu tìm ra các nguồn nguyên liệu, công thức phối hợp, các chất bổ sung vào thức ăn để nâng cao hiệu suất sử dụng thức ăn và giảm giá thành sản phẩm trong chăn nuôi gia cầm

Trang 23

Trong những chất bổ sung nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng thức ăn, người ta đã chú ý tới nhóm vi sinh vật có lợi (probiotic) Nhóm này, ngoài việc ức chế sự phát triển của vi sinh vật có hại trong đường tiêu hóa như:

Samonella, E.coli…, chúng còn có khả năng sản sinh ra các enzym tiêu hóa

và kháng sinh, làm tăng cường khả năng hấp thu thức ăn Do đó, làm tăng hiệu suất sử dụng thức ăn cho sản xuất Nhóm vi sinh vật có lợi gồm nhiều

chủng loại như: Bacillus subtilis, Saccharomyces cerevisiae, vi khuẩn lactic…

T - EMB - 1 là một chế phẩm vi sinh có khả năng ức chế các vi sinh vật

có hại, kích thích sự phát triển của nhóm vi sinh vật có lợi trong đường tiêu hóa của gia cầm đồng thời sản sinh ra các chất kháng sinh và enzym tiêu hóa, đặc biệt là enzim tiêu hóa protein Về mặt lý thuyết, chế phẩm này có tác dụng kích thích tiêu hóa, hấp thu các chất dinh dưỡng có trong thức ăn, làm tăng cường sinh trưởng của động vật và giảm ô nhiễm chất thải ra môi trường chăn nuôi

Để xác định hiệu quả kích thích sinh trưởng của chế phẩm T - EMB -1 trên gà Broiler trong mô hình chăn nuôi trang trại, sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh, chúng tôi tiến hành chuyên đề: “Nghiên cứu ảnh hưởng của việc

bổ sung chế phẩm T - EMB - 1 vào khẩu phần ăn đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà Ross 308 giai đoạn 1 - 49 ngày tuổi, nuôi tại Sơn Cẩm - Phú Lương - Thái Nguyên”

Trang 24

2.2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.2.1.1 Định nghĩa về probiotic

Thuật ngữ probiotic do Metchnikoff đưa ra vào năm 1908 để chỉ về nhóm vi khuẩn có lợi trong đường ruột [30] Đến nay, người ta đã biết khá rõ về nhóm vi khuẩn này và chúng được định nghĩa như sau : Probiotic là những nhóm vi khuẩn trung tính, sống trong đường tiêu hóa của động vật, chúng tạo thành một khu hệ vi sinh vật, chúng cản trở sự phát triển của một số vi sinh vật gây bệnh, cung cấp cho động vật một số chất có lợi cho cơ thể, ảnh hưởng tốt đến hệ miễn dịch Động vật sử dụng các chế phẩm có chứa các probiotic như một loại thực phẩm và một loại thuốc phòng và chữa bệnh Đồng hành với thuật ngữ probiotic là thuật ngữ Prebiotic: Là những non-digestible oligosaccharides (NDOs), ảnh hưởng đến sự phát triển của khu hệ vi sinh vật (bao gồm cả resistant starches) Sự kết hợp của probiotic và prebiotic gọi là synbiotic tăng cường khả năng điều hòa khu hệ vi sinh vật ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa, chống bệnh đường tiêu hóa của vật chủ

Từ “probiotics” có nguồn gốc từ Hy Lạp có nghĩa là “Cho cuộc sống” Tuy nhiên, định nghĩa về probiotics đã phát triển nhiều theo thời gian Nguyễn Văn Thịnh (dẫn tài liệu của Lily và Stillwell, 1965) [15], đã mô tả trước tiên probiotic như hỗn hợp được tạo thành bởi một động vật nguyên sinh mà thúc đẩy sự phát triển của đối tượng khác

Probiotic là những vi sinh vật như vi khuẩn hay nấm men mà có thể thêm vào thực phẩm với mục đích điều chỉnh quần thể vi sinh vật đường ruột của sinh vật chủ (parker, 1974) [26]

Vì vậy, khái niệm “probiotic” được ứng dụng để mô tả “cơ quan và chất mà góp phần vào cân bằng hệ vi sinh vật ruột” Định nghĩa chung này sau đó được làm cho chính xác hơn bởi Fuller (1989) [28], ông định nghĩa probiotic như “một chất bổ trợ thức ăn chứa vi sinh vật sống mà có ảnh hưởng

có lợi đến vật chủ bằng việc cải thiện cân bằng hệ vi sinh vật ruột của nó” Khái niệm này sau đó được phát triển xa hơn : “Vi sinh vật sống (vi khuẩn lactic và vi khuẩn khác, hoặc nấm men ở trạng thái khô hay bổ sung trong thực phẩm lên men), mà thể hiện có lợi đối với sức khỏe của vật chủ sau khi

Trang 25

được tiêu hóa nhờ cải thiện tính chất hệ vi sinh vật vốn có của vật chủ”(Havenaar và Huis in't Veld, 1992) [31]

Theo Nguyễn Thị Thúy Hiền (dẫn tài liệu của Laurent Verschuere và CTV (2000) [3]), probiotic được định nghĩa như sau: "Probiotics là sinh vật sống có ảnh hưởng tốt cho vật chủ nhờ vào sự biến đổi hệ sinh vật gắn với vật chủ hay xung quanh vật chủ, từ đó cải thiện khả năng sử dụng thức ăn, nâng cao khả năng chống bệnh của vật chủ, và cải thiện môi trường xung quanh”

Theo định nghĩa của FAO/WHO (2002) [32]: "Probiotic, đó là những

vi sinh vật sống được kiểm soát chặt chẽ, với lượng thích hợp mang lại lợi ích cho vật chủ" Tóm lại probiotic là:

- Tập hợp các vi sinh vật sống

- Được đưa vào cơ thể vật nuôi qua đường tiêu hóa (thức ăn hay thuốc)

- Đem lại hiệu quả tích cực cho sức khỏe vật chủ

2.2.1.2 Cơ chế hoạt động của probiotic

Trong đường ruột của động vật, probiotic là nhóm vi khuẩn có lợi, hoạt động theo nhiều cơ chế khác nhau:

a) Loại trừ, cạnh tranh: Nghĩa là cạnh tranh bám vào màng nhầy thành

ruột, qua đó tạo nên một hàng rào vật lý bảo vệ sự tấn công của các khuẩn gây bệnh (Nguyễn Thị Thúy Hiền, 2010) [3]

b) Kháng khuẩn và kích thích hệ thống miễn dịch : Các probiotic sản

xuất ra hoạt chất kháng khuẩn và men kích thích hệ thống miễn dịch, ngăn cản sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh bằng cách sinh ra acid lactic, acid béo, peroxide và các kháng sinh In vitro, các vi khuẩn lactic ngăn cản sự phát triển của Staphylococcus, Shigella, Klebsiella, Proteus, Pseudomonas,

Salmonella và các chủng E.coli gây bệnh Vi sinh vật probiotic làm giảm số

lượng vi khuẩn gây bệnh để ngăn chặn các mầm bệnh bằng cách tiết ra các chất kháng khuẩn ức chế cả vi khuẩn Gram dương và Gram âm Đó là các acid hữu cơ như: Acid lactic, acid acetic Những hợp chất này có thể làm giảm không chỉ những sinh vật mang mầm bệnh mà còn ảnh hưởng đến sự trao đổi chất của vi khuẩn và sự tạo ra các độc tố Điều này được thực hiện bằng cách giảm pH khoang ruột thông qua sự tạo ra các acid béo chuỗi ngắn

dễ bay hơi, chủ yếu là acetate, propionate, và butyrate, nhất là acid lactic

Trang 26

Probiotic như là phương tiện để phân phát các phân tử kháng viêm cho đường ruột; đẩy mạnh sự báo hiệu cho tế bào chủ để làm giảm đáp ứng viêm; tạo đáp ứng miễn dịch để làm giảm dị ứng Vi khuẩn probiotics có khả năng huy động các tế bào miễn dịch, hoạt hóa các đáp ứng miễn dịch thích hợp nhờ một cơ chế phức tạp bắt đầu bằng sự tương tác giữa tế bào probiotic và tế bào của hệ miễn dịch

c) Tăng cường tiêu hóa thức ăn: Vi khuẩn lactic sản xuất vitamin nhóm

B và các enzyme phân giải protein, lipid và chuyển hóa đường latose trong sữa thành acid lactic, ngăn ngừa chứng tiêu chảy do không dung nạp đường lactose trong sữa

d) Giảm cholesterol: Nhiều kết quả cho thấy, vi khuẩn lactic có tác

dụng làm giảm cholesterol trong máu Nguyễn Thị Thúy Hiền (dẫn tài liệu của Gilliland và cộng sự, 2000) [3] cho biết vi khuẩn lactic phân lập từ phân lợn có khả năng phân huỷ cholesterol trong môi trường nuôi cấy Các báo cáo cho thấy nồng độ cholesterol trong máu thấp ở những con lợn được nuôi bằng cholesterol có bổ sung các chủng vi khuẩn lactic được phân lập trên

e) Tác dụng trên biểu mô ruột: Vi sinh vật probiotic có khả năng bám

dính tốt tế bào biểu mô ruột, cạnh tranh nơi cư trú với các vi sinh vật bệnh và cạnh tranh dinh dưỡng Do đó, chúng có khả năng giảm kích thích bài tiết và những hậu quả do phản ứng viêm của sự lây nhiễm vi khuẩn, cũng như dẩy mạnh sự tạo ra các phân tử phòng vệ như chất nhầy

f) Tác dụng đến hệ vi sinh vật đường ruột: Probiotic điều chỉnh thành

phần của vi khuẩn đường ruột Khi tập trung ở khoang ruột, chúng tạo nên sự cân bằng tạm thời của hệ sinh thái đường ruột, sự thay đổi này được nhận thấy một vài ngày sau khi bắt đầu tiêu thụ thực phẩm có probiotic, phụ thuộc vào công dụng và liều lượng của giống vi khuẩn Kết quả chỉ ra rằng với sự tiêu thụ thường xuyên, vi khuẩn định cư một cách tạm thời trong ruột, một khi chấm dứt sự tiêu thụ thì số lượng vi sinh vật probiotic sẽ giảm xuống Điều này đúng cho tất cả các loại probiotic Vi khuẩn probiotic điều hòa hoạt động trao đổi chất của sinh vật đường ruột Probiotic có thể làm giảm pH của bộ phận tiêu hóa và có thể theo cách đó sẽ gây cản trở cho hoạt động tiết ra enzyme của sinh vật đường ruột

Trang 27

Probiotic định cư ở ruột với những vi khuẩn có lợi và loại trừ bệnh gây

ra bởi các sinh vật như E.coli, Salmonella và Clostridium ở những vị trí lông nhung của ruột non, nơi mà vi khuẩn có hại sẽ phá hủy lông nhung Probiotic gia tăng sự kháng bệnh bằng cách tăng độ cao của lông nhung và tăng độ sâu của các khe nằm giữa lông nhung, theo cách đó sẽ gia tăng được diện tích bề mặt hấp thu chất dinh dưỡng Vì vậy, vật nuôi sẽ gia tăng hiệu quả hấp thụ thức ăn

Những nhà khoa học từ Viện nghiên cứu thực phẩm ở Norwich (nước Anh) báo cáo là những probiotic đặc biệt có thể tiêu diệt mầm bệnh vi khuẩn sống ở ruột gia cầm, do đó giúp loại bỏ mối đe dọa sự ngộ độc thực phẩm vi khuẩn từ chuỗi thức ăn (Nguyễn Thị Thúy Hiền, 2010) [3]

2.2.1.3 Những vi sinh vật đóng vai trò là probiotic

a) Vi khuẩn Bacillus ssp

Bacillus là một chi của gram dương, hình que, thuộc ngành Firmicutes,

sống trong môi trường hiếu khí bắt buộc, phản ứng catalase dương tính

Bacillus có hình dạng giống những chiếc que, phần lớn những chiếc que này

có bào tử trong hình oval có khuynh hướng phình ra ở đầu Tập đoàn của

giống vi sinh vật này rất lớn, có hình dạng bất định Ngoài ra Bacillus có thể

sản xuất cấu trúc đa bào và màng sinh học nên có thể bám dính vào màng nhày, kết dính tốt trong đường ruột, có khả năng sống sót qua 36 ngày trong đường ruột vật chủ Vì vậy được coi là probiotic

Bacillus sử dụng làm probiotic là chủng Bacillus subtilis được phát

hiện và đặt tên vào năm 1872, được phân bố phổ biến trong đất, đặc biệt trong

cỏ khô nên còn có tên gọi khác là trực khuẩn cỏ khô Là những vi khuẩn hình que, ngắn, nhỏ, kích thước (3 - 5) x 0.6µm, nhiều khi tế bào nối với nhau thành chuỗi dài ngắn khác nhau hoặc tế bào đứng riêng rẽ Khuẩn lạc khô, không màu hoặc màu xám nhạt, hơi nhăn hoặc tạo ra lớp màng mịn lan trên

bề mặt thạch, có mép nhăn bám chặt vào môi trường thạch Nhiệt độ thích

hợp cho B.subtilis sinh trưởng là 30 - 500C, người ta thường nuôi cấy vi khuẩn này ở 370C Bào tử Bacillus subtilis hình bầu dục, kích thước 0.6 -

0.9µm, phân bố lệch tâm, gần tâm nhưng không chính tâm Bào tử có thể

Trang 28

sống vài năm đến vài chục năm Đã có những chứng cứ về việc duy trì sức

sống của bào tử B.subtilis trong 200 - 300 năm

Vi khuẩn B.subtilis có màng nhày (giác mạc) giúp vi khuẩn có khả

năng chịu đựng được điều kiện thời tiết khắc nhiệt, vì màng nhày có thể dự trữ thức ăn và bảo vệ vi khuẩn tránh tổn thương khi khô hạn Màng nhày có thể quan sát được khi nhuộm tiêu bản, qua kính hiển vi thấy màng nhày không màu, trong suốt, còn tế bào vi khuẩn bắt màu nâu đỏ trên nền tiêu bản xanh hoặc đen

Hình 2.1 Tế bào Bacillus subtilis

B.subtilis có khả năng sinh một số enzym như amylase, protease kiềm có

giá trị cao, đặc biệt có khả năng sinh tổng hợp riboflavin (tiền Vitamin B2) Vì

vậy B.subtilis được ứng dụng khá nhiều trong các ngành công nghiệp

b) Nấm men Saccharomyces: Theo Lương Đức Phẩm (2006)[10], sự

hiện diện của nấm men trong bia lần đầu tiên được đề xuất trong năm 1680,

đến năm 1837 các chi này có tên là Saccharomyces Năm 1876, Louis Pasteur

chứng minh sự than gia của nấm men vào quá trình lên men; năm 1888, Hansen phân lập nấm men bia

Nấm men Saccharomyces được tìm thấy trong các sản phẩm lên men

và trái cây lên men Saccharomyces sử dụng nguồn đường để lên men

Quan sát trên kính hiển vi tế bào nấm men có hình cầu hay hình trứng, kích thước 5-14µm, sinh sản bằng cách nảy chồi hay bào tử Nấm men sử

dụng làm probiotic là Saccharomyces cerevisae, là loài nấm men có khả năng

sống tốt và tăng trưởng tốt ở pH 4 - 4.5 (pH trong đường ruột), phát triển tối

ưu ở 370C, được coi là thần dược trong việc đều trị bệnh tiêu chảy, nấm men

Trang 29

khi vào đường ruột được cư dân địa phương chấp nhận Đó là sự hiện diện của các enzyme, muối mật, axit hữu cơ, các biến thể của pH và nhiệt độ Nên được coi là ứng cử viên của probiotic

Hình 2.2 Tế bào nấm men Saccharomyces cerevisae

2.2.1.4 Vai trò của vi sinh vật probiotic

Trong những năm gần đây, có rất nhiều phát hiện mới về vai trò của probiotic và tác động của những chất tiền sinh học của chúng lên đặc điểm sinh lý bên trong và bên ngoài ruột của vật chủ Những ảnh hưởng của probiotic và hoạt động tiền sinh học bao gồm: Sự đáp ứng điều hòa miễn dịch qua trung gian tế bào, sự hoạt hóa hệ thống mạng lưới nội chất, gia tăng các con đường cytokine và kích thích các con đường tiền viêm cũng như sự điều hòa các interleukin và các yếu tố hủy hoại ung thư Vi sinh vật probiotic có khả năng cân bằng hệ vi sinh vật trong đường ruột và âm đạo bằng cách làm giảm pH môi trường và sản sinh ra các chất có khả năng ngăn chặn vi khuẩn

có hại Chúng rất phong phú trong tự nhiên và đem lại nhiều lợi ích cho cơ thể người và động vật như :

- Lợi ích về dinh dưỡng: Qua nhiều nghiên cứu y khoa cho thấy các

thực phẩm lên men với LactoBacillus làm tăng chất lượng, khả năng tiêu hóa

và đồng hóa các chất dinh dưỡng Các nghiên cứu trên chuột cho thấy sự cải thiện về tốc độ tăng trưởng khi chuột được cho ăn với yogurt chứa

LactoBacillus Mặc dù một số loài LactoBacillus cần vitamin B cho sự tăng

trưởng, nhưng một số loài có thể tổng hợp một số vitamin nhóm B Tương tự, khả năng hấp thu kim loại như đồng, sắt kẽm, Mn cũng tăng lên khi chuột

được cho ăn yogurt Như vậy LactoBacillus được cho là nhân tố kích thích sự

hấp thu dinh dưỡng

Trang 30

- Gia tăng khả năng tiêu hóa Lactose: Tăng cường khả năng hấp thu các chất khó tiêu trong cơ thể, điển hình là Lactose Đây là một loại đường mà

cơ thể không thể hấp thu trực tiếp mà phải được chuyển hóa thành glucose và galactose nhờ enzyme lactase nằm trên màng của các tế bào biểu mô ruột non Khi thiếu enzyme lactase, đường lactose sẽ không thể tiêu hóa được và lưu lại trong ruột non Khi đó các vi khuẩn Probiotic trong ruột chúng sinh trưởng và cung cấp enzyme galactosidase thủy phân lactose Lactose được chuyển hóa thành acid lactic giúp cơ thể hấp thu dễ dàng và làm giảm triệu chứng dị ứng lactose

- Làm giảm Cholesterol trong máu: Các bệnh về van tim thường liên hệ đến lượng cholesterol cao trong huyết thanh Cao Thị Kim Yến (dẫn tài liệu của Hepner và cộng sự, 1979) [20], khi nghiên cứu những người khỏe mạnh không có tiền sử mắc bệnh tim mạch được ăn bổ sung với yogurt có chứa Lb Acidiphilus, cho thấy nồng độ cholesterol trong huyết thanh giảm rõ rệt Các tác giả kết luận rằng các chủng Lactobaciilus liên kết với cholesterol trong khoang ruột vì thế làm giảm hấp thu nó vào máu

- Cải thiện sự chuyển động của ruột: Vi khuẩn Lacto Bacillus có khả

năng làm giảm chứng táo bón và chuyển động của ruột Lactose không được thủy phân bởi disacharidase và không hấp thu được trong ruột nhưng nó được chuyển đổi chủ yếu trong ruột kết thành acid lactic và acid acetic bởi nhiều

loaị vi sinh vật, trong đó có loài Lb acidophilus Độ acid và sự giảm pH là kết

quả của quá trình lên men lactose do vi khuẩn lactic trong ruột kết có thể kích thích sự chuyển động ruột và làm giảm chứng táo bón

- Ngăn chặn và xử lí nhiễm khuẩn Helicobacter pylori: Helicobacter

pylori là một trong những loại vi khuẩn có khả năng sống trong niêm mạc dạ

dày, trong một số trường hợp chúng gây viêm hoặc ung thư dạ dày Rất nhiều

phương pháp được sử dụng để loại bỏ sự nhiễm Helicobacter pylori, bao gồm

cả việc sử dụng các chế phẩm probiotic Liệu pháp sinh học này thường được

sử dụng như một chất bổ sung cho các liệu pháp kháng sinh truyền thống trong việc điều trị bệnh Các thử nghiệm y khoa đã xác nhận tỷ lệ chết của

Helicobacter pylori và khả năng chịu đựng nhiều chế độ điều trị kháng sinh

tăng lên khi điều trị bằng phương pháp kháng sinh kết hợp với probiotic

Trang 31

Ngoài ra chúng có khả năng giúp cơ thể ngăn ngừa một số bệnh tật như: Bệnh tiêu chảy, viêm loét, nhiễm khuẩn đường ruột, viêm loét đường hô hấp

2.2.1.5 Ứng dụng của vi sinh vật probiotic

Do lợi ích của vi sinh vật probiotic mang lại cho người và động vật là rất lớn, nên các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam đã sản xuất ra nhiều loại chế phẩm chứa probiotic để bổ sung vào thức ăn động vật Một số chế phẩm vi sinh probiotic được sản xuất và sử dụng như sau:

a) Hỗn hợp đậm đặc PROBYN

- Thành phần: Men ủ vi sinh (lactic acid bacteria) 2 x1011 CFU/Kg

(Bacillus subtilis, lacto Bacillusa cidophilus, Lacto Bacillus planterum và

Aspergillus niger ở đạng đông khô)

Hỗn hợp enzyme 34.500 IU/Kg (amylase, beta - glucanase,

hemicellulase, protease )

- Công dụng: Tăng lượng vi khuẩn có lợi và làm giảm bớt số lượng giúp hạn chế tình trạng tiêu chảy ở vật nuôi Lactic acid bacteria và hỗn hợp enzyme giúp cho việc tiêu hóa thức ăn đạt hiệu quả hơn, đồng thời giảm mùi hôi, hơi gas ammonia và cải thiện môi trường xung quanh trại nuôi

- Liều dùng: Hòa vào nước uống cho heo và gia cầm 25(g)/100 lít nước hoặc trộn vào thức ăn với liều lượng sau:

+ Gà con heo con, gà giống, heo giống 500 (g)/1 ton thức ăn

+ Gà thịt, gà đẻ, và heo thịt 250 (g)/ 1 ton thức ăn

b) Men vi sinh dạng bột:

- Thành phần: Bacillus subtilis: 109/1ml

Lacto Bacillus acidophilus: 109/1ml

Saccharomyces boulardii: 108 - 109/1ml

- Công dụng: Công dụng Men thảo dược

là sự kết hợp hoàn hảo giữa thảo dược và các

Enzym Giúp tăng cường sức khoẻ, tăng sinh

trưởng, con vật lớn nhanh, không bị ỉa chảy Dùng thường xuyên men thảo dược giúp gia súc, gia cầm tăng sức đề kháng và cải thiện môi trường chăn nuôi

Trang 32

c) Men ủ vi sinh NN1:

Trong thời gian gần đây, Khoa Chăn

nuôi (trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội) đã

nghiên cứu và sản xuất thành công loại men

vi sinh NN1 được sử dụng rất hiệu quả trong

chăn nuôi gia súc, gia cầm

TS Nguyễn Khắc Tuấn, tác giả của

chế phẩm vi sinh này cho biết: Chế phẩm men vi sinh NN1 có chứa nhều vi sinh vật hữu ích, khi phối trộn với thức ăn có tác dụng giúp nâng cao khả năng sinh trưởng, phát triển của vật nuôi, nâng cao tỷ lệ sống, giảm tỷ lệ bị bệnh, giảm tỷ lệ chết, tỷ lệ còi cọc do mắc bệnh, giảm được lượng thức ăn, giảm chi phí thuốc và công lao động Ngoài ra, việc sử dụng chế phẩm sinh học men tiêu hoá làm giảm được ô nhiễm môi trường, không gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người do khi gia súc ăn các loại thức ăn có phối trộn men này thì phân thải ra không mùi hôi thối

Theo hướng dẫn của Công ty Hải Nguyên (trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội), để sử dụng loại men vi sinh NN1 trong chăn nuôi lợn và gia cầm một cách có hiệu quả bà con cần chú ý một số điểm sau đây:

- Cách ủ: Trộn đều 1kg men ủ vi sinh NN1 với 20kg nguyên liệu, sau

đó trộn đều với 130kg nguyên liệu còn lại Cho nước đúng theo công thức trộn đều và xoa cho tơi Để hở khoảng 3 - 4 tiếng, sau đó cho vào bao hoặc thùng sạch, buộc hoặc đậy kín Mùa hè sau 24 tiếng, mùa đông 36 tiếng thì có thể cho lợn ăn được

- Cách cho ăn: Khi cho lợn ăn nên phối trộn thêm với các loại thức ăn đậm đặc khác Với lợn con, lợn còn nhỏ nên phối trộn theo tỷ lệ: 1kg cám đậm đặc + 5 kg cám đã ủ men; với lợn choai từ 20-60kg/con thì trộn 1 kg cám đậm đặc + 6kg cám đã ủ men; với lợn có trọng lượng từ trên 60kg cho tới 100kg thì phối 1kg cám đậm đặc + 7 kg cám đã ủ men Với các loại gia cầm như gà, vịt, ngan… thì nên phối trộn tỷ lệ 1/5 (1kg cám đậm đặc + 5kg cám

đã ủ men) Cần chú ý bổ sung thêm nước vào thức ăn nếu trong chuồng không

có hẹ thống nước uống Ngoài ra, cũng tuỳ theo sở thích của con vật mà có thể cho ăn ở dạng khô, dạng ướt hoặc dạng lỏng Với lợn con mới tách mẹ

Ngày đăng: 14/05/2014, 22:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Văn Dũng (2008) “Đánh giá khả năng sinh trư ởng và hiệu quả của việc sử dụng chế phẩm Px -Aqua cho 2 giống gà thịt Ross 308 và Lương Phượng” Luận văn thạc sĩ Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đánh giá khả năng sinh trư ởng và hiệu quả của việc sử dụng chế phẩm Px -Aqua cho 2 giống gà thịt Ross 308 và Lương Phượng”
3. Nguyễn Thị Thúy Hiền ( 2010), “Tìm hiểu tình hình nghiên cứu sản xuất và ứng dụng probiotic trong thức ăn chăn nuôi”, Trường Đại học kỹ thuật công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tình hình nghiên cứu sản xuất và ứng dụng probiotic trong thức ăn chăn nuôi”
5. Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1992), “Yêu cầu protein trong thức ăn hỗn hợp nuôi tách trống mái HV85 từ 1 – 63 ngày tuổi” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yêu cầu protein trong thức ăn hỗn hợp nuôi tách trống mái HV85 từ 1 – 63 ngày tuổi
Tác giả: Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận
Năm: 1992
6. Nguyễn Thị Mai (2007), “Chăn nuôi gia cầm” NXB Hà Nội,tr105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Thị Mai
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2007
7. Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng (2000), “Thức ăn và nuôi dưỡng gia cầm”, NXB Nông nghiệp, tr140 - 141, tr209 - 210 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn và nuôi dưỡng gia cầm”
Tác giả: Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000
8. Nông Văn Ninh (2004), “Khảo sát khả năng sinh trưởng và sức sản xuất thịt của gà lai F 1(mái TH JIANGCUN x trống RHODERI nuôi bán chăn thả đến 12 tuần tuổi tại nông hộ xã Quyết Thắng – Thái Nguyên”, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khảo sát khả năng sinh trưởng và sức sản xuất thịt của gà lai F 1(mái TH JIANGCUN x trống RHODERI nuôi bán chăn thả đến 12 tuần tuổi tại nông hộ xã Quyết Thắng – Thái Nguyên”
Tác giả: Nông Văn Ninh
Năm: 2004
9. Lương Đức Phẩm (2006), “Nấm men công nghiệp”, NXB khoa học và kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nấm men công nghiệp
Tác giả: Lương Đức Phẩm
Nhà XB: NXB khoa học và kỹ thuật Hà Nội
Năm: 2006
10. Nguyễn Vũ Quang (2001), Ảnh hưởng của việc bổ sung phytase vao khẩu phần ăn đến 1 số chỉ tiêu sản xuất của gà broiler tạp chí khoa hoc công nghệ tập 85 số 09/(1), 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của việc bổ sung phytase vao khẩu phần ăn đến 1 số chỉ tiêu sản xuất của gà broiler
Tác giả: Nguyễn Vũ Quang
Nhà XB: tập 85 số 09
Năm: 2001
11. Nguyễn Khánh Q uắc và cs (1998), “Báo cáo khoa học , đề tài khảo nghiệm nuôi gà sạch tại Thái Nguyên phục vụ chế biến xuất khẩu” , 12/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo khoa học , đề tài khảo nghiệm nuôi gà sạch tại Thái Nguyên phục vụ chế biến xuất khẩu”
Tác giả: Nguyễn Khánh Q uắc và cs
Năm: 1998
12. Hoàng Toàn Thắng (1996), “Nghiên cứu xác định mức năng lượng và protein thích hợp trong thức ăn hỗn hợp gà Broiler nuôi tách biệt trống mái theo mùa vụ ở Bắc thái”. Luận văn PTS khoa học Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xác định mức năng lượng và protein thích hợp trong thức ăn hỗn hợp gà Broiler nuôi tách biệt trống mái theo mùa vụ ở Bắc thái”
Tác giả: Hoàng Toàn Thắng
Năm: 1996
13. Hà Thị Thắng (2011), “Nghiên cứu sản xuất và thử nghiệm chế phẩm vi sinh T- EMB-1 trong chăn nuôi lợn thịt tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”. Luận văn thạc sĩ khoa học Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sản xuất và thử nghiệm chế phẩm vi sinh T- EMB-1 trong chăn nuôi lợn thịt tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Tác giả: Hà Thị Thắng
Nhà XB: Luận văn thạc sĩ khoa học Nông nghiệp
Năm: 2011
14. Nguyễn Văn Thịnh (2009), “ Đánh giá khả năng cải thiện chất lượng môi trường nước của một số chủng vi khuẩn probiotics” , Trường Đại học kỹ thuật công nghiệp Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng cải thiện chất lượng môi trường nước của một số chủng vi khuẩn probiotics
Tác giả: Nguyễn Văn Thịnh
Nhà XB: Trường Đại học kỹ thuật công nghiệp Thái Nguyên
Năm: 2009
15. Nguyễn Thị Thủy, Đặng Xuân Bình (2010), “Sử dụng chế phẩm NL – 02 trong chăn nuôi lợn con sau cai sữa” , Luận văn Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tr41-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sử dụng chế phẩm NL – 02 trong chăn nuôi lợn con sau cai sữa”
Tác giả: Nguyễn Thị Thủy, Đặng Xuân Bình
Năm: 2010
16. Nguyễn Văn Thiện (1997), “Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi” , NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
17. Bùi Quang Tiến (1993), “Phương pháp mổ khảo sát gia cầm” . Thông tin khoa học kỹ thuật chăn nuôi số 4/1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phương pháp mổ khảo sát gia cầm”
Tác giả: Bùi Quang Tiến
Năm: 1993
18. Trần Công Xuân và cs (1995), “Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm tính năng sản xuất của gà Tam Hoàng” , Tuyển tập cô ng trình nghiên cứu KHKT chăn nuôi (1969-1995) ,NXB Nông nghiệp tr70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm tính năng sản xuất của gà Tam Hoàng
Tác giả: Trần Công Xuân, cs
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
19. Cao Thị Kim Yến (2010), “Tổng quan về thực phẩm probiotic” , Đại học kỹ thuật công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tổng quan về thực phẩm probiotic”
Tác giả: Cao Thị Kim Yến
Năm: 2010
21. TCVN: Phương pháp xác định sinh trưởng tuyệt đối, 2-4-77; 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp xác định sinh trưởng tuyệt đối
Năm: 1997
22. TCVN: Phương pháp xác định sinh trưởng tương đối 2-39-77;1997. II. Tiếng nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp xác định sinh trưởng tương đối
Năm: 1997
23. Chambers J.R (1984), “Synthesis and parameters o new population of meat type chicken”. Theor. Appl.Gnet.pp69.24. Dem Urah and Adachim“EM Research organization and INFRC, Nanjing, china. 5 th ”, International worshop on EM technologics Bangkok. Thailan Dec, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Synthesis and parameters of new population of meat type chicken
Tác giả: Chambers J.R
Nhà XB: Theor. Appl.Gnet
Năm: 1984

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Tế bào Bacillus subtilis - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm t EMB 1 vào khẩu phần ăn đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà ROSS 308 giai đoạn 1  49 ngày tuổi, nuôi tại sơn cẩm   phú lương   thái nguyên
Hình 2.1. Tế bào Bacillus subtilis (Trang 28)
Hình 2.2. Tế bào nấm men Saccharomyces cerevisae - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm t EMB 1 vào khẩu phần ăn đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà ROSS 308 giai đoạn 1  49 ngày tuổi, nuôi tại sơn cẩm   phú lương   thái nguyên
Hình 2.2. Tế bào nấm men Saccharomyces cerevisae (Trang 29)
Bảng 2.1. Liều lượng sử dụng chế phẩm T - EMB - 1 - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm t EMB 1 vào khẩu phần ăn đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà ROSS 308 giai đoạn 1  49 ngày tuổi, nuôi tại sơn cẩm   phú lương   thái nguyên
Bảng 2.1. Liều lượng sử dụng chế phẩm T - EMB - 1 (Trang 39)
Bảng 2.2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm t EMB 1 vào khẩu phần ăn đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà ROSS 308 giai đoạn 1  49 ngày tuổi, nuôi tại sơn cẩm   phú lương   thái nguyên
Bảng 2.2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 42)
Bảng 2.4. Tỷ lệ nuôi sống của gà qua các tuần tuổi - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm t EMB 1 vào khẩu phần ăn đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà ROSS 308 giai đoạn 1  49 ngày tuổi, nuôi tại sơn cẩm   phú lương   thái nguyên
Bảng 2.4. Tỷ lệ nuôi sống của gà qua các tuần tuổi (Trang 46)
Bảng 2.5. Khối lượng gà qua các tuần tuổi - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm t EMB 1 vào khẩu phần ăn đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà ROSS 308 giai đoạn 1  49 ngày tuổi, nuôi tại sơn cẩm   phú lương   thái nguyên
Bảng 2.5. Khối lượng gà qua các tuần tuổi (Trang 47)
Hình 2.1. Đồ thị sinh trưởng tích lũy của gà thịt qua các tuần tuổi - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm t EMB 1 vào khẩu phần ăn đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà ROSS 308 giai đoạn 1  49 ngày tuổi, nuôi tại sơn cẩm   phú lương   thái nguyên
Hình 2.1. Đồ thị sinh trưởng tích lũy của gà thịt qua các tuần tuổi (Trang 49)
Bảng 2.6. Sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm. - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm t EMB 1 vào khẩu phần ăn đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà ROSS 308 giai đoạn 1  49 ngày tuổi, nuôi tại sơn cẩm   phú lương   thái nguyên
Bảng 2.6. Sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm (Trang 50)
Hình 2.2. Sinh trưởng tuyệt đối của đàn gà qua các tuần tuổi - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm t EMB 1 vào khẩu phần ăn đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà ROSS 308 giai đoạn 1  49 ngày tuổi, nuôi tại sơn cẩm   phú lương   thái nguyên
Hình 2.2. Sinh trưởng tuyệt đối của đàn gà qua các tuần tuổi (Trang 52)
Hình 2.3. Đồ thị sinh trưởng tương đối của đàn gà Ross 308 qua các tuần tuổi - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm t EMB 1 vào khẩu phần ăn đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà ROSS 308 giai đoạn 1  49 ngày tuổi, nuôi tại sơn cẩm   phú lương   thái nguyên
Hình 2.3. Đồ thị sinh trưởng tương đối của đàn gà Ross 308 qua các tuần tuổi (Trang 53)
Bảng 2.7. Tiêu thụ thức ăn của gà (g/con/) - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm t EMB 1 vào khẩu phần ăn đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà ROSS 308 giai đoạn 1  49 ngày tuổi, nuôi tại sơn cẩm   phú lương   thái nguyên
Bảng 2.7. Tiêu thụ thức ăn của gà (g/con/) (Trang 54)
Bảng 2.9. Tiêu tốn Protein và ME cho tăng khối lượng - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm t EMB 1 vào khẩu phần ăn đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà ROSS 308 giai đoạn 1  49 ngày tuổi, nuôi tại sơn cẩm   phú lương   thái nguyên
Bảng 2.9. Tiêu tốn Protein và ME cho tăng khối lượng (Trang 58)
Bảng 2.10. Chỉ số sản xuất của gà - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm t EMB 1 vào khẩu phần ăn đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà ROSS 308 giai đoạn 1  49 ngày tuổi, nuôi tại sơn cẩm   phú lương   thái nguyên
Bảng 2.10. Chỉ số sản xuất của gà (Trang 59)
Bảng 2.12. Chi phí thức ăn để sản xuất 1 kg tăng khối lượng sống của gà - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm t EMB 1 vào khẩu phần ăn đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà ROSS 308 giai đoạn 1  49 ngày tuổi, nuôi tại sơn cẩm   phú lương   thái nguyên
Bảng 2.12. Chi phí thức ăn để sản xuất 1 kg tăng khối lượng sống của gà (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w