1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của vệ sinh sát trùng và bảo quản trứng ấp ở vụ hè thu trong điều kiện không có phòng lạnh tại xã quyết thắng thành phố thái nguyên

45 719 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của vệ sinh sát trùng và bảo quản trứng ấp ở vụ hè thu trong điều kiện không có phòng lạnh tại xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên
Trường học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Chăn nuôi và Bảo quản Thực phẩm
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 501,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khóa Luận cực hay và bổ ích !!!!!!!

Trang 1

PHẦN 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1.1 ĐIỀU TRA CƠ BẢN VỀ XÃ QUYẾT THẮNG

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1.1 Vị trí địa lý

Xã Quyết Thắng là một xã thuộc thành phố Thái Nguyên cách trung tâm thành phố 6 km

Phía tây nam của xã giáp với xã Phúc Trìu

Phía tây giáp với xã Phúc Xuân

Phía bắc giáp xã Phúc Hà

Phía đông giáp phường Tân Thịnh -Thành phố Thái Nguyên

1.1.1.2 Điều kiện tự nhiên

Xã Quyết Thắng nằm trong vành đai khí hậu gió mùa, dao động nhiệt độ trong năm tương đối cao thể hiện qua 2 mùa rõ rệt đó là 2 mùa mùa hè và mùa đông Mùa hè khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, mưa lớn vào tháng 4 đến tháng 8 Mùa đông chịu ảnh hưởng của khí hậu gió mùa có khi xuống dưới 10 Mỗi khi gió mùa về thường kèm theo mưa nhỏ Do độ ẩm bình quân trên năm tương đối cao (cao nhất vào tháng 3, tháng 4 ) quỹ đất tương đối rộng nên có nhiều thuận lợi cho cây trồng phát triển Đặc biệt là cây ăn quả và cây lâm nghiệp Dao động nhiệt độ và độ ẩm các mùa trong năm tương đối cao, thể hiện rõ rệt

là mùa mưa và mùa khô

+ Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 nhiệt độ trung bình 20 - 36,

độ ẩm trung bình từ 80%-86% lượng mưa biến động từ 120,6-283,9mm/ tháng nhưng tập trung vào những tháng 6,7,8 Nhìn chung khí hậu vào mùa mưa thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp tuy nhiên có những ngày nóng ẩm mưa nhiều nên thất thường nên đề phòng chống dịch sảy ra đối với đàn gia súc, gia cầm, gây thiệt hại cho sản xuất

+ Mùa khô kéo dài từ tháng 11 tháng 4 năm sau, thời gian này khí hậu thường lạnh và khô hanh, ẩm độ và nhiệt độ giảm, sự giao động nhiệt trong ngày lớn, nhiệt độ dao động từ 10-24,8, biến động nhiệt ngày và đêm rất lớn (có khi chênh lệch tới 10 ); ẩm độ thấp từ 65-70% ngoài ra mùa đông còn chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, giá rét và sương muối mỗi đợt kéo 6-10

Trang 2

ngày gây ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng và sức chống đỡ bệnh tật của vật nuôi và cây trồng

Theo tài liệu của trạm khí tượng thủy văn thành phố thì tiểu khí hậu của xã Quyết Thắng có những diễn biến về nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa trung bình qua các tháng trong năm được trình bày ở bảng 1.1

Bảng 1.1 Một số thông số về thời tiết khí hậu trong năm

của xã Quyết Thắng - thành phố Thái Nguyên

số tháng trong năm tăng cao đó là điều kiện thuận lợi cho các sinh vật gây bệnh phát triển ảnh hưởng tới sức khỏe đàn gia súc, gia cầm Ngoài ra việc chế biến bảo quản nông sản, thức ăn chăn nuôi gặp rất nhiều khó khăn

Trang 3

1.1.1.3 Điều kiện đất đai

Tổng diện tích toàn xã là 9,3km, trong đó diện tích trồng lúa và hoa màu là 565ha diện tích đất lâm nghiệp là 199ha đất chuyển dụng là 170ha

Diện tích đất của xã khá lớn chủ yếu là đát đồi bãi, độ dốc lớn lại thường xuyên bi bào mòn, rửa trôi nên độ màu mỡ kém do đó năng xuất cây trồng cồn thấp, việc canh tác gặp nhiều khó khăn

Cùng với sự gia tăng dân số, xây dựng cơ sở hạ tầng … nên diện tích đất nông nghiệp và đất hoang có su hướng ngày một giảm, gây khó khăn cho việc chăn thả gia súc Chính vì vậy trong những năm tới cần có sự Kết hợp chặt chẽ giữa ngành chăn nuôi và ngành trồng trọt.Việc nuôi con gì, trồng cây gì cần được căn cư vào điều kiện cụ thể và cân nhắc tính toán kỹ

1.1.2 Tình hình kinh tế xã hội của xã Quyết Thắng

Nói chung trình độ dân chí và đời sống của người dân ngày càng được nâng cao, hệ thống điện cung cấp đủ cho sản xuất và sinh hoạt, đường giao thông đã được bê tông hóa, trạm y tế đã được xây mới với nhiều thiết bị khám, chữa bệnh tốt thường xuyên khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho người dân, đặc biệt là người già, bà mẹ và trẻ em được quan tâm

Việc dân cư phân bố không đồng đều gây nhiều khó khăn cho việc phát triển kinh tế cũng như quản lý xã hội Khu vục nhà máy, trường học, trung tâm dân cư tập trung đông, dân cư ở nơi khác đến học, làm viêc nên quản lý trật tự xã hội ở đây khá phức tạp Chính vì vậy đòi hỏi của các ban ngành hoạt động liên tục, tích cực và đồng bộ từ trên xuống, đồng thời liên kết phối hợp

Trang 4

với các địa phương trong và ngoài tỉnh, đưa nếp sống văn hóa mới đi vào cuộc sống của người dân trong toàn xã Thực hiện tiến tới con người văn hóa, gia đình văn hóa, thôn văn hóa, xã văn hóa Từ đó nâng cao ý thức, trách nhiệm người dân đồng thời đẩy mạnh lao động sản xuất, tạo công ăn việc làm cho nhũng lao động dư thừa, ngày càng đẩy xa các tệ nạn xã hội

1.1.2.2 Tình hình kinh tế

Quyết Thắng là một xã thộc thành phố thái nguyên cơ cấu kinh tế đang dạng, có nhiều thành phần kinh tế cùng hoạt động: Công nghiệp - Nông nghiệp - dịch vụ tạo mối quan hệ hữu cơ để cùng nhau phát triển

Về sản xuất nông nghiệp: Khoán tới tay người lao động vẫn là chủ yếu (chiếm tới 80% số hộ là sản xuất nông nghiệp) ngoài ra có sự kết hợp hài hòa giữa vật nuôi và cây trồng

Về lâm nghiệp: Việc trồng cây phủ xanh đất trống đồi núi trọc đã tến hành cách đây hơn 10 năm, nay đã phủ gần hết các đồi núi trọc chưa có kết quả thu hoạch vì đây chủ yếu là rừng non

Về dịch vụ: Đây là ngành đang phát triển

Nhìn chung kinh tế xã hội của xã vẫn chưa cao, quy mô sản xuất vẫn chưa lớn, chưa có sự quy hoạch chi tiết, đây cũng là hạn chế của xã Đối với hộ sản xuất nông nghiệp, thu nhập bình quân lương thực là 300kg/người/năm, chăn nuôi chủ yếu ở quy mô nhỏ Tổng thu nhập bình quân trên 650.000đ/người/tháng

Trong những năm gần đây mức sống của nhân dân đã được nâng lên rõ rệt, hầu như các hộ đã có phương tiện nghe nhìn như : tivi, đài, sách, báo…

Đa số các hộ gia đình đã mua được xe máy và nhiều đồ dùng đắt tiền Hệ thống cơ sở hạ tầng của xã được đầu tư phát triển đặc biệt là giao thông, thủy lợi phục vụ cho sự phát triển mọi mặt của đời sống, kinh tế, văn hóa xã hội

1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp

Kinh tế của xã nhiều năm gần đây được phát triển mạnh mẽ, do đó mức sống của nhân dân được nâng lên từng bước, có được kết quả đó là nhờ chính sách phát triển hợp lý của xã Xã có chủ trương tăng thu nhập bình quân/đầu người lao động của xã vẫn tập trung vào sản xuất nông nghiệp, nên việc phát triển nông nghiệp vẫn là chính

Xã thực hiện tốt công tác phục vụ sản xuất như cải tạo, tu bổ hệ thống thủy lợi cho vay vốn phát triển sản xuất Thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi

Trang 5

hợp lý, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất cây trồng vật nuôi, phát huy hết nguồn lực để phát triển tổng hợp

1.1.3.1 Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi

Ngành chăn nuôi cung cấp nhu cầu thực phẩm cho xã cung như các vùng lân cận, ngành chăn nuôi sử dùng nguồn lao động dư thừa, tăng thu nhập cho nhân dân, đồng thời sử dụng sản phẩm của ngành trồng trọt vào chăn nuôi, làm tăng giá trị sản phẩm, biến các phế phụ phẩm của ngành trồng trọt không

có giá trị thành các sản phẩm có giá trị kinh tế cho người lao động

+ Chăn nuôi trâu bò

Tổng đàn trâu bò trong xã có trên 650 con, trong đó chủ yếu là trâu Tình hình chăm sóc khá tốt, tuy nhiên vào mùa đông lượng thức ăn ít, việc sản xuất và dự trữ thức ăn còn hạn chế, trâu bò thường bị đói và rét ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng Mùa Đông- Xuân đàn trâu bò thường hay mắc bệnh, chuồng trại và công tác vệ sinh chưa được tốt, thoáng mát về mùa hè, ấm áp

về mùa đông, chưa có hố ủ phân… Công tác tiêm phồng đã được người dân chú trọng hơn trong vài năm trở lại đây nên không có dịch bệnh sảy ra trên đại bàn xã, nhờ có sự tư vấn của cán bộ thú y xã chuồng trại đã được xây dựng tương đối khoa học, đồng thời công tác vệ sinh cũng đã được tăng cường, giúp đàn trâu đàn bò của xã ít mắc bệnh ngay cả trong vụ đông xuân

Chăn nuôi trâu bò theo hướng công nghiệp chưa được người dân chú trọng Xã có khả năng nuôi được bò hướng sữa, hướng thịt, song do nhiều yếu

tố chủ quan và khách quan nên vấn đề này chưa được chú ý phát triển Công tác chọn giống, lai tạo và mua các giống bò hướng sữa, hướng thịt chưa được chú ý, tầm vóc cũng như tính năng sản xuất của trâu bò còn nhiều hạn chế

+ Chăn nuôi lợn

Nhìn chung các hộ nông dân đều nuôi lợn , đã có những gia đình đầu tư chăn nuôi với quy mô lớn với số đầu lợn từ vài chục tới vài trăm con và áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào chăn nuôi nhờ vậy mà đem lại thu nhập khá cao cho nguời chăn nuôi

Công tác giống lợn đã được quan tâm , chất lượng con giống tốt Nhiều hộ gia đình nuôi lợn giống Móng Cái , Yorkshire, Landrace, nhằm chủ động các con giống và cung cấp lợn giống cho nhân dân xung quanh Việc phát triển đàn lợn của xã có thuận lợi là do có trung tâ m thực hành thực nghiệm của trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên nằm trong địa bàn của xã , đây là nơi cung cấp con giống khá tin cậy, đảm bảo về số lượng và chất lượng

Trang 6

Công tác vệ sinh thú y cho đàn lợn chưa tốt , hàng năm việc tiêm phòng chưa triệt để nên dịch bệnh vẫn xảy ra với quy mô nhỏ gây thiệt hại cho người chăn nuôi Đầu ra của sản phẩm chưa ổn định , sản phẩm thường rẻ do yếu tố cung và cầu , lợn của người dân chưa đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Trong những năm tới, mục tiêu là phải đưa được năng suất sản phẩm , chất lượng thịt đạt tiêu chuẩn xuất khẩu cũng như đẩy mạnh hơn nữa chăn nuôi lợn theo phương thức công nghiệp

+ Chăn nuôi gia cầm

Chăn nuôi gia cầm của x ã có một vị trí quan trọng với chủng loại phong phú, trong đó gà vịt là đối tượng chính Đa số các hộ gia đình chăn nuôi theo phương thức quảng canh , do đó mà năng suất thấp và gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý phòng trừ dịch bệnh , tỷ lệ hao hụt lớn nên hiệu quả chưa cao Bên cạnh đó có một số gia đình mạnh dạn đầu tư vốn xây dựng các trang trại quy mô, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Bằng việc áp dụng chặt chẽ quy trình phòng dịch đã đưa năng suất lên rất cao Ngoài ra còn cung cấp con giống, trứng các loại cho nhân dân trong vùng Địa bàn xã còn là nơi chuyển giao khoa học công nghệ của thầy và trò khoa Chăn nuôi thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Đa số các hộ chăn nuôi gia cầm đã ý thức được tầm quan trọng của việc tiêm phòng và chữa bệnh , nhất là sử dụng các loại vắc xin tiêm chủng cho gà như vắc xin cúm gia cầm , Newcastle, Lasota, Gumboro, Đậu, cho ngan vịt như vaccine Dịch tả vịt , cúm gia cầm… Bên cạnh đó vẫn còn những gia đình

áp dụng phương thức chăn thả tự do lại chưa có ý thức phòng bệnh khi dịch bệnh xảy ra , bị thiệt hại kinh tế và chính đây là nơi phát tán mầm bệnh rất nguy hiểm

Ngoài ra nhiều hộ gia đình còn đào ao thả cá, gắn việc trồng rừng với nuôi ong lấy mật, nuôi hươu lấy nhung… để tăng thu nhập

+ Công tác thú y

Công tác thú y và vệ sinh thú y là khâu then chốt tro ng chăn nuôi, quyết định sự thành bại của người chăn nuôi đặc biệt trong điều kiện chăn nuôi tập trung với quy mô lớn Ngoài ra, công tác thú y còn ảnh hưởng lớn tới sức khoẻ cộng đồng Nhận thức được điều đó nên những năm gần đây công tác thú y được lãnh đạo xã rất quan tâm Hàng năm xã tổ chức tiêm phòng cho đàn gia súc và tiêm phòng dại cho chó, 100% chó nuôi trong xã được tiêm phòng Tuy nhiên cần làm tốt hơn nữa công tác kiểm dịch, nâng cao nhiệm vụ, trách nhiệm của thú

y viên, đầu tư đầy đủ các trang thiết bị chuyên dùng giúp công tác chẩn trị bệnh

Trang 7

nhanh, chính xác hơn Đẩy mạnh công tác tuyên truyền lợi ích của việc vệ sinh thú y giúp người dân hiểu và chấp hành tốt pháp lệnh thú y

1.1.3.2 Tình hình sản xuất ngành trồng trọt

Diện tích trồng lúa và hoa màu lớn đó là điều kiện thuận lợn cho phát triển nông nghiệp với phương châm thâm canh tăng vụ, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ t huật vào sản xuất , mạnh dạn đưa giống lúa mới cho năng suất cao vào sản xuất Bên cạnh đó còn trồng các cây lương thực khác như ngô , khoai, sắn…

Diện tích trồng cây ăn quả của xã khá lớn , tuy nhiên trồng còn thiếu tập trung, còn lẫn nhiều cây tạp , lại chưa thâm canh nên năng suất thấp Sản xuất mang tính tự cung tự cấp chưa mang tính sản xuất hàng hoá Vấn đề trước mắt,

xã phải quy hoạch lại vườn cây ăn quả và có hướng phát triển hợp lý Với cây lâm nghiệp: Việc giao đất giao rừng tới tay các hộ gia đình đã thực sự khuyến khích họ nên đất trống đồi trọc đã được phủ xanh cơ bản và diện tích rừng mới trồng này được chăm sóc, quản lý tốt

Xã có đội ngũ cán bộ trẻ giỏi chuyên môn, nhiệt tình năng động, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nâng cao năng suất vật nuôi, cây trồng đưa kinh tế xã đi lên, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện

Trang 8

Công tác tuyên truyền lợi ích của việc vệ sinh thú y chưa thực sự

hiệu quả , chưa gạt bỏ được thói quen bảo thủ trong chăn nuôi ở một bộ

phận dân cư

Sự bất lợi của thời tiết gây khó kh ăn cho cả chăn nuôi và trồng trọt , khí hậu khắc nghiệt hay thay đổi ở một số tháng gây nhiều bệnh tật, khả năng sinh trưởng phát triển ở vật nuôi, cây trồng bị hạn chế

Việc dân cư phân bố không đều , trình độ dân trí có s ự chênh lệch lớn giữa các khu vực , gây khó khăn cho việc phát triển sản xuất cũng như việc quản lý xã hội Thói quen bảo thủ , lạc hậu trong nếp sống sinh hoạt của một số bộ phận dân cư đã ảnh hưởng lớn tới sản xuất

Người dân quen sản xuất với quy mô nhỏ, đầu ra của sản phẩm gặp nhiều khó khăn gây ảnh hưởng không nhỏ tới phát triển kinh tế

1.2 NỘI DUNG VÀ CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT

1.2.1 Nội dung

Qua điều tra nắm vững tình hình thực tế của trại trên cơ sở đó áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn, ý thức tổ chức, tác phong nghề nhiệp Trong thời gian thực tập tôi đã tham gia công tác phục vụ sản xuất như sau:

Tham gia vệ sinh phòng dịch, trồng, chăm bón cây ăn quả, cây lâm nghiệp Thực hiện nuôi gà thịt, gà đẻ, ấp trứng gia cầm theo quy trình kỹ thuật…nhằm rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao hiểu biết, tiếp cận và nắm vững khoa học

Tiến hành nghiên cứu đề tài:

"Nghiên cứu ảnh hưởng của vệ sinh sát trùng và bảo quản trứng ấp ở

vụ Hè, Thu trong điều kiện không có phòng lạnh tại xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên”

Trang 9

1.2.2.1 Công tác chăn nuôi

Cùng với việc thực hiện chuyên đề thực tập tại trại gia cầm chúng tôi đã tiến hành nuôi gà thịt, gà đẻ, theo quy trình kỹ thuật cụ thể như sau:

Ứng dụng kỹ thuật vào nuôi gà thịt:

*Công tác chuẩn bị trước khi nuôi gà:

Trước khi nhận gà vào chuồng nuôi 3 ngày chúng tôi tiến hành làm vệ sinh lại, chuồng nuôi được cọ rửa sạch sẽ sau đó quét vôi và phun sát trùng bằng dung dịch Formol 2% Tất cả các dụng cụ chăn nuôi như máng ăn, máng uống, chụp sưởi, quây…đều được cọ rửa vệ sinh sạch sẽ và phun sát trùng trước khi đưa vào chuồng nuôi

Đệm lót được sử dụng bằng trấu, được phơi khô, sạch và phun sát trùng trước khi nhập gà một ngày, độ dày đệm lót tùy theo điều kiện thời tiết (6 cm), chuẩn bị đủ cả đệm lót để bổ sung khi cần thiết

Chuồng nuôi khi nhập gà vào phải đảm bảo các thông số kỹ thuật: chuồng phải sạch sẽ, thoáng mát, có dèm che, đèn chiếu sáng, chụp sưởi… Công tác nuôi dưỡng chăm sóc: Tùy theo giai đoạn phát triển của gà mà

ta áp dụng quy trình chăm sóc cho phù hợp

*Giai đoạn úm gà: 1- 21 ngày tuổi

Khi nhập gà về nuôi chúng tôi cho gà vào quây, cho gà uống nước ngay, nước cho gà uống phải sạch có pha B-complex 0,5g/lít, glucoza 20g/lít, cofacoli 1g/lít Cho gà uống nước sau khoảng 1 giờ thì cho gà ăn bằng khay

ăn Giai đoạn này nhiệt độ là yếu tố rất quan trọng đặc biệt là từ 1 - 10 ngày tuổi; 1-3 ngày tuổi, nhiệt độ quây là 32-330

C Sau đó nhiệt độ được giảm dần theo tuổi gà

Thường xuyên theo dõi đàn gà để điều chỉnh chụp sưởi đảm bảo nhiệt độ thích hợp cho đàn gà, nếu gà tập trung lại thành đống dưới chụp sưởi là thiếu nhiệt cần hạ thấp chụp sưởi Còn gà tránh xa chụp sưởi là nhiệt độ quá cao, cần câng cao chụp sưởi lên Còn gà tản đều dưới chụp sưởi là nhiệt độ thích hợp

Quây gà, máng ăn, máng uống, rèm che đều được điều chỉnh theo tuổi gà (độ lớn của gà), ánh sáng phải đảm bảo cho gà ăn

Tóm lại: ở giai đoạn úm gà yếu tố nhiệt rất quan trọng, do đó chúng tôi luôn đảm bảo đủ nhiệt cho gà ăn, thức ăn, nước uống phải đảm bảo luôn đủ và sạch

*Giai đoạn từ 21 đến xuất chuồng:

Trang 10

Hàng ngày phải cung cấp đủ thức ăn, nước uống cho gà, cho gà ăn tự do, thức ăn luôn mới để kích thích gà ăn được nhiều, máng uống phải được cọ rửa

và thay nước 2 lần/ngày

Chúng tôi luôn quan sát theo dõi tình hình sức khỏe đàn gà để phát hiện

và chữa trị kịp thời những con gà ốm

- Công tác vệ sinh thú y:

Trong chăn nuôi thì yêu cầu vệ sinh phòng dịch là yếu tố quyết định đến hiệu quả kinh tế Do vậy trong quá trình chăn nuôi chúng tôi áp dụng nghiêm ngặt qui trình vệ sinh phòng dịch

Trong quá trình nuôi dưỡng gà chúng tôi sử dụng các loại văcxin sau để phòng bệnh cho đàn gà được thể hiện ở bảng 1.2

Bảng 1.2 Lịch dùng văcxin cho đàn gà

Gumboro lần 1

Nhỏ mắt 1 giọt Nhỏ mồm 4 giọt

Lasota lần 2

Nhỏ mồm 4 giọt Nhỏ mắt 1 giọt Hiệu quả phòng dịch đạt tỷ lệ an toàn 100%

1.2.2.2 Chuẩn đoán và điều trị

Hàng ngày chúng tôi chăm sóc theo dõi đàn gà nuôi tại trại để phát hiện gà

ốm để điều trị kịp thời, việc chuẩn đoán qua quan sát triệu chúng và mổ khám bệnh tích

Trong thời gian thực tập chúng tôi thường gặp những bệnh sau:

Trang 11

*Bệnh Hô hấp mãn tính ở gà (CRD)

Nguyên nhân: Do Mycoplasma galliceptium và Mycoplasma gallinarum

là chủ yếu Bệnh xảy ra khi thời tiết nóng, nhiệt độ cao, ẩm độ cao, hay khi

trời lạnh, mưa phùn làm sức đề kháng của gà bị suy giảm thì gà dễ mắc bệnh

Triệu chứng: gà bị bệnh chảy nước mắt, nước mũi, thở khò khè, ủ rũ,

những con bệnh nặng phải há mồm ra để thở, gà hay cạo mỏ xuống đất

Điều trị: + Dùng Tylosin 98% tiêm bắp, liều lượng 1ml/kgP, ngày tiêm

hai lần liên tục trong 3-4 ngày

* Bệnh Cầu trùng

Dùng Ringercoccin W.S

Tất cả các bệnh trên khi điều trị kết hợp với các loại thuốc nhằm tăng sức

đề kháng cho gà như B.complex 1gr/3l nước, Vitamin C 3%, VitaminK…

1.2.2.3 Các công tác khác

Tham gia ấp trứng gia cầm

Nuôi dưỡng chăm sóc đàn gà đẻ

Điều trị một số bệnh ở gà

Kết quả công tác phục vụ sản xuất được tóm tắt ở bảng sau

Bảng 1.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất

(con)

Kết quả

Số lƣợng đạt (con)

Tỷ lệ (%)

1 Nuôi dưỡng chăm sóc

Trang 12

1.3 KẾT LUẬN - TỒN TẠI

Qua 6 tháng thực tập tại cơ sở, được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của thầy

cô hướng dẫn và chính quyền địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi bước đầu tiếp xúc với thực tiễn sản xuất Qua đó tôi đã vận dụng được những kiến thức đã học ở trường để củng cố kiến thức và rèn luyện chuyên môn của mình Mặt khác, qua thời gian thực tập đã giúp tôi yêu ngành, yêu nghề, yêu con vật, say mê công việc, đồng thời tích lũy được một số kinh nghệm từ thực tiễn sản xuất để phục vụ ngề nghệp trong tương lai

Tuy nhiên, trong thời gian thực tập với kết quả thu được tôi thấy mình vẫn còn nhiều hạn chế phải khắc phục và luôn cố gắng rèn luyện để vươn lên

Trang 13

PHẦN 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Tên đề tài:

"Nghiên cứu ảnh hưởng của vệ sinh sát trùng và bảo quản trứng ấp ở

vụ Hè - Thu trong điều kiện không có phòng lạnh tại xã Quyết Thắng- thành phố Thái Nguyên”

2.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Sau hơn 20 năm thực hiện đường nối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng

và Nhà nước, nền nông nghiệp nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu đang ghi nhận Từ một nước có nền nông nghiệp lạc hậu, tự cung, tự cấp, quy mô nhỏ lẻ, chúng ta đã vươn lên để trở thanh một nước có nền nông nghiệp hàng hóa, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và

có tỷ suất hàng hóa ngày càng lớn, có vị thế đáng kể trong khu vực và thế giới Nước ta đã trở thành một trong những nước đứng đầu về xuất khẩu gạo,

cà phê, điều, tiêu, thủy hải sản,… trên thị trường quốc tế

Đối với nông nghiệp nông thôn trong những năm tới vẫn phải coi trọng công nghiệp hóa- hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là một trọng điểm quan trọng, có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước Theo đó nền nông nghiệp đã và đang ngày một đi lên, sản lượng lương thực ngày một tăng, số lượng vật nuôi cũng được gia tăng theo từng năm Bằng việc đưa các mô hình về triển khai tại các đại phương khu vực nông thôn trong cả nước đạt được nhiều kết quả đáng kể Các mô hình như: các cây giống, giống vật nuôi đã được đưa về tận thôn, xã,… tạo điều kiện thuận lợi cho người dân phát triển sản xuất Hiện nay, đời sống nhân dân ngày được nâng cao, do vậy đòi hỏi ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi gia cầm nói riêng phải phát triển mạnh mẽ hơn nữa để đáp ứng nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu

Để thúc đẩy ngành chăn nuôi gia cầm phát triển chúng ta phải có những bước phát triển mới về công tác giống, chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh phòng bệnh Trong đó cần chú ý tới công tác sản xuất con giống, nhu cầu về con giống là rất lớn đặc thù của gia cầm là đẻ trứng và ấp trứng, nếu chỉ ấp tự nhiên và thủ công thì không thể đáp ứng nhu cầu và chất lượng con giống, chính vì vậy trứng giống cần được ấp bằng máy công nghiệp mới cho ra được

số lượng lớn con giống có chất lượng tốt cùng một thời điểm

Trang 14

Khi ấp trứng bằng máy công nghiệp ngoài việc quan tâm tới chế độ ấp nở như: nhiệt độ, ẩm độ thì vệ sinh sát trùng rất quan trọng do trứng được lấy

từ các nguồn bố mẹ khác nhau, thường mang mầm bệnh từ các trang thiết bị phục vụ chăn nuôi như: đệm lót, dụng cụ chăn nuôi Nếu không sát trùng kỹ thì mầm bệnh sẽ xâm nhập vào trong vỏ trứng và gây hiện tượng trứng thối nổ trong máy ấp ảnh hưởng tới kết quả ấp nở và chất lượng gia cầm giống

Vì vậy khi tiến hành ấp trứng chúng ta cần phải thực hiện tốt quy trình

vệ sinh sát trùng trứng ấp, máy ấp, nở Xuất phát từ vấn đề đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài:

" Nghiên cứu Ảnh hưởng của vệ sinh sát trùng và bảo quản trứng ấp

ở vụ Hè - Thu trong điều kiện không có phòng lạnh tại xã Quyết Thắng - thành phố Thái Nguyên”

Mục đích của đề tài:

- Thử nghiệm tìm ra loại thuốc sát trùng có hiệu lực tốt trong việc sát trùng trứng ấp gia cầm có hiệu quả kinh tế cao

- Hạn chế những ảnh hưởng không tốt của bảo quản tới kết quả ấp nở

- Hoàn thiện qui trình ấp trứng gà bằng máy ấp nhân tạo

2.2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Ấp trứng nhân tạo là việc tạo ra môi trường về nhiệt độ, ẩm độ, thông thoáng … cho tế bào trứng phát triển tốt Vì trong tế bào trứng đã có đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của phôi trong thời gian ấp

2.2.1.1 Cấu tạo bộ máy sinh dục của gia cầm mái và quá trình hình thành trứng

* Buồng trứng

Cơ quan sinh dục của gia cầm cái gồm hai buồng trứng và hai ống dẫn trứng, trong quá trình phát triển của gia cầm, buồng trứng bên phải và ống dẫn trứng bên phải bị thoái hoá Khi gia cầm cái bắt đầu thành thục về sinh lý thì buồng trứng còn lại phát triển Nhưng đôi khi ở vịt cả hai đều phát triển

Ở gia cầm cái khi chưa thành thục về tính, buồng trứng trông giống như một cái dải Ở gia cầm cái trưởng thành nó có hình dáng giống hình chữ nhật, đầu sau chúc xuống phía dưới Mặt dưới của buồng trứng được phủ bởi một nếp nhăn nằm ngang, buồng trứng được gắn chặt với thuỳ trước của thận trái, phía trên buồng trứng gắn với phổi phải, phía sau được che lấp bởi dạ dày cơ Trong thời kỳ gà đang đẻ buồng trứng phát triển rõ rệt, khối lượng kích thước

Trang 15

buồng trứng thay đổi theo tuổi và tuỳ thuộc vào hoạt tính, chức năng của các tuyến sinh dục Khối lượng buồng trứng gà con 1 ngày tuổi là 0,03 g; 3 tháng tuổi là 0,31 g; 5 tháng tuổi là 6,65g Sau khi đẻ quả trứng đầu tiên là 38g Kích thước của buồng trứng có chiều dài từ 12 - 34 mm, rộng từ 8 - 22mm Số lượng tế bào trứng không tăng thêm mà có khoảng 900 - 3500 (ở gà), 1500 -

2500 (ở vịt) Trong buồng trứng, màu sắc và kích thước của chúng cũng khác nhau Trong thời gian phát triển, lúc đầu các tế bào trứng được bao bọc bởi một tầng tế bào, không có liên hệ gì với biểu bì phát sinh Tầng tế bào này sẽ phát triển thành nhiều tầng tế bào, tiến sát tới bề mặt buồng trứng Sự cấu tạo thêm màng này gọi là Follicun trở nên dính và làm thay đổi hình dạng của buồng trứng Sau thời kỳ đó, buồng trứng lại trở lại hình dạng ban đầu, các Follicun vỡ ra sẽ rơi vào loa kèn của ống dẫn trứng Tế bào trúng là tế bào lưỡng cực, chia làm hai cực: Động vật và thực vật

Cực động vật bao giờ cũng nhỏ hơn cực thực vật, cực động vật chứa đĩa phôi luôn nằm ở mặt trên vì thế mà nó không bị sát vào vỏ trứng

Từ khi trứng được hình thành đến khi trứng chín là 7 - 10 ngày, số lượng trứng đẻ ra không những phụ thuộc vào số lượng tế bào trứng mà còn phụ thuộc vào khả năng đồng hóa các chất dinh dưỡng có trong thức ăn của gia cầm nó cần thiết trong quá trình hình thành quả trứng

* Ống dẫn trứng

Ống dẫn trứng của gia cầm không chỉ đơn thuần là con đường cho trứng

đi qua mà chính là nơi hoàn thành, tạo ra quả trứng Ống dẫn trứng là một ống dài có nhiều khúc cuộn bên trong có tầng cơ, bên thành ống có một lớp màng nhày lót bên trong thành, bề mặt màng nhày có các tiêm mao rung động Bên ngoài ống đẫn trứng là lớp cơ trơn Ở gia cầm cái ống dẫn trứng nằm phần lớn

ở bên trái xoang bụng, phần đầu ống dẫn trứng phát triển thành cái phễu, phần dưới của ống dẫn trứng đổ vào lỗ huyệt

Kích thước của ống dẫn trứng không cố định, trong thời kỳ đẻ trứng ống dẫn trứng thay đổi rõ rệt, dài ra rất nhiều Phần tạo lòng trắng của ống dẫn trứng thay đổi rõ rệt to ra theo chiều ngang từ 1,5 - 13 mm và sức chứa của nó tăng lên 50 lần, ở gia cầm cái ống dẫn trứng dài khoảng 11 - 18 cm, đường kính từ 0,4 - 0,7 cm Thời gian gia cầm đẻ cao điểm chiều dài của ống dẫn trứng có thể tới 40 - 85 cm, đường kính tăng thêm vài cm, lúc này khối lượng của ống dẫn trứng cũng tăng theo thời gian đẻ Ống dẫn trứng nặng 75 g, ở thời kỳ nghỉ đẻ giảm xuống còn 45 g

Trang 16

Ống dẫn trứng chia làm 5 phấn: Loa kèn, phần tiết lòng trắng, phần eo, tử cung và âm đạo

- Loa kèn: Nằm dưới buồng trứng, được giữ nguyên vị trí nhờ màng treo

ruột Chiều dài khoảng 7cm, loa kèn có nhiệm vụ hứng trứng, trứng được thụ tinh ở đây 15 phút Tinh trùng sống ở loa kèn từ 1 - 30 ngày, nhờ có nhu động của phễu mà tế bào trứng đi xuống bộ phận tiết lòng trắng

- Phần tiết lòng trắng: Kế tiếp với loa kèn, chiếm khoảng 2/3 chiều dài

của ống dẫn trứng Nhiệm vụ chủ yếu là tạo ra lòng trắng, đặc biệt phần này

có tuyến lòng trắng rất phát triển, phía dưới của nó được phủ bởi lớp nhăn có chiều cao tới 25cm, đến thời kỳ thải trứng nếp nhăn này tăng lên chứa nhiều chất tiết Khi tế bào trứng đi qua sẽ được bao bọc bởi lớp lòng trắng, lượng lòng trắng tiết ra ở đây chiếm từ 40 - 50% khối lượng toàn bộ lòng trắng của trứng Lúc này dây chằng của lòng đỏ cũng đã được hình thành nhờ có nhu động mạnh của ống dẫn trứng mà tế bào trứng được chuyển xuống phần eo

- Phần eo: Có chiều dài khoảng 8cm rất mỏng ở 4cm đầu tiên, đoạn này

không có tuyến, các nếp nhăn của nó nhỏ và thấp hơn ở phần trên Phần còn lại của tuyến tiết ra chất dịch để bảo vệ màng dưới vỏ và tiếp tục được tạo ra lòng trắng loãng, tế bào trứng thường dừng ở đây khoảng 75 phút khi ra khỏi phần eo, hình dạng quả trứng được hình thành

- Tử cung: Là phần cuối của phần eo mở to ra, chức năng của nó là tạo

vỏ, ở đây lòng trắng loãng tiếp tục được tạo ra Thời gian tế bào trứng dùng lại

ở đây từ 16 - 20 giờ để hình thành vỏ trứng Trên bề mặt của tử cung có vô số các tuyến nhỏ tiết ra chất canxi của vỏ trứng, màu sắc của vỏ trứng cũng được hình thành ở đây

- Âm đạo: Là phần cuối cùng của ống dẫn trứng, nó gồm bộ phận cơ va

nhiều tuyến tiết ra chất mỡ nhày bao bọc bề ngoài của vỏ trứng, có tác dụng ngăn chặn tạp khuẩn xâm nhập từ bên ngoài vào bên trong vào trứng Ngoài ra chất nhày này còn giúp gia cầm dễ đẻ Thời gian trứng dừng ở âm đạo từ 10 -

15 phút, âm đạo có lỗ thông với phần dưới của huyệt bên trái của ống dẫn niệu Trong lúc con vật đẻ, âm đạo thường lồi ra ngoài lỗ huyệt để giữ cho trứng đỡ bẩn

* Quá trình thụ tinh và phát triển của phôi trong thời gian tạo trứng

- Quá trình thụ tinh

Khi tế bào trứng rời khỏi buồng trứng, sau khi trứng rụng tối đa 15 phút thì sự thụ tinh được thực hiện

Trang 17

Sự thụ tinh ở gia cầm thuộc loại đa tinh, khi qua màng 1 và màng 2 của trứng có khoảng 5 - 24 tinh trùng Khả năng sống của tinh trùng trong ống dẫn trứng có thể tới 30 ngày nhưng thời gian đảm bảo thụ tinh tốt nhất là 7 ngày

- Sự phân chia của phôi trong thời gian tạo trứng

Sau khi thụ tinh được 20 phút thì sự phân chia tế bào được thực hiện, khi

di chuyển đến tử cung đã có 8 tế bào được hình thành gọi là phôi bì trong quá trình tạo trứng (khoảng 24 giờ) quá trình phân chia tế bào xảy ra liên tục, nhiều tế bào được hình thành Khi trứng được đẻ ra ngoài thì phôi bì đã có một nghìn tế bào

Từ phôi bì phát triển về phía lòng trắng gọi là ngoại bì và phát triển về phía lòng đỏ gọi là nội bì đó là các tế bào dẹt Từ đây giữa hai lớp nội bì và ngoại bì hình thành tế bào hình trụ gọi là trung bì Từ ngoại bì hình thành nên tuỷ sống, hệ thần kinh, da, lông, mỏ Nội bì hình thành lớp phía trong hệ tiêu hoá, phổi, phế quản, lỗ huyệt Trung bì hình thành cơ, xương, máu và các cơ quan còn lại

2.2.1.2 Thành phần và cấu tạo trứng gia cầm

Trứng gia cầm là một tế bào sinh dục phức tạp và được biệt hoá rất cao, bao gồm lòng đỏ, lòng trắng, vỏ cứng và các màng, mỗi phần của quả trứng có chức năng riêng, tỷ lệ tương đối và tuyệt đối giữa các phần tuỳ thuộc vào loài gia cầm Trước khi đưa vào ấp phải được kiểm tra chất lượng Nếu trong quá trình ấp, áp dụng tốt quy trình cơ bản thì việc kiểm soát này sẽ cho kết quả cao nhất về những chỉ tiêu ấp nở của trứng

Chất lượng của vỏ trứng được thể hiện ở độ xốp, độ chịu lực và độ dày của vỏ trứng Nó có ý nghĩa quan trọng trong việc vận chuyển, trao đổi chất trong quá trình phát triển của phôi Nguyễn Mộng Hùng (1993) [6] cho biết, xuyên qua vỏ trứng có tới 7000 vi lỗ đường kính 40 - 50µ, các lỗ khí trên bề mặt buồng trứng có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi khí, nước giữa phôi và môi trường bên ngoài Roux (1978) [16] trên cơ sở đo đạc đã chứng

Trang 18

minh kích thước của lỗ khí từ 8 - 24µ là đạt tiêu chuẩn và mật độ lỗ khí không đều, dày ở đầu tù và thưa dần về phía đầu nhọn

Độ dày của vỏ trứng có ý nghĩa quan trọng trong quá trình ấp Nhiều nhà nghiên cứu cho biết độ dày của vỏ trứng chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền Marco (1982) [24] cho biết hệ số di truyền về độ dày vỏ trứng là 0,30 - 0,60, điều

đó khẳng định giống gà khác nhau thì độ dày ở trứng khác nhau Theo Lê Hồng Mận và cộng sự (1983) [14] độ dày vỏ trứng 0,37 - 0,43 mm Theo các vị trí khác nhau thì độ dày cũng không đồng nhất, dày ở phía đầu nhọn và mỏng ở phía đầu tù Độ dày vỏ trứng và số lỗ khí có quan hệ chặt chẽ với nhau, vỏ trứng mỏng có số lỗ khí nhiều hơn vỏ trứng dày và ngược lại

Độ chịu lực của vỏ trứng cũng là yếu tố quan trọng để đánh giá chất lượng vỏ trứng Theo Lê Xuân Đồng và cộng sự (1998) [3] thì độ bền vỏ trứng là sự chống đỡ các chấn động cơ học đối với trứng và độ bền của vỏ trứng ổn định vào thời điểm gà đẻ rộ

Vỏ trứng thẩm thấu không khí khác nhau ở các vị trí, đầu to thẩm thấu không khí nhiều hơn đầu nhỏ Các loại khí khác nhau thẩm thấu qua vỏ trứng cũng khác nhau, khí hydro thẩm thấu mạnh nhất và oxy thẩm thấu chậm nhất Theo Bagley và cộng sự (1990) [21] độ thẩm thấu của vỏ trứng có vai trò quan trọng cung cấp các chất khoáng đặc biệt là canxi và photpho trong quá trình phát triển của phôi giai đoạn cuối

Lớp tiếp giáp với vở trứng là màng vỏ gồm có hai lớp dính sát nhau, ở phía đầu tù thì hai lớp này tách ra tạo thành buồng khí Màng vỏ có cấu tạo từ các sợi keratin đan xen vào nhau rất bền vững, lớp này có các lỗ thở cho không khí đi qua giúp cho quá trình trao đổi khí trong quá trình phát triển của phôi thai

Buồng khí là phần tách ra của 2 lớp màng vỏ ở phía đầu tù của quả trứng Buồng khí tách biệt với các phần khác của trứng bởi một màng mỏng

có tính thấm Do đó không khí trong buồng khí có tầm quan trọng đối với hô hấp của phôi, phần oxy đáng kể đầu tiên đến túi niệu nang từ buồng khí Vị trí của buồng khí có vai trò quan trọng trong hai thời điểm phát triển của phôi, giai đoạn sau nếu buồng khí bị lệch về một bên hoặc lệch về phía đầu nhọn thì oxy của buồng khí không cung cấp được cho phôi trong khi hô hấp phải chuyển từ hô hấp niệu sang hô hấp phổi do đó có thể dẫn đến chết phôi

* Lòng trắng trứng

Lòng trắng trứng chứa 85 - 89% là nước, còn lại các chất dinh dưỡng như đường, vitamin B2, cung cấp cho nhu cầu phát triển của phôi Lòng trắng

Trang 19

trứng chia ra làm 4 lớp trong cùng sát lồng đỏ là lòng trắng đặc, bên trong lớp này có sợi dây giữ hai đầu lòng đỏ gọi là dây chằng, giữ cho lòng đỏ khỏi bị tác động của bên ngoài và giữ cho lòng đỏ không bị dính vào vỏ, lòng trắng đặc chiếm 2,7%, lớp lòng trắng loãng chiếm 16,8%, lớp lòng trắng đặc giữa chiếm 50 - 57%, lớp này có chứa nhiều sợi nhày muxin là lớp đệm của lòng

đỏ và là nơi đầu sợi dây chằng bám vào, lớp trắng loãng ngoài chiếm 23% khối lượng lòng trắng

Trứng có chất lượng tốt khi đổ ra mặt phẳng nhẵn có hình dạng đặc biệt, lớp lòng trắng đặc gọn và còn giữ nguyên hình dạng, có màu xanh lơ hoặc vàng cam và có chỉ số lòng trắng tương đối cao Trứng chất lượng kém khi đỏ

ra thấy lòng trắng loãng, không màu hoặc màu đục, lớp lòng trắng không còn giữ được hình dạng trứng, chỉ số sinh học của lòng trắng rất thấp

Chất lượng của lòng trắng được đánh giá bằng chỉ số Haugh là mối quan

hệ giữa chiều cao lòng trắng đặc và khối lượng trứng Nguyễn Ân (1978) [1] đã cung cấp bảng tính đơn vị Haugh dựa trên sự thau đổi của chiều cao lòng trắng đặc và khối lượng trứng Chiều cao lòng trắng đặc càng lớn thì chất lượng trứng càng cao Ngô Giản Luyện (1994) [12] cho biết kết quả nghiên cứu của Xasgecva (1977) trứng ấp có chất lượng tốt thì đơn vị Haugh từ 75 - 90

* Lòng Đỏ

Lòng đỏ được bao bọc bởi lớp màng mỏng có tính đàn hồi lớn, nhờ đó

mà lòng đỏ không bị dính vào lòng trắng mà luôn giữ được hình tròn Lòng đỏ

có các lớp đậm nhạt khác nhau là nguồn dinh dưỡng dồi dào cung cấp cho phôi, ngoài ra tế bào trứng còn là một mầm sống, mầm này gắn chặt vào lòng

đỏ tạo thành đĩa phôi

Chất lượng lòng đỏ được xác định bằng chỉ số giữa chiều cao lòng đỏ và đường kính của nó Kết quả nghiên cứu của Card và Nesheim (1972) [22] cho thấy chỉ số lòng đỏ của trứng gà nằm trong khoảng 0,4 - 0,42 Trứng có chỉ số lòng đỏ cao sẽ cho tỷ lệ ấp nở tốt

2.2.1.3 Sự phát triển của phôi gà trong quá trình ấp

Điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của phôi là 37-380

C, ẩm độ 80% Đĩa phôi phát triển ra mọi hướng hình thành lớp phôi ngoài, từ mép rìa của lớp phôi ngoài tách ra lớp phôi trong Sau những giờ ấp đầu tiên có

55-sự tích tụ tế bào ở dạng trục là vật đầu tiên từ đó về cả hai phía Giữa lá phôi trong và lá phôi ngoài hình thành lá phôi giữa Quá trình phát triển tiếp theo là từ ba lá phôi sẽ hình thành tất cả các mô bào của tất cả các cơ quan của cơ thể gia cầm

Trang 20

- Ngày ấp đầu tiên: 3 lá phôi được hình thành Đầu tiên là 2 lá phôi trong

và lá phôi ngoài Giữa lá phôi trong và lá phôi ngoài tạo thành lá phôi giữa Sau đó lá phôi ngoài hình thành lên da, lông vũ, mào, mỏ, mô thần kinh; lá phôi trong hình thành lên ruột, các tuyến tiêu hóa, cơ quan tiêu hóa và các tuyến nội tiết; còn lá phôi giữa hình thành lên cơ quan sinh sản và tiêu hóa

- Ngày ấp thứ 2: phôi phát triển tạo thành hệ thống mạch máu bên ngoài bào thai Bắt đầu xuất hiện màng tim mạch máu bao quanh lòng đỏ (noãn hoàng) Lúc này chất dinh dưỡng của lòng đỏ cung cấp cho phôi

- Ngày ấp thứ 3: bắt đầu hình thành đầu, cổ và ngực của phôi Nếp đuôi

và nếp cánh lớn liên hợp với thân sau của phôi Từ đó màng ối và màng nhung phân chia thành 2 màng túi, màng ngoài là màng nhung, màng sau là màng ối Hai màng này dính liền với nhau, qua ngày thứ 3 thì hình thành gan và phổi

- Ngày ấp thứ 4: phôi có dạng như bào thai động vật bậc cao, độ dài của phôi là 8 mm Qua đèn soi có thể nhìn thấy hệ thống mao quản và ta cũng có thể đánh giá sự phát triển của phôi dựa vào số lượng mạch máu, màng ối có chứa một ít nước và bao phủ lấy phôi, lúc này lòng đỏ đã có sự hòa tan và không còn nguyên vẹn dạng hình tròn nữa

- Ngày ấp thứ 5: phần não bộ phát triển mạnh, từ mấu não hình thành nên

5 bộ phận của não, diều và cơ quan sinh dục cũng bắt đầu được hình thành, trong gan đã có quá trình tạo máu, màng ối chứa nhiều nước ối đồng thời bao bọc kín lấy phôi, thành màng ối co bóp nhịp nhàng

- Ngày ấp thứ 6: kích thước của phôi đạt 16 mm Mạch máu phủ quanh phôi trông như mạng nhện

- Ngày ấp thứ 7: cơ đã có khả năng co bóp, bào thai đã có sự chuyển động, màng niệu phát triển, trên màng niệu hình thành hệ thông mạch máu có chức năng hô hấp Trong thời gian này phôi đã hình thành lông vũ, mỏ, phần đầu cứng của mỏ Bụng phát triển to ra vì các cơ quan phát triển, cánh gập ở khưỷu, thân của phôi cong

- Ngày ấp thứ 8 và 9: phôi có tuyến sinh dục phát triển, các chi được hoàn thiện, mỏ đã hóa sừng Túi lòng đỏ phủ kín màng ối và phôi, màng niệu bao lấy túi lòng đỏ phôi trở lên nặng và chìm xuống dưới, phôi bắt đầu nhìn thấy giống hình gà con, mỏ mở có thể nhìn thấy

- Ngày ấp thứ 10: phôi trao đổi chất mạnh mẽ, sinh nhiệt, lông vũ có thể nhìn thấy bằng mắt thường Từ ngày ấp thứ 10 phôi đã thay đổi căn bản về hô hấp và nguồn dinh dưỡng Mỏ há ra để cho các chất dinh dưỡng từ màng ối đi vào ống tiêu hóa Cuối ngày ấp thứ 10 hệ thống màng niệu bao bọc hết phía đầu nhọn của quả trứng

Trang 21

- Ngày ấp thứ 11, 12, 13 và 14: kích thước của màng ối tăng lên do quá trình chuyển dịch của lòng trắng Lòng trắng được hòa tan trong dịch màng ối của bào thai, bào thai sử dụng nguồn dinh dưỡng này thông qua hệ thống tiêu hóa Do các tuyến tiêu hóa bắt đầu hoạt động mạnh, phôi lớn chiếm gần hết khoang trứng Phôi đã cử động, đầu phôi quay về phí đầu to của quả trứng (đầu buồng khí ), ở giai đoạn này lông tơ dã phủ kín toàn thân Ngón chân và

mỏ đã được hình thành rõ

- Ngày ấp thứ 15, 16: kích thước của màng niệu tăng lên tương ứng với kích thước của phôi Phôi sử dụng mạnh dịch, nước ối, hô hấp của phôi được thực hiện nhờ hệ thống mạch máu của màng niệu, ở hệ thống tiêu hóa thì phần cuối của ruột non được hình thành, lòng trắng hầu như tiêu biến hết, lòng đỏ là nguồn cung cấp dinh dưỡng chính, móng và mỏ đã cứng

- Ngày ấp thứ 17, 18, 19: lúc này lòng đỏ đã lộn dần vào trong xoang bụng của bào thai, bào thai choán gần hết trứng, phôi nằm dọc theo trứng, đầu hướng về buồng khí Đầu của bào thai dấu dưới cánh phải, chân ép vào bụng Màng ối ép sát vào thân do dịch màng ối đã hết Chất lỏng của màng niệu cũng giảm đến mức tối đa do sự bốc hơi của nước và một phần chuyển vào mạch máu

- Ngày ấp thứ 20: Trứng được chuyển sang máy nở, phôi đã thay đổi hô hấp từ hô hấp qua hệ thống mạch máu màng niệu chuyển sang hô hấp bằng phổi Đầu ngày thứ 20 túi lòng đỏ đã lộn vào xoang bụng hoàn toàn, thận bắt đầu hoạt động Phôi thai mổ vỏ trong (chọc thủng lớp màng ngăn cách với buồng khí), máu được phôi thai hấp thụ lại, gà con mổ vỏ trứng (mổ vỏ gạo hay mổ vỏ ngoài)

- Ngày ấp thứ 21: gà con bắt đầu chui ra khỏi vỏ trứng, gà nở rộ vào đầu ngày thứ 21, lỗ rốn bắt đầu thu hẹp tạo thành sẹo và kết thúc thời gian

ấp trứng

2.2.1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của phôi và tỷ lệ ấp nở

* Ảnh hưởng của bảo quản trứng tới sự phát triển của phôi và tỷ lệ ấp nở

Sau khi trứng đẻ ra, nhiệt độ của trứng giảm dần tới nhiệt độ của chuồng nuôi Sự phát triển của phôi tạm ngừng ở nhiệt độ thấp hơn 270C Khi nhiệt độ lớn hơn 270C thì phôi lại tiếp tụ phát triển Quá trình phát triển của phôi ở giai đoạn này diễn ra không bình thường, không theo quy luật, nó có thể ảnh hưởng tới sự phát triển của phôi trong khi ấp, vì vậy trứng được đưa vào ấp càng sớm càng tốt Nhưng trong thực tế chúng ta phải bảo quản trứng một thời gian mới cho vào ấp vì phải thu gom cho đủ số lượng Trong thời gian bảo

Trang 22

quản ngăn chặn tối đa sự phát triển của phôi và bốc hơi nước từ trứng bằng cách điều khiển nhiệt độ và độ ẩm thích hợp

Nếu thời gian bảo quản kéo dài thì sự phát triển của phôi bị rối loạn, thời gian nở kéo dài, nở rải rác, tỷ lệ nở kém

Theo Nguyễn Duy Hoan, Trần thanh Vân (1998) [4] thời gian bảo quản dài sẽ có thời gian ấp nở dài Quá 2 ngày trung bình thời gian ấp nở kéo dài 1h/ngày bảo quản Thời gian bảo quản dài sẽ làm giảm tỷ lệ ấp nở, quá 7 ngày bảo quản tỷ lệ ấp nở giảm 0,5 - 1%

Võ Bá Thọ (1990) [18] cho thấy trứng gà công nghiệp bảo quản 7 ngày

là phù hợp sau 7 - 10 ngày tỷ lệ nở giảm 1% Abdou và cộng sự (1990) [20]

đã chỉ rõ sau thời gian bảo quản 5 - 6 ngày thì cứ thêm một ngày bảo quản tỷ

Ẩm độ không khí trong môi trường bảo quản có ý nghĩa trong việc hạn chế ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian bảo quản đế chất lượng trứng trước khi ấp Độ ẩm không khí nơi bảo quản càng cao thì trứng càng ít mất nước, tuy nhiên độ ẩm không khí quá cao 90 - 100% thì sẽ không có lợi bởi vì trong môi trường này nấm mốc và vi sinh vật sẽ phát triển và xâm nhập vào trong trứng Độ ẩm thích hợp nhất từ 70 - 80%

* Ảnh hưởng của chế độ ấp tới sự phát triển của phôi và tỷ lệ nở

- Ảnh hưởng của nhiệt độ tới sự phát triển của phôi

Nhiệt độ của môi trường có ý nghĩa quan trọng tới sự phát triển của phôi,

vì sự phát triển của phôi gia cầm diễn ra ngoài cơ thể mẹ Nhiệt độ là yếu tố quan trọng đảm bảo sự thành công của quá trình ấp, nó ảnh hưởng sâu sắc tới

sự phát triển của phôi Nhiệt độ tốt nhất là nhiệt độ phôi có thể chịu đựng, sinh trưởng phát triển bình thường

Theo Wilson (1990) [27] nhiệt độ thích hợp để phôi phát triển trong máy

ấp là từ 37 - 380

C Ở nhiệt độ này phôi phát triển và sử dụng tốt các chất dinh dưỡng của trứng, nhu cầu về nhiệt độ thay đổi tuỳ thuộc vào giai đoạn phát triển của phôi ở giai đoạn đầu, khi nhiệt độ tăng (trong mức giới hạn) thì phôi phát triển nhanh, phôi lớn nhanh và nặng, màng niệu nang, mạch máu và cơ khép kín phía đầu nhọn đúng thời gian Ngược lại nếu thời gian này nhiệt độ

Ngày đăng: 14/05/2014, 22:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ân (1978), "Bảng tính đơn vị Haugh của trứng vịt", Thông tin KHKT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảng tính đơn vị Haugh của trứng vịt
Tác giả: Nguyễn Ân
Năm: 1978
2. Nguyễn Huy Đạt, Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Thị San (1997), Biện pháp nâng cao tỷ lệ nở trứng gà, Tài liệu tập huấn giống gia cầm Cục KN & KL, Tr 57, 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp nâng cao tỷ lệ nở trứng gà
Tác giả: Nguyễn Huy Đạt, Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Thị San
Năm: 1997
3. Lê Xuân Đồng, Bùi Quang Toàn, Nguyễn Xuân Sơn (1981), Ấp trứng gia cầm, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấp trứng gia cầm
Tác giả: Lê Xuân Đồng, Bùi Quang Toàn, Nguyễn Xuân Sơn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1981
4. Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998), Giáo trình chăn nuôi gia cầm, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1998
5. Nguyễn Duy Hoan, Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thanh Sơn, Đoàn Xuân Trúc (1999), Giáo trình chăn nuôi gia cầm, dùng cho học viên cao học NXB Nông Nghiệp, trang 188 - 189 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi gia cầm, dùng cho học viên cao học
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thanh Sơn, Đoàn Xuân Trúc
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1999
7. Jack M.H; Kaltofen R.S (1974), "Nhiệt độ thích hợp để bảo quản trứng ấp trong thời gian ngắn từ 1 - 7 ngày", Thông tin KHKT chăn nuôi số 148, tháng 2/1974, tr. 42 - 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiệt độ thích hợp để bảo quản trứng ấp trong thời gian ngắn từ 1 - 7 ngày
Tác giả: Jack M.H; Kaltofen R.S
Năm: 1974
8. Nguyễn Quý Khiêm (2002), Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả ấp nở trúng gà Tam Hoàng, Luận án tiến sỹ nông nghiệp Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả ấp nở trúng gà Tam Hoàng
Tác giả: Nguyễn Quý Khiêm
Năm: 2002
9. Đào Đức Long, Trần Long (1995), Ấp trúng và Úm gà con phần thư nhất, NXB Nông nghiệp hà Nội. Tr 5 - 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấp trúng và Úm gà con phần thư nhất
Tác giả: Đào Đức Long, Trần Long
Nhà XB: NXB Nông nghiệp hà Nội. Tr 5 - 46
Năm: 1995
10. Đào Đức Long, Nguyễn Chí Bảo (1986), Nuôi vịt ngỗng chăn thả, NXB Nông Nghiệp, Trang 130, 168 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi vịt ngỗng chăn thả
Tác giả: Đào Đức Long, Nguyễn Chí Bảo
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1986
11. Bùi Đức Lũng, Trịnh Anh Thơ và cộng sự (1996), Tuyển tập các công trình nghiên cứu về gia cầm, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập các công trình nghiên cứu về gia cầm
Tác giả: Bùi Đức Lũng, Trịnh Anh Thơ và cộng sự
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
12. Ngô Giản Luyện (1994), Nghiên cứu một số tính trạng năng suất của dòng gà thuần chủng V1, V2, V5 giống gà thịt cao sản Hybro trong điều kiện Việt Nam, Luận án tiến sỹ khoa học nông nghiệp, Trang 33 - 35;114 - 124 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số tính trạng năng suất của dòng gà thuần chủng V1, V2, V5 giống gà thịt cao sản Hybro trong điều kiện Việt Nam
Tác giả: Ngô Giản Luyện
Năm: 1994
13. Nguyễn Đức Lưu, Lương Tất Nhợ, Hoàng Văn Tiệu, Nguyễn Hữu Vũ (1999), Nuôi ngan vịt và các bệnh quan trọng thường gặp, NXB Nông nghiệp 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi ngan vịt và các bệnh quan trọng thường gặp
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Lương Tất Nhợ, Hoàng Văn Tiệu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: NXB Nông nghiệp 1999
Năm: 1999
14. Lê Hồng Mận, Lê Hồng Hải, Nguyễn Phúc Độ, Trần Long và cộng sự (1983), Kết quả lai giữa giống gà Rode Island Red với Leghorn để tạo gà lai thương phẩm đẻ trứng, NXB Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả lai giữa giống gà Rode Island Red với Leghorn để tạo gà lai thương phẩm đẻ trứng
Tác giả: Lê Hồng Mận, Lê Hồng Hải, Nguyễn Phúc Độ, Trần Long và cộng sự
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 1983
16. Roux (1978), Cơ sở sinh học của nhân giống và nuôi dưỡng gia cầm, NXB KHKT Hà Nội, Trang 260 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh học của nhân giống và nuôi dưỡng gia cầm
Tác giả: Roux
Nhà XB: NXB KHKT Hà Nội
Năm: 1978
17. Nguyễn Văn Thiện (2002), Thống kê sinh học ứng dụng trong chăn nuôi, Đại học nông nghiệp 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê sinh học ứng dụng trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện
Năm: 2002
18. Võ Bá Thọ (1990), Kỹ thuật nuôi gà công nghiệp, Trang 108 - 124 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi gà công nghiệp
Tác giả: Võ Bá Thọ
Năm: 1990
19. Nguyễn Văn Trọng (1998), Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả ấp nở của trứng vịt CV Super M dòng ông bà ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ nông nghiệp, Trang 111 - 117.II. Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả ấp nở của trứng vịt CV Super M dòng ông bà ở Việt Nam", Luận án tiến sỹ nông nghiệp, Trang 111 - 117
Tác giả: Nguyễn Văn Trọng
Năm: 1998
20. Abdou F. H., Katule A. M., & Sukuzi O. S. (1990), Effect of the preincubation storage period of hatching eggs on the hatchabilityb and post hatching grouth of local chickens under tropical condition,283;337 - 342; 16 ref Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of the preincubation storage period of hatching eggs on the hatchabilityb and post hatching grouth of local chickens under tropical condition
Tác giả: Abdou F. H., Katule A. M., & Sukuzi O. S
Năm: 1990
21. Bagley L. G., Chrisstensen V. L., & Bagley R. A. (1990), "Effects of altering eggshell permeability on the hatchability of turkey eggs incubated at high altitube" Poultry science; 69 P. 451 - 456 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of altering eggshell permeability on the hatchability of turkey eggs incubated at high altitube
Tác giả: Bagley L. G., Chrisstensen V. L., & Bagley R. A
Năm: 1990
22. Card es Nesheim A. (1972), Keltetesi homerseklet hatasa a kelesi idore, tyuktenyesztes, Merogazadasagi kiado Budapest, P.96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Keltetesi homerseklet hatasa a kelesi idore, tyuktenyesztes, Merogazadasagi kiado Budapest
Tác giả: Card es Nesheim A
Năm: 1972

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Một số thông số về thời tiết khí hậu trong năm   của xã Quyết Thắng - thành phố Thái Nguyên              Diễn giải - Nghiên cứu ảnh hưởng của vệ sinh sát trùng và bảo quản trứng ấp ở vụ hè   thu trong điều kiện không có phòng lạnh tại xã quyết thắng  thành phố thái  nguyên
Bảng 1.1. Một số thông số về thời tiết khí hậu trong năm của xã Quyết Thắng - thành phố Thái Nguyên Diễn giải (Trang 2)
Bảng 1.2. Lịch dùng văcxin cho đàn gà - Nghiên cứu ảnh hưởng của vệ sinh sát trùng và bảo quản trứng ấp ở vụ hè   thu trong điều kiện không có phòng lạnh tại xã quyết thắng  thành phố thái  nguyên
Bảng 1.2. Lịch dùng văcxin cho đàn gà (Trang 10)
Bảng 1.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất  STT  Diễn giải nội dung  Số lƣợng - Nghiên cứu ảnh hưởng của vệ sinh sát trùng và bảo quản trứng ấp ở vụ hè   thu trong điều kiện không có phòng lạnh tại xã quyết thắng  thành phố thái  nguyên
Bảng 1.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất STT Diễn giải nội dung Số lƣợng (Trang 11)
Sơ đồ  bố trí thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của vệ sinh sát trùng và bảo quản trứng ấp ở vụ hè   thu trong điều kiện không có phòng lạnh tại xã quyết thắng  thành phố thái  nguyên
b ố trí thí nghiệm (Trang 31)
Bảng 2.1. Ảnh hưởng của thuốc sát trùng Benkocid và Vinadin tới kết  quả ấp nở với trứng bảo quản 5 ngày  (%) - Nghiên cứu ảnh hưởng của vệ sinh sát trùng và bảo quản trứng ấp ở vụ hè   thu trong điều kiện không có phòng lạnh tại xã quyết thắng  thành phố thái  nguyên
Bảng 2.1. Ảnh hưởng của thuốc sát trùng Benkocid và Vinadin tới kết quả ấp nở với trứng bảo quản 5 ngày (%) (Trang 33)
Bảng 2.4. Ảnh hưởng của thuốc sát trùng Benkocid và Vinadin tới kết  quả ấp nở với trứng bảo quản 2 ngày (%) - Nghiên cứu ảnh hưởng của vệ sinh sát trùng và bảo quản trứng ấp ở vụ hè   thu trong điều kiện không có phòng lạnh tại xã quyết thắng  thành phố thái  nguyên
Bảng 2.4. Ảnh hưởng của thuốc sát trùng Benkocid và Vinadin tới kết quả ấp nở với trứng bảo quản 2 ngày (%) (Trang 35)
Bảng 2.6. Tính tổng chi phí tiền thuốc sát trùng                                   Loại thuốc - Nghiên cứu ảnh hưởng của vệ sinh sát trùng và bảo quản trứng ấp ở vụ hè   thu trong điều kiện không có phòng lạnh tại xã quyết thắng  thành phố thái  nguyên
Bảng 2.6. Tính tổng chi phí tiền thuốc sát trùng Loại thuốc (Trang 36)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w