1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệu quả của việc bổ sung vitamin c cho gà bố mẹ giống lương phượng nuôi tại trại giống gia cầm thịnh đán thái nguyên

69 721 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiệu quả của việc bổ sung vitamin C cho gà bố mẹ giống lương phượng nuôi tại trại giống gia cầm Thịnh Đán Thái Nguyên
Trường học Trung Tâm Giống Vật Nuôi Tỉnh Thái Nguyên
Chuyên ngành Chăn Nuôi Gia Cầm
Thể loại Nghiên Cứu Khoa Học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khóa Luận cực hay và bổ ích !!!!!!!

Trang 1

Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT

1.1 ĐIỀU TRA CƠ BẢN

1.1.1 Điều tra tự nhiên

- Vị trí địa lý

Trại Giống gia cầm Thịnh Đán là đơn vị trực thuộc Trung tâm giống vật nuôi tỉnh Thái Nguyên, nằm trên địa bàn phường Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên, cạnh đường đi hồ Núi Cốc, cách trung tâm thành phố 4 km về phía tây, ranh giới của phường được xác định như sau:

+ Phía đông nam giáp phường Tân Lập

+ Phía tây nam giáp với xã Thịnh Đức

+ Phía tây giáp với xã Quyết Thắng

+ Phía bắc giáp với phường Tân Thịnh

- Điều kiện khí hậu thuỷ văn

Phường Thịnh Đán nằm ở phía tây của thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên nằm trong vùng khí hậu chung của miền núi phía bắc Việt Nam, nên khu vực chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa đông, khí hậu lạnh, khô hanh, độ ẩm thấp Mùa hè, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều Dao động nhiệt độ và độ ẩm bình quân các mùa trong năm tương đối cao, thể hiện rõ rệt là mùa mưa và mùa khô

+ Mùa mưa: Kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ dao động từ 21 đến

360 C, độ ẩm từ 80 - 86 % lượng mưa biến động từ 120,6 đến 283,9 mm/tháng nhưng tập trung nhiều vào các tháng 6, 7, 8 Nhìn chung, khí hậu vào mùa mưa thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.Tuy vậy, có những ngày nóng ẩm thất thường nên cần chú ý đến phòng chống dịch bệnh xảy ra đối với đàn gia súc, gia cầm, tránh gây thiệt hại cho sản xuất

+ Mùa khô: Kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thời gian này khí hậu thường lạnh và khô hanh, nhiệt độ giảm đáng kể Nhiệt độ trung bình dao động

từ 13,70 C đến 24,80 C (có những ngày xuống dưới 100 C), ẩm độ thấp, biến động nhiệt giữa ngày và đêm rất lớn Ngoài ra trong mùa đông còn chịu ảnh hưởng

Trang 2

của gió mùa Đông Bắc, giá rét và sương muối kéo dài từ 6 - 10 ngày gây ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển và sức chống đỡ bệnh của cây trồng và vật nuôi

- Địa hình đất đai

Phường Thịnh Đán là một phường có diện tích tương đối lớn, tổng diện tích của phường là 4,7 km2

+ Diện tích đất tự nhiên 646,39 ha Trong đó:

Diện tích đất trồng lúa 89

Diện tích hoa màu 162 ha

Diện tích trồng cây ăn quả 52 ha

Diện tích đất lâm nghiệp 88,1 ha

Diện tích nuôi trồng thủy sản 16,9 ha

Diện tích đất ở 91 ha

- Còn lại là các loại đất chưa sử dụng và sử dụng vào mục đích khác

1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân trong những năm gần đây được nâng lên rõ rệt, hầu hết các hộ gia đình đều có phương tiện nghe nhìn như: Đài, TV, sách báo Đây là điều kiện thuận lợi để người dân trong phường nắm bắt kịp thời chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, các thông tin khoa học kĩ thuật để phục vụ đời sống hàng ngày

+ Y tế

Trên địa bàn của phường có một số bệnh viện, như: Bệnh viện A Thái Nguyên, bệnh viên Y học cổ truyền dân tộc, bệnh viện tâm thần, ở phường có trạm y tế phường, hệ thống y tế cơ sở hoạt động khá hiệu quả, thường xuyên quan tâm chăm sóc, khám chữa bệnh cho nhân dân

Trang 3

+ Giáo dục

Đây là một phường có trình độ dân trí khá cao Có rất nhiều cơ quan trường học đóng trên địa bàn phường như: Trường Cao đẳng Sư Phạm Thái Nguyên, trường Cao đẳng Kinh tế, trường Cao đẳng Y, trường Công nhân Cơ điện, trường Trung học phổ thông Ngô Quyền, trường Trung học cơ sở Lương Ngọc Quyến, trường Tiểu học Thịnh Đán Trong những năm vừa qua phường

đã hoàn thành chương trình giáo dục phổ cập trung học cơ sở

+ An ninh quốc phòng

Đây là phường tập trung nhiều nhà máy, trường học, dân cư đông, lượng người giao lưu nhiều nên quản lý xã hội ở đây khá phức tạp Do đó, hoạt động của các ban ngành ở trong phường tích cực và đồng bộ thống nhất có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền và cơ sở, xây dựng nếp sống văn hoá, nâng cao

ý thức trách nhiệm của người dân, đẩy mạnh sản xuất tạo công ăn việc làm cho người dân và từng bước đẩy lùi các tệ nạn xã hội

- Tình hình kinh tế

Phường Thịnh Đán có cơ cấu kinh tế đa dạng, nhiều thành phần kinh tế cùng hoạt động: Nông - Công nghiệp, lâm nghiệp và dịch vụ, tạo mối quan hệ hữu cơ hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển Trong đó sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm trên 50 %, bao gồm cả ngành trồng trọt và chăn nuôi cùng nhau phát triển đồng đều Dịch vụ là một nghề mới trong giai đoạn hiện nay đang được chú trọng và phát triển một cách mạnh mẽ bởi nó mang lại hiệu quả kinh tế rất lớn Đối với các hộ sản xuất nông nghiệp thu nhập bình quân năm 2011 là 1.350.000 đ/người/tháng Chăn nuôi với quy mô nhỏ mang tính chất tận dụng là chủ yếu, phường đang chủ trương xây dựng mô hình chăn nuôi có quy mô lớn trang thiết bị hiện đại để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng như mô hình chăn nuôi lợn ngoại, trang trại gia cầm, bò thịt, vv

1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp

- Ngành trồng trọt

Ngành trồng trọt đóng vai trò quan trọng và là nguồn thu chủ yếu của nhân dân Do vậy, sản phẩm của ngành trồng trọt được người dân quan tâm và phát triển Cây nông nghiệp chủ yếu và là cây trồng mũi nhọn trên địa bàn của phường là cây lúa với diện tích trồng khá lớn (89 ha) Để nâng cao hiệu quả

Trang 4

sản xuất, phường đã thực hiện thâm canh tăng vụ (2 vụ/năm) đưa các giống lúa mới có năng suất cao vào sản xuất Ngoài ra còn có một số cây khác được trồng khá nhiều như: khoai lang, lạc, đỗ, ngô và một số cây rau màu khác được trồng xen giữa các vụ lúa nhưng chủ yếu là trồng vào mùa đông

Để cây trồng đạt năng suất cao thì không thể thiếu vai trò của hệ thống thuỷ lợi, những năm trước đây hệ thống thuỷ lợi chưa được cải thiện nên diện tích lúa thường xuyên bị ngập úng vào mùa mưa, khô hạn về mùa đông, đồng ruộng chỉ cấy được một vụ Hiện nay, nhờ kiên cố kênh mương hoá trên đồng ruộng, số diện tích ngập úng, khô hạn đã được sử dụng có hiệu quả (2 vụ/năm) Người dân đã biết áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới vào sản xuất, mạnh dạn đưa các giống mới có năng suất cao nhờ đó đã cơ bản giải quyết được nhu cầu lương thực cho người dân

- Diện tích trồng cây ăn quả khá lớn, song vườn tạp vẫn nhiều, cây trồng thiếu tập trung lại chưa thâm canh nên năng suất thấp, sản phẩm chủ yếu mang tính tự cung tự cấp, chưa mang tính chất hàng hoá cao, cây ăn quả chủ yếu là: na, cam, quýt, nhãn, vải

- Cây lâm nghiệp: Với đặc điểm của vùng trung du miền núi, do đó diện tích đất đồi núi chiếm khá lớn Phường đã thực hiện chính sách giao đất, giao rừng cho các hộ nông dân nên diện tích cây lâm nghiệp đã được nâng lên, phủ xanh gần hết diện tích đất trống, đồi núi trọc và diện tích rừng mới trồng, tạo điều kiện cho việc quản lý, khai thác hợp lý

- Ngành chăn nuôi

Song song với sự phát triển của ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi cũng phát triển không ngừng Chăn nuôi cung cấp sức kéo, phân bón cho trồng trọt, đồng thời cung cấp thực phẩm và nguồn thu nhập kinh tế không nhỏ cho các hộ nông dân

Tuy nhiên, ngành chăn nuôi ở phường chủ yếu là tự cung tự cấp, sản phẩm hàng hoá đưa ra ở thị trường còn ít Trong những năm gần đây người dân đã biết áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, từ các hộ sản xuất manh mún, quy

mô nhỏ người dân đã mạnh dạn đầu tư vốn, kỹ thuật, con giống mới có năng suất cao, trang thiết bị hiện đại vào chăn nuôi nên sản phẩm của ngành chăn nuôi từng bước được nâng cao và đáp ứng được nhu cầu của thị trường tiêu thụ cụ thể như sau:

Trang 5

+ Chăn nuôi trâu bò

Tổng đàn trâu bò của phường có khoảng 600 con, trong đó chủ yếu là trâu, trung bình mỗi hộ nông dân có một trâu hoặc bò cày kéo Hình thức chăn nuôi trâu bò là tận dụng các bãi thả tự nhiên và sản phẩm phụ của ngành trồng trọt, nên thức ăn cung cấp cho đàn trâu bò chưa thật đầy đủ cả số lượng

và chất lượng Việc dự trữ các loại thức ăn cho trâu bò vào vụ đông chưa được quan tâm đầy đủ, vì vậy về mùa đông trâu bò thường có sức khỏe kém nên hay mắc bệnh Chuồng trại và công tác vệ sinh thú y chưa được chú trọng nhiều Công tác tiêm phòng chưa triệt để, nên trâu bò thường xuyên bị mắc các bệnh ký sinh trùng và một số bệnh khác

+ Chăn nuôi lợn

Hầu hết các hộ dân đều chăn nuôi lợn, nhưng số lượng nuôi còn ít Thức ăn sử dụng cho chăn nuôi lợn chủ yếu là tận dụng các phế phụ phẩm của ngành trồng trọt như: lúa, ngô, khoai, sắn, Vì vậy năng suất chăn nuôi lợn chưa cao Tuy nhiên, một số hộ gia đình mạnh dạn đầu tư vốn cho chăn nuôi, biết áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi như: Sử dụng các loại thức ăn hỗn hợp ngoài thị trường để rút ngắn thời gian chăn nuôi, tăng năng suất đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi

Công tác giống lợn đã được quan tâm, nhiều hộ gia đình chăn nuôi lợn nái Móng Cái hay nái F1 (Móng cái x Landrace) hoặc nái ngoại thuần để chủ động con giống và cung cấp một phần sản phẩm ra thị trường

Công tác vệ sinh thú y còn hạn chế, việc tiêm phòng hàng năm chưa triệt để nên bệnh vẫn xẩy ra gây thiệt hại cho người chăn nuôi, đồng thời ảnh hưởng đến sản phẩm chăn nuôi cung cấp ra thị trường Trong những năm tới, mục tiêu là phải đưa được năng suất sản phẩm, chất lượng thịt đạt tiêu chuẩn xuất khẩu cũng như đẩy mạnh hơn nữa việc chăn nuôi theo hình thức chăn nuôi công nghiệp

+ Chăn nuôi gia cầm

Nhìn chung, chăn nuôi gia cầm trong toàn phường Thịnh Đán khá phát triển, chủ yếu là chăn nuôi gà, vịt theo phương thức chăn nuôi tự nhiên và bán chăn thả Bên cạnh đó có một số hộ gia đình mạnh dạn đầu tư vốn xây dựng các trang trại quy mô từ 5.000 - 8.000 gà thịt/lứa, áp dụng các tiến bộ khoa

Trang 6

học kỹ thuật vào sản xuất nên đã đưa năng suất lên cao Ngoài ra, trên địa bàn phường còn có Trại Giống gia cầm Thịnh Đán thuộc Trung tâm Giống vật nuôi tỉnh Thái Nguyên Đây là nơi chuyên cung cấp con giống cho nhân dân trong vùng và một số địa phương khác

Nhờ các tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào chăn nuôi đã có một số gia đình chăn nuôi theo phương thức công nghiệp và bán công nghiệp, mua các con giống mới có năng suất cao về nuôi như: gà Tam Hoàng, Lương Phượng, Sasso, ISA, AA, Ross 508, CP 707, Hyline, vịt Khakicampbel Kết quả đã đem lại thu nhập khá cao cho các hộ chăn nuôi

Đa số các hộ chăn nuôi gia cầm đã ý thức được tầm quan trọng của việc tiêm phòng và chữa bệnh, nhất là sử dụng các loại vắc xin tiêm chủng cho gà như: Vắc xin Cúm gia cầm, Gumboro, Newcastle, Đậu, IB, Song vẫn còn một số hộ chăn nuôi chưa ý thức được công tác phòng bệnh cho vật nuôi, đó cũng là điều đáng lo ngại vì đó là điểm cư trú và phát tán mầm bệnh gây tác hại cho đàn gia cầm trên địa bàn phường

* Công tác thú y

Công tác thú y đóng vai trò quan trọng then chốt trong chăn nuôi, nó quyết định đến thành công hay thất bại của người chăn nuôi, đặc biệt trong điều kiện chăn nuôi quảng canh Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng đến sức khoẻ của cộng đồng, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của người dân Vì vậy, công tác thú y luôn được ban lãnh đạo các cấp, ngành, địa phương cùng người chăn nuôi hết sức quan tâm, chú trọng như:

+ Tuyên truyền lợi ích vệ sinh phòng dịch bệnh cho người và vật nuôi + Tập trung chỉ đạo tiêm phòng cho đàn gia súc gia cầm trên địa bàn + Thường xuyên đào tạo, tập huấn đội ngũ cán bộ thú y cơ sở

+ Theo dõi tình hình, diễn biến dịch bệnh để kịp thời có phương án chỉ đạo Chính vì vậy, trong nhiều năm gần đây ngành chăn nuôi của phường được phát triển mạnh, đảm bảo an toàn kể cả giai đoạn dịch cúm gia cầm xảy

ra hầu hết ở các địa phương trong toàn quốc

Trang 7

1.1.4 Quá trình thành lập và phát triển của Trại Giống gia cầm Thịnh Đán

- Quá trình thành lập

Trại Giống gia cầm Thịnh Đán được thành lập từ tháng 4 năm 1995 trên

cơ sở tiếp quản cơ sở của Chi cục thú y tỉnh Bắc Thái Năm 2001 tỉnh Thái Nguyên nâng cấp và đổi tên thành Trại Giống gia cầm Thịnh Đán Trại có diện tích 5.200 m2

với tường bao bọc xung quanh thành hệ thống khép kín, với hệ thống cơ sở hoàn thiện Trại đã và đang giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp con giống, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật về chăn nuôi gia cầm cho người chăn nuôi ở trong và ngoài tỉnh

* Cơ sở vật chất: Cơ sở vật chất của Trại Giống gia cầm Thịnh Đán gồm có:

- Nhà hành chính (văn phòng làm việc): 01 dãy

- Nhà ở cho công nhân ở và trực kỹ thuật: 01 dãy

- Chuồng cho gà con mới nở, chờ xuất: 01 chuồng

- Chuồng gà nuôi gà thịt, hậu bị: 01 chuồng

- Dãy chuồng nuôi gà sinh sản: 01 dãy

- Chuồng khảo nghiệm giống: 01 chuồng

- Kho chứa thức ăn, bảo quản trứng: 01 kho

- Phòng ấp trứng : 01 phòng

Trại có hệ thống lưới B40 để quây khi chăn thả đảm bảo cho gà được nuôi nhốt trong quây có khoảng không để vận động, sân chơi phục vụ cho công tác phối giống

Trại có hệ thống tường rào bảo vệ bao quanh đảm bảo vệ sinh thú y

Về thiết bị, máy móc phục vụ cho chăn nuôi gồm có: 02 máy ấp trứng,

02 máy nở, 01 máy phun thuốc sát trùng, máy bơm nước, hệ thống giếng khoan và các trang thiết bị khác đảm bảo phục vụ chăn nuôi

* Cơ cấu tổ chức: Cơ cấu của trại được tổ chức và biên chế như sau:

Trang 8

Có thể nói đội ngũ cán bộ công nhân viên của trại là một đội ngũ trẻ có

kỹ thuật và trách nhiệm với công việc

- Chức năng và nhiệm vụ của Trại

+ Nuôi giữ các giống gia cầm gốc được tỉnh cho phép nhập

+ Nuôi khảo nghiệm các giống gia cầm thuần, con lai, sản xuất con giống tới tận tay người chăn nuôi

+ Áp dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật về chăn nuôi gia cầm cho người dân

+ Là nơi để thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học về chăn nuôi gia cầm

- Tình hình sản xuất của Trại

Cuối năm 2009, Trại đã nhập giống gà mới WA (là con lai Ai Cập với gà Ucraina) về nuôi thích nghi và khảo nghiệm

Trang 9

Năm 2010 trại nhập đàn gà Sasso dòng A, B, Mía, Lương Phượng về nuôi để sản xuất con giống

Năm 2011 trại nhập đàn gà Sasso dòng A, B, Mía, Lương Phượng về nuôi để sản xuất con giống

Mấy năm gần đây tình hình dịch cúm gia cầm trong nước có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển đàn gà của trại, như số lượng giống gốc và địa bàn mở rộng phục vụ sản xuất, mặc dù trại luôn đảm bảo được an toàn dịch bệnh

* Công tác thú y:

Công tác thú y hết sức được quan tâm Với phương châm "phòng bệnh hơn chữa bệnh", trại giống gia cầm đã triệt để thực hiện tốt quy trình vệ sinh thú y đồng thời công tác chăm sóc, nuôi dưỡng cũng chú ý đúng mức nên dịch bệnh không xảy ra, đàn gia cầm tiếp tục duy trì, số lượng đầu con không ngừng tăng lên

Hệ thống chuồng nuôi được đảm bảo thông thoáng về mùa hè, ấm áp về mùa đông Mùa hè có hệ thống làm mát bằng quạt và vòi phun nước, mùa đông có hệ thống chắn gió Trại có hàng rào chắn xây bao xung quanh đảm bảo ngăn cách, biệt lập với khu dân cư, cổng ra vào có hố sát trùng, khu vực chăn nuôi có hàng rào barie và hố vôi sát trùng Hàng ngày chuồng trại, máng

ăn, máng uống, dụng cụ cho ăn được quét dọn, cọ rửa sạch sẽ trước khi cho gà

ăn Quy trình tiêm phòng cho đàn gia cầm được thực hiện nghiêm túc với loại vắc xin như: Cúm gia cầm, Gumboro, Newcastle, Đậu, Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm Chuồng trại thường xuyên thay chất độn và định kỳ tổng vệ sinh toàn bộ khu vực trại Hàng ngày cán bộ kỹ thuật theo dõi, phát hiện gia cầm nhiễm bệnh và tiến hành điều trị hoặc loại thải kịp thời

Trang 10

- Ban lãnh đạo trại thường xuyên quan tâm, chú ý đến phát triển sản xuất

và nâng cao đời sống cho cán bộ, công nhân viên của trại

- Trại có đội ngũ cán bộ trẻ có trình độ, nhiệt tình, năng động sáng tạo, sẵn sàng tiếp nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Đặc biệt luôn có sự đoàn kết thống nhất cao

- Trại nằm trong địa bàn thành phố Thái Nguyên, có vị trí gần các trung tâm khoa học kỹ thuật và trục đường giao thông là điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, tiếp nhận và chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất

- Do mới được thành lập và nâng cấp nên Trại Giống gia cầm Thịnh Đán không tránh khỏi những khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và sản xuất, kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm quản lý chưa nhiều

1.3 NỘI DUNG VÀPHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

1.3.1 Nội dung thực tập tốt nghiệp

1.3.1.1 Công tác phục vụ sản xuất

Để đảm bảo tốt nhiệm vụ thực tập tốt nghiệp theo yêu cầu của nhà trường, khoa cũng như giáo viên hướng dẫn, chúng tôi đã đưa ra một số nội dung trong thời gian thực tập tại cơ sở như sau:

- Công tác ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về chăn nuôi

+ Công tác giống: Tham gia chọn lọc gà giống các loại

+ Công tác thức ăn: Tính toán lượng thức ăn gà ăn hàng ngày

+ Công tác chăm sóc nuôi dưỡng: Chăm sóc toàn bộ gà của trại giống

Trang 11

+ Làm tốt công tác vệ sinh môi trường, chuồng trại và xung quanh chuồng trại + Thực hiện nghiêm túc quy trình tiêm phòng

+ Phát hiện và điều trị bệnh kịp thời cho vật nuôi

1.3.1.2 Công tác nghiên cứu khoa học

Thực hiện chuyên đề nghiên cứu khoa học với tên đề tài: “Hiệu quả của việc bổ sung vitamin C cho gà bố mẹ giống Lương Phượng nuôi tại Trại Giống gia cầm Thịnh Đán - Thái Nguyên”

1.3.2 Biện pháp tiến hành

Theo yêu cầu của nội dung thực tập tốt nghiệp trong thời gian thực tập tại cơ sở bản thân đề ra một số biện pháp thực hiện như sau:

- Tìm hiểu kỹ tình hình sản xuất chăn nuôi ở cơ sở thực tập và khu vực vành đai

- Tham gia tích cực công tác tiêm phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh cho gia cầm

- Tham gia công tác chuyển giao con giống và kỹ thuật cho các hộ sản xuất

- Luôn luôn chấp hành, tham gia các hoạt động của cơ sở, tiếp thu ý kiến của cán bộ lãnh đạo, của cô giáo hướng dẫn, tranh thủ thời gian tiếp xúc với thực tế để nâng cao tay nghề, nắm vững kiến thức chuyên ngành hơn nữa

- Áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới mà bản thân tôi đã được học

và tìm hiểu vào thực tiễn sản xuất

- Nội dung thực hiện đề tài

- Bố trí thí nghiệm “Hiệu quả của việc bổ sung vitamin C cho gà bố mẹ giống Lương Phượng nuôi tại Trại Giống gia cầm Thịnh Đán - Thái Nguyên”

1.4 KẾT QUẢ CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT

Trong quá trình thực tập tại Trại Giống gia cầm Thịnh Đán, được sự giúp

đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn và cán bộ, công nhân viên của trại, kết hợp với sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã lĩnh hội được nhiều kinh nghiệm quý báu trong thực tiễn sản xuất và đã đạt được một số kết quả sau:

1.4.1 Công tác chăn nuôi

* Công tác chuẩn bị chuồng trại:

Trước khi nhận gà vào nuôi, chuồng đã được để trống từ 10 - 15 ngày và quét dọn sạch bên trong và bên ngoài, lối đi, hệ thống cống rãnh thoát nước

Trang 12

nền chuồng, tường nhà và vách ngăn được quét vôi, sau đó tiến hành phun thuốc sát trùng bằng dung dịch benkocid, nồng độ 0,5 - 1 %

Tất cả các dụng cụ như: khay ăn, máng uống, chụp sưởi, đèn sưởi, đều được cọ rửa sạch sẽ và phun thuốc sát trùng, phơi nắng trước khi đưa vào chuồng nuôi

* Công tác chọn giống

Công tác chọn giống là một phần hết sức quan trọng quyết định đến hiệu quả chăn nuôi Trong quá trình chăn nuôi tại cơ sở, chúng tôi đã tiến hành công tác chọn giống gà ở các giai đoạn phát triển khác nhau, đáp ứng theo yêu cầu của người chăn nuôi, cụ thể:

- Đối với gà mái sinh sản: Gà mái sinh sản cần được chọn lọc rất chặt chẽ, để đáp ứng tiêu chuẩn sản xuất con giống cung cấp cho thị trường chăn nuôi Vì vậy, chúng tôi tiến hành chọn lọc, loại thải những con bị khuyết tật, mào tích kém phát triển, xương háng hẹp, lỗ huyệt nhỏ, mầu sắc lông không đặc trưng của giống, lông xù, đặc biệt là ở giai đoạn gà hậu bị

- Đối với trứng giống: Muốn có con giống tốt thì phải có quả trứng giống tốt Vì vậy, khi đưa trứng vào ấp chúng tôi tiến hành chọn lọc những quả trứng đạt tiêu chuẩn cho vào ấp Trứng cho vào ấp là những quả trứng được chọn từ đàn gia cầm khỏe mạnh và nuôi dưỡng theo một quy trình đạt tiêu chuẩn, không mắc bệnh, có tỷ lệ trống mái phù hợp Mỗi ngày nhặt trứng 2 - 4 lần để tránh dập vỡ, sau đó chọn lọc, loại bỏ những quả bị dập vỡ, bẩn, dị hình, Những quả trứng đạt tiêu chuẩn ấp là những quả trứng có hình ovan, chia làm hai đầu rõ rệt (một đầu to một đầu nhỏ), vỏ trứng sạch, đều, nhẵn, khối lượng trứng phù hợp, không quá to cũng không quá nhỏ đối với từng giống Trứng trước khi ấp được cho vào phòng xông trứng bằng foocmol + thuốc tím với liều lượng 17 gram thuốc tím và 35 ml foocmol cho 1 m3 không khí trong thời gian

từ 15 - 20 phút, sau đó xếp trứng vào khay và cho vào máy ấp

- Kiểm tra trứng ấp: Sau khi đưa trứng vào ấp một thời gian, tiến hành soi trứng để kiểm tra phôi ở các giai đoạn 6, 11, 18 ngày ấp để loại bỏ kịp thời trứng không phôi, chết phôi, qua đó cũng đánh giá được chất lượng trứng đưa vào ấp để kịp thời điều chỉnh chế độ ấp hoặc chế độ chăm sóc nuôi dưỡng của đàn gà sinh sản sao cho đạt hiệu quả cao nhất

Trang 13

- Phân loại gà con mới nở ra: Gà con mới nở ra phải chọn phân loại loại

1 và loại 2 Gà loại 1 là những con nhanh nhẹn khoẻ mạnh, mắt sáng lông mượt, chân bóng, không hở rốn, khoèo chân, vẹo mỏ và đảm bảo khối lượng quy định đối với từng loại giống

* Công tác chăm sóc nuôi dưỡng

Tuỳ theo từng giai đoạn phát triển của gà và tuỳ từng loại gà mà ta áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho phù hợp

- Giai đoạn úm gà con: Khi chuyển từ khu ấp trứng về chúng tôi tiến hành cho gà con vào quây và cho gà uống nước ngay Nước uống cho gà phải sạch

và pha B.complex + vitamin C + đường glucoza 5 % cho gà uống hết lượt sau

2 - 3 h mới cho gà ăn bằng khay

Giai đoạn đầu nhiệt độ trong quây là 35 - 370 C Sau 1 tuần tuổi nhiệt độ cần thiết là trên 300 C, sau đó nhiệt độ giảm dần theo ngày tuổi

Thường xuyên theo dõi đàn gà để điều chỉnh chụp sưởi đảm bảo nhiệt độ thích hợp theo quy định Trường hợp nếu gà tập trung đông, tụ đống dưới chụp sưởi là hiện tượng gà thiếu nhiệt cần hạ thấp chụp sưởi, hoặc tăng bóng điện Gà tách ra xa chụp sưởi là nhiệt độ nóng quá phải giảm nhiệt cho phù hợp Chỉ khi nào thấy gà tản đều ra trong quây thì khi đó là nhiệt độ trong quây phù hợp Quây gà, máng ăn, máng uống, rèm che đều được điều chỉnh theo tuổi gà (độ lớn của gà) ánh sáng được đảm bảo cho gà hoạt động bình thường

- Nuôi gà thịt (giai đoạn 21 - 70 ngày tuổi): Ở giai đoạn này gà phát triển nhanh nên ăn nhiều Thức ăn của gà giai đoạn này có kích thước to hơn để phù hợp với khẩu vị của gà Thành phần dinh dưỡng phải đảm bảo protein thô

21 %, năng lượng trao đổi là 2900 kcal/kg thức ăn Hàng ngày phải cung cấp

đủ thức ăn, nước uống, cho gà ăn tự do và thay nước 2 lần/ngày

- Nuôi gà sinh sản (từ 21 ngày tuổi trở đi): Thời gian nuôi gà sinh sản được chia thành các giai đoạn khác nhau: giai đoạn gà con; giai đoạn gà dò và hậu bị; giai đoạn sinh sản

+ Giai đoạn gà con (từ 4 - 6 tuần tuổi): Giai đoạn này gà tiếp tục sinh trưởng với tốc độ nhanh nên việc cung cấp thức ăn cho gà phải đảm bảo đầy

đủ cả số và chất lượng, cụ thể là: hàm lượng protein trong thức ăn phải đạt từ 18-20 %; năng lượng trao đổi đạt từ 2750-2800 kcal/kg Ngoài ra, cần phải

Trang 14

đảm bảo đầy đủ và cân dối các axit amin thiết yếu đặc biệt là lyzin và methionin Ở giai đoạn này, gà được nuôi với chế độ ăn tự do

+ Giai đoạn gà dò và hậu bị (từ 7 tuần tuổi đến đẻ bói): Nuôi dưỡng gà trong giai đoạn này có ý nghĩa rất quan trọng để nâng cao khả năng sinh sản của gà ở giai đoạn tiếp theo Vì vậy, yêu cầu nuôi dưỡng chăm sóc trong giai đoạn này phải đảm bảo cho gà sinh trưởng, phát dục bình thường, gà không quá béo, không quá gầy và đảm bảo độ đồng đều cao về khối lượng Thức ăn trong giai đoạn này cần phải đảm bảo có 15-17 % protein, năng lượng trao đổi biến động từ 2600 - 2700 kcal/kg thức ăn

Chế độ chăm sóc gà trong giai đoạn này hết sức quan trọng, phải thường xuyên theo dõi khối lượng của gà để điều chỉnh tăng giảm thức ăn cho phù hợp Chú ý khống chế thức ăn phù hợp để đến khi gà vào đẻ đạt khối lượng chuẩn quy định cho từng giống

Về cách cho ăn, người ta có thể sử dụng 2 phương pháp sau: một là cho

gà 3 ngày ăn 1 ngày nhịn hoặc là ngày nào cũng cho ăn theo khẩu phần khống chế Khẩu phần này được xác định tuỳ theo khối lượng cơ thể gà Cứ 50 g khối lượng cơ thể vượt so với quy định giảm 5 g thức ăn/gà/ngày, nhưng lượng thức ăn không thấp hơn ở tuần trước; cứ 50 g khối lượng cơ thể thấp hơn so với quy định tăng 5 g thức ăn/gà/ngày Chỉ cho ăn một bữa để giảm những ảnh hưởng xấu và stress cho gà Khi phân phối thức ăn vào máng, phải đảm bảo trong vòng 4 phút tất cả các máng đều có thức ăn Máng ăn cho gà giai đoạn này cần treo cao cho gờ miệng máng luôn ngang với lưng gà để tránh rơi vãi thức ăn (chú ý trong giai đoạn nuôi khống chế phải khống chế cả nước uống) Đối với gà nuôi tại Trại Giống gia cầm Thịnh Đán sử dụng thức

ăn hỗn hợp 0521 của CP có thành phần dinh dưỡng: đạm 19 %; xơ thô 6 %;

Ca 0,8 -1,0 %; P 0,6 %; NaCl 0,3 - 0,5 %; năng lượng trao đổi 2900 kcal/kg.Hàng ngày chúng tôi theo dõi và giám sát tình trạng sức khoẻ của đàn gà Khi phát hiện ra gà có triệu chứng biểu hiện bệnh tiến hành chẩn đoán bệnh và

có biện pháp điều trị kịp thời cho đàn gà Trong quá trình nuôi dưỡng chúng tôi tiến hành tiêm chủng vắcxin cho gà theo đúng chủng loại, liều lượng và lịch phòng bệnh cho gà hàng tuần Thực hiện nghiêm ngặt chế độ chiếu sáng

về thời gian và cường độ

Trang 15

Mật độ nuôi nhốt gà giai đoạn hậu bị là gà trống 4 gà/m2

, gà mái 7 gà/m2; định kỳ thay đệm lót khô và tơi xốp

+ Giai đoạn gà đẻ: Chúng tôi đã chú ý chuẩn bị đầy đủ máng ăn, máng uống cho gà theo quy định, không để gà bị khát nước vì nếu gà thiếu nước gà

sẽ giảm tỷ lệ đẻ và khối lượng trứng Nền chuồng luôn khô, độ dày của đệm lót đảm bảo đạt 10 - 15 cm, ổ đẻ được đưa vào chuồng nuôi trước tuổi đẻ đầu

dự kiến khoảng 2 tuần để gà mái làm quen Thường xuyên bổ sung đệm lót mới và vệ sinh sạch sẽ, hạn chế gà đẻ xuống nền

Kiểm tra loại thải gà mái đẻ kém, không đẻ Căn cứ vào tỷ lệ đẻ, khối lượng gà hàng tuần điều chỉnh khối lượng thức ăn cho phù hợp Ghi chép tất

cả số liệu vào sổ sách theo biểu mẫu để theo dõi Trứng được thu nhặt hai lần/ngày để hạn chế đảm bảo trứng không bị dập vỡ

Đối với gà nuôi trong Trại Giống gia cầm Thịnh Đán sử dụng thức ăn

9624 của CP có thành phần dinh dưỡng: đạm 16,5 %; xơ thô 6 %; Ca 3,5 - 34,0 %; P 0,5 %; NaCl 0,3-0,5 %; năng lượng trao đổi 2700 kcal/kg

* Chế độ chiếu sáng

Chế độ chiếu sáng cùng với chế độ ăn có tác dụng kích thích hay kìm hãm sự phát dục của gà trống và mái sớm hay muộn hơn quy định Điều cần ghi nhớ để áp dụng cho đàn gà sinh sản đó là: Không tăng thời gian chiếu sáng và cường độ chiếu sáng trong giai đoạn hậu bị, không được giảm thời gian và cường độ chiếu sáng trong giai đoạn đẻ trứng Với chuồng nuôi ở trại,

là chuồng thông thoáng tự nhiên, việc khống chế thời gian chiếu sáng tự nhiên thực tế là rất khó Ở giai đoạn đẻ, thời gian chiếu sáng nâng dần lên từ 14h -

17 h/ngày Chúng tôi thực hiện chế độ chiếu sáng theo hướng dẫn của Viện chăn nuôi như sau:

Bảng 1.1: Chế độ chiếu sáng cho đàn gà sinh sản

Tuổi tuần Thời gian Cường độ W/m 2

Trang 16

1.4.2 Công tác thú y

* Công tác phòng bệnh cho đàn gà

Trong chăn nuôi, công tác đề phòng dịch bệnh rất quan trọng, là yếu tố quyết định đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi và an ninh kinh tế nông nghiệp Do vậy, trong quá trình chăn nuôi, chúng tôi cùng với cán bộ kỹ thuật, công nhân của trại thường xuyên quét dọn vệ sinh chuồng trại, khai thông cống rãnh, phát quang bụi rậm, phun thuốc sát trùng định kỳ, tẩy uế, máng ăn, máng uống Trước khi vào chuồng cho gà ăn uống phải thay bằng quần áo lao động đã được giặt sạch, đi ủng, đeo khẩu trang để bảo vệ sức khoẻ người lao động và phòng bệnh cho gia cầm Gà nuôi ở trại được sử dụng thuốc phòng bệnh theo lịch trình sau

Tiêm phòng vắc xin cho đàn gia cầm để có miễn dịch chủ động đảm bảo

an toàn trước dịch bệnh Trước ngày sử dụng vắc xin không pha thuốc kháng sinh vào nước uống trong vòng 8 - 12 h, pha vắc xin vào lọ dùng để nhỏ trực tiếp vào miệng, mắt, mũi hoặc pha ở dạng dung dịch để tiêm Tính toán liều vắc xin phải đủ để mỗi con nhận được một liều Dụng cụ pha và nhỏ vắc xin không có thuốc sát trùng hoặc xà phòng, nhiệt độ đảm bảo từ 20 - 250

C

Chúng tôi sử dụng vắc xin phòng bệnh cho đàn gà theo lịch như sau:

Bảng 1.2: Lịch phòng vắc xin cho gà Ngày tuổi Loại vắc xin Phương pháp dùng

Lasota lần 2 Nhỏ mắt hoặc mũi 1 giọt

35 Newcastle hệ 1 Tiêm dưới da 0,5 ml/con

Trang 17

* Chẩn đoán và điều trị bệnh

Trong quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn gà tại Trại Giống gia cầm Thịnh Đán, chúng tôi luôn theo dõi tình hình sức khoẻ của đàn gà để chẩn đoán và có những hướng điều trị kịp thời Thời gian thực tập ở trại, chúng tôi thường gặp một số bệnh sau:

* Bệnh viêm đường hô hấp cấp mãn tính ở gà (CRD, hen gà)

- Nguyên nhân: Bệnh do Mycoplasma gallisepticum gây ra Các yếu tố

tác động gây nên bệnh cho gà như: điều kiện thời tiết, dinh dưỡng kém, chuồng trại không đảm bảo vệ sinh (chật trội, ẩm thấp) làm cho gà giảm sức

đề kháng và dễ mắc bệnh ở gà

- Triệu chứng: Gà mắc bệnh có biểu hiện chảy nước mắt, nước mũi, thở khò khè, phải há mồm ra để thở, xoã cánh, gà hay quét mỏ xuống đất, đứng ủ

rũ, có tiếng rít rất điển hình (nghe rõ về đêm), gà kém ăn, gầy đi nhanh chóng

- Bệnh tích: Xác gà gầy, nhợt nhạt, khí quản có dịch, niêm mạc có chấm

đỏ, phổi nhợt nhạt Khi ghép với E.coli thấy xuất huyết dưới da, lách sưng,

ruột xuất huyết

- Điều trị:

+ Anti - CRD: liều 2 g/lít nước uống, dùng liên tục trong vòng 3-5 ngày Tất cả các loại bệnh khi điều trị cần kết hợp với các loại thuốc nhằm tăng sức

đề kháng như: B.complex (1 g/3 lít nước), vitamin C, đường glucose

+ Bệnh CRD thường ghép với bệnh E.coli, do đó khi điều trị bệnh chúng

tôi sử dụng Bio - Enrafloxacin 10 %, liều lượng 1ml/ 2 lít nước uống dùng trong 3 - 5 ngày

* Bệnh cầu trùng (Coccidiosis)

- Nguyên nhân: Bệnh cầu trùng do 9 loại Coccidia gây ra, chúng ký sinh

ở tế bào biểu mô ruột Tuỳ theo từng chủng loại và vị trí gây bệnh mà có

những triệu chứng gây bệnh khác nhau

- Triệu chứng: Thường gặp ở 2 thể

+ Cầu trùng manh tràng: thường gặp ở gà con từ 4 - 6 tuần tuổi; gà bệnh ủ

rũ, bỏ ăn, uống nước nhiều, phân lỏng lẫn máu tươi hoặc có màu sôcôla, mào nhợt nhạt (do thiếu máu) Mổ khám thấy manh tràng sưng to, chứa đầy máu

Trang 18

+ Cầu trùng ruột non gà: Bệnh thường ở thể nhẹ Triệu chứng chủ yếu là

gà ủ rũ, xù lông, cánh rũ, chậm chạp, phân màu đen như bùn, lẫn nhầy đôi khi lẫn máu; gà gầy, chậm lớn, chết rải rác kéo dài tỷ lệ chết thấp

- Điều trị: chúng tôi sử dụng các loại thuốc sau: Hancoc, liều lượng 1,5-2 ml/1 lít nước uống dùng trong 4 - 5 ngày liên tục, nghỉ 3 ngày rồi lại dùng 5 ngày liên tục nữa; ESB 32 %, Anti coccidae - liều lượng 2 g/lít nước uống dùng trong 3 - 5 ngày liên tục Ngoài ra, để chống chảy máu chúng tôi kết hợp với Hanvit C và K, liều lượng 0,5 - 1 g/1 lít nước uống

1.4.3 Tham gia các công việc khác

Trong thời gian thực tập, ngoài việc chăm sóc, nuôi dưỡng đàn gà thí nghiệm, bản thân tôi còn tham gia vào một số công việc khác như:

+ Tiêu độc, khử trùng chuồng trại và khu vực xung quanh

+ Tham gia chọn lọc và loại thải đàn gà giống bố mẹ Lương Phượng, Sasso, Mía, Mía lai Lương Phượng

+ Chăm sóc đàn gà bố mẹ, gà con, gà thịt

+ Tham gia quản lý máy ấp, chọn trứng, chọn lọc gà giống

+ Tham gia công tác tư vấn kỹ thuật chăn nuôi như hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi cho các hộ gia đình mua con giống của trại, từ khâu xây dựng chuồng trại đến khâu vệ sinh phòng bệnh cũng như kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng khi nuôi gia cầm, gia súc

Trang 19

Sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại Trại Giống gia cầm Thịnh Đán - thành phố Thái Nguyên chúng tôi đã tham gia và hoàn thành dƣợc một số công tác phục vụ sản xuất đã đề ra Kết quả của công tác này đƣợc thể hiện tổng quát qua bảng sau:

Bảng 1.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất

Nội dung công việc Đơn vị Số

Trang 20

1.5 KẾT LUẬN VỀ CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT

1.5.1 Bài học kinh nghiệm

Trong thời gian thực tập tại Trại Giống gia cầm Thịnh Đán, được sự giúp

đỡ của Ban lãnh đạo trại, cán bộ phụ trách và thầy giáo hướng dẫn, cùng với chính quyền địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi bước đầu tiếp xúc với thực tiễn sản xuất Qua đó tôi đã vận dụng được những kiến thức đã học ở trường để củng cố thêm kiến thức và rèn luyện thêm chuyên môn của mình Qua đợt thực tập này tôi thấy mình trưởng thành hơn về nhiều mặt, điều quan trọng nhất là tôi đã rút ra bài học kinh nghiệm bổ ích về chuyên môn từ thực tiễn sản xuất như:

+ Biết cách chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý

+ Biết cách dùng một số loại vắc xin phòng bệnh và thuốc điều trị bệnh + Biết chẩn đoán và điều trị một số bệnh thông thường

+ Tay nghề thực tế được nâng lên rõ rệt

Trong thời gian thực tập được tiếp xúc với thực tế sản xuất đã giúp tôi khẳng định được tư tưởng vững vàng, rèn luyện tác phong làm việc, trau dồi, củng cố và nâng cao kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, giúp tôi yêu ngành yêu nghề, say mê với công việc và không ngừng cố gắng học hỏi để làm tốt hơn khi ra thực tế sản xuất Tôi thấy rằng việc đi thực tập là một việc rất cần thiết đối với bản thân tôi cũng như tất cả các sinh viên trước khi tốt nghiệp ra trường

+ Còn non về tay nghề, đôi khi chưa mạnh dạn trong công việc

+ Tôi thấy từ kiến thức trên sách vở vận dụng vào thực tế sản xuất là một quá trình dài Do vậy, bản thân tôi là một kỹ sư tương lai, tôi nhận thấy cần phải khắc phục những khó khăn và luôn cố gắng rèn luyện vươn lên

Trang 21

Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Tên đề tài: “Hiệu quả của việc bổ sung vitamin C cho gà bố mẹ giống Lương Phượng nuôi tại Trại Giống gia cầm Thịnh Đán - Thái Nguyên”

2.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngành chăn nuôi gia cầm nước ta chiếm một vị trí quan trọng trong ngành sản xuất nông nghiệp nói riêng và trong cơ cấu nền kinh tế nói chung Chăn nuôi gà là một trong những nghề có truyền thống lâu đời của nhân dân

ta, nó cung cấp cho con người sản phẩm thịt và trứng, là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và nhu cầu của xã hội ngày càng nhiều

Chăn nuôi gà công nghiệp của nước ta hiện nay đã trở thành một trong những nghề phát triển khá nhanh trong lĩnh vực nông nghiệp Với những thuận lợi có được như về các giống gà cao sản, những tiến bộ kỹ thuật về thức

ăn, quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đã tạo ra những giống có năng suất cao, thức ăn có chất lượng tốt, với quy trình phòng bệnh chặt chẽ, góp phần đẩy lùi dịch bệnh nguy hiểm Đây chính là nền tảng rất quan trọng cho nghề chăn nuôi gà phát triển trong tương lai

Tuy nhiên, muốn cho ngành chăn nuôi gia cầm phát triển nhanh và bền vững thì phải tiến hành đồng thời các biện pháp kỹ thuật, chăm sóc nuôi dưỡng nhằm làm tăng tỷ lệ sống, tốc độ sinh trưởng, khả năng sản xuất và sức

đề kháng cho đàn gia cầm

Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều loại thức ăn hỗn hợp đáp ứng đầy

đủ nhu cầu dinh dưỡng của gia cầm, nhưng trong quá trình sản xuất hay thời gian bảo quản đã làm mất đi hoặc làm giảm một lượng vitamin nhất định Chính vì vậy, việc phải bổ sung vitamin là rất cần thiết trong chăn nuôi gia cầm, trong đó có việc bổ sung vitamin C

Theo các nhà khoa học thì vitamin C là yếu tố giúp nâng cao khả năng sản xuất của gia cầm, nâng cao khối lượng sống của gà con và khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi của môi trường Ngoài ra, vitamin C còn có chức năng hoạt hóa enzym 2,5 hydro vitamin D3 - 1 hydroxylaza xúc tiến

Trang 22

chuyển hóa 2,5 (OH) D3 (ở gan) thành 1,25 (OH) D3 (ở thận), thông qua đó vitamin C có ảnh hưởng đến quá trình hấp thu canxi của cơ thể, nhất là ở gà con và gà đẻ, vì cơ thể chúng không có khả năng tổng hợp đủ nhu cầu về vitamin C

Theo kết quả nghiên cứu của Bùi Hữu Đoàn (1999) [3] cho thấy hàm lượng vitamin C trong thức ăn hỗn hợp của các xí nghiệp (khi chưa bổ sung thêm) chỉ đạt 8 - 16 mg/kg thức ăn Trong thức ăn hàm lượng vitamin C giảm dần theo thời gian bảo quản, sau 1 tuần chỉ còn 50 %

Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hiệu quả của việc bổ sung vitamin C cho đàn gà bố mẹ giống Lương Phượng nuôi tại Trại Giống gia cầm Thịnh Đán - Thái Nguyên”

- Làm tư liệu khuyến cáo kỹ thuật cho người chăn nuôi

2.2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.2.1 Cơ sở lý luận

2.2.1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất của gia cầm sinh sản

Sức sản xuất trứng của gia cầm chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, cả các

yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài Sức sản xuất trứng chịu ảnh hưởng trực tiếp của dòng, giống gia cầm Các dòng, giống gia cầm khác nhau có sản lượng trứng khác nhau, sự phát triển, tuổi, độ béo, trạng thái sức khỏe, trọng lượng sống, sự thay lông, sự thành thục, bản tính ấp bóng, chu kỳ và nhịp độ

đẻ cũng ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng của gia cầm Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào các yếu tố di truyền, chọn lọc, thức ăn dinh dưỡng, chế độ chiếu sáng, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, mùa vụ…

Những dòng, giống gia cầm được chọn lọc tốt sẽ có khả năng sản xuất trứng cao hơn, ví dụ như giống gà Leghorn có sản lượng trứng trung bình là

250 - 270 quả/mái/năm, trong khi đó gà Ri chỉ đạt 90 - 100 quả/mái/năm…

Trang 23

Tuổi của gia cầm liên quan chặt chẽ tới sức đẻ của nó Theo quy luật, ở

gà sản lượng trứng giảm dần theo tuổi, trung bình năm thứ hai giảm từ 15 - 20

% so với năm thứ nhất Nhưng ở một số thủy cầm như vịt, ngỗng thì đạt đỉnh cao ở năm thứ hai, thứ ba sau đó giảm dần theo tuổi

Độ béo, trạng thái sức khỏe liên quan chặt chẽ đến sức sản xuất trứng, nếu gia cầm quá béo sẽ làm ức chế sự phát triển của buồng trứng và giảm các lượng kích tố sinh dục làm cho sản lượng trứng giảm

Tuổi thành thục sinh dục liên quan đến sức đẻ của gia cầm, nó là đặc điểm di truyền cá thể Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới tuổi thành thục sinh dục của gia cầm: loài, loại hình, giống, dòng, mùa vụ, thức ăn, chăm sóc,

Mùa vụ ảnh hưởng rất rõ rệt tới sức đẻ của gia cầm Ở nước ta, mùa hè sức đẻ giảm xuống so với mùa xuân, đến mùa thu lại tăng lên Nhiệt độ môi trường và ánh sáng ảnh hưởng rất lớn tới sức sản xuất của gia cầm, mùa vụ khác nhau có nhiệt độ và ánh sáng khác nhau Ở nước ta, nhiệt độ thích hợp đối với gia cầm đẻ là 14 - 220 C Nếu nhiệt độ môi trường xuống dưới giới hạn thấp thì gia cầm phải huy động năng lượng chống rét, trên giới hạn cao thì phải thải nhiệt nhiều Ánh sáng được xác định qua thời gian chiếu sáng và cường độ chiếu sáng Yêu cầu đối với gà đẻ thời gian chiếu sáng mỗi ngày 12

- 14 h với cường độ trung bình chiếu sáng ban ngày

Thay lông: Sau mỗi chu kỳ đẻ trứng sinh học gia cầm nghỉ đẻ và thay lông Ở điều kiện bình thường, lần thay lông đầu tiên là những điểm quan trọng để đánh giá gia cầm đẻ tốt hay xấu Những con thay lông sớm là những con đẻ kém và thời gian thay lông kéo dài tới 4 tháng Ngược lại, nhiều con thay lông muộn và nhanh, thời gian nghỉ đẻ dưới 2 tháng Đặc biệt ở một số

cá thể hoặc đàn cao sản, thời gian nghỉ đẻ chỉ khoảng 4 - 5 tuần, có những cá thể đẻ ngay khi chưa thay xong bộ lông mới hay đẻ trong thời gian thay lông Ngày nay, người ta sử dụng rộng rãi các biện pháp thay lông cưỡng bức dựa vào một số các yếu tố: thuốc kích thích, ánh sáng, nước uống, chế độ cho

ăn và thành phần thức ăn… nhằm rút ngắn thời gian thay lông và điều khiển thay lông hàng loạt

Trang 24

2.2.1.2 Khả năng sinh sản của gia cầm

Để duy trì sự phát triển của đàn gia cầm thì khả năng sinh sản là yếu tố

cơ bản quyết định đến quy mô, năng suất và hiệu quả sản xuất đối với gia cầm Sản phẩm chủ yếu của chăn nuôi gia cầm là thịt và trứng, trong đó sản phẩm trứng được coi là hướng sản xuất chính của gà hướng trứng Đối với gà hướng trứng hay hướng thịt thì khả năng sinh sản hay khả năng đẻ trứng đều quyết định đến sự phân đàn di truyền giống, mở rộng quy mô đàn gia cầm Sinh sản là chỉ tiêu cần được quan tâm trong công tác giống của gia cầm Ở các loại gia cầm khác nhau thì đặc điểm sinh sản cũng khác nhau rõ rệt

* Sức đẻ trứng

Sức đẻ trứng là số trứng thu được của mỗi đàn hoặc mỗi mái đẻ trong khoảng thời gian nhất định (một tháng, một mùa, một chu kỳ, sau 10 tháng tuổi, …)

Theo Brandsch và cs (1978) [18] thì sức đẻ trứng chịu ảnh hưởng của 5 yếu tố chính:

1 Tuổi đẻ đầu hay tuổi thành thục

2 Chu kỳ đẻ trứng hay cường độ đẻ trứng

3 Tần số thể hiện bản năng đòi ấp

4 Thời gian nghỉ đẻ, đặc biệt là nghỉ đẻ mùa đông

5 Thời gian đẻ kéo dài hay chu kỳ đẻ (hay tính ổn định sức đẻ)

Các yếu tố trên có sự điều khiển bởi kiểu gen di truyền của từng giống gia cầm

Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào chăm sóc nuôi dưỡng, nhiệt độ môi trường, ánh sáng và các yếu tố tiểu khí hậu khác

* Năng suất trứng

Năng suất trứng hay sản lượng trứng của một gia cầm mái là tổng số trứng đẻ ra trên một đơn vị thời gian Đối với gia cầm thì đây là chỉ tiêu quan trọng, nó phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản xuất, mùa vụ và đặc điểm của cá thể Năng suất trứng là một tính trạng số lượng nên nó phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh Năng suất trứng được đánh giá qua cường độ đẻ và thời gian kéo dài sự đẻ

Trang 25

Đây là chỉ tiêu đánh giá sức đẻ trứng của đàn gia cầm Đỉnh cao của tỷ lệ

đẻ có mối tương quan với năng suất trứng Giống gia cầm nào có tỷ lệ đẻ cao

và kéo dài trong thời kỳ sinh sản, chứng tỏ là giống tốt, nếu chế độ dinh dưỡng đảm bảo thì năng suất sinh sản sẽ cao Gà chăn thả có tỷ lệ đẻ thấp trong vài tuần đầu của chu kỳ đẻ, sau đó tăng dần và tỷ lệ đẻ đạt cao ở những tuần tiếp theo rồi giảm dần và tỷ lệ đẻ thấp ở cuối kỳ sinh sản Năng suất trứng/năm của một quần thể gà mái cao sản được thể hiện theo quy luật, cường độ đẻ trứng cao nhất vào tháng thứ hai, thứ ba sau đó giảm dần cho đến hết năm đẻ

Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trong một thời gian ngắn Trong thời gian này có thể loại trừ ảnh hưởng của môi trường Thời gian kéo dài sự đẻ

có liên quan đến chu kỳ đẻ trứng Chu kỳ đẻ kéo dài hay ngắn phụ thuộc vào cường độ và thời gian chiếu sáng Đây là cơ sở để áp dụng chiếu sáng nhân tạo trong chăn nuôi gà đẻ Giữa các trật đẻ, gà thường có những khoảng thời gian đòi ấp Sự xuất hiện bản năng đòi ấp phụ thuộc nhiều vào yếu tố di truyền vì ở các giống khác nhau có bản năng ấp khác nhau Điều này chịu ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố như: Nhiệt độ, ánh sáng, dinh dưỡng Theo Brandsch và cs (1978) [18] thì nhiệt độ cao và bóng tối kích thích sự ham ấp, đồng thời yếu tố gen chịu tác động phối hợp giữa các gen thường và gen liên kết giới tính Trên cơ sở tỷ lệ đẻ hằng ngày hoặc tuần cho phép đánh giá một phần nào về chất lượng giống và mức độ ảnh hưởng của chế độ ngoại cảnh đến sự sản xuất của đàn giống Ông cũng cho rằng gà thịt nặng cân đẻ ít hơn

do tồn tại nhiều thể vàng nên lấn át buồng trứng thường xuyên hơn so với gà dòng trứng

Thời gian nghỉ đẻ ngắn hay dài có ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng trứng cả năm Gà thường hay nghỉ đẻ vào mùa đông do nguyên nhân giảm dần

về cường độ và thời gian chiếu sáng tự nhiên Ngoài ra, sự nghỉ đẻ này còn do khí hậu, sự thay đổi thức ăn, chu chuyển đàn Thời gian nghỉ đẻ là một tính trạng số lượng có hệ số di truyền cao, do đó người ta có thể cải thiện di truyền bằng cách chọn lọc giống Trong chọn lọc cần chú ý tới chỉ số trung bình chung của giống Khối lượng trứng phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, giống, tuổi đẻ, tác động dinh dưỡng tới gà sinh sản Đồng thời khối lượng trứng lại quyết định tới chất lượng trứng giống, tỷ lệ ấp nở, khối lượng và sức sống của

gà con Nó là chỉ tiêu không thể thiếu của việc chọn lọc con giống

Trang 26

Theo Brandsch và cs (1978) [18] cho biết: Trứng gia cầm khi bắt đầu đẻ nhỏ hơn trứng gia cầm lúc trưởng thành Khối lượng trứng phụ thuộc trực tiếp vào chiều dài, chiều rộng của quả trứng cũng như khối lượng lòng trắng, lòng

đỏ và vỏ

Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) [6] trong cùng một độ tuổi thì khối lượng trứng tăng lên chủ yếu do khối lượng lòng trắng lớn hơn nên giá trị năng lượng giảm dần Khối lượng gà con khi nở thường bằng 62 % - 78

% khối lượng trứng ban đầu Khối lượng trứng của các loại giống khác nhau thì khác nhau

2.2.1.3 Một số đặc điểm sinh học của trứng gia cầm

* Cấu tạo trứng gia cầm

Trứng gia cầm có cấu tạo từ ngoài vào bao gồm những thành phần chính sau: vỏ cứng, màng vỏ, lòng trắng, lòng đỏ có chứa đĩa phôi Mỗi thành phần chiếm tỷ lệ khác nhau ở mỗi cá thể, dòng, giống, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng Tuy nhiên, vẫn có sự dao động tương đối

Vỏ trứng: Vỏ trứng là phần bảo vệ của trứng, nó cũng đồng thời tạo ra màu sắc bên ngoài quả trứng Màu sắc vỏ trứng phụ thuộc vào giống, lá tai

và từng loại gia cầm khác nhau Phía ngoài được phủ một lớp keo dính do

âm đạo tiết ra Lớp keo dính này có tác dụng làm giảm độ ma sát giữa thành âm đạo và trứng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đẻ trứng, khi đẻ ra

nó có tác dụng hạn chế sự bốc hơi nước của trứng và ngăn cản sự xâm nhập của vi khuẩn

Dưới lớp vỏ cứng là hai lớp màng dưới vỏ: Hai lớp màng này rất mỏng, lớp ngoài sát với vỏ trứng Lớp trong nằm sát với lòng trắng, lớp ngoài dày hơn lớp trong, độ dày của hai lớp khoảng 0,057 - 0,069 mm Cả hai lớp đều có

lỗ thở cho không khí đi vào giúp phôi thai phát triển ở giai đoạn cuối Hai lớp màng áp sát vào nhau chỉ tách ra ở đầu tù của quả trứng tạo ra buồng khí Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) [6] thì trên bề mặt của vỏ trứng gà trung bình có khoảng 10.000 lỗ khí, tính trên 1 cm2

có khoảng 150 lỗ khí, đường kính lỗ khí dao động khoảng 4 - 10 µm Mật độ lỗ khí không đều, nhiều nhất ở đầu tù, giảm dần ở hai bên và ít nhất ở đầu nhỏ

Trang 27

Chất lượng vỏ trứng thể hiện ở độ dày và độ bền của vỏ trứng Nó có ý nghĩa trong vận chuyển và ấp trứng Độ dày vỏ trứng gà đạt 0,311 mm và dao động từ 0,229 - 0,373 mm (Ngô Giản Luyện (1994) [11] xác định vỏ trứng gà dày từ 0,3 - 0,34 mm, độ chịu lực là 2,44 - 3 kg/cm2

) Theo Nguyễn Duy Hoan

và cs (1998) [6] thì chất lượng vỏ trứng không những chịu ảnh hưởng của các yếu tố như canxi (70 % canxi cần cho vỏ trứng là lấy trực tiếp từ thức ăn), ngoài ra vỏ trứng hình thành cần có photpho, vitamin D3, vitamin K, các nguyên tố vi lượng Khi nhiệt độ tăng từ 20 - 300 C thì độ dày vỏ trứng giảm 6 -

10 % khi đó gia cầm đẻ ra trứng không có vỏ hoặc bị biến dạng

Độ dày vỏ trứng có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình ấp nở Nếu vỏ trứng quá dày hoặc quá mỏng sẽ gây cản trở cho quá trình hô hấp của phôi thai, dẫn đến tỷ lệ nở thấp Theo Nguyễn Thị Bạch Yến (1996) [17] nếu vỏ trứng quá mỏng, sẽ làm quá trình bốc hơi nước diễn ra quá nhanh, dẫn tới trứng bị mất nước gây chết phôi, sát vỏ, gà con nở ra yếu hoặc tỷ lệ nuôi sống giảm Ngược lại, nếu vỏ trứng quá dầy cũng ảnh hưởng đến khả năng ấp nở, trao đổi khí kém, gà con không mổ vỏ ra ngoài được Độ dày vỏ ở đầu tù khoảng 0,279 - 0,588 mm, ở đầu nhọn khoảng 0,294 - 0,334 mm

Lòng trắng: Là phần bao bọc bên ngoài lòng đỏ, nó là sản phẩm của ống dẫn trứng Lòng trắng chủ yếu là albumin giúp cho việc cung cấp khoáng và muối khoáng, tham gia cấu tạo lông, da trong quá trình phát triển cơ thể ở giai đoạn phôi Chất lượng lòng trắng được xác định qua chỉ số lòng trắng và đơn

vị Haugh Hệ số di truyền của tính trạng này khá cao

Lòng trắng có 4 lớp:

Lớp lòng trắng đặc trong, sát với lòng đỏ, bên trong lớp này có hai sợi dây giữ chặt hai đầu lòng đỏ thành hai trục ngang gọi là dây chằng lòng đỏ, nó giúp giữ cho lòng đỏ luôn thăng bằng, luôn nằm ở giữa không bị các tác động bên ngoài Khối lượng của nó khoảng 3 % khối lượng lòng trắng

Lớp lòng trắng loãng trong tiếp bên ngoài lớp lòng trắng đặc trong, chiếm 17 % khối lượng lòng trắng

Lớp lòng trắng đặc giữa, lớp này chiếm 50 - 57 %, lớp này chứa nhiều sợi nhày, đây là lớp đệm của lòng đỏ, là nơi để các sợi dây chằng bám vào nhau

Trang 28

Lớp lòng trắng loãng ngoài chiếm khoảng 23 % khối lượng lòng trắng, lớp này bao bọc toàn bộ chất chứa bên trong quả trứng Việc bảo quản trứng không đúng và kéo dài sẽ làm lòng trắng trở nên loãng hơn, sự pha lẫn giữa các lớp lòng trắng sẽ làm rối loạn cấu trúc sinh học, từ đó làm giảm chất lượng trứng Theo Awang (1987) đã cho biết khối lượng trứng có tương quan

rõ rệt với khối lượng lòng trắng (r = 0,86), với khối lượng lòng đỏ (r = 0,72), với khối lượng vỏ (r = 0,48)

Lòng đỏ: Là tế bào trứng có dạng hình cầu đường kính 35 - 40 mm và được bao bọc bởi màng lòng đỏ có tính đàn hồi nhưng sự đàn hồi này giảm theo thời gian bảo quản, ở giữa có hốc lòng đỏ nối với đĩa phôi lấy chất dinh dưỡng từ nguyên sinh chất để cung cấp cho phôi phát triển Lòng đỏ có độ đậm đặc cao nằm giữa lòng trắng đặc, được giữ ổn định nhờ dây chằng là những sợi protein quy tụ ở hai đầu lòng đỏ, phía trên lòng đỏ là mầm phôi Lòng đỏ cung cấp dinh dưỡng chủ yếu cho phôi Thông qua nguồn năng lượng

dự trữ cho phôi mà người ta có thể đánh giá được chất lượng lòng đỏ

Cấu tạo lòng đỏ gồm: Màng, nguyên sinh chất và nhân Màng lòng đỏ rất mỏng dao động từ 16 - 20 µm, có tính đàn hồi, luôn giữ cho tế bào trứng ở dạng hình cầu Ngoài ra, màng này còn có tính thẩm thấu chọn lọc để thực hiện việc trao đổi chất giữa lòng trắng và lòng đỏ

Nguyên sinh chất gồm: Bào quan chứa ty lạp thể, lưới golgi, trung tâm tế bào có thể chứa protein, lipit, gluxit, axit amin Đặc biệt protit và lipit kết hợp với nhau tạo thành phức hợp lipoprotein.Từ đó, hình thành nên những thể vùi lòng đỏ trung tâm nguyên sinh có hốc lòng đỏ nối tới đĩa phôi

Đĩa phôi nằm ở trong nhân tế bào, nhân tế bào trứng có hình tròn, đường kính khoảng 1 - 2 mm, màu nhạt hơn nguyên sinh chất và nằm trên bề mặt nguyên sinh chất Nếu trứng được thụ tinh thì đĩa phôi chiếm gần hết diện tích nhân của tế bào trứng

Màu lòng đỏ phụ thuộc vào sắc tố màu và caroten có trong thức ăn Màu lòng đỏ ổn định trong suốt thời gian đẻ trứng, nó thay đổi khi khẩu phần ăn của gà mái thay đổi trước vài tuần Tuy không biểu thị giá trị dinh dưỡng của trứng nhưng nó có giá trị thương phẩm lớn

Trang 29

* Chỉ số Haugh (HU)

Là chỉ số đánh giá chất lượng trứng xác định thông qua khối lượng trứng và chiều cao lòng trắng đặc Chỉ số HU càng cao thì chất lượng trứng càng cao, trứng đạt chất lượng tốt Chỉ số này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động như: thời gian bảo quản trứng, tuổi gia cầm, bệnh tật, nhiệt độ môi trường, sự thay lông, giống, dòng

* Tỷ lệ ấp nở

Tỷ lệ ấp nở của gia cầm được xác định bằng tỷ lệ (%) số con nở ra so với

số trứng có phôi Đây là tính trạng đầu tiên biểu hiện sức sống ở đời con, tỷ lệ

nở của trứng không những chứng minh có đặc tính di truyền về sinh lực của giống mà còn là sự xác minh về sự liên quan đến tỷ lệ nở với cấu tạo của trứng Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) [7] cho rằng: Khối lượng trứng, sự cân đối giữa các thành phần cấu tạo và cấu trúc vỏ trứng ảnh hưởng tới tỷ lệ ấp nở Những quả trứng quá lớn hoặc quá nhỏ đều có khả năng nở kém hơn những quả trứng có khối lượng trung bình Khi khối lượng trứng từ 45 - 64 g thì khả năng nở là 87 %, khối lượng trứng nhỏ hơn

45 g thì khả năng nở giảm xuống là 80 % còn những trứng có khối lượng vượt quá 64 g thì khả năng nở là 71 %

Theo Nguyễn Quý Khiêm và cs (1998) [9] thì khối lượng, sự cân bằng giữa các thành phần cấu tạo (lòng trắng, lòng đỏ) và cấu trúc của vỏ trứng

có ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở Ngoài ra, tỷ lệ ấp nở còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác như: điều kiện vệ sinh, kỹ thuật thu nhặt, bảo quản, đặc biệt là kỹ thuật ấp có vai trò quan trọng đến tỷ lệ ấp nở của trứng gia cầm

2.2.1.4 Vai trò của một số loại vitamin đối với cơ thể gia cầm

* Khái niệm vitamin

Theo Lê Khắc Thận (1974) [16] cho biết vitamin là một yếu tố dinh dưỡng không thể thiếu được của tất cả các cơ thể sống Vitamin là những hợp chất hữu cơ có nguồn gốc và cấu tạo rất khác nhau Điểm giống nhau duy nhất của các loại này là chúng đều cần cho cơ thể sinh vật với một lượng vô cùng nhỏ

Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1999) [5] thì vào năm 1912, K.Frunk nhà bác học Ba Lan đã tìm thấy chất lạ, có tác dụng kích thích sinh trưởng, phát triển, sinh sản, tăng sức khỏe và kháng bệnh ở động vật và người Những chất

đó có chứa nhóm amino và được gọi là vitamin (vitamin là amino của động vật)

Trang 30

Năm 1914, chính Frunk đã công bố tìm được gần 40 loại vitamin trong

đó có 25 loại đã biết được cấu trúc Chúng có sẵn trong rau quả, hạt, thực phẩm, lương thực và vi sinh vật, một số được tổng hợp từ hóa chất

Theo tài liệu nghiên cứu của Nguyễn Chí Bảo (1978) [1], phần lớn các vitamin không được tổng hợp trong cơ thể động vật, chúng phải nhận từ ngoài vào cùng thức ăn Gia cầm đặc biệt nhạy cảm với sự thiếu vitamin thậm chí thiếu một ít cũng làm giảm sức sản xuất của chúng

Vitamin được chia làm hai nhóm:

+ Nhóm vitamin hòa tan trong dầu mỡ gồm: A, K, D, E

+ Nhóm vitamin hòa tan trong nước gồm: Vitamin nhóm B (B1, B2, B3…, B12) và nhóm vitamin C

* Vai trò của vitamin

Theo Lê Khắc Thận (1974) [16] cho biết: Vitamin là một yếu tố dinh dưỡng không thể thiếu được của mọi sinh vật Vitamin là những hợp chất hữu

cơ có nguồn gốc và cấu tạo khác nhau Điểm giống nhau duy nhất là chúng đều cần cho cơ thể sinh vật với một lượng vô cùng nhỏ, thường tính bằng microgam hoặc gamma, hoặc đơn vị quốc tế (U.I) riêng cho từng loại Vitamin giúp cho sinh vật phát triển bình thường, sinh sản đều đặn, có khả năng chống đỡ bệnh tật cao Ngược lại, khi thiếu chỉ một trong các vitamin cần thiết cơ thể sẽ mất thăng bằng trong trạng thái sinh lý và mắc bệnh, thường gọi là bệnh thiếu vitamin Loại bệnh này có những biểu hiện chung ở nhiều gia súc, gia cầm như chậm lớn, kém phát triển và những triệu chứng đặc biệt riêng cho từng loại

Tác động sinh hóa học của vitamin còn thể hiện qua nhiều khía cạnh phức tạp như giữa vitamin và hormon có ảnh hưởng qua lại với nhau Nhiều thí nghiệm cho thấy, khi thiếu vitamin B6 thì các hormon buồng trứng sẽ được tổng hợp ít đi, hoặc khi thiếu vitamin C thì hoạt lực của tuyến yên và tuyến thượng thận bị giảm sút Trái lại, hormon tăng tiết thì nhu cầu vitamin cũng tăng

Theo Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1995) [10], vitamin A tham gia vào quá trình trao đổi protit, gluxit, lipit, ảnh hưởng đến tuyến nội tiết, hệ thần kinh, tổng hợp protit của cơ thể và hàng loạt các chất có hoạt tính sinh học khác, có vai trò trong chức năng của tế bào cơ thể, trong tổng hợp tế bào

Trang 31

tuyến giáp, tuyến tụy, niêm mạc mắt, niêm mạc các cơ quan tiêu hóa, hô hấp, bài tiết, sinh dục, chống sừng hóa da, chống còi xương Nếu thiếu vitamin A trong thức ăn làm cho gia cầm bị suy nhược, cơ thể mắc bệnh “gà mờ”,

“quáng gà”, đi lại yếu, mất tính thèm ăn, chậm phát triển, lông xù, gia cầm bị còi xương, vẹo cổ Gà sinh sản bị giảm năng suất trứng, giảm tỉ lệ thụ tinh, dễ cảm nhiễm cầu trùng ở mọi lứa tuổi, mắc bệnh đường hô hấp

Cũng Theo Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1995) [10], vitamin B1 có vai trò quan trọng trong trao đổi gluxit và decacboxyl, tăng tính thèm ăn và hoạt động của men tiêu hóa, làm tăng hấp thu đường ở ruột, duy trì hoạt động bình thường của hệ thần kinh Nếu thiếu vitamin B1 ở khẩu phần, gây liệt thần kinh

ở gà con 2 ngày tuổi, kém ăn, rối loạn tiêu hóa, gà mổ nhau, gà thịt tăng khối lượng kém, gà đẻ thì sức đẻ giảm, mào xanh, nếu thiếu kéo dài cũng gây bại liệt, ngón chân chụm lại, vẹo cổ, cong xương do mất khả năng điều khiển của

hệ thần kinh

Vitamin B1 giữ một vị trí quan trọng trong trao đổi chất, đặc biệt đối với chuyển hóa gluxit và trong hoạt động thần kinh Khi thiếu vitamin B1 thường phát sinh chứng phù thũng và viêm thần kinh ( Lê Khắc Thận, 1974 [16]) Vitamin B2 đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong oxy hóa vật chất ở tế bào, thực hiện phản ứng oxy hóa hoàn nguyên và nhiều phản ứng khác trong trao đổi hydratcacbon và năng lượng, duy trì hoạt động bình thường của các tuyến sinh dục Khi thiếu B2 trong khẩu phần gây ra sự rối loạn chung cho quá trình trao đổi vật chất Ở người và gia súc, bệnh thiếu vitamin này tùy mức độ nặng nhẹ mà có những biểu hiện khác nhau Động vật non thường rụng lông quanh mép, mắt, lưng, tróc vẩy da Ở mức trầm trọng, còn thấy trạng thái ức chế rất nặng, thân nhiệt giảm Gà thiếu vitamin B2 sẽ chậm lớn, tỷ lệ nở thấp

vì phôi chết vào ngày thứ 14, 15

Theo Norris, nếu gà ăn khẩu phần với 1,6 mg B2/1kg thức ăn thì tỷ lệ nở chỉ đạt gần 40 %, tăng lên 3,6 mg/1kg thì tỷ lệ nở tăng lên 75 %

Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1999) [5], vitamin B12 đóng vai trò quan trọng trong tạo máu, kích thích sinh trưởng, rất cần thiết cho trao đổi protit, lipit, đường và sự chuyển hóa axit amin Nếu thiếu nó sẽ làm giảm sinh tốc

độ sinh trưởng, mọc lông, làm gan nhiễm mỡ, thiếu máu ác tính, bại liệt, tỷ

lệ nở kém

Trang 32

Ngoài ra vitamin B3, B5, B6… cũng có vai trò rất quan trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển của gia súc, gia cầm

Vitamin D có chức năng chống bệnh còi xương làm tăng hấp thụ canxi, photpho ở ruột non do gắn với ion Ca++, cần thiết cho tổng hợp protein Thiếu vitamin D và thiếu ánh sáng làm cho gà chậm lớn, gây bệnh còi xương, vỏ trứng mỏng, làm giảm lượng hồng cầu và huyết sắc tố, phá hủy trao đổi canxi, photpho, protit, gluxit (Nguyễn Duy Hoan và cs, 1999 [5])

Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1995) [10], vitamin E ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gia cầm, chống teo cơ, chống rối loạn trao đổi đường, ảnh hưởng đến tổng hợp coenzyme, trao đổi axit nucleic và quá trình photphoryl hóa Nó có vai trò quan trọng nhất là chống oxy hóa sinh học, chống oxy hóa vitamin A, caroten và mỡ Nếu thiếu vitamin E trong khẩu phần dẫn đến triệu chứng cổ và đầu nghẹo, chân cong và mềm, đi đứng ngất ngưởng bị lăn ngã, não bị tụ huyết và tích nước, xuất huyết thành ruột và cơ ngực, ỉa chảy, làm giảm tỷ lệ trứng có phôi và tỷ lệ ấp nở

Vitamin K thì có vai trò trong quá trình đông máu (chống chảy máu), tổng hợp nên protrompin tham gia quá trình hô hấp mô bào và photphoryl hóa Nếu thiếu vitamin K trong khẩu phần, sinh bệnh chảy máu ở đường tiêu hóa, gà con mới nở giảm sức sống, làm chậm lành các vết thương, gây thiếu máu

2.2.2 Nguồn gốc, đặc điểm và vai trò của vitamin C

2.2.2.2 Đặc điểm của vitamin C

Vitamin C (axit ascorbic) dễ tan trong nước, không bền vững trong môi trường kiềm và khi tiếp xúc với kim loại

Axit ascorbic có khả năng hoàn nguyên các chất, bản thân dễ bị oxy hóa sang dạng dehydroasobic không có hoạt tính của vitamin Do đó việc bảo quản

rất khó Trong cơ thể thường gặp ở hai trạng thái ascorbicntu do và liên kết

Theo Wegger (1984) [36], vitamin C có dạng bột tinh thể, màu trắng hoặc hơi vàng, không mùi, không tan trong ete, tan kém trong cồn etylic, dễ

Trang 33

tan trong nước Axit ascorbic oxy hóa bằng việc cho 2 proton và 2 electron tạo thành dehydoascobic axit, khác với axit ascorbic axit này là chất trung tính và khi có mặt chất khử sẽ trở về dạng ban dầu của vitamin C

2.2.2.3 Vai trò của vitamin C

Theo Bùi Hữu Đoàn, 1999 [2], khi bổ sung vitamin C với liều lượng 150 mg/kg thức ăn của gà con từ 0 - 4 tuần tuổi không làm thay đổi đáng kể khối lượng cơ thể nhưng đã làm giảm từ 2,32 gà chết, giảm 2,00 - 4,11 % gà bị khoèo chân Theo Từ Quang Hiển và cs (2001) [4], vitamin C là chất chuyển hydro trong quá trình hô hấp mô bào Vitamin chống hoại huyết, tăng sức đề kháng cho cơ thể Thiếu vitamin C đầu các khớp bị bị sưng, sức khỏe của gia súc bị giảm, chân răng bị sưng, răng bị rụng

Theo Cao Văn và Hoàng Toàn Thắng (2003) [15], vitamin C có tác dụng

to lớn trong quá trình oxy hóa khử, nó là một chất khử mạnh, khử các độc tố

vi trùng Vitamin C xúc tác cho quá trình hô hấp mô bào, có vai trò quan trọng trong sự hàn gắn vết thương, duy trì sự hoàn chỉnh của tổ chức gian bào

- điều hòa trạng thái keo Vitamin C có tác dụng đến hoạt động nội tiết, thúc đẩy sự bài tiết hormon đặc biệt là hormon vỏ thượng thận (glucocorticoide) Vitamin C có tác dụng lên thần kinh phó giao cảm, làm tăng nhu động ruột và làm giảm hoạt động tim Nhiều gia súc, gia cầm có khả năng tổng hợp được axit ascorbic từ gluxid nên ít thiếu vitamin này Khi bị bệnh gia súc, gia cầm hay bị mắc bệnh thiếu vitamin C và không có khả năng tự tổng hợp được mà nhất thiết phải bổ sung vào thức ăn hay nước uống

Theo Nguyễn Chí Bảo (1978) [1], vitamin C phân bố rộng rãi trong giới động vật và thực vật Tagverkev đã chứng minh vitamin C được cơ thể tổng hợp vẫn còn thiếu và thiếu vitamin C gây ra các hiện tượng bệnh lý rất nặng

nề, thể hiện ngừng sinh trưởng, giảm sức sản xuất và tăng nhiễm các bệnh lây lan Theo Sebrell (1987) [34], vitamin C điều hòa cường độ thực bào của bạch cầu, chức năng của hệ thống lưới nội bào và tạo kháng thể

Theo McDonald (1981) [26], vitamin C tái tạo axit folic thành axit letrapolic hoạt hóa và hấp thu được Khi thiếu vitamin C, hấp thu axit folic và vitamin B12 bị phá hoại, do đó sẽ dẫn đến bệnh thiếu máu ở động vật

Trang 34

Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1999) [5], ở gia súc, gia cầm thường không thiếu vitamin C, tuy nhiên, nhiều thí nghiệm cũng xác định việc bổ sung vitamin C vào thức ăn khi chúng bị bệnh, trong môi trường nóng bức đã

có ảnh hưởng tích cực đến sức khỏe và sức sản xuất của chúng

Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1995) [10], vitamin C có vai trò trong hô hấp tế bào, trong trao đổi protit, lipit và hydratcacbon và làm vô hiệu hóa các độc tố sinh ra trong quá trinh trao đổi chất Nó cần thiết cho sự hấp thu axit folic và sắt, có mối quan hệ với hang loạt hormone và enzym Vitamin C chống bệnh scorbut, chống béo Khi thiếu hụt nó trong thức ăn gây bệnh sơ cứng động mạch, chảy máu dưới da và cơ, sức đề kháng yếu Cơ thể gia cầm

có thể tổng hợp được vitamin C, vì vậy, bệnh thiếu vitamin C thường không biểu hiện ở chúng Tuy vậy, nhiều thí nghiệm đã xác định khi bổ sung vitamin

C vào thức ăn cho gia cầm đã ảnh hưởng tích cực đến năng suất của chúng Theo Lê Khắc Thận (1974) [16], axit ascorbic được tổng hợp từ nhiều giống vi sinh vật, thực vật, động vật Riêng chuột lang, khỉ và người không có khả năng này

Vitamin C có liên quan về mặt tác động với nhiều vitamin khác Ví dụ đối với vitain B1 nó làm giảm bớt sức trầm trọng của bệnh bêri - bêri, đối với axit folic, vitamin C có tác dụng chuyển nó sang dạng hoạt động Các trạng thái bệnh lý như sốt, hoặc có thai của cơ thể cũng đòi hỏi phải tăng lượng vitamin C trong khẩu phần Hiện tượng giảm vitamin trong máu, trong nước tiểu, trong dịch vị, được coi là triệu chứng đáng kể về lâm sàng của nhiều bệnh Hàm lượng vitamin C phân bố ở trong các mô cơ thể động vật như sau: (mg%)

Ngày đăng: 14/05/2014, 22:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Chí Bảo (1978), Cơ sở sinh học của nhân giống và nuôi dinh dưỡng gia cầm, Nxb khoa học kĩ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh học của nhân giống và nuôi dinh dưỡng gia cầm
Tác giả: Nguyễn Chí Bảo
Nhà XB: Nxb khoa học kĩ thuật
Năm: 1978
2. Bùi Hữu Đoàn (2004), Bổ sung vitamin C nâng cao năng suất gia cầm, Nxb nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bổ sung vitamin C nâng cao năng suất gia cầm
Tác giả: Bùi Hữu Đoàn
Nhà XB: Nxb nông nghiệp
Năm: 2004
3. Bùi Hữu Đoàn (1999), Nghiên cứu hiện trạng dinh dưỡng, khoáng và một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng canxi, photpho cho gà giống hướng thịt ở miền nam, Luận án tiến sĩ khoa học nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hiện trạng dinh dưỡng, khoáng và một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng canxi, photpho cho gà giống hướng thịt ở miền nam
Tác giả: Bùi Hữu Đoàn
Năm: 1999
4. Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm, Ngôn Thị Hoán (2001), Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng gia súc, Nxb nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng gia súc
Tác giả: Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm, Ngôn Thị Hoán
Nhà XB: Nxb nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2001
5. Nguyễn Duy Hoan, Nguyễn Thanh Sơn, Bùi Đức Lũng, Đoàn Xuân Trúc (1999), Giáo trình chăn nuôi gia cầm dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành chăn nuôi, Nxb nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi gia cầm dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Nguyễn Thanh Sơn, Bùi Đức Lũng, Đoàn Xuân Trúc
Nhà XB: Nxb nông nghiệp
Năm: 1999
6. Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân, Nguyễn Thị Thúy Mỵ, Đào Văn Khanh, Nguyễn Quang Tuyên (1998), Giáo trình chăn nuôi gia cầm, Nxb nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân, Nguyễn Thị Thúy Mỵ, Đào Văn Khanh, Nguyễn Quang Tuyên
Nhà XB: Nxb nông nghiệp
Năm: 1998
7. Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân, Nguyễn Thị Thúy Mỵ, Đào Văn Khanh, Nguyễn Quang Tuyên (1998), Giáo trình thực hành chăn nuôi gia cầm, Nxb nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thực hành chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân, Nguyễn Thị Thúy Mỵ, Đào Văn Khanh, Nguyễn Quang Tuyên
Nhà XB: Nxb nông nghiệp
Năm: 1998
8. Ngô Quốc Hƣng, Khảo sát khả năng sinh trưởng của gà Lương Phượng, gà Ri và con lai F1 (trống Lương Phượng x mái Ri) nuôi tại Thái Nguyên, Luận văn tốt nghiệp Đại học năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát khả năng sinh trưởng của gà Lương Phượng, gà Ri và con lai F1 (trống Lương Phượng x mái Ri) nuôi tại Thái Nguyên
9. Nguyễn Quý Khiêm, Nguyễn Đăng Vang và cộng sự (1999), Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến chất lượng và kết quả ấp nở trứng gà Tam Hoàng, Trích báo cáo khoa học chăn nuôi thú y 1998 - 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến chất lượng và kết quả ấp nở trứng gà Tam Hoàng
Tác giả: Nguyễn Quý Khiêm, Nguyễn Đăng Vang, cộng sự
Nhà XB: báo cáo khoa học chăn nuôi thú y
Năm: 1999
10. Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1995), Thức ăn và dinh dưỡng gia cầm, Nxb nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn và dinh dưỡng gia cầm
Tác giả: Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb nông nghiệp
Năm: 1995
11. Ngô Giản Luyện (1994), Nghiên cứu một số tính trạng năng suất của các dòng thuần chủng V1, V2, V3, V5 giống gà thịt cao sản Hybro nuôi trong điều kiện Việt Nam, Luận án PTS khoa học Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số tính trạng năng suất của các dòng thuần chủng V1, V2, V3, V5 giống gà thịt cao sản Hybro nuôi trong điều kiện Việt Nam
Tác giả: Ngô Giản Luyện
Năm: 1994
12. Vũ Ngọc Sơn, Khảo sát một số tính năng sản xuất của giống gà hoa Lương Phượng tại Hà Tây, Báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học 1998 - 1999, Tổng công ty chăn nuôi VN, Bộ nông nghiệp và PTNT, [78] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát một số tính năng sản xuất của giống gà hoa Lương Phượng tại Hà Tây
Tác giả: Vũ Ngọc Sơn
Nhà XB: Tổng công ty chăn nuôi VN
Năm: 1999
13. Nguyễn Văn Thiện (2000), Phương pháp thí nghiệm trong chăn nuôi, Nxb Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thí nghiệm trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2000
14. Nguyễn Hoài Tao, Tạ An Bình và cộng tác viên (1985), Một số chỉ tiêu về tính năng sản xuất, chất lượng trứng, thịt gà Ri, Tuyển tập công trình nghiên cứu chăn nuôi 1969-1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chỉ tiêu về tính năng sản xuất, chất lượng trứng, thịt gà Ri
Tác giả: Nguyễn Hoài Tao, Tạ An Bình và cộng tác viên
Năm: 1985
15. Cao Văn, Hoàng Toàn Thắng (2003), Sinh lý học gia súc, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học gia súc
Tác giả: Cao Văn, Hoàng Toàn Thắng
Nhà XB: Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Năm: 2003
16. Lê Khắc Thận, Giáo trình sinh hóa động vật, Nxb nông nghiệp Hà Nội, 1974. II. Tài liệu dịch từ tiếng nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh hóa động vật
Nhà XB: Nxb nông nghiệp Hà Nội
17. Brandsch.H và Bichel. H (1978), Cơ sở của sự nhân giống và nuôi dưỡng gia cầm. Người dịch Nguyễn Chí Bảo, Nxb Nông nghiệp Hà Nội.III. Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở của sự nhân giống và nuôi dưỡng gia cầm
Tác giả: Brandsch.H và Bichel. H
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội. III. Tài liệu nước ngoài
Năm: 1978
18. Aliseikhov A.M, Ispolzovanie askorbinovoi kislotuw V rasione Kurnesusekr, Docl VACKHNIL 1988 N4 C36 - 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ispolzovanie askorbinovoi kislotuw V rasione Kurnesusekr
19. Kolotilova A.I, Gusancov E.P, vitaminuw…Leningradski univertilm, 1976. C. 140 - 154 Sách, tạp chí
Tiêu đề: …Leningradski univertilm
20. Khaustov V.N, Vlianievitamina C u selena na productibnost u resttestvenost resistentnost kross//Avtorepherat 1983 - 18C Sách, tạp chí
Tiêu đề: Avtorepherat
Tác giả: Khaustov V.N
Năm: 1983

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Lịch phòng vắc xin cho gà  Ngày tuổi  Loại vắc xin  Phương pháp dùng - Hiệu quả của việc bổ sung vitamin c cho gà bố mẹ giống lương phượng nuôi tại trại giống gia cầm thịnh đán   thái nguyên
Bảng 1.2 Lịch phòng vắc xin cho gà Ngày tuổi Loại vắc xin Phương pháp dùng (Trang 16)
Bảng 1.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất - Hiệu quả của việc bổ sung vitamin c cho gà bố mẹ giống lương phượng nuôi tại trại giống gia cầm thịnh đán   thái nguyên
Bảng 1.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất (Trang 19)
Bảng 2.2. Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (%) - Hiệu quả của việc bổ sung vitamin c cho gà bố mẹ giống lương phượng nuôi tại trại giống gia cầm thịnh đán   thái nguyên
Bảng 2.2. Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (%) (Trang 43)
Bảng 2.3: Tỷ lệ đẻ của gà qua các tuần tuổi (%) - Hiệu quả của việc bổ sung vitamin c cho gà bố mẹ giống lương phượng nuôi tại trại giống gia cầm thịnh đán   thái nguyên
Bảng 2.3 Tỷ lệ đẻ của gà qua các tuần tuổi (%) (Trang 45)
Hình 2.1. Đồ thị sản lượng trứng của gà thí nghiệm từ tuần 23 - 32 - Hiệu quả của việc bổ sung vitamin c cho gà bố mẹ giống lương phượng nuôi tại trại giống gia cầm thịnh đán   thái nguyên
Hình 2.1. Đồ thị sản lượng trứng của gà thí nghiệm từ tuần 23 - 32 (Trang 47)
Bảng 2.4. Khối lƣợng trứng của gà qua các tuần tuổi (g) - Hiệu quả của việc bổ sung vitamin c cho gà bố mẹ giống lương phượng nuôi tại trại giống gia cầm thịnh đán   thái nguyên
Bảng 2.4. Khối lƣợng trứng của gà qua các tuần tuổi (g) (Trang 48)
Bảng 2.7. Tỷ lệ nở của gà thí nghiệm - Hiệu quả của việc bổ sung vitamin c cho gà bố mẹ giống lương phượng nuôi tại trại giống gia cầm thịnh đán   thái nguyên
Bảng 2.7. Tỷ lệ nở của gà thí nghiệm (Trang 51)
Bảng 2.8. Tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng - Hiệu quả của việc bổ sung vitamin c cho gà bố mẹ giống lương phượng nuôi tại trại giống gia cầm thịnh đán   thái nguyên
Bảng 2.8. Tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng (Trang 52)
Bảng 2.9. Sơ bộ hạch toán chi phí trực tiếp - Hiệu quả của việc bổ sung vitamin c cho gà bố mẹ giống lương phượng nuôi tại trại giống gia cầm thịnh đán   thái nguyên
Bảng 2.9. Sơ bộ hạch toán chi phí trực tiếp (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w