Khóa Luận cực hay và bổ ích !!!!!!!
Trang 11.1 Đặt vấn đề
Trong những năm đổi mới của đất nước, ngành chăn nuôi phát triển khánhanh và chiếm một vị trí quan trọng trong ngành sản xuất nông nghiệp Nócung cấp nguồn thực phẩm lớn có giá trị dinh dưỡng cao cho con người, ngoài
ra còn cung cấp sức kéo và phân bón cho ngành trồng trọt
Từ trước đến nay, chăn nuôi luôn có vai trò quan trọng đối với nềnnông nghiệp nước ta, giá trị chăn nuôi chiếm tỷ lệ khá cao, trên 27% cơ cấucủa toàn ngành và tăng trưởng mỗi năm (giai đoạn 2001 - 2009) đạt 7 - 8%.Theo tổng cục thống kê, năm 2010, tổng số đầu lợn đạt 27,3 triệu con, sốlượng gia cầm hơn 300 triệu con, sản lượng thịt đạt 615 nghìn tấn Đàn bòtrong cả nước đạt gần 6 triệu con, bò sữa 128 nghìn con và đàn trâu là 2,9triệu con Tổng sản phẩm chăn nuôi trong nước đạt 4.006 nghìn tấn thịt, 306nghìn tấn sữa tươi và 5,87 tỷ quả trứng
Sản phẩm của ngành chăn nuôi ngoài cung cấp cho thị trường trongnước còn xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới Vì thế yêu cầu chất lượng sảnphẩm phải cao, vừa phải đủ chất dinh dưỡng vừa phải đảm bảo chất lượng vệsinh an toàn thực phẩm Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi người chăn nuôiphải biết áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăn nuôi cho phù hợp Muốn làmđược việc đó thì bên cạnh các yếu tố về con giống, thức ăn, chăm sóc quản lýthì công tác thú y là một vấn đề rất quan trọng
Huyện Chợ Mới - tỉnh Bắc Kạn là một huyện miền núi, chủ yếu sốngdựa vào sản xuất nông nghiệp Ngành chăn nuôi đang từng bước được đầu tưvà phát triển nhưng cũng gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là chăn nuôi lợn
Do phương thức chăn nuôi còn lạc hậu, việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
Trang 2thuật vào chăn nuôi còn hạn chế, chất lượng con giống ngày càng giảm, nhiềubệnh phát sinh trong đó phải kể đến bệnh giun tròn đường tiêu hóa lợn Bệnh
do giun tròn gây ra, khi nhiễm với số lượng lớn sẽ làm cho lợn gầy còm, sinhtrưởng, phát triển chậm, giảm sức đề kháng từ đó ảnh hưởng đến hiệu quảkinh tế của ngành chăn nuôi
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn tại huyện Chợ Mới - tỉnh Bắc Kạn, để có
cơ sở khoa học, hiểu biết về đặc điểm dịch tễ của giun tròn và biện pháp
phòng trị bệnh có hiệu quả, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Điều tra tình hình dịch tễ bệnh giun tròn đường tiêu hóa lợn tại một số xã thuộc huyện Chợ Mới - tỉnh Bắc Kạn và sử dụng Mebendazol trong điều trị ”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định tỉ lệ và cường độ nhiễm giun tròn ở đường tiêu hóa lợn tạimột số xã thuộc huyện Chợ Mới - tỉnh Bắc Kạn
- Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh giun tròn đường tiêu hóa lợn
- Nghiên cứu sự lưu hành trứng và ấu trùng của giun tròn đường tiêuhóa lợn ở ngoài môi trường
- Sử dụng Mebendazol trong điều trị bệnh giun tròn đường tiêu hóalợn tại một số xã thuộc huyện Chợ Mới - tỉnh Bắc Kạn
1.3 Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ những thông tin về bệnh giun tròn đường tiêu hóa lợn, có
cơ sở khoa học để đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun tròn trên lợn Từ đósử dụng thử nghiệm thuốc Mebendazol trong điều trị
1.4 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Đề tài là thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễcủa bệnh giun tròn đường tiêu hóa lợn ở huyện Chợ Mới - tỉnh Bắc Kạn
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề ra những biện pháp phòng và trị bệnh có hiệuquả, hạn chế sự ô nhiễm trứng giun tròn từ môi trường ngoại cảnh vào cơ thểlợn, từ đó hạn chế những thiệt hại do bệnh gây ra
Trang 3PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [7] ký sinh trùng phân bố rấtrộng trong thiên nhiên, gồm các đại diện của 20 lớp động vật khác nhau.Ngành nguyên sinh động vật có số lượng loài phong phú (trên 3.000 loài)
Giun sán gồm các đại diện của 13 lớp: lớp sán lá (Trematoda) gần 3.000 loài, lớp giun tròn (Nematoda) gần 3.000 loài, lớp sán dây (Cestoda) gần 1.500 loài, lớp giun đầu gai (Acanthocephala) 500 loài…
Theo Nguyễn Thị Lê (1998) [19], ký sinh trùng phân bố rất rộng trongthiên nhiên gồm các đại diện của 20 lớp động vật khác nhau Có số lượng
loài phong phú nhất là ở loài nguyên sinh động vật trên 3000 loài Giunsán gồm đại diện của 13 lớp: Lớp sán lá gần 3000 loài, lớp giun tròn gần 3000loài, lớp sán dây gần 1500 loài, lớp giun đầu gai 500 loài
Bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá thường là những bệnh tiến triển ởthể mãn tính, triệu chứng không rõ, thường bị triệu chứng của các bệnh khácche lấp Do vậy, chính những con vật mang trùng đã trở thành nguồn gieo rắcmầm bệnh ra môi trường và lây ra cho những con khác làm cho bệnh càng cóđiều kiện phát sinh mạnh ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của vật nuôi
2.1.1 Giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa lợn
2.1.1.1 Vị trí của giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá lợn trong hệ thống phân loại động vật
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [10], ở lợn cho đến nay đã phát hiệnđược 52 loài ký sinh trùng gồm giun tròn, sán dây, sán lá, đơn bào, côn trùngký sinh Trong đó, có một số loài ký sinh trùng phổ biến mà lợn nhiễm với tỷ
lệ và cường độ cao như bệnh giun đũa lợn do Ascaris suum, bệnh sán lá ruột lợn do Fasciolopsis buski,… Những bệnh này đã gây ra các tổn thương và
viêm nhiễm kế phát do vi khuẩn sống trong các nội quan của lợn, ảnh hưởngđến quá trình sinh trưởng của lợn đặc biệt là tiêu tốn thức ăn tăng, giảm tăngtrọng từ 15 - 20% so với lợn không bệnh
Trang 4Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17] cho biết: lớp giun tròn thuộc ngành
giun tròn Nemathelminthes bao gồm hơn 500.000 loài sống ở các điều kiện
sinh thái khác nhau và phân bố rộng trên toàn cầu Phần lớn giun tròn sống tự
do, chỉ một số ít sống ký sinh ở động vật và thực vật trong khu hệ giun sán kýsinh ở gia súc Việt Nam đã thống kê được 90 loài giun tròn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5], hiện nay đã biết hơn 5.000
loài thuộc lớp giun tròn (Nematoda) trong đó có hơn 1.000 loài giun sống tự
do, hơn 3.000 loài giun sống ký sinh Các giun tròn ký sinh có liên quan nhiềutới thú y gồm 8 bộ phụ:
+ Bộ phụ giun đũa (Ascaridata)
+ Bộ phụ giun kim (Oxyurata)
+ Bộ phụ giun tóc (Trichocephalata)
+ Bộ phụ giun lươn (Rhabdiasata)
+ Bộ phụ giun xoắn (Stronggylata)
+ Bộ phụ giun đuôi xoắn (Spirurata)
+ Bộ phụ giun chỉ (Filariata)
+ Bộ phụ Dioctophymata
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17], hệ thống phân loại của một sốloài giun tròn ở đường tiêu hoá lợn được sắp xếp theo vị trí như sau:
Ngành Nemathelminthes
Lớp Nematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Enoplia Chit wood, 1933
Bộ Trichocephaliada Skrjabin et Schulz, 1928
Phân bộ Trichocephalata Skrjabin et Schulz, 1928
Họ Trichocephalidea Bard, 1953
Phân họ Trichocephalinae Ransom, 1911
Giống Trichocephalus Schrank, 1788
Loài Trichocepphalus suis schrank, 1788 Họ Trichostrongydae Witen berg, 1925
Phân họ Oesophagostomatinae Railliet, 1916
Giống Oesophagostomum Molin, 1861
Trang 5Loài Oesophagostomum dentatum
Phân lớp Rhabditia Pearse, 1942
Bộ Rhabditida Chitwood, 1933
Phân bộ Rhabditina Chitwood, 1933
Họ Strongyloididae Chitwood et Mcinstosch, 1934 Giống Strongyloides Grassi, 1879
Loài Strongyloides papillosus (Wedl, 1856) Loài Trongyloides ransomi
(Schwartz et Alicata, 1930)
Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940
Phân bộ Ascaridina Skrjabin, 1915
Họ Ascaris Linacus, 1758
Giống Ascaris Linnaeus, 1758
Loài Acaris suum Goeze, 1782.
Chu Thị Thơm và cs (2006) [28], Phan Lục và cs (2006) [20] cho biết:
giun tròn thuộc lớp Nematoda có hơn 3.000 loài sống ký sinh, nhưng giun
tròn ký sinh ở súc vật nuôi thuộc các bộ phụ sau:
+ Bộ phụ giun kim
+ Bộ phụ giun đũa
+ Bộ phụ giun xoăn
+ Bộ phụ giun tóc
+ Bộ phụ giun xoăn (Spirulata)
+ Bộ phụ giun chỉ
+ Bộ phụ Dictyophymata
+ Bộ phụ giun lươn
+ Bộ phụ Cucullanata
Trang 62.1.1.2 Thành phần loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa lợn
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17], thành phần loài giun tròn kýsinh ở đường tiêu hoá lợn gồm:
người, động vật chủ yếu gồm các đại diện thuộc các bộ sau: Trichocephaliadae, Strongyloidida, Oxyurida, Ascaridida, Spirurida.
2.1.1.3 Đặc điểm hình thái, kích thước, cấu tạo các loài giun tròn đường tiêu hóa lợn
* Đặc điểm hình thái, kích thước
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5] giun tròn ký sinh ở động vậtnuôi có hình sợi chỉ, hình ống, hình thoi, có thể hình tròn (Tetrameres ở mềgà), hai bên đối xứng có mặt lưng và mặt bụng không phân đốt Đầu tù, đuôinhọn Có giun đực và giun cái Giun cái lớn hơn giun đực, giun đực đuôicong, giun cái đuôi thẳng Kích thước thay đổi tuỳ loài, có loài dài 1mm, cóloài dài tới 8,4m như giun Placentonema gigan-tissima
Theo Chu Thị Thơm và cs (2006) [28], Phan Lục và cs (2006) [20],
giun tròn thuộc lớp Nematoda, ngành Nemathelminthes, cơ thể hình ống,
Trang 7hình sợi nhưng hai đầu thon nhỏ dần hoặc hình ống phân thuỳ có thể hìnhthoi, hình tròn, hai bên đối xứng có mặt lưng và mặt bụng không phân đốt.Đầu tù, đuôi nhọn, có giun đực và giun cái Giun cái lớn hơn giun đực, giunđực đuôi cong, giun cái đuôi thẳng Kích thước giun thay đổi tuỳ loài Giuntròn gồm nhiều loài sống ký sinh ở động vật và thực vật.
- Đặc điểm hình thái giun đũa lợn
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5] cho biết: Giun đũa ký sinh ở gia
súc, gia cầm thuộc bộ phụ Ascaridata Bệnh giun đũa lợn do loài Ascaris suum gây nên, giun ký sinh ở ruột non của lợn nhà và lợn rừng.
Theo Phan Lục và cs (2006) [20], giun đũa lợn có màu trắng sữa, hìnhống, hai đầu hơi nhọn Đầu giun đũa có 3 môi bao bọc quanh miệng (1 môi ởphía lưng, 2 môi ở phía bụng) Trên rìa môi có một hàng răng cưa rất rõ, cấutạo của răng này rất khác nhau giữa hai loài giun đũa, hàng răng cưa ở giunđũa người không rõ bằng giun đũa lợn Giun đực dài 10 - 22 cm, đường
kính 3,2 - 4,4 mm Đoạn đuôi cong về phía bụng Trên mặt bụng ở mỗi bêncó từ 69 - 75 gai thịt, có 7 gai thịt sau hậu môn Con cái dài từ 20 - 30 cm,đường kính 5 - 6 mm, đoạn sau thẳng Đuôi mang hậu môn về phía bụng, hậumôn có hình dạng một cái khe ngang, bọc hai môi gồ lên, âm hộ có hình dángmột lỗ nhỏ hình bầu dục ở về phía bụng khoảng 1/3 đoạn trước thân
Phân biệt giữa giun đực và giun cái là giun đực nhỏ, đuôi cong về mặtbụng, đuôi giun cái to duỗi thẳng Giun đực có hai gai giao hợp dài bằngnhau, khoảng cách 1,2 - 2 mm không có túi giao hợp
Theo Trương Lăng (2000) [12], Phạm sỹ lăng và cs (1997) [9]: Giunđực dài 15-25cm, giun cái dài 25-40cm
Giun cái có 27 triệu trứng, mỗi ngày đẻ 200.000 trứng Trứng giun đũacó thể sống rất lâu từ 11 tháng đến 5 năm Trứng có sức đề kháng mạnh vớitất cả các loại hóa chất (base, acid) chống đỡ kém với khô ráo và ánh sángmặt trời rọi trực tiếp
Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [9] cho biết: Trứng có phôi màu vàng nâukích thước 50-70 x 40-60
Trang 8Trứng không phôi: hình bầu dục 80-90 x 44, có thể có hoặc không cólớp vỏ Albumin dày bọc bên ngoài.
Theo Đào Trọng Đạt (1995) [3], trứng giun đũa hình ovan, vỏ dầy, bềmặt nhăn nheo, màu vàng, trong có nhân màu vàng thẫm Kích thước từ 45 -
85 m x 35 - 55 m Vỏ trứng giun có tác dụng phòng vệ cao trong vòng đờiphát triển của giun
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2007) [11]: Con đực dài 10 - 22 cm, con cáidài 24 - 30 cm Trứng hình ovan, có vỏ dày, hình răng cưa, màu vàng, kíchthước 0,055 - 0,080 x 0,040 - 0,055 mm
-Đặc điểm hình thái, kích thước giun lươn ở lợn (Strongyloides ransomi)
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5] bệnh giun lươn do các loàithuộc giống Strongyloides, họ Rhabditidae gây nên Trong đó có 3 loài phổ biến:
S.papillosus: Túi miệng nhỏ Thực quản hình ống nhỏ, không có chỗ
phình Đuôi ngắn Giun cái sống ký sinh dài 4,8 - 6,3 x 0,05 - 0,06 mm Trứngcó kích thước 0,040 - 0,06 x 0,020 - 0,025 mm, 2 đầu tù, vỏ mỏng, trong trứngcó ấu trùng
S.westeri: Giun cái ký sinh dài 5,1 - 9,0 x 0,08 - 0,09 mm, đuôi nhọn và
nhỏ Thực quản hình ống dài 1,2 - 1,5 mm Lỗ sinh sản ở 1/3 đoạn thân sau, cónắp âm hộ nhô ra Buồng trứng uốn khúc Trứng hình bầu dục, có khi tròn, kích thước 0,03 - 0,048 x 0,018 - 0,03 mm Phần lớn trứng mới theo phân ra ngoàibên trong đã có ấu trùng
S.ransomi: Giun cái sống ký sinh dài 2,1 - 4,4 mm Đuôi ngắn Âm hộ ở
vào nửa sau của thân giun Buồng trứng uốn khúc Trứng hình bầu dục, màutrắng, kích thước 0,045 - 0,055 x 0,026 - 0,035 mm, trong trứng có ấu trùng
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [10] cho biết: Tác nhân gây bệnh giun
lươn ở Việt Nam là hai loài giun lươn thuộc giống Strongyloides ký sinh ở
ruột non của lợn có hình thái sau:
Loài Strongyloides ransomi (Schwartf et Alicata, 1930): Ký sinh ở ruột
non lợn Giun đực có hình sợi, dài 0,87 - 0,90 mm, lỗ huyệt cách nút đuôi0,07mm Giun cái dài 2,1 - 4,2 mm, rộng 0,04 - 0,08 mm Lỗ sinh dục ở 1/3phần sau cơ thể cách mút đuôi là 0,36 - 1,53 mm, hai buồng trứng là các ốngmỏng xuất phát gần lỗ sinh dục, một buồng trứng hướng lên phía trên cơ
Trang 9thể, buồng còn lại hướng phía đuôi Tử cung chứa 1 - 10 trứng, trứng giungiống hình trứng gà, kích thước 0,037- 0,060 mm x 0,025 - 0,042 mm
Loài Strongyloides papillosusus (Wedl, 1856): Ký sinh ở ruột non của
bò và lợn, con đực chưa được mô tả, con cái hình chữ S, dài 4,8 - 6,3 mm,rộng 0,042 - 0,078 mm, lỗ miệng có 4 môi (1 môi lưng, 1 môi bụng, 2 môibên), thực quản dài 0,770 - 1,029 mm, lỗ sinh dục có rãnh ngang, cách mútđuôi 1,8 - 2,3 mm, hai bên có mấu lồi kitin, đầu 2 buồng trứng rất gần lỗsinh dục, một buồng chạy về phía trước, một buồng chạy về phía sau cơ thể.Tử cung chứa 4 - 75 trứng Trứng có vỏ mỏng và phẳng, kích thước 0,048 -0,060 mm x 0,025 - 0,036 mm
- Đặc điểm hình thái, kích thước giun tóc ở lợn (Trichocephalus suis)
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5], Phạm Sỹ Lăng và cs(2006) [7] cho biết, giun có màu trắng đục, giống một sợi tóc, cơ thể chia làmhai phần rõ rệt: Phần đầu nhỏ thực quản có các tế bào xếp thành chuỗi
hạt, có chiều dài bằng 2/3 cơ thể phần sau ngắn và to, bên trong là ruột và cơquan sinh sản Giun đực dài 20 - 52 mm, rộng 0,634 - 0,713 mm, đuôi hơi tù,phần đuôi cuộn tròn lại Chỉ có gai giao hợp dài 5 - 7 mm được bao bọc trongcái màng có nhiều gai nhỏ bao phủ, lỗ huyệt thông ra ngoài ở phần cuối củagiun Giun cái dài 39 - 53 mm, đuôi thẳng, hậu môn ở vào phần cuối của thân,
âm hộ ở đoạn cuối cùng của thực quản
Trứng giun tóc hình hạt chanh, màu vàng nhạt, có 2 núm ở 2 đầu, cókích thước 0,052 - 0,061 x 0,027 - 0,03 mm
- Đặc điểm hình thái, kích thước giun kết hạt (Oesophagostomum dentatum)
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5], các loài thuộc giống
Oesophagostomum có đặc điểm hình thái chung là túi miệng hình ống rất
nhỏ, quanh miệng có một bờ gồ lên hình đĩa, có các tua ở quanh miệng, córãnh cổ, phía trước rãnh cổ biểu bì nở ra tạo thành túi đầu, sau rãnh cổ cógai, giun đực có túi đuôi và một đôi gai giao hợp dài bằng nhau, âm hộ giuncái ở gần hậu môn
Trang 10Loài Oesophagostomum dentatum ký sinh ở ruột già của lợn, là loài giun
tròn nhỏ, không có cánh đầu Có 9 rua ngoài và 18 rua trong, túi đầu to gai cổ ởhai bên chỗ phình to của thực quản Giun đực dài 8 - 9 mm, rộng 0,14 - 0,37
mm, có túi đuôi, hai gai giao hợp dài 1 - 1,14 mm Giun cái dài 8 - 11,2 mm,
âm đạo dài 0,1- 0,15 mm, hơi xuyên vào cơ quan thải trứng
* Đặc điểm hình thái, kích thước của giun dạ dày lợn (Gnathostoma)
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [9]: ở miền nam Việt Nam thấy ít nhất là
4 loài Gnathostoma: G.spinigenum, G.hispidum, G.doloresi, G.vietnamicum Loài G.hispidum và G.doloresi thấy ở lợn, còn G.spinigenum thấy ở người, G.vietnamicum thấy ở dái cá.
Gnathostoma hispidum Eeatschenko 1987 (Bộ Spiruroidea, họ Gnathostomidea) Loài này thấy ở dạ dày lợn châu Âu, châu Á, rất giống G.spinigenum ký sinh ở chó Con cái 45mm, con đực 15 - 25 mm trên mình
toàn thân phủ nhiều gai, đoạn đầu màu hồng và phấn trên màu xám Giuntrưởng thành thấy cắm sâu vào lớp cơ của dạ dày lợn
Gnathostoma doloresi Tubangui 1925 Sự phân bố của giun này không rộng bằng G hispidum Chỉ xác định được 2 giun trưởng thành (cái) trong
những giun Gnathostoma lấy được ở lò sát sinh Chánh Hưng, ở lợn địaphương, nguồn gốc từ miền Nam Việt Nam
* Cấu tạo của giun tròn ở lợn
Lớp ngoài là biểu bì bằng giác chất (kitin), có vân ngang, vân dọchoặc vân chéo Một số loài giun tròn có những chỗ biểu bì phình to gọi làcánh (cánh thân, cánh đuôi - chỉ có một số giun đực có cánh đuôi) Một sốloài giun có gai chồi và các bộ phận phụ khác có tác dụng cảm giác, vận độngvà bám vào ký chủ Dưới lớp biểu bì là lớp hạ bì gồm một lớp tế bào dẹt.Trong cùng là lớp tế bào cơ có hình sợi, hình bó hoặc hình vòng (tuỳ loài)
Giun tròn thường có môi, gai, xoang miệng Một số loài giun tròn cótúi đuôi, cơ thể giun thường được bao bọc bằng lớp vỏ ngoài dày Trên lớp vỏnày có những vân ngang, dọc, giác, móc và các cấu tạo phụ khác Thành phầncủa lớp vỏ gồm những chất có trọng lượng phân tử lớn chịu đựng khoẻ với
Trang 11hoá chất, dịch tiêu hoá và chức năng như áo giáp bảo vệ đời sống ký sinh củagiun Lớp vỏ ngoài gồm nhiều lớp, những giun ký sinh đường tiêu hoá có từ 7
- 10 lớp (lớp vỏ ngoài, lớp vỏ trong, lớp phiến ngoài, lớp đồng thể, lớp phiếntrong, lớp hình băng dải, lớp bazan, lớp màng bazan, lớp nhiều thớ sợi, màngkép bazan)
Dưới lớp vỏ cutin là lớp biểu mô và tiếp đến là lớp cơ giúp giun dichuyển được Sau lớp cơ có những tế bào mầm giúp quá trình trao đổi chấtcủa giun Lớp vỏ cutin cùng với lớp cơ tạo thành túi da cơ, bên trong là xoang
cơ thể có chứa các khí quan:
+ Hệ tiêu hoá: Giun tròn có hệ tiêu hoá khá hoàn chỉnh Có một ống dài
chạy dọc theo thân gồm: Môi Miệng Thực quản Ruột Trực tràng
Hậu môn
Môi (có thể có 3 lá môi quanh miệng hoặc không có, hoặc không rõ).Miệng (thường ở đỉnh đầu), xung quanh miệng là môi, mào Một sốloài có xoang miệng, đôi khi có răng bên trong Sau miệng là thực quản hìnhviên trụ hoặc củ hành, cuối thực quản có tuyến tiết ra dịch tiêu hoá Ruột cóống dài, tận cùng là lỗ hậu môn thường ở cuối thân Riêng giun chỉ
(Filariata) không có lỗ hậu môn.
+ Hệ bài tiết: Gồm có hai ống bắt nguồn từ phía sau và hợp lại ở phía
trước rồi đổ ra ngoài qua lỗ bài tiết ở ngang vùng thực quản
+ Hệ thần kinh: Gồm có một vòng thần kinh thực quản, từ đó phân ra
nhiều nhánh thần kinh đi về phía trước và sau tới các phần của cơ thể Có nhiều nhánh nhỏ nối với các nhánh chính này Đầu mút sợi thần kinh nhỏ nằmtrong các gai ở đầu, cổ, thân giun - đó là các gai cảm giác
+ Hệ sinh dục: Hầu hết giun tròn là đơn tính (đực, cái riêng biệt) Bộ
phận sinh dục đực gồm có hai ống nhỏ uốn khúc, có các bộ phận tinh hoàn,ống dẫn tinh, túi bắn tinh thông với lỗ sinh tiết ở cùng chỗ với trực tràng Gần
lỗ sinh tiết có các bộ phận phụ: gai giao hợp (có hoặc không có), bánh lái giaohợp (điều tiết sự vận động), một số giun tròn có bánh lái phụ ở phía bụng củagai giao hợp, lỗ sinh dục giun đực thông ra mặt bụng ở phía đuôi Có nhiều
Trang 12giun đực ở đuôi có cánh đuôi hình thành túi giao hợp, túi đuôi giống hình cáiquạt giấy, đối xứng nhau Có các gai chồi sinh dục hình thành những sườnnâng đỡ túi giao hợp (sườn bụng, sườn lưng, sườn hông) Bộ phận sinh dụccái: Gồm hai ống nhỏ uốn khúc hợp với nhau gồm buồng trứng, ống dẫntrứng, tử cung, âm đạo thông ra ngoài qua lỗ sinh dục gọi là âm hộ ở mặtbụng giun Vị trí âm hộ có thể ở phía trước, phía sau, ở gần hậu môn hoặc ởđoạn giữa giun, một số loài có nắp âm hộ.
+ Bộ phận hô hấp và tuần hoàn: không có (hô hấp yếm khí), vì sống
trong môi trường yếm khí
2.1.1.4 Vòng đời giun tròn đường tiêu hóa
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5]: Giun tròn có thể đẻ trứng(giun đũa, giun tóc) hoặc đẻ ra ấu trĩ (giun xoắn, giun chỉ) Ở ngoại cảnh, trứngvà ấu trùng này phải có thời gian phát triển thành trứng hoặc ấu trùng gây nhiễm
Ấu trùng phải trải qua hai lần lột xác thì thành ấu trùng gây nhiễm Quá trình lộtxác như sau: dưới lớp biểu bì cũ sinh ra một lớp biểu bì mới, rồi lớp biểu bì cũthay thế lớp biểu bì mới (có loài vẫn giữ lớp biểu bì cũ tạo thành màng bọc ấutrùng, giúp nó chống đỡ với điều kiện ngoại cảnh bất lợi)
Có 2 loại: Loại không cần KCTG (Loại hình giun đũa, giun tóc, giunkim, giun móc, giun xoắn) và loại cần KCTG (Loại hình giun đuôi xoắn,Protostrongylidar, giun chỉ)
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17], đa số giun tròn đẻ trứng, một sốloài đẻ ấu trùng Trứng được bao bọc trong nhiều lớp vỏ, vỏ ngoài phẳng hoặclồi lõm, ở một số loài trứng có nắp ở hai cực Trứng hoặc ấu trùng của giuntròn được thải ra môi trường ngoài cùng với phân, đờm, nước tiểu và nướcmắt của gia súc
Chu kỳ sống của giun tròn rất đa dạng, một số phát triển trực tiếp nghĩalà không có thay đổi vật chủ gọi là giun tròn ký sinh sinh học
Căn cứ vào đặc điểm quá trình phát triển, giun tròn được chia làm hai dạng:
+ Giun tròn phát triển trực tiếp (giun tròn địa ốc): Vòng đời phát triển
của những loài giun này không cần vật chủ trung gian Trứng hoặc ấu trùngsau khi được thải trừ từ vật chủ ra môi trường ngoài, tiếp tục phát triển, lột
Trang 13Trứng Trứng có ấu trùng A1
trứng
Xâm nhập vào vật chủ cuối cùng lột xác
xác đến giai đoạn gây nhiễm (ấu trùng giai đoạn III), và nhiễm trực tiếp chovật chủ Giun tròn phát triển trực tiếp gồm hai kiểu:
Kiểu thứ nhất: Thường gặp ở giun đũa, giun tóc, giun kim Quá trìnhphát triển theo sơ đồ sau:
Dạng trưởng thành → trứng → trứng gây nhiễm(vật chủ cuối cùng) (chứa ấu trùng A3)
Kiểu thứ hai: Thường gặp ở giun xoắn (strongylidae), giun thận (stephanurus), giun móc (ancylostoma)… và diễn ra như sau:
+ Giun tròn phát triển gián tiếp (giun tròn sinh học): Vòng đời phát
triển của những loài giun này cần có vật chủ trung gian Ấu trùng phát triểnđến giai đoạn gây nhiễm ở trong vật chủ trung gian Giun tròn phát triển giántiếp gồm hai kiểu:
Kiểu thứ nhất: Thường gặp ở giun đuôi xoắn (spirurata), giun phổi (metastrongylus)… Giun trưởng thành trong vật chủ cuối cùng sau khi thụ
tinh đẻ trứng Khi ra khỏi vật chủ, trong trứng đã có ấu trùng A1 Vật chủtrung gian (côn trùng, giáp xác, giun đất…) nuốt phải những trứng này, ấutrùng thoát khỏi vỏ trứng, lột xác và phát triển thành ấu trùng A2, lại lột xácthành ấu trùng A3 (gây nhiễm) Khi xâm nhập vào vật chủ cuối cùng, ấu trùnggây nhiễm tiếp tục phát triển thành giun trưởng thành
Trang 14Kiểu thứ hai: Thường gặp ở giun chỉ (Filariata) Giun trưởng thành thụ
tinh, đẻ ấu trùng A1 trong cơ thể vật chủ Ấu trùng A1 vào hệ tuần hoàn, vàomáu Khi vật chủ trung gian (côn trùng) hút máu, ấu trùng A1 xâm nhập vàovật chủ trung gian và phát triển thành ấu trùng A2, A3 (ấu trùng gây nhiễm).Khi côn trùng là vật chủ trung gian hút máu, ấu trùng A3 xâm nhập vào vậtchủ cuối cùng và phát triển thành giun trưởng thành
Ngoài các dạng trên, giun xoắn (Trichinella spiralis) có vòng đời phát
triển rất đặc biệt Giun cái đẻ ấu trùng ở niêm mạc ruột vật chủ Ấu trùng xâmnhập vào hệ tuần hoàn và di hành về các cơ, tạo thành ấu trùng gây nhiễm Vìthế, vật chủ cuối cùng và vật chủ trung gian là cùng một động vật nhiễm
Trichinella spiralis.
* Vòng đời giun đũa lợn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5]: Giun cái đẻ trứng chưa cósức gây nhiễm, gặp điều kiện thuận lợi 2 - 15 ngày trứng phát triển thànhtrứng có ấu trùng có sức gây nhiễm Khi ký chủ nuốt phải trứng này thì ấutrừng nở ra, chui vào mạch máu thành ruột, về tĩnh mạch gan, tới tĩnh mạchcủa tim và phổi Sau cùng vào khí quản, theo đờm lên hầu rồi xuống dạ dàyvà ruột thành giun trưởng thành
Giun đũa lợn phát triển không cần KCTG
Giun cái đẻ mỗi ngày 200.000 trứng, trung bình một giun cái đẻ 27triệu trứng (Cram, 1923) Trứng theo phân ra ngoài, ở nhiệt độ khoảng 240Cvà ẩm độ thích hợp, trong 2 tuần trong trứng có phôi thai, sau một tuần nữathì phôi thai lột xác thành trứng có sức gây bệnh Lợn nuốt phải trứng này thìấu trùng nở ở ruột, chui qua niêm mạc vào mạch máu, theo máu về gan Một
số ít chui vào ống lâm ba và màng treo ruột, vào tĩnh mạch màng treo ruộtvào gan Sau khi nhiễm 4 - 5 ngày thì hầu hết ấu trùng di hành tới phổi, sớmnhất là sau 18 giờ muộn nhất là sau 12 ngày vẫn có ấu trùng vào phổi Khi tớiphổi, ấu trùng lột xác thành ấu trùng kỳ III, ấu trùng này từ mạch máu phổichui vào tế bào, qua khí quản và cùng với niêm dịch lên hầu, rồi
Trang 15được nuốt xuống ruột non, lột xác lần nữa và phát triển thành giun trưởngthành Thời gian ấu trùng di hành là 2 - 3 tuần, trong khi di hành một số ấutrùng có thể vào lách, tuyến giáp trạng, não,…
Giun đũa sống bằng chất dinh dưỡng của ký chủ, bằng cách tiết dịchtiêu hoá, phân giải tổ chức ở niêm mạc ruột và lấy tổ chức đó nuôi bản thân
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5] cho biết: vòng di chuyển củagiun đũa là vòng di chuyển từ gan - phổi - ruột
Trang 16Ascaris suum
(Ký sinh ở ruột non lợn) Trứng Ấu trùng
(có sức gây nhiễm)
Ấu trùngPhổi<-Gan<-Máu<-Niêm mạc ruột
Theo Phan Lục (2006) [20], giun đũa ký sinh ở ruột non Sau khi thụtinh, giun cái đẻ trứng số lượng trứng từ 10.000 - 150.000 trứng/ngày Trứngtheo phân ra môi trường ngoài, sau 2 - 3 tuần trong trứng phát triển thành ấutrùng gây nhiễm Nếu lợn nuốt phải trứng gây nhiễm ở đường tiêu hoá, ấutrùng được giải phóng ra xuyên qua niêm mạc ruột, vào tĩnh mạch màng treo,theo tuần hoàn về tim phổi Ấu trùng được ho lên miệng, cùng niêm dịchviêm phổi trở lại đường tiêu hoá, lột xác thành giun trưởng thành, ký sinh ởruột non và tiếp tục đẻ trứng sau 2 - 2,5 tháng
* Vòng đời giun lươn lợn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5], giun lươn cái đẻ trứng ởruột non, trứng theo phân ra ngoài đã có ấu trùng ở bên trong Trứng ra ngoàisẽ phát triển theo hai hướng:
-Trực tiếp: Vào mùa hè (ấm áp) trứng phát triển nhanh, sau 5 - 6 giờ nở raấu trùng giun lươn, 1 - 2 ngày sau phát triển thành ấu trùng có sức gây nhiễm
-Gián tiếp: Ấu trùng phát triển thành giun đực và giun cái Sau giao phối,giun cái đẻ ra trứng có ấu trùng, ấu trùng có sức gây nhiễm ở hướng phát triểntrực tiếp hay gián tiếp hoàn toàn giống nhau (dài 0,6 - 0,7 mm, thực quản hìnhống dài, không có chỗ phình to) Ấu trùng này vào cơ thể ký chủ theo hai đường:
+ Chui qua da vào tổ chức liên kết, tới cơ, theo máu hệ lâm ba về phổi,ấu trùng chui qua mạch máu vào chi nhánh khí quản, theo đờm lên hầu rồiđược nuốt xuống ruột non, sau 6 - 8 ngày thì thành giun lươn ký sinh
Trang 17+ Qua đường tiêu hoá, ấu trùng lẫn vào thức ăn, nước uống, vào đườngtiêu hoá thì chui qua niêm mạc dạ dày vào mạch máu, vào phổi cũng giốngnhư trên.
Tuổi thọ của giun lươn ở gia súc non khoảng 5 - 9 tháng
Phạm Sỹ Lăng (2006) [10] cho biết, giun sống trong hoặc dưới lớpniêm mạc ruột non Giun cái sống ký sinh và sinh sản đơn tính Giun đực vàgiun cái sống tự do và thực hiện giao cấu ngoài ký chủ Sự cảm nhiễm của vậtchủ do nuốt phải ấu trùng cảm nhiễm giai đoạn III và ấu trùng này chui qua
da Sau khi vào cơ thể gia súc mang thai ấu trùng có thể di hành trong máu,qua nhau thai gây nhiễm cho bào thai trước khi sinh Ký sinh trùng còn có thểxâm nhập vào cơ thể vật nuôi sơ sinh qua bú sữa đầu
Ấu trùng sau khi xâm nhập vào máu về phổi, đi vào các phế nang, gây
ho và tiết dịch Chúng phát triển trong cơ thể vật chủ đến trưởng thành mấtkhoảng 9 ngày Sự phát triển của chúng theo hai con đường:
-Một là vòng đời đơn tính do giun cái trưởng thành đẻ trứng trong cơthể vật chủ mà không cần thụ tinh Trứng thải qua phân ra ngoài rồi phát triểnthành ấu trùng cảm nhiễm giai đoạn III
-Hai là vòng đời hữu tính, giun trưởng thành đẻ trứng ở ruột non, trứngphát triển thành ấu trùng các giai đoạn, các ấu trùng này phát triển thành giunđực và giun cái trưởng thành Chúng có thể sống ngoài cơ thể vật chủ Trứngđược thụ tinh, nhóm này sẽ phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm và được vậtchủ nuốt vào cơ thể, giai đoạn này thực hiện trong vòng 10 ngày
* Vòng đời của giun tóc lợn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5], vòng đời phát triển củagiun tóc diễn ra theo sơ đồ sau:
Trang 18Trichocephalus suis
(có sức gây nhiễm) nhggggagggggggâygggnhnhinhinhiễm)
Ấu trùng
Phân t0, A0, pH
Gia súc nuốt
Thọc sâu đầu vào niêm mạc ruột
Thời gian hoàn thành vòng đời là 30 - 52 ngày
Giun cái đẻ trứng trong ruột già của ký chủ Trứng theo phân ra ngoài,
gặp điều kiện thuận lợi qua 15 - 28 ngày trứng phát triển thành trứng có sức
gây bệnh Trứng này theo thức ăn, nước uống vào đường tiêu hoá của ký chủ,
ấu trùng được nở ra, chui sâu vào niêm mạc ruột già, tiếp tục phát triển thành
giun trưởng thành
Thời gian hoàn thành vòng đời trong cơ thể tuỳ loài giun tóc nhưng đối
với Trichocephalus suis cần 30 ngày.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [10], giun tóc phát triển vòng đời
không cần vật chủ trung gian Giun cái đẻ trứng trong ruột già của vật chủ
Trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ 18 - 300C, ẩm độ
80 - 85%) sẽ phát triển thành trứng cảm nhiễm sau 15 - 28 ngày
Lợn nuốt phải trứng cảm nhiễm qua thức ăn, nước uống sẽ bị nhiễm giun,
Trứng cảm nhiễm vào ruột lợn phát triển thành giun trưởng thành cần 30 ngày
*Vòng đời của giun kết hạt lợn
Theo Phạm Sỹ Lăng (1997) [9] Vòng đời của giun kết hạt không cần
vật chủ trung gian Trứng có kích thước 70 - 74 m x 40 - 42 m gồm 8 - 16
hạt (trong vỏ trứng khi mới nở gặp ở nhiệt độ 25 - 270C), sau 7 - 10 giờ
Trang 19Trứng Ấu trùng kì I
Ấu trùng kì V
(phát triển trong xoang ruột)
trứng nở thành ấu trùng, ấu trùng I sau 24 giờ ở nhiệt độ 22 - 240C phát dụcthành ấu trùng II, sau 2 ngày thì thành ấu trùng gây nhiễm III Trứng nởthành ấu trùng ở ngoại cảnh Ấu trùng trải qua hai lần biến thái để trở thànhấu trùng có sức gây bệnh Ấu trùng chui vào niêm mạc ruột và tạo thành hạttrên thành ruột
Thời gian hoàn thành vòng đời 24 - 43 ngày
Trứng theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ 25 - 270C, sau 10 - 17 giờ nởthành ấu trùng, qua 2 lần lột xác, sau 7 - 8 ngày thành ấu trùng gây nhiễm.Khi ký chủ nuốt phải, ấu trùng này tới ruột thì chui vào niêm mạc ruột tạothành những u kén, lột xác lần thứ 3, tới ngày 6 - 8 thì thành ấu trùng kì IV,sau đó rời khỏi niêm mạc ruột vào xoang ruột và lột xác lần nữa thành giuntrưởng thành
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5] thời gian hoàn thành vòngđời tùy từng loài giun: Oes.columbianum cần 32 ngày, Oes.venulosum cần 24
- 30 ngày, Oes.radiatum cần 32 - 43 ngày
Trang 20* Vòng đời của giun dạ dày lợn
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [9], Trương Lăng (2000) [12]: Trứngtheo phân lợn ra ngoài, vỏ dày, kích thước 70 - 75 x 40 (micron) Ký chủtrung gian là loài giáp xác thuộc họ Cyclopidae (Glonin 1956) Trứng sau khithải ra theo phân lợn tùy theo điều kiện nhiệt độ khoảng 10 - 15 ngày nở thànhấu trùng Ấu trùng có thể sống ở nước 220C được 2 -3 ngày Sau đó Cyclops từngày thứ 7 đến ngày thứ 12 thì ấu trùng phát triển đến giai đoạn gây nhiễm cholợn Nhưng cũng có mỏm đầu và gai biểu bì giống như giun trưởng thành Ấutrùng này cũng có thể xâm nhiễm vào ký chủ trung gian dự trữ thứ 2 khác nhưcá, ếch bọc thành kén và cũng phát triển về thể tích đôi chút
Lợn bị nhiễm do 2 trường hợp:
-Do uống nước có Cyclops đã có chứa ấu trùng xâm nhiễm
- Ăn phải ký chủ trung gian thứ 2 (ếch, cá ) có chứa ấu trùng trongkén Vào lợn ấu trùng Gnathostoma di hành trực tiếp lên dạ dày lợn, cũng cótrường hợp ngoại lệ xảy ra (di hành không đúng quy luật) thấy một mặt giunnon vào các cơ quan khác đặc biệt là gan và động mạch gan
2.1.1.5 Tính chuyên biệt của giun tròn đường tiêu hóa lợn
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5] cho biết: Takate (1951) lấy trứnggiun đũa lợn gây nhiễm cho 19 người lớn thì có 7 người bị nhiễm TheoMozgovoi (1953) thì ngoài người ra còn có 10 loài động vật khác như lợn,chó… cũng nhiễm giun đũa người Vì vậy tác giả thừa nhận giun đũa lợn vàgiun đũa người không cùng một loài Xét về mặt dịch tễ, ở một khu vực lợnnhiễm giun đũa với tỷ lệ rất cao nhưng người nhiễm không cao Điều đóchứng tỏ giun đũa lợn và giun đũa người là 2 loài khác nhau và không có liênquan trực tiếp
2.1.1.6 Sức đề kháng của giun tròn đường tiêu hóa lợn
*Sức đề kháng của giun đũa ở lợn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5], trứng giun đũa có sức đềkháng rất cao do có 4 lớp vỏ dày, trong điều kiện tự nhiên sống được 1- 2năm, có sức đề kháng mạnh với một số chất hoá học như Formol 2%, Creolin3%, H2SO4 1%, NaOH 2%
Trang 21Ở nhiệt độ 45 - 500C chết trong nửa giờ, nước nóng 600C diệt trứngtrong 5 phút, nước 700C chỉ cần 1 - 10 giây Vì vậy ủ phân theo phương phápnhiệt sinh học sẽ diệt được trứng giun đũa.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [9] trứng có sức đề kháng rất mạnhvới tất cả các loại hóa chất (bazơ, axít) chống đỡ kém với khô ráo và ánh nắngmặt trời chiếu trực tiếp Tuổi thọ của giun đũa khoảng 7 - 10 tháng Hết tuổithọ giun đũa theo phân lợn ra ngoài Asen (1958) cho rằng tuổi thọ của giunđũa là 55 tuần
Theo Trương Lăng (2000) [12], trứng giun đũa có thể sống rất lâu từ 11tháng đến 5 năm Trứng có sức đề kháng mạnh với tất cả các loại hóa chất(base, acid) chống đỡ kém với khô ráo và ánh sáng mặt trời rọi trực tiếp
Theo Nguyễn Phước Tương (2002) [30], trứng giun đũa khi thải quaphân đã có phôi Trứng tiếp tục phát triển phụ thuộc vào áp lực oxy, nhiệt độ,ẩm độ, môi trường Ở vùng khô lạnh trứng có thể sống trên 6 năm
Nuôi trong phòng thí nghiệm trứng phát triển thành phôi thai bìnhthường trong dung dịch foocmol 2% Theo Soulsby (1965), dưới ánh sángmặt trời trực tiếp trứng bị diệt trong một vài tuần Theo Phạm Chức (1980),trứng giun đũa phát triển bình thường trong axit axetic và axit lactic 20%nhưng axit picric đặc có thể dung giải vỏ kitin Trứng bị phá huỷ trong NaOH10% ở 700C trong vòng 15 - 20 phút Formalin 10% làm cho trứng không nởvà ấu trùng trở nên không gây nhiễm
*Sức đề kháng của giun lươn ở lợn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5] trứng giun lươn có sức đềkháng yếu ở nhiệt độ thấp trứng ngừng phát triển Ở trên 500C và - 90C trứngbị chết Ấu trùng gây nhiễm sống ở nơi ẩm ướt được 2 tháng, không sốngđược ở nơi khô hạn
* Sức đề kháng của giun kết hạt lợn
Sức đề kháng của giun kết hạt là 5 - 90C trứng ngừng phát triển, ởnhiệt độ 350C trứng bị chết Gặp điều kiện thích hợp trứng phát triển thành ấutrùng gây nhiễm trên dưới một tuần
Trang 222.1.2 Tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn
2.1.2.1 Những thiệt hại kinh tế do bệnh giun tròn gây ra ở lợn
Theo Trương Lăng (2000) [12]: Bệnh giun đũa khá phổ biến ở lợn
2 - 6 tháng tuổi, làm sinh trưởng phát dục của lợn không đầy đủ, sản phẩmthịt giảm 30%
2.1.2.2 Dịch tễ học bệnh giun tròn đường tiêu hóa gây ra ở lợn
* Dịch tễ học bệnh giun đũa lợn
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [9], giun đũa phân bố rộng khắp thếgiới nguyên nhân chính là do vòng đời của giun đũa rất đơn giản, truyền trựctiếp và sức đề kháng của trứng giun rất cao
Theo Trương Lăng (2000) [12], tỉ lệ nhiễm giun đũa qua các tháng tuổicủa lợn: dưới 2 tháng tuổi 39%, 3 - 4 tháng tuổi 48%, 5 - 7 tháng tuổi 58%,trên 8 tháng tuổi chiếm 25%
Theo Phan Lục và cs (2006) [20], lợn thường nhiễm giun đũa với tỷ lệcao, cường độ lớn ở lứa tuổi 3 - 5 tháng Lợn nuôi thả có tỷ lệ nhiễm giun caohơn nuôi nhốt Lợn thiếu dinh dưỡng, thiếu vitamin thường bị nhiễm giun caohơn so với lợn đầy đủ dinh dưỡng Trứng giun ở giai đoạn gây nhiễm có sức
đề kháng tốt với điều kiện bất lợi của môi trường
Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [16], điều tra mổ khám lợn ở 7 tỉnhmiền Bắc và miền Trung kết quả như sau: Tỷ lệ lợn nhiễm giun đũa từ 13,2 -43,55% với cường độ nhiễm trung bình từ 3,0 - 21,5 con/lợn Tỷ lệ nhiễmgiun tóc từ 12,5 - 40,3% với cường độ nhiễm cao có trường hợp thấy 1219con giun tóc ở ruột già của 1 lợn
Về biến động nhiễm giun tròn theo lứa tuổi, tác giả Phan Địch Lân và
cs (2005) [8] cho biết: tỷ lệ lợn nhiễm giun đũa cao ở lứa tuổi dưới 2 thángđến 7 tháng tuổi, sau đó tỷ lệ giảm dần theo tuổi Lợn con dưới 2 tháng tuổi tỷ
lệ nhiễm 39,2%, lợn 3 - 4 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 48,0%, lợn 5 - 7 tháng tuổi tỷ
lệ nhiễm 48,3%, trên 8 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 24,9% Do vậy, nắm được sựbiến động nhiễm giun tròn theo tuổi để làm cơ sở cho kế hoạch tẩy trừ giuntròn và phòng bệnh
Đường truyền bệnh: Chủ yếu qua đường tiêu hóa, lợn liếm dụng cụ,máng ăn và đất ở bãi chăn nên trứng dễ theo vào đường tiêu hoá Khi bón
Trang 23phân tươi cho ruộng trồng cây thức ăn thì trứng giun đũa sống được vài tháng
ở thức ăn xanh Lợn con nhiễm bệnh do lúc bú nuốt phải trứng giun ở đầu vú
mẹ (Nguyễn Văn Thưởng và cs, 2004) [29]
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5] cho biết: Lợn nhiễm giun đũavới tỷ lệ cao từ 13,2% - 43,6% (điều tra qua mổ khám lợn ở các tỉnh ThanhHóa, Quảng Ninh, Hải Hưng, Hà Bắc, Nam Hà, Nghĩa lộ…) Bệnh phân bố ởtất cả các vùng núi, trung du và đồng bằng
Biến động nhiễm theo tuổi: Lợn nhiễm giun đũa cao ở lứa tuổi dưới 2tháng đến 7 tháng tuổi, sau đó giảm dần
*Dịch tễ học bệnh giun lươn ở lợn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5]:
Tuổi mắc bệnh: Bệnh giun lươn thấy nhiều ở súc vật non, súc vật lớncó nhiễm ấu trùng gây nhiễm nhưng giun không phát triển thành giun trưởngthành Gia súc già yếu cũng có thể mắc bệnh
Mùa phát bệnh: Bệnh thấy quanh năm, nhưng nhiều hơn ở mùa ấm(Xuân - hè - thu)
Theo Trịnh Văn Thịnh (1963) [25]: Đối với giun lươn thì bệnh giunlươn thấy nhiều ở súc vật nuôi, gia súc lớn có nhiễm ấu trùng gây nhiễmnhưng giun không phát triển thành giun trưởng thành, gia súc già yếu cũng cóthể mắc bệnh Bệnh thấy quanh năm nhưng mắc nhiều hơn ở mùa ấm (Xuân -
Hè - Thu)
* Dịch tễ học bệnh giun tóc ở lợn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5]: Tỷ lệ nhiễm giun tóc giảmdần theo tuổi Gia súc non bị nhiễm nhiều hơn gia súc trưởng thành
Theo Trịnh Văn Thịnh (1963) [25]: tỷ lệ nhiễm giun tóc lợn (ở HàNội) theo tuổi lợn như sau: lợn từ 2 - 6 tháng tuổi nhiễm 4,3 - 30%, lợn trên 6tháng tuổi nhiễm 0,56 - 7,8%, không thấy giun tóc ở lợn dưới 2 tháng tuổi.Điều kiện chăn nuôi tốt, vệ sinh và dinh dưỡng đầy đủ tỷ lệ nhiễm thấp 2,5%.Ngược lại điều kiện chăn nuôi kém thì tỷ lệ tăng 23% Tỷ lệ nhiễm giun tócqua mổ khám ở 1 số vùng như sau: Nghĩa Lộ 40,3%, Quảng Ninh 33,7%, HàBắc 27,3%, Thanh Hóa 12,5%, Hải Hưng 15,1%, Nam Hà 33,3%, với cườngđộ nhiễm cao có trường hợp thấy 1219 con giun tóc ở ruột già của 1 lợn
Trang 24* Dịch tễ học bệnh giun kết hạt ở lợn
Phan Địch Lân và cs (2005) [16] cho biết: tỷ lệ nhiễm giun kết hạt ởlợn tăng dần theo tuổi do lợn con có sức đề kháng tốt đối với giun kết hạt nên
tỷ lệ nhiễm thấp Tuy ấu trùng gây nhiễm vào lợn con nhưng không gây ranhững u kén ở ruột, ngược lại đối với lợn lớn sau khi ấu trùng gây nhiễm vàothì gây bệnh rất nặng và trên ruột có rất nhiều u kén Ngoài ra do thời gian
sống của Oesophagostomum dentatum ở trong cơ thể lợn tương đối dài từ 8
-10 tháng Quá trình truyền lây giun này còn phụ thuộc vào điều kiện tự
nhiên (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng…) Ở mỗi vùng, khi gặp điều kiện thích hợptrứng phát triển thành ấu trùng gây nhiễm phải trên dưới một tuần, khi nhiệtđộ 90C thì trứng ngừng phát triển, khi nhiệt độ 350C thì trứng bị chết Ngoài
ra, truyền lây bệnh này còn liên quan đến tình hình chăn thả Nếu thườngxuyên chăn thả trên bãi chăn đã bị ô nhiễm mầm bệnh thì gia súc rất dễ nhiễmphải giun này
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5], thì tỷ lệ nhiễm giun kếthạt theo tuổi lợn như sau: lợn dưới 2 tháng tuổi nhiễm 46,9%, lợn dưới 3 - 4tháng tuổi nhiễm 67,4%, lợn dưới 5 - 6 tháng tuổi nhiễm 72,1%, lợn trên 8tháng tuổi nhiễm 73,3%, tỷ lệ nhiễm giun kết hạt ở các loài gia súc khác nhauthì khác nhau
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [9]: Vì lợn có sức đề kháng đối vớigiun kết hạt nên tỷ lệ nhiễm thấy, tuy ấu trùng gây nhiễm vào lợn con nhưngkhông gây ra những u kén ở ruột, ngược lại đối với lợn lớn sau khi ấu trùnggây nhiễm vào thì gây ra bệnh rất nặng và trên ruột có rất nhiều u kén Ngoài
ra do thời gian sưng của Oesophagostamum dentatum ở cơ thể lợn tương đốidài từ 8 - 10 tháng (F.N Oriov, 1958)
Theo Chu Thị Thơm và cs (2006) [28]: Trâu, bò, lợn ở nước ta nhiễmgiun kết hạt khá phổ biến, ở khắp các vùng Trâu nhiễm O.radiatum: 76%, bò:57,8%, lợn nhiễm O.dentatum 72 - 82% Lợn càng lớn tỷ lệ nhiễm càng cao.Bệnh thường thấy ở những nơi chăn nuôi không đảm bảo vệ sinh, không chúý luân phiên đồng cỏ
Trang 25* Dịch tễ học giun dạ dày ở lợn
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [9], Trương Lăng (2000) [12]: Trongcác điều tra ở các lò sát sinh Sài Gòn và Đà Lạt đã thấy là bệnh giun đuôixoắn ở lợn do G hispidium là một bệnh khá phổ biến, tỷ lệ nhiễm có
khi đến 30 - 40 % Đó là những nhân tố khí hậu thuận tiện cho sự sống pháttriển của những trứng và ấu trùng (mưa nhiều, kéo dài, nhiệt độ môi trườngtrung bình 250C) Các ấu trùng khu trú trong lớp cơ của dạ dày làm cho khikhám thịt không thấy được.Ở một con lợn có mức độ nhiễm ký sinh trùngnặng, đã thu thập được 42 giun trưởng thành bám vào niêm mạc dạ dày vàkhoảng 100 ấu trùng nằm trong lớp cơ của thành dạ dày nhưng không gâynhững bệnh tích nhìn thấy được
Hai trường hợp bệnh Gnathostomasis do G hispidum ở người đã được
phát hiện ở Viễn Đông (Morishiva 1924 và Chen 1949)
2.1.2.3 Cơ chế sinh bệnh của giun tròn đường tiêu hóa gây ra ở lợn.
Bệnh do giun tròn gây ra ở đường tiêu hóa lợn rất phổ biến, gây ra bệnhtích ở hầu hết các cơ quan nội tạng như giun dạ dày ở dạ dày, giun đũa ở ruộtnon, giun tóc ở ruột già… Tuy nhiên mỗi loại giun đều có cơ chế gây bệnhkhác nhau tạo ra các triệu chứng, bệnh tích khác nhau ở mỗi bệnh nhưng đềucó đặc điểm chung là lợn mắc bệnh thường gầy còm, thiếu máu và giảm sức
đề kháng Các tác hại này là do 4 tác động của ký sinh trùng đến cơ thể vậtchủ: tác động cơ giới, tác động chiếm đoạt, tác động đầu độc và tác độngtruyền bệnh
* Cơ chế sinh bệnh của giun đũa gây ra ở lợn
Khi lợn bị mắc bệnh do giun đũa gây ra thường không có triệu chứng
rõ rệt lắm vì thế người chăn nuôi ít nhận biết được bệnh Các biểu hiệnthường gặp khi lợn bị nhiễm giun đũa như: lông xù, chậm chạp, ỉa chảy, còicọc, rối loạn tiêu hóa…
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [9]: Khi ấu trùng theo máu vào gangây lấm tấm xuất huyết, đồng thời gây huỷ hoại tế bào gan, ấu trùng từ mạchmáu phổi di chuyển tới phế bào gây ra vỡ mạch máu, ở phổi có nhiều điểm xuấthuyết, phổi bị viêm, triệu chứng viêm phổi còn phụ thuộc vào mức độ nhiễmcó
Trang 26thể kéo dài 51 144 ngày, có khi làm con vật chết Ấu trùng di hành khoảng 2
-3 tuần lễ, khi là giun trưởng thành ở ruột non làm loét niêm mạc ruột non, viêm,gây đau bụng, nếu nhiều thì làm tắc ruột, khi chui vào ống dẫn mật làm tắc gâyhoàng đản
Theo Trương Lăng (2000) [12]: Giun đũa tiết độc tố gây nhiễm độcthần kinh trung ương và mạch máu, con vật có triệu chứng thần kinh như têliệt hoặc hưng phấn, co giật
Giun lấy chất dinh dưỡng của ký chủ, thải cặn bã gây độc cho ký chủ.Kết quả là làm cho ký chủ gầy còm, chậm lớn Giun đũa nhiều làm tắc ruột cókhi thành búi, ruột có thể rách hay thủng
Theo Anderdahl (1957) [1], nếu cho lợn khỏe nuốt trứng giun đũa, sau 5ngày cho nhiễm bệnh suyễn thì bệnh tích ở phổi rộng gấp 10 lần so với lợn chỉ bịbệnh suyễn
Lợn bị giun đũa thường yếu ớt, mệt mỏi, lông xù, dần dần gầy còm.Nếu làm rách ruột thì lợn chết đột ngột Giun có thể chui lên dạ dày, thựcquản, ra, mồm hoặc qua yết hầu vào phổi gây ngạt thở
* Cơ chế sinh bệnh của giun lươn gây ra ở lợn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5], thì cơ chế sinh bệnh củagiun lươn gây ra ở lợn bao gồm:
Tác hại cơ giới: Ấu trùng chui qua da, mạch máu phổi, gây viêm phổi.Giun cái trưởng thành ở ruột non gây viêm ruột, rối loạn tiêu hoá
Tác hại mang trùng: Ấu trùng có thể mang vi khuẩn phó thương hàn từbên ngoài, qua ra ký chủ vào cơ thể ký chủ, gây bệnh truyền nhiễm ghép vớibệnh ký sinh trùng
* Cơ chế sinh bệnh của giun tóc gây ra ở lợn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5]: Giun tóc có phần đầu nhỏ,dài, phần này cắm sâu vào niêm mạc ruột gây tổn thương, mở đường
cho vi khuẩn gây bệnh vào cơ thể ký chủ Trong quá trình sống, giun tóc tiếtđộc tố và thải cặn bã làm con vật trúng độc
Giun tóc lấy dịch tổ chức niêm mạc ruột để sống gây ra hiện tượng xuấthuyết, viêm ruột và dẫn đến ỉa chảy
Trang 27* Cơ chế sinh bệnh của giun kết hạt gây ra ở lợn
Ấu trùng chui vào niêm mạc ruột tạo thành những hạt (u kén) Nhữnghạt này thường bị mưng mủ do ấu trùng giun mang vi khuẩn vào gây nên
Giun trưởng thành hút máu ký chủ và ăn các tế bào niêm mạc ruột giàlàm cho con vật bị mất máu, loét niêm mạc gây rối loạn tiêu hoá nặng
Giun tiết độc tố gây trúng độc cho ký chủ làm cho gia súc non chậmlớn, gia súc trưởng thành giảm khả năng sản xuất
Theo Phạm Sỹ Lăng
* Cơ chế sinh bệnh của giun dạ dày gây ra ở lợn
Giun chui sâu vào trong cổ dạ dày, gây loét, gờ xung quanh chỗ loétviêm.Giun non khi di hành gây viêm gan và tạo thành những đường hoại tử
2.1.2.4 Triệu chứng và bệnh tích giun tròn đường tiêu hóa lợn
Triệu chứng chung của lợn khi mắc bệnh do giun tròn gây ra là: cơ thểgầy còm, thiếu máu, giảm sức đề kháng, niêm mạc nhợt nhạt, lông xù, tiêuchảy, biến loạn thần kinh và tuần hoàn
Bệnh tích thường gặp: giun tròn cắn các niêm mạc gây thương tíchcũng phá vỡ phòng tuyến thượng bì, mở đường cho các vi khuẩn trong môitrường chúng xâm nhập cơ thể, vi khuẩn gây bệnh ghép với bệnh ký sinhtrùng Ký sinh trùng và vi trùng thường kết hợp làm tổn hại thêm cho ký chủ.Hầu hết các ký sinh trùng đều gây nên những biến loạn cơ giới, ngăn trở íthay nhiều khí quan mà nó xâm nhập, làm tắc, chèn ép, phá vỡ các tổ chứchoặc làm thủng, rách, do khí quan bám hút của ký sinh trùng mà làm trócniêm mạc, gây xuất huyết và viêm thường gặp ở thể cấp tính, thứ cấp tính,mãn tính
* Bệnh giun đũa
Triệu chứng ở lợn mắc bệnh không rõ rệt lắm Chủ yếu lợn mắc bệnhthì lông xù, chậm chạp, ỉa chảy, còi cọc, rối loạn tiêu hóa Do giun đũa gâybệnh bằng tác động cơ giới, đầu độc và chiếm đoạt thức ăn nên lợn viêm ruột,
đi tả đau bụng, bần huyết và gầy dần Có khi có triệu chứng thần kinh, co giật
Bệnh tích: Ấu trùng khi đi qua phổi, gây tụ huyết hay viêm phổi, lợn
ho, nhiệt độ lên cao Ở thể đặc biệt, giun làm tắc ruột, gây viêm phúc mạc, lợn
Trang 28chết trong một vài ngày Có khi giun chui vào ống mật gây ra hoàng đoản.Giun đũa tiết độc tố, tác hại đến thần kinh trung ương và mạch máu, gây trúngđộc, lợn có triệu trứng thần kinh co giật, hưng phấn hoặc tê liệt
Trong quá trình trao đổi chất, giun đũa còn thải những chất cặn bã gây tác hạicho lợn, chậm lớn ảnh hưởng tới năng suất thịt
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5] cho biết:
Triệu chứng: Lợn 3 - 6 tháng tuổi có triệu chứng rõ như gầy còm, chậmlớn, lông xù, niêm mạc nhợt nhạt Khi ấu trùng ở phổi gây viêm phổi (thânnhiệt tăng cao, ăn kém, hô hấp nhanh và ho) Khi giun trưởng thành thì triệuchứng không rõ như chậm lớn, gầy, sút cân, rối loạn tiêu hoá, nhiều khi làmtắc ruột, thủng ruột, đau bụng, một số con có triệu chứng thần kinh, nổi mẩn
Ở lợn to thì triệu chứng không rõ
Bệnh tích: Khi viêm phổi thấy trên mặt phổi có đám xuất huyết màu đỏsẫm, có nhiều ấu trùng giun đũa ở phổi Khi giun trưởng thành thấy ruột nonviêm cata, có nhiều giun ký sinh ở ruột non Nếu tắc và vỡ ruột thì có bệnhtích viêm phúc mạc
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [8], những triệu chứng chính củabệnh là: viêm ruột, bần huyết và gầy dần, có triệu chứng thần kinh Ấu trùng
di hành qua phổi có thể gây tụ huyết hay viêm phổi, có khi thấy nổi mụnnước hay mụn ngoài da về sau đóng vẩy Khi ấu trùng theo máu về gan, dừnglại ở mạch máu gây ra lấm tấm xuất huyết, đồng thời gây huỷ hoại tế bào gan,ấu trùng từ mạch máu phổi di chuyển tới phế bào nên mạch máu bị vỡ, ở phổicó nhiều điểm xuất huyết Khi ấu trùng di hành tới phổi gây ra viêm phổi.Triệu chứng viêm còn phụ thuộc mức độ nhiễm, có thể kéo dài 51 - 114 ngày,có khi làm con vật bị chết
Trịnh Văn Thịnh (1985) [27] cho biết: Giun đũa có thể gây tắc hay ráchruột, ống mật, ống tuyến tụy, đôi khi ruột tụt đoạn nọ vào đoạn kia Khi convật sốt cao độ (do một bệnh khác) có thể giun chui lên dạ dày, thực quản,mõm lợn hoặc từ yết hầu vào thực quản, khí quản, phổi gây ngạt thở Có khimổ một con thấy hàng trăm giun đũa Bệnh có thể lan nhanh ra đàn lợn, làmtăng số thiệt hại
Trang 29* Bệnh giun lươn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5]:
Triệu chứng: Súc vật non nhiễm bệnh thể hiện triệu chứng rõ rệt Lợncon sau đẻ 3 - 4 tuần bệnh nhiễm rất nặng, chết tới 50% con vật gầy còm, cómụn trên da (do ấu trùng giun lươn chui qua da gây viêm da), viêm kết mạcmắt, ỉa chảy, phân có lẫn máu, thân nhiệt tăng, có triệu chứng viêm phổi (convật ho), triệu chứng kéo dài 15 - 30 ngày Nếu nặng có thể chết do bị mất nước,rối loạn chất điện giải trong trạng thái viêm ruột cấp, khi nhiễm nhẹ triệu chứngkhông rõ rệt
Bệnh tích: Dưới da có những điểm tụ huyết, tổ chức cơ và phổi cũng cónhiều điểm hoặc đám tụ huyết, viêm khí quản, viêm cata dạ dày - ruột, niêmmạc ruột có những điểm tụ huyết, niêm mạc dạ dày có nhiều mụn loét nhỏ
* Bệnh giun tóc
Triệu chứng: Khi nhiễm nhẹ thì triệu chứng không rõ, khi nặng thì con vậtgầy yếu, thiếu máu, trong phân có lẫn máu và niêm mạc ruột, con vật có khi bịkiết lị Bệnh thường thấy ở lợn con, lợn mẹ còn lợn vỗ béo rất ít bị bệnh
Bệnh tích: Niêm mạc ruột già bị viêm, xuất huyết, trên niêm mạc cónhiều giun tóc trưởng thành cắm sâu vào thành ruột, xác chết gầy, có nhiềugiun ở ruột già (nhất là manh tràng) Một số giun vẫn cắm sâu vào niêm mạcruột phải kéo mạnh mới lấy được Trên niêm mạc ruột có nốt loét to bằng hạtđậu xanh Khi nhiễm nặng, toàn bộ manh tràng xuất huyết màu hồng sẫm,niêm mạc ruột bị bong ra
Trịnh Văn Thịnh (1985) [27] cho biết: Bệnh chỉ phát thành triệu chứngkhi con vật bị xâm nhiễm nặng (mấy trăm giun trên cơ thể một lợn) Cónhững triệu chứng tiêu hóa, bần huyết, có khi có sốt và rối loạn về sinh sản
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [10], lợn trưởng thành nhiễm giunthường không thể hiện rõ các triệu chứng lâm sàng Lợn con ở 2 - 4 tháng tuổibị nhiễm xuất hiện các triệu chứng như ỉa chảy lúc đầu phân lỏng sau phân sệtcó nhiều dịch nhầy như mũi, lẫn máu Mỗi lần thải phân lợn bệnh phải conglưng để rặn nhưng phân ra rất ít Các triệu chứng trên giống như lợn bị bệnh
Trang 30lị Nếu lợn không được điều trị, lợn con sẽ kiệt sức và chết sau 6 - 10 ngày.Lợn bị bệnh mãn tính thì còi cọc, thiếu máu, tăng trọng giảm.
* Bệnh giun kết hạt
Bệnh giun kết hạt ở lợn, về mặt lâm sàng, chỉ có những triệu chứng khôngrõ: trạng thái chung xấu, rối loạn tiêu hóa, không ăn, đi táo rồi đi tả, không chữakhỏi được bằng những thứ thuốc trị các chứng viêm ruột thông thường
Những bệnh tích ở ruột già không đều Những nốt kết hạt nhiều hay ít,nặng hay nhẹ phụ thuộc vào khả năng phản ứng của cơ thể, cũng như sức gâydị ứng của ký sinh trùng, bệnh tích rõ nhất ở những lợn bị tái nhiễm nhiều lần.Nốt to bằng hạt kê, nhưng khi ấu trùng chui ra khỏi niêm mạc thì mất đi.Cũng có khi thấy bệnh tích viêm gan mãn tính
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5]:
-Triệu chứng: Thường thấy ở hai giai đoạn:
Giai đoạn ấu trùng chui vào niêm mạc ruột gây triệu chứng cấp tínhnhư ỉa chảy, phân có chất nhày, đôi khi có máu tươi, có một số ít con nhiệt độlên cao, bỏ ăn, gầy còm, khi ấn vào bụng thấy đau, thiếu máu, niêm mạc nhợtnhạt, ỉa chảy kéo dài làm con vật gầy dần và chết
Giai đoạn giun trưởng thành thường gây triệu chứng mãn tính: Có từngthời kỳ con vật kiết lị, chậm lớn, gầy còm, các triệu chứng khác không rõ lắm
- Bệnh tích: Sau khi nhiễm 5 ngày thì thấy những u kén nhỏ ở trên niêmmạc ruột, ở giữa u kén có màu vàng, trong có ấu trùng giun, có khi bọc này bịhoại tử, bên trong có mủ và bị loét, tới ngày thứ 7 - 8 thì kết tràng bị viêm có mủ.Có khi tới vài nghìn u kén trên một đoạn ruột, u kén to bằng đầu đinh ghim, các
u này có khi bị vôi hoá, chỉ thấy ấu trùng ở những hạt chưa bị vôi hoá
* Bệnh giun dạ dày
Giun chui sâu vào trong cổ dạ dày, gây loét rõ rệt, gờ xung quanh chỗloét viêm Còn chỗ loét có các xác bạch cầu và sơ viêm loét Xung quanh chỗloét có hiện tượng rõ, giun non khi di hành gây viêm gan và tạo thành nhữngđường hoại tử (đường do giun di hành)
Trang 312.1.2.5 Chẩn đoán bệnh giun tròn đường tiêu hóa ở lợn
Để chẩn đoán bệnh giun tròn ta có thể chẩn đoán lâm sàng, chẩn đoánbằng kính hiển vi hay bằng thí nghiệm Các phương pháp chẩn đoán bệnh giun
tròn ở vật nuôi gồm có các phương pháp như: Phương pháp Fulleborn, phương pháp Darling, phương pháp Cherbovich, phương pháp chẩn đoán
bằng kháng nguyên, phương pháp mổ khám tìm giun tròn Tùy vào điều kiệnmà ta sử dụng phương pháp phù hợp
* Chẩn đoán bệnh giun đũa ở lợn
Đối với lợn dưới 2 tháng tuổi: Lợn con theo mẹ thì giun đũa chưa đẻtrứng (60 - 62 ngày giun mới đẻ trứng) Vì vậy muốn chẩn đoán có thể mổkhám lợn rồi tìm ấu trùng ở phổi và gan
Đối với lợn trên 2 tháng tuổi: Kiểm tra thêm bằng phương pháp phù nổiđể tìm trứng hoặc mổ khám để tìm giun đũa ở ruột non
Đối với con vật sống: Kiểm tra phân bằng phương pháp phù nổi tìmtrứng giun Có thể dùng phản ứng biến thái nội bì, phương pháp này rất tốtkhông gây phản ứng chéo với các giun khác, có kết quả dương tính sau khinhiễm giun đũa 8 - 11 ngày
Đối với súc vật chết: Mổ khám tìm giun trưởng thành, ấu trùng và kiểmtra bệnh tích
Theo Trương Lăng (2000) [12]: Chẩn đoán bằng phương pháp biến tháinội bì: theo Ersov chế kháng nguyên như sau:
Rửa sạch giun đũa còn sống, nghiền nát hòa với hai phần nước cất Cứ1ml dung dịch tiêm thêm 8g men tuyến trùng và 10ml Chlorofoc Điều chỉnh
pH = 7,6 - 7,8 cho vào tủ ấm 7 - 12 ngày Khi giun tan hết thì ly tâm Lấynước ở trên cho vào lọ pha với cồn tỷ lệ 1 : 5 để cho kháng nguyên lắngxuống, lấy kháng nguyên ở đây cho vào tủ ấm Sau khi khô, bảo quản ở tủlạnh trên 8 tháng vẫn không ảnh hưởng đến đặc tính kháng nguyên Khi tiêmpha loãng 1 : 200, có thể tiêm nội bì, vành ngoài tai hoặc nhỏ vào xoang kếtmạc mắt Phương pháp này chẩn đoán tốt, không có phản ứng chéo với lợnnhiễm giun tóc, giun kết hạt và giun đầu gai
Trang 32Sau khi lợn nhiễm giun đũa từ 8 - 11 ngày, bắt đầu có phản ứng dươngtính Phản ứng này duy trì được 110 - 140 ngày Thời gian phản ứng biến tháixuất hiện phù hợp với thời gian kháng thể tập trung trong máu sau khi nhiễmgiun và không phụ thuộc vào giun trưởng thành ở ruột.
* Chẩn đoán bệnh giun lươn ở lợn
Vì kích thước giun nhỏ nên phải có kỹ thuật mổ khám và thu thập giunsán tốt mới thấy được giun lươn Do đó, phương pháp chẩn đoán chủ yếu làxét nghiệm phân bằng phương pháp phù nổi để tìm trứng giun lươn
Xét nghiệm phân bằng phương pháp phù nổi để tìm trứng giun lươn.Phải lấy phân tươi và kiểm tra ngay, vào mùa hè không để quá 5 - 6 giờ, mùathu không quá 12 - 15 giờ
Phân ly ấu trùng theo phương pháp Baerman với phân để khoảng 5 - 15giờ, cho kết quả tốt
* Chẩn đoán bệnh giun tóc ở lợn
Xét nghiệm phân bằng phương pháp phù nổi để tìm trứng giun
Có thể mổ khám tìm giun và kiểm tra bệnh tích ở ruột già (manh tràng)
* Chẩn đoán bệnh giun kết hạt ở lợn
Xét nghiệm phân tìm trứng giun kết hạt, nhưng phương pháp này ít có
ý nghĩa vì trứng Oesophagostomum giống trứng các loại giun xoăn khác.
Nuôi trứng nở thành ấu trùng và kiểm tra trên kính hiển vi hình thái vàcấu tạo của ấu trùng Mổ khám kiểm tra bệnh tích (các u kén ở ruột), tìm giuntrưởng thành
2.1.2.6 Biện pháp phòng và trị giun tròn đường tiêu hóa lợn
Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [16], Nguyên tắc về phòng trị cácbênh giun tròn:
Ứng dụng học thuyết Skrjabin về phòng trị các bênh giun tròn baogồm: Diệt giun trong cơ thể động vật mục đích làm cho con vật khỏe mạnh vàngăn ngừa ngoại cảnh không bị ô nhiễm, diệt trứng giun ở ngoại cảnh mụcđích là để phòng cho động vật không bị nhiễm bệnh tức là diệt trùng ở phân,diệt trùng bằng cách luân phiên bãi chăn thả, vệ sinh nơi uống nước
Trang 33* Biện pháp phòng bệnh giun tròn đường tiêu hóa lợn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5]:
Phòng bệnh ký sinh trùng có nhiều biện pháp nhưng đều nhằm mụcđích không cho mầm bệnh ký sinh trùng phát triển, thực hiện tốt các chu trìnhtiến hoá của nó, để nó không thể sinh ra ký sinh trùng trưởng thành mới được
Các phương pháp tấn công ký sinh trùng ở từng giai đoạn như sau:Chống giai đoạn thứ nhất: Ký sinh trùng trưởng thành đẻ trứng ở kýchủ cuối cùng Có thể tiêu diệt nó bằng hai phương pháp: Dùng thuốc đặchiệu diệt ký sinh trùng (việc tẩy ký sinh trùng này có tính chất dự phòng, tứclà thực hiện trước khi súc vật phát hành triệu chứng bệnh và trước khi súc vậtgieo rắc mầm bệnh ra bên ngoài môi trường), tiêu diệt ký sinh trùng bằngcách giết tất cả những vật mắc bệnh (phương pháp này triệt để nhưng tốn kémmặc dù thịt súc vật vẫn sử dụng được)
Chống giai đoạn thứ hai: Trứng
Có thể dùng hai phương pháp: Tiêu diệt hầu hết trứng bằng cách thunhặt hết phân của gia súc ốm trong chuồng và đem chôn (biện pháp này phảilàm đi làm lại nhiều lần để trứng không có thời gian phát triển thành phôithai) hoặc có thể ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh vật học Đối với súc vậtchăn thả, phải ngăn không cho trứng trên đồng cỏ phát triển bằng cách làmcho đồng cỏ khô ráo
Chống giai đoạn thứ ba và thứ tư: Phôi thai và ấu trùng tự do ngoàithiên nhiên có hai cách:
Diệt toàn bộ phôi thai và ấu trùng ngoài đồng cỏ và ao tù bằng vôi bột,sunfat sắt, sunfat đồng với lượng dùng 400 kg cho 1ha đồng cỏ, 5 kg cho100m3 nước ao
Không cho phôi thai hay ấu trùng xâm nhập vào cơ thể ký chủ (cách lysúc vật ốm, tiêu độc dụng cụ và chuồng nuôi, vệ sinh thức ăn, nước uống, diệtký chủ trung gian)
Skrjabin KI (1977) [31], đã đề ra học thuyết tiêu diệt tận gốc bệnh giunsán Học thuyết này có thể áp dụng cho các bệnh ký sinh trùng khác Nội dungcủa học thuyết là dự phòng có tính chất chủ động như dùng tất cả các biện pháp
Trang 34cơ giới, vật lý, hoá học, sinh vật học nhằm tiêu diệt ký sinh trùng trên cơ thể kýchủ, tiêu diệt ký sinh trùng ngoại giới, tiêu diệt ký sinh trùng ở tất cả các giaiđoạn phát dục, tiêu diệt ký sinh trùng ở cả người và gia súc.
Trong thực tế mỗi hộ chăn nuôi cần chủ động có biện pháp phòng bệnhgiun sán phù hợp để vật nuôi không bị bệnh, không ảnh hưởng đến sản xuất Cụthể là:
-Định kỳ tẩy giun cho lợn: 2 lần / năm
-Định kỳ sát trùng chuồng trại: 1 - 2 lần / tháng
-Thu gom phân, tập trung để ủ
- Vệ sinh chuồng trại, thức ăn, nước uống
-Tăng cường chăm sóc, nuôi dưỡng cho lợn để tăng sức đề kháng
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [9], căn cứ vào kết quả nghiên cứusinh thái, chu trình sinh học của giun đũa lợn, kết quả nghiên cứu thuốc điềutrị giun đũa cần thực hiện các biện pháp phòng trừ tổng hợp và các khâu sau:
Diệt căn bệnh ở cơ thể lợn
Tẩy giun 3 tháng một lần Sau khi tẩy vệ sinh tốt, cho ăn chín thì mộtđời lợn bột chỉ cần tẩy một lần vào lúc tách mẹ.Đối với lợn có chửa và đangnuôi con và lợn con theo mẹ thì không tẩy.Đối với lợn nuôi tập chung thì 3 - 4tháng tẩy một lần cho tất cả lợn ở diện tẩy
*Biện pháp trị bệnh giun tròn ở lợn
Để trị bệnh giun tròn ta phải sử dụng thuốc phù hợp Hiện nay trên thị
trường có bán rất nhiều loại thuốc có tác dụng trị bệnh giun tròn như: Levamisol, Mebendazol, Ivermectin 0,25% Tùy loại bệnh mà ta sử dụng thuốc cho phù hợp.
-Trị bệnh giun đũa lợn
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2007) [11]: Các hóa dược được dùng có hiệuquả trong điều trị bệnh giun đũa như:
Phenothiazin: Tỷ lệ tẩy đạt: 70 - 100%
Tetramisol hay Levamisol: 90 - 100%
Mebenvet: 90 - 100%
Phan Lục (2006) [20] cho biết: có thể dùng một số thuốc:
Levamizol: cho qua miệng hoặc tiêm
Trang 35Mebendazol: cho qua miệng
Piperazin: cho qua miệng
Theo Trương Lăng và cs (2003) [14]: Ở nông thôn có thể sử dụng hạtcau tươi cho lợn con trước khi cai sữa 3 - 4 tuần Cho lợn con uống 1/4 hạtcau tươi/con (hoặc giã nhỏ trộn vào thức ăn) cứ 7 ngày cho ăn 1 lần đến caisữa Sau cai sữa 1 tuần cho uống 1/2quả/lần Lợn 3 - 6 tháng tuổi cho ăn cảquả 1 lần
-Trị bệnh giun lươn lợn
Để trị bệnh giun lươn ở lợn ta có thể dùng một số thuốc như: Violetgentian, Thiabennazole, Fuchsin, Levamisol, Mebendazol 10%
-Trị bệnh giun tóc lợn
Đối với bệnh giun tóc ta có thể sử dụng Levamisol hay Mebendazol 10%.-Trị bệnh giun kết hạt ở lợn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5]: để trị bệnh giun kết hạt tadùng 1 số thuốc như: Phenothiazin, Tetramisol, Levamisol, Mebendazole 10%
2.2 Tình hình nghiên cứu về bệnh giun tròn đường tiêu hóa lợn
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
-Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh, 1978 [23] cho biết: Ngay
từ đầu thế kỷ 14 Tuệ Tĩnh đã đề ra cách trị giun đũa bằng dược liệu thuốcnam như dùng hạt cau, cỏ thanh ngâm
Năm 1975 - 1979 điều tra bằng xét nghiệm phân ở 10 địa điểm thuộcnhiều vùng địa lý khác nhau trong những điều kiện chăn nuôi khác nhau trênkhoảng 2000 con lợn cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa là 56%, các loại giunxoăn (strongylata) là 32%, giun tóc (trichocefalictae) là 2,3%, giun đầu gai(Macracan Thoruynobis hiru dina geus) là 0,18%
Tuổi lợn nhiễm các loại giun tròn nặng nhất là từ 2 - 4 tháng tuổi trên 1
tỷ lệ nhiễm chung là 49 - 65,9% Qua mổ khám thấy những loại giun sánchính ở lợn là Ascari suum, Metastrongylus elongatus, Oesopha- gostomum,Dentatum, Trichoris suis, Fasciolopsis buski,…
- Nguyễn Văn Nội, Phan Địch Lân, Lê Hồng Căn 1978 [22], đã thínghiệm xem trứng giun đũa người có nhiễm cho lợn được không? Thì nghiệm
Trang 36trên 7 lợn, qua 66 ngày theo dõi tác giả thấy: với liều 10.000 ấu trùng giunđũa người gây nhiễm nhân tạo cho lợn, không thấy lợn thể hiện triệu chứngkhác thường, vẫn mạnh khỏe và tăng trọng Kết quả mổ khám 2 lợn và xétnghiệm phân 7 lợn không thấy giun đũa và trứng giun đũa Chứng tỏ lợnkhông nhiễm giun đũa người vì lạc chủ.
-Tác giả Phạm Văn Khuê, Phan lục, Trần Trúc, 1975 [4], đã nghiên cứu
về khu hệ quy luật phân bổ và biến động nhiễm giun sán theo lứa tuổi của lợn
ở 1 số tỉnh Nghĩa Lộ, Quảng Ninh, Hà Bắc, Thanh hóa, Hải Hưng, Nam Hà,Hà Tĩnh đã xác định được lợn nhiễm 4 lớp giun sán với tổng số 17 loài
- Theo Giáo sư Đào Trọng Đạt (1985 - 1989) [2], trong quá trình điềutra nghiên cứu đã xác định được 49 loài giun sán mà lợn nước ta hay cảmnhiễm nhất Trong đó sán lá ruột lợn và giun đũa lợn là 2 loài nguy hiểm nhất.Cũng theo Giáo sư thì: công tác nghiên cứu đã tập trung tìm hiểu chu trìnhsinh học, dịch tễ học, thử nghiệm các quy trình phòng trừ Đến nay biện phápphòng trừ các bệnh gia súc đã trở thành tiến bộ kỹ thuật được ứng dụng rộngrãi theo quy trình này Một đời lợn chỉ cần tẩy 1 lần, lợn nái được tẩy khi táchcon Lợn đực giống khi kiểm tra có giun sán mới tẩy
- Bùi Lập, Phạm Văn Khuê (1996) [15] đã xác định tỷ lệ và cường độnhiễm sán lá ruột lợn tăng dần từ miền núi đến trung du rồi đến đồng bằng.Vùng núi tỷ lệ nhiễm 1,44%, trung du 40,1% và đồng bằng 50,47%
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [6], tỷ lệ và mức độ nhiễm giun đũa
Ascaris suum ở lợn bình thường và lợn tiêu chảy của huyện Đồng Hỷ là: Ở lợn
có trạng thái phân bình thường có 34/94 lợn nhiễm chiếm 36,17%, trong đónhiễm ở mức nhẹ có 24/38 lợn nhiễm, chiếm 70,59%, nhiễm ở mức trung bìnhcó 10/34 lợn nhiễm, chiếm 29,41%, không có lợn nào nhiễm ở mức nặng Ở lợnbị tiêu chảy có 42/101 lợn nhiễm, chiếm 41,58%, trong đó nhiễm ở mức nhẹ có26/42 lợn nhiễm, chiếm 61,90%, lợn nhiễm ở mức trung bình có 11/42 lợn,chiếm 26,19%, lợn nhiễm ở mức nặng có 5/42 lợn, chiếm 11,90%
Lợn bình thường nhiễm giun tóc 23,01%, giun kết hạt 20,86%, tỷ lệnhiễm tương ứng ở lợn tiêu chảy là 27,02% và 23,85% Mức độ nhiễm giuntóc và giun kết hạt ở lợn tiêu chảy nặng hợn so với lợn bình thường
Trang 372.2.2 Tình hình nghiên cứu ở thế giới
-Theo Anderdanl, 1957 [1]: Nếu cho lợn nhiễm trứng giun đũa, sau 5ngày lại cho nhiễm mầm bệnh suyễn thì bệnh tích gây ra ở phổi gấp 10 lần sovới lợn chỉ bị suyễn
-Theo Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn QuangTuyên, 1999 [5] cho biết:
+Hiraishi (1928), Boer (1935) đã gây nhiễm giun đũa người cho lợn khilợn ăn thiếu Vitamin A
Soulsby (1961) đã gây nhiễm cho lợn mới đẻ không được bú sữa đầuđối với trứng giun đũa người
+Takate (1951) lấy trứng giun đũa lợn gây nhiễm cho 19 người lớn thìcó 7 người bị nhiễm Theo Mozogovoi (1953) thì ngoài người ra còn 10 loàiđộng vật khác như lợn, chó… cũng nhiễm giun đũa người
Theo E.A miaxinikova và P.A agrinzonxki (1933) chứng minh lợn con
3 tháng tuổi mắc bệnh giun đũa tăng trọng không bằng 1/3 lợn khỏe
- K.A miaxnikova (1946) nghiên cứu bệnh giun kết hạt của lợn, khi làmcảm nhiễm cho lợn bằng ấu trùng Oesophagostomum dentatum chỉ rõ sự tạothành các hạt ký sinh trùng trong thành ruột xảy ra vào 2 ngày sau khi cảmnhiễm Đến ngày thứ 20 những ấu trùng này ra khỏi các hạt và vào ruột Ởđây phát triển thành giun trưởng thành vào ngày thứ 43, ấu trùng trong các hạtký sinh phát triển đều lột xác lần 3 và lần thứ 4 Sau đó mới quay trở lại ruộtđể phát triển thành ấu trùng (K.I skrjabin, giáo sư A.M petrov(1977))
Urquahart và cs (1996) [34] cho biết: Thời gian nở của trứng giun lươncó liên quan đến nhiệt độ: Ở nhiệt độ 20 - 300C, mất 5 - 6 giờ trứng nở thànhấu trùng Ở nhiệt độ 10 - 120C, mất 15 giờ, nhiệt độ thấp làm cho trứng ngừngphát triển Ở nhiệt độ - 90C và trên 500C làm cho trứng bị chết
Johanes Kafuman (1996) [33] cho biết: Sự lây nhiễm giun tròn cholợn con có thể được ngăn chặn bằng cách điều trị cho lợn mẹ trước khi đẻ
Bezimidazole, Febatel và Levamisol có tác dụng hữu hiệu để chống lại sự lây nhiễm Ivermectin (300 μg/kg thể trọng) dùng cho lợn trưởng thành,
dùng trước khi đẻ 1 - 2 tuần có thể kiểm soát được sự lây nhiễm cho lợn consau khi sinh
Trang 38Theo Phan Địch Lân (2005) [16]: Olsen (1958) cho rằng tuổi thọ giunđũa 55 tuần Tuổi thọ của giun phụ thuộc vào “lão hóa” của giun và tình trạngthay đổi sinh lý và sức đề kháng của lợn Gặp điều kiện không có lợi thì tuổithọ của giun ngắn lại, số lượng giun có thể vài con tới 1000 giun trên một cơthể lợn.