Khóa Luận cực hay và bổ ích !!!!!!!
Trang 1Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1 Điều tra cơ bản
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Trang trại chăn nuôi của ông Đặng Đức Khang là một đơn vị chăn nuôigia công thuộc công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam Trang trại nằm trênđịa bàn hành chính xã Kim Long, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, cáchthành phố Vĩnh Yên 10 km về phía Nam Kim Long là xã trung du nằm ởphía đông nam của huyện Tam Dương, tiếp giáp với Tam Đảo, Hồ Sơn, HợpChâu, Gia Khánh, Hương Sơn, Khai Quang, Định Trung, Thanh Vân, Đạo
Tú, Hướng Đạo
1.1.1.2 Điều kiện địa hình đất đai
Kim Long là xã miền núi, có địa hình phức tạp, xen kẽ giữ núi đồi vàđồng ruộng Đất đai ở đây được chủ yếu sử dụng cho sản xuất nông nghiệp.Đất sử dụng cho nông nghiệp tương đối bằng phẳng thuận lợi cho việc canhtác của nhân dân Mặt khác, cơ cấu đất đa dạng nên rất thuận lợi cho việc pháttriển nhiều loại hình kinh tế khác nhau và đây cũng là nguồn cung cấp thức ăntinh và thô cho gia súc, gia cầm Xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 1496,366
ha Trong đó:
- Đất nông nghiệp 786,366 ha
- Đất phi nông nghiệp là 706,553 ha
- Đất chưa sử dụng 3,446 ha
1.1.1.3 Điều kiện khí hậu
Về điều kiện tự nhiên và các yếu tố khi hậu xã Kim Long có thể kháiquát như sau:
- Lượng mưa hàng năm cao nhất là 2,157 mm, thấp nhất là 1,060 mm,trung bình là 1,567 mm, lượng mưa tập trung chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 7trong năm
- Khí hậu: Là xã nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, lạnh về mùa đông,nóng ẩm về mùa hè Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 84%, độ ẩmcao nhất là 87%, thấp nhất là 67%
Trang 2- Nhiệt độ trung bình trong năm là 21oC đến 23oC, mùa nóng tập trungvào tháng 6 đến tháng 7 Do ảnh hưởng của gió mùa đông bắc và gió mùađông nam nên có sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình giữa các mùa.
- Về chế độ gió, gió mùa đông nam thổi từ tháng 3 đến tháng 10, giómùa đông bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 2
1.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
1.1.2.1 Tình hình dân cư
Qua số liệu thống kê cho thấy toàn xã có dện tích tự nhiên là 14,92
km2, gần 2250 hộ và gần 1 vạn dân sinh sống ở 18 thôn, trong số đó hầu hết làcác hộ nông nghiệp Tỷ lệ phát triển dân số của xã 1,5% đến 1,6%/năm Mật
độ dân số của Kim Long được thống kê là >670 người/km2
Nguồn lực lao động trẻ của xã ở độ tuổi thanh niên khá nhiều Nhândân xã Kim Long cần cù lao động, nhạy bén trong kinh doanh và sản xuấtnông nghiệp
1.1.2.2 Tình hình giao thông, thuỷ lợi
Trên địa bàn xã có đường cao tốc Lào Cai - Nội Bài đi qua, đường nốivới trung tâm thị trấn Tam Dương và các xã lân cận đều là các đường liên xã.Đường liên thôn, đường vùng bờ ở các xứ đồng, đường xóm đều được quyhoạch và rải bê tông, thuận lợi cho việc đi lại giữa các thôn và việc cơ giớihóa sản xuất nông nghiệp của bà con trong xã
Về thủy lợi, xã có 2 đập chứa nước lớn đó là đập Đồng Bông và đậpĐồng Vang, ngoài ra còn có nhiều ao nhỏ nằm rải rác ở các thôn trong xã.Trên địa bàn xã còn có các hệ thống trạm bơm và các kênh mương rất thuậntiện cho việc tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp
1.1.2.3 Văn hoá, y tế, giáo dục
- Văn hoá: Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống văn hoá, tinh thầncủa nhân dân trong xã cũng có nhiều khởi sắc Nếp sống văn hoá trong đámcưới, việc tang, lễ hội từng bước đi vào nề nếp Môi trường ở nông thôn đượcbảo vệ, các thôn, làng được công nhận làng văn hoá “xanh, sạch, đẹp” Cácthôn, các dòng họ đều có tổ chức hội khuyến học, khuyến tài Phong trào vănnghệ, thể thao phát triển rộng khắp trong địa bàn xã Đến nay, trong xã đã xâydựng được nhà văn hóa đa năng của xã, các thôn đều có nhà văn hóa thôn, đểcho bà con và các em thiếu nhi sinh hoạt
Trang 3- Giáo dục: Trong toàn xã có:
+ Hai trường mầm non
+ Một trường tiểu học
+ Một trường trung học cơ sở
+ Hai trường đại học: Đại học Trưng Vương và Đại Học Dầu Khí đangtrong giai đoạn xây dựng
+ Một trường năng khiếu thể dục thể thao tỉnh
Đến nay, toàn xã đã được công nhận về phổ cập bậc tiểu học và trunghọc cơ sở Trình độ văn hóa của nhân dân trong xã đã được nâng cao
- Y tế: Trong xã có một trạm y tế khang trang, được hỗ trợ và trang bịcác dụng cụ cần thiết để chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Nhìn chung, trạm y
tế đã làm tốt công tác dự phòng - chăm sóc sức khỏe ban đầu, thực hiện có hiệu
quả chương trình kế hoạch hoá gia đình và các chương trình y tế nông nghiệp
1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp
1.1.3.1 Tình hình sản xuất ngành trồng trọt
Xã Kim Long có diện tích đất canh tác nông nghiệp là 786,366 ha.Người dân địa phương ngày càng quan tâm tới việc áp dụng khoa học vàongành trồng trọt để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm Cây lúa là câylượng thực chính của bà con trong xã Diện tích trồng lúa của bà con giảmtheo hàng năm do diện tích đất trồng được quy hoạch vào làm đường hoặc bàcon chuyển mục đích sử dụng khác Nhưng năng suất của các giống lúa ngàycàng tăng cao, do được đầu tư giống lúa ngắn ngày, năng suất cao, áp dụngcác biện pháp ký thuật mới Ngoài cây lúa bà con trong xã còn phát triển vềtrồng xoài, vải để bán ra thị trường, tăng thêm thu nhập Một số cây trồngkhác cũng được nhân dân trong xã phát triển: ngô, đậu tương, rau mầu đápứng đủ nhu cầu tiêu dùng, cũng như nhu cầu của thị trường
1.1.3.2 Tình hình sản xuất ngành Chăn nuôi - Thú y
Song song với sự phát triển của ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi cũngphát triển không ngừng Chăn nuôi cung cấp sức kéo, phân bón cho trồng trọt,đồng thời cung cấp thực phẩm và nguồn thu nhập kinh tế không nhỏ cho các
hộ nông dân Sản phẩm hàng hóa đưa ra thị trường tương đối lớn Trongnhững năm gần đây, người dân đã biết áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật,
Trang 4từ các hộ sản xuất manh mún, quy mô nhỏ, đã mạnh dạn đầu tư vốn, kỹ thuật,con giống mới, có năng suất cao, trang thiết bị hiện đại vào chăn nuôi.
+ Chăn nuôi lợn: Những năm gần đây, đàn lợn xã Kim Long có xuhướng tăng, chăn nuôi ở đây chủ yếu là lợn thịt và sản xuất lợn con Do đặcthù của xã cũng như nhận thức của người dân nên địa bàn xã có nhiều trangtrại chăn nuôi tập trung Trang trại của ông Đặng Đức Khang là một trong số
đó Ngoài ra người dân cũng chăn nuôi lợn theo hình thức tận dụng các phụphẩm nông nghiệp, những thực phẩm dư thừa trong sinh hoạt gia đình
+ Chăn nuôi gia cầm: Trong những năm gần đây, mặc dù giá cả thịtrường luôn biến động, dịch bệnh thường xuyên xảy ra nhưng chăn nuôi giacầm vẫn phát triển mạnh, đa dạng về chủng loại Trên địa bàn xã có một sốtrang trại nuôi gà đẻ trứng giống, một số trang trại nuôi gà đẻ thương phẩm vàrất nhiều trang trại nuôi gà thịt Ngoài ra hầu hết các gia đình trong xã đều cónuôi một số lượng gia cầm nhất định để phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày
+ Công tác thú y: Công tác thú y đóng vai trò quan trọng trong chănnuôi, nó quyết định sự thành công hay thất bại của người chăn nuôi Ngoài ra,
nó còn ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng, ảnh hưởng đến phát triển kinh
tế của người dân Vì vậy, công tác thú y luôn được ban lãnh đạo các cấp,ngành, địa phương cùng người chăn nuôi hết sức quan tâm, chú trọng như:
Tuyên truyền lợi ích vệ sinh phòng dịch bệnh cho người và vật nuôi.Tập trung chỉ đạo tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn.Thường xuyên đào tạo, tập huấn cho đội ngũ cán bộ thú y cơ sở
Theo dõi tình hình, diễn biến dịch bệnh để kịp thời có phương án chỉ đạo.Chính vì vậy, trong nhiều năm gần đây ngành chăn nuôi của xã cóhướng phát triển, đảm bảo an toàn cho người và vật nuôi
1.1.3.3 Quá trình thành lập và phát triển của trang trại ông Đặng Đức Khang
* Quá trình thành lập
Trang trại sản xuất lợn giống siêu nạc của ông Đặng Đức Khang nằmtrên địa phận xã Kim Long, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc Trại đượcthành lập năm 2008 là trại lợn gia công của công ty chăn nuôi CP Việt Nam(Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam) Hoạt động theo phương thứcchủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới giống lợn,
Trang 5cám, thuốc, kỹ thuật viên Hiện nay, trang trại do ông Đặng Đức Khang làmchủ trại, kỹ thuật viên của công ty chăn nuôi CP Việt Nam giám sát mọi hoạtđộng của toàn trại
Tổng diện tích của trang trại là 4 ha, trong đó 1,8 ha dùng để chăn nuôi,0,7 ha là ao cá, còn lại là diện tích xây dựng công trình xung quanh trang trại:Nhà điều hành, phòng làm việc, phòng ở cho công nhân, nhà bếp
* Cơ sở vật chất của trang trại
- Nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp, các công trình phụ phục vụcho trang trại và công nhân chiếm khoảng 0,5ha
- Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thốngchuồng trại cho 1200 nái cơ bản bao gồm: 3 chuồng đẻ (mỗi chuồng có từ 124
- 128 ô), 2 chuồng nái chửa (mỗi chuồng có 560 ô), một chuồng cách ly.Cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòngsát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc
Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệthống giàn mát, cuối chuồng có 6 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, và 8quạt thông gió đối với chuồng nái chửa, và 3 quạt đối với chuồng cách ly Haibên tường có dãy cửa sổ lắp kính Mỗi cửa sổ có diện tích 1,5m2, cách nền1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 40cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóngbằng nhựa
Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máyđếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóngliều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác
Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đềuđược đổ bê tông và có các hố sát trùng
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nướcuống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái chửa 1 và 2.Nước tắm và nước xả gầm, phục vụ cho công tác khác, được bố trí từ bể lọc
và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới đầu các chuồng
* Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:
01 chủ trại
Trang 6* Tình hình sản xuất của trang trại
+ Ngành chăn nuôi
Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống lai thương phẩm,chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật Sau đó, các lợn giống được chuyểnđến các trại lợn thịt của công ty chăn nuôi CP Việt Nam, hoặc bán chokhách hàng
Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 - 2,5 lứa/năm
Số con sơ sinh là 11,93 con/đàn, số con cai sữa: 9,97 con/đàn Trại hoạt độngvào mức khá theo đánh giá của công ty chăn nuôi CP Việt Nam Hoạt độngchăn nuôi của trại là chỉ chăn nuôi lợn nái, cơ cấu đầu lợn của trại được biểuthị qua bảng 1.1
Bảng 1.1 Cơ cấu đàn lợn của trang trại Đặng Đức Khang
1177, lợn nái hậu bị 126 con
Trang 7Tại trại lợn nái nuôi con đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày,lợn con cai sữa là xuất chuồng chuyển sang các trại chăn nuôi lợn thịt củacông ty.
Trong trại có 22 con lợn đực giống, các lợn đực giống này được nuôinhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tính để thụ tinhnhân tạo Tinh lợn được khai thác từ 2 giống lợn của công ty chăn nuôi CPViệt Nam là Duroc và Pidu Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyểngiống cũng như con đực
Thức ăn cho lợn nái là hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, đượccông ty chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại
Công tác thú y:
Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn giống luônthực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên công tychăn nuôi CP Việt Nam
+ Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát vềmùa hè, ấm áp về mùa đông Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinhchuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trongtrại được quét dọn, phun thuốc sát trùng, hành lang đi lại được quét dọn và rắcvôi theo quy định
Khi công nhân, kỹ sư, khách tham quan vào khu chăn nuôi lợn đều phảisát trùng tại nhà sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộlao động trước khi vào khu chuồng nuôi
+ Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi hạn chế đi lại giữacác chuồng, không được tự tiện sang khu vực khác, các phương tiện vào trạiđược sát trùng một cách nghiêm ngặt Với phương châm phòng bệnh là chínhnên tất cả lợn ở đây đều được cho uống thuốc, tiêm phòng vaccine
Quy trình phòng bệnh bằng vaccine luôn được trại thực hiện nghiêmtúc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từlợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con Lợn được tiêm vaccine ở trạng thái khỏemạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm vàcác bệnh mạn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn
Tỷ lệ tiêm phòng vaccine cho đàn lợn luôn đạt 100%
Trang 8+ Công tác trị bệnh: Kỹ thuật viên của trang trại, luôn theo dõi, kiểm trađàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được kỹthuật viên phát hiện sớm, cách ly, điều trị ở ngay giai đoạn đầu nên điều trịđạt hiệu quả từ 80-90% trong một thời gian ngắn Vì vậy, không gây thiệt hại
1.2 Nội dung và phương pháp thực hiện công tác phục vụ sản xuất
1.2.1 Nội dung công tác phục vụ sản xuất
1.2.1.1 Công tác chăn nuôi
Tìm hiểu về quy trình chăn nuôi các loại lợn: Lợn nái, lợn con theo mẹ,lợn đực
Nắm vững đặc điểm của các giống lợn có ở trại
Tham gia công tác vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn
Tham gia đỡ đẻ cho lợn nái, cắt tai, cắt đuôi cho lợn con, làm ổ úm cholợn con
Tham gia công tác phát hiện lợn động dục và phụ giúp phối giống cholợn nái động dục
Tham gia lập sổ sách theo dõi từng cá thể, ghi chép các chỉ tiêu sinh lýsinh sản và tiến hành ghép đôi giao phối phù hợp
Trang 9Tiến hành đề tài nghiên cứu khoa học trên đàn lợn thí nghiệm của trại.
1.2.1.2 Công tác thú y
Tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn theo quy trình tiêm phòng của trại.Phun thuốc sát trùng chuồng trại, vệ sinh dụng cụ chăn nuôi theo quytrình vệ sinh thú y
Chẩn đoán và điều trị một số bệnh mà đàn lợn mắc phải trong quá trìnhthực tập
Tham gia vào các công tác khác
Vận dụng những kiến thức lý thuyết ở trường vào công việc chăm sóc,nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn
Thực hiện, bám sát cơ sở sản xuất và đi sâu kiểm tra, tìm hiểu nguyệnvọng của quần chúng nhân dân về lĩnh vực chăn nuôi
Nhiệt tình, khiêm tốn, không ngại khó và ngại khổ
Thường xuyên xin ý kiến chỉ đạo của thầy giáo hướng dẫn để có nhữngbước đi đúng đắn
Trực tiếp tham gia chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn thí nghiệm
Tham khảo sổ sách theo dõi của trại và trao đổi các vấn đề chuyên mônvới cán bộ kỹ thuật trại và chủ trang trại
1.2.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Trong thời gian thực tập tại trang trại được sự giúp đỡ của ban lãnh đạo
và đội ngũ cán bộ công nhân viên trong trang trại cùng với sự cố gắng của bảnthân tôi đã thu được các kết quả sau:
Trang 101.2.3.1 Công tác chăn nuôi
Công tác vệ sinh trong chăn nuôi là một trong những khâu rất quantrọng Nếu công tác vệ sinh được thực hiện tốt thì gia súc ít mắc bệnh, sinhtrưởng và phát triển tốt, chi phí thuốc thú y thấp, làm cho hiệu quả chăn nuôicao hơn Do nhận thức rõ được điều này, nên trong suốt thời gian thực tập, tôi
đã thực hiện tốt các công việc như:
* Công tác chăm sóc nuôi dưỡng
Trong quá trình thực tập tại trang trại, tôi đã tham gia chăm sóc náichửa, nái đẻ, tham gia đỡ đẻ chăm sóc cho một đàn lợn con theo mẹ đến caisữa Tôi trực tiếp vệ sinh, chăm sóc, theo dõi đàn lợn thí nghiệm Quy trìnhchăm sóc nái chửa, nái chờ đẻ, nái đẻ, đàn lợn con theo mẹ đến khi cai sữanhư sau:
+ Đối với nái chửa:
Lợn nái chửa được nuôi chủ yếu ở chuồng nái chửa 1, chuồng nái chửa
2 Hàng ngày vào kiểm tra lợn, vệ sinh, dọn phân không để cho lợn nằm đèlên phân, lấy cám cho lợn ăn, rửa máng, phun thuốc sát trùng hàng ngày, xịtgầm, cuối giờ chiều phải chở phân ra khu xử lý phân Lợn nái chửa được ănloại cám 566, 567SF với khẩu phần ăn phân theo tuần chửa, thể trạng, lứa đẻnhư sau:
Đối với nái chửa từ tuần 1 đến tuần chửa 12 ăn cám 566, khẩu phần 1,5
- 2 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày
Đối với nái chửa từ tuần 13 đến tuần chửa 14 ăn cám 566, khẩu phần2,5 - 3 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày
Đối với nái chửa từ tuần 15 trở đi ăn cám 567SF, khẩu phần 3,5- 4kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày
+ Đối với nái đẻ:
Lợn nái chửa được chuyển lên chuồng đẻ trước ngày đẻ dự kiến 7- 10ngày Trước khi chuyển lợn lên chuồng phải được dọn dẹp và rửa sạch sẽ.Lợn chuyển lên phải được ghi đầy đủ thông tin lên bảng ở đầu mỗi ô chuồng.Thức ăn của lợn chờ đẻ được cho ăn với khẩu phần ăn 3 kg/ngày, chia làm 2bữa sáng, chiều
Trang 11Lợn nái chửa trước ngày đẻ dự kiến 2 ngày, giảm cám để phân trongtrực tràng không quá lớn, tạo điều kiện cho lợn nái đẻ dễ, tránh được lợn con
bị chết ngạt do ở trong tử cung quá lâu Mỗi ngày giảm 1 kg cám đến ngày đẻ
dự kiến còn khẩu phần ăn là 0,5 kg/con/ngày
Khi lợn nái đẻ được 2 ngày, khẩu phầm ăn tăng dần từ 0,5 - 5kg/con/ngày chia làm hai bữa sáng, chiều Đối với nái nuôi con quá gầy Cóthể cho ăn tăng khẩu phần lên 6 kg/con/ngày Điều chỉnh lượng thức ăn chophù hợp nhu cầu của chúng
+ Đối với đàn lợn con theo mẹ đến khi cai sữa:
Ngay sau khi đẻ ra lợn được tiến hành bấm nanh hoặc mài nanh,cắt rốn
- Lợn con 2 - 3 ngày tuổi bấm số tai, cắt đuôi và tiêm sắt cho lợn, chouống thuốc phòng phân trắng lợn con và tiêu chảy
Lợn con 3 - 4 ngày tuổi cho lợn con uống thuốc phòng cầu trùng
Lợn con 4 - 5 ngày tuổi tiến hành thiến lợn đực
Lợn con được từ 4 - 6 ngày tuổi tập cho ăn bằng cám hỗn hợp hoànchỉnh 550SF
Lợn con được 16 - 18 ngày tuổi tiêm phòng dịch tả
Lợn con được 21 - 26 ngày tuổi tiến hành cai sữa cho lợn
* Phát hiện lợn nái động dục
Qua thực tế thực tập tại trang trại, dưới sự chỉ bảo của các cán bộ kỹthuật tôi thấy lợn nái động dục có những biểu hiện sau:
- Lợn phá chuồng, ăn ít rồi bỏ ăn
- Khi cho lợn nái đi qua các ô chuồng lợn đực thì vểnh tai, khi có tácđộng trực tiếp thì đứng ì
- Lợn có biểu hiện bồn chồn hay đứng lên nằm xuống, ta quan sát đượcvào khoảng 10 - 11 giờ trưa
- Cơ quan sinh dục có biểu hiện: Âm hộ sung huyết, sưng, mẩy đỏ, códịch tiết chảy ra trong, loãng và ít, sau đó chuyển sang đặc dính
Trang 12* Thụ tinh nhân tạo cho lợn nái
- Bước 1: Trước khi dẫn tinh cho lợn nái, quan sát triệu chứng động dục
trước đó và đã xác định khoảng thời gian dẫn tinh thích hợp nhất
- Bước 2: Chuẩn bị dụng cụ
- Bước 3: Chuẩn bị tinh dịch đảm bảo về thể tích (80 - 100 ml) và
số lượng tinh trùng tiến hành trong một liều dẫn (1,5 - 2,0 tỷ tinh trùngtiến thẳng)
- Bước 4: Vệ sinh lợn nái
- Bước 5: Dẫn tinh
- Bước 6: Sau khi dẫn tinh xong, phải vệ sinh dụng cụ sạch sẽ Số lần
lợn nái được dẫn tinh trong 1 chu kỳ động dục là 3 lần Sau khi dẫn tinh được
21 - 25 ngày phải tiếp tục quan sát, kiểm tra kết quả thụ thai, phát hiện nhữnglợn cái động dục lại để kịp thời dẫn tinh lại Kết quả thụ thai ở kỳ động dụcnào được ghi vào kết quả thụ thai của chu kỳ động dục ấy
2 xuống Lịch sát trùng được trình bầy qua bảng 1.2
Trang 13Bảng 1.2 Lịch sát trùng trại lợn nái
Thứ
Trong chuồng
Ngoài Chuồng
Ngoài khu vực chăn nuôi
Chuồng
nái chửa Chuồng đẻ
Chuồng cách ly
CN Phun sát
trùng Phun sát trùngThứ 2
Quét hoặc
rắc vôi
đường đi
Phun sát trùng + rắc vôi
Phun sát trùng
Phun sát trùng toàn
bộ khu vực
Phun sát trùng toàn
bộ khu vực
Thứ 3 Phun sát
trùng
Phun sát trùng + quét vôi đường đi
Quét hoặc rắc vôi đường đi Thứ 4 Xả vôi
Thứ 5 Phun ghẻ
Phun sát trùng + xả vôi xút gầm
Phun ghẻ
Thứ 6 Phun sát
trùng
Phun sát trùng + rắc vôi
Phun sát trùng
Phun sát trùng
Phun sát trùng Thứ 7
Vệ sinh
tổng chuồng
Vệ sinh tổng chuồng
Vệ sinh tổng chuồng
Vệ sinh tổng khu
* Công tác phòng bệnh
Quy trình tiêm phòng, phòng bệnh cho đàn lợn của trang trại được thựchiện tích cực, thường xuyên và bắt buộc Tiêm phòng cho đàn lợn nhằm tạo ratrong cơ thể chúng một sức miễn dịch chủ động, chống lại sự xâm nhập của vikhuẩn, tăng sức đề kháng cho cơ thể
Sau đây là quy trình phòng bệnh bằng thuốc, bằng vắc xin cho cácloại lợn
Đối với lợn con theo mẹ và lợn nái hậu bị, lợn nái sinh sản thể hiện ởbảng 1.3:
Trang 14Bảng 1.3 Lịch phòng bệnh của trại lợn nái
Loại lợn Ngày tuổi Phòng
bệnh
Vaccine/
Thuốc/chế phẩm
Đường đưa thuốc
Liều lượng (ml/con)
Lợn con
3 - 6 ngày Cầu trùng Nova - Coc 5% Uống 2 16- 18 ngày Dịch tả Coglapest Tiêm bắp 2
Lợn hậu bị
25, 29 tuần tuổi Khô thai Parvo Tiêm bắp 2
26 tuần tuổi Dịch tả Coglapest Tiêm bắp 2
27, 30 tuần tuổi Giả dại Begonia Tiêm bắp 2
Lợn nái
sinh sản
10 tuần chửa Dịch tả Coglapest Tiêm bắp 2
Định kỳ hàng năm vào tháng 4, 8, 12 tiêm phòng bệnh tổng đànvaccine giả dại Begonia tiêm bắp 2 ml/con
Đối với lợn đực:
- Lợn đực hậu bị mới nhập về: 3 tuần tiêm phòng vaccine dịch tảCoglapest, 4 tuần tiêm phòng vaccine lở mồng long móng Aftopor, vaccinegiả dại Begonia
- Lợn đực đang khai thác tiêm phòng vào tháng 5, tháng 11 vaccinedịch tả Coglapest Tháng 4, 8, 12 tiêm phòng vaccine lở mồng long móngAftopor, vaccine giả dại Begonia
* Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh
Để điều trị bệnh cho gia súc đạt hiệu quả cao, thì việc phát hiện bệnhkịp thời và chính xác giúp ta đưa ra được phác đồ điều trị tốt nhất làm giảm tỷ
lệ chết, giảm thời gian sử dụng thuốc và giảm thiệt hại về kinh tế Vì vậy,hàng ngày tôi và cán bộ kỹ thuật tiến hành kiểm tra, theo dõi đàn lợn ở tất cảcác ô chuồng để phát hiện ra những con bị ốm Trong thời gian thực tập, tôi
đã gặp và điề trị một số bệnh sau:
Trang 15* Bệnh viêm tử cung
- Nguyên nhân: Là một quá trình bệnh lí phức tạp có thể do rất nhiềunguyên nhân: Công tác phối giống không đúng, do lợn mẹ đẻ khó, bị sát nhauphải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ trợ sản làm tổn thương, xây xát niêmmạc cổ tử cung và âm đạo tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn bên ngoài xâmnhập vào gây viêm Do sàn chuồng không được vệ sinh sạch, lợn nái khôngđược vệ sinh sạch sẽ trước và sau khi đẻ Mặt khác, do kế phát từ một số bệnhtruyền nhiễm như: Bệnh xảy thai truyền nhiễm và phó thương hàn (Văn lệHằng và cs, 2008)[9]
- Triệu chứng: Khi bị bệnh, lợn biểu hiện một số triệu chứng chủ yếu:Thân nhiệt tăng cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm, vật đau đớn, có khi conglưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Âm hộ sưng đỏ Từ cơ quan sinh dục thải rangoài dịch viêm màu trắng đục hoặc phớt hồng, có mùi tanh, thối khắm
- Điều trị: Để hạn chế quá trình viêm lan rộng, kích thích tử cung cobóp thải hết dịch viêm ra ngoài và đề phòng hiện tượng nhiễm trùng cho cơthể, chúng tôi tiến hành điều trị như sau:
Tiêm một liều Oxytoxin: 3 - 5 ml/con
Tiêm Analgin: 1ml/10kgTT/1lần/ngày
Tiêm Vetrimoxin: 1ml/10kgTT/1lần/2ngày
Điều trị liên tục trong 3 - 6 ngày.
* Bệnh viêm vú
- Nguyên nhân: Do các loài vi khuẩn: Liên, tụ cầu trùng, E.coli xâm
nhập vào tuyến vú, qua da do xây xát núm vú do răng nanh lợn con mới sinh,
do lợn mẹ nhiều sữa, ứ đọng tạo nên môi trường cho vi khuẩn phát triển, hoặc
do quá nhiều sữa làm căng nhức, gây viêm
Do vệ sinh chuồng trại kém, phân, nước tiểu không thoát hết, nhiệt độchuồng trại quá lạnh, quá nóng
Do việc dùng thuốc sát trùng tẩy uế chưa hợp lý trong khu trang trạicũng như trong chuồng lợn nái trước và sau khi đẻ
Do kế phát từ các bệnh viêm âm đạo, tử cung
- Triệu chứng: Lợn nái bỏ ăn, nằm một chỗ, sốt cao, không cho con bú.Tất cả các bầu vú hay một vài bầu vú bị viêm, đỏ, đau, nóng, sưng, có con bịviêm nặng bầu vú tím bầm lại, sờ nắn bầu vú thấy cứng
Trang 16- Điều trị: Cục bộ: Vắt cạn sữa ở vú viêm, chườm nóng kết hợp xoa bópnhẹ vài lần/ngày cho vú mềm dần.
Tiêm quanh vùng bầu vú bị viêm bằng Nor100 1ml/10kgTT
Toàn thân:
Tiêm Analgin: 1ml/10kgTT/1lần/ngày
Tiêm Vetrimoxin: 1ml/10kgTT/1lần/2ngày
Điều trị liên tục trong 3 - 5 ngày
* Bệnh tiêu chảy ở lợn con
- Nguyên nhân: Do vi khuẩn đường tiêu hoá gây ra, do lợn con sau khisinh bị nhiễm lạnh, do lợn mẹ bị viêm vú, viêm tử cung, do lợn mẹ ăn khôngđúng khẩu phần, do lợn con không được tiêm sắt…
- Triệu chứng: Trong chuồng lợn con có hiện tượng nôn ra sữa, sànchuồng có phân lỏng màu vàng hoặc màu trắng Lợn ỉa chảy liên tục, trênngười có dính phân, phân lỏng, mùi thối khắm, lợn bỏ ăn hoặc ăn kém, mệtmỏi, có con bụng chướng to
- Điều trị:
Tiêm Ampisure: 1ml/10kgTT/1lần/ngày
Tiêm Nor100: 1ml/10kgTT/1lần/ngày
Điều trị liên tục trong 3 - 5 ngày.
- Triệu chứng: Lợn con đi khập khiễng từ 3 - 4 ngày tuổi, khớp chânsưng lên vào ngày 7 - 15 sau khi sinh nhưng tử vong thường xảy ra lúc 2 - 5tuần tuổi Thường thấy viêm khớp cổ chân, khớp háng và khớp bàn chân
Lợn ăn ít, hơi sốt, chân lợn có hiện tượng què, đi đứng khó khăn, chỗkhớp viêm tấy đỏ, sưng, sờ nắn vào có phản xạ đau
- Điều trị: Tiêm Vetrimoxin: 1ml/10kgTT/1lần/2ngày
Điều trị liên tục trong 3 - 6 ngày.
Trang 17* Bệnh phân trắng lợn con
- Nguyên nhân: Bệnh phân trắng ở lợn con là một hội chứng hoặc một
trạng thái lâm sàng rất đa dạng.Do trực khuẩn E.coli thuộc họ Enterobacteriaceae, nhiều loại Samonella (S.choleraesuis, S.typhysuis…) và đóng vai trò phụ là: Proteus, Step-tococcus Trong điều kiện bình thường vi khuẩn E.coli khu trú tự nhiên trong đường tiêu hoá của lợn, chủ yếu ở cuối
ruột non và suốt ruột già Vi khuẩn này sẵn sàng tấn công vào cơ thể lợn khi
cơ thể lợn gặp những điều kiện bất lợi (Phạm Sĩ Lăng và cs, 2008)[13]
Do hệ thống phòng vệ của lợn con chưa hoàn chỉnh trong những ngàyđầu tiên như: Lượng axit trong dạ dày lợn con rất ít nên không đủ ngăn cản sựtấn công, xâm nhập và tăng sinh của vi khuẩn vào ruột và gây bệnh
Do việc nuôi dưỡng chăm sóc lợn mẹ chưa hợp lý, chuồng trại ẩm ướt,rét mướt, vệ sinh kém, sữa mẹ kém
- Triệu chứng: Bệnh thường gặp ở lợn con từ 5 - 21 ngày tuổi Lợn tiêuchảy phân màu vàng trắng, trắng xám, sau đó là vàng xanh, mùi phân hôitanh Lợn mất nước và mất chất điện giải gầy sút nhanh, bú kém, đi lại khôngvững Bệnh kéo dài thì bụng tóp lại, lông xù, hậu môn và đuôi dính phân bêbết Nếu không điều trị kịp thời thì lợn con chết rất nhanh
- Điều trị:
Bệnh phân trắng lợn con có nhiều loại thuốc điều trị nhưng tại trang trại
có điều trị bằng thuốc sau:
Nova-Ampicol: 2 g/lít nước cho uống
Điều trị liên tục trong 3 - 4 ngày.
1.2.3.3 Công tác khác
Ngoài việc chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn và tiến hành nghiên cứuchuyên đề khoa học, tôi còn tham gia một số công việc khác như: đỡ lợn đẻcho lợn nái, tiêm Dextran - Fe cho lợn con, thiến lợn đực con, - Cho lợn conuống thuốc phòng bệnh cầu trùng và thuốc phòng bệnh tiêu chảy
Kết quả công tác phục vụ sản xuất trong thời gian thực tập được thểhiện qua bảng 1.4:
Trang 18Bảng 1.4 Kết quả công tác phục vụ sản xuất
STT Nội dung công việc Số lượng
(con)
Kết quả (an toàn/ khỏi)
Số lượng (con)
Tỷ lệ (%)
1 Tiêm phòng vắc xin cho lợn con An toàn
Trong quá trình thực tập, tôi thấy từ lý thuyết đến thực hành còn mộtkhoảng cách rất xa, nếu chỉ học lý thuyết thì chưa đủ, mà cần phải làm được
Trang 19để giúp ngành chăn nuôi ngày càng phát triển Vì vậy, tôi thấy việc đi thực tậptại các cơ sở sản xuất là rất cần thiết đối với bản thân nói riêng, cũng như tất
cả mọi sinh viên nói chung trước khi tốt nghiệp ra trường
1.3.2 Đề nghị
Trong thời gian thực tập tại trang trại chăn nuôi lợn Đặng Đức Khang
xã Kim Long, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, tôi thấy có một số tồn tạicần khắc phục, vì vậy tôi có một số ý kiến đề xuất như sau:
- Cán bộ kỹ thuật cần hướng dẫn chu đáo cho công nhân cách phát hiệnlợn ốm kịp thời
- Tiếp tục áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
- Thay thế một số trang thiết bị, dụng cụ chăn nuôi bị cũ, hỏng để tránhthất thoát về lợn
- Mở rộng quy mô chuồng trại để chăn nuôi đạt hiệu quả hơn nữa
- Công tác tiêm phòng và vệ sinh phòng bệnh cần thực hiện tốt hơn nữa
Trang 20Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên đề tài:
“Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái nuôi theo quy mô trang trại
tại xã Kim Long huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc”
2.1 Đặt vấn đề
Trong khoảng hai thập kỷ vừa qua, ngành chăn nuôi lợn ở nước ta cónhững thay đổi quan trọng cả về năng suất, chất lượng, qui mô cũng như hìnhthức chăn nuôi Tổng đàn lợn tăng từ 21,8 triệu con năm 2001 lên 27,3 triệucon năm 2010 Đặc biệt là sản lượng thịt tăng nhanh hơn số lượng đầu con, từ1,51 triệu tấn năm 2001 tăng lên 3,02 triệu tấn năm 2010 Tỷ lệ thịt nạc từ 40-42% năm 2001 lên trên 46% năm 2006 Mặc dù chăn nuôi lợn ở nước ta tăngtrưởng nhanh về tổng đàn, chất lượng đàn cũng như quy mô sản xuất Tuynhiên so với yêu cầu và khả năng thì kết quả này cũng rất khiêm tốn và phầnlớn lượng sản xuất được tiêu thụ ở nội địa từ 98 - 99% Từ năm 2001 - 2006bình quân mỗi năm nước ta xuất khẩu được từ 18 - 20 ngàn tấn/năm, chiếmkhoảng 1 - 3% tổng sản lượng thịt lợn sản xuất trong đó sản phẩm chủ yếu làthịt lợn sữa và thịt lợn choai Tuy nhiên do khối lượng đáp ứng không ổn định
cơ cấu giống lợn nước ta chủ yếu vẫn là lợn địa phương, lợn năng suất thấp tỉ
lệ mỡ cao cho nên sản phẩm của chúng ta không có sức cạnh tranh trên thịtrường thế giới Các cơ sở cung cấp giống lợn ngoại, lợn tốt chưa đảm bảo đủyêu cầu Với quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ như hiện nay thì càng khó để chúng taphát triển mạnh ngành chăn nuôi lợn lớn mạnh đáp ứng đủ yêu cầu thực phẩmtrong nước và xuất khẩu Có rất nhiều giải pháp để giải quyêt vấn đề trên, mộttrong những biện pháp đó là nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái đểcho ra những đàn lợn con tốt nhất với số lượng nhiều nhất, để cung cấp đủ sốlượng thịt lợn cho thị trường Từ nhu cầu cấp thiết trên chúng tôi thực hiện đề
tài: “Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái nuôi theo quy mô trang trại tại xã Kim Long, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc”
Trang 21* Mục đích của đề tài
- Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái ngoại lai giữa giống Landrace
và Yorkshire được nuôi tại Vĩnh Phúc
- Đánh giá được tình hình bệnh trên đàn lợn và cách điều trị
- Xây dựng được những khuyến cáo, góp phần nâng cao năng xuất sinhsản cho lợn nái ngoại
- Bản thân bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học
* Ý nghĩa của việc nghiên cứu
Kết quả thu được là cơ sơ khoa học để đưa ra các giải pháp kỹ thuậtnhằm nâng cao khả năng sản xuất của đàn lợn nuôi tại xã Kim Long, huyệnTam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc
2.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1.1 Nguồn gốc và đặc điểm của một số giống lợn
* Giống lợn Landrace
- Nguồn gốc: Giống Landrace có nguồn gốc từ Đan Mạch, giống lợn
này được hình thành từ sự lai tạo giữa giống lợn Youtland có nguồn gốc từĐức với giống lợn Yorkshire có nguồn gốc từ nước Anh Từ năm 1970, nước
ta đã nhập Landrace từ CuBa, từ năm 1985 trở lại đây chúng ta đã nhập từnhiều nước khác nhau như Bỉ, Thái Lan, Nhật Bản
- Đặc điểm: Lợn Landrace có lông, da màu trắng, đầu to, mõm dài, tai
to rủ xuống mặt, bốn chân nhỏ, khít móng, đi bằng móng Lợn đực trưởngthành nặng khoảng 300 - 320 kg, đạt khối lượng 100kg, lợn cái trưởng thànhnặng 200 - 250 kg, có 12 - 14 vú, đạt khối lượng 100 kg lúc 5 - 6 tháng tuổitiêu tốn 2,9 - 3,5 kg thức ăn cho một kg tăng khối lượng Năng suất sinh sảncao, số con sơ sinh/ổ đạt 10 - 11 con, trọng lượng đạt 1,2 - 2,4 kg/con(Nguyễn Đức Hiền, 1999)[12]
Landrace có khả năng thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên ở nước ta,tăng trọng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp, tỷ lệ nạc cao, sức sinh sản thấp hơn10% - 15% so với các giống lợn Landrace gốc bản sứ
Trang 22* Giống lợn Yorkshire
- Nguồn gốc: Là giống lợn địa phương Lúc đầu giống này được nuôi
tại vùng Yorkshire thuộc Đông Bắc nước Anh Lợn có lông màu trắng cứng,
da có vết sám đen, chân cao, đi lại nhanh nhẹn, khả năng sinh sản trung bình
Để cải tạo giống địa phương trong quá trình lai tạo đã tạo ra những con laiTiểu Bạch, Trung Bạch, Đại Bạch Năm 1946 đã có một giống lợnYorkshire
lý tưởng, năm 1951 hội đồng khoa học Hoàng gia Anh đã công nhận đây làgiống lợn mới Ngày nay giống lợn này đã được chăn nuôi ở nhiều nơi trênthế giới 1964 Việt Nam nhập Đại Bạch từ Liên Xô có kiểu hình hướng nạc
mỡ, năm 1978 nước ta nhập giống Yorkshire từ Cu Ba hướng nạc từ năm
1994 trở lại đây Việt Nam nhập Yorkshire từ nhiều nước như Bỉ, Thái Lan,Trung Quốc
- Đặc điểm: Giống Yorkshire có hai loại hình:
Loại hình hướng nạc - mỡ Có tầm vóc cao to, mình trung bình, ngựcsâu (điển hình là Đại Bạch của Liên Xô)
Loại hình sản xuất nạc có tầm vóc rất to, ngực mông cao (điển hình làcon Yorkshire nhập từ CuBa)
Nhìn chung giống lợn Yorkshire có màu lông trắng tuyền, đầu cổ hơinhỏ và dài, mỗm thẳng và dài, mặt rộng, tai to trung bình và hướng về phíatrước, mình dài, lưng hơi cong, bụng gọn, bốn chân dài vững chắc, có 14 vú.Lợn Yorshire sinh trưởng phát dục nhanh Khối lượng khi trưởng thành củacon cái đạt từ 200 - 250 kg Năng suất sinh sản cao: số con sơ sinh/ổ đạt 10 -
11 con/lứa, khối lượng sơ sinh đạt 1,1 - 1,2 kg/con, khối lượng 21 ngày tuổi/ổ
là 55 - 60 kg ( Trần Văn Phùng và cs, 2004)[16]
2.2.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái
* Khái quát về đặc điểm sinh sản của lợn
Sinh sản là một thuộc tính sinh vật nói chung của sinh vật và của lợnnói riêng nhằm duy trì nòi giống và đảm bảo cho sự tiến hóa của con vật Quátrình sinh sản là một quá trình sinh lý phức tạp chịu sự điều khiển của thầnkinh và thể dịch
Ở các giai đoạn sống khác nhau của cơ thể, mối quan hệ điều tiết giữathần kinh và thể dịch luôn luôn xuất hiện Mối quan hệ này tuân theo môt quy
Trang 23luật, hệ thống kế tiếp và thống nhất trong một cơ thể với cơ chế hoạt độngnhiều chiều của thần kinh và thể dịch Một trong những khâu nào đó của mốiquan hệ nhiều chiều này bị rối loạn thì cơ thể gia súc thay đổi theo chiều cólợi hoặc có hại đến khả năng sinh sản Những thay đổi đó như: Chậm độngdục ở lợn cái hậu bị hoặc ở lợn nái sinh sản hay gia súc động dục nhưngkhông rụng trứng.
* Tuổi thành thục về tính
Khi gia súc đã thành thục về tính là chúng bắt đầu có phản xạ sinh dục
và có khả năng sinh sản, lúc này cơ thể có những biến đổi sinh lý Ở con cái
bộ máy sinh dục đã phát triển tương đối hoàn chỉnh Dưới tác dụng của thầnkinh, nội tiết tố, con vật xuất hiện các hiện tượng của hưng phấn sinh dục, khi
đó có các noãn bao chín và tế bào trứng rụng Ở con đực các tuyến sinh dụcphát triển và có phản xạ giao phối
Sự thành thục về tính của gia súc được đặc trưng hàng loạt những thayđổi bên ngoài và bên trong của cơ thể, đặc biệt là sự biến đổi bên trong của cơquan sinh dục Cùng với sự biến đổi cơ bên trong cơ quan sinh dục là sự biếnđổi bên ngoài có tính chất quy luật, nó đặc trưng cho từng loài gia súc, tùytừng giống, từng loài gia súc mà thời gian thành thục khác nhau Tuổi thànhthục tính của lợn nội như: Ỉ, Móng Cái là 3 - 4 tháng tuổi, lợn ngoại Landrace,Yorkshire là 7 - 8 tháng tuổi
Thông thường tuổi thành thục về tính sớm hơn tuổi thành thục về thểvóc của gia súc nghĩa là khi gia súc đã đến thời kì thành thục về tính nhưng sựsinh trưởng và phát triển của cơ thể vẫn còn tiếp tục Do đó nếu gia súc mớithành thục về tính mà cho giao phối và thụ thai ngay thì cơ thể mẹ chưa đảmbảo cho thai phát triển nên con đẻ ra sẽ còi cọc, chậm lớn, đồng thời bộ phậncấu tạo của khung xương chậu còn hẹp sẽ dẫn đến đẻ khó Vì thế để đảm bảocho sự sinh trưởng và phát triển bình thường của cơ thể mẹ và phẩm chất củađàn con, nên cho gia súc phối khi đã thành thục cả về tính và thể vóc, tuổiphối giống lần đầu tốt nhất cho lợn cái là bỏ qua từ 1 - 2 chu kì động dục đầu
* Các yếu tố ảnh hưởng tới tuổi thành thục tính
- Yếu tố giống: Gia súc có trọng lượng nhỏ thì thành thục về tính sớmhơn gia súc có trọng lượng lớn Động vật nuôi thành thục về tính sớm hơn thú
Trang 24rừng Lợn cái giống Landrace và Yorkshire thành thục về tính khi đạt 7 - 8tháng tuổi, lợn cái giống nội: Ỉ, Móng cái thành thục về tính khi đạt từ 4 - 5tháng tuổi.
- Nuôi dưỡng, quản lý: Trong điều kiên nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lýtốt, chế độ sử dụng đúng thì tính thành thục xuất hiện sớm hơn Còn chăm sóckém, chế độ quản lý, sử dụng không thích hợp dẫn đến gia súc sinh trưởngphát triển chậm dễ mắc bệnh tật
- Ảnh hưởng của mùa vụ và thời gian chiếu sáng: Thời tiết và khí hậukhác nhau đều ảnh hưởng tới sự thành thục về tính Gia súc vùng nhiệt đớithành thục về tính sớm hơn gia súc vùng ôn đới, gia súc sinh sản vào mùaxuân thành thục về tính sớm hơn gia súc sinh sản vào mùa khác, nhiệt độ quácao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng tới sự thành thục về tính, lợn cái hậu bị nuôitheo nhóm thành thục về tính sớm hơn cái hậu bị nuôi nhốt riêng, con đựccũng ảnh hưởng trực tiếp đến thành thục về tính, hiệu ứng đực giống đượcthực hiện thông qua feromon trong nước bọt của con đực truyền trực tiếp quađường miệng
* Chu kỳ động dục
Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp Khi gia súc thànhthục về tính, cơ quan sinh dục của con cái có biến đổi, trong buồng trứng cóquá trình noãn bao thành thục, trứng chín và rụng Dưới sự điều tiết của thùytrước tuyến yên trứng chín và rụng kèm theo những biến đổi bên ngoài của cơquan sinh dục Hiện tượng này lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ nên được gọi
là chu kỳ tính Chu kỳ tính và thời gian kéo dài của chu kỳ tính khác nhaugiữa các loài Ở lợn 17 - 27 ngày, trung bình là 21 ngày Chu kỳ động dục củalợn chia làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn trước chịu đực (kéo dài 1 - 2 ngày)
Ở giai đoạn này cơ quan sinh dục bắt đầu phát triển rõ rệt như: Âm hộmọng dần lên, sưng to, màu đỏ tươi do xung huyết tế bào vách ống dẫn trứngtăng cường phân chia, số lượng lông nhung tăng lên, nhu động sừng tử cungtăng, các dịch nhầy ở âm đạo cũng tăng, niêm dịch cổ tử cung tiết ra kíchthích cho cổ tử cung hé mở Buồng trứng to hơn bình thường, xuất hiện noãnbao phát triển với đường kính 4mm - 8mm - 12mm, một số thoái hóa đi chỉ
Trang 25còn 1mm - 2mm, thể vàng hình thành của chu kỳ động dục trước cũng bắt đầuthoái hóa dần Biến đổi trên tạo điều kiện thuận lợi cho tinh trùng vào đườngsinh dục cái để thụ tinh tế bào trứng.
- Giai đoạn chịu đực
Đây là giai đoạn biểu hiện rõ nhất kéo dài 2 - 3 ngày, giai đoạn nàychia làm 3 thời kỳ liên tiếp: Hưng phấn, chịu đực và hết chịu đực, đây là giaiđoạn quan trọng nhưng thời gian lại ngắn nhất, biểu hiện bên ngoài âm hộ mở
ra to hơn bắt đầu chuyển sang màu mận chín niêm dịch keo đặc hơn Lợnbiếng ăn và tỏ ra không yên và đã chịu đứng yên cho con khác nhảy lên nó,hiện tượng đó là chịu đực hay mê ì, lúc này nếu có người đặt tay lên lưng nó
ấn xuống thì nó đứng yên hai chân sau ở tư thế chịu phối, giai đoạn này tínhhưng phấn lên cao độ Biểu hiện bên trong buồng trứng bên có nhiều baonoãn chín thường có từ 10 - 12 bao noãn chín, sau khi lợn cái có biểu hiệnchịu đực 20 - 25 giờ thì một số noãn bao vỡ trứng rụng
- Giai đoạn sau chịu đực
Giai đoạn bắt đầu sau khi kết thúc động dục và kéo dài 4 - 5 ngày Thểvàng được hình thành tiết ra Progesteron ức chế trung khu sinh dục vùng dướiđồi dẫn đến ức chế tuyến yên làm giảm tiết Oestrogen do đó giảm các hưngphấn thần kinh Các dấu hiệu sinh dục giảm dần, niêm mạc sinh dục ngừngtăng sinh, các tuyến ở tử cung cũng không tiết niêm dịch, các tế bào biểu môdần bị sừng hóa, bong ra, hành vi sinh dục không muốn gần con đực, khôngcho con khác nhảy lên lưng và lợn dần trở lại hoạt động sinh lý bình thường
- Giai đoạn yên tĩnh
Đây là giai đoạn dài nhất trong bốn giai đoạn kéo dài 9 - 12 ngày, lợnhoàn toàn không có phản ứng sinh dục đối với con đực, âm hộ teo nhỏ, thểvàng teo dần từ 10mm - 7mm - 6mm, noãn bao trong buồng trứng bắt đầuphát dục, lớn dần lên nhưng chưa nổi rõ trên bề mặt Sau giai đoạn này cácnoãn bao phát triển nhanh chuẩn bị cho một chu kỳ mới Nếu lợn nái khôngđược thụ tinh thì chu kỳ tính dừng lại và chuyển sang thời kỳ chửa (Võ TrọngHốt và cs,2000)[11]
* Sinh lý quá trình mang thai
Mang thai là một hiện tượng sinh lý đặc biệt của cơ thể con cái, nóđược bắt đầu từ khi phối tinh có chửa cho đến khi sinh đẻ xong Ở lợn thờigian mang thai trung bình là 114 ngày
Trang 26Sự phát triển của bào thai trong cơ thể mẹ được chia làm 3 giai đoạn.
- Giai đoạn trứng (tính từ khi trứng thụ tinh đến ngày thứ 10)
Sau khi thụ tinh được 20 giờ thì hợp tử bắt đầu phân chia, sau 5 - 6ngày thì mầm thai và túi phôi được hình thành, màng ối hình thành sau 7 - 8ngày Ở giai đoạn này, phôi hấp thụ dinh dưỡng từ noãn hoàng
- Giai đoạn phôi (tính từ sau ngày 11 đến ngày thứ 40)
Đây là giai đoạn khó khăn của quá trình bào thai Bào thai tiến hành làm
tổ ở hai sừng tử cung và cố định ở đó nhờ nhau thai, sang ngày thứ 12 màng niệuđược hình thành và các khí quan được hình thành rõ rệt, phôi phát triển mạnh,các kết cấu của tế bào và cơ quan phân hóa mạnh Ở giai đoạn này phôi thai hấpthụ dinh dưỡng chủ yếu từ sự phân hủy của các tế bào nội mạc tử cung
- Giai đoạn bào thai (tính từ sau ngày 40 đến khi đẻ)
Thai tiếp tục phát triển, ở mép tai, lưng và đuôi đã có lông dầy Ở thờigian sắp tới ngày sinh đẻ, toàn thân đã mọc đầy lông, hộp sọ cứng, có răngcửa, thai dài 20 - 25 cm (Trần Tiến Dũng và cs, 2002)[6] Ở giai đoạn này thaihoàn toàn lấy dinh dưỡng từ mẹ nhờ nhau thai, chính vì vậy dinh dưỡng chocon mẹ lúc này có ý nghĩa quyết định chất lượng đàn con sinh ra
Khi gia súc có thai, kích tố của thể vàng và nhau thai làm thay đổi cơnăng hoạt động của một số tuyến nội tiết khác Thời kỳ đầu có thai lợn ănuống tốt, quá trình trao đổi chất tăng nên lợn thường béo và mượt lông hơnkhi chưa có thai Khi có thai thời kỳ cuối thai phát triển mạnh, nhu cầu cungcấp dinh dưỡng cao, do đó nếu chăm sóc kém, khẩu phần ăn của mẹ khôngđảm bảo đầy đủ đạm, khoáng và các nguyên tố vi lượng, vitamin thì khôngnhững bào thai phát triển không bình thường mà sức khỏe của con mẹ giảmsút Đặc biệt nếu thiếu Ca và P nghiêm trọng thì con mẹ bị bại liệt trước khi
đẻ, bào thai phát triển mạnh áp lực xoang chậu, xoang bụng thay đổi cùng vớinhu cầu về dinh dưỡng và oxy của bào thai dần nâng cao nên tần số hô hấp,tuần hoàn của mẹ tăng lên, mặt khác thai to chèn ép làm thay đổi tuần hoàncùng xoang chậu nên gây hiện tượng phù thũng ở hai chân sau, đại tiểu tiệncủa cơ thể mẹ tăng nhưng mỗi lần ít Cơ thể mẹ đi lại nặng nề chậm chạp
Sự thay đổi cơ quan sinh dục: Khi lợn có thai, trên bề mặt buồng trứngxuất hiện thể vàng, ở lợn số lượng thể vàng nhiều hơn số lượng bào thai Tử
Trang 27cung phát triển, niêm mạc tăng sinh dầy lên tuần hoàn máu tăng cường lượngmáu đến tử cung nhiều, niêm mạc tử cung hình thành nhau mẹ (Trần TiếnDũng, 2002)[6]) Lợn nái chửa kỳ cuối tử cung nặng 2,5 - 6 kg (không kểthai) bình thường chỉ nặng 0,2 - 0,5 kg.
Progesteron là Hormone an thai do thể vàng và nhau thai tiết ra Ở lợnProgesteron chủ yếu do thể vàng cung cấp, vai trò của nhau thai là xúc tiếnviệc làm tổ của hợp tử, kích thích tế bào biểu mô màng nhày tử cung tiết ranhiều Glycogen và chất dinh dưỡng cho trứng được thụ tinh để cố định vàphát triển, giảm co bóp tử cung, thúc đẩy tuyến vú phát triển, ức chế tuyếnyên tiết FSH và LH do đó ức chế noãn bao phát triển con vật có chửa sẽkhông động dục và thải trứng nữa Prostaglandin do nhau thai tiết ra ở kỳchửa cuối có tác dụng phá thể vàng Oestrogen thời kỳ chửa cuối do nhau thaitiết ra nhiều Oestrogen có tác dụng tăng sự mẫn cảm của cơ trơn tử cung vớiOxytocin Relaxin cũng do nhau thai tiết ra ở kỳ chửa cuối có tác dụng làmgiãn dây chằng xương chậu mở cổ tử cung gây đẻ, kết thúc thời kỳ chửa
2.2.1.3 Sinh lý đẻ
Đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp, khi lợn mẹ kết thúc thời gianmang thai thì cổ tử cung mở kết hợp với sự co bóp của cơ tử cung, cơ thànhbụng cùng với sự rặn toàn thân của cơ thể mẹ làm cho thai, màng thai và dịchthai được tống ra ngoài Quá trình sinh đẻ được chia làm 3 thời kỳ:
- Thời kỳ mở cổ tử cung: Được tính từ khi tử cung có cơn co bóp đầutiên đến khi cổ tử cung mở hoàn toàn kéo dài khoảng 2 - 12 giờ
- Thời kỳ đẻ: Tính từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn đến khi thai cuốicùng được đẩy ra ngoài, giai đoạn này kéo dài khoảng 1 - 4 giờ, nếu dài quá 6giờ là hiện tượng không bình thường gây nguy hiểm cho con mẹ và con connên ta phải kiểm tra can thiệp kịp thời
- Thời kỳ sổ nhau: Giai đoạn này kéo dài khoảng 1 - 4 giờ, nếu dài quágây hiện tượng sót nhau dẫn đến viêm tử cung
Đến kỳ chửa cuối dưới sự ảnh hưởng của hormone Cocticosteroit của vỏtuyến thượng thận, nhau thai sản sinh Prostaglandin, PGF2α làm thoái hóa thểvàng nên hàm lượng Progesteron trong máu giảm xuống thấp Đồng thời nhauthai tiết ra Relaxin làm giãn dây chằng xương chậu và mở cổ tử cung, tăng tiếtOestrogen làm tăng độ mẫn cảm cổ tử cung với Oxytocin trước khi đẻ Thai
Trang 28phát triển thành thục có khối lượng nhất định một mặt sẽ kích thích cơ giới và
áp lực nên tử cung truyền hưng phấn về vỏ não rồi theo xung động thần kinhtruyền tới trung khu sinh dục ở tủy sống vùng chậu gây phản xạ đẻ Mặt khác,khi thai thành thục thì quan hệ sinh lý mẹ và thai không còn cần thiết, mối quan
hệ này chấm dứt, khi đó thai trở thành một vật lạ trong tử cung và tất nhiênđược đưa ra ngoài bằng động tác đẻ (Cù Xuân Dần và cs, 1996) [5]
2.2.1.4 Khả năng sinh sản của lợn nái
Các chỉ tiêu sinh sản và các yếu tố cấu thành năng suất sinh sản của lợnnái trong chăn nuôi, hiệu quả của chăn nuôi lợn nái sinh sản được đánh giábằng số lượng con cai sữa/nái/năm Hai chỉ tiêu này rất quan trọng, nó phụthuộc vào nhiều yếu tố như tuổi thành thục về tính, tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra,
số lứa đẻ ra/năm, tỷ lệ nuôi sống lợn con theo mẹ, sản lượng sữa của mẹ, kỹthuật nuôi dưỡng và chăm sóc… Chính vì vậy việc cải tiến để nâng cao sốcon cai sữa, khối lượng lợn con lúc cai sữa là một trong các biện pháp làmtăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản Nhưng bên cạnh đócần phải giảm khoảng cách giữa 2 lứa đẻ bằng việc cai sữa sớm lợn con vàgiảm số ngày động dục trở lại sau cai sữa của lợn mẹ ở những lứa kế tiếpnhằm tăng số lứa/nái/năm
Trần Đình Miên (1997)[14] cho biết việc tính toán khả năng sinh sảncủa lợn nái cần xét đế các chỉ tiêu như: Chu kỳ động dục, tuổi thành thục vềtính,tuổi có khả năng sinh sản, thời gian mang thai và số con đẻ ra/lứa
Ở nước ta tiêu chuẩn nhà nước (TCVN - 1280 - 72, 1977)[15], các chỉtiêu giám định về khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại các cơ sở chăn nuôigiống lợn nhà nước như sau:
- Số con đẻ ra còn sống/lứa (con)
- Khối lượng 21 ngày tuổi/lứa (kg)
- Khối lượng cai sữa/lứa (kg)
- Tuổi đẻ lứa đầu (ngày)
- Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ (ngày)
Thông thường các chỉ tiêu sau thường được đề cập đến để đánh giá khảnăng sinh sản của lợn nái:
- Tính đều đặn của chu kỳ (ngày)
- Số con đẻ ra/ổ (con)
Trang 29- Số con đẻ ra còn sống/ổ(con).
- Khối lượng sơ sinh/ ổ (kg)
- Khối lượng sơ sinh/con (kg)
- Số con để nuôi/ổ (con)
- Số con 21 ngày tuổi/ ổ (con)
- Khối lượng 21 ngày tuổi/con (kg)
- Số con cai sữa/ổ (con)
- Khối lượng cai sữa/ổ (kg)
- Khối lượng cai sữa/con (kg)
- Thời gian cai sữa (ngày)
- Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ (ngày)
- Tuổi đẻ lứa đầu (ngày)
- Thời gian phối giống sau khi cai sữa (ngày)
- Số lứa đẻ/nái/năm (lứa)
- Số con cai sữa/nái/năm (con)
2.2.1.5 Những nhân tố ảnh hưởng tới sức sản xuất của lợn nái
- Giống: Giống lợn là yếu tố quyết định tới sức sản xuất của lợn nái.Giống và các đặc tính của nó gắn liền với năng suất Giống khác nhau chonăng suất khác nhau (Đặng Vũ Bình, 1999)[2]
- Phương pháp nhân giống: Phương pháp nhân giống khác nhau sẽ chonăng suất khác nhau
Cho nhân giống thuần chủng thì năng suất của chúng cũng chính lànăng suất của giống đó
Cho lai giống thì năng suất sẽ cao hơn 2 giống gốc Các giống gốc càngthuần thì khi lai giống cho ưu thế lai càng cao
- Tuổi và khối lượng phối giống lứa đầu: Để có thể phối giống lứa đầu,lợn nái hậu bị phải thành thục cả về sinh dục và thể vóc
Thành thục sinh dục tức là lợn cái hậu bị phải có biểu hiện về động dục
và rụng trứng Tuổi trưởng thành về sinh dục phụ thuộc vào đặc điểm củagiống và điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc quản lý của cơ sở chăn nuôi Lợncái nội như Ỉ, Móng Cái có tuổi thành thục sinh dục vào 3 - 4 tháng tuổi Lợnngoại như Yorkshire, Landrace có tuổi thành thục sinh dục từ 7 - 8 tháng tuổi
Sự thành thục về thể vóc là sự sinh trưởng phát triển đầy đủ của các cơ quan
Trang 30bộ phận của cơ thể Khi lợn hậu bị đã thành thục về thể vóc thì mới cho phốigiống Tuy nhiên, lợn cái hậu bị quá béo làm hạn chế rụng trứng, do đó làmgiảm số lượng con/lứa Vì vậy, lợn cái hậu bị ngoại nuôi đến 6, 7 tháng tuổiphải cho ăn hạn chế để khi phối giống (khoảng 7,5 - 8 tháng tuổi) lợn đạttrọng lượng 100 - 110 kg là vừa.
- Thứ tự các lứa đẻ: Khả năng sản xuất của lợn nái bị ảnh hưởng rấtnhiều bởi các lứa đẻ khác nhau Lợn cái hậu bị ở lứa đẻ thứ nhất cho số lượngcon/ổ thấp Sau đó từ lứa thứ 2 trở đi, số lượng con/ổ sẽ tăng dần lên cho đếnlứa đẻ thứ 6, thứ 7 thì giảm dần Trong sản xuất, người ta thường chú ý giữvững số lượng con/ổ ở các lứa từ thứ 6 trở đi bằng kỹ thuật chăn nuôi, quản lýchăm sóc sao cho đàn lợn mẹ không tăng cân quá và cũng không gầy sút quá
Giữ vững năng suất bằng cách kéo dài thành tích sinh sản của các lứa
đẻ từ lứa thứ 6 cho đến lứa thứ 10 sẽ có lợi nhiều hơn là loại thải chúng đithay thế bằng đàn nái hậu bị Nếu tăng số lợn nái hậu bị đẻ lứa 1 vào đàn náisinh sản sẽ làm tăng giá thành của 1kg khối lượng lợn con cai sữa, làm giảmlợi nhuận của cơ sở chăn nuôi
- Kỹ thuật phối giống: Kỹ thuật phối giống có ảnh hưởng đến số lượnglợn con/lứa Chọn thời điểm phối giống thích hợp sẽ làm tăng tỷ lệ thụ thai và
số con/lứa Nên chú ý rằng: Nếu lợn nái động dục kéo dài 48 giờ, thì trứng sẽrụng vào 8 - 12 giờ trước khi kết thúc chịu đực, tức là 37 - 40 giờ sau khi bắtđầu chịu đực Cho phối giống quá sớm hoặc quá muộn thì tỷ lệ thụ thai và sốcon sinh ra/ổ sẽ giảm sút nhanh chóng Trong kỹ thuật phối, ngoài các thaotác nghề nghiệp ra, điều cốt yếu là phải xác định thời điểm phối giống thíchhợp Thời điểm phối giống thích hợp có sự khác nhau giữa lợn nội và lợnngoại, giữa nái cơ bản và nái hậu bị
- Dinh dưỡng và chăm sóc: Thức ăn là nguồn cung cấp dinh dưỡng,năng lượng cho tất cả các hoạt động sống của cơ thể, nó đóng vai trò quantrọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm
+ Protein: Mức độ protein được cung cấp ảnh hưởng rất lớn tới thànhtích sinh sản của lợn mẹ Nếu nhu cầu protein của lợn mẹ không được đápứng đầy đủ sẽ làm chậm động dục và làm giảm số lứa đẻ/nái/năm Ở giaiđoạn chửa, nếu khẩu phần ăn thiếu protein thì lợn con sinh ra sẽ có khốilượng sơ sinh thấp, còn ở giai đoạn tiết sữa sẽ làm giảm khả năng tiết sữa, vìthế ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh trưởng của lợn con