1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá khả năng chuyển đổi giới tính trên cá rô phi bằng hormone 17α metyltestosterol tại trung tâm giống thủy sản cấp i bắc giang

70 726 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá khả năng chuyển đổi giới tính trên cá rô phi bằng hormone 17α metyltestosterol tại trung tâm giống thủy sản cấp I Bắc Giang
Trường học Trung tâm Giống Thủy sản cấp I Bắc Giang
Chuyên ngành Thủy sản
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Bắc Giang
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khóa Luận cực hay và bổ ích !!!!!!!

Trang 1

Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1.1 Điều tra cơ bản

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Đến nay tỉnh Bắc Giang có 9 huyện và 1 thành phố Trong đó có 6 huyện miền núi và 1 huyện vùng cao (Sơn Động); 229 xã, phường, thị trấn

Trung tâm giống thuỷ sản cấp I Bắc Giang (trung tâm vùng) nằm trong vùng Đông Bắc của tổ quốc thuộc thôn Hoành Sơn - xã Phi Mô - huyện Lạng

Giang - tỉnh Bắc Giang

Tổng diện tích: 11.3ha, trong đó diện tích mặt nước 7.5 ha

Ngoài ra trung tâm còn có hai cơ sở nhánh:

+ 01 cơ sở thuộc xã Xương Giang - thành phố Bắc Giang (cơ sở Xương

Giang) với tổng diện tích 1.5 ha, trong đó diện tích mặt nước là 7.780 m2

+ 01 cơ sở thuộc xã Hòa Lạc - huyện Hữu Lũng- tỉnh Lạng Sơn (hồ Cấm

Sơn) với tổng diện tích 8.0 ha, trong đó diện tích mặt nước là 6.0 ha

1.1.1.2 Địa hình đất đai

Địa hình Bắc Giang gồm 2 tiểu vùng miền núi và trung du có đồng

bằng xem kẽ Vùng trung du bao gồm 2 huyện Hiệp Hòa, Việt Yên và TP-

Bắc Giang Vùng miền núi bao gồm 7 huyện: Sơn Động, Lục Nam, Lục Ngạn,Yên Thế, Tân Yên, Yên Dũng, Lạng Giang Trong đó 1 phần các huyện Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế và Sơn Động là vùng núi cao

Đặc điểm chủ yếu của địa hình miền núi (chiếm 72% diện tích toàn tỉnh)

là chia cắt mạnh, phức tạp chênh lệch về độ cao lớn Nhiều vùng đất đai còn

Trang 2

tốt, đặc biệt ở khu vực còn rừng tự nhiên Vùng đồi núi thấp có thể trồng được nhiều cây ăn quả, cây công nghiệp như vải thiều, cam, chanh, na, hồng, đậu tương, chè ; chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm, thuỷ sản

Đặc điểm chủ yếu của địa hình miền trung du (chiếm 28% diện tích toàn tỉnh) là đất gò, đồi xen lẫn đồng bằng rộng, hẹp tùy theo từng khu vực Vùng trung du có khả năng trồng nhiều loại cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả, cây công nghiệp, chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm, cá và nhiều loại thuỷ sản khác

Trung tâm giống thuỷ sản cấp I Bắc Giang được bao bọc bởi hệ thống

và các công trình thủy lợi Nằm trong vùng hoàn toàn có nguồn nước ngọt sạch, tự chảy được dẫn từ hồ Cấm Sơn về Nguồn nước này luôn được duy trì

11 tháng/năm, chỉ bị hạn chế vào tháng 12 hàng năm Nguồn nước có pH ổn định, chất đáy sét pha cát

1.1.1.3 Khí hậu thủy văn

Bắc Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng Đông Bắc Một năm có bốn mùa rõ rệt Mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm, mùa xuân, mùa thu khí hậu ôn hoà Nhiệt độ trung bình 22 - 230C, có độ ẩm dao động lớn từ

73 – 87%

Lượng mưa hàng năm đủ đáp ứng nhu cầu nước cho sản xuất và đời sống Nắng trung bình hàng năm từ 1.500 – 1.700 giờ, thuận lợi cho phát triển các cây trồng nhiệt đới, á nhiệt đới Các năm gần đây Bắc Giang ít bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thời tiết ổn định có nhiệt độ trung bình năm không cao (22 – 250C) số ngày mưa trung bình 90 ngày

Trung tâm giống thuỷ sản cấp I Bắc Giang mang khí hậu đặc trưng của vùng Đông Bắc Nhiệt độ biến động giữa các mùa là khá lớn (140

C - 36 0 C), vào

mùa đông nhiệt độ xuống thấp nên gặp nhiều khó khăn tới nuôi và sản xuất

1.1.1.4 Mạng lưới giao thông

Trung tâm giống thuỷ sản cấp I Bắc Giang có đường giao thông đi lại thuận lợi cạnh đường quốc lộ 1A, tiếp giáp với thành phố Bắc Giang là đầu mối giao thông với các tỉnh lân cận như: Bắc Ninh, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hải Dương, Quảng Ninh,…

Trang 3

Nhìn chung hệ thống giao thông đi qua trung tâm rất thuận lợi cho việc lưu thông cung cấp con giống và chuyển giao khoa học công nghệ người dân trong tỉnh nói riêng và các tỉnh miền Bắc nói chung

1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

1.1.2.1 Điều kiện kinh tế

* Tình hình phát triển kinh tế

Bắc Giang có 9 huyện và 1 thành phố, 229 xã - phường - thị trấn Dân

số của tỉnh tính đến năm 2006 là 1.596.696 người, với hơn 90% dân số sống ở khu vực nông thôn Nguồn lao động là 1.178.501 người Trong đó:

- Số người trong độ tuổi lao động là: 988.901 người

- Số người trong độ tuổi lao động không có việc làm là: 26.700 người,

chiếm 2,7% tổng số lao động của tỉnh

Những năm qua; kinh tế Bắc Giang đạt kết quả khá Tổng giá trị sản lượng công nghiệp giai đoạn 2006-2008 tăng 13,9% so với giai đoạn 2001 -2005; kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân trên 31%/năm; Bắc Giang có nhiều khu công nghiệp lớn là nơi thu hút nhiều nhân lực và tăng thu ngân sách

cho tỉnh Giá trị tăng thêm ngành nông-lâm nghiệp và thuỷ sản tăng trưởng

bình quân 3,02%/năm; riêng 6 tháng đầu năm 2008 là 3,2% Sản lượng lương thực có hạt năm 2007 đạt trên 590 ngàn tấn, tăng 1,7% so với năm 2005 Sản lượng lương thực hàng hoá đạt 130 ngàn tấn; lương thực bình quân đầu người đạt 370 kg/người/năm Sản lượng thuỷ sản đạt 16.950 tấn

* Tình hình phát triển nuôi trồng thủy sản

Bắc Giang có tiềm năng phát triển nuôi trồng thuỷ sản rất lớn; với diện tích mặt nước có khả năng nuôi trồng thuỷ sản 23.054 ha trong đó; diện tích

ao hồ lớn 3.790 ha, diện tích ruộng trũng cấy lúa không ăn chắc chuyển đổi sang NTTS 4.305 ha, diện tích ao hồ nhỏ 4.643 ha còn lại là diện tích chưa được khai thác

Diện tích mặt nước đang sử dụng NTTS 11.838 ha thực sự đã mang lại hiệu quả kinh tế xã hội; phong trào nuôi trồng thuỷ sản của nhân dân tỉnh Bắc Giang đang trên đà phát triển mạnh, diện tích nuôi trồng thuỷ sản được gia tăng, diện tích mặt nước và diện tích cấy lúa không ăn chắc đã được chuyển

Trang 4

đổi và sử dụng có hiệu quả bằng nuôi trồng thuỷ sản và mô hình VAC Trong giai đoạn này nhu cầu giống thuỷ sản của nhân dân tăng mạnh, nhân dân đã quan tâm đầu tư vào đối tượng cá giống có giá trị kinh tế cao và quan tâm đầu

tư về khoa học kỹ thuật trong nuôi trồng thuỷ sản thay thế dần tập quán nuôi thả, đặc biệt là giống cá rô, cá chép và các giống loài thuỷ đặc sản khác Năng lực về KHKT của người nông dân đã được nâng dần qua các lớp tập huấn, hội thảo và các mô hình, dự án giống mới Sản phẩm thuỷ sản được xã hội coi trọng và góp phần cải thiện bữa ăn hàng ngày của người nông dân; nhất là nhân dân miền núi vùng đồng bào dân tộc (qua các chương trình hỗ trợ của tỉnh) và làm phong phú hơn sản phẩm xã hội Nuôi trồng thuỷ sản thực sự đã tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập làm thay đổi và cải thiện đáng kể đời sống của một bộ phận người nông dân; góp phần tích cực trong chương trình phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn

1.1.2.2 Đời sống kinh tế xã hội

Về các hoạt động văn hoá thể thao của Trung tâm tương đối mạnh Trung tâm đã tham gia vào các giải văn nghệ thể thao do đơn vị tổ chức, giao lưu với các đơn vị khác trên địa bàn tỉnh, tỉnh đoàn tổ chức và đạt kết quả tốt

Trung tâm đã đạt được thành tích cao do sở nông nghiệp và phát triển

nông thôn tỉnh Bắc Giang trao tặng

1.1.3.Các hoạt động chủ yếu của trung tâm

1.1.3.1 Cơ sở vật chất

Trung tâm giống thuỷ sản cấp I Bắc Giang (Trung tâm vùng) là đơn vị

sự nghiệp có thu; được thành lập tại Quyết định số 116/QĐ-UBND ngày 14/9/2004 của UBND tỉnh Bắc Giang V/v thành lập Trung tâm giống thuỷ sản cấp I Bắc Giang trên cơ sở giữ nguyên cơ sở vật chất kỹ thuật và nhân lực của

Xí nghiệp giống dịch vụ thuỷ sản Bắc Giang (Phi Mô, Lạng Giang, Bắc Giang) và Trạm thuỷ sản Cấm Sơn (Hoà Lạc, Hữu Lũng, Lạng Sơn) Trung tâm có chức năng nhiệm vụ là đơn vị lưu giữ nguồn gen đặc hữu và ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất giống thuỷ sản Năm 2006 - 2007 được sự quan tâm của Bộ thuỷ sản, UBND tỉnh Bắc Giang Trung tâm được đầu tư nâng cấp mở rộng sản xuất Trung tâm hiện có 2 cơ sở sản xuất chính và 1 cơ

sở nhỏ trực thuộc

Trang 5

* Cơ sở 1:(tại xã Phi Mô, Lạng Giang, Bắc Giang)

Trên cơ sở vật chất của Trại cá giống Lạng Giang được thành lập từ năm 1968; với đầy đủ khả năng của một cơ sở sản xuất giống thuỷ sản; với tổng diện tích đất sử dụng tại cơ sở 1 là 11,3ha với nguồn nước trong sạch và hoàn toàn tự chảy; trong đó có 7,5 ha mặt nước (còn lại là các công trình phụ trợ) Năm 2007 được sự quan tâm của Bộ thuỷ sản, UBND tỉnh Bắc Giang Trung tâm được đầu tư xây dựng với các hạng mục công trình ao, đường nội

bộ, kênh dẫn nước, hồ điều hoà được bê tông hóa, nhà điều hành và phòng thí nghiệm được trang bị thiết bị phục vụ công tác nghiên cứu Cơ sở nhà xưởng sản xuất, ao nâng nhiệt đủ điều kiện để lưu giữ cá bố mẹ qua đông và phục vụ sản xuất, cải thiện mùa vụ đã thực sự làm cho năng lực sản xuất của đơn vị được nâng cao hơn nhiều lần

Hàng năm Trung tâm sản xuất được từ 250 - 300 triệu cá bột, 18 - 22 triệu cá hương và 8 - 12 triệu cá giống các loại và cung ứng phục vụ nhân dân

từ 70 - 100 tấn cá giống; doanh thu 3,0 – 4,5 tỷ đồng; đảm bảo việc làm và thu nhập ổn định cho 43 - 50 cán bộ CNVC-LĐ hàng năm có thu nhập bình

quân 1,9 tr đ/người/ tháng

Để nâng cao năng lực sản xuất; năm 2011 Trung tâm được tiếp tục đầu

tư mở rộng cơ sở sản xuất với các hạng mục công trình: Nhà công nghệ cao, cứng hoá kênh tiêu nước, ao thực nghiệm với tổng mức đầu tư trên 21,0 tỷ đồng; sau khi dự án hoàn thành điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật hoàn thiện đảm bảo tiếp nhận và ứng dụng nhiều dự án thuỷ sản cùng lúc

* Cơ sở 2: (tại xã Hoà Lạc, huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn)

Là cơ sở mới được đầu tư xây dựng cơ sở vật chất; với những hạng mục công trình kênh dẫn nước, ao nuôi, đường nội bộ được bê tông hoá; nhà điều hành, nhà xưởng sản xuất với 8,0 ha mặt nước ở vùng núi có nhiệt độ trung bình năm thấp nhìn chung cơ sở vật chất đảm bảo đáp ứng được những yêu cầu kỹ thuật của cơ sở sản xuất giống thuỷ sản và ứng dụng công nghệ sản xuất mới

* Cơ sở 3: Là cơ sở trực thuộc Trung tâm; đóng tại xã Xương Giang,

Thành phố Bắc Giang Là cơ sở nhỏ với hơn 1,5 ha diện tích tự nhiên trong

đó có 0,8 ha diện tích mặt nước sản xuất chủ yếu là ương nuôi cá giống

Trang 6

Nhà xưởng, điều kiện về địa điểm mặt bằng của trung tâm

Trung tâm có đầy đủ trang thiết bị về văn phòng, nhà điều hành, nhà xưởng và mặt bằng phục vụ các nội dung của dự án Tổng diện tích đất sử dụng tại cơ sở 1 là 13 ha Trong đó có 7,2 ha là mặt nước với các ao được bê tông hóa, 2 ha đất đã xây dựng các khu điều hành, nhà kho, nhà xưởng, phòng thí nghiệm Diện tích đất còn lại còn dùng để tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất; đặc biệt là nhà xưởng, nhà chế biến thức ăn tự chế

+ Trung tâm có nguồn nước tự chảy, sạch được dẫn từ hồ Cấm Sơn về Nguồn nước này luôn duy trì tự chảy 10 tháng/ năm Nguồn nước chỉ bị hạn chế vào những tháng 11,12 hàng năm

+ Trung tâm có 01 trạm biến áp riêng, đảo bảo lượng điện cho hoạt động sản xuất hiện tại của trung tâm và xưởng chế biến thức ăn

+ Hiện tại trung tâm có 01 xe bán tải loại 0,5 tấn và 01 xe tải loại 2,5 tấn đảm bảo phục vụ dự án tốt nhất

1.1.3.2 Cơ cấu tổ chức quản lý

Ban giám đốc : 01 Giám đốc

01 phó giám đốc Phòng kỹ thuật : 01 trưởng phòng

07 nhân viên Phòng hành chính: 01 trưởng phòng

02 kế toán

02 nhân viên Ngoài ra tổ sinh sản và phục vụ sản xuất gồm: 30 nhân viên

1.1.3.3 Các hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiếp nhận và triển khai công nghệ của trung tâm

*Chức năng

+Nghiên cứu, thực nghiệm và ứng dụng các công nghệ về giống thủy sản, lưu giữ giống thủy sản đặc hữu ở địa phương, nhân các loại giống thuần chủng cung cấp cho các cơ sở sản xuất giống trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

+Tham gia đào tạo kỹ thuật và chuyển giao công nghệ về giống thủy sản, sản xuất, dịch vụ con giống thủy sản có chất lượng cao

Trang 7

+ Tiếp nhận, ứng dụng công nghệ mới về sản xuất giống thủy sản, xây dụng mô hình trình diễn, tập huấn, chuyển giao công nghệ sản xuất giống thủy sản

+ Kết hợp với các trường chuyên nghiệp, trung tâm khuyến nông, khuyến ngư đào tạo công nhân kỹ thuật nghành nuôi trồng thủy sản theo yêu cầu của địa phương

+Hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thực hiện công trình nghiên cứu thực nghiệm về giống thủy sản ở địa phương Sản xuất dịch

vụ con giống thủy sản có giá trị kinh tế mà các cơ sở sản xuất giống khác ở địa phương chưa đủ cho nhu cầu sản xuất

+Tiếp nhận thành công dự án sản xuất cá Rô phi đơn tính đực dòng GIFT từ viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I từ năm 2006 Mỗi năm trung tâm sản xuất được trên 2 triệu cá rô phi đơn tính giống

+Tiếp nhận và sinh sản thành công cá Lăng chấm từ viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I từ năm 2008 Kết quả đã sản xuất được trên 10.000 con

cá Lăng chấm giống trong năm 2009 Trung tâm tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất cá Lăng chấm trong những năm tiếp theo Hiện nay trung tâm có trên 300kg cá Lăng chấm bố mẹ phục vụ cho kế hoạch sinh sản nhân tạo loài cá này trong những năm sau

+Tiếp nhận và triển khai dự án bảo tồn, lưu giữ và phát triển các loài cá quý hiếm như Lăng chấm, Anh vũ, Chày mắt đỏ, Cua gia,…và các đối tượng đặc hữu khác từ trường Cao đẳng thủy sản từ năm 2009

Trang 8

+ Nghiên cứu và cho sinh sản nhân tạo thành công cá Anh vũ trong

năm 2009 - 2010 Hiện tại đã sản xuất được 10.000 con giống cá Anh vũ

+Tiếp nhận và triển khai dự án bảo tồn, lưu giữ và phát triển các loài cá quý hiếm như Lăng chấm, Anh vũ, Chày mắt đỏ và các đối tượng đặc hữu khác

+ Năm 2010 - 2011, chủ trì dự án: “Ứng dụng tiến bộ KH&CN để nuôi

cá Lăng chấm hàng hoá trên địa bàn tỉnh Bắc Giang”

+ Năm 2011-2012: “Ứng dụng tiến bộ KH&CN để nuôi cá Rô đầu vuông hàng hoá trên địa bàn tỉnh Bắc Giang”

+ Năm 2012 - 2013, Trung tâm thực hiện chuyển giao khoa học công nghệ sản xuất cá Lăng chấm cho tỉnh Lào Cai

1.1.4 Đánh giá chung

1.1.4.1 Thuận lợi

- Ban lãnh đạo luôn quan tâm chú ý, đầu tư sản xuất, đáp ứng công tác

đào tạo ngày càng tốt hơn, đồng thời nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên của Trung tâm

- Trung tâm giống thuỷ sản cấp I Bắc Giang có diện tích đất đai tương đối rộng, thuận lợi cho việc phát triển sản xuất giống để cung cấp giống cho địa phương và cho các tỉnh lân cận

- Đường xá đi lại qua trung tâm đã được nhựa hoá nên việc đi lại phục

vụ cho việc chuyển giao con giống cũng như việc chuyển giao khoa học công nghệ được thuận lợi hơn

- Trung tâm giống thuỷ sản cấp I Bắc Giang có đội ngũ cán bộ trẻ, có trình

độ chuyên môn cao, nhiệt tình, năng động, tích cực đưa tiến bộ khoa học vào sản xuất nâng cao chất lượng con giống đáp ứng được nhu cầu của người dân

1.1.4.2 Khó khăn

- Do sự bất thường của thời tiết, lượng mưa trong năm phân bố không đều gây khó khăn trong công tác sản xuất giống Khí hậu khắc nghiệt hay thay đổi ở một số tháng gây nên nhiều bệnh tật, khả năng sinh trưởng phát triển của các loài cá bị hạn chế

- Mặc dù có sự quan tâm của Bộ thuỷ sản, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang nhưng do kinh tế còn hạn chế nên cơ sở vật chất chưa được đầu tư hiện

đại và thiếu đồng bộ, các đề tài của địa phương chưa thực sự phát triển

Trang 9

1.2 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất

1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất

Để tiến hành nghiên cứu cũng như hoàn thành đề tài tốt nghiệp thì công tác phục vụ sản xuất phải được tiến hành chu đáo, cẩn thận, tỉ mỉ trong quá trình thực hiện sản xuất

Công tác phục vụ sản xuất điều kiện đầu tiên, quan trọng trong sản xuất muốn sản xuất được thành công thì công tác phục vụ sản xuất phải được coi trọng và tiến hành nghiêm túc ngay từ đầu

Trong thời gian thực tập tốt nghiệp tạiTrung tâm giống thuỷ sản cấp I Bắc Giang Nội dung phục vụ sản xuất nhằm phục vụ đề tài nghiên cứu và cho sản xuất bao gồm:

- Tham gia cho cá đẻ cùng tổ sinh sản: Cá chép, cá trắm cỏ, cá Rô đầu vuông,…

- Tham gia cùng các cán bộ phòng kỹ thuật trong công tác cải tạo ao

- Phòng và trị bệnh cho rô phi bố mẹ

-Tham gia vào các công tác khác…

1.2.2 Phương pháp tiến hành

Để thực hiện tốt các nội dung trên, trong thời gian tiến hành đề tài nghiên cứu và hoàn thiện công tác phục vụ sản xuất tôi đã đề ra một số biện pháp sau:

- Lập thời gian biểu và lên kế hoạch cho từng nội dung nghiên cứu, sắp xếp

nội dung công việc hợp lý cho từng ngày

-Kết hợp công việc phục vụ sản xuất với công tác phục vụ nghiên cứu

phù hợp tình hình sản xuất của phòng kỹ thuật

- Chịu khó quan sát, tư duy, học hỏi cán bộ, các kỹ thuật viên của Trung tâm -Tham gia trực tiếp và nhiệt tình các hoạt động nghiên cứu và sản xuất

của phòng

-Tích cực học hỏi kinh nghiệm của các anh chị cán bộ trong phòng

- Tích cực, hăng làm việc, luôn luôn học hỏi, rèn luyện tay nghề xác định

động lực làm việc, không ngại khó khăn vất vả

- Luôn luôn giám sát, theo dõi tình hình chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý

dịch bệnh và xử lý kịp thời khi xảy ra

- Làm việc cẩn thận, nghiêm túc và có tinh thần trách nhiệm, tinh thần

làm việc cao bảo đảm cho nhu cầu sản xuất

Trang 10

- Thường xuyên học hỏi, xin ý kiến cán bộ của trung tâm Luôn theo dõi và

bám sát tình hình thực tế

- Xác định các yếu tố liên quan, ảnh hưởng đến nội dung đề tài nghiên

cứu, công việc sản xuất và trong quá trình nuôi dưỡng chăm sóc để từ đó có biện pháp hợp lý hoàn thành tốt nội dung công tác phục vụ sản xuất

1.3 Kết quả phục vụ sản xuất

Trong thời gian thực tập tôi được sự giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn, các cán bộ, công nhân viên của Trung tâm giống thuỷ sản cấp I Bắc Giang tạo điều kiện cho tôi có kiến thức thực tế.Và đã thu được kết quả như sau:

1.3.1 Công tác cải tạo lại ao nuôi

Được thực hiện theo quy trình của sơ đồ dưới đây:

Hình 1.1 Sơ đồ quy trình cải tạo ao

Phơi ải (3 ngày)

Tháo nước vào ngâm

Sử dụng

- pH đất cao thì lượng vôi ít

- pH đất thấp thì vôi nhiều hơn bình thường

Trang 11

-Kết quả thu được trong công tác cải tạo ao:

+Cải tạo được 2 ao B1,B2 để ghép giai rô phi bố mẹ với tổng diện tích

+ Thu trứng và sẹ

Trứng cá được vuốt vào bát men có đường kính 18 cm, long bát trơn bóng Sau khi đã thu được trứng nhanh chóng vuốt sẹ vào bát trứng để thụ tinh cho trứng

Trứng của mỗi cá cái cần được thụ tinh bởi tinh của 2 cá đực

+ Thụ tinh cho trứng

Sử dụng lông gà khô khuấy nhẹ nhàng, đảo đều trứng với sẹ trước khi cho 5-

10 ml nước sạch vào bát trứng Sau khi cho nước sạch vào tiếp tục khuấy thêm 1- 3 phút

+ Khử dính cho trứng

Trứng được khử dính bằng dung dịch nước dứa (DDKD) Lượng DDKD gấp

5 lần khối lượng trứng cần được khử dính

Đổ 1/3 lượng DDKD vào bát trứng đã được thụ tinh khuấy đều cho trứng tách rời nhau Sau đó cho số lượng DDKD còn lại, nhẹ nhàng khuấy đều từ 20 phút Sau 20 phút kiểm tra độ dính của trứng, trứng không dính lại với nhau là được

Trang 12

+Ấp trứng

Trứng đã khử dính, rửa sạch được ấp trong bình vây có bình vây có thể tích

300 lít với mật độ tối đa 40.000 trứng/lít

Lượng nước qua bình khoảng 4 lít/giây Trong quá trình ấp trứng vệ sinh mạng tràn thường xuyên, nhất là khi trứng nở

- Thu được kết quả như sau:

+ Đợt 1 (24/02/2012): Cho đẻ 46 cặp với tổng khối lượng cá cái 107,2 kg thu được 2,05 triệu cá bột

+ Đợt 2(27/02/2012): Cho đẻ 26 cặp với tổng khối lượng cá cái 136,3kg thu được 2,85 triệu cá bột

+ Đợt 3 (01/03/2012): Cho đẻ 46 cặp với tổng khối lượng cá cái 192,8 kg thu được 4,79 triệu cá bột

+Sau khi tiêm xong thả cá bố mẹ vào bể cho cá sinh sản quan sát tới khi

cá đẻ trứng rồi dùng vợt cho vào bể vòng thu trứng rồi chuyển trứng vào bể vòng để ấp trứng

-Kết quả thu được:

+ Đợt 1 (10/05/2012): Cho đẻ 6 cặp với tổng khối lượng cá cái 23 kg và thu được 1,1 triệu cá bột

+ Đợt 2 (28/05/2012): Cho đẻ 9 cặp với tổng khối lượng cá cái 41,5 kg

và thu được 2,5 triệu cá bột

Trang 13

1.3.4 Cho cá rô đầu vuông đẻ

- Kỹ thuật cho cá rô đầu vuông sinh sản

Sau khi được tiêm thuốc 2 - 3 tiếng thì được chuyển vào bể

Thời gian ấp trứng từ 16 - 20 giờ

+Mật độ trứng cho ấp là 3.000 trứng/lít nước

+Cần thay nước ngày 2 lần

+ Khi trứng nở dùng ống nhựa trong rút nước cặn, vỏ trứng và trứng ung

bỏ đi và cho dòng nước chảy nhẹ vào để cung cấp cho cá bột

- Kết quả thu được như sau:

+ Đợt 1 (20/04/2012): Cho 100 cặp cá đẻ với tổng khối lượng cá cái 17,5

Phòng trị bệnh cho cá rô phi bố mẹ 98% khỏi bệnh

Trang 14

1.4 Kết luận và đề nghị

1.4.1 Kết luận

Qua bảng kết quả công tác phục vụ sản xuất cho thấy trong công tác sản xuất của trung tâm bao gồm rất nhiều mảng khác nhau song kết quả đạt được vẫn còn hạn chế Nguyên nhân là do:

- Thời gian thực tập có hạn

- Trình độ tay nghề còn kém

Vì vậy, tôi đã đi sâu tìm hiểu những kỹ thuật và làm việc, học hỏi những kinh nghiệm của các cán bộ công nhân kỹ thuật tại trung tâm để nâng cao hơn nữa những hiểu biết nghề nghiệp cũng như nâng cao trình độ tay nghề cho bản thân và cũng đã thu được một số kết quả sau:

- Nắm được kỹ thuật sản xuất giống cá rô phi, cá chép,

- Gắn kết được lý thuyết đã học vào thực tế sản xuất

- Tiếp cận được với những tiến bộ khoa học mới

- Học hỏi được cách giao tiếp, ứng xử không chỉ trong công việc mà còn cả trong cuộc sống hằng ngày

- Biết được cách phòng và điều trị một số bệnh cho đàn cá bố mẹ, cho cá giống, trong quá trình ấp trứng, đặc biệt là các bệnh thường sảy ra khi xử lý

cá rô đơn tính ở 21 ngày tuổi

- Hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp của mình

1.4.2 Đề nghị

- Mỗi một mảng công việc riêng của trung tâm như: mảng chuyên cá rô

đầu vuông, mảng chuyên cá rô phi, cần có những kỹ sư chuyên về mảng đó

để đạt được hiệu quả cao hơn trong công việc

- Nâng cấp lại hệ thống ao mương đang bị rò rỉ

- Bỏ bớt lớp bùn đáy ao quá dày để giảm bớt lượng khí độc tích tụ ở đáy ao

- Cần trang bị thêm một số dụng cụ phục vụ trong quá trình sản xuất

- Phải luôn luôn kiểm soát dịch bệnh, chất lượng nước trong các hoạt động nuôi trồng thủy sản, định kỳ kiểm tra các chỉ tiêu lý hóa học của môi trường nuôi

Trang 15

Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tên đề tài: “Đánh giá khả năng chuyển đổi giới tính trên cá rô phi bằng hormone 17α- Metyltestosterol tại trung tâm giống thủy sản cấp I Bắc Giang”

2.1 Đặt vấn đề

2.1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây lợi nhuận kinh tế đem lại cho người dân từ việc nuôi cá khá cao so với nuôi trồng các loại cây, con khác, nên diện tích mặt nước dành cho nuôi trồng thủy sản ngày một tăng Hiện nay, cá rô phi đang được nuôi rộng rãi trong cả nước và là một trong những đối tượng được chú ý phát triển mạnh trong nuôi trồng thuỷ sản Do cá rô phi là một loại cá

ăn tạp, dễ nuôi, chúng có thể phát triển trong các loại hình mặt nước như ao,

hồ, sông, suối, ruộng, lồng bè và có thể sống trong môi trường nước ngọt, nước lợ, nước biển có độ mặn tới 15‰ Cá ít dịch bệnh, có thể nuôi với mật độ dầy Thịt cá rô phi được đánh giá là có chất lượng cao, thơm ngon, ít xương, giá thành phù hợp với người dân, trọng lượng cá thể vừa phải thích hợp cho việc chế biến xuất khẩu và thuận tiện cho việc sử dụng trong gia đình

Thực tế nhu cầu về con giống cá rô phi đơn tính đực ở nước ta ngày càng tăng trong khi đó những cở sở sản xuất giống hiện không đáp ứng đủ nhu cầu của người nuôi Mặt khác do sử dụng các dòng cá rô phi địa phương để sản xuất giống đơn tính nên chất lượng con giống của nhiều cơ sở sản xuất vẫn chưa đảm bảo về chất lượng khiến cho người nuôi gặp nhiều rủi ro như cá chậm lớn, cỡ cá thương phẩm nhỏ dẫn đến năng suất nuôi thấp

Hiện nay có nhiều phương pháp để tạo ra đàn cá đơn tính đực như: phương pháp lai xa; phương pháp tạo dòng siêu đực; phương pháp xử lý bằng hormone, theo các mục tiêu cụ thể khác nhau đang được thực hiện trên thế giới, nhằm nâng cao chất lượng như: sinh trưởng, chịu lạnh, độ dày thân Tuy nhiên hai phương pháp lai xa và tạo đàn siêu đực mang lại kết quả cao nhưng tính ổn định thấp, khó thực hiện, tốn thời gian Từ những năm 1994 Viện

Trang 16

nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I đã tiếp thu công nghệ xử lý cá rô phi đơn tính đực bằng hormone, từ Học Viện Công nghệ châu Á Phương pháp xử lý bằng hoocmone vừa dễ áp dụng hiệu quả lại cao tỷ lệ đực đạt tới 95% - 100% (Nguyễn Tường Anh, 2005) [1], chất lượng con giống ổn định.Vì vậy, tôi tiến

hành thực hiện đề tài:“Đánh giá khả năng chuyển đổi giới tính trên cá rô phi bằng hormone 17α- Metyltestosteroltại Trung tâm giống thủy sản cấp I Bắc Giang”

2.1.2 Mục tiêu của đề tài

- Tiếp cận kiến thức từ thực tế để củng cố kinh nghiệm cho bản thân

- Thành thạo qui trình sản xuất giống cá rô phi đơn tính đực bằng

Cá rô phi có tên gọi chung của khoảng 80 loài cá và căn cứ vào đặc

điểm sinh sản, các nhà nghiên cứu đã phân loại thành 3 giống chính

Trang 17

Bảng 2.1 Đặc điểm sinh sản và những loài rô phi quan trọng trong nuôi

trồng thuỷ sản (Macintosh và Líttle, 1995) [20]

Tên giống Kiểu sinh sản Một số loài quan trọng

Tilapia Đẻ có giá thể T zillii

T rendalli Sarotherodon Cá bố hoặc cá mẹ ấp

Cá Rô phi vằn O niloticus toàn thân phủ vẩy sáng bóng, phần lưng có

màu xám nhạt, phần bụng có màu trắng sữa hoặc xanh nhạt Trên thân mình

có 7 - 9 vạch đậm chạy từ lưng xuống bụng Vây đuôi có màu sọc đen đậm song song từ phía trên xuống phía dưới và phân bố khắp vây đuôi Vây lưng

có những sọc trắng chạy song song trên nền xám đen Viền vây lưng và vây đuôi có viền hồng nhạt Cá rô phi vằn là loài cá có kích thước lớn, tốc độ tăng trưởng nhanh, đẻ thưa, chất lượng thịt ngon thơm

* Môi trường sống

Do có nguồn gốc ở châu Phi nên khả năng chịu lạnh của cá rô phi kém hơn so với khả năng thích nghi ở nhiệt độ cao Cá rô phi có thể chịu đựng được ở nhiệt độ 400C và chết nhiều khi nhiệt độ xuống dưới 100

C (Capili, 1995) [16]

Cá rô phi là loài rộng muối, có khả năng sống được trong môi trường nước sông, suối, đập tràn, hồ ao nước ngọt, nước lợ và nước mặn từ 0 - 40‰

Môi trường có pH từ 6,5 - 8,5 là thích hợp cho sự phát triển và sinh trưởng của cá rô phi

Hàm lượng oxy thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cá rô phi

từ 5- 8 mg/lit

Trang 18

* Đặc điểm dinh dưỡng

Tính ăn của cá rô phi thay đổi theo từng loài, từng giai đoạn phát triển

và môi trường nuôi Khi còn nhỏ cá rô phi ăn sinh vật phù du như tảo và động vật phù du nhỏ là chủ yếu Khi trưởng thành, cá ăn mùn bã hữu cơ lẫn các loại tảo lắng ở đáy ao, ăn ấu trùng côn trùng, thực vật thuỷ sinh (KhoaThuỷ sản trường Đại học Cần Thơ, 1994) [13] Tuy nhiên trong nuôi công nghiệp cá cũng ăn các loại thức ăn chế biến từ cá tạp, cua, ghẹ, ốc, bột

cá khô, bột ngô, bột sắn, khoai lang, cám mịn, bã đậu tương, bã lạc

Trong tự nhiên cá rô phi chủ yếu kiếm mồi vào ban ngày, cá có thể bắt mồi hầu hết các giờ trong ngày Ruột cá rô phi thích nghi với việc thu nhận thức ăn từng ít một Do vậy trong quá trình nuôi hoặc chuyển giới tính đực cần phải chia lượng thức ăn thành nhiều lần trong ngày sẽ thuận lợi cho việc theo dõi thức ăn thừa, quản lý được chất lượng nước và giai xử lý đơn tính đực, đảm bảo cho cá sinh trưởng (Macintosh và Líttle, 1995) [20]

* Đặc điểm sinh trưởng

Trong cùng một loài các dòng khác nhau cũng có tốc độ sinh trưởng

khác nhau Khi nghiên cứu về sự sinh trưởng của cá O niloticus dòng GIFT

và Ivory Coast và dòng Ghana trong cùng một điều kiện nuôi cho thấy dòng

GIFT có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, kém nhất là dòng (Ghana Khater và Smistherman, 1988) [18] Nghiên cứu về sinh trưởng ở Philippin đối với cá

O.niloticus dòng Israel, dòng Singapor và dòng Đài Loan kết quả cho thấy dòng Israel có tốc độ sinh trưởng tốt nhất, kém nhất là dòng Đài loan

(Tayamen và Guerrero, 1988) [17]

* Đặc điểm sinh sản

Các loài cá rô phi khác nhau có tuổi thành thục và sinh sản khác nhau,

loài Rô phi vằn O niloticus phát dục sau 5 - 6 tháng nuôi, chu kỳ sinh sản là

30 - 35 ngày, lượng trứng tối đa trong 1 lần sinh sản đạt tới 2000 trứng trên cá thể, phụ thuộc vào rất nhiều kích thước cá thể Trứng sau khi đẻ được cá mẹ

ấp trong miệng khoảng 4 - 6 ngày ở nhiệt độ 25 - 300C thì cá nở và được mẹ

ấp trong miệng cho tới khi hết noãn hoàng, chúng được mẹ nhả ra bơi lội tự

do trong nước Theo Mair và cs (1997) [19], chu kỳ sinh sản của cá Rô phi O niloticus chia làm 5 giai đoạn: Giai đoạn xây tổ và ghép đôi, giai đoạn rụng

Trang 19

trứng, giai đoạn ấp trứng, giai đoạn chăm sóc con, giai đoạn dinh dưỡng và phục hồi cho chu kỳ sinh sản tiếp theo Để phân biệt cá đực cá cái người ta dựa vào hình thái bên ngoài và dựa vào kết quả giải phẫu tuyến sinh dục

Ở Việt Nam do điều kiện nhiệt đới nên cá sinh sản gần như quanh năm, riêng miền bắc nước ta có mùa đông nên thời điểm đầu vụ xuân và cuối vụ thu thường xảy ra hiện tượng cá bố mẹ thì đẻ được nhưng trứng ấp kéo dài dẫn đến khi nở thành cá bột bị dị hình nhiều, đưa vào xử lý đơn tính đực hay

bị bệnh nên hao nhiều tỷ lệ sống chỉ đạt được khoảng 10 - 30%

Bảng 2.2 Phân biệt cá đực, cá cái qua các đặc điểm hình thái

trứng và con

Màu sắc Vây lưng và vây đuôi có

màu sắc sặc sỡ Màu nhạt hơn

Lỗ sinh dục 2 lỗ: Lỗ niệu sinh dục

và lỗ hậu môn

3 lỗ: Lỗ niệu, lỗ sinh dục, lỗ hậu môn

Hình dạng huyệt

Đầu thoát lỗ niệu sinh dục dạng lồi, hình nón dài và nhọn

Dạng tròn hơi lồi và không nhọn như cá đực

Hình 2.2 Hình ảnh cá đực và cá cái

Trang 20

Dựa vào phương pháp giải phẫu tuyến sinh dục: Khi cá đạt cỡ 3-5 gam,

mổ lấy tuyến sinh dục sau đó nhuộm dung dịch Aceto-Carmin, dùng kính hiển

vi quan sát thấy những chấm nhỏ li ti đấy là tế bào sinh dục đực, con cái cho thấy những vòng tròn nhỏ đồng đều hoặc có một vài cỡ khác nhau đó là cá thể cái (Guerrero và Shelton, 1974) [23]

2.2.1.2 Một số hiểu biết về hormone 17α- Metyltestosterol

Cùng với sự phát triển khoa học kỹ thuật phục vụ cho nuôi trồng thủy sản, kỹ thuật tạo cá siêu đực đã được nghiên cứu nhằm đáp ứng tốt nhất các yêu cầu thực tiễn Tạo đàn cá rô phi đơn tính cho tỷ lệ cá đực lớn, sản xuất với số lượng nhiều, cỡ cá đồng đều, hiệu quả kinh tế cao

Các hormone sinh dục với bản chất Steroid có tác dụng chuyển đổi giới tính ngược với kiểu hình mà gen quy định Hormone nhóm Androgen có tác dụng đực hóa và nhóm Estrogen lại có tác dụng cái hóa Đã có 47 loài cá

thuộc 15 họ được chuyển đổi giới tính bởi 1 trong 31 hormone (16 thuộc

nhóm Androgen và 15 thuộc nhóm Estrogen)

Nhóm hormone chuyển đực về hoạt tính có thể được xếp như sau: Miboleron > 19 - nor - ethynyltestosteron > 17α- Metyltestosterol > testosterol Trong đó hormone thường được sử dụng nhiều nhất (phổ biến

nhất) là 17α- Metyltestosterol

Tạo con rô phi đơn tính đực bằng hormone 17α- Metyltestosterol có ý

nghĩa rất lớn: cá lớn nhanh hơn, ít tiêu tốn thức ăn hơn, khống chế được mật

độ, kích cỡ đồng đều hơn khi thu hoạch, giảm rủi ro lai tạp cá bố mẹ trong các trang trại

2.2.1.3 Các giải pháp tạo quần đàn cá rô phi đơn tính đực

Có nhiều phương pháp đã được sử dụng để tạo quần đàn đơn tính đực như:

- Chọn lọc dựa vào hình thái ngoài

- Phương pháp chuyển giới tính bằng việc xử lý trực tiếp hormone như: phương pháp ngâm, phương pháp cho ăn thức ăn trộn hormone; hiện nay

Trang 21

phương pháp này đã và đang được nhiều nước trên thế giới như Thái Lan, Philippine, Đài Loan, Brazil và Việt Nam ứng dụng Phương pháp ngâm bằng hormone triển khai tại miền Bắc Việt Nam chỉ mang tính nghiên cứu khoa học chứ không áp dụng vào thực tế được vì thời tiết miền bắc thay đổi thất thường không ổn định nên hiệu quả chuyển giới tính không cao, nhất là thời điểm đầu

vụ xuân và cuối vụ thu Phương pháp trộn hormone với thức ăn cho thấy ổn định về chuyển giới tính đực nhưng đầu vụ xuân và cuối vụ thu tỷ lệ sống còn quá thấp không đạt như mong muốn

- Tạo quần đàn đơn tính đực bằng lai giữa hai loài thuộc giống

Oreochromis một số nước như Israel, Đài Loan, Trung Quốc đã và đang ứng

dụng một số công thức lai cho quần đàn đơn tính đực

-Tạo cá đơn tính đực bằng cá siêu đực (YY) cho sinh sản với cá cái thường cho phép tạo một lượng lớn cá giống trong cùng một thời gian

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước

2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Cá rô phi có nguồn gốc từ Châu Phi, trên thế giới có khoảng 80 loài cá

thuộc ba giống: Tilapia, Sarotherodon và Oreochromis, nắm trong họ

Cichlidae, bộ phụ Percoidae thuộc bộ cá vược Perciformes Cá rô phi được du nhập và nuôi rộng rãi ở hơn một trăm nước trên thế giới (Tilapia Culture, 1994) [22] và là một trong những nhóm cá được nghiên cứu kỹ nhất phục vụ cho nuôi trồng thuỷ sản

Mặc dù được nuôi và khai thác ở hơn một trăm nước nhưng sản lượng

cá rô phi của thế giới chỉ tập chung ở hơn 10 nước, trong đó Trung Quốc, Ai Cập, Thái Lan, Philippin, Đài Loan, Indonesia đang là những nước đứng đầu thế giới về sản lượng rô phi nuôi (Rana K, 2001) [21]

Trung Quốc chỉ mới phát triển nuôi cá rô phi từ giữa thập niên 80 của thế kỷ trước Tuy nhiên, chỉ sau hơn một thập kỷ Trung Quốc đã trở thành nước sản xuất rô phi số một thế giới với sản lương nuôi 1999 đạt 562.000 tấn (FAO,2004) [24], chiếm 51% sản lượng cá nuôi trên thế giới và chỉ nuôi một

loài rô phi O.niloticus

Trang 22

Ai Cập là quê hương của cá rô phi sông Nile, sản lượng cá rô phi năm

1999 của nước này đạt 226.300 tấn (FAO, 2001 [16]) đứng thứ 2 trên thế giới, trong đó sản lượng cá nuôi chiếm trên 50% và sản lượng cá khai thác chiếm gần 50%

Đài Loan có sản lượng cá rô phi nuôi năm 1999 là 57.000 tấn (FAO,

2001 [16]), đối tượng nuôi chủ yếu là rô phi vằn (O.niloticus) và rô phi hồng (con lai của O.niloticus và O.mossambicus) Đài Loan là một trong những

nước có công nghệ nuôi cá rô phi hiện đại nhất trên thế giới hiện nay Hình thức nuôi chủ yếu là thâm cao trên ao đất, trong bể xi măng và trong hệ thống nước chảy

Nhiều nước Châu Mỹ đang phát triển mạnh nghề nuôi cá rô phi, coi cá

rô phi là đối tượng quan trọng Theo dự báo của FAO, tới năm 2010 sản lượng cá rô phi của Châu Mỹ sẽ đạt trên 500.000 tấn/ năm

2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Năm 1973, cá Rô phi vằn (Oreochromis niloticus) được nhập nước ta

từ Đài Loan và nuôi ở miền Nam Việt Nam (Nguyễn Công Dân, 2000) [3]

Sau năm 1975 loài cá này được chuyển ra nuôi ở các tỉnh phía Bắc Thời gian đầu loài cá này được người sản xuất rất ưa chuộng do cá lớn nhanh, kích cỡ lớn, đẻ thưa và ít đẻ hơn Nhưng sau đó do quá trình quản lý giống kém dẫn đến lai tạp giữa cá Rô phi đen và Rô phi vằn trong hệ thống nuôi khiến cho chất lượng di truyền của loài cá Rô phi vằn này bị thoái hoá, kéo theo sản lượng cá rô phi của nước ta trong giai đoạn này giảm sút nghiêm trọng Để góp phần khôi phục và phát triển nghề nuôi cá rô phi ở nước ta trong những năm 1994 đến 1997, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1 (NCNTTS 1) đã

nhập nội và thuần hoá ba dòng cá rô phi Oreochromis niloticus từ Philippin

và Thái Lan Trong đó dòng GIFT có sức sinh trưởng cao nhất, nó được sản xuất, tiếp nhận và phát triển ở nhiều nơi, đặc biệt là ở các tỉnh đồng bằng Sông Hồng (Nguyễn Công Dân và ctv, 2000) [5] Để ổn định và nâng cao phẩm giống của dòng cá rô phi GIFT, từ năm 1998 đến nay Viện NCNTTS 1

Trang 23

đã tiến hành chương trình chọn giống dòng cá này, nhằm làm tăng sức sinh trưởng và khả năng chịu lạnh Sau ba năm thực hiện, đến năm 2000 đã chọn được đàn cá rô phi có sức sinh trưởng cao hơn 16,6% so với đàn cá dòng GIFT thường (Nguyễn Công Dân và ctv, 2000) [5] Chương trình chọn giống này vẫn đang được tiến hành ở Viện NCNTTS 1

Từ năm 2000 đến nay dòng GIFT chọn giống đã được công nhận là ưu việt và được phát tán nuôi trong cả nước Trong năm 2002, Viện NCNTTS 1

đã cung cấp hơn 70 vạn cá GIFT giống thế hệ con giống thứ 3 cho 25 tỉnh để nuôi dưỡng thành cá bố mẹ, sản xuất giống cung cấp cho người nuôi Cùng với chương trình chọn giống, công nghệ điều khiển giới tính cá rô phi đã được

áp dụng thành công tại Viện NCNTTS 1 Công nghệ sản xuất giống cá rô phi

đơn tính đực bằng hormone 17α- Metyltestosterone, thu trứng trong giai thưa

được Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1 nhập từ Học Viện công nghệ châu Á Công nghệ tương đối đơn giản, dễ áp dụng kết quả ổn định, tạo đàn

cá có tỷ lệ đực đạt 95 - 100%, trong điều kiện quản lý và chăm sóc tốt

Trước năm 2000, cá rô phi chưa được trú trọng phát triển và vẫn được coi là loài cá nuôi thứ yếu trong cơ cấu đàn cá nuôi nước ngọt Gần đây cá rô phi đã phát triển nhanh ở một số tỉnh miền Bắc như Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang Khu vực phía phía Nam cá rô phi được nuôi chủ yếu trong lồng bè trên sông Tiền và sông Hậu

Từ năm 2002, phong trào nuôi cá rô phi đang có xu hướng phát triển mạnh, góp phần làm tăng nhanh sản lượng cá nuôi và tăng tỷ trọng xuất khẩu thuỷ sản từ nuôi nước ngọt Nuôi cá rô phi trong nước lợ là biện pháp giúp cải tạo môi trường ao nuôi, đặc biệt là những vùng nuôi có nguy cơ ô nhiễm và suy thoái cao (Phạm Anh Tuấn, 1998) [11] Tuy nhiên, trên thực tế người sản xuất đang dùng nhiều loài cá rô phi tạp giao có chất lượng thấp Ở các tỉnh miền Bắc nuôi cá rô phi còn ở mức độ phân tán, chưa tổ chức được vùng nuôi tập trung, thiếu sự gắn kết giữa người nuôi cá và thị trường tiêu thụ, đặc biệt

là chưa kiểm soát được chất lượng sản phẩm trước khi đưa ra thị trường

Trang 24

2.3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu loài cá Rô phi vằn (Oreochromis niloticus)

2.3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được tiến hành trên đàn cá Rô phi vằn (Oreochromis niloticus)

tại trung tâm giống thủy sản cấp I Bắc Giang, Phi Mô - Lạng Giang - Bắc Giang

2.3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

2.3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi

2.3.3.1 Nội dung nghiên cứu

- Thực hiện quy trình sản xuất cá rô phi đơn tính đực 21 ngày tuổi bằng

hormone 17α-Metyltestosterone

- Thực hiện quy trình ương nuôi cá 21 ngày tuổi lên cá hương

2.3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi

- Các yếu tố môi trường

- Sinh trưởng của cá bột

- Tỷ lệ chuyển đổi giới tính

Trang 25

2.3.4 Phương pháp nghiên cứu

2.3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu

Quy trình sản xuất cá rô phi đơn tính đực 21 ngày tuổi bằng hormone 17α- Metyltestosterone

Hình 2.3 Sơ đồ quy trình sản xuất cá rô phi đơn tính đực 21 ngày tuổi

* Tuyển chọn và nuôi vỗ cá bố mẹ

- Chuẩn bị ao

Ao nuôi vỗ cá bố mẹ được chuẩn bị theo tiêu chuẩn ngành: 28TCN - 64 – 79 + Ao cho cá bố mẹ sinh sản và thu trứng trực tiếp có mực nước sâu từ 0,8-1,0m

+ Diện tích từ 500 - 800 m2

+ Mật độ cá bố mẹ nuôi trong ao khoảng 2 - 4 con/m2.

- Tuyển chọn cá bố mẹ

Cá bố mẹ đưa vào sinh sản tốt nhất nên chọn những con khoẻ mạnh,

không xây sát, trọng lượng từ 0,150 - 0,300 kg

+ Chọn cá đực

Chọn những con phần phụ sinh dục là hình chóp nhọn, chỉ có hai lỗ đó là: lỗ niệu sinh dục và lỗ hậu môn Màu sắc của thân hồng nhạt pha lẫn sáng sẫm, các vây chẵn và vây đuôi có màu đỏ tươi

+ Chọn cá cái

Chọn những con phần phụ sinh dục là hình bầu dục dẹt, có ba lỗ: lỗ niệu, lỗ sinh dục và lỗ hậu môn Màu sắc của thân xám nhạt, hậu môn có màu vàng nhạt

Xử lý cá bột bằng hormone Ấp trứng

Trang 26

- Chăm sóc và quản lý

Cá đực và cá cái được nuôi riêng biệt trong các ao khác nhau với mật

độ 2 - 4 con /m2 Cho cá ăn bằng thức ăn tổng hợp có hàm lượng đạm tổng số 20-30%(Nguyễn Công Dân và Trần văn Vỹ, 1996) [2] Có thể sử dụng cám con cò hoặc tự phối trộn các nguyên liệu theo hai công thức sau:

Công thức 1: Bột đậu tương 50%; bột ngô mịn 10%; cám gạo 40% Công thức 2: Bột đậu tương 35%; bột cá nhạt 15%; bột ngô mịn 10%; cám gạo 40%

Lượng thức ăn hằng ngày chiếm 2 - 3% trọng lượng quần đàn Ngày cho ăn hai lần vào sáng và chiều Ngoài thức ăn tinh ra cần bón thêm phân vô

cơ (đạm, lân, vôi bột) gây thức ăn tự nhiên cho cá Tỷ lệ giữa đạm và lân là 1/2 với nồng độ 1,5 mg/lít và 1,4 kg vôi bột/ 100m2 ao Lân và vôi được hoà tan trong nước té đều khắp ao ngày hôm trước, đạm cũng được hoà tan trong nước té đều khắp ao ngày hôm sau Chu kỳ bón phân vô cơ một tuần một lần song tuỳ thuộc vào màu nước mà thay đổi chu kỳ bón cũng như lượng phân cần bón

- Các chỉ tiêu theo dõi

+ Theo dõi các yếu tố môi trường trong quá trình nuôi vỗ như: Nhiệt độ, DO,

pH Các yếu tố môi trường được đo 2 lần/ngày (sáng sớm và đầu giờ chiều)

Xác định nhiệt độ (oC): Dùng nhiệt kế thuỷ ngân chia vạch (0 - 100o

C) Xác định độ pH bằng dung dich đo SM - 102 (pH - Meter)

Xác định nồng độ oxy hoà tan (DO) trong nước SM 600 - Milwaukee

+ Xác định tỷ lệ thành thục

Chuẩn bị tới mùa sinh sản 1 tháng tiến hành kiểm tra mức độ thành thục bằng cách dùng que thăm trứng để kiểm tra trứng cá cái, kết hợp với đánh giá hình thái bên ngoài Công thức tính tỷ lệ thành thục như sau:

Số cá thành thục(con)

Tỷ lệ thành thục = x 100

Số cá đưa vào nuôi vỗ(con)

Trang 27

* Chăm sóc cá bố mẹ sinh sản và thu trứng

- Tỷ lệ ghép cá đực cá cái và chăm sóc cá sinh sản

+ Tỷ lệ ghép đực cái

Cá bố mẹ được nuôi ghép trong giai hoặc ao với tỷ lệ đực /cái là 1,5/2 khi cho chúng tham gia sinh sản

+ Ghép giai cá bố mẹ sinh sản

Diện tích của giai từ 40 - 120 m2, có chiều rộng tối đa là 5,0 m, chiều

dài tuỳ thuộc vào diện tích của giai và chiều cao của giai là 0,9 - 1,0 m

Giai được cắm trong ao có mực nước sâu khoảng 1,2 - 1,5 m

+ Mật độ cá bố mẹ trong giai khoảng 6 - 8 con/m2

- Chăm sóc cá bố mẹ

Cá bố mẹ trong thời gian sinh sản được chăm sóc tương tự như phần nuôi vỗ nhưng lượng thức ăn tinh hằng ngày chiếm 2,0 - 2,5% trọng lượng quần đàn

* Thu trứng

+ Chu kỳ thu trứng

Tuỳ thuộc vào nhiệt độ của nước ao trong quá trình sản xuất giống mà định lịch thu trứng Nhiệt độ nước từ 24 - 250C thì chu kỳ thu trứng là 10 - 12 ngày; nhiệt độ nước 270

C - 300C trở lên thì chu kỳ thu trứng chỉ là 7 ngày + Kỹ thuật thu trứng

Sử dụng lưới thu gom cá bố mẹ nếu cho cá sinh sản trực tiếp trong ao, hoặc sử dụng sào tre để gom cá bố mẹ vào một góc giai nếu như cho cá sinh sản trong giai Nhất thiết phải thu riêng trứng của từng cá cái, sau đó gom trứng cùng giai đoạn vào một tô để rửa sạch để đưa vào bình hoặc khay ấp Phân chia các giai đoạn phát triển của trứng (phôi) theo màu sắc của trứng cụ thể như sau:

Trứng giai đoạn 1 có màu vàng nhạt

Trứng giai đoạn 2 có màu vàng sẫm

Trứng giai đoạn 3 đã nhìn rõ 2 điểm mắt màu đen

Trứng giai đoạn 4 là cá vừa nở với khối noãn hoàng khá lớn

Trang 28

Trứng giai đoạn I Trứng giai đoạn II

Trứng giai đoạn III Trứng giai đoạn IV

Hình 2.4 Các giai đoạn phát triển của trứng cá rô phi

*Ấp trứng

Trứng từ giai đoạn 1 đến 2 được ấp trong bình, trứng ở giai đoạn 3, 4 được ấp trong khay

- Bình ấp là một bình trụ có đáy là một hình cầu lõm trơn bóng, đường

kính bình 0,16 - 0,20 m, chiều cao 0,30 - 0,35 m Mật độ trứng ấp tối đa trong bình là 90.000 trứng/ lít Lượng nước qua bình khoảng 0,4 - 0,5 lít/giây

- Khay ấp có chiều rộng 0,25m, chiều dài 0,30 - 0,40m, chiều cao 0,07 -

0,09m Mật độ trứng tối đa ấp được trên khay là 15.000 trứng/lít Lượng nước qua khay khoảng 0,2 lít/ giây

Trang 29

- Trứng hỏng được loại khỏi bình ấp bằng ống xiphon mỗi ngày ít nhất 3

- 4 lần va khay bằng bàn chải vệ sinh răng 2- 3 giờ/1 lần tuỳ thuộc vào lượng

ấp trứng cho đến khi nở thành cá bột (hết noãn hoàng) phải thường xuyên theo dõi nhiệt độ nước đảm bảo lưu tốc nước trong khay ấp, vệ sinh mạng tràn trong khay

* Xử lý cá bột

- Bố trí thí nghiệm

+ Bố trí thí nghiệm thành 3 đợt và mỗi đợt gồm 3 giai xử lý cá rô 21 ngày tuổi

+ Giai sử dụng để xử lý cá bột là giai mầu có cỡ mắt lưới 0,1 mm

+ Diện tích của giai tối thiểu là 0,81 m2 và tối đa là 5,4 m2

+ Kích cỡ của giai có thể là: 0,9 x 0,9 x 0,9 (m) hoặc là: 1,8 x 3,0 x 0,9 (m) Độ ngập nước của giai là 0,6 m

Trang 30

Lượng thức ăn hàng ngày được tính như sau:

+ 5 ngày đầu lượng thức ăn bằng 25% trọng lượng quần đàn

+ 5 ngày tiếp theo lượng thức ăn bằng 20% trọng lượng quần đàn

+ 5 ngày kế tiếp lượng thức ăn bằng 15% trọng lượng quần đàn

+ 6 ngày cuối cùng lượng thức ăn bằng 10% trọng lượng quần đàn

Thành phần thức ăn gồm: bột cá nhạt, vitamin C và 17α- Metyltestosterol

Các thành phần trên được phối trộn như sau: 10 gram vitamin C được trộn đều với

1000 gram cá bột nhạt mịn sau đó được làm ướt mềm bằng 0,3 - 0,4 lít Etanol 960

đãhoà tan 60 mg 17α- Metyltestosterol Xấy ở nhiệt độ 45 - 500C hoặc phơi khô và bảo quản ở nơi khô ráo nhưng không quá 2 tuần

Mỗi ngày cho cá ăn tối thiểu 4 bữa vào các thời điểm: 8 giờ sáng, 11 giờ trưa, 14 giờ chiều, 17 giờ chiều

Để xác định lượng thức ăn cần thiết cho cá bột đang được xử lý cứ vào ngày thứ 5 của chu kỳ cho ăn phải cân mẫu tối thiểu của 200 cá thể Ta có thể tính được lượng thức ăn như sau:

A = (p x k) x q /200

Trong đó: A là khối lượng thức ăn của lần sau

P là khối lượng của mẫu

K là số lượng cá thả ban đầu

Trang 31

Sau khi cá bột được nuôi đủ 21 ngày (gọi tắt là 21 ngày tuổi) bằng thức

ăn trên, đưa cá ra nuôi tiếp trong ao đất hoặc trong giai bằng thức ăn tổng hợp

bình thường (không có hormone 17α- Metyltestosterol)

Tỷ lệ cá đực trong quần đàn được tính theo công thức sau

Khi cá đạt cỡ ≥ 3g/ con thì ta tiền hành thu 100 con cá / lô để tiến hành kiểm tra giới tính, và tỷ lệ giới tính được tính theo công thức:

L1

Tỷ lệ cá đực (%) = x 100

L2

L1: Số cá đực; L2: Tổng số cá kiểm tra

Quy trình ương nuôi cá 21 ngày tuổi lên cá hương

Hình 2.5 Sơ đồ quy trình ương cá rô phi đơn tính đực 21 ngày tuổi

Trang 32

* Chăm sóc và quản lý cá hương

-Chăm sóc

Cá có thể được cho ăn bằng thức ăn tổng hợp hoặc thức ăn tự chế biến với hàm lượng protein (đạm) tổng số 20 - 30% Có thể sử dụng một trong những công thức trong bảng sau để chế biến thức ăn cho cá

Bảng 2.3 Các công thức thức ăn

STT Thành phần Tỷ lệ (%) Protein tổng số

(%)

Lipit tổng số (%)

Bảng 2.4 Lƣợng thức ăn mỗi ngày

Thời gian ƣơng nuôi Khối lƣợng (kg/1 vạn cá/ ngày)

Ƣơng trong ao

Tuần lễ thứ nhất (7 ngày đầu) 0,200 - 0,300

Tuần lễ thứ hai (7 ngày kế tiếp) 0,400 - 0,500

Tuần lễ thứ ba (7 ngày cuối) 0,600 - 0,700

Trang 33

- Quản lý

Hàng ngày kiểm tra ao vào buổi sáng, cần chú ý một số hiện tượng sau: + Hiện tượng nổi đầu của cá: vào sáng sớm cá thường bị nổi đầu, nếu

có tiếng động nhưng cá không lặn

+ Nước ao quá đặc cần phải thêm nước mới ngay

* Thu hoạch

Ngừng cho cá ăn trước 1 ngày thu hoạch Chỉ thu hoạch cá vào buổi

sáng hoặc chiều mát Dùng lưới kéo 2 - 3 mẻ để thu đại bộ phận cá, sau đó

mới làm cạn và thu nốt số cá còn lại

- Áp dụng quy trình này, sau 20 ngày ương cá đạt cỡ 1,0 - 1,3 g/con; tỷ

lệ sống đạt 70 - 75% trở lên

*Kiểm tra xác định giới

Chuẩn bị dung dịch Carmin:

Lấy 0,5 gam bột Carmin pha vào 100 ml dung dịch 45% axit Acetic rồi đun sôi trong thời gian 2 - 4 phút Sau đó để nguội dung dịch và lọc bằng giấy lọc để loại bỏ cặn thì được dung dịch Carmin

Mổ cá xác định giới tính

Hình 2.6 Tiêu bản mổ tuyến sinh dục cá rô phi

Thu mỗi lô thí nghiệm 100 con cá, cỡ cá ≥ 3g/con, độ tuổi đạt 60 - 70 ngày (sau khi nở) Mổ cá lấy tuyến sinh dục (hai dải trắng nằm sát xương sống), cắt lấy một đoạn làm tiêu bản đem nhuộm dung dịch Carmin - Aceto trên lamen kính Sau đó ép nát tuyến sinh dục đưa lên quan sát trên kính hiển

vi có độ phóng đại 100 lần để phân biệt đực cái

Cá đực: Tiêu bản có nhiều chấm nhỏ, mịn

Cá cái: Tiêu bản có nhiều chấm hình cầu có kích thước khác nhau

Trang 34

Tuyến sinh dục cá đực Tuyến sinh dục cá cái

Hình 2.7 Tuyến sinh dục cá rô phi

2.3.4.2 Phương pháp phân tích số liệu

Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học trên phần mềm excel

2.4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Theo bảng 2.5 ta thấy yếu tố môi trường giữa các tháng có sự biến động lớn Cụ thể vào tháng 12 nhiệt độ cao nhất trong các tháng nuôi vỗ đạt 19,56±1,73, nhiệt độ thấp nhất trong các tháng nuôi vỗ là vào tháng 1 đạt 13,15±0,12

Trang 35

Ta thấy nhiệt độ năm nay biến động không lớn, chỉ có tháng 1 là thời gian lạnh nhất Còn lại là khoảng nhiệt độ không có sự biến động quá lớn Điều này giúp cho quá trình phát triển tuyến sinh dục của cá bố mẹ trong quá trình nuôi vỗ nên dẫn tới tỷ lệ thành thục cao

Giá trị pH và DO không có sự biến động lớn DO chỉ giao động trong khoảng 4 -5 mg/lit, pH dao động từ 7 - 8 Nhìn chung giá trị này tương đối phù hợp với với đối tượng cá rô phi

Bảng 2.6 Tỷ lệ thành thục của cá bố mẹ tại các ao nuôi vỗ

Ao nuôi vỗ cá

bố mẹ

Số lƣợng cá nuôi vỗ(con)

Số lƣợng cá thành thục (con)

Tỷ lệ thành thục (%)

Tuy nhiên tỷ lệ thành thục này so với các năm trước thì tỷ lệ thành thục

năm nay cao hơn năm trước do thời tiết năm nay ấm áp hơn Tỷ lệ thành thục của đàn cá rô phi năm trước đạt 84,70%, trung bình đạt tới 83,07% (Trung tâm giống thủy sản cấp I Bắc Giang)

Nguyên nhân làm cho tỷ lệ thành thục của cá bố mẹ đạt cao hơn năm trước là do thời gian lạnh năm nay ngắn hơn so với mọi năm(từ tháng 10 cho tới đầu tháng 2 năm sau) nên cá rô phi thành thục sớm hơn và tỷ lệ thành thục đạt cao hơn.Trong năm trước đầu tháng 4 mới có thể tiến hành kéo cá bố mẹ

để kiểm tra mức độ thành thục, nhưng trong năm nay đến tháng 3 đã tiến hành kéo cá bố mẹ để kiểm tra và cho tới cuối tháng 3 đã bắt đầu ghép giai cá bố

mẹ cho sinh sản Và đến giữa tháng tư đã tiến hành thu trứng đợt 1

Ngày đăng: 14/05/2014, 22:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Sơ đồ quy trình cải tạo ao - Đánh giá khả năng chuyển đổi giới tính trên cá rô phi bằng hormone 17α  metyltestosterol tại trung tâm giống thủy sản cấp i bắc giang
Hình 1.1. Sơ đồ quy trình cải tạo ao (Trang 10)
Bảng 2.2. Phân biệt cá đực, cá cái qua các đặc điểm hình thái - Đánh giá khả năng chuyển đổi giới tính trên cá rô phi bằng hormone 17α  metyltestosterol tại trung tâm giống thủy sản cấp i bắc giang
Bảng 2.2. Phân biệt cá đực, cá cái qua các đặc điểm hình thái (Trang 19)
Hình 2.4. Các giai đoạn phát triển của trứng cá rô phi - Đánh giá khả năng chuyển đổi giới tính trên cá rô phi bằng hormone 17α  metyltestosterol tại trung tâm giống thủy sản cấp i bắc giang
Hình 2.4. Các giai đoạn phát triển của trứng cá rô phi (Trang 28)
Bảng 2.3. Các công thức thức ăn - Đánh giá khả năng chuyển đổi giới tính trên cá rô phi bằng hormone 17α  metyltestosterol tại trung tâm giống thủy sản cấp i bắc giang
Bảng 2.3. Các công thức thức ăn (Trang 32)
Hình 2.6. Tiêu bản mổ tuyến sinh dục cá rô phi - Đánh giá khả năng chuyển đổi giới tính trên cá rô phi bằng hormone 17α  metyltestosterol tại trung tâm giống thủy sản cấp i bắc giang
Hình 2.6. Tiêu bản mổ tuyến sinh dục cá rô phi (Trang 33)
Hình 2.7. Tuyến sinh dục cá rô phi - Đánh giá khả năng chuyển đổi giới tính trên cá rô phi bằng hormone 17α  metyltestosterol tại trung tâm giống thủy sản cấp i bắc giang
Hình 2.7. Tuyến sinh dục cá rô phi (Trang 34)
Hình 2.8. Tỷ lệ dị hình của cá bột - Đánh giá khả năng chuyển đổi giới tính trên cá rô phi bằng hormone 17α  metyltestosterol tại trung tâm giống thủy sản cấp i bắc giang
Hình 2.8. Tỷ lệ dị hình của cá bột (Trang 37)
Hình ảnh ao ghép giai rô phi bố mẹ  Hình ảnh thu trứng rô phi - Đánh giá khả năng chuyển đổi giới tính trên cá rô phi bằng hormone 17α  metyltestosterol tại trung tâm giống thủy sản cấp i bắc giang
nh ảnh ao ghép giai rô phi bố mẹ Hình ảnh thu trứng rô phi (Trang 48)
Hình ảnh rô phi mẹ  Hình ảnh rô phi xử lý hormone - Đánh giá khả năng chuyển đổi giới tính trên cá rô phi bằng hormone 17α  metyltestosterol tại trung tâm giống thủy sản cấp i bắc giang
nh ảnh rô phi mẹ Hình ảnh rô phi xử lý hormone (Trang 48)
Phụ lục 9. Bảng yếu tố môi trường xử lý cá rô phi 21 ngày tuổi - Đánh giá khả năng chuyển đổi giới tính trên cá rô phi bằng hormone 17α  metyltestosterol tại trung tâm giống thủy sản cấp i bắc giang
h ụ lục 9. Bảng yếu tố môi trường xử lý cá rô phi 21 ngày tuổi (Trang 58)
Phụ lục 10. Bảng yếu tố môi trường xử lý cá rô phi 21 ngày tuổi - Đánh giá khả năng chuyển đổi giới tính trên cá rô phi bằng hormone 17α  metyltestosterol tại trung tâm giống thủy sản cấp i bắc giang
h ụ lục 10. Bảng yếu tố môi trường xử lý cá rô phi 21 ngày tuổi (Trang 59)
Phụ lục 11. Bảng yếu tố môi trường xử lý cá rô phi 21 ngày tuổi - Đánh giá khả năng chuyển đổi giới tính trên cá rô phi bằng hormone 17α  metyltestosterol tại trung tâm giống thủy sản cấp i bắc giang
h ụ lục 11. Bảng yếu tố môi trường xử lý cá rô phi 21 ngày tuổi (Trang 60)
Phụ lục 13. Bảng yếu tố môi trường xử lý cá rô phi 21 ngày tuổi - Đánh giá khả năng chuyển đổi giới tính trên cá rô phi bằng hormone 17α  metyltestosterol tại trung tâm giống thủy sản cấp i bắc giang
h ụ lục 13. Bảng yếu tố môi trường xử lý cá rô phi 21 ngày tuổi (Trang 62)
Phụ lục 14. Bảng yếu tố môi trường xử lý cá rô phi 21 ngày tuổi - Đánh giá khả năng chuyển đổi giới tính trên cá rô phi bằng hormone 17α  metyltestosterol tại trung tâm giống thủy sản cấp i bắc giang
h ụ lục 14. Bảng yếu tố môi trường xử lý cá rô phi 21 ngày tuổi (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w