1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quy trình chăn nuôi gà thịt an toàn sinh học trong nông hộ tại xã nghĩa lạc huyện nghĩa hưng tỉnh nam định

73 3,2K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quy trình chăn nuôi gà thịt an toàn sinh học trong nông hộ tại xã nghĩa lạc huyện nghĩa hưng tỉnh nam định
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Chăn nuôi Thú Y
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 213,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khóa Luận cực hay và bổ ích !!!!!!!

Trang 1

Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT

1.1 Điều tra cơ bản

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1.1 Vị trí địa lý

Xã Nghĩa Lạc nằm ở khu vực trung tâm của huyện Nghĩa Hưng, thuộc tảngạn sông Đáy và hữu ngạn sông Ninh Cơ.

Về vị trí địa lý của xã Nghĩa Lạc:

- Phía Bắc giáp xã Nghĩa Sơn, huyện Nghĩa Hưng và xã Hải Giang,huyện Hải Hậu

- Phía Đông giáp các xã Hải Giang và Hải Ninh, huyện Hải Hậu (ranh giới

tự nhiên là sông Ninh Cơ)

- Phía Nam giáp các xã Nghĩa Phong và Nghĩa Hồng, huyện Nghĩa Hưng

- Phía Tây giáp các xã Chất Bình, Chính Tâm, Xuân Thiện, huyện KimSơn và xã Khánh Thành, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình (ranh giới tự nhiên

là sông Đáy)

1.1.1.2 Điều kiện tự nhiên

Xã Nghĩa Lạc nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm,nhiệt độ trong năm dao động tương đối cao, thể hiện qua 2 mùa rõ rệt là mùa

hè và mùa đông Về mùa hè, khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, mưa lớn từ tháng 4đến tháng 8 Mùa đông, do chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc nên nhiệt

độ nhiều khi xuống thấp (tháng lạnh nhất là các tháng 12 và 1, với nhiệt độtrung bình từ 16 – 17 °C) và kèm theo mưa nhỏ Tháng 7 nóng nhất, nhiệt độkhoảng trên 29 °C Độ ẩm bình quân tương đối cao, cao nhất là tháng 3, 4 trongnăm (82-85%) với ẩm độ như vậy rất thuận lợi cho phát triển trồng trọt

Điều kiện khí hậu, đất đai của xã thuận lợi cho phát triển nông nghiệpvới cây trồng,vật nuôi phong phú và đa dạng Tuy nhiên nó cũng gây ra nhiềukhó khăn trong chăn nuôi Về mùa đông, khí hậu lạnh, thay đổi đột ngột, mùa

Trang 2

hè thì thời tiết nắng nóng, nhiệt độ lên cao gây ảnh hưởng tới khả năng sinhtrưởng, sức chống chịu bệnh tật của đàn gia súc, gia cầm Ngoài ra nó còn gâykhó khăn cho việc bảo quản, chế biến nông sản, thức ăn chăn nuôi.

1.1.1.3 Điều kiện về đất đai

Đất đai có vai trò quan trọng đối với tất cả các ngành sản xuất, đặc bịêttrong sản xuất nông nghiệp là tư liệu sản xuất không thể thay thế được Trongnhững năm qua, công tác quản lý và sử dụng đất đai của xã đã đi vào nề nếp chặtchẽ theo đúng quy định của Pháp luật

Xã Nghĩa Lạc có tổng diện tích là 1122,8 ha, trong đó diện tích đất trồnglúa, hoa màu là 603,3 ha (chiếm 53,73 %) Còn lại là đất chuyên dụng, đất ở, vàđất chưa sử dụng

Diện tích đất của xã tương đối lớn, chủ yếu là đất thịt để trồng lúa, bên cạnh

đó xã còn nhiều đất bồi bãi, chưa được khai thác sử dụng, lại thường bị ngập mặnnên dẫn đến năng suất cây trồng còn thấp, việc canh tác gặp nhiều khó khăn

Cùng với sự gia tăng dân số, xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông…nên diệntích đất nông nghiệp có xu hướng ngày một giảm, đã ảnh hưởng đáng kể tớingành chăn nuôi

1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của xã Nghĩa Lạc

Về dịch vụ: Cùng với định hướng chuyển dịch cơ cấu từ sản xuất nôngnghiệp sang phát triển công nghiệp - dịch vụ, trong những năm gần đây trênđịa bàn xã ngành dịch vụ phát triển mạnh mẽ, tạo thêm công ăn việc làm vàgóp phần nâng cao thu nhập cho người dân

Nhìn chung, kinh tế của xã đang trên đà phát triển Tuy nhiên quy môsản xuất còn nhỏ, manh mún, chưa có kế hoạch phát triển chi tiết, dẫn đến

Trang 3

hiệu quả kinh tế còn chưa cao, đây cũng là hạn chế của xã Đối với hộ sảnxuất nông nghiệp, thu nhập bình quân lương thực là 779 kg/người/năm, chănnuôi chủ yêú quy mô nhỏ lẻ, hộ gia đình chiếm đa số Tổng thu nhập bìnhquân trên đầu người cao.

Trong những năm gần đây, mức sống của nhân dân trong xã đã được nânglên rõ rệt Tỷ lệ hộ nghèo giảm hẳn Các hộ gia đình đã có phương tiện nghenhìn như: Tivi, đài, sách, báo…Đa số các hộ đã mua được xe máy và nhiều đồdùng đắt tiền Bên cạnh đó các chính sách của Đảng và Nhà nước đã và đanggóp phần nâng cao, cải thiện đời sống của nhân dân như: chính sách vay vốn xâydựng phát triển kinh tế trang trại, chính sách về giao thông – thủy lợi, chính sáchvay vốn học sinh, sinh viên…Đặc biệt trong những năm gần đây việc áp dụngcác tiến bộ khoa học vào thâm canh sản xuất nâng cao năng suất cây trồng, vậtnuôi Hệ thống cơ sở hạ tầng của xã được đầu tư phát triển đặc việt là giaothông, thủy lợi phục vụ cho sự phát triển mọi mặt của đời sống, kinh tế, văn hóa– xã hội của nhân dân

1.1.2.2 Tình hình xã hội

Xã Nghĩa Lạc với 10.500 nhân khẩu, 2.535 hộ, trong đó có 80% số

hộ sản xuất nông nghiệp, số còn lại thuộc lĩnh vực sản xuất công nghiệp

và dịch vụ

Cơ cấu kinh tế của xã đang có sự chuyển dịch từ nông nghiệp sang côngnghiệp và dịch vụ Trên địa bàn xã có 7 tổ hợp may công nghiệp, nhà máy gạchĐồng Bằng (18triệu viên/năm)…đã tạo nhiều công ăn việc làm và thu nhập chonhiều lao động trong xã

* Công tác y tế

- Công tác khám chữa bệnh ban đầu cho nhân dân được thực hiện khátốt: khám chữa cho 8.548 lượt người (nguồn số liệu thống kê của xã NghĩaLạc 2011)

- Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm được tiến hành thường xuyên,không để xảy ra ngộ độc trên toàn địa bàn

Trang 4

* Công tác dân số gia đình và trẻ em

- Chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 47 của Bộ chính trị vềthực hiện các chính sách về dân số kế hoạch hóa gia đình

- Công tác chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em luôn được quan tâm

* Công tác thông tin tuyên truyền

- Đảng ủy, UBND xã thường xuyên tuyên truyền các chỉ thị, Nghị quyếtcủa Đảng, pháp luật của Nhà nước cho người dân

- Tổ chức phát thanh tuyên truyền đại hội Đảng bộ xã

* Công tác an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

- Trong những tháng đầu năm 2012 tình hình an ninh trật tự trên địa bànđược giữ vững, trật tự an toàn xã hội cơ bản được đảm bảo

- Thường xuyên tuyên truyền triển khai thực hiện các chỉ thị Nghịquyết, Quyết định, kế hoạch của của cấp trên

Bên cạnh đó vẫn còn không ít khó khăn, thách thức đặt ra cho xã nhưvấn đề: hệ thống điện – nước sạch, cơ sở hạ tầng còn chưa đồng bộ…Chính vìvậy, vấn đề đặt ra là đòi hỏi hoạt động của các ban ngành phải thường xuyên,liên tục, tích cực và đồng bộ thống nhất từ trên xuống tiến tới xây dựng giađình văn hóa, thôn xóm văn hóa, xã văn hóa, đạt được mục tiêu xây dựngnông thôn mới Từ đó nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân đồng thờiđẩy mạnh lao động sản xuất, tạo công ăn việc làm cho lao động dư thừa, từngbước đẩy lùi các tệ nạn xã hội

Trang 5

* Chăn nuôi trâu, bò

Tình hình chăn nuôi trâu, bò có sự thay đổi qua các năm Tổng số contrâu năm 2009 là 127 con, năm 2010 là 106 con giảm 83,5% Nhưng năm

2011 thì số lượng trâu còn lại là 100 con, do chuyển dịch cơ cấu kinh tế từnông nghiệp sang công nghiệp – dịch vụ Bên cạnh đó thì số lượng đàn bòtrên địa bàn xã cũng đang giảm đần qua các năm Trước kia các hộ nông dânthường sử dụng trâu bò làm sức cày kéo nhưng đến nay phần lớn đã sử dụngmáy móc làm sức cày kéo

* Chăn nuôi lợn

Tổng đàn lợn của xã hiện có là 3.700 con Trong đó có nhiều giống lợntốt, nhiều hộ gia đình nuôi lợn giống Móng Cái, Landrace, Yorkshine…nhằmchủ động con giống cũng như cung cấp con giống cho nhân dân trong vàngoài xã

Tuy nhiên, hiện nay trên địa bàn xã vẫn còn một số hộ dân chăn nuôilợn theo phương thức tận dụng các phế phụ phẩm, tận dụng thức ăn thừa dẫnđến năng suất chăn nuôi chưa cao

Trong những năm tới, mục tiêu của xã là đẩy mạnh phát triển chăn nuôilợn theo hướng công nghiệp, hiện đại, nâng cao chất lượng đàn lợn bố mẹ vànăng suất đàn lợn thương phẩm

Trang 6

* Chăn nuôi gia cầm

Tổng đàn gia cầm của xã là 39.000 con Trong đó, gà chiếm trên 90%.Chăn nuôi gia cầm của xã có một vị trí quan trọng, đối tượng nuôi chính là gà,vịt Đa số các hộ chăn nuôi theo hướng quảng canh, do đó năng suất thấp,dịch bệnh vẫn còn xảy ra, tỷ lệ chết lớn dẫn đến hiệu quả chăn nuôi giảm Bêncạnh đó đã có những hộ gia đình đã mạnh dạn đầu tư xây dựng trang trại cóquy mô lớn, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thực hiện tốtquy trình phòng trừ dịch bệnh, tiêm phòng vắc-xin đầy đủ cho đàn gia cầmnhư: vắc-xin Newcastle, Gumboro, Đậu, Dịch tả vịt…Tuy nhiên vẫn còn một

số hộ chăn thả tự do, nhỏ lẻ, lại không có ý thức phòng bệnh nên dịch bệnhvẫn xảy ra gây thiệt hại về kinh tế và phát tán mầm bệnh ra ngoài môi trường

Bên cạnh những vật nuôi chính trong gia đình thì những người nôngdân trong xã còn phát triển thêm một số vật nuôi khác nhằm nâng cao mứcthu nhập

Bảng 1.1: Số lượng, cơ cấu đàn gia súc, gia cầm của xã Nghĩa Lạc

Trang 7

* Công tác thú y

Công tác thú y và vệ sinh thú y là vấn đề không thể thiếu trong quátrình chăn nuôi gia súc, gia cầm Nó quyết định sự thành bại của người chănnuôi, hơn nữa nó còn ảnh hưởng tới sức khỏe của cộng đồng Nhận thức đượctầm qua trọng của công tác thú y, trong những năm gần đây lãnh đạo xã đã rấtchú trọng tới vấn đề này

Căn cứ vào lịch tiêm phòng, hàng năm xã đã tổ chức tiêm phòng chođàn gia súc, gia cầm và tiêm phòng dại cho 100% chó nuôi trong xã

Bên cạnh việc đẩy mạnh công tác tiêm phòng cho đần gia súc, gia cầmthì công tác kiểm dịch cũng đã được chú trọng Do vậy trong những năm trởlại đây trên địa bàn xã không xảy ra các dịch bệnh lớn Tuy nhiên, cần phảiđẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục, để người dân hiểu và chấphành tốt pháp lệnh thú y

Trong những năm qua xã đã thực hiện tốt công tác dồn điền đổi thửa,ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao năng suấtcây trồng, tăng thu nhập cho người dân

1.2 Đánh giá chung

Qua điều tra tình hình cơ bản của xã, tôi xin phép đưa ra nhận định sơ

bộ về những thuận lợi, khó khăn của xã như sau:

Trang 8

Bên cạnh đó, xã có đội ngũ cán bộ trẻ, nhiệt tình, năng động, thuận lợicho việc áp dụng những tiến bộ bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất nâng caonăng suất cây trồng, vật nuôi, từ đó đưa xã đi lên, đời sống của nhân dân ngàycàng được cải thiện.

Trình độ dân trí ngày càng được nâng cao nên việc chuyển giao, ápdụng những tiến bộ bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất là rất thuận lợi Hơnnữa hầu hết các nguồn lợi đều ở dạng tiềm năng chưa được khai thác hoặckhai thác ít

Đặc biệt chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước đãđược mở rộng, tình chính trị ổn định tạo tiền đề cho phát triển kinh tế xã hội

Mặt khác, hàng năm tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, ảnh hưởnglớn đến ngành chăn nuôi và trồng trọt, khí hậu khắc nghiệt ở một số tháng gây

ra nhiều bệnh tật, làm giảm khả năng sinh trưởng của vật nuôi, cây trồng

1.3 Kết quả phục vụ sản xuất

Trong thời gian thực tập tại xã Nghĩa Lạc, được sự giúp đỡ tận tình củathầy, cô giáo, UBND xã Nghĩa Lạc, cùng với sự nỗ lực của bản thân, tôi đãđạt được kết quả như sau:

1.1.1 Công tác chăn nuôi

Cùng với việc thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học, chúng tôi đã tiếnhành nuôi gà theo quy trình chăn nuôi gà thịt cụ thể như sau:

* Ứng dụng kỹ thuật trong chăn nuôi gà thịt

(-)Chuẩn bị chuồng trại

Trước khi nhận gà vào chuồng nuôi 5 ngày chúng tôi tiến hành vệ sinhchuồng nuôi Chuồng được cọ rửa sạch sẽ bằng vòi nước cao áp và phun

Trang 9

thuốc sát trùng bằng dung dịch Biocid - 30%, nồng độ 100ml/40 lít nước Saukhi vệ sinh, sát trùng, chuồng nuôi được khóa cửa, kéo bạt, che rèm kín.

Tất cả dụng cụ chăn nuôi máng ăn, khay ăn, máng uống, rèm che được

cọ rửa sạch sẽ bằng xà phòng ngâm trong dung dịch Formon 2% thời gian 10

(-) Chọn gà nuôi thịt

Chỉ chọn gà khỏe mạnh đủ tiêu chuẩn để đưa vào nuôi Gà khỏe mạnh thì lông tơi xốp, bóng mượt, bụng gọn, mềm, rốn khô, gà nhanh nhẹn, mắt sáng, chân vàng, loại bỏ gà con lông xơ xác, hở rốn, bụng xệ cứng, gà phải cómàu đặc trưng cho giống gà

(-) Công tác chăm sóc nuôi dưỡng

+ Giai đoạn úm gà (1-21 ngày tuổi):

Trước khi nhận gà vào chuồng vài giờ, tất cả dụng cụ phải được chuẩn

bị sẵn, tương ứng đủ với số lượng gà nhập về Quây gà bằng cót đã được rửasạch, phơi khô Quây hợp lý đảm bảo không quá rộng cũng không quá chật,bật điện sưởi trong quây trước 3 giờ đảm bảo nhiệt độ trong quây khi đưa gàvào là 33°C - 35°C

Máng ăn, máng uống phải được chuẩn bị đầy đủ, máng uống phảichuẩn bị trước khi đưa gà vào vì gà có thể uống nước ngay Nước uống cópha B.Complex và Hamcoli - forte, máng uống dùng máng gallon cỡ 2 lít/

150 con Khay ăn cho gà có thể dùng khay nhựa, nhôm cỡ (30 x 50 x 3)cmcho 50 con gà Sau khi nhập gà về 1 giờ thì cho gà ăn

Thường xuyên theo dõi hoạt động của gà, chăm sóc cẩn thận, chu đáo,không để gà đói, hết nước, nóng Theo dõi sức khoẻ của đàn gà, sức ăn, sứcuống, không để gà bị lạnh quá, nóng quá, thường xuyên nới quây theo sức lớncủa đàn gà

Trang 10

+ Giai đoạn 21 - 77 ngày tuổi

Ở giai đoạn này, gà sinh trưởng nhanh, ăn nhiều Do đó hàng ngày phảicung cấp đủ thức ăn, nước uống cho gà, gà được ăn tự do theo nhu cầu Thức

ăn phải luôn mới để kích thích gà ăn nhiều, máng uống phải được cọ rửa vàthay nước ít nhất 2 lần/ngày Trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng, luôn theodõi tình hình sức khỏe của đàn gà để phát hiện, chữa trị kịp thời những con bịbệnh, bị ốm, áp dụng nghiêm ngặt quy trình vệ sinh phòng bệnh

1.3.2 Tham gia công tác thú y

Để đảm bảo an toàn dịch bệnh cho vật nuôi, đặc biệt là gia cầm, chúngtôi đã tổ chức tập huấn về quy trình chăn nuôi gà an toàn sinh học và kỹ thuậtphòng trừ dịch bệnh cho vật nuôi Sau khi tập huấn, ý thức của người chănnuôi được nâng cao rõ rệt: trước khi xuống chuồng nuôi mọi người thay quần

áo đã được khử trùng và đi ủng

* Công tác vệ sinh thú y đối với từng chuồng nuôi

Trong suốt quá trình nuôi phải tuyệt đối cách ly đàn gà, chuồng nuôi gàvới sự tiếp xúc của bên ngoài Xung quanh chuồng nuôi đều có hàng rào bảo

vệ ngăn cách chuồng với khu vực xung quanh

Dụng cụ, thức ăn, nước uống đều phải được đảm bảo vệ sinh trước khiđem vào chuồng nuôi

Hàng ngày, chúng tôi luôn theo dõi đàn gà nhằm phát hiện kịp thời gà

ốm, yếu để cách ly, điều trị; gà chết được mổ khám và thu gom hàng ngày vàobao tải đưa ra khu xử lý để tiêu hủy Bổ sung vôi bột vào hố sát trùng trướcmỗi cửa chuồng nuôi và trước mỗi khu chăn nuôi; cọ rửa máng uống, thayđệm lót ướt…

Hàng tuần, các khu vực xung quanh chuồng nuôi đều được phun sáttrùng bằng dung dịch Antisep, quét dọn hai bên hành lang chuồng nuôi, khơithông cống rãnh, vệ sinh kho thức ăn, phát quang cỏ dại xung quanh khu vựcchuồng nuôi Hàng tháng, tiến hành diệt chuột và côn trùng

Trang 11

* Biện pháp phòng bệnh

Để phòng chống các bệnh truyền nhiễm hay xảy ra, chúng tôi sử dụng

lịch phòng bệnh trên đàn gà như sau:

Bảng 1.2: Lịch phòng bệnh vắc-xin cho gà thương phẩm

Ngày tuổi Loại vắc-xin Phương pháp sử dụng

7 ngày tuổi

Chú ý: Vắc-xin phải được dùng ngay sau khi pha,không để quá 2h, dùng

xong sử lý dụng cụ và lọ đựng vắc-xin để tránh gây bệnh.

* Chẩn đoán và điều trị bệnh cho gia cầm

Một số bệnh thường gặp :

- Bệnh quá nóng (Over heating)

+ Triệu chứng: Gà thường há mồm, thở dồn, 2 cánh mở rộng, gà uống

nhiều nước, uể oải, yếu dần và chết đột tử

+ Phòng và điều trị: Khi thấy điều kiện thời tiết quá nóng ta phải cungcấp thật đầy đủ nước, san bớt gà để giảm mật độ/m2; cho uống điện giải:Unilyte – Vit – C tạm thời không cho gà ăn ở thời điểm nóng nhất

Khắc phục bằng cách: Thông thoáng, thêm mái che, phun nước lênmái, chú ý không được phun trực tiếp vào gà bị nóng sẽ dễ gây đột tửhoặc bệnh kế phát

- Bệnh bạch lỵ gà con

+ Nguyên nhân: Do vi khuẩn Gr(-) Samonella gallinarum và

Samonella pullorum gây ra Bệnh chủ yếu xảy ra trên gà con, gà trưởng thành

thường mắc bệnh ở thể mãn tính

Trang 12

+ Triệu chứng: Gà con mắc bệnh kém ăn, lông xù, ủ rũ, phân cómàu trắng, phân loãng dần và dính quanh hầu môn, đôi khi có biểu hiệnsưng khớp, liệt chân, ở gà lớn thường ở thể mãn tính.

+ Bệnh tích: Mổ khám gà chết chúng tôi thấy: Gan và lách có nhiềuđiểm hoại tử trắng lấm tấm như đầu đinh ghim Trong đoạn ruột cuối, thức ănkhông tiêu bị cô đặc màu vàng, lòng đỏ chưa tiêu, thành ruột dày lên

+ Điều trị: Để chữa Bạch lỵ tôi sử dụng một số phác đồ điều trị sau:Colistin: liều 1g/2 lít nước, B.complex 1g/3 lít nước cho gà uống liêntục trong 3 – 4 ngày Kết quả điều trị 98% khỏi bệnh

Ampi - Coli với liều: 1g/lít nước, B.complex 1g/3 lít nước cho uốngliên tục 4 – 5 ngày Kết quả điều trị 99% gà khỏi bệnh

- Bệnh cầu trùng (Coccidiosis)

+ Nguyên nhân: Bệnh cầu trùng do các loại động vật đơn bào khác

nhau thuộc họ Coccidia gây ra ký sinh chủ yếu ở tế bào biểu mô ruột

+ Triệu chứng: Thời kỳ nung bệnh là 4 – 5 ngày, gà mắc bệnh ăn ít,lông dựng, phân dính quanh hậu môn Nếu gà bị bệnh nặng, gà mất thăngbằng, cánh tê liệt, thiếu máu ở niêm mạc, gà gầy dần, phân lẫn máu

+ Bệnh tích: Mổ khám và quan sát thì thấy có nhiều điểm trắng trênniêm mạc ruột, niêm mạc ruột dày lên, đặc biệt là manh tràng bị sưng to

+ Điều trị: Chúng tôi đã tiến hành điều trị trên toàn đàn gà bằng 1 trongcác thuốc sau: Avicoc với liều: 1g/1 lít nước, uống liên tục 3 – 5 ngày (dùngkhi bệnh nhẹ) Nếu bệnh nặng: Dùng coxymax liều 1g/6kg thể trọng, dùngliên tục trong 3 ngày, nghỉ 2 ngày sau đó dùng tiếp liệu trình mới (nếu cầnthiết) hoặc dùng Vetpro 60%: 1g/2 lít nước dùng cho 5 – 7 ngày

Chú ý: Những con có biểu hiện bệnh nặng, nhốt riêng dùng Baycok đểđiều trị liều lượng 1ml/1 lít nước dùng liên tục trong 3 ngày hoặc uống ESB3

1g/ 1 lít nước

- Bệnh do E.coli (Colibacillosis)

+ Nguyên nhân: Do vi khuẩn Escherichia coli (E.coli) gây ra

Chúng tôi thấy gà ở mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh, đặc biệt là giaiđoạn gà con 3 - 15 ngày tuổi, gà lớn bệnh ở thể nhẹ và ít chết

Trang 13

Truyền bệnh trực tiếp qua trứng bệnh, lây bệnh nhanh chóng trong lò

ấp, ngoài ra có thể lây bệnh gián tiếp qua thức ăn, nước uống và qua vết hởcủa rốn

+ Triệu chứng: Đầu ổ dịch gà bệnh thường chỉ kém ăn, sức lớn cả đànchậm lại, sau đó bệnh có thể tiến triển cấp tính ở những đàn gia cầm con

Gà bị bệnh thường ủ rũ, xù lông, gầy rạc Một số con có triệu chứng sốt,

sổ mũi và khó thở Sau vài ngày gà ỉa chảy, phân lỏng có dịch nhầy màu nâu,trắng, xanh, đôi khi lẫn máu Đôi khi gà có hiện tượng sưng khớp

+ Bệnh tích: Gan sưng và xuất huyết, gan sưng đỏ, gan và màng baotim có lớp nhầy trắng Màng túi khí có nốt xuất huyết nhỏ Niêm mạc ruộtsưng đỏ, ỉa phân trắng Gia cầm ở thời kỳ đẻ, buồng trứng bị vỡ và teo

+ Điều trị: Dùng một trong 2 loại thuốc sau:

Ampi - Coli, liều 1g/lít nước cho uống liên tục 5 - 7 ngày

Bio - Norfloxacin, liều 2g/lít nước, uống liên tục 5 - 7 ngày

- Bệnh hô hấp mãn tính ở gà (Chronic Respiratory Disease - CRD).

+ Nguyên nhân: Do Mycoplasma gallisepticum gây bệnh làm kế phát

các vi khuẩn, virut gây bệnh khác và dưới tác động xấu của môi trường bệnhtái phát Bệnh truyền từ gà ốm sang gà khỏe, từ gà mẹ sang gà con, qua thức

ăn nước uống và dụng cụ chăn nuôi

+ Triệu chứng: Gà bị bệnh kém ăn, chậm lớn, còi cọc Gà thường chảynước mắt, nước mũi, 2 cánh mở rộng, mỏ há to, thở dồn dập và khò khè Gàhay lắc đầu, vẩy mỏ, đứng ủ rũ Gà đẻ trứng thì tỷ lệ đẻ giảm

+ Bệnh tích: Tụ huyết ở thanh quản, khí quản; tiết dịch nhầy ở xoangmũi và khí quản; túi khí viêm, đục mờ trông như vệt khói

+ Điều trị: Dùng 1 trong các thuốc sau:

Tylosin 98% liều 1g/lít nước, uống liên tục 3 - 5 ngày

CRD - Stop, liều 1g/lít nước, uống liên tục 3 - 5 ngày

Tiamulin 1g/ 4 lít nước, uống liên tục 3 - 5 ngày

Kết quả công tác phục vụ sản xuất được thể hiện qua bảng sau:

Trang 14

13692130730712

100,00100,00100,00100,00

2868854512344

2808754221142

98,0098,8699,4599,0695,50

Vệ sinh chuồng trại

Vệ sinh bãi chăn thả

m2

m2

4004600

4004600

100,00100,00

1.4 Kết luận và đề nghị

1.4.1 Kết luận

Qua thời gian thực tập tại cơ sở, được sự giúp đỡ tận tình của cô giáo

TS Nguyễn Thị Hải, Ban lãnh đạo xã, các cán bộ thú y và các cô chú chủnông hộ tại xã Nghĩa Lạc, cùng với sự nỗ lực của bản thân, tôi đã thu đượcnhiều bài học bổ ích và thiết thực trong thực tế lao động sản xuất, củng cố,nâng cao kiến thức chuyên môn, hoàn thiện tay nghề và rèn luyện tác phonglàm việc cụ thể:

Trang 15

Về chuyên môn: Nắm được quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn gàtheo quy trình an toàn sinh học, nâng cao tay nghề từ công tác tiêm phòng, sửdụng thuốc, điều trị bệnh…vận dụng lý thuyết phù hợp với thực tiễn sản xuất.Bên cạnh đó còn học hỏi kiến thức khoa học và chuyên môn sâu rộng hơn vàđặc biệt là những tiến bộ khoa học kỹ thuật, từ chỗ gắn bó với công việc em

đã thấy yêu nghề và tự tin hơn trước khi ra trường

Sau thời gian thực tập tạo cơ sở, tôi đã rút ra được những bài học kinhnghiệm sau:

- Phải thường xuyên bám sát với thực tế sản xuất nhằm nâng cao tay

nghề, vận dụng những kiến thức đã được học trong nhà trường vào thực tiễn

- Phải hiểu và nắm vững phương pháp nghiên cứu khoa học.

- Không ngại khó, khổ mà bỏ qua cơ hội tiếp xúc với thực tiễn nâng cao

kỹ năng thực hành như: Chữa bệnh cho gia cầm, vệ sinh thú y

- Luôn luôn tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc

đàn gà đảm bảo công tác vệ sinh thú y, phòng dịch, các nghiêm ngặt đúng kỹthuật không chủ quan

Về công tác quản lý tổ chức: Để công việc đạt hiệu quả cao, người cán

bộ kỹ thuật không những cần giỏi về chuyên môn, vững tay nghề mà còn biết

tổ chức quản lý công việc Cụ thể là phải biết vận động bà con nông dân tiếpthu và thực hiện tốt chủ trương chính sách và đường lối của Đảng, quy chếcủa Nhà trường và đơn vị

Trang 16

chất lượng cao, xây dựng sản phẩm sạch và an toàn, nâng cao thu nhập chongười dân trên địa bàn xã nói riêng và toàn tỉnh nói chung.

- Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền ý thức của người dân về tầmquan trọng của công tác phòng chống dịch bệnh, vệ sinh thú y, tăng cườngcông tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm Đồng thời, vận động, giải thíchcho nhân dân hiểu biết và tự giác thực hiện

- Nhà trường tạo điều kiện cho sinh viên thực hiện các đề tài nghiên cứukhoa học tại cơ sở, để sinh viên có điều kiện tiếp xúc trực tiếp, làm quen vớithực tiễn sản xuất, củng cố kiến thức chuyên môn của mình

Trang 17

Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Tên chuyên đề:

“Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quy trình chăn nuôi gà thịt an toàn

sinh học trong nông hộ tại xã Nghĩa Lạc - huyện Nghĩa Hưng - tỉnh Nam Định”

2.1 Đặt vấn đề

2.1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, song song với sự phát triển kinh tế xã hội,đời sống của người dân ngày càng được nâng cao, đòi hỏi nhu cầu về nguồnthực phẩm không những có giá trị kinh tế cao mà còn phải an toàn vệ sinhthực phẩm Để đáp ứng nhu cầu đó, đòi hỏi chúng ta phải đa dạng nguồn congiống có chất lượng thịt, trứng, sữa và khả năng sinh trưởng tốt

Với đặc thù là một nước nông nghiệp, ngành chăn nuôi nước ta chiếmmột vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nói riêng và trong cơ cấu nềnkinh tế nói chung Trong đó, chăn nuôi gia cầm có một vị trí hết sức quantrọng vì một mặt nó cung cấp các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao (thịt vàtrứng), đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng

Tình hình chăn nuôi diễn biến phức tạp, ngoài tác động về kinh tế, chănnuôi gà còn chịu nhiều tác động khác, đòi hỏi người chăn nuôi phải thườngxuyên cập nhật thông tin thị trường, giá cả, tình hình dịch bệnh, năm vững và cảithiện kỹ thuật chăn nuôi sao cho đạt hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững

Để giải quyết vấn đề này, Nhà nước đã đề ra chủ trương là chuyển đổiphương thức chăn nuôi từ chăn thả tự do, nhỏ lẻ sang chăn nuôi bán chăn thả,chăn nuôi tập trung, có kiểm soát và theo hướng an toàn sinh học

Nghĩa Lạc là một xã đồng bằng ven biển thuộc huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định, có điều kiện khí hậu, đất đai thuận lợi cho phát triển chănnuôi gà Tuy nhiên theo điều tra cho thấy, chăn nuôi gà chủ yếu là chăn nuôitheo kinh nghiệm truyền thống, chăn thả tự do, thiếu kiểm soát về dịch bệnh,không thực hiện quy trình tiêm vắc-xin phòng bệnh cho gà, nguy cơ xảy ra vàbùng phát dịch bệnh là rất cao Mặt khác, giống gà được nuôi chủ yếu là gà

Trang 18

-địa phương, năng suất thấp, hiệu quả kinh tế không cao Vậy muốn chăn nuôi

gà có hiệu quả kinh tế cao và bền vững, hạn chế tối đa dịch bệnh, đảm bảo vệsinh môi trường…thì phải chăn nuôi gia cầm theo hướng ATSH

Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết đó, chúng tôi tiến hành chuyên đề:

“Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quy trình chăn nuôi gà thịt an toàn sinh

học trong nông hộ tại xã Nghĩa Lạc - huyện Nghĩa Hưng - tỉnh Nam Định” 2.1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đánh giá được hiệu quả của việc áp dụng quy trình an toàn sinh họctrong chăn nuôi gà thịt tại nông hộ trên địa bàn xã Nghĩa Lạc

2.1.3 Mục tiêu của đề tài

- Để xây dựng mô hình chăn nuôi gà thịt theo hướng an toàn sinh họctrong nông hộ trên địa bàn xã Nghĩa Lạc, góp phần thúc đẩy chăn nuôi giacầm trong nông hộ phát triển bền vững

- Xác định được hiệu quả nuôi dưỡng gà thịt theo hướng an toàn sinh học

- Kết quả của chuyên đề là cơ sở để nhân rộng mô hình trên địa bàntrong và ngoài tỉnh

2.2 Tổng quan tài liệu

2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.2.1.1 Khả năng sinh trưởng, các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng

Ở vật nuôi nói chung và ở gia cầm nói riêng, những đặc tính như ngoạihình, sinh trưởng, sinh sản không phải đã xuất hiện và phát triển hoàn chỉnhngay từ khi còn là hợp tử mà nó được hoàn thiện dần trong quá trình sống, sựthay đổi ở một cá thể từ khi còn là một hợp tử đến giai đoạn già cỗi được gọi

là sự phát triển của cá thể

Quá trình phát triển gồm hai mặt có liên quan chặt chẽ với nhau sinhtrưởng và phát dục Khi nghiên cứu ở gia cầm, các nhà khoa học xác định khảnăng sinh trưởng là xem xét sự tăng khối lượng sau nở, còn phát dục là sựthay đổi hoàn chỉnh cấu tạo, chức năng sinh lý của các bộ phận Đối với chăn

Trang 19

nuôi gà thịt người ta chú ý đến sinh trưởng là chủ yếu Vì khả năng tăng khốilượng của gia cầm là một chỉ tiêu có ý nghĩa rất lớn nó biểu hiện khối lượng

cụ thể của từng cá thể hoặc đại diện cho một dòng, một giống

* Khái niệm về sinh trưởng

- Khái niệm

Theo Dương Mạnh Hùng (2004) [13], sinh trưởng là quá trình tích luỹcác chất do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, chiềungang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở đặctính di truyền từ thế hệ trước Thực chất của sinh trưởng là sự tăng trưởng và

sự phân chia của các tế bào trong cơ thể Sự sinh trưởng của con vật được tính

từ lúc trứng được thụ tinh cho đến khi cơ thể được trưởng thành

Đối với gia cầm, quá trình sinh trưởng là quá trình tổng hợp của sự tănglên về kích thước, số lượng tế bào, và thể dịch trong mô bào ở giai đoạn đầu củaphôi Ở giai đoạn sau khi nở, sinh trưởng là sự lớn dần của các mô Trong một số

mô, sinh trưởng là sự tăng lên của kích thước tế bào Giai đoạn sinh trưởng của

gà được chia ra làm hai thời kỳ: Thời kỳ gà con và thời kỳ gà trưởng thành

Khả năng sinh trưởng của gia cầm được biểu hiện khối lượng cụ thể củatừng cá thể hoặc đại diện cho một dòng, giống Đây là một chỉ tiêu có ý nghĩarất lớn Các yếu tố về giống, dòng có ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng vàcho thịt của gia cầm Trong cùng một điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc mỗigiống có khả năng sinh trưởng là khác nhau Ngoài ra, sinh trưởng còn phụthuộc vào tính biệt

- Phương pháp đánh giá sinh trưởng

Trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng để đánh giákhả năng sinh trưởng người ta sử hai chỉ số đó là: Sinh trưởng tương đối vàsinh trưởng tuyệt đối

Sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về kích thước và khối lượng của cơthể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát (TCVN 2.39, 1977) [23] sinhtrưởng tuyệt đối thường tính bằng g/con/ngày hoặc g/con/tuần Giá trị sinhtrưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn

Trang 20

Sinh trưởng tương đối là tỉ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng kíchthước trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát (TCVN 2.40, 1977) [24].

Gà còn non sinh trưởng tương đối cao, sau đó giảm dần theo tuổi

* Những yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng của gà thịt.

- Ảnh hưởng của di truyền giống

Bằng thực nghiệm, các nhà nghiên cứu đã chứng minh được rằng:Trong cùng một điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, các giống khác nhau có khảnăng sinh trưởng khác nhau Sinh trưởng của giống gà chuyên thịt nhanh hơngiống gà chuyên trứng, ngoài ra hướng sản xuất cũng ảnh hưởng tới khả năngsinh trưởng của gia cầm

Trần Công Xuân va cs (2007) [37] khi nghiên cứu khả năng sản xuấtcủa gà Lương Phượng Hoa nhập từ Trung Quốc, kết luận: khối lượng cơ thểlúc 10 tuần tuổi đạt 1,79 kg ở dòng M01 và 1,83 kg ở dòng M03

Lê Huy Liễu (2006) [17] cho biết, gà Kabir nuôi thả vườn tại Thái Nguyên

có khối lượng cơ thể lúc 10 tuần tuổi 2,02 kg; gà Lương Phượng 1,70 kg

Tác giả Bạch Thị Thanh Dân và cs (2007) [9] đã nghiên cứu, gà laiSasso – Lương Phượng nuôi thả vườn đến 10 tuần tuổi, có khối lượng cơ thể2,47 kg; gà Lương Phượng 1,96 kg

Các loài gia cầm khác nhau có khả năng sinh trưởng hoàn toàn khác nhau.Theo Chambers J R (1990) [39] thì giữa các giống, dòng gà khác nhauthì có sự sai khác di truyền về năng suất thân thịt, các phần của thân thịt Kếtquả này cũng phù hợp với kết quả của Singh R A (1992) [49], Lohmann(1995) [45], Trần Thanh Vân (2002) [33], Đào Văn Khanh (2002) [16], LêThị Nga (2005) [22], và Lê Huy Liễu (2006) [17]

Các nghiên cứu trên đây cho biết đặc tính di truyền của dòng, của giống

là nhân tố đặc biệt quan trọng đối với quá trình sinh trưởng và cho thịt của gà.Đồng thời còn chỉ ra giới hạn mà mỗi dòng, mối giống có thể đạt được Điềunày giúp người chăn nuôi có thể đầu tư thâm canh hợp lý để đạt được năngsuất cao nhất

- Ảnh hưởng của tính biệt

Trong cùng một giống khả năng sinh trưởng của các cá thể là khácnhau, sự khác nhau giữa con đực và con cái là khác nhau Theo Nguyễn Duy

Trang 21

Hoan và cs (1999) [12], tốc độ sinh trưởng của con đực non cao hơn con cái.

Gà trống, ngỗng đực, vịt đực, gà phi đực nặng hơn con cái cùng loài, cùngtuổi là 25 - 30% Mỗi giống đều có khối lượng đặc trưng cho con đực và concái, mặc dù có sự khác nhau khá lớn giữa các cá thể Các nhà di truyền họckết luận rằng khác nhau về khối lượng giữa con đực và con cái là do tổ hợpgen với giới tính quy định

Khối lượng sống của gia cầm còn khác nhau theo tuổi, thường tăng vàonăm đầu tiên; chỉ lúc thay lông thì khối lượng mới giảm xuống

Như vậy khối lượng sống của gia cầm khác nhau theo loài, tính biệt,giống, tuổi và cá thể

- Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng

Đối với ngành chăn nuôi gia cầm thức ăn chiếm tới 70 - 80% giá thànhsản phẩm Chính vì thế bất cứ yếu tố nào nhằm nâng cao hiệu quả sử dụngthức ăn đều mang lại hiệu quả kinh tế Do vậy để có năng suất cao trongngành chăn nuôi cần lập ra những khẩu phần hoàn hảo trên cơ sở tính toánnhu cầu của gia cầm trong từng giai đoạn nuôi Theo Kirchgeβner M (1997)ner M (1997)[43], đối với gà Broiler khẩu phần ăn có mức năng lượng là 12,1 – 13,8MJ/kg là thích hợp nhất

Theo Lê Hồng Mận và cs (2003) [21], cho biết nhu cầu về protein thíchhợp cho gà Broiler cho năng suất cao đã được xác định, các tác giả đã nhấnmạnh vấn đề cần giải quyết chính là tỉ lệ giữa năng lượng và protein trongthức ăn rất quan trọng Để phát huy được khả năng sinh trưởng tối đa cầncung cấp đầy đủ dinh dưỡng với sự cân bằng nghiêm ngặt giữa protein, axitamin và năng lượng Chế độ dinh dưỡng còn ảnh hưởng đến tính thèm ăn củagia cầm, mức ăn vào của gia cầm từ đó ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng

và phát triển của gia cầm

- Ảnh hưởng của chăm sóc

Theo Bùi Đức Lũng và cs (2004) [19], bên cạnh các yếu tố giống vàdinh dưỡng, sinh trưởng của gà còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố khácnhư chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, nhiệt độ, ẩm độ, độ thông thoáng, mật

độ nuôi nhốt

Trang 22

- Ảnh hưởng của nhiệt độ

Sự tác động của nhiệt độ không khí ảnh hưởng đến sức kháng của cơ thểgia cầm thông qua phản ứng điều tiết thân nhiệt, nhiệt độ quá thấp hay quá caođều làm cho nhiệt cơ thể thay đổi và làm giảm sức đề kháng của cơ thể gia cầm

Về mặt sinh học để chống đỡ nhiệt độ cao loài chim tự giảm sản sinh nhiệt

và tăng toả nhiệt Chúng ăn ít, trở nên nhẹ cân từ đó mà hạn chế cung cấp nănglượng qua trao đổi chất, giảm chuyển hoá đường và mỡ Ước tính nhiệt độ tăng

từ 200C lên 300C cứ mỗi nhiệt độ tăng mức ăn giảm 1,5%; tăng từ 320C lên 360Cgiảm 5% Gia cầm thở gấp khi nhiệt độ lên cao tức thải năng lượng dưới dạnghơi nước để hạ thân nhiệt Thở gấp làm tăng trao đổi khí trong phổi, lượng oxyhuyết tăng, lượng cacbonic giảm dễ xảy ra nhiễm kiềm do tăng pH của máu.Thải hơi nước nhiều kéo theo sự mất cân bằng nước trong cơ thể

Trong điều kiện nhiệt độ khác nhau, mức tiêu thụ thức ăn của gà khácnhau (Nguyễn Đức Hưng, 2006) [14] Nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn tới nhu cầu

về năng lượng trao đổi (ME), protein thô (CP) của gà Broiler nên tiêu tốnthức ăn của gà chịu sự chi phối nhiều của nhiệt độ môi trường

Theo Wash Burn và cs (1992) [50], thì nhiệt độ tăng cao làm gà tăngtrưởng chậm, tỷ lệ chết tăng, gây thiệt hại kinh tế lớn ở các khu vực nuôi gàBroiler theo hướng công nghiệp, đặc biệt ở các vùng khí hậu nhiệt đới Quanghiên cứu đã chỉ ra rằng với nhiệt độ môi trường 350C, ẩm độ tương đối 66%

đã làm giảm quá trình tăng khối lượng cơ thể 30 - 35% ở gà trống, 20 - 30% ở

gà mái so với điều kiện khí hậu thích hợp

Khi nhiệt độ quá cao, khả năng ăn của gia cầm giảm Theo Bùi ĐứcLũng (2000) [18], vào mùa nóng gà thịt ăn ít hơn > 10% so với mùa thu,đông Để khắc phục điều này người ta sử dụng thức ăn cao năng lượng trên cơ

sở cân bằng tỷ lệ ME/CP cũng như axit amin/ME và tỷ lệ khoáng, vitamintrong thức ăn cần phải cao hơn để đảm bảo dinh dưỡng mà gà tiếp nhận đượckhông thấp hơn nhu cầu của chúng Do đó, trong điều kiện khí hậu nước tatuỳ theo mùa vụ, căn cứ vào nhiệt độ của từng giai đoạn mà điều chỉnh mức

ME và tỷ lệ ME/CP cho phù hợp để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất trong chănnuôi nói chung và chăn nuôi gà thịt nói riêng

Cũng theo Bùi Đức Lũng (2000) [18], nhiệt độ môi trường cao kéo dài

sẽ ngăn cản phản ứng miễn dịch thể dịch của gia cầm và làm giảm kháng thểliên tục Gắn liền với sự thay đổi Corticosteroidinduced trong các ion huyết

Trang 23

tương, kháng thể tế bào cũng bị ngăn cản do kéo dài nhiệt độ trên 300C Hiệuquả này lan truyền qua tế bào hoặc điều chỉnh phản ứng khuyếch đại tế bào.

Như vậy, nhiệt độ môi trường quá lạnh hoặc quá nóng đều làm cho convật chết vì chúng không thể đương đầu với dòng năng lượng đi vào cơ thểchúng quá mức hoặc thoát ra khỏi cơ thể quá mức

- Ảnh hưởng của ẩm độ

Khi ẩm độ tăng làm cho chất độn chuồng dễ bị ẩm ướt Thức ăn dễ bị

ẩm mốc Đặc biệt là NH3 do vi khuẩn phân giải các axit nucleic trong phân vàchất độn chuồng làm tổn thương tới hệ hô hấp của gà, làm tăng tỷ lệ nhiễmcác bệnh như Cầu trùng, Newcastle, CRD, Ecoli… dẫn đến làm giảm khảnăng sinh trưởng của gà

- Lưu thông không khí (độ thông thoáng)

Độ thông thoáng trong chuồng nuôi rất quan trọng trong việc giúp gà có

đủ oxy và thải khí CO2 và làm khô chất độn chuồng, lưu thông không khí làmgiảm độ ẩm, điều chỉnh nhiệt độ chuồng nuôi làm giảm bệnh tật Nhưngkhông khí trong chuồng ở điều kiện nhất định có chứa các tác nhân có hại chogia cầm Trong chăn nuôi, nếu chuồng trại không thông thoáng thì trongchuồng nuôi sẽ có các loại khí độc như CO2, H2S, NH3, CH4… các chất này sẽkích thích niêm mạc đường hô hấp, tạo điều kiện cho các loại vi khuẩn tấncông đường hô hấp của gia cầm

Ngoài ra, những thay đổi một cách đột ngột về áp suất không khí ởnhững vùng nhiệt độ gió mùa thường gây ra những rối loạn về trao đổi chấtcủa cơ thể gia cầm, thông qua sự tác động trực tiếp vào hệ thần kinh trungương làm cho cơ thể hình thành các đáp ứng stress

- Ảnh hưởng của chế độ chiếu sáng

Nguyễn Duy Hoan và cs (1999) [12], Johannes Petersen (1999) [41],Ross (2002) [47] cho biết, với gà Broiler giết thịt sớm 38 - 42 ngày tuổi, thờigian chiếu sáng như sau: 3 ngày đầu chiếu sáng 24/24 giờ, cường độ chiếu sáng

20 lux/m2, ngày thứ tư đến khi kết thúc nuôi, thời gian chiếu sáng còn 23/24giờ, cường độ chiếu sáng 5 lux/m2 Nhưng khi nuôi gà thịt dài ngày có khốilượng cao thì áp dụng chế độ giảm thời gian chiếu sáng ở giai đoạn giữa Cụthể: ngày thứ nhất chiếu sáng 24/24 giờ; ngày thứ hai: 20/24 giờ; ngày thứ 3 -

Trang 24

15: 12/24 giờ; ngày thứ 16 - 18: 14/24 giờ; ngày thứ 19 - 22: 16/24 giờ; ngàythứ 23 - 24: 18/24 giờ và ngày thứ 25 đến kết thúc chiếu sáng 24/24 giờ

Khi cường độ chiếu sáng cao, gà hoạt động nhiều, làm giảm sinhtrưởng tích lũy Với chuồng nuôi thông thoáng tự nhiên, mùa hè cần phải cheánh nắng mặt trời chiếu thẳng vào chuồng nhưng vẫn đảm bảo thông thoáng,ánh sáng được phân bố đều trong chuồng và sử dụng bóng đèn có cùng côngsuất để tránh gà tụ tập vào nơi có ánh sáng mạnh hơn

* Nước uống

Nước là thành phần quan trọng vì nước tham gia quá trình trao đổi chấttrong cơ thể và tham gia vào cấu tạo của mô bào Ngoài ra, nước còn là thànhphần cung cấp dinh dưỡng cho gia cầm Chính vì vậy, nước uống bị nhiễmcác loại vi sinh vật gây bệnh, các loại hoá chất, các chất độc hại do quá trìnhphân giải các chất hữu cơ là nguyên nhân thường trực gây ra các biến loạntiêu hoá và dịch bệnh ở gia cầm

* Ảnh hưởng của tốc độ mọc lông

Tốc độ mọc lông cũng là một trong các đặc tính di truyền, đây là cáctính trạng có liên quan đến đặc điểm trao đổi chất, sinh trưởng, phát triển củagia cầm, là một chỉ tiêu đánh giá sự thành thục Tính dục gia cầm có tốc độmọc lông nhanh thì sự thành thục về thể trạng sớm và chất lượng tốt hơn củagia cầm mọc lông chậm

* Ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt

Mật độ nuôi nhốt cũng là một yếu tố quan trọng để chăn nuôi đạt hiệuquả cao Mật độ nuôi nhốt quá cao sẽ dẫn đến hàm lượng khí thải NH3, CO2,

H2S cao và quần thể vi sinh vật gây bệnh phát triển mạnh ảnh hưởng tới tăngkhối lượng và sức khoẻ của đàn gà, gà dễ bị cảm nhiễm với bệnh tật, tỉ lệđồng đều thấp, tỉ lệ chết cao, làm giảm hiệu quả chăn nuôi Chính vì vậy, tuỳtheo mùa vụ, tuổi gà và mục đích sử dụng mà có mật độ nuôi thích hợp

Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) [11] cho biết: khi gà dưới 3 tuầntuổi mật độ nuôi nhốt (nuôi úm) là 20 - 30con/m2 nền chuồng, giảm dần đến 7

- 10con/m2 nền chuồng tuỳ theo mùa vụ và khối lượng xuất bán

Trang 25

1.2.1.2 Tình hình cảm nhiễm bệnh và các yếu tố ảnh hưởng

Chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm nói chung là nghề sản xuấttruyền thống lâu đời và chiếm vị trí quan trọng thứ hai trong tổng giá trị sảnxuất của ngành chăn nuôi ở Việt Nam Tổng đàn gia cầm cả nước năm 2001 là

218 triệu con, năm 2003 là 254 triệu con và năm 2005 chỉ còn 220 triệu con,năm 2006 là 214 triệu con Tốc độ tăng đàn năm 2001 - 2003 là 9,0% Hàngnăm, chăn nuôi gà cung cấp khoảng 350 - 450 nghìn tấn thịt chiếm khoảng 14 -16% trong tổng sản phẩm các loại thịt và hơn 2,5 - 3,5 tỷ quả trứng Nhiềugiống gia cầm có năng suất cao được lai tạo, du nhập và sản xuất đã đem lạinhiều lợi nhuận cho người chăn nuôi (Đoàn Xuân Trúc, 2008) [31]

Năm 2006, cả nước có trên 7,9 triệu hộ chăn nuôi gia cầm, mỗi hộtrung bình nuôi 32 con Hình thức chăn nuôi nhỏ, hộ gia đình chiếm khoảng68,5% Chăn nuôi công nghiệp và bán công nghiệp chiếm khoảng 31,5% Khinghề chăn nuôi gà theo phương thức công nghiệp có xu hướng phát triểnmạnh thì dịch bệnh cũng ngày càng tăng và mức độ lây lan rộng

Do phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ, thả rông, buôn bán, giết mổ phântán, không đảm bảo an toàn sinh học nên dịch bệnh vẫn thường xuyên xảy ra,gây tổn thất lớn về kinh tế Các bệnh thường gặp là Newcastle, Gumboro, Tụhuyết trùng, Dịch tả…Trong đó, tỷ lệ gia cầm bị bệnh Newcastle từ 40 - 53%,bệnh Gumboro 27 - 32%, Tụ huyết trùng từ 14 - 15% Theo số liệu điều tracủa Viện chăn nuôi Quốc Gia, tỷ lệ chết từ khi nở ra cho đến lúc trưởngthành của đàn gà nuôi thả rông là 47%; chi phí thuốc thú y cho điều trị bệnhlên đến 10 - 12% giá thành (Cục chăn nuôi, 2005) [7]

Hiện nay, ngoài các yếu tố như dinh dưỡng, giống, kỹ thuật thì vấn đềnhiễm bệnh của đàn gia cầm là yếu tố cơ bản dẫn đến thất bại trong chănnuôi, đặc biệt là chăn nuôi ở nông hộ

Gia cầm rất mẫn cảm với bệnh tật, khi mắc bệnh thường lây lan nhanh

và dẫn đến tỷ lệ chết cao, dễ kế phát các bệnh khác, đặc biệt là bệnh truyềnnhiễm làm tiêu tốn tiền mua vắc - xin, tiêm phòng và các biện pháp thú ykhác (J.S.Gavora, 1990) [42]

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta phải gánh chịu hailoại dịch bệnh nguy hiểm, dễ lây lan và đã gây ra những thiệt hại to lớn, đó là

Trang 26

dịch cúm gia cầm H5N1 và dịch LMLM trên gia súc Hơn bao giờ hết, các

nhà chăn nuôi Việt Nam thấm thía câu châm ngôn "Phòng bệnh hơn chữa

bệnh" vì khi mà vật nuôi đã mắc các bệnh này thì biện pháp xử lý an toàn

nhất chỉ còn cách là loại bỏ chúng

Ở nước ta, dịch cúm gia cầm xuất hiện lần đầu tiên vào cuối tháng 12năm 2003 tại Hà Tây, Tiền Giang, Long An, sau đó nhanh chóng phát tán vàlây lan sang các tỉnh thành khác với diễn biến hết sức phức tạp Tính đến năm

2008, Việt Nam đã liên tiếp xảy ra 4 đợt dịch lớn ở hầu hết các tỉnh thànhtrong cả nước, làm chết hàng trăm triệu con gia cầm các loại, ước tính thiệthại lên đến hàng chục tỷ đồng (Cục thú y, 2008) [8]

Năm 2011, tại Nam Định dịch bệnh tuy không phát sinh lớn nhưng diễnbiến phức tạp, vẫn còn tư tưởng chủ quan, giấu dịch ở một số địa phương.Tính chung đến thời điểm này, tổng số gia cầm chết và tiêu huỷ là 8.593 con(Chi cục thú y tỉnh Nam Định, 2011) [6]

* Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng nhiễm bệnh:

- Yếu tố bên trong:

+ Ảnh hưởng của di truyền giống:

Trong cùng một giống, tính cảm thụ với bệnh tật của các dòng khácnhau là khác nhau, các cá thể khác nhau trong cùng một dòng cũng có sự khácnhau, nhưng nằm trong giới hạn nhất định của phẩm giống Các giống vậtnuôi nhiệt đới ít mắc các bệnh truyền nhiễm, các bệnh kí sinh trùng hơn cácvật nuôi xứ lạnh

Gia cầm thông qua hệ thống miễn dịch và các cơ chế đáp ứng miễndịch để chống các tác nhân gây bệnh Kotris và cs (1998) nghiên cứu chothấy, những gà mái có số lượng bạch cầu cao hơn ở độ tuổi 60 và 100 ngày thìtương ứng với tính cảm thụ bệnh tật kém và sản lượng trứng cao (Dẫn theoNgô Giản Luyện, 1994) [20]

Trong công tác lai tạo, khi dùng những dòng, giống có sức sống cao thìcon lai sẽ thừa hưởng tính trạng trội này Nghiên cứu về vấn đề này, FairfulR.W, 1990 [40] cho biết, ưu thế lai về sức sống là rất cao, dao động từ 9 –14% Vì vậy, trong chăn nuôi gà thịt hiện nay người ta thường dùng con lai để

sử dụng ưu thế lai cho hiệu quả kinh tế cao

Trang 27

+ Ảnh hưởng của lứa tuổi:

Tính cảm thụ đối với bệnh tùy thuộc theo lứa tuổi Gia cầm non sức đềkháng yếu hơn so với gia cầm trưởng thành, vì cơ thể chưa phát triển đầy đủ,

hệ thần kinh chưa hoàn thiện, các cơ năng bảo vệ chống nhiễm trùng chưađược kiện toàn, các phản ứng ngăn chặn nhiễm trùng còn yếu, hoạt động sinh

lý ở gia cầm non có đặc điểm riêng là mầm bệnh dễ xâm nhập vào cơ thể Vìvậy, gia cầm non dễ mắc các bệnh hơn gia cầm trưởng thành

+ Ảnh hưởng của loại hình thần kinh - thể chất:

Nguyễn Quang Tính (2008) [29] cho biết, thể chất là một tổng hợp cácđặc điểm về hình thái, sinh lý trong hoạt động sống của cơ thể, làm cho tínhphản ứng của cơ thể đối với nhiễm trùng mạnh hay yếu Loại hình thần kinhquyết định thể chất của con vật Thể chất yếu thì con vật cảm thụ tốt với mầmbệnh và ngược lại

Khi nghiên cứu về sức sống của gia cầm, Johansson (1972), Marco &cộng sự (1982) cho biết, sức sống được thể hiện ở thể chất và được xác địnhtrước hết bởi những khả năng có tính di truyền của động vật, có thể chống lạicác ảnh hưởng không thuận lợi của môi trường cũng như các ảnh hưởng kháccủa dịch bệnh (Theo Ngô Giản Luyện, 1994) [20]

- Yếu tố môi trường ngoại cảnh:

Môi trường ngoại cảnh thông qua tác động trực tiếp của các yếu tố như:không khí, nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng…đã ảnh hưởng rất lớn đến tính cảm thụbệnh tật của vật nuôi nói chung và gia cầm nói riêng Mối liên quan chunggiữa ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh vào cơ thể động vật đã được các nhàkhoa học nghiên cứu và lý giải Trong nhiều giả thuyết, đáng chú ý hơn cả làgiả thuyết Stress

Cơ thể động vật luôn thích ứng với những tác động thay đổi của cácnhân tố ngoài môi trường Những nhân tố đó có khả năng làm thay đổi sựsống và chức năng của cơ thể cũng như mối liên quan giữa cơ thể và môitrường bên ngoài Hội chứng Stress là phản ứng không đặc hiệu của cơ thểvới tác động xấu của ngoại cảnh và trạng thái của cơ thể với nhu cầu đặc biệtkhẩn cấp để giữ trạng thái cân bằng sinh lý bình thường (Nguyễn QuangTuyên và cs, 1998) [32]

Trang 28

+ Ảnh hưởng của nhiệt độ không khí:

Sự tác động của nhiệt độ không khí ảnh hưởng tới khả năng nhiễmbệnh của cơ thể gia cầm thông qua phản ứng điều tiết nhiệt của cơ thể, nhiệt

độ quá thấp hay quá cao đều làm cho nhiệt độ cơ thể thay đổi và làm giảm sức

đề kháng của cơ thể gia cầm, từ đó làm tăng khả năng mắc bệnh

Ở gia cầm non, do cơ thể điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh nênnhững thay đổi về nhiệt độ chuồng nuôi làm cho gia cầm giảm và bỏ ăn Nếutình trạng này kéo dài sẽ làm tỷ lệ chết trong đàn rất cao

Người ta cũng thấy rằng, nhiệt độ thấp trong mùa đông sẽ làm tăng sứccảm thụ bệnh của gia cầm như là bệnh đường hô hấp, CRD…Còn nếu nhưnhiệt độ cao nóng bức, gia cầm sẽ uống nhiều nước, dễ mắc phải các bệnhnhư: Cầu trùng, Newcastle, Bạch lỵ gà con…

+ Ảnh hưởng của ẩm độ không khí:

Theo Nguyễn Quang Tuyên và cs (1998) [32]: Ẩm độ của không khícao làm tăng ảnh hưởng của nhiệt độ cao hoặc thấp và trái lại ẩm độ khôngkhí thấp sẽ làm giảm ảnh hưởng của nhiệt độ không bình thường, một số bệnh

ở động vật trong cùng điều kiện môi trường như nhau thường xảy ra nhiềuhơn ở những vùng có ẩm độ không khí cao so với các vùng có ẩm độ khôngkhí thấp

Khi ẩm độ trong chuồng cao làm cho chất độn chuồng dễ bị ẩm ướt,thức ăn dễ bị ẩm mốc và hư hỏng Đặc biệt, NH3 do vi khuẩn phân giải cácaxit nucleic trong phân và chất độn chuồng làm tổn thương tới hệ hô hấp của

gà, làm tăng tỷ lệ nhiễm các bệnh như: Cầu trùng, Newcastle, CRD, E coli…

+ Ảnh hưởng của không khí và sự lưu thông không khí:

Không khí trong chuồng nuôi ở điều kiện nhất định luôn chứa các tácnhân có hại cho gia cầm Trong chăn nuôi, nếu chuồng trại không có sự thôngthoáng hợp lý thì các loại khí độc như CO2, H2S, NH3, CH4… sẽ có ở trongchuồng nuôi Các khí này sẽ kích thích niêm mạc đường hô hấp làm giảm cácchức năng bảo vệ của hệ niêm mạc, tạo điều kiện cho các loại vi khuẩn tấncông đường hô hấp của gia cầm

Trang 29

+ Ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt:

Mật độ nuôi nhốt quá cao sẽ dẫn đến hàm lượng khí thải NH3, CO2, H2Scao và quần thể vi sinh vật gây bệnh phát triển mạnh ảnh hưởng tới tăng khốilượng và sức khoẻ của đàn gà: gà dễ bị cảm nhiễm với bệnh tật, tỉ lệ đồng đềuthấp, tỉ lệ chết cao và làm giảm hiệu quả chăn nuôi Chính vì vậy, tuỳ theomùa vụ, tuổi gà và mục đích sử dụng mà có mật độ nuôi thích hợp

+ Ảnh hưởng của mùa:

Mùa làm ảnh hưởng tới cơ năng sinh lý và tính cảm thụ bệnh tật của cơthể gia súc, gia cầm, ở miền Bắc nước ta có 2 mùa rõ rệt

Mùa mưa: từ tháng 5 – 10, thời tiết ấm áp, mưa nhiều thuận lợi cho câytrồng và các loại rau phát triển Nhưng mưa nhiều cũng là điều kiện thuận lợi

để một số loại vi khuẩn phát triển nên vào mùa này gia cầm thường mắc cácbệnh như: Cúm gia cầm, E coli, Cầu trùng gà…

Mùa khô: từ tháng 10 – 02, thời gian này thức ăn khan hiếm, lại là mùamưa phùn gió bấc phù hợp cho một số bệnh phát sinh như: Newcastle, Dịch

Vùng núi có khí hậu tốt, nhiều cỏ rất thuận lợi cho việc phát triển chănnuôi gia súc lớn, nhưng cũng là vùng thuận lợi cho các loại côn trùng pháttriển và nhiều bệnh ký sinh trùng đường máu

Vùng trung du, thường xảy ra các bệnh ký sinh trùng, Tụ huyết trùng,Dịch tả…

Vùng đồng bằng, có nhiều điều kiện phát triển chăn nuôi tiểu gia súc,gia cầm nhưng thường xảy ra các bệnh như Newcastle, Tụ huyết trùng…

+ Ảnh hưởng của phương thức nuôi:

Chăn nuôi gà chủ yếu hiện nay có 3 phương thức: chăn nuôi nhỏ lẻ hộgia đình, chăn nuôi bán công nghiệp và chăn nuôi công nghiệp Bình quân,

Trang 30

mỗi hộ nuôi khoảng 28-30 con Chăn nuôi gà theo phương thức phân tán, nhỏ

lẻ trong nông hộ là rất lớn Người dân chăn nuôi chủ yếu theo kinh nghiệm,chưa được đào tạo Hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ, hộ gia đình tuy là tập quán,truyền thống nhưng đang là nguy cơ lây lan phát tán mầm bệnh (từ chăn nuôinhỏ lẻ dẫn đến buôn bán, giết mổ nhỏ lẻ là phổ biến) Đây là một trong nhữngnguyên nhân dẫn đến việc bùng phát dịch bệnh trong chăn nuôi gia cầm

+ Ảnh hưởng của nước uống:

Là một trong những yếu tố quan trọng đầu tiên khi xây dựng chuồngtrại: Nước uống bị nhiễm các loại vi sinh vật gây bệnh, các hóa chất, chất độchại do quá trình phân giải chất hữu cơ là nguyên nhân gây bệnh trực tiếp gâyrối loạn tiêu hóa và các bệnh dịch ở gia cầm

Ngoài ra, còn có các điều kiện khác như: thức ăn, dụng cụ, kỹ thuậtchăm sóc, thổ nhưỡng, động vật cảm nhiễm cũng là các yếu tố trực tiếp gâyảnh hưởng trực tiếp đến tính cảm thụ bệnh tật của cơ thể gia cầm

1.2.1.3 Quy trình an toàn sinh học trong chăn nuôi gà thịt

Ở Việt Nam, chăn nuôi sinh học nói chung và chăn nuôi gia cầm sinh họcnói riêng là một khái niệm tương đối mới mẻ và được sử dụng với rất nhiều cái

tên khác nhau như: “Chăn nuôi an toàn sinh học”; “Chăn nuôi sạch”; “Chăn

nuôi hữu cơ”; “Chăn nuôi sinh thái”…

Cũng như những ngành sản xuất khác, bên cạnh lợi nhuận đạt được,tính an toàn trong sản xuất cũng được quan tâm hàng đầu Với diễn biến phức

tạp của tình hình dịch bệnh (cúm gia cầm, dịch tả…) thuật ngữ “chăn nuôi an

toàn sinh học” đã trở nên gắn kết quan trọng với người chăn nuôi, vì đây

được xem như một bảo hiểm phi chính thức để bảo vệ dịch bệnh đối với đàn

gia cầm “Chăn nuôi an toàn sinh học” xuất phát từ sự “an toàn sinh học” của

tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến gia cầm

* Khái niệm chăn nuôi gà an toàn sinh học:

Chăn nuôi gà an toàn sinh học (ATSH) chính là phương thức chăn nuôi

áp dụng tổng hợp và đồng bộ các biện pháp kỹ thuật nhằm quản lý, ngăn ngừa

sự tiếp xúc của vật nuôi với mầm bệnh, tạo ra sản phẩm an toàn với sức khỏecộng đồng và đảm bảo lợi ích kinh tế cho người chăn nuôi

Trang 31

Theo cách hiểu chung nhất, an toàn sinh học trong chăn nuôi là thựchiện mọi biện pháp thực tiễn để các mầm mống gây dịch bệnh không tới đượcđàn vật nuôi và không để đàn vật nuôi tiếp xúc với những chủ thể mang mầmmống dịch bệnh An toàn sinh học bao quát toàn bộ hoạt động của trại nuôitheo thời gian (từ lúc chọn vị trí xây dựng trại đến lúc trại cho ra sản phẩm)

và không gian (thực hiện trong toàn bộ trại nuôi và cả ở vùng cách ly an toàncủa nó) An toàn sinh học cần thiết cho mọi cơ sở chăn nuôi chuyên nghiệp vàmỗi cơ sở chăn nuôi đều có khả năng tự thực hiện an toàn sinh học trong điềukiện cụ thể của mình (Nguyễn Hoài Châu, 2011) [5]

Những nguyên tắc cơ bản của chăn nuôi ATSH đều có thể áp dụngtrong chăn nuôi quy mô lớn và cả chăn nuôi quy mô nhỏ Thực hiện phươngthức chăn nuôi ATSH là quản lý đồng bộ tất cả các khâu, từ thiết kế chuồngtrại, lựa chọn con giống, thức ăn, phòng bệnh theo các nguyên tắc cụ thể

Thứ nhất, đàn gia cầm phải được nuôi trong môi trường được bảo vệ,

được chăm sóc tốt và tất cả mọi sự di chuyển ra vào trại, giữa các khu vựctrong trại đều phải được kiểm soát Vị trí xây dựng chuồng trại gia cầm an toànsinh học phải xa khu dân cư, bệnh viện, trường học, chợ… tránh xây ở những nơigần sông suối kênh mương, đảm bảo có nước sạch thường xuyên Chuồng trại cầnđược thiết kế thoáng mát về mùa hè, đảm bảo ấm kín về mùa đông

Thứ hai, con giống mua về cần được đảm bảo có nguồn gốc rõ ràng,

người chăn nuôi nếu tự túc được con giống cũng là biện pháp rất tốt để quản

lý dịch bệnh

Thứ ba, thức ăn sử dụng trong chăn nuôi gà cũng phải có xuất xứ,

nguồn gốc rõ ràng Thức ăn cần đảm bảo chất lượng, đầy đủ các thành phầndinh dưỡng, đủ cho các giai đoạn phát triển (tuổi) của vật nuôi Thức ănkhông sử dụng kháng sinh, hormon hay dược phẩm, không sử dụng thức ănqua chế biến hóa học Trong tình hình giá thức ăn chăn nuôi đang tăng caonhư hiện nay, bà con nông dân và người chăn nuôi có thể thực hiện biện pháp

tự phối trộn thức ăn chăn nuôi từ nguồn nguyên liệu (ngô, cám, đậu, đỗ…) cósẵn trong gia đình Công thức phối trộn có thể tham khảo từ các tài liệu kỹthuật hoặc cán bộ kỹ thuật chuyên ngành chăn nuôi

Trang 32

Thứ tư, tiêm phòng định kỳ (theo lịch) và vệ sinh khu vực chăn nuôi

thường xuyên là biện pháp quan trọng để ngăn chặn, giảm thiểu các nguy cơxâm nhập của các mầm bệnh vào đàn vật nuôi Thực hiện công tác theo dõithường xuyên khi vật nuôi trong đàn có biểu hiện khác lạ, lập tức đưa nuôicách ly để theo dõi và có biện pháp xử lý thích hợp

Thứ năm, thực hiện nguyên tắc “cùng vào, cùng ra” Tránh tình trạng

nuôi gối lứa Quản lý không để đàn này tiếp xúc với đàn kia Sau khi xuấtchuồng kết thúc một lứa nuôi, cần thực hiện vệ sinh dụng cụ chăn nuôi (máng

ăn, máng uống), chuồng trại, khu vực chăn nuôi cần được rắc vôi bột và phunthuốc sát trùng chuồng trại Sau đó, để trống chuồng 10 – 15 ngày rồi mớinuôi lứa khác

Có một loạt các biện pháp thực hành nuôi gia cầm ATSH:

- Nuôi khép kín với từng trại (trong mỗi trại chỉ có một giống gia cầm

và cùng độ tuổi) Đối với gia cầm giống nên có các khu vực nuôi dành chocác lứa tuổi khác nhau)

- Kiểm soát dịch bệnh theo từng khu vực trong trại Sử dụng con giống

Chăn nuôi ATSH là biện pháp ngăn ngừa sự tiếp xúc giữa động vật vàmầm bệnh An toàn sinh học có thể không cần chi phí nhiều tiền, chủ yếu lànhững thói quen tốt diễn ra hàng ngày ở khu vực chăn nuôi của người nông dân

Nguyên tắc cơ bản của chăn nuôi ATSH có thể áp dụng cho cả chănnuôi quy mô nhỏ và quy mô lớn Với các trang trại chăn nuôi gia cầm ở quy

Trang 33

mô nhỏ, ATSH gồm nhiều hình thức khác nhau, đơn giản và không tốn kémnhư ngăn chặn không cho mầm bệnh xâm nhập vào gia cầm và giữ gia cầmkhông tiếp xúc với mầm bệnh Thực tế đã chứng minh rằng, nếu không thựchiện các biện pháp ATSH chúng ta sẽ phải tốn thêm thời gian và chi phí choviệc giải quyết dịch bệnh khi nó xảy ra.

Cũng theo Nguyễn Hoài Châu, (2011) [5]: Nhìn chung, việc thực hiện

an toàn sinh học trong chăn nuôi không đòi hỏi chi phí lớn Để thực hiện tốt

an toàn sinh học, những người làm việc trong trại chăn nuôi cần nhận thức rõtầm quan trọng của nó để thực hiện một cách tự giác và nghiêm ngặt nhữngquy định trong từng khâu sản xuất và liên hoàn trong toàn hoạt động của trại.Thực tế đã chứng tỏ, nhiều trại chăn nuôi ở nước ta do thực hiện tốt an toànsinh học đã tồn tại và vượt qua được các đợt dịch bệnh trong khi các cơ sởchăn nuôi xung quanh bị thiệt hại nặng nề Qua quá trình điều tra hiện trạng

vệ sinh môi trường ở một số trại chăn nuôi tập trung được Viện Công nghệmôi trường Việt Nam thực hiện ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng, có thểthấy phần lớn các trại chăn nuôi đã nắm được những yêu cầu cơ bản và trênthực tế đã triển khai các biện pháp an toàn sinh học thiết yếu nhất Đến nay đãmang lại những kết quả nhất định trong phòng chống dịch bệnh, tiêu biểu như

ở Trung tâm Nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương, thường xuyên nuôi giữ antoàn trên 20.000 con gia cầm giống gốc của Quốc gia, đặc biệt coi trọng yếu

tố phòng bệnh, bảo đảm an toàn sinh học cho môi trường Tuy nhiên, tạinhiều nơi, sự hiểu biết của các chủ trại về an toàn sinh học thường chưa toàndiện và thấu đáo nên các biện pháp phòng chống dịch bệnh chưa được thựchiện đồng bộ và có khi không phù hợp với điều kiện thực tế của trại nuôi

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Trong chiến lược phát triển ngành chăn nuôi gia cầm ở nước ta, đếnnăm 2020 gà chăn thả truyền thống có kiểm soát dịch bệnh vẫn chiếm 60 –65% Điều này chứng tỏ chăn nuôi gà thả vườn an toàn sinh học ngày càngđược chú trọng

Theo Trần Công Xuân, Nguyễn Văn Thưởng, Phùng Đức Tiến, HoàngĐức Thắng, Ngô Hùng Mạnh, Nguyễn Xuân Đỉnh, Hoàng Văn Lộc, Cao Đình

Trang 34

Tuấn, Phạm Thị Minh Thu, Lê Thị Nga, (2004) [38] nghiên cứu về hiệu quảcủa việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nuôi gà chăn thả lấy thịt trongnông hộ nhận thấy các chỉ tiêu đều tăng rõ rệt so với phương thức chăn nuôitruyền thống: Tỷ lệ nuôi sống cao hơn 31,9%, thời gian nuôi rút ngắn hơn.Khối lượng xuất chuồng cao hơn 0,68 kg/con, đạt 152,3% Thu nhập/1 gà caohơn 2.909 đồng/con, đạt 269,1%.

Nghiên cứu về mô hình chăn nuôi gà tập trung theo quy trình an toànsinh học trên địa bàn huyện Cẩm Giàng - Tỉnh Hải Dương, Nguyễn ThịThuận (2010) [30] đã kết luận: Giống gà ROSS308 nuôi được gần 1 tháng,khối lượng trung bình của gà đạt trên 1kg/con Tỷ lệ nuôi sống cao nhất đạt99%, khả năng tăng trọng của gà cũng tốt hơn, gà nuôi khoảng 45 – 47 ngàytrọng lượng 3,5 kg So với các giống gà khác cùng lứa thì ưu điểm của giống

gà ROSS308 nuôi theo quy trình ATSH có ưu điểm rõ rệt: khả năng chốngbệnh tật cao, tăng trọng nhanh, thu hồi vốn nhanh, đảm bảo vệ sinh, khônggây ô nhiễm môi trường

Theo báo Nông Nghiệp, (2009) [2] cho biết: Sau 3 tháng thực hiện môhình chăn nuôi gà an toàn sinh học tại Lâm Thao, tỷ lệ nuôi sống đạt trên95%, khối lượng bình quân đạt 2,2 - 2,4 kg/con đối với gà trống, đạt 1,9 - 2,0kg/con đối với gà mái; thịt gà săn chắc chất lượng ngon hơn hẳn gà nuôi côngnghiệp Với giá thị trường hiện tại là 38.000 - 40.000đ/kg, mỗi hộ nuôi 200con ước tính cho thu khoảng 16 - 17 triệu đồng, trừ tất cả chi phí dự kiến lãikhoảng 3 - 4 triệu đồng

Kết quả nghiên cứu mô hình an toàn sinh học tại Bảo Thắng – Lào Caicho thấy: Sau 4 tháng thực hiện, tỷ lệ nuôi sống đến lúc xuất chuồng đạt98,8%; Gà lớn nhanh, khối lượng bình quân đạt 2,3 kg/con; chất lượng sảnphẩm tốt, đảm bảo an toàn dịch bệnh Hạch toán kinh tế từ mô hình, trừ tất

cả các khoản chi phí như: Giống, thức ăn, thuốc thú y, công lao động, điệnthắp sáng, chuồng trại, mỗi mô hình thu lãi hơn 5 triệu đồng Mô hình đã giúpngười dân tăng thu nhập, tận dụng được các sản phẩm phụ trong nông nghiệp,học hỏi được kỹ thuật nuôi gà, phòng trừ dịch bệnh cho gà thịt an toàn sinhhọc, tránh tổn thất trong chăn nuôi Đồng thời, nâng cao nhận thức của ngườidân về chăn nuôi gà an toàn sinh học đối với sức khoẻ con người và cộng

Trang 35

đồng, góp phần hạn chế lây lan dịch bệnh, không gây ô nhiễm môi trường

(Nguyễn Thanh Hương, 2010) [15]

Nguyễn Văn Vượng (1999) [35] khi đánh giá khả năng sinh trưởng,phát triển của giống gà ISA màu và giống gà ISA JA57 nuôi theo quy trình kỹthuật chăn nuôi gà sạch tại hộ gia đình tỉnh Thái Nguyên cho biết: kết thúc 9tuần tuổi gà ISA color có tỷ lệ nuôi sống đạt 95,7% Khối lượng bình quân là2081,13 g, tiêu tốn thức ăn là 2,51 kg/kg tăng trọng Gà ISA JA57 có tỷ lệnuôi sống 94,91%, khối lượng bình quân là 1880,12g, tiêu tốn thức ăn 2,59kg/kg tăng khối lượng

Mô hình chăn nuôi gà thịt an toàn sinh học đã thực hiện trong nhiềunăm qua tại các tỉnh và được nông dân tích cực hưởng ứng, đây là mô hìnhcần thiết và bền vững nhằm nâng cao thu nhập cho nông dân, đặc biệt trongbối cảnh tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp Việc nuôi gà an toàn sinhhọc này đã đem lại hiệu quả rõ rệt, thiết thực cả về góc độ kinh tế lẫn góc độ

xã hội, môi trường Mô hình đã giúp cho các địa phương có định hướng đúng,

để chỉ đạo phát triển chăn nuôi gia cầm trong các năm tiếp theo vừa mang tínhhàng hoá, vừa đảm bảo an toàn mọi mặt cho cuộc sống Nhân dân địa phươngqua đó cũng đã nắm bắt được các tiến bộ kỹ thuật, để chăn nuôi gia cầm hiệuquả, góp phần xoá đói giảm nghèo

1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Khi ngành chăn nuôi gia cầm trên thế giới phát triển theo hướng côngnghiệp đã hình thành một thị trường hàng hóa, các sản phẩm như: thịt, trứng,lông…Năm 2000, sản lượng thịt gà toàn thế giới đạt 56,877 triệu tấn, chiếm85,6% tổng sản lượng thịt gia cầm Từ những năm 1980 trở lại đây một sốnước như Nhật, Pháp, Israel, Trung Quốc…đã có xu hướng sử dụng thịt,trứng có mùi vị tự nhiên, thơm ngon đặc trưng Công tác chọn tạo giống theohướng khai thác các nguồn gen bản địa và được nuôi gần tự nhiên Giá báncác loại thịt gà theo phương thức chăn thả tự nhiên thường cao gấp 2 lần sovới gà công nghiệp, đúng như các chuyên gia đã nhận định chăn nuôi gia cầmtrong thế kỷ 21: chất lượng được coi trọng hơn số lượng Với xu hướng đótrong những thập kỷ qua nhiều hãng gia cầm trên thế giới đã nghiên cứu, chọntạo ra nhiều dòng, giống gà lông màu có năng suất, chất lượng cao như ở

Trang 36

Pháp hãng Sasso đã tạo ra 17 dòng trống và 2 dòng mái SA31 và SA51,HUBBARD – ISA đã tạo ra gà ISA color, ISA – JA57 Tại Israel hãng Kabir

đã tạo ra 36 dòng gà lông màu chất lượng cao nổi tiếng thế giới Trung Quốctạo ra các giống gà Tam Hoàng, Lương Phượng có năng suất, chất lượng nổitiếng trong khu vực, phù hợp với phương thức chăn thả tự nhiên (AlainChatrrau, 2000) [1]

Những năm gần đây nghiên cứu và phát triển chăn nuôi gia cầm rất chútrọng đến phát triển gia cầm chăn thả đảm bảo an toàn sinh học, nhiều báo cáo củanhững dự án phát triển chỉ ra rằng gia cầm chăn thả an toàn sinh học đóng một vaitrò đáng kể trong việc làm giảm sự nghèo đói (Saleque M.A, 1996) [48]

Kitalyi A.J, (1996) [44] khi nghiên cứu về hệ thống chăn nuôi gà chănthả có sự kiểm soát dịch bệnh, cho biết: Chăn nuôi gà theo phương thức thâmcanh ở những vùng nông thôn có sự khác nhau với hệ thống chăn nuôi gà địaphương và sự khác nhau đó có liên quan đến sự tồn tại về vật chất và hoàncảnh kinh tế xã hội của địa phương

Robert J.A, (1991) [46] nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triểncủa gà chăn thả theo phương thức an toàn sinh học trong nông hộ kết luận,nuôi gà chăn thả theo phương thức này thì chi phí đầu tư thấp, sản phẩm củachúng cung cấp tiêu dùng tại chỗ trong gia đình và được bán buôn trở thànhnguồn thu nhập

Các nước có ngành chăn nuôi gia cầm nổi tiếng trên thế giới luôn ứngdụng kỹ thuật tiên tiến cả về di truyền và công nghệ sản xuất để tạo ra các sảnphẩm an toàn và chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của ngườitiêu dùng

Khi nghiên cứu về chất lượng thịt gà, hãng Hubbart – ISA của Pháp đãnuôi thử nghiệm con lai từ trống dòng S44 x mái dòng JA 57 theo quy trình

an toàn sinh học trong các nông hộ cho kết quả: tỷ lệ nuôi sống dao động từ

95 – 98%, khối lượng cơ thể lúc 63 ngày tuổi đạt 2209g, tiêu tốn thức ăn/kgtăng khối lượng 2,24 – 2,30 kg

Như vậy, bên cạnh sự thành công về công tác giống thì những thànhtựu về khoa học công nghệ đã giúp ngành chăn nuôi gà thịt có được nhữngbước nhảy vọt lớn về các chỉ tiêu năng suất và chất lượng sản phẩm Ngoài

Ngày đăng: 14/05/2014, 22:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alain Chatreau (2000), Chăn nuôi gia cầm trong thế kỷ 21: Chất lượng được coi trọng hơn số lượng, Hội thảo Pháp - Việt về “Phát triển ngành chăn nuôi và chế biến nhằm tăng giá trị kinh tế các sản phẩm thịt”, Bộ Nông nghiệp và Ngư nghiệp Pháp, Hà Nội, trang 6 – 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi gia cầm trong thế kỷ 21: Chất lượngđược coi trọng hơn số lượng, Hội thảo Pháp - Việt về “Phát triểnngành chăn nuôi và chế biến nhằm tăng giá trị kinh tế các sản phẩmthịt”
Tác giả: Alain Chatreau
Năm: 2000
3. Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn (2007), Kỹ thuật chăn nuôi gà nông hộ, Nxb Hà Nội, trang 6 – 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi gànông hộ
Tác giả: Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2007
5. Nguyễn Hoài Châu (2011), An toàn sinh học trong chăn nuôi tập trung, Viện Chăn nuôi Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: An toàn sinh học trong chăn nuôi tập trung
Tác giả: Nguyễn Hoài Châu
Năm: 2011
6. Chi cục thú y Tỉnh Nam Định (2011), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2011 và phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch năm 2012 , Nam Định, ngày 26 tháng 12 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụnăm 2011 và phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch năm 2012
Tác giả: Chi cục thú y Tỉnh Nam Định
Năm: 2011
8. Cục thú y (2008), Báo cáo công tác phòng chống dịch cúm gia cầm và kế hoạch công tác trong thời gian tới, Hà Nội, ngày 03 tháng 03 năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác phòng chống dịch cúm gia cầm và kếhoạch công tác trong thời gian tới
Tác giả: Cục thú y
Năm: 2008
10. Nguyễn Thị Hải (2010), Nghiên cứu khả năng sản xuất của giống gà thịt lông màu Sasso nuôi tại miền Bắc Việt Nam, Luận văn tiến sĩ KHNN, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, trang 86.66 66 66 66 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sản xuất của giống gà thịtlông màu Sasso nuôi tại miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hải
Năm: 2010
2. Báo Nông nghiệp (2009), Kết quả mô hình chăn nuôi gà thịt thả vườn theo hướng an toàn sinh học trên địa bàn huyện Lâm Thao - Tỉnh Phú Thọ Khác
4. Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (2008), Quy chuẩn Việt Nam. Điều kiện trại chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học. QCVN 01 - 15 Khác
7. Cục chăn nuôi (2005), Tình hình chăn nuôi gia cầm giai đoạn 2001 – 2005 và phương hướng phát triển giai đoạn 2006 – 2015 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Số lượng, cơ cấu đàn gia súc, gia cầm của xã Nghĩa Lạc  giai đoạn  2009 - 2011 - Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quy trình chăn nuôi gà thịt an toàn sinh học trong nông hộ tại xã nghĩa lạc   huyện nghĩa hưng   tỉnh nam định
Bảng 1.1 Số lượng, cơ cấu đàn gia súc, gia cầm của xã Nghĩa Lạc giai đoạn 2009 - 2011 (Trang 6)
Bảng 1.2: Lịch phòng bệnh vắc-xin cho gà thương phẩm Ngày tuổi Loại vắc-xin Phương pháp sử dụng - Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quy trình chăn nuôi gà thịt an toàn sinh học trong nông hộ tại xã nghĩa lạc   huyện nghĩa hưng   tỉnh nam định
Bảng 1.2 Lịch phòng bệnh vắc-xin cho gà thương phẩm Ngày tuổi Loại vắc-xin Phương pháp sử dụng (Trang 11)
Bảng 1.3: Công tác phục vụ sản xuất Nội dung công việc ĐVT Số - Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quy trình chăn nuôi gà thịt an toàn sinh học trong nông hộ tại xã nghĩa lạc   huyện nghĩa hưng   tỉnh nam định
Bảng 1.3 Công tác phục vụ sản xuất Nội dung công việc ĐVT Số (Trang 14)
2.3.4.2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm - Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quy trình chăn nuôi gà thịt an toàn sinh học trong nông hộ tại xã nghĩa lạc   huyện nghĩa hưng   tỉnh nam định
2.3.4.2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 41)
Bảng 4.1: Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi - Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quy trình chăn nuôi gà thịt an toàn sinh học trong nông hộ tại xã nghĩa lạc   huyện nghĩa hưng   tỉnh nam định
Bảng 4.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (Trang 47)
Bảng 4.2: Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm - Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quy trình chăn nuôi gà thịt an toàn sinh học trong nông hộ tại xã nghĩa lạc   huyện nghĩa hưng   tỉnh nam định
Bảng 4.2 Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm (Trang 49)
Bảng 4.3: Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm - Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quy trình chăn nuôi gà thịt an toàn sinh học trong nông hộ tại xã nghĩa lạc   huyện nghĩa hưng   tỉnh nam định
Bảng 4.3 Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm (Trang 52)
Hình 2.2: Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm - Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quy trình chăn nuôi gà thịt an toàn sinh học trong nông hộ tại xã nghĩa lạc   huyện nghĩa hưng   tỉnh nam định
Hình 2.2 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm (Trang 54)
Bảng 4.4: Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm - Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quy trình chăn nuôi gà thịt an toàn sinh học trong nông hộ tại xã nghĩa lạc   huyện nghĩa hưng   tỉnh nam định
Bảng 4.4 Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm (Trang 55)
Hình 2.3: Biểu đồ sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm - Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quy trình chăn nuôi gà thịt an toàn sinh học trong nông hộ tại xã nghĩa lạc   huyện nghĩa hưng   tỉnh nam định
Hình 2.3 Biểu đồ sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm (Trang 57)
Bảng 4.6: Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng - Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quy trình chăn nuôi gà thịt an toàn sinh học trong nông hộ tại xã nghĩa lạc   huyện nghĩa hưng   tỉnh nam định
Bảng 4.6 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (Trang 59)
Bảng 4.7: Chỉ số sản xuất (PI) và chỉ số kinh tế (EN) của gà thí nghiệm  Lô - Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quy trình chăn nuôi gà thịt an toàn sinh học trong nông hộ tại xã nghĩa lạc   huyện nghĩa hưng   tỉnh nam định
Bảng 4.7 Chỉ số sản xuất (PI) và chỉ số kinh tế (EN) của gà thí nghiệm Lô (Trang 60)
Bảng 4.8: Hàm lượng một số khí độc tại khu chuồng nuôi - Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quy trình chăn nuôi gà thịt an toàn sinh học trong nông hộ tại xã nghĩa lạc   huyện nghĩa hưng   tỉnh nam định
Bảng 4.8 Hàm lượng một số khí độc tại khu chuồng nuôi (Trang 61)
Bảng 4.9: Mức độ nhiễm khuẩn chuồng nuôi  Lô - Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quy trình chăn nuôi gà thịt an toàn sinh học trong nông hộ tại xã nghĩa lạc   huyện nghĩa hưng   tỉnh nam định
Bảng 4.9 Mức độ nhiễm khuẩn chuồng nuôi Lô (Trang 63)
Bảng 4.10: Sơ bộ thu chi cho 1 kg khối lượng gà xuất bán - Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quy trình chăn nuôi gà thịt an toàn sinh học trong nông hộ tại xã nghĩa lạc   huyện nghĩa hưng   tỉnh nam định
Bảng 4.10 Sơ bộ thu chi cho 1 kg khối lượng gà xuất bán (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w