Khóa Luận cực hay và bổ ích !!!!!!!
Trang 1DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc ở lợn tại các địa phương 30
Bảng 4.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc theo tuổi lợn 33
Bảng 4.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc theo giống lợn 35
Bảng 4.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc theo phương thức chăn nuôi 36
Bảng 4.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc theo tình trạng vệ sinh thú y 39
Bảng 4.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc lợn ở các tháng trong năm 41
Bảng 4.7 Tỷ lệ và triệu chứng lâm sàng của lợn bị bệnh giun tóc ở các địa phương 42
Bảng 4.8 Sự phát triển của trứng giun tóc trong phân ở ngoại cảnh 43
Bảng 4.9 Khả năng sống của trứng giun tóc có sức gây bệnh trong phân lợn ở ngoại cảnh 45
Bảng 4.10 Hiệu lực của thuốc tẩy giun tóc cho lợn 46
Trang 2
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ nhiễm giun tóc lợn ở một số địa phương 32
Biểu đồ 4.2: Cường độ nhiễm giun tóc lợn một số địa phương 32
Biểu đồ 4.3: Tỷ lệ nhiễm giun tóc theo tuổi lợn 35
Biểu đồ 4.4: Tỷ lệ nhiễm giun tóc ở lợn theo phương thức chăn nuôi 38
Biểu đồ 4.5: Cường độ nhiễm giun tóc theo phương thức chăn nuôi công nghiệp 38
Biểu đồ 4.6: Cường độ nhiễm giun tóc theo phương thức chăn nuôi truyền thống 38
Biểu đồ 4.7: Tỷ lệ nhiễm giun tóc ở lợn theo tình trạng vệ sinh thú y 40
Biểu đồ 4.8: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc lợn ở các tháng trong năm 42
Trang 3
DANH MỤC ẢNH
Ảnh 1: Mẫu phân lợn thu thập ở các xã Phủ Lý, huyện Phú Lương, tỉnh
Thái Nguyên
Ảnh 2: Ảnh trứng giun tóc ở lợn mới theo phân ra ngoài
Ảnh 3: Phương pháp Fulleborn tìm trứng giun tóc lợn
Ảnh 4: Lợn nuôi trong tình trạng VSTY kém tại hộ Liêu Ngọc Hiền – xóm
Bản Eng – xã Phủ Lý – huyện phú Lương
Ảnh 5: Lợn bị bệnh giun tóc có biểu hiện triệu chứng lâm sàng tại gia đình
ông Đoàn Văn Thư - xóm Na Dau - xã Phủ Lý - huyện Phú LươngẢnh 6: Thí nghiệm theo dõi sự phát triển và khả năng sống của trứng
giun tóc trong phân lợn ở ngoại cảnh
Ảnh 7: Thuốc tẩy giun tóc cho lợn
Ảnh 8: Tiêm thuốc điều trị bệnh giun tóc cho lợn tại nhà ông Hoàng Văn
Long - xóm Na Dau - xã Phủ Lý - huyện Phú Lương
Trang 5MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1 Những hiểu biết về giun tóc ký sinh ở lợn 3
2.1.2 Bệnh do giun tóc gây ra ở lợn 8
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 21
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 21
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 22
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 24
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 24
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 24
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 24
3.3 Nội dung nghiên cứu 24
3.3.1 Tình hình nhiễm giun tóc ở lợn tại một số xã thuộc huyện Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên 24
3.3.2 Nghiên cứu khả năng sống và phát triển của trứng ở ngoài ngoại cảnh 25
3.3.3 Theo dõi triệu chứng lâm sàng của lợn bị nhiễm giun tóc tại huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên 25
3.3.4 Biện pháp phòng trị bệnh giun tóc cho lợn 25
3.4 Phương pháp nghiên cứu 25
3.4.1 Phương pháp lấy mẫu 25
3.4.2 Phương pháp xét nghiệm mẫu 25
Trang 63.4.3 Phương pháp xác định thời gian phát triển và tồn tại của trứng và ấu
trùng giun tóc trong phân lợn ở ngoại cảnh 27
3.4.4 Phương pháp theo dõi các biểu hiện lâm sàng bệnh giun tóc ở lợn 27
3.4.5 Sử dụng một số loại thuốc điều trị bệnh giun tóc tại huyện Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên 27
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 28
3.5.1 Một số công thức tính tỷ lệ phần trăm 28
3.5.2 Một số tham số thống kê 28
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Tình hình nhiễm giun tóc ở lợn tại một số xã thuộc huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 30
4.1.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc tại một số địa phương 30
4.1.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc theo tuổi lợn 33
4.1.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc theo giống lợn 35
4.1.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc theo phương thức chăn nuôi 36
4.1.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc theo tình trạng vệ sinh thú y 39
4.1.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc lợn ở các tháng trong năm 40
4.2 Triệu chứng lâm sàng của lợn bị bệnh tóc ở các địa phương 42
4.2.1 Tỷ lệ và triệu chứng lâm sàng của lợn bị bệnh giun tóc ở các địa phương 42
4.3 Nghiên cứu sự phát triển và khả năng sống của trứng giun tóc ở môi trường ngoại cảnh 43
4.3.1 Sự phát triển của trứng giun tóc trong phân ở ngoại cảnh 43
4.3.2 Khả năng sống của trứng giun tóc có sức gây bệnh trong phân lợn ở ngoại cảnh 44
4.4 Biện pháp phòng trị bệnh giun tóc cho lợn 46
4.4.1 Hiệu lực của một số thuốc tẩy giun tóc cho lợn 46
4.4.2 Đề xuất biện pháp phòng bệnh giun tóc cho lợn 47
Phần 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 48
5.1 Kết luận 48
5.2 Tồn tại 48
5.3 Đề nghị 49
Trang 7
Phần 1
MỞ ĐẦU1.1 Đặt vấn đề
Đất nước ta đang trong thời kì hội nhập đòi hỏi các chủ thể kinh tế, cácngành, các thành phần kinh tế phải không ngừng phát triển để tạo chỗ đứngcủa mình trên thị trường trong nước cũng như thị trường quốc tế Trong xuthế chung đó đòi hỏi ngành chăn nuôi không ngừng học hỏi, tích lũy kinhnghiệm để tạo sản phẩm có chất lượng cao cung cấp cho người dùng trongnước và quốc tế Đặc biệt, khi Việt Nam gia nhập WTO đã mở ra cho nềnkinh tế Việt Nam nói chung và ngành chăn nuôi Việt Nam nói riêng nhữngmặt thuận lợi đồng thời cũng gặp không ít những khó khăn
Trong ngành chăn nuôi thì chăn nuôi lợn có một vị trí rất quan trọng.Nghề nuôi lợn luôn được chú ý phát triển, ngày càng chiếm ưu thế và có tầmquan trọng đặc biệt trong đời sống nhân dân Con lợn đã cung cấp 70 - 80%nhu cầu về thịt cho thị trường trong nước và xuất khẩu, đồng thời cung cấpnguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến và phân bón cho ngành trồngtrọt Để đáp ứng nhu cầu thị trường, trong những năm gần đây chăn nuôi lợn
đã có những bước phát triển vượt bậc, tăng nhanh cả về số lượng và chấtlượng với nhiều phương thức nuôi khác nhau góp phần tăng thu nhập chongười dân Tuy nhiên, ngoài những điều kiện thuận lợi, còn có nhiều khókhăn trong việc phát triển chăn nuôi lợn, nhất là những tổn thất do dịch bệnhgây ra Vì vậy, ngành chăn nuôi lợn muốn phát triển bền vững được thì côngtác thú y cần được quan tâm đặc biệt hơn nữa Ngoài những bệnh truyềnnhiễm thường gặp như: Dịch tả, tụ huyết trùng, phó thương hàn…còn phải kểđến các bệnh do ký sinh trùng Trong đó có bệnh giun tóc gây ra ở lợn
(Trichocephalus suis) gây ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, đặc biệt là
làm tiêu tốn thức ăn, giảm tăng trọng từ 15 – 20% so với lợn không bị bệnh Huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên là một huyện miền núi, phần lớnnhân dân có thu nhập từ nông nghiệp là chủ yếu Trong đó, chăn nuôi lợnchiếm một vị trí quan trọng Tuy nhiên, công tác phòng chống bệnh giun tóc ở
Trang 8lợn vẫn chưa được chú ý Vì vậy, để góp phần hạn chế tác hại của bệnh giun
tóc gây ra cho đàn lợn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Bệnh giun tóc ở lợn nuôi tại một số xã thuộc huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”
1.2 Mục đích của đề tài
- Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tóc ở lợn tại một số xã của huyện
Phú Lương
- Nghiên cứu sự phát tán trứng và ấu trùng giun tóc ở ngoài ngoại cảnh.
- Xác định những biểu hiện lâm sàng của bệnh
- Xác định một số loại thuốc điều trị bệnh giun tóc ở lợn
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.2 Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học
- Tạo điều kiện cho sinh viên được tiếp xúc, làm quen với thực tế côngtác nghiên cứu khoa học
- Góp phần hoàn chỉnh dữ liệu về đặc điểm dịch tễ của bệnh giun tóc ởlợn
- Là cơ sở khoa học để lựa chọn các biện pháp phòng và trị bệnh giuntóc có hiệu quả
1.3.3 Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở xác định tình hình nhiễm, đặc điểm dịch tễ bệnh giun tóc
đưa ra lời khuyến cáo thiết thực đối với các hộ chăn nuôi lợn để người dân cóbiện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả Từ đó, góp phần đảm bảo sức khỏe đànlợn góp phần tăng năng suất chăn nuôi
Trang 9Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Những hiểu biết về giun tóc ký sinh ở lợn
2.1.1.1 Vị trí của giun tóc trong hệ thống phân loại động vật
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [19], Phan Thế Việt và cs (1977)[31], vị trí của tóc trong hệ thống phân loại động vật như sau:
Lớp Nematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Enoplia Chitwood, 1933
Bộ Trichocephalida Skrjabin et Schulz 1928
Phân bộ Trichocephalata Skrjabin et Schulz 1928
Họ Trichocephalidae Baird, 1953
Phân họ Trichocephaliae Ranson, 1911
Giống Trichocephalus Schrank, 1788
Loài Trichocephalus suis Schrank, 1788
2.1.1.2 Đặc điểm hình thái, kích thước, cấu tạo của giun tóc ký sinh ở lợn
* Đặc điểm hình thái, kích thước và cấu tạo giun tóc ở lợn
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [19] cho biết: Giun đực: Dài 37,52 – 40,63
mm, rộng nhất 0,634 – 0,713 mm Phần trước cơ thể dài 23,48 – 25,75 mm;phần sau dài 14,00 – 15,00 mm; có dạng xoắn lò xo Gai sinh dục dài 1,70 –2,55 mm; rộng 0,07 – 0,10 mm; mút cuối gai nhọn Bao gai phủ đầy gai nhỏ Con cái: Cơ thể dài 37,89 – 50,60 mm; rộng 0.734 – 1,012 mm; phầntrước cơ thể dài 23 – 33 mm Ống sinh dục đơn Âm đạo có thành cơ dày,chứa đầy trứng Kích thước trứng 0,024 – 0.027 x 0,056 – 0,061mm
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [17]: Giun có màu trắng đục; thânchia ra làm hai phần rõ rệt: phần đầu nhỏ, trông giống như sợi tóc; phần saungắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản Giun đực đuôi hơi tù, cuộntròn lại, có một gai giao hợp dài 1,70 – 2 mm, lỗ huyệt thông ra ngoài ở phầncuối của giun Giun cái đuôi thẳng, hậu môn ở vào đoạn cuối thân
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [15] cho biết: Hình thể giun giống một sợitóc màu trắng Cơ thể chia thành hai phần rõ rệt Phần trước nhỏ như sợi tóc,dưới lớp biểu bì là thực quản, thực quản do các tế bào xếp nối tiếp như chuỗi
Trang 10hạt, phần này chiếm 2/3 chiều dài cơ thể cơ thể Phần sau ngắn và to, bêntrong là ruột và cơ quan sinh sản Giun đực dài 20 – 52 mm đuôi hơi tù, phầnđuôi cuộn tròn lại chỉ có một gai giao hợp rất dài 5 -7 mm, gai giao hợp đượcbọc trong một cái màng có nhiều gai nhỏ bao phủ Giun cái dài 39 – 53 mm,đuôi thẳng, âm hộ ở vào đoạn cuối cùng của thực quản
Theo Skrjabin K.I (1979) [34], con đực có chiều dài thân trung bình là40,35 mm; tối thiểu 33,0 mm; tối đa là 48,0 mm Chiều dài của phần trướctrung bình là 25,3 mm (20 - 30 mm); phần sau 15,1 mm (12 - 19 mm) Tỷ lệchiều dài của phần trước với phần sau là 1,68 : 1 Thân con đực phủ lớp cutinđược vạch bởi nhiều rãnh ngang, làm cho lớp cutin có nhiều mấp mô, hìnhrăng nhỏ Thực quản kéo dài dọc theo phần mỏng trước thân và rộng của phầntrước thực quản 0,035 - 0,44 mm; của chỗ chuyển vào ruột 0,074 - 0,092 mm.Thực quản được bao quanh bởi một hàng tế bào đơn nhân chuyển vào ruột ởchỗ ranh giới giữa phần mỏng và dày của thân Chiều theo dạng móc xích.Ruột kết thúc bởi huyệt trên phần đuôi Hệ thống sinh dục của con đực gồmnhững ống dẫn tinh uốn khúc chiếm hầu hết phần sau thân
Đuôi con đực vòng xoắn ốc Gai giao hợp kết thúc bằng một đỉnh nhọn.Chiều dài gai xê dịch từ 1,74 - 2,48 mm Chỗ rộng nhất của gai là gốc gai dài0,084 - 0,110 mm Có bao gai bọc chung quanh và cùng với gai lồi ra khỏi lỗhuyệt Bao gai được phủ bởi rất nhiều gai nhỏ, những gai này xếp theo thứ tựquân cờ Số lượng hàng gai nhỏ gần nơi chuyển của bao vào thân là 24 - 42; ởđầu đối diện với nó số lượng hàng tăng tới 44 - 56 Hình dạng bao gai tròn,căng, dài 0,044 mm Chiều rộng của bao gai ở chỗ lồi ra khỏi huyệt tăng lên
về kích thước: Chiều rộng chỗ gần huyệt là 0,057 - 0,092 mm; trong khi đó ởchỗ cuối gai là 0,079 - 0,159 mm Tất cả con đực có một đầu bao gai gập hình
cổ tay áo hay là hình bao tay, bao này một phần hay toàn bộ bao phủ phần baogai lồi ra khỏi thân Chiều dài của chỗ gập là 0,242 - 0,330 mm; rộng là 0,290
- 0,352 mm
Con cái: Chiều dài thân trung bình 45,55 mm; tối thiểu 38 mm và tối đa
53 mm Chiều dài phần trước mỏng của thân trung bình là 30,55 mm (25 – 35mm); chiều dài phần sau dày là 15 mm (13 - 18 mm) Như vậy tỷ lệ giữa phần
Trang 11trước và phần sau là 2,04:1 Trên ranh giới chỗ chuyển tiếp của phần thântrước và phần thân sau, hơi dịch về phía sau cách đầu cuối của thực quản có
âm hộ Âm hộ này nhô ra ngoài, dạng hình trụ hơi cong về phía sau (0,037 0,061 mm) và hơi rộng ở chỗ cạnh tự do (0,050 - 0,075 mm) Chỗ này đượcphủ rất nhiều gai nhỏ hình lưới (3 - 4 μm) Ngay trước âm hộ, tử cung có hìnhm) Ngay trước âm hộ, tử cung có hìnhống thẳng hay hơi cong, dài 0,92 - 1,28 mm; trong tử cung có trứng xếp thànhmột hàng Đuôi con cái tù
-Hình 1.1 Ảnh giun tóc Trichocephalus suis
a: Trứng giun; b: Giun cái; c: Giun đực
(Nguồn: Phan Địch Lân và cs 2005 [18])
* Đặc điểm hình thái, cấu tạo trứng giun tóc ở lợn
Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [18], trứng giun giống hình hạtchanh, màu vàng nhạt, kích thước 0,052 – 0,061 x 0,027 – 0,03 mm Hai cực
có hai nút trong, vỏ dày có 2 lớp
Trịnh Văn Thịnh (1966) [26]cho biết: Trứng giun tóc có màu vàngthẫm, vỏ dày, có nút ở mỗi cực, kích thước 50 - 56 x 21 - 25 μm) Ngay trước âm hộ, tử cung có hìnhm Tuy nhiên,những trứng tác giả đo được thấy tương đối to hơn (66 x 30 - 37 μm) Ngay trước âm hộ, tử cung có hìnhm) Trứngkhông phân chia khi đẻ
Trang 12Theo Đỗ Dương Thái và cs (1975) [23], màu sắc trứng giun tóc là mộtmàu ổn định, thay đổi ít từ màu vàng nhạt đến màu vàng sẫm Trứng giun tóc
có chu kỳ phát triển chậm, vì vậy hình dạng nhân bên trong ít có những thay đổi
2.1.1.3 Vòng đời của giun tóc
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [15] cho biết, vòng đời phát triểncủa giun tóc diễn ra như sau:
Thời gian hoàn thành vòng đời là 30 – 52 ngày
Sau khi thụ tinh giun cái đẻ trứng trong ruột già của ký chủ Trứng theophân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi qua 15 – 28 ngày trứng phát triển thànhtrứng có sức gây bệnh Trứng này theo thức ăn, nước uống vào đường tiêuhóa của ký chủ, ấu trùng được nở ra, chui sâu vào niêm mạc ruột già, tiếp tụcphát triển thành giun trưởng thành
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [16], điều kiện thuận lợi nhất cho sự
phát triển của trứng giun tóc thành trứng có sức cảm nhiễm ở ngoài môi
trường là nhiệt độ từ 18 – 300C, ẩm độ 80 - 85%
Trịnh Văn Thịnh (1985) [29] cho biết, chu kỳ sinh học của giun tócgồm 2 giai đoạn: Một giai đoạn ở ngoài ngoại cảnh, phát triển từ trứng đến ấutrùng cảm nhiễm; giai đoạn thứ hai ở ký chủ, ấu trùng cảm nhiễm phát triểnthành giun trưởng thành Không có thời kỳ di hành trong cơ thể ký chủ
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1976) [10], Phan Địch Lân và cs (2005)[18], thời gian hoàn thành vòng đời của giun tóc là 30 ngày
Trịnh Văn Thịnh và cs (1985) [29], Đào Trọng Đạt và cs (1996) [4] chorằng, tuổi thọ của giun tóc ở lợn từ 4 – 5 tháng Theo Lương Văn Huấn và cs(1990) [6], giun tóc sống được trong cơ thể lợn 114 ngày
t0, A0, pHphân
Thọc sâu vào niêm mạc ruột
Trang 13Skrjabin K.I (1979) [34] cho rằng, giun tóc ở lợn phát triển vòng đờikhông cần vật chủ trung gian Trứng được bài tiết cùng với phân lợn ra môitrường ngoại cảnh Ở môi trường thuận lợi, thời gian để trứng phát triển thànhdạng cảm nhiễm từ 3 – 4 tuần Trong thời gian này, có thể thấy ấu trùng đãhình thành hoàn toàn và chuyển động bên trong trứng.
Bonner Stewart T và cs (2000) [32] cho biết: Những ấu trùng giun tócnằm sâu trong niêm mạc 2 tuần, nhô ra khỏi niêm mạc ở tuần thứ 3 và pháttriển thành giun trưởng thành trong khi bám vào niêm mạc ruột già
2.1.1.4 Sức đề kháng của trứng giun tóc ở lợn
Theo nguyễn Thị Kim Lan (2012) [15], trứng giun tóc có vỏ dày nên có
sức đề kháng cao với điều kiện ngoại cảnh Sự phát triển của trứng phụ thuộcvào nhiệt độ: Ở 300C cần 17 ngày, ở nhiệt độ thấp hơn thời gian này kéo dàihơn Ở 100C trứng ngừng phát triển nhưng vẫn duy trì khả năng sống Từ
450C trở nên trứng giun tóc bị tiêu diệt
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [17], ở môi trường ngoại cảnh, trứnggiun tóc phát triển thuận lợi nhất ở nhiệt độ từ 18 – 30 0C, ẩm độ 80 - 85%
Đỗ Dương Thái và cs (1975) [23] cho rằng, trứng giun tóc ở lợn và
trứng giun Trichuris trichiura (giun tóc người) bị hủy hoại nếu ẩm độ dưới
30% kéo dài Mặt khác, trứng giun tóc ở lợn có thể bị diệt bởi những tia tửngoại của ánh sáng mặt trời (Chicobanlova và Garo – dilova, 1950) Ở ViệtNam, số giờ nắng rất nhiều nên trong mùa hè trứng giun tóc ở lợn dễ bị hủyhoại ở ngoại cảnh Trong cùng một thời gian dưới tác dụng của tia tử ngoại thìtrứng đã phát triển thành ấu trùng bị diệt nhanh hơn trứng non
Sự phát triển của trứng giun Trichuris trichiura (giun tóc người) phụ
thuộc vào nhiệt độ như sau:
Đặng Văn Ngữ và cs (1965) [22] cho biết: Nhiệt độ phát triển thuận lợi
nhất của trứng giun Trichuris trichiura ở ngoại cảnh là 25 – 300C Thời gian
Trang 1417 - 30 ngày tỷ lệ trứng có ấu trùng gần 90% Nhiệt độ lên quá 500C làm hỏngphần lớn trứng trước khi tới giai đoạn ấu trùng Như vậy, trứng giun tóc ở lợn
và trứng giun tóc ở người có giới hạn nhiệt độ phát triển thuận lợi ở ngoạicảnh tương tự nhau
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [16], các chất sát trùng như dung dịchNaOH – 2%, Cresyl 3%, nước vôi 10% diệt được trứng giun tóc
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996 ) [19], trứng giun tóc ở lợn bị diệtdưới tác dụng của ủ phân nhiệt sinh học Sau 3 – 4 tuần, nhiệt độ hố ủ tăng lêntới 450C sẽ làm hủy trứng giun tóc Tuy nhiên, trứng non có khả năng chịuđựng các điều kiện nhiệt độ cao hơn trứng ở giai đoạn ấu trùng
2.1.2 Bệnh do giun tóc gây ra ở lợn
2.1.2.1 Những thiệt hại kinh tế do bệnh giun tóc lợn gây ra
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [16], giun tóc ký sinh là một trongnhững nguyên nhân làm giảm năng suất chăn nuôi và tạo điều kiện cho cácbệnh khác xâm nhập Lợn bị nhiễm giun tóc giảm tăng trọng từ 15 – 20% sovới lợn khỏe
Rutter J M và Beer R J S (1974) [38], cho biết: Khi gây nhiễm
100.000 trứng giun tóc cho 9 con lợn khỏe thì sau 14 ngày những con lợn này
sinh trưởng đều giảm và sau 20 ngày gây nhiễm thì những con lợn được gâynhiễm không tăng trọng nữa và giảm dần trọng lượng cho đến khi chết
2.1.2.2 Dịch tễ học bệnh giun tóc ở lợn
* Phân bố bệnh giun tóc lợn ở lợn
Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [18], Phạm Sỹ Lăng và cs (2006)
[16], bệnh giun tóc ở lợn phân bố trên toàn thế giới Tại Việt Nam, bệnh cũng
đã được phát hiện ở tất cả các tỉnh miền Bắc, miền Trung và miền Nam
Lương Văn Huấn và cs (1990) [6] cho biết: Lợn ở Quảng Bình, QuảngTrị, Thừa Thiên Huế nhiễm giun tóc 14%, Quảng Nam – Đà Nẵng 8,75%,Quảng Ngãi – Bình Định 27,5%, Phú Yên – Khánh Hòa 8,3%, Lâm Đồng10%, TP.Hồ Chí Minh 39%
* Động vật mắc bệnh
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [31], lợn nhà và lợn rừng đều có khảnăng nhiễm bệnh
Trang 15Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [17] cho biết, bệnh thường xảy ra đối vớilợn dưới 6 tháng tuổi Lợn nái và lợn trưởng thành nhiễm giun nhẹ hơn, ít thểhiện các triệu chứng lâm sàng.
Phan Địch Lân và cs (1974) đã điều tra trên các giống lợn Yorkshire,Berkshire, Landrace nhập nội, lợn lai F1 (ngoại x nội ) và giống lợn nội ởvùng đồng bằng (Hà Nội, Hà Tây) cho biết thành phần các loại giun sán chính
ở lợn ngoại, lợn lai và lợn nội không khác nhau nhiều; các loài giun sán phổ
biến ở lợn ngoại và lợn lai là: T.suis, A.suum, O ransomi (dẫn theo Trịnh
Văn Thịnh và cs 1978 [27].)
Bùi Quý Huy (2006) [8] cho biết, giun tóc ở lợn và giun tóc ở người cónhiều điểm giống nhau về hình thái, hóa học và kháng nguyên, do đó bệnhgiun tóc ở lợn dễ lây sang người Theo Nguyễn Phước Tương (2002) [30],người nhiễm bệnh khi nuốt phải trứng giun tóc lợn lẫn trong nước hay thức ănthực vật chưa được nấu chín Sau khi vào ruột người, ấu trùng phát triển thànhgiun tóc trưởng thành, khu trú ở ruột thừa và gây bệnh cho người Giun đẻtrứng, trứng này được bài xuất ra ngoài qua phân người, sau khi phát triển vàchứa ấu trùng thì có khả năng gây nhiễm lại lợn (tuy nhiên tỷ lệ trứng pháttriển chỉ có 11%, trong khi trứng giun tóc ở lợn có tỷ lệ phát triển là 86%)
* Tuổi mắc bệnh
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [27], năm 1959 – 1960 khi xét
nghiệm phân trên 2200 lợn cho thấy: lợn từ 2 đến 6 tháng tuổi nhiễm giun tócvới tỷ lệ 4,3 – 30%, trên 6 tháng tuổi 0,57 – 7,8%, dưới 2 tháng tuổi lợnkhông bị nhiễm
Bùi Lập (1967) mổ khám 140 lợn và xét nghiệm phân của 1032 lợn ởcác vùng khác nhau, nhận xét: Số lợn con chưa cai sữa (dưới 2 tháng tuổi ) đã
nhiễm nhiều loài giun sán như Fasciolopsis buski, Ascaris suum, Trichocephalus suis, Oesophagostomum dentatum, Stephanurus dentatum Trong đó tỷ lệ nhiễm giun Trichocephalus suis là 53,3% Lợn nhiễm giun tóc
cao nhất ở giai đoạn 2 - 6 tháng tuổi 51,7 – 75 % (dẫn theo Trịnh Văn Thịnh
và cs 1978 [27])
Phạm Văn Khuê (1982) [10] nghiên cứu biến động nhiễm giun sán theotuổi lợn tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, qua kiểm tra 289 lợn ở 4 lứa
Trang 16tuổi (dưới 2 tháng, 3 – 4 tháng, 5 – 7 tháng và trên 8 tháng), kết quả cho thấy:Lợn con dưới 2 tháng tuổi đã nhiễm tới 12 loài trong số 13 loài giun sán,trong đó tỷ lệ nhiễm giun tóc là 30,7% và nhiễm với tỷ lệ cao ở lứa tuổi từ 2 –
5 tháng tuổi sau đó giảm dần
Lương Văn Huấn và cs (1990) [6], cho biết, tỷ lệ nhiễm giun tóc theotuổi lợn như sau:
Dưới 3 tháng tuổi nhiễm 20,4%
Từ 3 – 4 tháng tuổi nhiễm 21,2%
Từ 5 – 6 tháng tuổi nhiễm 8,5%
Trên 6 tháng tuổi nhiễm 6,4%
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996 ) [4], lợn ở giai đoạn 2 – 6 tháng tuổinhạy cảm nhất với giun tóc Kết quả tại hợp tác xã Tiền Phong (Hà Nội) nuôilợn Ỉ lai Yorkshire, Berkshire tỷ lệ nhiễm giun tóc ở lợn dưới 2 tháng tuổi là16%, trong khi lợn 5 tháng tuổi nhiễm 13,5% và lợn 7 tháng tuổi nhiễm 6,2
% Tại hợp tác xã Đông Mỹ (Hà Nội ) tỷ lệ lợn dưới 2 tháng tuổi nhiễm giuntóc là 20,8 % Ngày tuổi bình quân phát hiện trứng giun tóc trong phân lợnnội là 74 ngày (từ 58 – 89 ngày), lợn lai Landrace 56 ngày (43 – 64 ngày), lợnlai Berkshire 61 ngày (56 – 75 ngày) và lợn ngoại 62 ngày (38 – 81 ngày) Nguyễn Đăng Khải (1996) [9] cho biết, tỷ lệ nhiễm giun tóc ở lợn cao nhất
ở giai đoạn 2 – 6 tháng tuổi, sau đó giảm, ít gây tác hại đối với lợn lớn
* Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc lợn
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [27], kết quả điều tra ở 37 nôngtrường quốc doanh (1965 – 1968) trên 372 lợn mổ khám thấy tỷ lệ nhiễm giuntóc cao nhất 100% (từ 155 đến vô số giun trên một con lợn)
Bộ môn ký sinh trùng thuộc Viện Khoa học nông nghiệp (1966) mổkhám 48 lợn ở Hà Nội và vùng phụ cận, thấy tỷ lệ nhiễm giun tóc là 31,2%(dẫn theo Trịnh Văn Thịnh và cs 1978 [27])
Tại Hải Phòng, Ngô Quang Tuyến, Trần Lâm Quang (1972) mổ khám
40 lợn và xét nghiệm phân của 2000 con lợn, thấy tỷ lệ nhiễm giun tóc ở lợn
là 27,5% (dẫn theo Trịnh Văn Thịnh và cs 1978 [27] )
Theo Nguyễn Đăng Khải (1996) [9], tỷ lệ nhiễm giun tóc lợn ở 7 vùngkinh tế như sau:
Trang 171 Trung du và miền núi bắc Bộ
* Đường lây nhiễm
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [17], bệnh lây nhiễm qua đường tiêuhóa do lợn nuốt phải trứng có sức cảm nhiễm lẫn trong thức ăn nước uống
+ Lây nhiễm trực tiếp: Lợn bệnh bài xuất trứng giun tóc qua phân,
những trứng này phát tán trên nền chuồng, máng ăn, máng uống Vì vậy lợnkhoẻ dễ dàng bị nhiễm trứng giun tóc Lây nhiễm trực tiếp chủ yếu là giữa lợnbệnh và lợn khoẻ trong cùng một ô chuồng Lợn con nhiễm bệnh chủ yếu khi
bú sữa mẹ, nuốt phải trứng bám ở đầu vú lợn mẹ
+ Lây nhiễm gián tiếp: Dụng cụ chăn nuôi, người chăm sóc cũng là tác
nhân mang mầm bệnh Đây là những yếu tố trung gian góp phần lây nhiễm giuntóc từ lợn bệnh sang lợn khỏe, từ ô chuồng này sang ô chuồng khác
Ngoài ra ruồi, chuột cũng có thể phân tán trứng giun tóc, gió cuốntrứng giun theo bụi, mang trứng giun từ chuồng này sang chuồng khác gâyphát tán mầm bệnh
* Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm giun tóc ở lợn
Trang 18Nguyễn Đăng Khải, Nguyễn Đăng Nhượng (1975) mổ khám 89 con lợn
ở vùng đồng bằng và miền núi thuộc các tỉnh Quảng Ninh, Quảng Ngãi, BìnhĐịnh cho biết: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc lợn có sự khác nhau giữa cácvùng, trong đó sự khác nhau này có liên quan đến khí hậu giữa các vùng.Vùng đồng bằng, do mùa khô hạn kéo dài, nhiều ánh sáng (tổng số giờ nắng
2000 – 2300 giờ/ năm) nhiệt độ những tháng nóng có thể lên tới 38 – 400Cnên tỷ lệ nhiễm các loài giun sán nói chung đều thấp, đặc biệt là các loài giun
sán nhiễm trực tiếp như T suis (dẫn theo Trịnh Văn Thịnh và cs 1978 [27]) + Phương thức chăn nuôi
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [17] cho rằng các cơ sở chăn nuôi mà điềukiện vệ sinh kém, lợn bị nhiễm bệnh với tỷ lệ cao, gây thiệt hại đáng kể chođàn lợn con
Phạm Văn Khuê (1967) đã mổ khám 141 lợn và xét nghiệm 619 mẫuphân ở tỉnh Hà Bắc, thấy 13 loài giun sán Trong đó, những loài phổ biến là:
Fasciolopsis buski, Ascaris suum, Trichocephalus suis, Taenia hydatigena Những loài giun tròn phát triển trực tiếp như Trichocephalus suis thì tỷ lệ
nhiễm đến 100% ( dẫn theo Trịnh Văn Thịnh và cs 1978 [27])
Phan Văn Lan (1970) mổ khám 57 lợn và xét nghiệm 1000 mẫu phântại xã Yên Nguyên (Tuyên Quang) cho thấy tỷ lệ nhiễm giun tóc ở lợn nuôi nhốt
là 30%; lợn nuôi thả rông là 47% (dẫn theo Trịnh Văn Thịnh và cs 1978 [27]) Bornay F.J và cs (2003) [40] cho biết: Kiểm tra 5 trại lợn chăn nuôitheo phương thức công nghiệp tại tỉnh Alicante (Tây Ban Nha) thấy tỷ lệnhiễm giun tóc là 11%
Andrzej Polozowski và cs (2005) [39] đã nghiên cứu ảnh hưởng củaphương thức chăn nuôi đến tỷ lệ và cường độ nhiễm ký sinh trùng lợn Kiểmtra 100 lợn từ 11 trang trại nhỏ ở vùng Wielkopolskie, tùy điều kiện chăn nuôi
số trang trại trên được chia thành 2 nhóm: Nhóm A (4), nhóm B (7) Ở nhómA: Phân và chất thải được xử lý hằng ngày, máng ăn được cọ rửa sạch sẽ,lượng ánh sáng và chế độ thông gió được đảm bảo Ngoài ra, chuồng trạiđược vệ sinh, khử trùng tiêu độc thường xuyên Nhóm B: Phân lợn và cácchất thải được xử lý sau 3 ngày hoặc lâu hơn Máng ăn ít được cọ rửa, chuồngtrại ẩm thấp và tối, vấn đề khử trùng chuồng nuôi không được chú ý
Trang 19Kết quả cho thấy, lợn nhóm A chỉ nhiễm Oesophagostomum spp và Ascaris suum, trong khi đó lợn nhóm B ngoài 2 loài trên còn xuất hiện Trichocephalus suis, Strongyloides ransomi và coccidia Với tỷ lệ nhiễm giun Trichocephalus suis là 5,2% Tác giả nhận xét: Phương thức chăn nuôi ảnh hưởng đến sự xuất hiện loài cũng như tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng lợn
+ Yếu tố Stress
Các yếu tố stress (chuồng trại chật chội, thức ăn kém dinh dưỡng, nhiệt
độ và ẩm độ môi trường thay đổi đột ngột ) đóng vai trò thúc đẩy mức độ vàtốc độ lây lan bệnh giun tóc ở lợn
2.1.2.3 Cơ chế sinh bệnh
* Đường bài xuất mầm bệnh
Lợn mắc bệnh sau một thời gian thì bài xuất trứng theo phân ra ngoạicảnh Vì vậy, trứng được phát tán rộng rãi ở ngoài tự nhiên và quá trình pháttriển bắt đầu để tạo thành các trứng có sức gây bệnh (trứng có chứa ấu trùngbên trong)
* Đường xâm nhập vào cơ thể
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [13] cho biết: Bệnh lây nhiễm trựctiếp không qua vật chủ trung gian Trứng có sức gây bệnh xâm nhập vào cơthể vật chủ qua đường tiêu hóa do lợn ăn phải thức ăn, nước uống có chứatrứng giun
- Tác hại cơ giới: Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [13], Phạm
Sỹ Lăng và cs (2006) [16], phần đầu của giun nhỏ dài cắm sâu vào thành ruộtgây tổn thương, làm niêm mạc ruột già bị viêm và xuất huyết, gây rối loạntiêu hóa, làm cho lợn có hội chứng hồng lỵ
- Tác hại mang trùng: Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [4], NguyễnThị Kim Lan (2012) [15], giun tóc ký sinh gây tổn thương, tạo điều kiện cho cácnhân tố khác xâm nhập Nhân tố gây bệnh kế phát là xoắn khuẩn và phẩy khuẩn
Trang 20- Tác hại tiết độc tố: Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [15], trong quátrình sống, giun tóc tiết độc tố và thải cặn bã làm con vật trúng độc
2.1.1.4 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích của lợn bị bệnh giun tóc
* Triệu chứng lâm sàng
Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [18], Nguyễn Thị Kim Lan (2012)[15], khi lợn nhiễm nhẹ thì triệu chứng không rõ ràng Khi nặng thì con vậtgầy yếu, thiếu máu, trong phân có lẫn máu và niêm mạc ruột, có khi con vật
bị kiết lỵ Nếu nhiễm bệnh nhân tạo với lượng trứng lớn (20.000 – 200.000trứng), thì triệu chứng biểu hiện rất nặng: Ỉa chảy, hô hấp khó, lợn có thể chết.Lợn bị nhiễm bệnh mãn tính còi cọc, thiếu máu, tăng trọng giảm
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [17] cho biết: Lợn ở lứa tuổi 2 – 4 thángtuổi nhiễm bệnh xuất hiện các dấu hiệu như ỉa chảy, lúc đầu phân lỏng, sauphân sệt có nhiều chất nhày, lẫn máu Mỗi lần thải phân, lợn bệnh phải conglưng rặn nhưng lượng phân thải ra ít Nếu không được điều trị, lợn bệnh sẽkiệt sức và chết sau 6 – 10 ngày Mặt khác, phần đầu của giun cắm sâu vàothành ruột để hút chất dinh dưỡng, gây tổn thương, tạo điều kiện cho viêmruột già nhiễm khuẩn Các tổn thương cũng có thể gây xuất huyết ruột già,làm cho lợn có hội chứng hồng lỵ Lợn bị bệnh mãn tính còi cọc, thiếu máu,tăng trọng giảm
Theo Trần Thị Dân (2008) [3], ruột già khác ruột non ở chỗ: Không cónhung mao nhưng có vi nhung mao Về tổng quát, ruột non là nơi tiết nướccòn ruột già là nơi hấp thu nước Ruột già nguyên vẹn có thể hấp thu bù trừ nướckhi ruột non tiết nhiều Tuy nhiên, những tổn thương ở ruột già do tác động củagiun tóc ký sinh sẽ làm giảm khả năng tái hấp thu nước, dẫn đến tiêu chảy
Theo Skrjabin K.I (1979) [34], triệu chứng bệnh giun tóc ở lợn phụthuộc vào cường độ cảm nhiễm Khi nhiễm nặng, lợn có biểu hiện da khô, xùlông, ỉa chảy rồi bị táo bón Độc tố do giun tóc ở lợn tiết ra có tác động gâybệnh mạnh, làm cho vi nhung mao và các tế bào biểu mô mất đi tính chất cấutạo và bị phân hủy
Theo Rutter J M và Beer R J S (1974) [38], khi gây nhiễm trứnggiun tóc cho lợn khỏe thì sau 10 ngày lợn bắt đầu ỉa phân lỏng Sau 26 ngàythì những con lợn này bị tiêu chảy nặng và trong phân có lẫn máu tươi vànhiều chất nhầy
Trang 21* Bệnh tích:
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [15] cho biết: Xác lợn chết gầy, có nhiềugiun ở ruột già (nhất là ở manh tràng) Một số giun vẫn cắm sâu vào niêmmạc ruột, phải kéo mạnh mới lấy ra được Trên niêm mạc ruột có nốt loét tobằng hạt đậu xanh Khi bị nhiễm nặng, toàn bộ ruột già có giun tóc ký sinhdày đặc, niêm mạc ruột sần sùi, xuất huyết, lớp chất nhầy trên niêm mạc cómàu hồng sẫm Niêm mạc ruột có thể bị bong tróc từng mảng
Đào Trọng Đạt và cs (1996) [4] cho biết: Về mặt tổ chức học, giun tóc
ở lợn ký sinh gây viêm niêm mạc, thâm nhiễm tế bào, hình thành nhiều vếtloét và tạo ra nhiều niêm dịch
Theo Rutter J M và Beer R J S (1974) [38], khi mổ khám những concon lợn bị bệnh giun tóc thấy: Viêm ruột tăng lên trong hầu hết các trườnghợp, thành ruột già dày lên và phù thũng, trong ruột chứa chất nhày, máu vàcác tế bào hoại tử bong ra từ lớp niêm mạc
2.1.2.5 Chẩn đoán
Việc chẩn đoán bệnh giun tóc ở lợn có thể dựa vào đặc điểm dịch tễ,triệu chứng lâm sàng của bệnh, xét nghiệm phân lợn và kiểm tra bệnh tích
* Với lợn còn sống:
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12], để chẩn đoán bệnh có thể
áp dụng hai phương pháp là chẩn đoán lâm sàng kết hợp với đặc điểm dịch tễ
và chẩn đoán trong phòng thí nghiệm
Phương pháp chẩn đoán lâm sàng kết hợp với đặc điểm dịch tễ: Nhữngbiểu hiện lâm sàng cần chú ý là lợn ăn kém, gầy yếu, da khô, lông xù, ỉachảy Về đặc điểm dịch tễ học, cần căn cứ vào lứa tuổi mắc bệnh, mùa vụ,tình trạng vệ sinh thú y Tuy nhiên, nếu căn cứ vào các đặc điểm nói trên đểchẩn đoán thì sẽ không chính xác Bởi vì các bệnh ký sinh trùng thường cónhững triệu chứng lâm sàng tương tự nhau (rối loạn tiêu hóa, thể trạng gầy, dakhô, lông xù ) Vì vậy, để chẩn đoán chính xác bệnh phải tiến hành xétnghiệm phân tìm trứng giun tóc
Phương Pháp chẩn đoán trong phòng thí nghiệm: Theo Phan Lục(2006) [21], có 4 phương pháp xét nghiệm phân:
Trang 22- Phương pháp trực tiếp
Dùng đũa thủy tinh lấy 1 mẫu phân của con vật định xét nghiệm, đểmẫu phân lên phiến kính sạch: Nhỏ 1 – 2 giọt glycerin, gạt cặn bã ra 2 đầuphiến kính Dung dịch phân được giàn mỏng trên phiến kính và kiểm tra dướikính hiển vi tìm trứng giun tóc
- Phương Pháp Fullerborn
Nguyên lý của phương pháp này dựa trên sự chênh lệch về tỷ trọng củadung dịch muối NaCl bão hòa (D = 1,18 – 1,20) lớn hơn tỷ trọng của trứnggiun tóc, do trứng sẽ nổi lên trên, ta có thể tìm thấy trứng giun tóc dưới kínhhiển vi (độ phóng đại x 100 hoặc x 400)
Dung dịch muối bão hòa được pha bằng cách: Lấy 1 lít nước sôi, cho
380 g muối NaCl vào (hoặc đun sôi nước, cho từ từ muối vào), khuấy đều đếnkhi muối không tan được nữa, khi để nguội trên mặt có lớp muối kết tinh làđược Lọc qua vải màn hoặc bông, bỏ cặn
Cách xét nghiệm như sau: dùng đũa thủy tinh lấy một mẫu phân khoảng
5 – 10 gam của con vật cần xét nghiệm, chẩn đoán Để phân vào cốc thủytinh, cho tiếp nước muối bão hào vào cốc với lượng thể tích gấp 10 lần khốilượng phân Dùng đũa thủy tinh khuấy nát phân và lọc qua lưới lọc Phần cặn
bã bỏ đi, dung dịch lọc được đổ vào ống penicillin sao cho đầy đến miệng,đậy phiến kính sạch lên cho tiếp xúc với mặt nước, để khoảng 15 phút rồi lấyphiến kính ra soi trên kính hiển vi tìm trứng giun tóc
- Phương pháp Darling
Nguyên lý chung của phương pháp này là dựa trên sự chênh lệch về tỷtrọng giữa dung dịch NaCl bão hòa và trứng giun tóc nhẹ hơn ra khỏi phân.Khi đó dùng vòng sắt vớt lớp váng phía trên, ta sẽ tìm được trứng giun tóc Cách xét nghiệm: Lấy mẫu phân khoảng 5 – 10 gam của con vật cầnchẩn đoán, cho vào cốc thủy tinh Cho vào cốc đó lượng nước sạch bằng 10lần thể tích khối lượng phân, dùng đũa thủy tinh khuấy tan phân và lọc qualưới lọc Phần cặn bã bỏ đi, dung dịch lọc được cho vào các ống ly tâm và lytâm với tốc độ 3000 vòng/ phút trong thời gian 3 – 5 phút Sau đó, đổ bỏ lớpnước phía trên và giữ lại cặn trong các ống ly tâm Tiếp theo cho nước muốibão hòa vào các ống ly tâm, đậy nắp miệng ống và lắc đều cho cặn hòa đều
Trang 23trong dung dịch, tiến hành ly tâm lần 2 với tốc độ và thời gian như trên Dùngvòng sắt vớt lớp váng nổi trên bề mặt, đặt lên phiến kính sạch và soi dướikính hiển vi tìm trứng giun tóc.
- Phương pháp Cherbovich: Phương pháp này hoàn toàn giống
phương pháp Darling, chỉ khác dung dịch bão hòa sử dụng ở đây là MgSO4
Để xác định cường độ nhiễm, có thể dùng phương pháp đếm số trứnggiun tóc trong buồng đếm Mc Master nhằm xác định số trứng / g phân
Phương pháp đếm trứng trên buồng đếm Mc Master gồm các bước sau:
- Bước 1: Cân 4 g phân vào cốc thủy tinh, thêm nước lã sạch (khoảng
100 – 150 ml), khuấy tan phân, lọc bỏ cặn bã thô Nước lọc để lắng trong 1 –
2 giờ, gạt bỏ nước, giữ lại cặn
- Bước 2: Cho 56 ml dung dịch nước muối bão hòa vào, khuấy đều chotan cặn Trong khhi đang khuấy, lấy công tơ hút hút 1 ml dung dịch phân nhỏđầy hai buồng đếm Mc Master Để yên 5 phút rồi kiểm tra dưới kính hiển vi(độ phóng đại 10 x 10)
Đếm toàn bộ số trứng trong những ô của hai buồng đếm, rồi tính theocông thức sau:
Số trứng/ 1 gam phân = Tổng số trứng ở hai buồng đếm x 60
2.1.2.6 Điều trị và phòng bệnh giun tóc ở lợn
* Điều trị
Theo Phạm Khắc Hiếu (2009) [5], hiện nay trên thị trường có nhiềuthuốc trị bệnh giun tóc và được chia thành các nhóm:
Trang 24* Albendazol (chế phẩm là Vermitan): Là các dẫn xuất Sunfit Trong
cơ thể chuyển thành dạng Sulfocid, sau đó Oxy hóa thành Sulfol.
+ Tác dụng tốt, chống được nhiều loài giun tròn ở lợn (T suis, A suum…) và các loài giun ở trâu, bò, ngựa.
+ Ứng dụng: Dùng để tẩy giun tóc ở lợn với liều lượng 10 mg/ kg TT
* Mebendazol (chế phẩm là Telmin, Mebenvet)
+ Tác dụng tốt với giun tròn và sán dây Thốc không gây quái thai chosúc vật
+ Ứng dụng: Dùng để tẩy giun tóc ở lợn với liều lượng: 20 mg/ kg TThoặc 30 mg/ kg thức ăn x 5 – 10 ngày
Một số thuốc dùng trong thú y: Febantel(Rital), Netobinmin (Hapadex).
b/ Các Imidazothiazol
Các thuốc nhóm này tan trong nước, phổ chống giun tròn rộng
* Tetramisol, Levamisol (Chế phẩm là Biverm, Ripercol)
Tetramisol có hai đồng phân:
S ( - ) tetramisol ( tức là L – tetramisol = Levamisol)
S ( + ) tetramisol ( tức là D – tetramisol = Dexamisol).
Theo Phạm Khắc Hiếu (2009) [5], chế phẩm chống ký sinh trùng có thể
là hỗn hợp hai đồng phân trên Tuy nhiên hoạt tính chống ký sinh trùng chỉ ở
Trang 25Trong nhóm Milbemycin có Moxydectin được dùng nhiều trong thú y.
Các thuốc của 2 nhóm trên đều tan tốt trong Lipoid
Dùng Ivermectin để tẩy giun tóc cho lợn đạt hiệu quả cao và an toàn.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [17], có thể dùng một trong các hóa
dược sau để tẩy giun tóc cho lợn:
Mebenvet : Dùng liều 50 mg/kg TT, trộn thức ăn cho lợn ăn một lần Fenbendazol : Liều 30 mg/kg TT, trộn thức ăn cho lợn ăn từ 6 - 15 ngày Levamisol : Liều 7,5 mg/kg TT, trộn thức ăn hoặc tiêm cho lợn.
Febentel : Liều 20 mg/kg TT thuốc dùng dạng uống.
Ivermectin : Liều 0,2 - 0,3 mg/kg TT, thuốc dùng tiêm cho lợn 2 lần,
Trong thời gian điều trị cần chăm sóc, nuôi dưỡng tốt
Nguyễn Văn Thanh và cs (2004) [24] cho biết: Có thể dùng Tayzu để tẩy giun tóc cho lợn với liều 4g/30 - 40 kg TT, trộn vào thức ăn hoặc dùng Levamisol 7,5% tiêm dưới da với liều 1 ml/10 kg TT.
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [19] đã khuyến cáo, để tẩy giun tóc có
hiệu quả cần thực hiện tốt một số yêu cầu sau:
+ Trước tiên phải chẩn đoán bệnh chính xác Sau đó tẩy cho những lợn
bị nhiễm nặng và có biểu hiện lâm sàng Với mục đích phòng bệnh thì nên tẩy cho
cả đàn vì có những con đang mang mầm bệnh nhưng chưa phát hiện được
+ Xác định thời điểm tẩy thích hợp Tốt nhất là tẩy vào mùa xuân(tháng 3 - 4) và mùa thu (tháng 8 - 9) Lượng phân lợn thải ra phải đem ủnhiệt sinh học để diệt mầm bệnh, sau 15 - 20 ngày kiểm tra để đánh giá hiệuquả của thuốc
Trang 26* Phòng bệnh:
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [15] cho biết: Các phương pháp tấn công
ký sinh trùng ở từng giai đoạn như sau:
+ Chống giai đoạn thứ nhất: Ký sinh trùng trưởng thành đẻ trứng ở kýchủ cuối cùng Có thể diệt ký sinh trùng bằng 2 phương pháp:
- Dùng thuốc đặc hiệu diệt ký sinh trùng: Việc tẩy ký sinh trùng này cótính chất dự phòng, tức là thực hiện trước khi súc vật có triệu chứng bệnh vàtrước khi súc vật gieo rắc mần bệnh ra bên ngoài môi trường
+ Chống giai đoạn thứ hai (giai đọan ký sinh trùng là trứng): Có thểdùng hai phương pháp Tiêu diệt hầu hết trứng bằng cách thu nhặt hết phâncủa súc vật ốm trong chuồng và đem chôn (phải làm nhiều lần để trứng không
có thời gian phát triển thành phôi thai) hoặc ủ phân theo phương pháp nhiệtsinh học
+ Chống giai đoạn thứ ba (ký sinh trùng là trứng và ấu trùng gây bệnh
ở ngoại cảnh), có hai cách:
- Diệt toàn bộ trứng và ấu trùng gây bệnh ngoài ngoại cảnh
Ủ phân để diệt trứng giun: Ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học làcách tốt nhất để tiêu diệt trứng giun tóc Nhiệt độ môi trường xung quanh cóảnh hưởng trực tiếp đến nhiệt độ trong hố ủ Trong cùng một hố ủ, về mùa hè
có thể duy trì ở nhiệt độ 500C Nhưng vào mùa đông, nhiệt độ chỉ là 370C.Tuy nhiên, nếu ủ phân kín với lá xanh, rắc vôi, lân thì nhiệt độ trong hố ủ cóthể lên tới 500C, khi đó trứng giun tóc sẽ bị diệt bởi nhiệt độ cao.
- Không cho trứng hay ấu trùng có sức gây bệnh xâm nhập vào cơ thể
ký chủ (cách ly súc vật ốm, tiêu độc dụng cụ và chuồng nuôi, vệ sinh thức ănnước uống…)
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [16], ở các cơ sở bị ô nhiễm, có thể
sử dụng một trong những hóa độc dược đặc hiệu tẩy dự phòng cho lợn náitrước khi sinh và cho lợn từ 2 – 4 tháng tuổỉ Thực hiện vệ sinh chuồng trại vàkhu vực xung quanh chuồng nuôi để hạn chế sự phát tán trứng giun; đồng thời
sử dụng hoá chất phun vào chuồng trại theo định kỳ như: Dung dịch NaOH 2%, Cresyl 3%, nước vôi 10% để diệt trứng giun
Trang 27Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [19] cho rằng: Biện pháp hữu hiệu để
phòng chống bệnh giun tóc là biện pháp phòng trừ tổng hợp Vì vậy, mỗi hộ
gia đình, mỗi trang trại nuôi lợn cần thực hiện các biện pháp phòng trừ tổnghợp sau:
- Định kỳ tẩy giun tóc cho lợn
- Nuôi dưỡng chăm sóc tốt
- Xử lý phân để diệt mần bệnh giun tóc
- Điều trị trên quy mô lớn
- Đảm bảo vệ sinh môi trường và chuồng trại hạn chế lây nhiễm mầm bệnh
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Phạm Văn Khuê (1982) [11] cho biết, tỷ lệ nhiễm tóc ở lợn của một số
tỉnh phía Bắc: Nghĩa Lộ nhiễm 40,3%; Quảng Ninh 33,7%; Bắc Giang, BắcNinh 27,3%; Thanh Hoá 12,5%; Hưng Yên 15,1%; Nam Định, Hà Nam33,3%; Hà Tĩnh 19,4%; cường độ nhiễm cao, có trường hợp thấy 1219 giun
tóc ở ruột già của một lợn.
Ở một số tỉnh phía Nam, Lương Văn Huấn (1990) [6] cho biết: Quảng
Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế lợn nhiễm tóc với tỷ lệ 14%; Quảng Nam
-Đà Nẵng 8,75%; Quảng Ngãi, Bình Định 27,5%; PhúYên, Khánh Hoà 8,3%;Lâm Đồng 10%; Đồng Nai 26,3%; Bình Dương, Bình Phước 10%; Tây Ninh8,6%; thành phố Hồ Chí Minh 39,0%; Long An 11%, Tiền Giang 2%; CầnThơ, Sóc Trăng 8,69 - 30%
Lương Văn Huấn (1995) [7] mổ khám 493 lợn thuộc 9 huyện của 4 tỉnhthành miền Đông Nam bộ (Đồng Nai, Tây Ninh, Sông Bé, thành phố Hồ Chí
Minh) cho biết, tỷ lệ nhiễm giun tóc là 13%.
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [16] cho rằng, giun tóc phát triển vòngđời không cần vật chủ trung gian Thời gian hoàn thành vòng đời là 30 ngày
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [14] khi nghiên cứu Trichocephalus suis và các loại ký sinh trùng đường tiêu hóa lợn tại Thái Nguyên thấy: Đàn lợn nuôi ở Thái Nguyên nhiễm Trichocephalus suis, Oesophagostomum sp Fasciolopsis buski Trong đó, lợn bình thường nhiễm Trichocephalus suis 23,01%; Oesophagostomum 20,86%; Fasciolopsis buski 18,71%; tỷ lệ nhiễm
Trang 28tương ứng ở lợn tiêu chảy là 27,01%; 23,85% và 16,95%, mức độ nhiễm
Trichocephalus suis ở lợn tiêu chảy lớn hơn lợn bình thường.
Phạm Đức Chương và cs (2003) [2] cho biết: Cơ chế tác dụng của
Ivermectin là ức chế nhu động, làm tăng giải phóng γ acid aminobutyric
(GABA) từ synap thần kinh Chức năng bình thường của GABA là ức chế sựdẫn truyền thần kinh Tăng giải phóng GABA làm tăng điện thế nghỉ bìnhthường của các tế bào sau synap làm cho sự dẫn truyền các kích thích đến cơkhó khăn hơn Như vậy các tế bào cơ không co bóp dưới tác dụng của
Ivermectin sẽ làm giun T suis bị liệt và bị đẩy ra ngoài.
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Theo Hale O M và Stewart T B (1979) [36], T suis thuộc lớp giun
tròn được tìm thấy ở khắp nơi trên thế giới Kết quả nghiên cứu của Powers(1959) cho biết có từ 30,9% đến 85% lợn ở các lứa tuổi khác nhau ở vùng
Wisconsin bị nhiễm T suis.
Batte và Moncol (1972) chỉ ra rằng, lợn thịt ở một số vùng thuộc miền
nam nước Mỹ cũng thường xuyên bị nhiễm giun T suis Bệnh giun T suis
trong tự nhiên hay trong thực nghiệm đều có những biểu hiện như ỉa chảykèm theo sụt cân, sinh trưởng chậm, mất nước, gầy còm Khi nhiễm nặng
giun T suis có thể làm cơ thể lợn thiếu máu.
Leland S Shapiro (2005) [37] cho rằng, T suis ký sinh ở lợn làm niêm
mạc ruột bị tổn thương, gây xuất huyết, lợn bệnh thường có biểu hiện rối loạn
tiêu hóa Ngoài ra, trứng giun T suis có thể tồn tại trong đất Khi lợn ăn phải
trứng này, ở trong ruột trứng nở ra và ấu trùng phát triển thành giun trưởngthành sau 4 đến 5 tuần Vì vậy, lợn cần phải được tẩy giun định kỳ
Theo Bowman D.D (1999) [35], biện pháp tẩy giun trước khi chúngtrưởng thành có tác dụng phòng bệnh rất tốt Hầu hết các tác giả đều thống
nhất: Phenothiazin là một trong những thuốc ức chế giun trưởng thành đẻ
trứng và có tác dụng tẩy cả giun non nên được khuyến cáo dùng mang tínhchất phòng bệnh
Mejer H và Roepstorff A (2001) [43] cho biết: Ngoài Ascaris suum thì Oesophagostomum và Trichocephalus suis cũng rất phổ biến ở lợn tại Đan Mạch Oesophagostomum và Trichocephalus suis ký sinh ở ruột già (manh tràng)
Trang 29nhưng những tác động bệnh lý do chúng gây ra là rất đáng kể T suis nhiễm ở
mức nặng ảnh hưởng đến tăng trọng và có thể gây chết nhiều lợn con
Helene Kringel và cs (2006) [41] đã làm thí nghiệm:
Lô thí nghiệm: Gây nhiễm 40 lợn với 5000 trứng giun T suis/lợn.
Lô đối chứng: 40 lợn Số lợn của 2 nhóm được nuôi trong những điềukiện tương tự nhau và theo dõi từ tuần 1 - 11 Kết quả mổ khám lợn thí
nghiệm đã thu được những giun T suis ký sinh.
Kết quả nghiên cứu mô học cho thấy sự xuất hiện của T suis gắn liền
với những biến đổi bệnh lý đường ruột lợn Tại niêm mạc manh tràng củanhững lợn bị nhiễm, số lượng bạch cầu ái toan tăng lên ở tuần thứ 5 Số lượngđại thực bào tăng đáng kể từ tuần thứ 5 - 11 sau gây nhiễm
Jarvis Toivo, Magi Erika (2007) [42] nghiên cứu về nội ký sinh trùnglợn tại một trang trại nuôi lợn rừng ở Estonia, thấy tỷ lệ nhiễm các loài như
sau: Oesophagostomum spp 64%, Trichocephalus suis 21%, Metastrongylus
sp 7% và Eimeria spp 100%.
Trang 30
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Lợn các lứa tuổi ở huyện Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên
- Giun tóc và trứng giun có sức gây bệnh
- Bệnh giun tóc ở lợn
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu
- Mẫu phân tươi của lợn ở các lứa tuổi nuôi tại một số xã của huyện PhúLương – tỉnh Thái Nguyên
- Trứng giun tóc phân lập từ phân lợn bệnh nuôi tại huyện Phú Lương –
tỉnh Thái Nguyên
- Kính hiển vi quang học
- Thuốc tẩy giun tóc
- Dung dịch NaCl bão hòa
- Buồng đếm MC Master, máy ly tâm và một số dụng cụ thí nghiệm khác
- Thuốc Hanmectin – 25 và Levamisol
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm thu thập mẫu: Các hộ chăn nuôi lợn tại các xã: Phủ Lý,Động Đạt, Sơn Cẩm của huyện Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên
Địa điểm xét nghiệm mẫu phân: Phòng thí nghiệm khoa Chăn nuôi Thú y Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên
-3.2.2 Thời gian nghiên cứu
- Từ ngày 26 tháng 12 năm 2011 đến ngày 11 tháng 06 năm 2012
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Tình hình nhiễm giun tóc ở lợn tại một số xã thuộc huyện Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc ở lợn tại một số xã.
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc theo tuổi lợn.
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc theo giống lợn
Trang 31- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc theo phương thức chăn nuôi.
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc theo tình trạng vệ sinh thú y.
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc theo tháng trong năm
3.3.2 Nghiên cứu khả năng sống và phát triển của trứng ở ngoài ngoại cảnh 3.3.3 Theo dõi triệu chứng lâm sàng của lợn bị nhiễm giun tóc tại huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên
3.3.4 Biện pháp phòng trị bệnh giun tóc cho lợn
3.3.4.1 Hiệu lực của một số thuốc tẩy giun tóc cho lợn
3.3.4.2 Đề xuất biện pháp phòng bệnh giun tóc cho lợn
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp lấy mẫu
- Mẫu được thu thập ngẫu nhiên tại các nông hộ, các trại chăn nuôi tậpthể và gia đình theo phương pháp lấy mẫu chùm nhiều bậc
- Mẫu phân: lấy mẫu phân mới thải của lợn ở các lứa tuổi tại một số xãthuộc huyện Phú Lương (20 – 30g) Để riêng mỗi mẫu phân vào một túi nilonnhỏ, mỗi túi có một mảnh giấy nhỏ ghi nhãn bao gồm: tuổi lợn, loại lợn, địa điểm,tên chủ hộ, tình trạng vệ sinh thú y, trạng thái phân, thời gian lấy mẫu và phươngthức chăn nuôi (những thông tin này cũng được ghi vào nhật ký đề tài)
Mẫu thu thập được xét nghiệm ngay trong ngày hoặc xét nghiệm saukhi bảo quản theo quy trình bảo quản trong nghiên cứu ký sinh trùng thú y
3.4.2 Phương pháp xét nghiệm mẫu
- Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm giun tóc ở lợn
Tất cả các mẫu phân đều được xét nghiệm bằng phương pháp Fullerborn với dung dịch muối NaCl bão hòa, tìm trứng giun tóc dưới kính
hiển vi (độ phóng đại x 100) Những mẫu có trứng giun tóc đánh giá là cónhiễm, ngược lại là không nhiễm
- Phương pháp xác định cường độ nhiễm giun tóc ở lợn
+ Cường độ nhiễm được xác định bằng phương pháp Mc Master: Đếm
số trứng giun tóc trong một gam phân bằng buồng đếm Mc Master:
≤ 500 trứng/ gam phân: nhiễm nhẹ (+)
> 500- 800 trứng/ gam phân: nhiễm trung bình (++)
Trang 32> 800- 1000 trứng/ gam phân: nhiễm nặng (+++)
> 1000 trứng/ gam phân: nhiễm rất nặng (++++)
* Quy định về lứa tuổi lợn: Tuổi lợn nghiên cứu được phân ra theo 5
Thức ăn, nước uống sạch sẽ, rau xanh được rửa sạch trước khi cho lợn
ăn, thường xuyên cọ rửa máng ăn, máng uống, không để tồn thức ăn, nướcuống trong máng
+ Tình trạng vệ sinh ở mức độ trung bình:
Không thường xuyên cọ rửa chuồng và dọn phân, có hiện tượng phânlưu 2 – 3 ngày trong chuồng Mỗi tuần rửa máng ăn, máng uống 1 – 2 lần, rauxanh có lúc rửa lúc không
+ Tình trạng vệ sinh thú y kém:
Chuồng trại chật chội, nền chuồng láng xi măng hay nền gạch hoặc nềnđất ẩm thấp, không có rãnh thoát nước, rất ít khi cọ rửa chuồng và dọn phân, thường xuyên có hiện tượng tồn lưu phân trong chuồng một vài tuần Rau xanh cũng không được rửa trước khi cho lợn ăn
* Phương thức chăn nuôi
+ Nuôi theo phương thức truyền thống (tận dụng):
Hộ gia đình chăn nuôi lợn với số lượng ít, thức ăn cho lợn chủ yếu tậndụng phế phụ phẩm ngành trồng trọt (cám xát, ngô, khoai, sắn, rau xanh)
+ Nuôi theo phương thức công nghiệp:
Chăn nuôi với số lượng lớn, thức ăn hàng ngày là thức ăn tổng hợp