Khóa Luận cực hay và bổ ích !!!!!!!
Trang 1PHẦN 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1.1 Điều tra cơ bản
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1.Vị trí địa lý
Huyện Bảo Thắng nằm ở phía Đông của tỉnh Lào Cai , cách trung tâm tỉnh Lào Cai khoảng 38 km Có tổng diện tích tự nhiên là 68.219,31 ha Trên địa bàn huyện có 17 dân tộc cùng sinh sống trong đó chủ yếu là dân tộc Kinh , Tày chiếm đa số còn lại các dân tộc khác , mỗi dân tộc phong tục tập quán khác nhau nhưng sống hòa đồng Mật độ phân bố dân cư không đồng đề u Huyện có tọa độ địa lý từ 22o
10' đến 22o 34' vĩ độ Bắc và 103o 58' đến 104o20' kinh độ Đông
- Phía Bắc giáp huyện Mường Khương tỉnh Lào Cai và huyện Hà Khẩu tỉnh Vân Nam - Trung Quốc
- Phía Đông giáp huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai
- Phía Nam giáp huyện Văn Bàn và huyện Bảo Yên tỉnh Lào
- Phía Tây giáp huyện Sa Pa và Thành phố Lào Cai tỉnh Lào Cai
1.1.1.2.Địa hình, địa mạo
Huyện Bảo Thắng là một vùng thung lũng nằm ven hai bên sông Hồng có độ cao phổ biến từ 80 - 400m Địa hình bao gồm dải thung lũng hẹp chạy dài ven sông Hồng , phía Tây là dải núi thấp của dãy núi Phanxiphăng - PúLuông, phía Đông là dải núi thấp của dãy thượng nguồn sông Chảy án ngữ Đoạn sông Hồ ng chảy qua huyện có độ dài 42 km, chia huyện Bảo Thắng thành hai khu vực hữu ngạn và tả ngạn Khu vực hữu ngạn có nhiều suối lớn đều bắt nguồn từ dãy núi Phanxiphăng rất thuận lợi cho giao thông đường thuỷ Khu vực huyện Bảo Thắng chủ yếu là địa hình vùng trũng thấp và đồi bát úp có độ dốc trung bình từ 18o
- 25o Hệ thống đường xá tương đối thuận tiện cho việc đi lại có tuyến đường Quốc lộ 70, 4E, 4D
Các đường tỉnh và huyện lộ , đặc biệt có tuyến đường sắt liên vân Quốc tế Hà Nội - Lào Cai - Côn Minh (Trung Quốc) chạy qua Tuy nhiên do địa
Trang 2hình phức tạp và có độ dốc nên các tuyến đường liên xã , thôn, bản đi lại còn khó khăn nhất là vào mùa mưa lũ
1.1.1.3 Khí hậu và thủy văn
*Khí hậu: Nằm ở phía Đông của dãy Hoàng Liên Sơn thuộc khí hậu
nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt
Mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, có nhiệt độ trung bình từ 22 - 23o
C Nhiệt độ trung bình/năm từ 22 - 24oC, nhiệt độ thấp dưới
2oC, nhiệt độ cao nhất 40o
C Tháng nóng nhất là tháng 7 có nhiệt độ trung bình 30 - 32o
Với đặc điểm thời tiết khí hậu này đã tạo điều kiện cho thảm thực vật nhiệt đới sinh trưởng và phát triển tốt
*Thuỷ Văn : Huyện Bảo Thắng có hệ thống sông , suối lớn dày đặc
phân bố đều trên toàn bộ huyện
Sông Hồng chảy trên địa bàn mực nước về mùa khô thấp , đây là nguồn cung cấp nước chính cho sản xuất và sinh hoạt của huyện Các suối của huyện đều bắt nguồn từ các dãy núi cao , lòng suối hẹp và dốc mở rộng dần về phía hạ nguồn và ít dốc hơn, mức độ biến đổi dòng chảy lớn
* Thực vật : Huyện Bảo Thắng có nhiều loại thực vật , diện tích đất rừng chiếm tỷ lệ cao, từ 80 đến 86% trong tổng diện tích tự nhiên, chủ yếu là rừng tạp, cây tán lá rộng rừng trồng chiếm khoảng 7 đến 8% chủ yếu là rừng thông, keo Những loại cây phục vụ cho việc chế biến sản xuất giấy và một số mặt hàng công nghiệp khác, độ che phủ trung bình từ 75 - 85%
Ngoài ra còn có các loại cây ăn quả như vải, nhãn và một số loại cây ăn quả khác Các khu dân cư nằm sát khu vực đồi thấp , thực vật có độ che phủ
Trang 3rậm rạp hơn như ng chủ yếu là loại cây trồng có tính chất ngắn ngày để khai thác, như tre, vầu, bạch đàn
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.1.2.1 Thực trạng tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong những năm qua nền kinh tế của huyện có những bước phát triển mạnh và toàn diện Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình trong 6 năm qua
2010 - 2015 đạt 17,5 % Năm 2010 tổng giá trị sản xuất của nền kinh tế của huyện đạt 859,10 tỷ đồng với tốc độ phát triển kinh tế ước đạt 23,12 %
Mặc dù Bảo Thắng đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, nhưng tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ mới đang dần được cải thiện Cơ cấu kinh tế toàn huyện còn rất nặng về nông nghiệp, CN - XD chiếm tỷ trọng nhỏ (dưới 20%)
- Ngành nông nghiệp:
Ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện phát triển với tốc độ cao, năm
2010 giá trị sản xuất ngành nông nghiệp chiếm 23,81% trong cơ cấu nền kinh tế Cơ cấu cây trồng trong 5 năm qua có sự thay đổi nhưng không nhiều
- Ngành sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và xây dựng
cơ bản:
Năm 2010 tổng giá trị sản xuất ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng chiếm 60,35% Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của huyện chủ yếu là khai thác mỏ và công nghiệp chế biến Riêng ngành tiểu thủ công nghiệp đa số là các ngành nghề như: Sản xuất gạch, ngói, khai thác cát, sỏi, hàn xì…
- Ngành thương mại - dịch vụ - du lịch:
Năm 2010 giá trị ngành DV - DL chiếm khoảng 15,84% Trên địa bàn huyện có 01 chợ trung tâm huyện đang duy trì hoạt động, trong đó 15/15 xã đều có chợ phần lớn là chợ được họp theo phiên
Qua nghiên cứu kết quả sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2005 - 2010 của huyện cho thấy:
+ Cơ cấu kinh tế đã có những chuyển biến tích cực hơn theo xu thế phát triển chung của tỉnh và của cả nước song tốc độ dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao tỷ trọng CN - XD và DV - DL còn chậm
Trang 4+ Nông nghiệp tăng trưởng với tốc độ khá cao do việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và sản xuất đúng hướng do đó sản xuất nông nghiệp đã có những bước phát triển mới theo hướng chuyển dần sang sản xuất hàng hoá
+ Công nghiệp còn nhỏ bé, chưa khai thác các khả năng tiềm tàng của địa phương, chưa tạo đà cho việc chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm
1.1.2.2 Tình hình dân số, lao động
- Dân số:
Dân số luôn là yếu tố là nguyên nhân tác động đến tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội Tình hình biến động dân số của huyện Bảo Thắng tính đến ngày 31/12/2010 là 100.901 người, mật độ dân số 148 người/km2
tỷ lệ gia tăng tự nhiên của toàn huyện là 1,2%
Tỷ lệ phát triển dân số của huyện có chiều hướng phát triển tương đối ổn định theo chiều hướng giảm dần từ năm 2005 trở lại đây, năm 2005 tỷ lệ PTDSTN là 1,41 % đến năm 2010 là 1,2 % Có thể nói đây là một thành tích đáng kể mà Đảng bộ và nhân dân huyện Bảo Thắng hiện nay nói chung và các đơn vị hành chính xã nói riêng đã đạt được
Trong các năm tiếp theo có thể phấn đấu giảm xuống và giữ ở mức ổn định
- Lao động - việc làm:
Năm 2010 tổng nguồn lao động toàn huyện có khoảng 51.614 lao động, chiếm 51,15% tổng số dân, trong đó lao động chưa có việc làm khoảng 0,6% tổng dân số Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế chiếm khoảng 46,4% tổng dân số, còn lại là số lao động có khả năng lao động nhưng đang đi học
- Thu nhập - mức sống:
Cùng với sự phát triển chung của tỉnh, đời sống nhân dân huyện Bảo Thắng trong những năm qua được cải thiện rõ rệt, bình quân thu nhập đầu người đạt 12,6 triệu đồng/người/năm Tuy nhiên sự chênh lệch về thu nhập thể hiện rõ nét tại các khu vực khác nhau trong huyện, giữa những trục đường chính, gần khu thương mại
Trang 51.1.3 Điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng
Về đường giao thông, từ đầu công nguyên đến nay, Bảo Thắng đều nằm trên con đường huyết mạch, nối liền nước ta với Vân Nam - Trung Quốc Đó là hệ thống đường sông Hồng và đường bộ (thời cận đại về trước nằm bên hữu ngạn sông Hồng) Nằm ở vị trí đầu mối giao thông này, Bảo Thắng luôn là đầu ngõ tiền đồn trọng yếu ở vùng Tây Bắc tổ quốc
Nhưng hơn một thế kỷ qua, tuyến giao thông đường bộ dọc hữu ngạn sông Hồng ít được đầu tư phát triển Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, đường giao thông chủ yếu ở Bảo Thắng là tuyến xe lửa nối liền Vân Nam - Trung Quốc với Hà Nội, Hải Phòng Từ thời phong kiến Việt Nam và đặc biệt là những năm đầu thế kỷ 20, khi thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa, đường sông Hồng mới được tận dụng triệt để Từ năm 1966, đường quốc lộ
70 được xây dựng nối thông các huyện, thị biên giới phía Bắc với các huyện phía Nam Lào Cai và xuôi về trung tâm Hà Nội; Bảo Thắng là đầu mối giao thông toả đi 5 huyện, thành phố của khu vực Tuyến đường từ phía Tây và phía Nam huyện dọc theo hữu ngạn sông Hồng, trong thập kỷ qua, cũng được
mở rộng và phát triển nối liền thành phố Lào Cai với khu công nghiệp Tằng Loỏng và Văn Bàn Hiện nay, Bảo Thắng đã có đường ô tô đến được tất cả 15 xã, thị trấn, đặc biệt tuyến đường sắt ở phía hữu ngạn sông Hồng nối liền Phố
Lu với Tằng Loỏng - Cam Đường đã góp phần vào việc thúc đẩy kinh tế Bảo Thắng phát triển mạnh Bảo Thắng trở thành huyện có hệ thống giao thông
phát triển mạnh nhất ở tỉnh Lào Cai
1.1.4 Các hoạt động của trung tâm thủy sản
1.1.4.1 Cơ sở vật chất
Trại giống Thuỷ sản Cấp I Phú Nhuận trực thuộc quản lí của Trung tâm thuỷ sản tỉnh Lào Cai Được thành lập theo quyết định số 107/2005/QĐ- UBND ngày 14/03/2005 của UBND tỉnh về thành lập Trung tâm Thuỷ sản Lào Cai
Trại có tổng diện tích đất: 6,5 ha, Hệ thống ao nuôi cá bố mẹ được xây chắc chắn, gồm 10 ao có diện tích trung bình 2000m2, hệ thống ao ương gồm
14 ao có diện tích trung bình 750m2, hệ thống cấp thoát nước riêng biệt Hệ thống bể chứa có diện tích 1000m2 Khu sinh sản nhân tạo của trung tâm gồm
2 bể đẻ, 4 bể ấp, 10 bể nuôi, diện tích bể 10m3/ bể
Trang 6Ngoài ra còn có hệ thống nhà làm việc, nhà bếp, nhà tập thể, khu điều hành với tổng diện tích khoảng 2500m2
Về tổ chức bộ máy:
- Ban quản lí : 1 trưởng trại và 1 phó trại
- Tổ chức hành chính phục vụ có 2 người: 1 kế toán, 1 lái xe, 2 bảo vệ
- Tổ phụ trách sản xuất thực nghiệm: 6 người
1.1.4.3 Chức năng, nhiệm vụ
* Chức năng: Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ
- Tiếp nhận công nghệ sản xuất giống cá chép lai V1
- Chuyển giao công nghệ sản xuất cá rô phi đơn tính đực dòng Gift
(Oreochromis niloticus)
- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của cá chim trắng tại Lào Cai
- Nghiên cứu sản xuất giống cá Lăng chấm
* Nhiệm vụ: Sản xuất giống và dịch vụ nghề cá
Bảng 1.1 Số lƣợng cá giống đã cung ứng cho các huyện trong, ngoài tỉnh
Trang 7Qua bảng 1.1 tôi nhận thấy nhu cầu về con giống phục vụ cho sản xuất của bà con nông dân là rất lớn Đặc biệt là cá rô phi đơn tính, với đặc điểm ăn tạp nhanh lớn và dễ tiêu thụ, do đó ngày càng được nuôi phổ biến và trở thành đối tượng nuôi chính trong các ao với hình thức nuôi bán công nghiệp
* Hoạt động đào tạo và tập huấn kỹ thuật
- Thực hiện việc lưu giữ, bảo vệ nguồn gien các giống Thuỷ sản quý hiếm, nhập các giống mới, chọn tạo và thuần hoá giống, quản lý chất lượng giống trên toàn địa bàn
- Nghiên cứu đánh giá để bảo vệ, tái tạo phát triển nguồn lợi thuỷ sản Nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về sinh sản, nuôi trồng, chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm
- Tổ chức cung ứng đầy đủ, kịp thời các loại giống năng suất cao, chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu giống thuỷ sản cho mọi đối tượng, thành phần NTTS và thực hiện mục tiêu phát triển NTTS trên địa bàn toàn tỉnh
- Thực hiện việc xây dựng các mô hình khuyến ngư, phát triển dịch vụ thú y thuỷ sản, hướng dẫn sử dụng thức ăn, hoá chất, thuốc, chế phẩm sinh học, vi sinh vật trong NTTS
- Tổ chức đào tạo kỹ thuật cho cán bộ khuyến ngư, tập huấn kỹ thuật, rèn tay nghế cho người NTTS và hướng dẫn áp dụng thực hiện quy trình kỹ thuật về nuôi trồng, ương giống, đánh bắt, chế biến bảo quản và phát triển bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản
1.1.5 Đánh giá chung
1.1.5.1 Thuận lợi
Là huyện nằm giáp với Thành phố Lào Cai , gần trung tâm phát triển kinh tế của tỉnh Lào Cai , lại có tuyến đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai (đang thi công), đường quốc lộ , đường sắt , đường tỉnh lộ đi qua nên có điều kiện thuận lợi để phát triển các khu công nghiệp , kinh tế: (Như cụm công nghiệp Tằng Loỏng và nhiều nhà máy xí nghiệp khác trong huyện)
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đều tăng so với kế hoạch đề ra Nguồn lao động dồi dào, có tính năng động cần cù, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm sản xuất
Trang 8- Cơ sở hạ tầng của huyện ngày một phát triển, bộ mặt đô thị và nông thôn ngày một chuyển biến rõ rệt
- Nguồn nước chủ động, sạch được cung cấp quanh năm từ Suối Thầu chảy từ dãy Hoàng Liên Sơn
lý sát sao , vận động tuyên truyền của các cấp chính quyền địa phương nên tình hình tệ nạn trên có sự giảm đi đáng kể , một số con nghiện đã được đưa đến trung tâm cai nghiện Vì vậy tình hình an ninh trên địa bàn luôn ổn định , toàn dân luôn thực hiện đúng các quy định , chính sách của Đảng và Nhà nước đề ra
1.2 Nội dung thực tập tốt nghiệp và biện pháp thực hiện
1.2.1 Nội dung thực tập
- Cải tạo ao A7, A9, A12, A20, A21, A3, A5
- Tham gia phục vụ sản xuất cùng với cán bộ công nhân viên của trung tâm
- Đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
- Tẩy vôi định kì cho ao
- Điều trị bệnh trùng mỏ neo, rận cá cho cá Mè, cá Chép, cá Trắm
- Kết hợp giữa phục vụ sản xuất và đề tài nghiên cứu không ngừng nâng cao kiến thức và tay nghề
Trang 9- Thu thập tài liệu ,đọc trước khi làm ,vừa làm vừa học, bắt tay vào thực tiễn áp dụng kỹ thuật vào quy trình nuôi vỗ, sinh sản và ương nuôi
- Tham khảo ý kiến, tranh thủ sự giúp đỡ của lãnh đạo Trung tâm
- Thường xuyên xin ý kiến chỉ đạo của giáo viên hứơng dẫn
1.2.3 Kết quả đạt được trong công tác phục vụ sản xuất
1.2.3.1 Công tác phục vụ sản xuất
Bảng 1.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Thời gian công tác chăm sóc, nuôi dưỡng đàn cá bố
mẹ ở trại (cá rô phi đơn tính và cá chép lai ba máu) Ngày 60 Phòng và trừ bệnh cho cá Rô phi
Qua bảng 1.2 tôi nhận thấy kết quả cho đẻ 1 số loài cá truyền thống là khá cao Trong sinh sản nhân tạo cá Chép lai 3 máu nhờ áp dụng các giải pháp mới như: Thay giá thể bằng các sợi nylon, bổ sung tấm nhựa lót xuống đáy bể để cố thể thu hêt được toàn bộ trứng cá đã đẻ…Nhờ đó mà năng suất cá bột rất cao
Trang 10Bảng 1.3 Công tác cho đẻ và ấp trứng một số loài cá
Nội dung
Thời gian
Số cặp cá tham gia sinh sản
P cá (kg)
Liều lƣợng KDT:
LRHa (ống) + DOM
(viên)
SL cá bột thu đƣợc (triệu)
- Cho cá
25 lần 1: 1 ống + 2 viên/
10kg cá cái lần 2: 1 ống + 2 viên/
3,5kg cá cái Liều lượng cá đực bằng 1/6 cá cái
Liều lượng cá đực bằng 1/5 cá cái/
Trong quá trình thực tập tại tôi nhận thấy Trại nên cho sinh sản nhân tạo một số loài cá khác như cá Trắm đen, cá Mè… để phục vụ cho nhu cầu sản xuất của bà con
1.3 Kết luận và đề nghị
1.3.1 Kết luận
Trong quá trình thực tập tại trại giống, nhờ xác định rõ mục đích đề ra, phương hướng công tác đứng đắn, cùng với sự quan tâm giúp đỡ của Ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên trong trại, thầy giáo hướng dẫn, tôi đã đạt được một số kết quả sau:
- Nắm được kỹ thuật sản xuất giống cá rô phi đơn tính, chép lai 3 máu, cá trắm cỏ, trôi, mè…
Trang 11- Biết được cách phòng và điều trị một số bệnh cho đàn cá bố mẹ, cho cá giống, trong quá trình ấp trứng, đặc biệt là các bệnh thường xảy ra khi sử
lý cá rô đơn tính ở 21 ngày tuổi
- Gắn kết được lý thuyết đã học với thực tiễn sản xuất
- Tiếp cận được với khoa học kỹ thuật mới…
- Học hỏi được cách quan hệ, ngoại giao trong công tác…
- Hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp của mình
1.3.2 Đề nghị
- Đề nghị TTTS có phương án tiêu thụ sản phẩm và cơ chế chính sách tiếp thị khuyến khích đối tượng tham gia cung ứng, tiêu thụ sản phẩm
- Cần có giải pháp lưu giữ cá bố mẹ qua đông tốt hơn
- Đảm bảo nguồn cá bố mẹ có chất lượng tốt
- Chuyển đổi cơ chế quản lý để nâng cao sản xuất
- Hệ thống bờ ao đang xuống cầp nghiêm trọng, đề nghị Trại có biện pháp khắc phục kịp thời để phục vụ sản xuất và khi mùa mưa đến gần
Trang 12PHẦN 2
ĐỀ TÀI THỰC TẬP TỐT NGHIỆP Tên đề tài:
''Ứng dụng tiến bộ sản xuất giống cá Lăng Chấm (Hemibagrus guttatus) tại trại giống Thuỷ sản cấp I Phú Nhuận Lào Cai''
2.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Cá Lăng Chấm Hemibagrus guttatus (Lacépede, 1803) là loài cá có giá
trị kinh tế cao của hệ thống sông Hồng, thịt cá mềm, thơm ngon, ít xương dăm, giá bán cao, được coi là loại cá đặc sản nước ngọt hàng đầu của miền Bắc, có hàm lượng các chất dinh dưỡng cao, được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng Trong những năm 1960-1970, sản lượng cá Lăng Chấm chiếm tỷ lệ khá lớn trong sản lượng cá đánh bắt tự nhiên của một số tỉnh miền núi (Mai Đình Yên, 1983) [10] Những năm gần đây, do điều kiện môi trường
bị suy thoái, khai thác quá mức bằng những phương tiện huỷ diệt như dùng xung điện, thuốc nổ, chất độc, ruốc cá và những phương tiện khai thác khác nên sản lượng cá Lăng Chấm đã giảm sút nghiêm trọng (Phạm Báu và cs, 2000) [1] Hiện tại, cá Lăng Chấm được xếp vào mức nguy cấp bậc V, cần được bảo vệ gấp (Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường, 1992) [12]
Thời gian gần đây, nhận thấy tầm quan trọng của việc bảo tồn nguồn gen loài cá quý hiếm và tái tạo nguồn cá Lăng Chấm, tại nhiều cơ sở thủy sản trong và ngoài nước đã nghiên cứu và cho sinh sản nhân tạo thành công cá Lăng Chấm trong điều kiện nuôi, sản xuất cá giống phục vụ nhu cầu nuôi của người dân và phục vụ cho nghiên cứu khoa học (Nguyễn Dương Dũng và cs, 2001) [3] Hiện nay công nghệ sản xuất giống cá Lăng Chấm đã được chuyển giao thành công cho các tỉnh Nam Định, Bắc Giang, Hoà Bình, Phú Thọ, Vĩnh Phúc Công nghệ nuôi thương phẩm đã được chuyển giao cho một số địa điểm nuôi thành công như Trạm Thuỷ sản Chương Mỹ - Hà Nội, Trung tâm giống thuỷ sản cấp 1, Bắc Giang, Hoà Bình, Hải Dương…
Từ năm 2002, Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I đã tiến hành đề tài
“Nghiên cứu kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá Lăng Chấm trong điều kiện nuôi”
Trang 13Năm 2003 Viện đã sản xuất được 7.800 cá bột, 5.000 cá giống Năm 2004 sản xuất được 20 vạn cá bột, trên 12 vạn cá hương và cá giống Lăng Chấm Các chỉ tiêu khoa học kỹ thuật về sản xuất giống như tỷ lệ cá đẻ, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, tỷ lệ sống khi ương nuôi cá bột, cá hương và cá giống đạt tương đối cao Viện đã làm chủ được kỹ thuật sinh sản của cá Lăng Chấm và chủ động cung cấp cá giống (Nguyễn Đức Tuân và cs, 2004) [6] Cuối năm 2007, đề tài
"Chuyển giao công nghệ sản xuất cá Lăng Chấm” được triển khai tại Trung tâm giống thuỷ sản Hoà Bình
Năm 2009, Trung tâm Khoa học kỹ thuật và Sản xuất giống thuỷ sản Quảng Ninh đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu thử nghiệm nuôi cá Lăng Chấm”, sau một năm nuôi thử cá Lăng Chấm sinh trưởng và phát triển tốt, trọng lượng trung bình đạt khoảng 500 gam/con
Hiện nay cá Lăng Chấm được nuôi nhiều ở một số tỉnh trong cả nước, bước đầu sản xuất đã đi vào ổn định, nhờ vậy đã chủ động được một số lượng lớn giống cá Lăng Chấm phục vụ cho nhu cầu nuôi trong cả nước Được sự đồng ý của trường Đại học Nông Lâm - Thái Nguyên, khoa Chăn nuôi - Thú y và sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của TS Trần Trang Nhung và Th.s Hoàng
Hải Thanh tôi thực hiện đề tài: ''Ứng dụng tiến bộ sản xuất giống cá Lăng Chấm ( Hemibagrus guttatus) tại trại giống Thuỷ sản cấp I Phú Nhuận Lào
Cai'' Nhằm mục đích:
- Làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học
- Tìm hiểu được quy trình sinh sản nhân tạo cá Lăng Chấm
- Rèn luyện tay nghề, nâng cao kinh nghiệm của bản thân
2.2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1.1 Đặc điểm phân loại
Cá Lăng Chấm đã được các nhà phân loại đặt cho nhiều cái tên khác nhau Theo Chu Xin lua et chen Yinrui (1989, 1990) [14] thì cá Lăng xếp vào giống Hemibagrus
Dựa trên những mẫu vật thu thập được, tham khảo những tài liệu mới công bố của Chu Xin Lua, 1990 (cá Vân Nam Trung Quốc), Robert Tyson,
Trang 141995 (Giống cá Mystus ở Thái Lan và Campuchia), thì cá Lăng vẫn xếp vào giống Hemibagrus như của tác giả Mai Đình Yên (1978), nhưng đổi tên loài
từ Hemibagrus elongatus (Gunther, 1865) thành Hemibagrus guttatus
(Lacépède, 1803) (Phạm Báu và cs, 2000) [1]
Cá Lăng chấm thuộc:
Bộ cá nheo : Siluriformes
Họ cá Lăng: Bagridae
Giống cá Lăng: Hemibagrus
Loài cá Lăng: H.guttatus (Lacépède, 1803)
Tên thường gọi: Cá Lăng chấm (lúc lớn), cá Quất (lúc nhỏ)
Tên tiếng Tày: Pia Cốt, tiếng Thái: Pia Chưng
Các chỉ tiêu đếm: D II, 7; A 3, 7-10; P I, 8-12; V 1, 5; C 1 + 9 + 9 + 1, bóng hơi 2 ngăn, số lược mang 18 - 22, số đốt sống toàn thân 54 - 56 (1 đốt sống đầu, 18 - 19 đốt sống thân, 33 - 34 đốt sống cuống đuôi, 1 đốt sống đuôi) (Mai Đình Yên, 2000) [11]
2.2.1.2 Đặc điểm hình thái
Cá có thân dài, đầu dẹp bằng, đuôi dẹp bên Da trơn, có 4 đôi râu: 1 đôi râu mũi, 1 đôi râu hàm, 2 đôi râu cằm Râu hàm rất dài, đến giữa và cuối vây bụng
Miệng ở phía dưới rộng hướng ra phía trước Môi trên dày và nhô dài hơn môi dưới Hai hàm trên và dưới đều có vành răng hàm gồm những răng nhỏ, nhọn Vành xương hàm hình móng ngựa cong, sâu, đều Mắt bé, ở hai bên đầu và hướng lên trên, khoảng cách hai ổ mắt rộng Xương chẩm hình
giác, dài nhọn Khe mang rộng, màng mang không dính liền với eo mang
Vây lưng cao, gai cứng thứ nhất nhỏ, dạng nhú Gai cứng thứ hai to khoẻ, phía trước không có răng cưa Gai cứng của vây ngực to, khoẻ, phía trước và phía sau đều có răng cưa Vây mỡ dài chiếm hầu hết khoảng cách sau vây lưng dài gấp ba lần gốc vây lưng Vây đuôi chẻ sâu chia 2 thuỳ: thuỳ trên dài hơn thuỳ dưới với đầu mút nhọn hoặc hơi tròn Lỗ sinh dục và lỗ hậu môn cách biệt, lỗ hậu môn gần vây bụng hơn vây hậu môn Đường bên hoàn toàn
thẳng bằng, không rõ nét
Trang 15Lưng màu xám hơi vàng, bụng màu trắng nhạt Trên cơ thể, vây đuôi, vây mỡ có nhiều chấm đen to, nhỏ, xắp xếp không có quy tắc Viền sau vây lưng, vây mỡ, vây đuôi và vây hậu môn xám đen (Mai Đình Yên, 2000) [11]
2.2.1.3 Đặc điểm phân bố
Ở nước ta, trước đây cá Lăng có ở hầu hết các sông, suối lớn, trên toàn hệ thống sông Hồng, có nhiều ở khu vực trung và thượng lưu Hiện nay, ở khu vực hạ lưu rất hiếm, khu vực trung và thượng lưu cũng ít gặp Nơi còn gặp là những nơi thác ghềnh, hiểm trở khó khai thác ở thượng lưu Cá Lăng xuất hiện nhiều hơn cả ở sông Gâm đoạn Na Hang - Bắc Mê, thượng nguồn
sông Đà, hồ Hoà Bình và lưu vực sông Tạ Bú
Trên thế giới cá Lăng phân bố ở sông Tây Dương, sông Nguyên (Vân Nam - Trung Quốc) là loài cá đặc hữu của vùng Hoa Nam Trung Quốc
* Đặc điểm hình thái tuyến sinh dục cá Lăng
- Hình thái tuyến sinh dục cá Lăng cái:
Noãn sào của cá Lăng cái là 1 tuyến đôi gồm 2 nhánh có hình túi tròn, dài nằm trong xoang bụng Hai nhánh này nằm 2 bên ruột và ở dưới bóng hơi Hai nhánh của buồng trứng phát triển đồng đều, ít chênh lệch nhau về kích thước Kích thước và màu sắc của noãn sào thay đổi theo giai đoạn thành thục Noãn sào ở giai đoạn 1 - 2 có màu hồng nhạt, noãn sào ở giai đoạn 3 - 4 có màu da cam hoặc vàng tươi Bề mặt của noãn sào có ít mạch máu phân bố Buồng trứng giai đoạn 5 trong suốt, buồng trứng giai đoạn 6 - 2 có màu tím sẫm Hai nhánh của noãn sào hợp lại ở phía cuối cùng và đổ ra lỗ sinh dục
Trang 16- Hình thái tuyến sinh dục của cá Lăng đực :
Tinh sào cá Lăng là tuyến đôi, đối xứng nhau và có màng treo đính vào phía dưới thận Hai nhánh của tinh sào hình lược có các tua ở hai bên Khi cá chưa phát dục tinh sào có màu nâu đỏ, khi cá phát dục tinh sào có màu trắng Hai nhánh tinh sào hợp lại ở phía cuối cùng và đổ ra lỗ simh dục (Mai Đình Yên, 2000) [11]
* Đặc điểm sinh sản của cá Lăng trong tự nhiên :
Tuổi thành thục: Qua nghiên cứu tuổi cá bằng lát cắt gai cứng vây ngực và trên đốt sống thân cho thấy: 100% cá Lăng cái tuổi 0+
, 1+, 2+ chưa phát dục, 25% cá cái 3+
tuổi có noãn sào ở giai đoạn IV, V, VI - II, cỡ cá cái nhỏ nhất có khả năng thành thục có chiều dài là 61 cm, trọng lượng 1,6 kg 100% cá Lăng đực tuổi 0+
, 1+, 2+, 3+ chưa phát dục, 20% cá đực 4+ tuổi có tinh sào ở giai đoạn IV, ỡ cá đực nhỏ nhất thành thục có chiều dài là 72 cm, trọng lượng 2,7 kg
Hệ số thành thục của cá đực và cá cái tăng dần từ tháng 4 đạt cực đại vào tháng 6 sau đó giảm dần vào những tháng tiếp theo
Sức sinh sản của cá Lăng Chấm thấp, hệ số thành thục trung bình là 7,84 Sức sinh sản tuyệt đối tăng theo tuổi, cá từ 3 - 11 tuổi số lượng trứng đạt: 6.342- 54.575 hạt trứng Sức sinh sản tương đối có số lượng trứng trung bình là 3.750 hạt /kg cá cái (Mai Đình Yên, 2000) [11]
Tập tính sinh sản: Cá Lăng đẻ theo từng con lũ, nhiệt độ nước 26-28o
C Cá đẻ trứng vào các hang, hốc đá ở ven sông, suối Hầu hết cá lớn đẻ vào tháng 6, cá nhỏ đẻ muộn hơn vào tháng 7, 8 Trứng cá chìm và dính, cá lăng
đẻ trứng tại vùng trung lưu nước chảy Trứng cá Lăng hơi tròn, hình quả lê, có màu vàng với độ đậm nhạt khác nhau, đường kính trứng trong các pha lớn, dao động 2.500- 3000 µm (Mai Đình Yên, 2000) [11]
* Đặc điểm sinh sản của cá Lăng trong điều kiện ao nuôi
Mùa vụ sinh sản đối với cá Lăng Chấm ở nước ta bắt đầu từ tháng 4 tới đầu tháng 6 Tỷ lệ cá Lăng Chấm bố mẹ thành thục đạt trên 85 %, tỷ lệ cá đẻ trên 93%, tỷ lệ trứng thụ tinh đạt 40- 92% (76%), tỷ lệ nở của trứng Cá Lăng đạt 40-82% (58%), tỷ lệ sống của cá bột khi ương lên cá hương đạt trên 80%,
Trang 17tỷ lệ sống của cá hương lên giống trung bình là 88% (Nguyễn Đức Tuân và
cs, 2004) [6]
Mùa vụ sinh sản trong điều kiện ao nuôi ngắn hơn so với trong điều
kiện tự nhiên Hệ số thành thục cao nhất vào tháng 5, 6, 7
Trứng cá thành thục có đường kính 3 - 3,5 cm, tròn căng, rời, màu vàng
mỡ gà Trứng cá Lăng mới đẻ hơi dính, có xoang bao trứng nhỏ, noãn hoàng
lớn Trứng nở sau khi thụ tinh từ 60 - 64 giờ ở nhiệt độ 27 - 29o
C
Cá Lăng bột khi mới nở có khối noãn hoàng lớn hình cầu, chiếm hầu
hết khối lượng thân, chiều dài cá bột 7 mm, đường kính noãn hoàng 3 mm Cá
bột sau khi nở 34 giờ chỉ có khả năng di động theo chiều ngang, sau 96 giờ cá
có màu đen, sau 120 giờ bơi được trong tầng nước, sau 10 ngày tiêu hết noãn
hoàng (ở nhiệt độ trên) (Mai Đình Yên, 2000) [11]
2.2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Xác định tuổi của cá Lăng bằng lát cắt tia vây ngực, đốt sống thân,
vòng tuổi của cá thể hiện tương đối rõ Vòng năm là những vòng trong, đồng
tâm nằm giữa vùng mờ đục và vùng mờ sáng Vòng phụ là những vòng không
hoàn chỉnh, sắp xếp không theo quy luật Thời gian hình thành vòng tuổi từ
tháng 12 - tháng 3 năm sau (Mai Đình Yên, 1966) [9]
Theo (Mai Đình Yên, 2000) [11] cho thấy cá Lăng có tốc độ sinh
trưởng chậm Trong những năm đầu, cá 1 tuổi có khối lượng trung bình 30 -
60 gam/ năm, năm thứ 2 đạt 190 - 240 gam/ năm Từ 4 tuổi đến 8 tuổi cá đạt
1.000 - 1.800 gam và những năm về sau cá sinh trưởng chậm so với 8 năm
đầu tiên Về chiều dài, trong 4 năm đầu cá tăng nhanh về chiều dài đạt 13-17
cm, sau đó giảm dần, ở tuổi 9+
- 12+ còn 4 - 7 cm/năm
2.2.1.6 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá Lăng là loài cá dữ điển hình: miệng rộng răng hàm sắc nhọn, dạ dày
lớn, tỷ lệ chiều dài ruột/ chiều dài thân là 89,35 % Thức ăn chủ yếu của cá
Lăng là 3 loại chính: cá, tôm, côn trùng trong nước, tần số gặp từ 28 - 60%,
khối lượng chiếm 15,8 - 36% tổng khối lượng thức ăn, trong ruột cá đã gặp cả
mề gà và chân gà Cá ăn được tất cả các mồi động vật mà chúng gặp, nếu mồi
đó vừa cỡ được lay động (Mai Đình Yên, 2000) [11]
Trang 182.2.1.7 Đặc điểm tế bào sinh dục cá cái
Các giai đoạn phát triển buồng trứng cá Lăng được phân chia theo phương pháp kinh điển của Trung Quốc dựa vào mức độ thành thục của tế bào trứng, theo phương pháp này buồng trứng chia làm 6 giai đoạn: (Mai Đình Yên, 2000) [11]
Giai đoạn I: Buồng trứng và túi tinh là hai dải nhỏ, có màu hồng
nhạt, nằm sát vách trên xoang bụng, chưa phân biệt được tuyến sinh dục đực cái bằng mắt thường Giai đoạn này tuyến sinh dục còn rất nhỏ, buồng trứng có hệ số thành thục 0,2 - 0,25%, đường kình trứng khoảng 32 - 70
µm Nhân nằm ở giữa và chiếm tỷ lệ lớn so với cả tế bào, có 1 số hạch nhân nằm ở giữa nhân
Giai đoạn II: Buồng trứng hình túi dài, nhỏ, màu hồng nhạt, buồng
tinh hình dải dài, hẹp, có thể phân biệt được bằng mắt thường Hệ số thành thục của buồng trứng 0,35- 0,45% Tế bào trứng có hình đa giác hoặc hình cầu, tế bào chất tăng lên nên thể tích giữa nhân và tế bào chất giảm xuống Trong quá trình phát triển của giai đoạn này có 1 lớp mỏng các tế bào follicul bao quanh tế bào trứng, hạch nhân tiến sát màng nhân Đường kính trứng khoảng 100-250 µm
Giai đoạn III: Buồng trứng hình quả nhót, có màu vàng nhạt, có thể
nhìn rõ các hạt trứng qua lớp màng trong suốt Buồng tinh hình dải dài, có nhiều tua ở hai bên, màu hồng nhạt Hệ số thành thục buồng trứng 1 - 2 % Các hạt trứng vẫn dính nhau Tổ chức học của tế bào đã chuyển hẳn về chất
so với giai đoạn 1 và 2 Giai đoạn này được đặc trưng bởi tế bào trứng bắt đầu hình thành và tích luỹ noãn hoàng Đầu tiên là sự hình thành nhiều không bào xung quanh nhân và màng tế bào trứng, noãn hoàng hình thành ở dưới dạng mụn nhỏ Giai đoạn này quá trình tích luỹ noãn hoàng được thể hiện rõ nét do tăng số lượng noãn hoàng dạng hạt và các không bào, màng follicul hình thành 2 lớp vùng phóng xạ phân biệt rõ từ tế bào biểu mô nang Đường kính trứng khoảng 320 - 550 µm, hạch nhân nằm ở xung quanh nhân
Giai đoạn IV: Buồng trứng hình quả nhót lớn, chiếm hầu hết xoang
bụng, màu vàng hoặc màu vàng da cam, các hạt trứng dời nhau Hệ số thành
Trang 19thục của buồng trứng 4 - 10,5 % Buồng tinh hình dải dài có nhiều tua ở hai bên, màu trắng nhạt Tổ chức học trong giai đoạn này có sự thay đổi rõ ràng Tế bào trứng đã tích luỹ đầy đủ noãn hoàng và đạt kích thước lớn nhất Noãn hoàng có màu hồng sáng ở dạng hạt hình cầu, noãn hoàng cùng với không bào chiếm hầu hết tế bào chất Chỉ còn 1 số tế bào chất bắt màu hơi xám nằm gần nhân và màng tế bào Đường kính trứng khoảng 1000- 3000 µm, hầu hết hạch nhân chuyển về trung tâm của nhân, nhân di chuyển ra ngoài biên
Giai đoạn V: Buồng trứng chứa đầy các hạt trứng rời và trong suốt, khi
ta dốc ngược và vuốt nhẹ vào bụng thì thấy trứng chảy ra Vào giai đoạn này, khi tế bào biểu mô nang tiết ra chất làm tan và hấp thu lớp biểu mô giữa nang trứng và tế bào do đó các tế bào trứng có thể rơi tự do vào xoang trứng và chảy ra ngoài qua ống dẫn trứng Các hạt noãn hoàng bắt đầu tan ra Nguyên sinh chất và nhân chuyển về cực động vật Các nhân con tập trung về trung tâm của nhân, màng nhân tan biến
Giai đoạn VI: Hầu hết trứng giai đoạn này thành thục đã được đẻ, buồng
trứng giảm nhiều về kích thước, rất mềm và có màu tím đỏ Buồng trứng chứa
trứng của nhiều giai đoạn Hệ số thành thục của buồng trứng 1 - 1,5%
2.2.1.8 Một số nghiên cứu về kĩ thuật sinh sản nhân tạo cá Lăng Chấm
Trong 2 năm 1997 - 1998, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I đã tiến hành một số thử nghiệm sinh sản nhân tạo đối với cá Lăng chấm bố mẹ thành thục trong điều kiện tự nhiên tại sông Lô, sông Gâm thuộc địa bàn tỉnh Tuyên Quang và tại lòng hồ thủy điện Hòa Bình thuộc địa bàn tỉnh Hòa Bình
Cá bố mẹ thành thục được thu thập, chọn lọc từ các hộ, thu mua cá trên lòng hồ hoặc trên sông sau đó nhốt trong các lồng bằng gỗ hoặc bằng nhựa Thử nghiệm sử dụng một số loại kích dục tố LRHa, HCG, não thùy cá, Domperidon tiêm kích thích cho cá bố mẹ rụng trứng, tiết tinh, bố thí một số thí nghiệm về phương pháp thụ tinh như thụ tinh ướt, thụ tinh khô và thụ tinh bán ướt, bố trí thí nghiệm về phương pháp ấp trứng
Kết quả cho thấy tỷ lệ rụng trứng khá cao tuy nhiên tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở rất thấp, thậm chí trứng của nhiều cá cái đẻ ra không nở, tổng số cá bột
thu được của các đợt thí nghiệm khoảng 30 con
Trang 20Năm 2000 - 2001 đề án: Lưu giữ nguồn gen và giống thủy sản bước đầu thuần hóa cá Lăng chấm trong điều kiện ao nuôi Đề án đã thu thấp được
25 cá bố mẹ và hậu bị có trọng lượng 1,0 - 4,0 kg khai thác tại hồ thủy điện Hòa Bình về nuôi trong ao nước tĩnh có diện tích 500m2, độ sâu 0,7 - 0,8 m Kết quả cho thấy cá Lăng chấm có khả năng sinh trưởng, phát dục và thành thục trong điều kiện ao nuôi nước tĩnh
Thử nghiệm một số loại kích dục tố như LRHa, HCG, não thùy cá, Domperidon tiêm kích thích cho cá bố mẹ rụng trứng, tiết tinh Trong quá trình sinh sản nhân tạo đã thu được trứng của 5 con cá cái nhưng tỷ lệ thụ tinh rất thấp Thử nghiệm một số biện pháp ấp trứng như: ấp trong chậu có sục khí, trong khay ấp trứng Rô phi nhưng phôi chỉ phát triển đến 56 giờ chứ
không nở thành cá bột
Trong thời gian từ năm 2002 - 2004, Nguyễn Đức Tuân, Khương Văn Thưởng, Lê Thiên Lý đã tiến hành đề tài: “Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cá Lăng chấm trong điều kiện ao nuôi” thu được kết quả tốt Qua các kết quả nghiên cứu từ năm 2002 đến nay cho thấy Cá Lăng thích nghi tương đối tốt với môi trường nuôi ao, chúng sinh truởng nhanh, tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 58-142 gam/ tháng Trong năm 2004 với việc áp dụng kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ bằng thức ăn tươi sống, kéo dài thời gian bơm nước tạo dòng chảy và phun mưa nhân tạo trong ao đã thu được những kết quả rất khích lệ Tỷ lệ cá bố mẹ thành thục và tỷ lệ cá đẻ đạt trên 90%, tỷ lệ thụ tinh trung bình 76%, tỷ lệ nở trung bình 58%, kết quả này cao hơn đáng
kể so với năm 2002 và 2003
Căn cứ trên các kết quả nghiên cứu, đề tài đã xây dựng được quy trình sản xuất giống cá Lăng chấm và đã được hội đồng nghiệm thu cấp Bộ thông qua Đề tài đã bố trí các thí nghiệm ương nuôi cá bột, cá hương và cá giống và tìm ra mật độ nuôi, loại thức ăn phù hợp Năm 2003 đã thu được 7800 cá bột,
5000 cá giống, năm 2004 thu được 194000 cá bột, trên 12 vạn cá hương và cá giống Tỷ lệ sống khi ương cá bột thành cá hương và ương từ cá hương thành cá giống đạt trên 80% Đề tài cũng đã thử nghiệm nuôi cá thương phẩm bằng các loại thức ăn tươi sống, thức ăn chế biến có hàm lượng đạm thô dao động
Trang 2135 - 40 - 45% Kết quả nuôi thương phẩm cho thấy tốc độ tăng trưởng của cá tăng dần khi cho ăn thức ăn có hàm lượng đạm tăng lên và cao nhất khi cho
ăn thức ăn tươi sống (Nguyễn Đức Tuân và cs, 2004) [6]
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu về cá Lăng Chấm trên thế giới
Trên thế giới, cá Lăng chấm phân bố trên sông Tây Dương, sông Nguyên (Vân Nam - Trung Quốc) Các đặc điểm hình thái, phân loại đã được công bố trong các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả: Chevey et lemasson (1937) Ngũ Hiến Văn (1963); Chu Xinluo, Chen Yinrui (1989)
Từ năm 1997 đến năm 2000, trại cá giống đặc sản Long Phát ở Thuận Đức tỉnh Quảng Đông đã cho đẻ nhân tạo thành công cá Lăng chấm ở quy mô sản xuất thử nghiệm bước đầu Báo cáo tổng kết của tác giả Hứa Chấn Bình (2003) cho rằng kỹ thuật đẻ cá Lăng rất khó, yêu cầu kỹ thuật cao, báo cáo này đã được công bố trong tạp chí Nghề cá nước ngọt của Trung Quốc số 2 năm 2001 Theo báo cáo của Hứa Chấn Bình, việc nuôi vỗ thành thục cá Lăng chấm đóng vai trò rất quan trọng trong kỹ thuật sinh sản nhân tạo và sản xuất giống cá Lăng chấm Thuốc dùng tiêm kích thích cho cá bố mẹ là LRHa + Dom với liều lượng rất thấp , cho cả 2 lần tiêm là 3,5 µg LRHa + 4mg Dom Thụ tinh nhân tạo cho trứng bằng phương pháp thụ tinh khô Kỹ thuật ấp trứng cá Lăng chấm của tác giả Hứa Chấn Bình tương tự với kỹ thuật ấp trứng cá trê ở Việt Nam là rải trứng trên giá thể Có thể ương cá bột bằng động vật phù du hoặc ấu trùng Artemia, luân trùng, trùng chỉ, thức ăn của cá Chình (Hứa Chấn Bình, 2011) [2]
Hiện nay, cá Lăng chấm đang được nuôi phổ biến tại tỉnh Quảng Đông, sản phẩm chủ yếu cung cấp cho các thị trường Hồng Kông, Ma Cao và Nhật (Hứa Chấn Bình, 2011) [2]
Cá Lăng là một trong 4 loài cá đặc sản có kích thước lớn trên sông Tây (Tây Giang) và có ở sông Bắc Giang, là các sông nhánh thượng lưu của sông Chu (Chu Giang) thuộc tỉnh Quảng Đông Người Quảng Đông thường gọi là Cá Lăng Tây Giang hay Cá Lăng râu trắng Nguồn lợi tự nhiên cá lăng khai thác ngày càng cạn kiệt, nhưng nhu cầu và giá Cá Lăng trên thị trường Quảng
Trang 22Đông, Hồng Công và Macao ngày càng tăng Bước đầu địa phương đã sản xuất được con giống để phát triển nghề nuôi Cá Lăng Từ năm 1997 đến năm
2000, Trại cá giống đặc sản Long phát ở Thuận Đức tỉnh Quảng Đông đã cho
đẻ nhân tạo thành công Cá Lăng trong 4 năm liền ở quy mô sản xuất thử nghiệm bước đầu (Ngũ Hiến Văn, 1963) [8]
Sau thành công về nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo tại Trung Quốc, năm 2000 tác giả Dương Gia Kiên thuộc Viện nghiên cứu thuỷ sản tỉnh Quảng Tây đã công bố tài liệu hướng dẫn nuôi thương phẩm Cá Lăng Chấm
Theo tác giả, những khâu kỹ thuật quan trọng trong nuôi thương phẩm Cá Lăng chấm bao gồm: điều kiện ao nuôi phải tốt, nước sạch đảm bảo hàm lượng oxy hoà tan trên 6mg/l, diện tích ao dao động 0,10-0,25 ha, độ sâu nước tối thiểu 1,6m và cần lắp máy quạt nước; mật độ thả cá giảm dần theo sự tăng về trọng lượng của cá, dao động từ 23000-30000 con/ha đối với cỡ
cá 50-75 gram và giảm xuống 6000-7500 con/ ha đối với cỡ cá 1000gram Trong ao nuôi Cá Lăng có thể ghép thêm Cá Mè Trắng và Cá Mè Hoa làm sạch nước Thành phần dinh dưỡng chủ yếu trong thức ăn của Cá Lăng và nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày của 100 gram cá gồm 1,2-1,3 gram protein, 0,18-0,75 gram chất béo, 0,24 gram chất xơ, 0,1 gram muối khoáng và chất bổ sung dinh dưỡng Một số bệnh thường xuất hiện trong giai đoạn cá giống và cá thương phẩm gây thiệt hại nặng bao gồm bệnh trùng mỏ neo, bệnh xuất huyết
750-2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu về cá Lăng Chấm tại Việt Nam
Ở nước ta, Cá Lăng Chấm đã được các tác giả Nguyễn văn Hảo (1967, 1993), Mai Đình Yên (1978, 1983) nghiên cứu về hình thái, phân loại, phân bố Kết quả cho thấy Cá Lăng Chấm thuộc bộ Cá Nheo Siluriformes, họ Cá Lăng Bagridae, giống Cá Lăng Hemibagrus và tên là Hemibagrus guttatus (Lacépède, 1803), Cá Lăng còn có tên khác là Mystus elongatus (Gunther, 1865), Macrones elongatus Tên thường gọi của Cá Lăng là Cá Lăng (lúc lớn) và Cá Quất (lúc nhỏ)
Họ Cá Lăng Bagridae ở Việt nam có 18 loài thuộc 7 giống trong đó giống Hemibaggrus có ba loài, (Nguyễn Văn Hảo, 1993) [4] Trong các loài
Trang 23thuộc họ Bagridae thì Cá Lăng Chấm H guttatus là loài có kích thước lớn nhất, phân bố rộng rãi ở thượng lưu và trung lưu các sông suối lớn ở miền Bắc nước ta Cũng thuộc họ này có Cá Lăng nam Mystus nemurus (Cuvier
&Valencieness) phân bố chủ yếu ở miền Nam, là loài có giá trị kinh tế cao, kích thước lớn, có thể đạt tới 80cm (Nguyễn Văn Hảo, 1993) [4]
Trước thực trạng suy giảm nguồn lợi một số loài cá quý hiếm tự nhiên, năm 1997-1999 Bộ Thuỷ sản đã giao cho Viện nghiên cứu nuôi trồng Thuỷ sản 1 thực hiện đề tài "Điều tra nghiên cứu hiện trạng và biện pháp bảo vệ, phục hồi một số loài cá hoang dã quí hiếm có nguy cơ tuyệt chủng trên hệ thống sông Hồng: Cá Anh vũ Semilabeo notabilis (Peters, 1880); Cá Bỗng Spinibarbus denticulatus (oshima, 1926); Cá Lăng Hemibagrus guttatus (Lacépède, 1803), Cá Chiên Bagarius yarrelli (Sykes, 1841)” Nghiên cứu này đã nêu lên được những đặc điểm sinh học của Cá Lăng như về sinh trưởng: Cá Lăng Chấm thuộc loại cá sinh trưởng tương đối nhanh Trong bốn năm đầu, cá tăng nhanh về chiều dài đạt 13 - 17 cm, sau đó giảm dần, ở tuổi 9+
-
12+ còn 4 - 7cm/năm Cá tăng chậm về khối lượng trong những năm đầu: năm
1 tuổi 30 - 60 gam/năm, 2 tuổi 190 - 240 gam/năm Tăng nhanh từ năm thứ 4 đạt 1000 - 1400 gam/năm, những năm cuối giảm Là loài cá dữ điển hình, tỷ lệ chiều dài ruột /chiều dài thân bằng 89,35% Thức ăn chủ yếu của cá lăng là cá, tôm, côn trùng, giun, cua chiếm 28-60% về tần số gặp, 15,8-36,0% về khối lượng Cá cái thành thục ở tuổi 3+, cỡ nhỏ nhất chiều dài là 61 cm, trọng lượng 1,6 kg Cá đực thành thục ở tuổi 4+, cỡ cá nhỏ nhất chiều dài là 72 cm, trọng lượng 2,7 kg Tuy nhiên chỉ có 25% cá cái và 20% cá đực thành thục ở
cỡ tuổi đó Sức sinh sản cá Lăng thấp, hệ số thành thục trung bình 7,48; sức sinh sản tuyệt đối của cá tuổi 3+
- 11+ đạt 6342 - 54575 hạt, sức sinh sản tương đối trung bình đạt 3750 hạt/kg Trong tự nhiên, Cá Lăng sinh sản từ cuối tháng 4 tới đầu tháng 9 Cũng trong khuôn khổ của đề tài này, do kinh phí và thời gian hạn hẹp nên chỉ tiến hành thu thập được một số lượng nhỏ cá bố mẹ đã thành thục ngoài tự nhiên cho sinh sản nhân tạo và đã thu được cá bột, tuy nhiên các chỉ tiêu như tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở còn rất thấp (Mai Đình Yên, 2000) [11]
Trang 24Năm 2000-2001, Đề án: Lưu giữ nguồn gen và giống thuỷ sản bước đầu thuần hoá Cá Lăng trong điều kiện ao nuôi Kết quả cho thấy Cá Lăng có khả năng sinh trưởng, phát dục và thành thục trong điều kiện nuôi ở ao nước tĩnh Trong quá trình sinh sản nhân tạo đã thu được trứng của 5 con cá cái nhưng tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở rất thấp
Trong thời gian từ đầu năm 2002 tới nay, Viện nghiên cứu nuôi trồng Thuỷ sản 1 đã tiến hành đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo Cá Lăng Chấm trong điều kiện nuôi” và đã thu được những kết quả khả quan Năm 2003 Viện đã sản xuất được 7800 cá bột, 5000 cá giống Năm 2004 sản xuất được 20 vạn cá bột, trên 12 vạn cá hương và cá giống Cá Lăng Chấm Các chỉ tiêu khoa học kỹ thuật về sản xuất giống như tỷ lệ cá đẻ, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, tỷ lệ sống khi ương nuôi cá bột, cá hương và cá giống đạt tương đối cao Một số khâu kỹ thuật sẽ được khắc phục nhằm nâng cao hơn nữa các chỉ tiêu sinh sản nhưng nhìn chung đã làm chủ được kỹ thuật sinh sản đối tượng này và có thể chủ động cung cấp giống cũng như chuyển giao kỹ thuật tới các địa phương khi nghề nuôi Cá Lăng đã được phát triển trên quy mô rộng rãi Thử nghiêm ban đầu về nuôi cá thương phẩm Cá Lăng Chấm cho thấy cá có thể sinh trưởng, phát triển trong điều kiện nuôi ao Cá ăn được thức
ăn chế biến dạng viên chìm và tăng trưởng nhanh khi ăn thức ăn có tỷ lệ protein cao Đây là những cơ sở khoa học quan trọng cho những nghiên cứu tiếp theo về kỹ thuật nuôi thương phẩm Cá Lăng trong thời gian sắp tới (Nguyễn Đức Tuân và cs, 2004) [6]
Kết quả thuần hoá cá bố mẹ nuôi trong ao nước tĩnh cho thấy tốc độ tăng trưởng của cá bố mẹ đã được thuần hoá có trọng lượng trên 2-3kg/con được cho ăn thức ăn tươi sống đạt trung bình 1100-1400 gram/năm và hệ số tiêu tốn thức ăn khoảng 12-13kg cá tạp /kg cá bố mẹ tăng trọng Đề tài cũng đã nuôi thử nghiệm Cá Lăng giống cỡ 50 gram /con bằng thức ăn chế biến có hàm lượng đạm thô lên đến 45% trong thời gian 8 tháng nhưng tốc độ tăng trưởng còn chậm và do ảnh hưởng của Cá Rô phi trong ao nên chưa tính được chính xác hệ số thức ăn
Trang 25Trong khi những đối tượng thuỷ sản nước ngọt được nhập nội gần đây chưa mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt do những ảnh hưởng về sự khác nhau về điều kiện khí hậu, ứng dụng công nghệ thì việc sử dụng những đối tượng thuỷ sản hoang dã có giá trị kinh tế cao mang những gen chống chịu tốt đã được gia hoá là việc cần thiết làm phong phú tập đoàn cá nuôi nước ngọt Với những thành công trong nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo Cá Lăng trong thời gian vừa qua có thể chủ động cung cấp giống cho nghề nuôi Tuy nhiên,
để có thể phát triển nuôi rộng rãi những đối tượng này thì việc xây dựng công nghệ nuôi là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng hàng đầu
2.3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Cá bố mẹ có trọng lượng 1,6 - 8,0 kg/con được nuôi vỗ tại Trại giống Thuỷ Sản Cấp I Phú Nhuận
+ Cá Lăng Chấm bột
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được tiến hành trên đàn cá Lăng Chấm
(Hemibagrus guttatus) tại Trại giống Thuỷ Sản cấp I Phú Nhuận
2.3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm tại Trại giống Thuỷ Sản Cấp I xã Phú Nhuận, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai
- Thời gian : Chuyên đề được thực hiện từ ngày 26/12/2011 đến ngày 31/05/2012
2.3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi
* Nội dung nghiên cứu
- Quy trình nuôi vỗ cá bố mẹ
- Quy trình sinh sản nhân tạo
- Quy trình ương nuôi cá Lăng Chấm từ giai đoạn từ cá bột lên cá hương
* Các chỉ tiêu theo dõi
- Tỉ lệ thành thục cá bố mẹ
- Tỉ lệ đẻ cá bố mẹ
- Tỉ lệ thụ tinh của trứng
Trang 26- Tỉ lệ nở của của cá bột
- Tỉ lệ dị hình của cá bột
- Tỉ lệ sống của cá bột lên cá hương
- Các yếu tố môi trường: to, pH, DO
2.3.4 Cơ sở vật chất, trang thiết bị và các dụng cụ phục vụ cho sinh sản
cá Lăng Chấm
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị
+ Ao nuôi vỗ cá bố mẹ + Ao ương cá giống
+ Bể ấp trứng + Một số vật liệu khác
+ Bể ương cá hương
- Dụng cụ phục vụ cho Lăng Chấm sinh sản
+ Kim tiêm + Lông gà
+ Thau nhựa + Một số dụng cụ khác
+ Cối sứ
2.3.5 Phương pháp nghiên cứu
Hình 2.1 Sơ đồ sinh sản nhân tạo cá lăng chấm
quy trình nuôi vỗ cá mẹ
Chọn cá nuôi vỗ
Quy trình cho đẻ
chăm sóc
và quản lý Quy trình ấp trứng
Quy trình ương từ cá bột lên cá hương 30 ngày tuổi
quản lý môi
trường nước
Trang 272.3.5.1 Phương pháp nuôi vỗ cá bố mẹ
* Phương pháp chọn cá bố mẹ vào nuôi vỗ
- Cá được chọn làm bố mẹ phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau:
+ Trọng lượng > 1,5kg/con
+ Cá đực và cá cái có nguồn gốc khác nhau về vùng địa lý và bố mẹ + Cá mạnh khỏe, không nhiễm bệnh, không dị hình, không sây sát và không mất nhớt
+ Màu sắc lưng cá xám, bụng trắng
- Điều kiện ao nuôi vỗ cá bố mẹ:
+ Ao hình chữ nhật, diện tích ao là 800m2
+ Độ sâu mực nước 1,2-1,5m, độ sâu bùn đáy là 25 cm
+ Ao thông thoáng, ít hoặc không có bóng râm che mặt nước
+ Nguồn nước cấp cho ao chủ động, trong sạch, không nhiễm phèn, không nhiễm mặn
+ Ao có độ trong cao 30-40cm
+ Ao được lắp đặt 2 máy bơm có công suất 1,5 KW/chiếc để tạo dòng chảy nhân tạo trong ao, đồng thời lắp đặt 4 máy bơm nước có công suất 0,75KW/chiếc và dàn phun mưa đảm bảo nước phun đều khắp ao
- Mật độ nuôi vỗ: 18 - 22 kg/ 100m2, tỷ lệ đực cái là 1: 1
- Nuôi ghép cá mè trắng, mè hoa trong ao (Nguyễn Đức Tuân, 2005) [7]
* Chế độ chăm sóc và quản lý ao nuôi
- Thức ăn và chế độ cho ăn: Thức ăn để nuôi vỗ cá Lăng gồm: cá mè
hoa, các loại cá tạp được băm thành miếng cỡ 2 x 3cm, tôm để nguyên con Tỷ lệ cá và tôm cho cá ăn theo trọng lượng là 3/1 Từ tháng 02 cho tới khi cá
đẻ xong hoàn toàn cho cá ăn theo khẩu phần này với mức 2 - 5% trọng lượng cá trong ao Giai đoạn sau khi cá đẻ xong tới tháng 02 chỉ cho cá Lăng ăn cá tạp băm nhỏ mà không cần cho ăn tôm Ngày cho cá ăn 1 lần vào 15 giờ
- Chế độ bổ sung và kích nước trong ao nuôi vỗ: bơm nước sạch bổ sung vào ao định kì đảm bảo chất lượng nước tốt và giữ mức nước cao nhất trong ao:
+ Tháng 12 bơm nước tuần hoàn 4 giờ/ngày