1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của toà án trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân

415 1,5K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của toà án trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân
Trường học Học viện Tư pháp
Chuyên ngành Luật và Quản lý Nhà nước
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 415
Dung lượng 2,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những đòi hỏi của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và thực trạng tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp đã trình bày trên đây, việc nghiên cứu thực hiện đề tài KX 04

Trang 1

CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC XÃ HỘI CẤP NHÀ NƯỚC (2001 – 2005)

XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA

NHÂN DÂN, DO NHÂN DÂN, VÌ NHÂN DÂN

MÃ SỐ: KX 04

===[·¶]===

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI KX.04.06 CẢI CÁCH CÁC CƠ QUAN TƯ PHÁP, HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CÁC THỦ TỤC TƯ PHÁP, NÂNG CAO HIỆU QUẢ VÀ HIỆU LỰC XÉT XỬ CỦA TOÀ ÁN TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN

Chủ nhiệm đề tài: TS UÔNG CHU LƯU Thư ký đề tài: TS DƯƠNG THỊ THANH MAI

6443

03/7/2007

Hà Nội 2006

Trang 2

8 TS Nguyễn Thanh Thuỷ

9 TS Nguyễn Văn Tuân

16 TS Phan Hữu Thư

17 TS Nguyễn Văn Luật

18 LG Ngô Văn Thâu

19 Th.s Nguyễn Văn Hiển

Trang 3

PLTTGQTCLĐ Pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động TANDTC Toà án nhân dân tối cao

VKSNDTC Viện Kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 4

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của Đề tài 12

6 Những điểm mới trong kết quả nghiên cứu của Đề tài

7 Cơ cấu báo cáo tổng hợp của Đề tài

1416

CHƯƠNG I: QUYỀN TƯ PHÁP VÀ VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN TƯ

PHÁP TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ

NGHĨA CỦA NHÂN DÂN, DO NHÂN DÂN VÀ VÌ NHÂN DÂN

17

I QUYỀN TƯ PHÁP THEO QUAN ĐIỂM TỔ CHỨC, THỰC THI QUYỀN

LỰC NHÀ NƯỚC TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM XÃ HỘI

CHỦ NGHĨA

17

1 Quyền tư pháp trong tổ chức, phân công lao động quyền lực nhà nước 18

1 Khái niệm, phạm vi và đặc trưng của các thủ tục tư pháp ở Việt Nam 67

3 Các yêu cầu đổi mới thủ tục tư pháp trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp

quyền

71

Trang 5

6 Thủ tục tố tụng hành chính và thi hành án hành chính 77

1 Vị trí, vai trò trung tâm của Toà án trong hệ thống tư pháp 78

2 Những yêu cầu của Nhà nước pháp quyền đối với tổ chức và hoạt động của

toà án

82

CHƯƠNG II: TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN TƯ

PHÁP THỜI KỲ ĐỔI MỚI (TỪ ĐẠI HỘI VI ĐẾN ĐẠI HỘI IX)

95

I KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN TƯ

PHÁP VIỆT NAM TRƯỚC ĐẠI HỘI ĐẢNG VI (1986)

95

II SỰ PHÁT TRIỂN QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ

HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP TỪ KHI THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI

(1986) ĐẾN NAY

102

1 Nhận thức của Đảng về vị trí của đổi mới các cơ quan tư pháp trong tiến trình

thực hiện đường lối đổi mới

102

2 Những quan điểm, chủ trương cụ thể của Đảng về cải cách tư pháp theo định

hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì

nhân dân

107

III THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ

QUAN TƯ PHÁP, THỦ TỤC TƯ PHÁP TỪ ĐẠI HỘI ĐẢNG VI ĐẾN NAY

114

1 Một số thành tựu chung về đổi mới tổ chức và hoạt động các cơ quan tư pháp 115

2 Đổi mới tổ chức và hoạt động của từng loại cơ quan tư pháp 120

CHƯƠNG III: CẢI CÁCH TƯ TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ

NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN

237

I QUAN NIỆM CẢI CÁCH TƯ PHÁP, CÁC TIỀN ĐỀ VÀ THÁCH THỨC

ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở NƯỚC TA TRONG ĐIỀU

237

Trang 6

KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN

1 Quan niệm về cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp

quyền XHCN Việt Nam

237

2 Các tiền đề và thách thức đối với công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta hiện

nay

239

II/ MỤC TIÊU, CÁC QUAN ĐIỂM KHOA HỌC VỀ CẢI CÁCH TƯ PHÁP

TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN CỦA

DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

242

1 Phương pháp luận và các cách tiếp cận nghiên cáu để hình thành các quan

điểm khoa học về cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp

quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

243

3 Các quan điểm cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp

quyền XHCN

245

III/ CÁC YÊU CẦU CƠ BẢN ĐỐI VỚI CẢI CÁCH HỆ THỐNG TƯ PHÁP

TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI

CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

252

1 Yêu cầu Tư pháp dân chủ, gần dân, hiểu dân, giúp dân 252

2 Yêu cầu Tư pháp công khai, nghiêm minh, công bằng, nhân đạo, trách nhiệm

trước dân, trước nhà nước

253

3 Yêu cầu đảm bảo nguyên tắc độc lập, khách quan của các cơ quan và chức

danh tư pháp trong khi thực hiện quyền tư pháp

254

3 Cải cách tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát 272

4 Cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra 275

5 Cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan Thi hành án 277

Trang 7

8 Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh 307

Trang 8

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, quyền lực Nhà nước thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp Quyền tư pháp là một trong ba quyền hợp thành quyền lực Nhà nước, được hiểu là hoạt động xét xử của các Toà án và những hoạt động của cơ quan Nhà nước, các tổ chức khác trực tiếp liên quan đến hoạt động xét xử của Toà án như điều tra, công tố, bổ trợ tư pháp, nhằm bảo

vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, pháp chế xã hội chủ nghĩa, lợi ích hợp pháp của công dân, tôn trọng và duy trì công lý Toà án nhân dân là nơi biểu hiện tập trung quyền tư pháp,

sử dụng công khai các kết quả của hoạt động điều tra, công tố, bào chữa, giám định tư pháp thông qua các thủ tục tố tụng do luật định để đưa ra phán quyết cuối cùng thể hiện quyền lực Nhà nước Hoạt động xét xử của Toà án nhân dân cũng là nơi thể hiện chất lượng hoạt động và uy tín của hệ thống cơ quan tư pháp nói riêng và của toàn bộ hệ thống cơ quan Nhà nước nói chung Với ý nghĩa đó, việc cải cách các cơ quan Tư pháp

và các hoạt động tư pháp là đòi hỏi tự thân, xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của quyền tư pháp trong cơ cấu quyền lực nhà nước

Qua 60 năm xây dựng và trưởng thành, hệ thống tư pháp đã đạt được những thành tựu quan trọng Trong phạm vi, chức năng và nhiệm vụ của mình, các cơ quan tư pháp đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ và củng cố chính quyền Cách mạng của nhân dân, bảo vệ chế độ XHCN, pháp chế XHCN và quyền dân chủ của nhân dân, bảo

vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, của nhân dân, bảo vệ tính mạng, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân

Cải cách tư pháp là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, được Đảng và Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo Trong những năm qua, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị Đảng CSVN đã có một số Nghị quyết, Chỉ thị về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước và Pháp luật, trong đó có nhấn mạnh đến nội dung đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp như Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa VII); Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa VIII), Nghị quyết trung ương 7 (Khóa VIII); Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX; Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị "về một số nhiệm

vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới"; và đặc biệt là ngày 2 tháng 6 năm

2005 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49 – NQ/TW "về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020" Theo đó, vấn đề đổi mới, cải cách hệ thống cơ quan tư pháp từ tổ

Trang 9

chức đến cơ chế hoạt động, năng lực của cán bộ đã được quán triệt là nhiệm vụ cấp bách của toà Đảng, toàn dân và toàn quân nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc xây dựng các cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, hướng tới xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và

vì dân

Thể chế hoá chủ trương của Đảng, trong 20 năm đổi mới vừa qua, Việt Nam đã

có nhiều nỗ lực trong việc cải cách bộ máy nhà nước nói chung và cải cách tư pháp nói riêng Nhờ đó, tư pháp Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng, tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp đã được củng cố và phát triển từng bước đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước

Tuy nhiên, những kết quả đó mới là bước đầu và mới tập trung vào giải quyết những vấn đề bức xúc nhất Công tác tư pháp còn bộc lộ nhiều hạn chế "Tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của các cơ quan tư pháp còn bất hợp lý Đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp còn yếu, thậm chí có một số cán bộ sa sút về phẩm chất, đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp Vẫn còn tình trạng oan, sai trong điều tra, bắt, giam giữ, truy tố, xét xử Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc của cơ quan tư pháp còn thiếu thốn, lạc hậu.”(1)

Cùng với những hạn chế nêu trên, nhiệm vụ cải cách tư pháp đang đứng trước nhiều thách thức Cụ thể:

- Tình hình phạm tội diễn biến phức tạp, một số loại tội phạm có chiều hướng gia tăng về số vụ, với tính chất và hậu quả ngày càng nghiêm trọng, thủ đoạn tội phạm tinh

vi, có tổ chức chặt chẽ và nguy hiểm hơn Tội phạm tham nhũng chưa được ngăn chặn

có hiệu quả Đối tượng phạm tội là thanh thiếu niên và người nước ngòai chiếm tỷ lệ ngày càng cao Loại tội phạm có tổ chức hoạt động theo kiểu “xã hội đen”, tội phạm khủng bố, bắt cóc con tin, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm trong lĩnh vực tin học… sẽ diễn biến phức tạp và có xu hướng ngày càng gia tăng

- Các khiếu kiện hành chính, các tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động, và các loại khiếu kiện và tranh chấp có yếu tố nước ngoài có chiều hướng tăng về số lượng và phức tạp, đa dạng hơn

1

Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49 – NQ/TW "về Chiến lược cải cách tư pháp"

Trang 10

- Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với các cơ quan tư pháp ngày càng cao Việc

xử lý tội phạm, giải quyết các khiếu kiện, bảo vệ quyền công dân phải được thực hiện có hiệu quả, kịp thời, nghiêm minh, bảo đảm công lý Các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm

- Sự phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội của đất nước cũng đặt ra yêu cầu phải đề ra những nội dung cải cách tư pháp sao cho phù hợp, thống nhất, đồng bộ với đổi mới hoạt động lập pháp, cải cách hành chính

Xuất phát từ những đòi hỏi của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và thực trạng tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp đã trình bày trên đây, việc nghiên cứu thực hiện đề tài KX 04-06 "Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của Toà án trong nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân" là cần thiết Thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả

và hiệu lực xét xử của Toà án phù hợp với quá trình đổi mới công tác lập pháp và chương trình cải cách hành chính

2 Tình hình nghiên cứu

2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước

Nhằm góp phần hoàn thiện các vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp, thời gian qua các cơ quan chức năng như Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an đã có nhiều chương trình trao đổi và hợp tác với các cơ quan của các nước Pháp, Đức, Thuỵ Điển, Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, Canada và các tổ chức quốc tế như WB, ACB, UNDP, SIDA, JICA về hoạt động tư pháp Trong đó có nhiều Hội nghị, Hội thảo, Toạ đàm, khảo sát thực tế trong và ngoài nước đã cho chúng ta một bức tranh nhiều mầu sắc về tổ chức

và hoạt động hệ thống cơ quan tư pháp của các nước Ngoài ra, ở các nước cũng có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này như: Phương hướng cải cách tư pháp của nước ngoài - Lưu Lập Hiến, Tạ Bằng Toàn; Quyền tư pháp trong hệ thống phân chia quyền lực - A.P Phô-côv; Từ việc hình thành hệ thống tư pháp tới việc cải cách tư pháp

- X.Vư-sin-xki; Quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền - G.I.Ni-ki-phi-ô-rop; Hệ

Trang 11

thống tư pháp hình sự Italia, Vai trò công tố viên trong hệ thống tư pháp hình sự Hoa

Kỳ, Quyền tư pháp ở Cộng hoà Belarus – thực trạng và triển vọng phát triển

Đây là những kinh nghiệm quý giúp cho chúng ta có cái nhìn bao quát về hệ thống tư pháp các nước trên thế giới để từ đó lựa chọn một mô hình tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN

2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Những định hướng lớn về cải cách tư pháp nói riêng và cải cách bộ máy nhà nước nói chung liên tục được đề cập qua các kỳ Đại hội Đảng VI, VII, VIII và IX là nền tảng tư tưởng vững chắc cho công cuộc đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp nước ta Chúng ta cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu khá đa dạng và tương đối cụ thể về cải cách tư pháp dưới nhiều góc độ khác nhau, điển hình là các đề tài khoa học cấp nhà nước: "Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy lập pháp, hành pháp, tư pháp ở nước ta gắn với nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN"

- 1993; "Cải cách hệ thống tư pháp Việt Nam" - 1992; "Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động của thi hành án Việt Nam trong giai đoạn mới" - 2000; các đề tài khoa học cấp bộ như: "Đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân" - 1990; "Xây dựng mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án" - 1996; "Hoàn thiện chế định hội thẩm nhân dân trong điều kiện cải cách tư pháp" - 1998; "Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xã hội hoá một số hoạt động của cơ quan tư pháp" - 1998, v.v Ngoài ra, còn có một số công trình khoa học có giá trị tham khảo như: sách "Tổng hợp các kiến nghị khoa học góp phần đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp" - Viện nghiên cứu khoa học pháp lý 2000; "Nhà nước và pháp luật của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới" - GS.TSKH Đào Trí Úc; "Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam", v.v

Các công trình khoa học này đã góp phần làm rõ hơn các vấn đề lý luận và thực tiễn về mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp nước ta, phúc đáp những yêu cầu bức xúc của cuộc sống Trong số đó, có nhiều kiến giải, luận điểm khoa học đã được vận dụng vào thực tiễn và thu được những kết quả khả quan, như: chế độ

bổ nhiệm thẩm phán; thành lập các toà kinh tế, lao động, hành chính; cơ cấu hội đồng xét xử của các toà án này đã thay đổi theo hướng tăng tỷ lệ Thẩm phán cao hơn Hội thẩm nhân dân; thẩm quyền xét xử của Toà án cấp huyện từng bước được mở rộng để tiến tới xây dựng toà án theo nguyên tắc hai cấp xét xử; xác định rõ hơn thẩm quyền của

Trang 12

đề mặc dù đã được Nghị quyết Đảng chỉ rất rõ nhưng đến nay vẫn chưa được thể chế hoá thành pháp luật Tình hình này có nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó có nguyên nhân là do nhiều vấn đề về mặt lý luận về cải cách tư pháp chưa được giải quyết triệt để

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của Đề tài

Mục tiêu tổng quát của đề tài KX.04.06 là xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu lực và hiệu quả xét xử của tòa án phù hợp với các yêu cầu, đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân

Để thực hiện được mục tiêu này, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ:

- Làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn khái niệm, vị trí, vai trò, bản chất, đặc trưng của các cơ quan tư pháp trong bộ máy nhà nước;

- Đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp;

- Phương hướng cải cách các cơ quan tư pháp; xác định mô hình tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của Đề tài

Cơ sở phương pháp luận thực hiện đề tài là Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam Cách tiếp cận của Ban chủ nhiệm đề tài là cách tiếp cận tổng thể: đặt mỗi cơ quan trong một tổng thể các cơ quan tư pháp có mối quan hệ tương tác lẫn nhau và đặt hệ thống các cơ quan tư pháp trong mối tương quan với hệ thống các cơ quan lập pháp và hành pháp của Nhà nước

Trang 13

Ngoài các phương pháp nghiên cứu cơ bản là phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp suy luận logic, đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu bằng cả một số phương pháp nghiên cứu đặc thù khác như:

- Phương pháp nghiên cứu lịch sử: trong lĩnh vực tư pháp, số lượng các đề tài đã triển khai nghiên cứu tương đối nhiều Tuy còn có hạn chế về nhận thức, về quan điểm đổi mới và về tính hệ thống nhưng mỗi đề tài đều đã đạt được những kết quả nhất định

có thể được kết thừa một cách có chọn lọc Phương pháp này sẽ góp phần làm phong phú lượng thông tin đầu vào của đề tài

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: trước đây, do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, việc nghiên cứu của chúng ta thường mang nặng tính lý luận Để tạo các luận

cứ vững chắc cho nghiên cứu lý luận và nâng cao sức thuyết phục và tính khả thi của các kiến nghị, đề tài chú trọng công tác nghiên cứu thực tiễn được thực hiện thông qua các cuộc điều tra xã hội học, khảo sát

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: mỗi vấn đề và cách giải quyết vấn đề đặt ra trong đề tài được so sánh, đối chiếu với các giai đoạn phát triển khác của lịch sử và đối chiếu với những yêu cầu về lý luận, khả năng đáp ứng của thực tiễn cũng như được so sánh với các vấn đề tương tự trong kinh nghiệm xây dựng hệ thống tư pháp của một số nước ngoài có điều kiện chính trị-kinh tế-xã hội và phát triển tương tự như của Việt Nam

5 Quá trình triển khai Đề tài

Đề tài KX 04 – 06 đã được triển khai nghiên cứu từ tháng 10/2001, thời gian thực hiện Đề tài là 36 tháng Cho đến nay, Đề tài đã thực hiện được tất cả các hạng mục công việc được xác định tại Đề cương và Hợp đồng nghiên cứu của Đề tài Cụ thể là:

- Đã xây dựng được hệ thống tài liệu cho các hoạt động nghiên cứu của Đề tài

- Tổ chức thành công 6 cuộc Hội thảo lớn tại Hà Nội và nhiều cuộc toạ đàm khác tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đăklăc, Quảng Bình

- Tiến hành điều tra, khảo sát thực tiễn ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đăklăc Điều tra xã hội học theo bảng hỏi và phiếu phỏng vấn sâu

- Đề tài đã triển khai nghiên cứu hoàn thành 29 chuyên đề nghiên cứu thuộc 5 nội dung được xác định trong Đề cương và 15 chuyên đề nghiên cứu độc lập

Trang 14

Đề tài đã được thực hiện với sự tham gia của các nhà khoa học và những người làm công tác thực tiễn ở: Bộ Tư pháp; Bộ Công an, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao; Toà án Nhân dân Tối cao; Trường Đại học Luật Hà Nội; các Sở Tư pháp Hà Nội, TP

Hồ Chí Minh, Đăklăc; Học viện Tư pháp

Trong quá trình nghiên cứu, Đề tài đã tổ chức nhiều cuộc toạ đàm nhằm tham gia đóng góp ý kiến và đóng góp sản phẩm cho các hoạt động của các cơ quan Đảng và Nhà nước như hoạt động của Tiểu ban Tổng kết lý luận – thực tiễn 20 năm đổi mới ở nước ta; Tiểu ban Cải cách tư pháp của Bộ Chính trị, hoạt động xây dựng Đề án về Chiến lược cải cách tư pháp, Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Ban soạn thảo các đạo luật và sửa đổi các đạo luật quan trọng như Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003; Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004; Bộ luật Dân sự 2005; Pháp lệnh giám định tư pháp 2005; các dự thảo Bộ luật Thi hành án, Luật về Luật sư, Luật Công chứng v.v

6 Những điểm mới trong kết quả nghiên cứu của Đề tài

Thứ nhất, đề tài là công trình chuyên khảo, nghiên cứu toàn diện, có hệ thống

về cơ sở lý luận, chính trị, pháp lý và thực tiễn về cải cách tư pháp ở Việt Nam mà từ trước đến nay chưa được giải quyết triệt để, thể hiện ở những điểm sau:

- Đề tài đã khái quát được bức tranh toàn cảnh của ngành tư pháp Việt Nam thông qua việc phân tích, đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, đồng thời tìm ra được nguyên nhân của hạn chế (đề tài không trình bày theo hướng liệt kê về thực trạng tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp)

- Đề tài đã luận giải được cơ sở lý luận và quá trình hình thành quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp từ 1986 đến nay; thực tiễn triển khai các Nghị quyết của Đảng

về cải cách tư pháp, giới hạn trong phạm vi các cơ quan điều tra, kiểm sát, toà án, thi hành án và nhóm cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp

- Trên cơ sở đó, đề tài đã xác định yêu cầu tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp có căn cứ khoa học, có tính khả thi, phù hợp với định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân

Thứ hai, làm rõ và chính xác hơn những nội dung đã được đề cập trước đây

• Làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn của nguyên tắc độc

lập xét xử của Toà án

Trang 15

Nội hàm của độc lập xét xử bao gồm cả độc lập với các tác động bên ngoài, độc lập giữa các cấp toà án, độc lập giữa thẩm phán và hội thẩm nhân dân và độc lập của tự thân thẩm phán và hội thẩm (trình độ, bản lĩnh và niềm tin nội tâm Nội dung của nguyên tắc độc lập xét xử cần được xem xét trên 3 mối quan hệ: Độc lập với bên ngoài; Độc lập trong nội bộ các toà án; và Độc lập của thẩm phán và hội thẩm nhân dân với chính bản thân mình Ngoài ra, độc lập xét xử ở cấp sơ thẩm khác với độc lập xét xử ở cấp phúc thẩm và giám đốc thẩm Sự độc lập của Thẩm phấn và Hội thẩm nhân dân phải trong khuôn khổ của pháp luật và không tách rời đường lối, chính sách của Đảng Các yếu tố ảnh hưởng tới độc lập xét xử: yếu tố pháp luật, yếu tố tổ chức, yếu tố con người

và các yếu tố về điều kiện làm việc

• Tranh tụng trong tố tụng

Pháp luật hiện hành đã có các quy định về tranh tụng nhưng chưa được thể hiện

rõ (tranh luận) Ban chủ nhiệm đề tài qua kết quả nghiên cứu đã từng bước giải mã những câu hỏi: tranh tụng là gì? tranh tụng bắt đầu từ giai đoạn nào? chỉ tranh tụng tại phiên toà hay tranh tụng trong các giai đoạn tố tụng khác, đặc biệt là giai đoạn điều tra; tranh tụng có ở giai đoạn phúc thẩm không? yêu cầu mở rộng tranh tụng trong giai đoạn hiện nay phải được thể chế như thế nào?

• Hiệu quả xét xử của Toà án

Xét xử là khâu trung tâm của toàn bộ hoạt động tố tụng với mục tiêu là tìm ra sự thật khách quan của vụ án, ra bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật (án hình sự), giải quyết tranh chấp đúng việc, đúng pháp luật, kịp thời (án dân sự, kinh tế ), có tác

dụng giáo dục, phòng ngừa chung Do vậy, có thể hiểu hiệu quả xét xử là mức độ đạt

được các mục tiêu trên

Về các tiêu chí cụ thể đánh giá hiệu quả xét xử, cần đề cập tới 5 loại tiêu chí là

tiêu chí về số lượng án xét xử so với án thụ lý, tiêu chí tuân thủ các quy định về luật thủ tục và luật nội dung, tiêu chí về chất lượng và tiêu chí về tính khả thi của bản án

Thứ ba, về các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp trong nhà nước pháp quyền

Hiện nay, trong số các nhà lý luận vẫn còn một số tranh luận xung quanh vấn đề thế nào là các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN của dân do dân vì dân; tiêu chí nào để xác định các nguyên tắc đó; nội hàm của mỗi nguyên tắc, v.v Qua nghiên cứu, Ban chủ nhiệm đề tài nhận thấy quan

Trang 16

Thứ tư, đề tài đã đưa ra bản thiết kế mô hình tổ chức của các cơ quan tư pháp

và bổ trợ tư pháp: Toà án, Viện Kiểm sát, cơ quan điều tra, thi hành án, các tổ chức luật sư, tư vấn pháp luật, giám định tư pháp, công chứng theo các đòi hỏi của nhà

nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

7 Cơ cấu Báo cáo tập hợp kết quả nghiên cứu của Đề tài

Mở đầu

Chương I Quyền tư pháp và việc thực hiện quyền tư pháp trong nhà nước pháp

quyền XHCN

Chương II Tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp thời kỳ đổi mới (từ

Đại hội VI đến Đại hội IX)

Chương III Cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền

XHCN của dân, do dân, vì dân

Kết luận và kiến nghị chung

Trang 17

CHƯƠNG I QUYỀN TƯ PHÁP VÀ VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN TƯ PHÁP TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA NHÂN DÂN, DO

NHÂN DÂN, VÌ NHÂN DÂN

I QUYỀN TƯ PHÁP THEO QUAN ĐIỂM TỔ CHỨC, THỰC THI QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Cho đến nay, trong các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý cũng như trong thực tiễn đời sống chính trị - pháp luật của Việt Nam còn có nhiều cách hiểu khác nhau

về quyền tư pháp, cơ quan tư pháp mà phần không nhỏ là do góc nhìn, cách tiếp cận khác nhau Sự thiếu thống nhất trong quan niệm và nhận thức về nội dung, vị trí của quyền tư pháp, hoạt động tư pháp, cơ quan tư pháp trong bộ máy nhà nước thể hiện không chỉ trong các tài liệu nghiên cứu mà còn ngay trong các văn kiện chính thức của Đảng và Nhà nước về nhà nước nói chung, về tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp nói riêng

Có thể khái quát một số cách tiếp cận chính về quyền tư pháp trong các tài liệu

nghiên cứu hiện nay Tư pháp từ góc độ ngữ nghĩa Hán – Việt, được hiểu là trông coi,

bảo vệ pháp luật Từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh giải thích tư pháp là pháp đình y theo pháp luật mà xét định các việc ở trong phạm vi pháp luật[2] Tư pháp, dịch từ thuật ngữ Justice có hai nghĩa – theo nghĩa hẹp, tư pháp là xét xử; theo nghĩa rộng, từ góc độ

triết lý, tư pháp được coi là ý tưởng cao đẹp về một nền công lý, ở đó, mọi vi phạm pháp luật đều được phát hiện và xử lý nghiêm minh, mọi tranh chấp trong xã hội được giải quyết hợp với lẽ phải và sự công bằng, các quyền tự do, dân chủ cơ bản của con người được bảo đảm, lòng tin của nhân dân vào pháp luật được duy trì[3] Từ góc độ tổ chức quyền lực nhà nước, theo học thuyết phân chia quyền lực khá phổ biến ở các nhà nước

tư sản, tư pháp là một nhánh quyền lực độc lập với quyền lập pháp, quyền hành pháp và đồng nghĩa với quyền xét xử (tài phán) do toà án thực hiện[4] Trong khi đó, khá phổ

2

Đào Duy Anh – Từ điển Hán – Việt, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1966

3 Nguyễn Đình Lộc- “Vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động các cơ quan tư pháp ở nước ta”- Tạp chí Dân chủ và

pháp luật, số chuyên đề 6/1995, tr.4-8, 32-35

4 Hiến pháp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, điều III, khoản 1 – “Quyền lực tư pháp của Hoa Kỳ sẽ được trao cho

Toà án tối cao và những toà án cấp dưới mà Quốc hội có thể thiết lập trong một số trường hợp”- Hiến pháp Nhật

Trang 18

là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực

hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”, Đề tài này sẽ nghiên cứu, luận giải quyền

tư pháp từ góc độ tổ chức, thực thi quyền lực nhà nước trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

1 Quyền tư pháp trong tổ chức, phân công lao động quyền lực nhà nước

Quyền lực nhà nước, xét theo thuộc tính, là một loại quyền lực xã hội đặc thù, được biểu hiện bằng một thiết chế xã hội đặc thù là bộ máy nhà nước Không có bộ máy nhà nước để biểu hiện thành một hiện thực sức mạnh, một lực lượng xã hội thì quyền lực nhà nước sẽ trở nên vô định, vô hiệu

Quyền lực nhà nước luôn là một thể thống nhất và được thực hiện bằng những phương thức, nguyên tắc đặc thù của bộ máy nhà nước theo một mục tiêu, định hướng nhất quán Đặc trưng của quyền lực nhà nước là nó tồn tại trong tư thế thường trực, vận hành thường xuyên không đứt đoạn theo một quy trình chặt chẽ có tính tái diễn liên tục, tương tự như một dòng điện xoay chiều, không ngừng, thông qua những khâu đoạn nhất định Ở từng khâu đoạn, quyền lực nhà nước được biểu hiện thành những thao tác nhất định, do những con người nhất định thực hiện, bằng những phương thức đặc thù, riêng biệt Như vậy, quyền lực nhà nước trong vận hành, thực thi gắn liền một cách hữu cơ với hoạt động của con người, với bộ máy Hoạt động vận hành quyền lực nhà nước trở thành một loại hình lao động đặc thù, có thể gọi bằng một tên chung là lao động quyền lực Lao động quyền lực ra đời là kết quả của sự phân công lao động xã hội của loài người

Trong quá trình vận hành, qua sự phát triển của lao động quyền lực thuộc các chế

độ xã hội khác nhau, trước nhu cầu phân loại hoá, khâu đoạn hoá quy trình thực thi quyền lực nhà nước, trước nhu cầu bảo đảm tính liên tục và một năng suất lao động quyền lực ngày càng cao hơn, đã xuất hiện sự phân công trong nội bộ bản thân lao động

Bản, điều 76- “Toàn bộ quyền tư pháp được giao cho Toà án tối cao và các Toà án cấp dưới được thành lập theo

pháp luật ”

Trang 19

quyền lực Lập pháp, hành pháp, tư pháp với tính cách là những phương thức thực thi, thể hiện quyền lực nhà nước là kết quả của sự phân công nội bộ ở từng khâu đoạn của quy trình lao động quyền lực nhà nước Sự định hình lao động lập pháp, hành pháp, tư pháp không phải là sản phẩm chủ quan, duy ý chí của con người mà bắt nguồn từ đặc trưng, tính khác biệt trong sự vận hành của quyền lực nhà nước ở các khâu đoạn khác nhau mà nếu thiếu một trong các khâu đoạn ấy quyền lực nhà nước sẽ không thể vận hành xuôn sẻ, không thể hiện được sức mạnh và hiệu lực của mình

Lập pháp là chức năng xã hội - chính trị đặc thù của Nhà nước nhằm thể chế hoá

nhu cầu xã hội thành các quy tắc xử sự có tính quy phạm, khuôn mẫu, phù hợp với ý chí của chủ thể cầm quyền, có tính bắt buộc chung đối với toàn xã hội F.Angghen đã kiến

giải chức năng chính trị - xã hội của quyền lập pháp rất đặc sắc: “Cũng như đối với từng

người riêng biệt, tất cả những động lực thúc đẩy hành động của con người đều nhất định phải qua đầu óc người đó, đều phải chuyển thành động cơ, ý chí của người đó để đưa người đó vào hành động, tất cả các nhu cầu của xã hội công dân - dù giai cấp nào đang thống trị - đều nhất thiết phải thông qua ý chí của nhà nước để có được giá trị bắt buộc chung, dưới hình thức một đạo luật”[6] S.L Môngteskiơ đã xác định cách thức

thực hiện quyền lập pháp “Quyền lập pháp thể hiện ý chí chung của Quốc gia phải được

giao cho một cơ quan đại diện bao gồm những người do dân chúng bầu ra”[7]

Hành pháp là một phương diện hoạt động, một chức năng chính trị- xã hội khác

của Nhà nước, đó là tổ chức thi hành, thực hiện pháp luật So với lập pháp, chức năng hành pháp được thực hiện theo quy trình ngược lại, nghĩa là lấy chính pháp luật đã ban hành làm cơ sở để triển khai, tổ chức đưa pháp luật trở về với xã hội, làm cho luật pháp

“thấm vào” từng quan hệ xã hội hay nói cách khác, quyền hành pháp chính là quyền

quản lý các mặt của đời sống xã hội theo pháp luật và bằng pháp luật Đặc trưng của

hành pháp là thừa hành, căn cứ vào pháp luật để tổ chức thi hành pháp luật trên quy mô toàn xã hội Đề cập một cách khái quát đặc trưng này của hành pháp, C.Mác có lần đã lưu ý: “Hành chính là hoạt động có tính tổ chức”[8] và trong quá trình đó, hành pháp thể hiện một phương thức hành sự đặc thù, rất tiêu biểu - chỉ huy, ban hành những mệnh

lệnh có tính điều hành, quản lý để mọi người chấp hành

5 Trần Huy Liệu- Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp theo hướng xây dựng Nhà nước pháp

quyền Việt Nam- Luận án Tiến sĩ Luật học, H, 2003, tr.14

6 C Mác, F Angghen, Tuyển tập, tập II, tr 345, bản tiếng Nga

7 Mông teskiơ S.L- Tinh thần pháp luật, tr Nxb

8

C.Mác, F Angghen Sđd, tập I, tr 440

Trang 20

Với hoạt động lập phỏp và hành phỏp, Nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện phỏp luật để điều chỉnh ứng xử của cỏc cỏ nhõn, tổ chức, để buộc họ phải biết giới hạn hành vi của mỡnh trong cỏc khuụn khổ, trật tự do phỏp luật xỏc lập (trật tự phỏp luật) Tuy nhiờn, phỏp luật và trật tự phỏp luật đú, do nhiều nguyờn nhõn khỏch quan và chủ quan, thường xuyờn đứng trước khả năng, nguy cơ bị những cỏ nhõn, tổ chức nhất định

vi phạm, cú khi là vi phạm rất nghiờm trọng, gõy thiệt hại lớn cho những quan hệ xó hội

mà Nhà nước phải bảo vệ V.I Lờnin trong tỏc phẩm “Nhà nước và cỏch mạng”chỉ ra

rằng, sẽ là khụng tưởng khi cho rằng phỏp luật đương nhiờn được tất cả mọi người tuõn thủ; ngay cả trong xó hội cộng sản chủ nghĩa tương lai, khi khụng cũn cơ sở xó hội cho

sự tồn tại của phỏp luật thỡ những quy tắc của trật tự cụng cộng vẫn cú thể sẽ bị một số người nhất định vi phạm[9]

Chớnh nhu cầu, đũi hỏi Nhà nước phải trụng coi, gỡn giữ phỏp luật khỏi sự xõm hại, nhu cầu khụi phục và duy trỡ trật tự phỏp luật vỡ lợi ớch sống cũn và phỏt triển của

Nhà nước, của xó hội, của từng người dõn tạo thành một phương diện hoạt động thứ

ba của quyền lực nhà nước - tư phỏp với chức năng bảo vệ phỏp luật Đõy là một nhu

cầu, một đũi hỏi khỏch quan, tồn tại song song với nhu cầu, đũi hỏi Nhà nước phải làm

ra phỏp luật (lập phỏp) và quản lý, điều hành xó hội bằng phỏp luật (hành phỏp)

Phương thức đặc thù thực hiện chức năng bảo vệ phỏp luật của quyền tư phỏp là tài phỏn, cụ thể là: đưa cỏc hành vi, tranh chấp phỏp lý liên quan đến những con người nhất định ỏp vào cỏc chuẩn mực phỏp luật, đối chiếu, làm sỏng tỏ mối tương quan giữa cỏi cỏ biệt là hành vi vi phạm, tranh chấp với cỏi khuôn chung là quy phạm phỏp luật để

đỏnh giỏ, phỏn xét bản chất phỏp lý, tính hợp phỏp, tính đúng đắn của hành vi, tranh chấp, từ đó đi đến một phỏn quyết có tính bắt buộc thi hành đối với mọi người mà trước hết, đối với những người có quyền và lợi ích liên quan Bằng việc cỏc quyết định, bản ỏn nhân danh Nhà nước được tuyên bố và được thi hành, cỏc giỏ trị phỏp luật bị vi phạm sẽ

được khẳng định lại, công lý được duy trì, sự công bằng, lẽ phải của phỏp luật được bảo

vệ (Xem Sơ đồ 1)

Quyền tư phỏp cựng với quyền lập phỏp và quyền hành phỏp hợp thành quyền lực nhà nước thống nhất của một quốc gia J.J Rut xụ trong “Bàn về khế ước xó hội” đó

vớ cơ thể chớnh trị cũng như con người muốn làm được việc phải cú hai động lực - ý chớ

và sức mạnh Trong một nước, ý chớ của toàn dõn thể hiện qua hoạt động lập phỏp do cơ quan đại diện nhõn dõn thực hiện cũn sức mạnh quốc gia thể hiện ở hoạt động hành

phỏp do Chớnh phủ thực hiện Trong cơ thể chớnh trị đú, ễng đó đặt tư phỏp vào “vị trớ

9 Nhà nước và cỏch mạng,

Trang 21

thiêng liêng nhất và được coi trọng nhất vì nó bảo vệ luật mà luật là do cơ quan quyền lực tối cao ban hành và do Chính phủ chấp hành”[10] Một khi luật không được bảo vệ,

“luật đã mất thiêng thì mọi cái đều hết hy vọng Luật không còn hiệu lực thì không một

cái gì hợp lý có thể duy trì sức mạnh được nữa”[11]

Nhìn từ phía xã hội, từ phía người dân, quyền tư pháp lại hiện ra với những sắc thái khác biệt, không thuần tuý chỉ là bảo vệ pháp luật vì nó có quan hệ khăng khít với các phạm trù “công lý, lẽ phải, sự công bằng xã hội” Mặc dù, trong nội dung bảo vệ pháp luật đã bao hàm các yếu tố về công lý, lẽ phải, sự công bằng nhưng dẫu sao nói đến bảo vệ pháp luật trong nhận thức phổ biến, trước hết và trực tiếp vẫn thấy nhà nước, thấy lợi ích trước mắt và lâu dài của người cầm quyền Còn trong con mắt người dân, các cơ quan tư pháp, đặc biệt là toà án, không chỉ là một cơ quan nhà nước thông thường

mà còn là biểu tượng của công lý, của lẽ phải Khi phải đối mặt với quan toà nơi công đường, người dân chờ đợi sự công minh, sáng suốt: “Toà án là người đại diện của công

lý và quan toà là cán cân công lý” Mỗi phán xét và phán quyết của quan toà đều có thể đụng chạm đến những quyền thiêng liêng, cao quý của người dân nên người dân cũng đặt toà án ở vị trí thiêng liêng “đèn trời soi xét” Trong nhà nước pháp quyền của dân,

do dân, vì dân, bản thân pháp luật đã mang tính công lý và các cơ quan tư pháp bằng hoạt động áp dụng pháp luật của mình thể hiện công lý, sự công minh, công bằng, không thiên lệch trong từng vụ án, từng phán quyết của Toà đối với từng hành vi, sự kiện pháp

lý Bảo vệ pháp luật là chức năng của quyền tư pháp, xét theo thuộc tính cố hữu, đã hàm chứa một nội dung mang đậm tính công lý: kẻ phạm tội phải bị trừng trị, người vay nợ phải trả khi nợ đến hạn, kẻ gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại gây ra, đó là quy luật muôn đời Trong tinh thần đó có thể nói phán xét, phán quyết của Toà án trực tiếp tác động đến niềm tin, lý tưởng, khát vọng công lý, công bằng xã hội, đến thái độ, cách nhìn

của người dân đối với nhà nước và cả chế độ chính trị đang tồn tại Vì vậy, quyền tư

pháp không chỉ thực hiện một chức năng không thể thiếu của quyền lực nhà nước – chức năng bảo vệ pháp luật mà còn thực thi chức năng xã hội thiêng liêng là bảo vệ,

duy trì công lý, công bằng xã hội - ước vọng của mọi con người trên trái đất này

2 Thực hiện quyền tư pháp và hệ thống tư pháp

2.1 Thực hiện quyền tư pháp

Quyền tư pháp, với tính chất là một nhánh lao động quyền lực nhà nước, không phải là một khái niệm chung chung, trừu tượng của tư duy, nhận thức mà tồn tại trong tư thế vận động thường xuyên thông qua những thiết chế, tổ chức và những con người cụ thể với phương thức hoạt động nhất định theo các nguyên tắc đặc thù và quy trình, thủ

10

J.J Rousseau- Bàn về khế ước xã hội - Nxb Lý luận chính trị, H, 2004, tr.43

11 Sđd, tr.227

Trang 22

tục chặt chẽ để trở thành một sức mạnh hiện hữu nhằm thực thi chức năng bảo vệ pháp luật, duy trì công lý

Thực hiện quyền tư pháp về thực chất là việc các cơ quan, cá nhân có thẩm

quyền áp dụng pháp luật vào việc phát hiện, xem xét, đánh giá một cách khách quan, chính xác, công bằng về tính đúng đắn, hợp pháp của hành vi hay sự kiện, tranh chấp, đưa ra các phán quyết có hiệu lực bắt buộc thi hành và khi cần sẽ được cưỡng chế thi hành đối với những cá nhân, tổ chức có liên quan, góp phần bảo vệ pháp luật, duy trì công lý, bảo đảm sự an toàn pháp lý cho công dân, sự ổn định và phát triển của xã hội

Từ đây có thể thấy, việc thực hiện quyền tư pháp có các đặc trưng sau:

Đặc trưng thứ nhất, thực hiện quyền tư pháp là hoạt động áp dụng pháp luật

của các cơ quan có chức năng bảo vệ pháp luật để ra các phán quyết (xét xử) về các hành vi vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp của các cá nhân, tổ chức

Liên quan tới đặc trưng này có 2 vấn đề cần lưu ý:

Một là, thực hiện quyền tư pháp là hoạt động áp dụng pháp luật để bảo vệ pháp

luật

Áp dụng pháp luật là loại hình thực hiện pháp luật dựa trên cơ sở thực thi quyền lực nhà nước với một bên chủ thể quan hệ pháp luật luôn luôn là cơ quan nhà nước Kết quả của hoạt động áp dụng pháp luật là một quyết định hoặc một hành vi mang tính quyền lực nhà nước Tuỳ theo tính chất, nội dung các quan hệ xã hội được điều chỉnh, các quyết định áp dụng pháp luật có thể xếp thành hai loại chính:

- Một loại gồm các quyết định liên quan đến việc tổ chức, đưa pháp luật vào vận

hành, thực thi, bảo đảm để các chủ thể pháp luật sử dụng, hưởng quyền hoặc làm, thi

hành nghĩa vụ do pháp luật quy định Đây thường là quyết định áp dụng pháp luật của các cơ quan hành pháp trong quá trình điều hành, quản lý nhà nước bằng pháp luật

- Một loại khác gồm các quyết định liên quan đến việc áp dụng chế tài có tính

cưỡng chế, tính răn đe, phòng ngừa khi xem xét các vi phạm pháp luật hoặc giải quyết các tranh chấp Đây là các quyết định áp dụng pháp luật để bảo vệ pháp luật khỏi sự vi

phạm Tuỳ theo tính chất, mức độ của sự vi phạm, các quyết định này có thể do các cơ quan hành pháp hoặc cơ quan tư pháp ban hành Như vậy, chức năng bảo vệ pháp luật của quyền tư pháp gắn bó hữu cơ với loại hoạt động áp dụng pháp luật thứ hai này Đây

là loại hình áp dụng pháp luật đặc biệt vì nó trực tiếp đụng chạm đến tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm, các quyền, lợi ích cơ bản của con người và vì vậy, nó phải do các

Trang 23

cơ quan chuyên trách thực hiện theo một phương thức đặc thù, đảm bảo tính độc lập, khách quan, chính xác, đúng pháp luật

Như vậy, áp dụng pháp luật để bảo vệ pháp luật trở thành dấu hiệu thứ nhất của

các cơ quan thực hiện quyền tư pháp

Hai là, chức năng chuyên trách bảo vệ pháp luật của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp

Lịch sử và thực tiễn ở nhiều quốc gia cho thấy, trong những chừng mực khác nhau, một số cơ quan hành pháp và thậm chí là cơ quan lập pháp trong hoạt động của mình cũng được giao quyền năng thực hiện một số hoạt động có tính chất áp dụng pháp luật để xử lý vi phạm pháp luật với mục đích góp phần bảo vệ pháp luật

Xét về cơ quan hành pháp, mỗi cơ quan thực hành quyền quản lý nhà nước, giữ

gìn, duy trì trật tự, kỷ cương trên một hoặc một số lĩnh vực nhất định Trong khi thực thi quyền năng chủ yếu đó của mình, nếu phát hiện hành vi vi phạm trật tự pháp luật thuộc lĩnh vực mình quản lý, để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, phải kịp thời phản ứng trước hành vi vi phạm, mỗi cơ quan quản lý được pháp luật giao những thẩm quyền nhất định áp dụng chế tài xử lý trong chừng mực không làm biến dạng tính chất của chức năng chủ yếu - chức năng quản lý Đó thường là thẩm quyền áp dụng chế tài hành chính Nhưng cũng chính vì vậy, không phải ngẫu nhiên, ở nhiều nước, ngay trong việc

áp dụng chế tài hành chính, pháp luật cũng giao cho cơ quan tư pháp - toà án vi cảnh thực hiện, còn cơ quan quản lý hành chính thì chỉ giới hạn hoạt động của mình trong việc kịp thời phát hiện vi phạm, lập biên bản các vi phạm và gửi hồ sơ đến toà án vi cảnh xem xét, xử lý theo thủ tục tư pháp

Xét về cơ quan lập pháp, ở một số nước và trong một số trường hợp nhất định,

Nghị viện/Quốc hội cũng được pháp luật quy định thực thi một vài quyền năng, xét theo bản chất, mang đầy đủ tính chất tư pháp, ví dụ quyền xử lý bằng chế tài nghiêm khắc các hành vi vi phạm pháp luật của những chức danh nhà nước cao cấp[12] Việc xử lý các vi phạm pháp luật của các chức danh này phải do chính cơ quan quyền lực cao nhất thực

12 Điều 1 Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ xác lập “Toàn bộ quyền lực lập pháp được thừa nhận tại đây sẽ được

trao cho Quốc hội Hoa Kỳ Quốc hội gồm có Thượng viện và Hạ viện”(khoản 1) đồng thời quy định “Thượng viện

có quyền xét xử tất cả các vụ bị kết tội Trong trường hợp xét xử Tổng thống, Chánh án Toà án tối cao sẽ chủ toạ phiên toà Không ai bị kết án nếu không được sự nhất trí của hai phần ba các thượng nghị sỹ có mặt Mức án áp dụng trong những vụ buộc tội này không vượt quá sự cách chức và tước quyền của bị cáo đang đảm nhận một chức tước danh dự, có lợi tức hoặc có lợi lộc trong chính quyền Hợp chủng quốc, tuy vậy, họ vẫn có thể bị truy tố, xét xử, kết án và trừng phạt theo luật định”(khoản 3)

Trang 24

thường được gọi là cơ quan tư pháp Ví dụ như cơ quan điều tra thực hiện chức năng

phát hiện và điều tra vi phạm pháp luật, tội phạm; viện kiểm sát hoặc viện công tố thực hiện chức năng công tố (truy tố người phạm tội ra trước toà án và đại diện công quyền thực hiện việc buộc tội tại phiên toà); toà án thực hiện chức năng xét xử và nhân danh Nhà nước nói lời phán quyết cuối cùng; các cơ quan thi hành án thực hiện chức năng tổ chức thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực của toà án

Tính chuyên trách bảo vệ pháp luật, do vậy, là dấu hiệu quan trọng để phân biệt một cơ quan, thiết chế thực hiện quyền tư pháp với các cơ quan thực hiện quyền hành pháp hay quyền lập pháp

Đặc trưng thứ hai; là một bộ phận của hệ thống kiểm tra, kiểm soát xã hội,

quyền tư pháp được thực hiện khi có vi phạm pháp luật, tranh chấp pháp lý cần đến sự phán quyết của Nhà nước

Trong hệ thống kiểm tra, kiểm soát xã hội, có nhiều cơ chế để điều chỉnh hành vi,

xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp ở những quy mô, cấp độ và phương thức khác nhau, bắt đầu từ cơ chế tự kiểm tra của các cá nhân đến cơ chế kiểm tra, kiểm soát xã hội ở các cộng đồng gia đình, cộng đồng dân cư, tập thể lao động Ở quy mô xã hội, bên cạnh cơ chế kiểm tra xã hội bằng các chuẩn mực đạo đức thông qua các tổ chức, thiết chế tài phán xã hội không thể thiếu cơ chế kiểm tra, kiểm soát của nhà nước bằng các chuẩn mực pháp luật thông qua các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước Cơ quan lập pháp làm ra pháp luật và thực hiện giám sát tối cao đối với việc thực thi pháp luật Cơ quan hành pháp tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện pháp luật trên quy mô toàn

xã hội Đây là các hình thức kiểm tra, kiểm soát có tính thường xuyên, chủ động của các

cơ quan nhà nước

Trong khi đó, quyền tư pháp thực hành chức năng thiêng liêng bảo vệ pháp luật khi các đạo luật cụ thể không được tôn trọng bởi những con người cụ thể trong những trường hợp cụ thể Khi có những hành vi, tranh chấp làm sai lệch hoặc đe doạ làm sai lệch tính hợp lý, công bằng của pháp luật, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của

công dân, tổ chức, xâm hại trật tự, an toàn xã hội thì quyền tư pháp sẽ là một “cơ chế

Trang 25

hữu hiệu để đặt mỗi bộ phận vào đúng vị trí của nó”[13]. Vì luật pháp là công bố ý chí của toàn dân nên khi ý chí chung đó bị xâm phạm, dư luận công chúng sẽ lên tiếng đòi hỏi Nhà nước phải xem xét, đánh giá và phán quyết về trách nhiệm cùng những hậu quả (chế tài) pháp lý mà người gây ra sự xâm phạm ấy phải gánh chịu Như vậy, hình thức kiểm tra, kiểm soát bằng quyền tư pháp có tính “thụ động” hơn, “vi mô” hơn so với kiểm soát bằng quyền lập pháp, hành pháp - nghĩa là chỉ khi có vi phạm pháp luật hoặc

có tranh chấp cụ thể xảy ra, các hoạt động thực hiện quyền tư pháp mới bắt đầu vận hành Tuy nhiên, tác động xã hội của việc thực hiện quyền tư pháp lại rất lớn Sự xem xét, đánh giá và phán quyết nghiêm minh của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp chính là sự tuyên bố những đánh giá, phán xét của dư luận công cộng, của niềm tin và khát vọng công lý của nhân dân, góp phần bảo vệ tính thiêng liêng, hiệu lực và sức mạnh của luật pháp, do vậy mà nó mang trong mình khả năng phòng ngừa chung, vượt

ra ngoài phạm vi của một vụ việc cụ thể

Tuy nhiên, không phải mọi vi phạm pháp luật, mọi tranh chấp pháp lý đều phải được phán quyết bởi quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan thực hiện quyền tư

pháp Chỉ những vi phạm pháp luật nghiêm trọng, những tranh chấp mà các bên không

tự thương lượng, hoà giải được, đặc biệt là những vi phạm, tranh chấp trong đó có một

bên là cơ quan nhà nước mới cần đến sự phát hiện, xem xét, đánh giá và phán quyết của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp Do vậy, cần tính đến sự tương tác, hỗ trợ giữa cơ chế kiểm tra, kiểm soát bằng quyền tư pháp với cả hệ thống kiểm tra, kiểm soát xã hội khi thiết kế và đánh giá hiệu quả hoạt động của từng hệ thống Có lẽ, từ góc độ này, JJ Rút xô đã nhận xét “Cơ quan tư pháp được điều hoà một cách thông minh sẽ là chỗ dựa vững chắc cho một thể chế tốt”[14] Mặt khác, là một bộ phận của hệ thống kiểm tra, kiểm soát nên chính bản thân các cơ quan thực hiện quyền tư pháp lại là đối tượng chịu

sự kiểm tra, kiểm soát của các bộ phận khác, của xã hội, của nhân dân với tư cách là người chủ của quyền lực nhà nước, quyền lực xã hội

Đặc trưng thứ ba, quyền tư pháp được thực hiện bằng nhiều hoạt động độc lập

với các chức năng riêng, diễn ra liên tục theo một quy trình chặt chẽ, tuân thủ các nguyên tắc, thủ tục nghiêm ngặt dựa trên phương thức đặc thù là tài phán, phục vụ hoạt động trung tâm là xét xử của toà án

Nội dung áp dụng pháp luật của cơ quan thực hiện quyền tư pháp gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ phát hiện, xác định, đánh giá độc lập, khách quan các sự kiện,

13 Xem (9), tr.219

14 Sđd, tr.219

Trang 26

hành vi, tranh chấp pháp lý, trên cơ sở đó ra phán quyết về tính hợp pháp, tính đúng đắn của hành vi, về việc áp dụng trách nhiệm pháp lý và các chế tài có tính bắt buộc thi hành đối với các cá nhân, tổ chức liên quan Phương thức đặc thù để thực hiện quyền tư pháp

là tài phán có thể tóm tắt là một quá trình 3P - phán đoán, phán xét và phán quyết Về

mặt lý thuyết, quá trình thực hiện quyền tư pháp bằng phương thức tài phán có thể biểu

hiện qua sơ đồ 2 (xem trang bên)

Quá trình thực hiện quyền tư pháp bắt đầu vận hành từ khi có các quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại, nghĩa vụ pháp lý không được thực hiện do hành vi vi phạm pháp luật hay tranh chấp pháp luật gây ra và kết thúc khi mục tiêu bảo vệ pháp luật, khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, nhà nước được thực thi, công

lý được duy trì Hoạt động trung tâm là hoạt động xét xử của toà án, kết quả cuối cùng của toàn bộ các hoạt động áp dụng pháp luật để thực thi quyền tư pháp chính là việc một phán quyết nhân danh công lý, nhân danh quyền lực nhà nước được toà án tuyên bố và thi hành

Trên thực tế, để toà án có thể thực hành quyền xét xử, quá trình thực hiện quyền

tư pháp phải trải qua rất nhiều khâu đoạn với nhiều loại hoạt động do các cơ quan khác nhau tiến hành được gọi chung là hoạt động tố tụng[15] Ví dụ, trong lĩnh vực tố tụng hình sự, để thực hiện mục tiêu chung là “Phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người

vô tội”, việc thực hiện quyền tư pháp phải trải qua quy trình tố tụng chặt chẽ: i/Thu thập tin báo tội phạm, phát hiện, xác định hành vi phạm tội và người thực hiện hành vi đó (khởi tố); ii/ thu thập chứng cứ buộc tội và gỡ tội (điều tra, bào chữa); iii/ xem xét, đánh giá các căn cứ pháp lý để quyết định đưa hay không đưa vụ việc ra trước toà án (truy tố); iv/toà án mở phiên toà xét xử, tại đó, các hoạt động theo 3 chức năng cơ bản của tố tụng hình sự là buộc tội (do cơ quan điều tra, công tố thực hiện), gỡ tội (do luật sư, người bào chữa đảm nhiệm) và chức năng tài phán (thuộc về duy nhất toà án hay chính xác hơn là Hội đồng xét xử) tiếp tục được công khai tiến hành Trong nhiều vụ việc, để đánh giá chính xác, đúng đắn, khách quan các tình tiết, sự kiện phức tạp, các cơ quan điều tra, công tố, xét xử phải huy động sự hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức chuyên môn

có thể cung cấp, xác minh các tài liệu có giá trị chứng cứ (ví dụ cơ quan công chứng)

15 Tố tụng – theo Black’s Law Dictionary, là cách thức thực hiện một quyền pháp lý của cá nhân (để phân biệt với

luật nội dung quy định về quyền) và là cách thức vận hành của một toà án Luật tố tụng điều chỉnh các bước chính thức của một quá trình tư pháp, các hình thức, cách thức, trình tự giải quyết vụ án Tố tụng hình sự hay tố tụng dân sự là quy trình tư pháp thực thi các quyền và nghĩa vụ do luật nội dung quy định và cách thức khắc phục, điều chỉnh phù hợp với công lý, lẽ phải các quyền đó; là phương thức vận hành một vụ kiện ở toà án sơ thẩm hay toà phúc thẩm

Trang 27

Có thể nhận xét trong bất kỳ quá trình lao động chân tay hay trí óc nào con người cũng luôn phải tuân theo quy trình, thủ tục nhất định để đưa các thao tác nghiệp vụ tiến triển theo những làn lớp nhất định nhằm xác lập một trật tự vận hành bảo đảm thu được hiệu quả, năng suất mong muốn, tối ưu Tuy nhiên, nếu trên các lĩnh vực hoạt động khác của đời sống xã hội, áp dụng pháp luật có tác dụng to lớn trong việc vạch hành lang, định khung pháp lý, môi trường, không gian cho việc vận hành các thao tác nghiệp vụ chuyên ngành thì trong lĩnh vực tư pháp, áp dụng pháp luật lại trở thành nội dung của chính các hoạt động, thao tác nghiệp vụ Đây là đặc trưng tiêu biểu nhất làm cơ sở cho

sự tách biệt hoạt động áp dụng pháp luật trong tố tụng ra khỏi hoạt động áp dụng pháp luật nói chung và trở thành loại hình lao động quyền lực tư pháp đặc thù riêng biệt

Như vậy, từ các đặc trưng của hoạt động tư pháp, có thể hình dung sơ bộ các yếu

tố hợp thành quá trình thực hiện quyền tư pháp như sau:

- Yếu tố đầu tiên là pháp luật Pháp luật vừa là cơ sở, là công cụ, vừa là nội dung

và là mục tiêu bảo vệ của hoạt động thực hiện quyền tư pháp Đó là pháp luật nội dung được áp dụng để xem xét, đánh giá, phán xử hành vi, tranh chấp pháp lý; pháp luật về tố tụng quy định các quy trình, thủ tục, thao tác nghiệp vụ trong quá trình giải quyết vụ án; pháp luật về tổ chức, về chức năng, thẩm quyền của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp để đảm bảo các cơ quan, cá nhân thuộc các cơ quan đó tuân thủ và chỉ hoạt động trong khuôn khổ pháp luật Pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng đều phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản, nền tảng điều chỉnh tổ chức bộ máy nhà nước và đời sống xã hội

- Yếu tố thứ hai là các thiết chế và những con người tham gia vào việc thực hiện

quyền tư pháp Trước tiên đó là các cơ quan nhà nước chuyên trách thực hiện chức năng bảo vệ pháp luật (cơ quan tư pháp) và những người có thẩm quyền, trách nhiệm thuộc các cơ quan đó trực tiếp tiến hành các hoạt động tư pháp (các chức danh tư pháp) Trong các cơ quan đó, trung tâm là toà án với chức năng xét xử Bên cạnh các cơ quan tư pháp, không thể không tính đến sự tham gia của các cơ quan, tổ chức có chức năng hỗ trợ cho hoạt động thực hiện quyền tư pháp như tổ chức luật sư, công chứng, giám định Các cơ

Trang 28

quan, tổ chức này có thể không có chức năng chuyên trách bảo vệ pháp luật và thường

là không thuộc cơ cấu quyền lực nhà nước mà là các tổ chức nghề nghiệp chuyên cung cấp các dịch vụ pháp lý cho công dân trong đời sống dân sự hàng ngày Tuy nhiên, kết quả hoạt động của họ (văn bản công chứng, kết luận giám định chuyên môn) hoặc chính bản thân hoạt động của họ (hoạt động đại diện, bào chữa trước toà) khi được huy động vào quá trình thực hiện quyền tư pháp sẽ có chức năng hỗ trợ cho việc xét xử được khách quan, chính xác, nhanh chóng hơn đồng thời hỗ trợ cho công dân bảo vệ tốt hơn

các quyền, lợi ích hợp pháp của mình Vì vậy, các hoạt động luật sư, công chứng, giám

định còn được gọi là hoạt động bổ trợ tư pháp và chúng tồn tại cùng với hoạt động tố

tụng trong mọi nền tư pháp dân chủ

- Yéu tố thứ ba là các thủ tục thực hiện quyền tư pháp mà các cơ quan, tổ chức,

cá nhân tham gia vào quá trình này đều phải tuân thủ Vì tính chất đặc thù của hoạt động

tư pháp là động chạm đến các quyền, tự do cơ bản của con người nên việc áp dụng pháp luật của các cơ quan tư pháp ở từng khâu đoạn đều phải tuân thủ nghiêm ngặt những trình tự, thủ tục chặt chẽ, rõ ràng, công khai

Tổng hợp của các yếu tố trên: các nguyên tắc, pháp luật, thiết chế, con người, các hoạt động, quy trình, thủ tục tạo nên sự vận hành của quyền tư pháp trong cuộc sống

2.2 Hệ thống tư pháp, các cơ quan tư pháp

(i) Khái quát các quan niệm hiện nay về các cơ quan tư pháp, hệ thống tư pháp ở Việt Nam

Do các cách hiểu khác nhau về quyền tư pháp nên hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến rất khác biệt về phạm vi của hoạt động tư pháp và các cơ quan tư pháp Theo cách hiểu quyền tư pháp là quyền xét xử thì chỉ có toà án là cơ quan tư pháp PGS.TS Nguyễn

Đăng Dung cho rằng, quyền tư pháp là lĩnh vực quyền lực nhà nước được thực hiện

thông qua hoạt động phân xử và phán xét tính đúng đắn, tính hợp pháp của các hành vi, các quyết định pháp luật khi có tranh chấp về các quyền và lợi ích giữa các chủ thể pháp luật Vì vậy, khi phân tích nguyên tắc, nội dung cải cách tư pháp, tác giả cũng chỉ đề cập đến nguyên tắc, nội dung cải cách tổ chức và hoạt động của toà án[16] Đồng tình với quan điểm này, PGS.TS Võ Khánh Vinh cho rằng quyền tư pháp là khả năng và năng lực riêng có của các cơ quan toà án và do các cơ quan đó thực hiện để tác động đến hành

16

Nguyễn Đăng Dung - Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền, Nxb Tư pháp, H, 2004, tr.11

Trang 29

vi của con người[17] Trong quá trình cải cách tư pháp ở Trung Quốc cũng đã diễn ra

nhiều cuộc tranh luận xung quanh quan niệm về cơ quan tư pháp, ví dụ theo quan điểm

quyền tư pháp là quyền xét xử và giải quyết tranh chấp thì cơ quan tư pháp là toà án;

theo quan điểm quyền lực nhị nguyên - theo thể chế hiện hành của Trung Quốc, quyền

tư pháp bao gồm quyền xét xử và quyền kiểm sát, cơ quan tư pháp chỉ bao gồm toà án

và viện kiểm sát; quan điểm quyền lực đa nguyên thì cho rằng quyền tư pháp bao gồm

một hệ thống quyền lực các vai trò cơ bản và các cơ chế giải quyết tranh chấp giống với toà án, do vậy cơ quan, tổ chức tư pháp vượt ra ngoài giới hạn của các cơ quan nhà nước, bao gồm cả trọng tài, hoà giải, tài phán hành chính, thẩm tra tư pháp trong đó trọng tâm là toà án[18]

Tại Việt Nam, Hiến pháp 1946 và các văn bản pháp luật ban hành trong giai đoạn

1946-1959 sử dụng thuật ngữ cơ quan tư pháp để chỉ các toà án Điều thứ 63 Hiến pháp

1946 quy định:

“Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà gồm có toà án tối cao; các toà án phúc thẩm; các toà án đệ nhị cấp và sơ cấp”

Tuy nhiên, trong thời gian này, hoạt động của toà án không chỉ là hoạt động xét

xử (do thẩm phán xét xử - “thẩm phán ngồi” thực hiện) mà còn gồm hoạt động điều tra

và hoạt động công tố do công tố viên thuộc toà án thực hiện (thẩm phán buộc tội –

“thẩm phán đứng”)

Nhưng từ Hiến pháp 1959 cụm từ cơ quan tư pháp không còn được sử dụng

trong các văn bản pháp luật của Nhà nước với ý nghĩa là các cơ quan toà án Từ năm

1981, ngành Tư pháp được thành lập lại từ trung ương đến các địa phương (Bộ Tư pháp,

Sở, Phòng Tư pháp ) nhưng đó là các cơ quan thuộc hệ thống hành pháp làm chức năng quản lý nhà nước về công tác tư pháp Phải đến lần sửa đổi năm 2001, trong Hiến pháp

mới xuất hiện thuật ngữ quyền tư pháp khi thể chế hoá quan điểm của Đảng về tổ chức quyền lực nhà nước “Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công và phối hợp

giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”(Điều 2) Tuy nhiên,

cho đến nay, chưa có văn bản pháp luật nào của Nhà nước xác định rõ các cơ quan thực hiện quyền tư pháp là những cơ quan nào Còn trong các nghị quyết của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, các cụm từ “cơ quan bảo vệ pháp luật”

17 PGS TS Vâ Khánh Vinh - Cải cách tư pháp và việc hoàn thiện các cơ quan tư pháp - Hội thảo về Chiến lược cải

cách tư pháp trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước do Trung ương Hội luật gia và Ban Nội chính Trung ương tổ chức tại TP Hồ Chí Minh-

18

Pháp lý học hiện đại của Zheng Cheng Liang, Nxb Đại học Cát Lâm, 1999, tr314;

Trang 30

cơ quan tư pháp được đề cập đến gồm:

- Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân; Toà án nhân dân; Cơ quan thi hành

án hình sự, dân sự; Cảnh sát tư pháp;

- Các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp (các tổ chức luật sư, công chứng, giám định tư pháp )

Điều chung nhất có thể thấy là thuật ngữ các cơ quan tư pháp ở nước ta hiện nay

đang được dùng theo nghĩa rất rộng: ngoài toà án và viện kiểm sát được xếp ở một chương riêng của Hiến pháp còn có những cơ quan thuộc hệ thống hành pháp (cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án (hình sự và dân sự), công chứng, giám định tư pháp ), một

số tổ chức xã hội - nghề nghiệp nằm ngoài hệ thống quyền lực nhà nước như Luật sư Điều bất cập về mặt lý luận cũng như thực tiễn là chưa làm rõ được mối liên kết khách quan, tất yếu, bản chất nào giữa các cơ quan, tổ chức rất khác nhau về tính chất, nội dung, phương thức hoạt động ấy để có thể xếp chúng vào chung dưới một tên gọi là các

cơ quan tư pháp

Để khắc phục những bất cập trên, nhiều công trình nghiên cứu gần đây về tư

pháp và cải cách tư pháp đã lựa chọn cách tiếp cận chức năng - hệ thống Khi bàn về

phương pháp luận nghiên cứu cải cách tư pháp, Nhóm nghiên cứu Đề tài độc lập cấp

nhà nước về Cải cách tư pháp (Mã số 92-98-353) đã lựa chọn phương pháp nghiên cứu

mô hình tổng thể và cơ chế tổng hợp của cả hệ thống tư pháp với các yêu cầu:

- Xác định khâu trung tâm thực hiện chức năng trung tâm của hệ thống

- Phân định vai trò thứ bậc, chức năng riêng biệt nhằm phục vụ chức năng trung tâm của từng khâu, từng bộ phận trong hệ thống

- Xác định các mối quan hệ trong và ngoài hệ thống thuộc bộ máy nhà nước hay

cơ cấu tổ chức quyền lực chung

Theo các tác giả, hệ thống tư pháp bao gồm các cơ quan, thiết chế (pháp luật)

thực hiện chức năng chủ yếu là duy trì và bảo vệ công lý bằng các biện pháp và thủ tục

Thuyết công bằng tư pháp của Yang YPing, Nxb Pháp luật 1999, tr24-26

19

Trang 31

đặc thù dựa trên nguyên tắc tài phán công bằng, công khai cụ thể gồm cơ quan tài phán (toà án) và các cơ quan khác có chức năng chủ yếu là phục vụ trực tiếp cho hoạt động tài phán[20]

GS TSKH Đào Trí Úc và các cộng sự lại tiếp cận hệ thống tư pháp từ 3 góc độ:

là một hệ thống thuộc hệ thống kiểm tra, kiểm soát xã hội; là hệ thống các khâu tố tụng dẫn đến xét xử và phán quyết của toà án; là một hệ thống của quá trình áp dụng pháp luật của các cơ quan quyền lực nhà nước[21] Từ góc độ nghiên cứu hệ thống đó, các tác giả đã bước đầu phân tích các mối liên hệ bên ngoài (giữa hệ thống tư pháp với các quá trình kinh tế- xã hội, với đối tượng tác động của chính hệ thống tư pháp là tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm) và các mối liên hệ bên trong giữa các bộ phận hợp thành của hệ thống tư pháp Theo các tác giả, giữa các khâu, các chức năng của hệ thống tư pháp phải có sự phân định và độc lập tương đối đồng thời phải có sự tương tác giữa các khâu vì một mục đích chung và nhằm vào một chức năng trung tâm, khâu trung tâm đó

là khâu xét xử của toà án[22]

Kết quả và phạm vi nghiên cứu cho thấy các tác giả của hai công trình đều cho

rằng hệ thống tư pháp bao gồm các thiết chế - toà án, viện kiểm sát, cơ quan điều tra, tổ

chức luật sư, công chứng, giám định tư pháp và các chức danh tư pháp, trong đó, toà án với hoạt động xét xử là khâu trung tâm

Tuy nhiên, cả hai công trình nghiên cứu trên đều chưa đưa ra bản thiết kế mô hình tổng thể của hệ thống tư pháp

(ii) Hệ thống tư pháp theo quan điểm thực hiện chức năng bảo vệ pháp luật của quyền tư pháp

Từ quan điểm phân công lao động quyền lực nhà nước như đã trình bày ở mục 2.1, quyền tư pháp được vận hành trong cuộc sống thông qua một hệ thống gồm nhiều yếu tố: pháp luật, các thiết chế, các con người, các nguyên tắc, thủ tục với mục tiêu chung là thực hiện chức năng bảo vệ pháp luật bằng phương thức đặc thù là tài phán, nghĩa là áp dụng pháp luật để phát hiện, xem xét, đánh giá, phán quyết về tính hợp pháp, đúng đắn của hành vi, giải quyết các tranh chấp Tất cả các yếu tố trên được gắn kết với nhau bởi một chức năng, một mục tiêu chung là bảo vệ pháp luật, duy trì công lý, bảo vệ

Trang 32

quyền con người, quyền công dân Hệ thống chức năng đó gọi là hệ thống tư pháp (xem

Sơ đồ 3 trang bên)

Các thiết chế trong hệ thống tư pháp bao gồm:

- Các cơ quan tư pháp, đó là các cơ quan thuộc cơ cấu quyền lực nhà nước có chức năng chủ yếu (chuyên trách) bảo vệ pháp luật, trực tiếp tham gia thực hiện quyền

tư pháp, gồm: cơ quan điều tra, cơ quan công tố, toà án và cơ quan thi hành án

- Các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp, đó là các cơ quan, tổ chức có thể hoặc

không thuộc cơ cấu quyền lực nhà nước, có chức năng bằng các hoạt động chuyên môn, nghề nghiệp hỗ trợ cho các cơ quan nhà nước thực hiện quyền tư pháp đồng thời hỗ trợ cho công dân về mặt pháp lý trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp Cơ quan,

tổ chức bổ trợ tư pháp gồm luật sư, công chứng, giám định tư pháp, thừa phát lại

Cả hai loại thiết chế trên đều có mối quan hệ liên quan trực tiếp, phục vụ cho

khâu trung tâm của hệ thống tư pháp là toà án Toà án với hoạt động xét xử là khâu

trung tâm,biểu hiện tập trung của quyền tư pháp.Trong khi thừa nhận vị trí trung tâm

của toà án đồng thời phải thấy rằng, mỗi cơ quan tham gia thực hiện quyền tư pháp đều giữ vai trò chủ chốt ở khâu đoạn của mình Ví dụ, trong quy trình tố tụng hình sự, ở mỗi khâu đoạn, chức năng tố tụng được tiến hành tương đối độc lập với trong trật tự logic - giai đoạn trước là tiền đề, là sự chuẩn bị cho giai đoạn sau và giai đoạn sau vừa thừa hưởng vừa giám sát thành quả lao động của giai đoạn trước Xét theo quy trình, toà án là

cơ quan kiểm tra cuối cùng và công khai tại phiên toà kết quả hoạt động của tất cả các

cơ quan, tổ chức khác thực hiện ở các khâu đoạn trước để trên cơ sở đó nhân danh nhà nước đưa ra các quyết định cuối cùng Chất lượng xét xử thể hiện chất lượng và uy tín của cả hệ thống thực hiện quyền tư pháp Cách tiếp cận đúng đắn là phải nhìn một cách tổng thể về cả hệ thống tư pháp, trong đó Toà án giữ vị trí trung tâm ở khâu đoạn ra phán quyết, nhưng các cơ quan khác cũng đều đóng vai trò quan trọng, chủ chốt, không thể thiếu vắng trong giai đoạn của mình

(ii) Một số vấn đề còn tranh luận liên quan đến phạm vi các thiết chế thuộc hệ thống tư pháp:

Thứ nhất, về cơ quan thi hành án:

Trong các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống tư pháp, cơ quan Thi hành án có vị trí, chức năng và phương thức hoạt động tương đối khác biệt so với các cơ quan điều tra, công tố, toà án nên còn những ý kiến băn khoăn liệu cơ quan thi hành án có phải là cơ

Trang 33

quan tư pháp không?[23].Trong giới nghiên cứu hiện nay ở Việt Nam có hai quan điểm chính về bản chất của hoạt động thi hành án[24]:

- Quan điểm thứ nhất cho rằng, thi hành án là giai đoạn cuối cùng của tố tụng tư

pháp (hình sự và dân sự), là “động tác có tính quyết định cuối cùng” để hoàn thành mục

đích của tố tụng là khôi phục lại trật tự pháp luật, khôi phục các giá trị pháp luật bị xâm phạm, khắc phục những hậu quả do hành vi vi phạm pháp luật hoặc tranh chấp gây ra Theo quan điểm này, thi hành án là khâu tố tụng có tính kết nối liên tục với các giai đoạn tố tụng trước, được tiến hành ngay sau khâu xét xử và chịu sự chi phối trực tiếp của khâu xét xử; chức năng của thi hành án là tổ chức thực thi trong thực tế quyết định, bản án đã có hiệu lực pháp luật do toà án tuyên; thi hành án là một quá trình gồm nhiều công đoạn, phải tuân thủ quy trình, thủ tục chặt chẽ, trong đó ở những công đoạn nhất định phải có sự tham gia của các cơ quan tố tụng khác, ví dụ: trong thi hành án hình sự, việc ra quyết định thi hành án, quyết định miễn, giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xoá

án tích đều phải do toà án thực hiện Như vậy, cơ quan thi hành án cũng phải được coi

là một cơ quan tố tụng cùng với cơ quan điều tra, công tố, toà án Tuy nhiên, quan điểm

này dường như không phù hợp với quan điểm của các nhà lập pháp, vì trong Bộ luật tố tụng hình sự (1988 và 2003) cũng như trong Bộ luật tố tụng dân sự 2004 thì cơ quan thi hành án và chấp hành viên đều không được đưa vào danh sách các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng

- Quan điểm thứ hai cho rằng thi hành án là một hoạt động vừa mang tính hành

chính vừa mang tính tư pháp Tính hành chính (chấp hành - điều hành) thể hiện xuyên

suốt, có tính chủ đạo quá trình thi hành án: căn cứ để thi hành án là các bản án, quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật; nội dung thi hành án là việc các cơ quan thi hành

án áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật hành chính tác động trực tiếp tới các đối tượng phải thi hành án để họ tự nguyện hoặc để buộc họ phải thi hành các nghĩa vụ đã được xác định trong quyết định, bản án; phương pháp thi hành án có tính đặc thù là phương pháp mệnh lệnh bắt buộc kết hợp với phương pháp giáo dục, thuyết phục; thủ tục thi hành án phần lớn là các thủ tục hành chính (thi hành án phạt tù, án treo, cải tạo không giam giữ tại địa phương, thi hành phạt tiền, trục xuất ) Tại những khâu đoạn nhất định

23 Sự khác biệt về phương thức hoạt động: nếu các hoạt động điều tra, công tố và xét xử được thực hiện theo phương thức phán đoán, phán xét và phán quyết (đi từ cái chưa biết đến tái hiện sự thật, hiện tượng, tìm kiếm, phát hiện con người thực hiện hành vi, áp dụng pháp luật để đánh giá về bản chất tranh chấp,hành vi, xác định trách nhiệm và quyết định chế tài pháp lý cần áp dụng) thì thi hành án lại được thực hiện theo phương thức chấp hành - điều hành, nghĩa là dựa trên cái đã biết - một quyết định, bản án cụ thể của toà án để tổ chức thực hiện

24 Đề tài cấp Nhà nước- Mã số 2000-58-198- Chủ nhiệm – TS Nguyễn Đình Lộc - Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới, Báo cáo phúc trình, tr.22

Trang 34

của quá trình thi hành án, đặc biệt là thi hành án hình sự, nội dung pháp luật áp dụng, thủ tục, cơ quan thực hiện và phương pháp thực hịên đồng thời mang tính tố tụng tư pháp như đã phân tích ở trên nhưng tính hành chính vẫn là tính nổi trội, chi phối của hoạt động thi hành án Do đó, thi hành án là hoạt động mang tính hành chính - tư pháp, thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp trong giai đoạn thực thi các quyết định, bản án do toà án tuyên

Nhóm nghiên cứu ủng hộ quan điểm thứ hai Tính chất hành chính - tư pháp

của hoạt động thi hành án không loại cơ quan thi hành án khỏi phạm vi các cơ quan thực hiện quyền tư pháp Theo cách tiếp cận chức năng - hệ thống của Nhóm nghiên cứu, cơ quan thực hiện quyền tư pháp được hiểu là cơ quan nhà nước chuyên trách thực hiện chức năng bảo vệ pháp luật, không phụ thuộc vào việc cơ quan đó thuộc hệ thống hành pháp hay là cơ quan do lập pháp bầu ra Trong lĩnh vực hình sự hay dân sự quyền tư pháp chỉ vận hành khi có hành vi, tranh chấp xâm hại đến các giá trị pháp luật, trật tự pháp luật; mục tiêu bảo vệ pháp luật của quyền tư pháp được hoàn thành khi các giá trị

và trật tự pháp luật đó được khôi phục trên thực tế Thi hành án là hoạt động hành chính

- tư pháp căn cứ trên một bản án, quyết định cụ thể của toà án liên quan đến những hành

vi, tranh chấp cụ thể chứ không phải hoạt động chấp hành - điều hành mang tính quản lý nhà nước chung Hoạt động thi hành án gắn liền với hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng ở các giai đoạn trước đó nhưng bản thân hoạt động thi hành án không phải

là hoạt động tố tụng vì đây không phải là hoạt động chứng minh, xác định bản chất sự việc, xác định tính hợp pháp, tính đúng đắn của các loại tranh chấp mà chính là hoạt động chấp hành, thi hành pháp luật, thực hiện phán quyết, quyết định của toà án Bằng kết quả thi hành án một cách đúng đắn, đầy đủ, đúng pháp luật, các quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại được khôi phục trên thực tế, trật tự pháp luật được giữ vững, niềm tin của người dân vào sức mạnh và hiệu quả của quyền lực nhà nước, vào công lý và công bằng xã hội mới được nuôi dưỡng, duy trì, củng cố, tạo nên sự ổn định xã hội Với ý nghĩa đó, cơ quan thi hành án, tuy không phải là cơ quan tố tụng nhưng có thể coi là cơ quan thuộc hệ thống tư pháp

Thứ hai, về các tổ chức bổ trợ tư pháp

Có ý kiến cho rằng, các tổ chức bổ trợ tư pháp trong hệ thống tư pháp còn phải bao gồm cả các thiết chế xã hội chuyên trách giải quyết tranh chấp như các trung tâm hoà giải, trung tâm trọng tài bởi vì các thiết chế này cũng góp phần bảo vệ pháp luật, việc giải quyết tranh chấp bằng hoà giải, trọng tài cũng phải tuân theo các trình tự, thủ tục nhất định Tuy nhiên, theo Nhóm nghiên cứu thì hoà giải, trọng tài là các phương

Trang 35

thức giải quyết tranh chấp độc lập, tồn tại song song với tố tụng tư pháp (ở nhiều nước, thương lượng, hoà giải, trọng tài được gọi chung là các phương thức giải quyết tranh chấp thay thế toà án (Alternative Disputes Resolutions- ADR) Đây là các phương thức giải quyết tranh chấp không mang tính quyền lực nhà nước, các thủ tục giải quyết tranh chấp bằng hoà giải, trọng tài do các bên tự lựa chọn; các quyết định giải quyết tranh chấp không nhân danh quyền lực công mà do các bên tự thoả thuận (trong thương lượng, hoà giải) hoặc do trọng tài viên đưa ra Các phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm, có hiệu lực bắt buộc đối với các bên tranh chấp Mối quan hệ của toà án với trọng tài là quan hệ hỗ trợ và kiểm tra của quyền lực công đối với “quyền lực tư” nhằm nâng cao hiệu quả của trọng tài Hoà giải, trọng tài hoạt động tốt, hiệu quả sẽ góp phần giảm tải xét xử cho hệ thống tố tụng tư pháp nhưng bản thân, hoà giải, trọng tài không phải là các khâu đoạn trong quy trình tố tụng tư pháp hoặc không phải là các thủ tục để thực hiện quyền tư pháp (cần phân biệt với hoà giải trong tố tụng dân sự do toà án tiến hành như một thủ tục bắt buộc trước khi xét xử) Vì vậy, theo quan điểm của Nhóm nghiên

cứu thì các thiết chế hoà giải, trọng tài không thuộc hệ thống tư pháp nhưng phải được xem xét đến trong mối quan hệ bên ngoài của hệ thống tư pháp với các thiết chế xã hội

có ảnh hưởng, tác động đến hoạt động và hiệu quả hoạt động của hệ thống tư pháp

Ngoài các tổ chức bổ trợ tư pháp đang tồn tại, xét theo nhu cầu còn có một số loại hoạt động hỗ trợ khác rất cần thiết đối với các cơ quan nhà nước thực hiện quyền tư pháp tư pháp như hoạt động bảo vệ phiên toà, dẫn giải can phạm; tống đạt các loại giấy

tờ đến các đương sự, lập văn bằng xác nhận sự kiện pháp lý khi vừa xảy ra Hiện nay chưa có các tổ chức chuyên trách thực hiện các hoạt động này Trong tiến trình cải cách

tư pháp, cần có cách tiếp cận mở cho việc nghiên cứu mở rộng phạm vi tham gia của các

cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp, đặc biệt là các thiết chế xã hội trong các hoạt động, khâu đoạn của quá trình tố tụng tư pháp

Thứ ba, về các cơ quan thực hiện chức năng quản lý hành chính trong lĩnh vực

tư pháp

Một câu hỏi nữa đặt ra là các cơ quan hành pháp có chức năng quản lý hành chính nhà nước đối với các thiết chế thuộc hệ thống tư pháp thì có thuộc hệ thống này không? Ví dụ Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp với chức năng giúp Chính phủ

và Uỷ ban nhân dân các cấp quản lý thống nhất công tác tư pháp, trong đó có quản lý nhà nước về công tác thi hành án và bổ trợ tư pháp (luật sư, công chứng, giám định tư pháp ) Hay Bộ Công an với tính chất là một hệ thống chỉ huy, quản lý thống nhất toàn ngành công an, trong đó có các cơ quan điều tra Theo quan điểm của Nhóm nhiên cứu

Trang 36

thì do sự khác biệt về chức năng (một bên là quản lý nhà nước, một bên là chuyên trách bảo vệ pháp luật); về tính chất quan hệ (hành chính và tố tụng); về phương thức hoạt

động (mệnh lệnh, điều hành và tài phán độc lập) nên không thể xếp các cơ quan quản lý

hành chính nhà nước về tư pháp vào hệ thống tư pháp mà phải xem xét chúng trong mối quan hệ bên ngoài của hệ thống - quan hệ giữa các cơ quan hành pháp với hệ thống tư

pháp Nội dung, phương thức và hiệu quả thực tế của hoạt động quản lý hành chính về

tư pháp có tác động quan trọng đến hiệu quả của hệ thống tư pháp

Thứ tư, về Viện kiểm sát:

Viện kiểm sát có vị trí đặc biệt trong hệ thống tư pháp Việt Nam do được pháp luật giao thực hiện chức năng kép – công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp

Trong tố tụng hình sự, Viện kiểm sát giữ vai trò công tố Không ai bàn cãi về vị trí quan trọng của hoạt động công tố trong quy trình thực hiện quyền tư pháp, do vậy có thể khẳng định hoạt động công tố chính là hoạt động thực hiện quyền tư pháp

Vấn đề trở nên khó lý giải hơn khi xem xét hoạt động kiểm sát tư pháp của Viện kiểm sát Theo quy định hiện hành trong pháp luật tố tụng thì kiểm sát hoạt động tư pháp bao gồm kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử và kiểm sát thi hành án Về vấn đề này, cũng có ý kiến cho rằng Viện kiểm sát, khi thực hiện chức năng kiểm sát tư pháp sẽ không với danh nghĩa cơ quan tư pháp Trong trường hợp này vai trò của Viện kiểm sát giống với vai trò của cơ quan giám sát - thực hiện các hành vi giám sát theo một trình

tự, thủ tục không phải là thủ tục tư pháp Và bởi vậy, kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động nằm ngoài tư pháp Những vướng mắc trên đòi hỏi có sự nghiên cứu tiếp tục để có những kiến giải hợp lý về chức năng và mô hình tổ chức kiểm sát hay công tố ở Việt Nam

2.3 Các chức danh tư pháp, chức danh bổ trợ tư pháp

Hoạt động thực hiện quyền tư pháp, hoạt động bổ trợ tư pháp do những cá nhân

có trách nhiệm và quyền hạn thuộc các cơ quan tư pháp, bổ trợ tư pháp thực hiện Đó là các chức danh tư pháp, chức danh bổ trợ tư pháp

Cho đến nay, ở nước ta, còn có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm chức danh tư pháp, chức danh bổ trợ tư pháp trong khi chưa có một giải thích khoa học nào được thừa nhận chung cũng như chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào của Nhà nước nào quy định về chức danh tư pháp, do vậy, cũng chưa có sự giải thích chính thức của

cơ quan có thẩm quyền về khái niệm này

Trang 37

Một điều rõ ràng là phạm vi nội hàm khái niệm cơ quan tư pháp, bổ trợ tư pháp

sẽ có ý nghĩa quyết định phạm vi nội hàm khái niệm các chức danh tương ứng Xuất phát từ thực tế là quan niệm về cơ quan tư pháp còn chưa thống nhất nên có quan điểm coi chức danh tư pháp có phạm vi rất rộng bao gồm tất cả những người tiến hành tố tụng

và tham gia tố tụng đã được quy định tại các văn bản QPPL hiện hành: điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, thẩm tra viên, hội thẩm nhân dân, chấp hành viên giám thị, quản giáo, luật sư, giám định viên, công chứng viên… Quan niệm này cũng được thể hiện trong các văn kiện của Đảng về cải cách tư pháp[25] Ngược lại, có quan điểm lại cho rằng, chỉ những người nào trực tiếp thực hiện hoặc để thực hiện quyền lực tư pháp mới là chức danh tư pháp, do vậy chức danh tư pháp chỉ bao gồm: điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, thư ký toà án, hội thẩm nhân dân, thẩm tra viên; còn các chức danh thực hiện hoạt động thi hành án là chức danh hành chính, các chức danh thực hiện hoạt động bổ trợ tư pháp không liên quan trực tiếp đến quyền lực nhà nước nên cũng không phải là chức danh tư pháp[26] Quan điểm coi cơ quan thi hành án thuộc cơ quan tư pháp thì cho rằng chức danh tư pháp bao gồm những người thực thi nhiệm vụ trong các cơ quan tư pháp (điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án) được đào tạo kỹ năng thực hành nghề

và hành nghề theo một chuyên môn nhất định, có danh xưng, được bổ nhiệm hoặc thừa nhận theo pháp luật khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn và điều kiện xác định theo quy định của pháp luật[27]

Theo Từ điển Tiếng Việt[28]: Chức danh là tên gọi thể hiện cấp bậc, quyền hạn, nhiệm vụ của mỗi chức; chức là danh vị thể hiện cấp bậc và trách nhiệm của một người

trong hệ thống tổ chức của nhà nước hay các đoàn thể, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp

Mỗi một chức danh đều phải đáp ứng các tiêu chuẩn nhất định về phẩm chất đạo đức và tri thức, năng lực chuyên môn Các tiêu chuẩn của mỗi chức danh được quy định bởi đặc trưng nghề nghiệp của chức danh đó Các tiêu chuẩn này được thể hiện bằng các

25 Xem Phan Hữu Thư – Khái niệm, phạm vi, đặc điểm, vị trí của các chức danh tư pháp và một số yêu cầu đặt ra

nhằm xây dựng hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn các chức danh tư pháp trong giai đoạn hiện nay Đề tài cấp Bộ

-Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện các chức danh tư pháp - Chủ nhiệm TS Dương Thanh Mai

26 Xem Trần đình Nhã - Chuyên đề thủ tục tư pháp, KX04-06/3

27 Xem PGS.TS Võ Khánh vinh – chuyên đề Chức danh tư pháp – một số vấn đề lý luận, Đề tài cấp Bộ -Cơ sở lý

luận và thực tiễn hoàn thiện các chức danh tư pháp- Chủ nhiệm TS Dương Thanh Mai

28 Từ điển tiếng Việt, Trung tâm ngôn ngữ Hà Nội, 1992, tr.201

Trang 38

quy định pháp luật để làm căn cứ cho việc tuyển dụng, bổ nhiệm hay công nhận và quản

lý các chức danh

Xuất phát từ những quan niệm chung về chức danh và từ quan niệm về hệ thống

tư pháp như đã trình bày ở trên (bao gồm các thiết chế tư pháp và bổ trợ tư pháp), Nhóm nghiên cứu cho rằng cần thiết phải tách riêng hai loại chức danh – chức danh tư pháp và chức danh bổ trợ tư pháp Từ đó:

Chức danh tư pháp, chức danh bổ trợ tư pháp là tên gọi thể hiện cấp bậc, quyền

hạn, nghĩa vụ của một người được Nhà nước bổ nhiệm hay công nhận nếu đáp ứng các tiêu chuẩn do pháp luật quy định để thực hiện các hoạt động tư pháp (chức danh tư pháp thực hiện hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án) hoặc các hoạt động bổ trợ tư pháp (chức danh bổ trợ tư pháp để thực hiện hoạt động luật sư, công chứng, giám định tư pháp)

Các tiêu chuẩn chức danh tư pháp, tiêu chuẩn chức danh bổ trợ tư pháp được xác định trên cơ sở các đặc trưng hoạt động nghề nghiệp chung của các chức danh này và những đặc thù riêng của từng chức danh Những đặc thù này sẽ được đề cập đến ở các phần sau khi phân tích các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, bổ

Có thể hiểu nguyên tắc biểu hiện một cách tập trung tư tưởng, quan điểm cơ bản, làm cơ sở cho sự định hình về mặt tổ chức, sự phát triển, tác nghiệp về mặt hoạt động của sự vật, hiện tượng Nhưng nguyên tắc không dừng lại ở tư tưởng mà phải định hình thành luận điểm, thành nguyên lý làm xuất phát điểm, làm cơ sở cho sự ra đời, phát triển, tác nghiệp của sự vật, hiện tượng

Nguyên tắc tổ chức, thực hiện quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (nói tắt là nguyên tắc tư pháp pháp quyền xã hội chủ nghĩa) chính là những tư tưởng, quan điểm được nâng thành luận điểm, nguyên lý thể hiện bản chất nhân dân,

Trang 39

vì dân

Các nguyên tắc tổ chức, thực hiện quyền tư pháp không phải là một cái gì cố định, bất biến, hình thành ngay một lúc và tồn tại một cách bất di, bất dịch mà có cả một quá trình, từ hình thành, phát triển đến hoàn thiện không ngừng qua từng thời kỳ lịch sử của đất nước

Xét về mặt khách quan, các nguyên tắc tổ chức, thực hiện quyền tư pháp trong một nhà nước thể hiện bản chất của chế độ, phản ánh trình độ phát triển của cơ sở kinh

tế - xã hội và điều kiện lịch sử của đất nước ở từng thời kỳ Về mặt chủ quan, các nguyên tắc định hình thông qua hoạt động tư duy, thông qua khả năng, trình độ nhận thức của con người về nhu cầu và quy luật vận động khách quan của đời sống xã hội Bên cạnh đó, yếu tố truyền thống, lịch sử cũng có tác động không nhỏ lên nội dung, mức độ nhận thức về nhu cầu khách quan có tính đặc thù, riêng biệt của một xã hội cụ thể Vì vậy, cần nói đến các nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền tư pháp thuộc một kiểu chế độ xã hội, nhưng đồng thời cũng phải nói đến các nguyên tắc tư pháp pháp quyền của một xã hội cụ thể với những nét riêng biệt, đặc thù

Đề cập đến tính phổ biến của các nguyên tắc tư pháp pháp quyền lại cũng phải thấy có pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cũng có pháp quyền tư sản Giữa pháp quyền tư sản và pháp quyền xã hội chủ nghĩa có sự kế thừa nhất định Xét về mặt chế định, thể chế, quy tắc, pháp quyền xã hội chủ nghĩa ra đời không phải trên cơ sở phủ nhận sạch trơn pháp quyền tư sản mà có sự kế thừa, chọn lọc những giá trị có tính phổ biến chung

Về hình thức thể hiện, các nguyên tắc tư pháp pháp quyền thường trước hết được biểu hiện, thể chế hoá thành quy tắc, điều luật của hiến pháp - đạo luật cơ bản của một nhà nước, tiếp đó, được ghi nhận, quy định trong các bộ luật tố tụng chuyên ngành và trong các luật về tổ chức bộ máy tư pháp Ở nước ta, trong một số trường hợp, các nguyên tắc tư pháp pháp quyền cũng được quy định tại các văn bản dưới luật như pháp lệnh, nghị định, có khi cả thông tư Những hình thức văn bản này không phù hợp với vị trí của “nguyên tắc” là luận điểm, nguyên lý có tính cơ bản Trong một nhà nước pháp

Trang 40

quyền thì luật, chứ không phải bất kỳ một hình thức văn bản nào có vị trí tối thượng trong đời sống xã hội, vì vậy, trong những điều kiện xã hội bình thường, hình thức văn bản quy định nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các thiết chế tư pháp phải là Hiến pháp, bộ luật, luật

Như vậy, có thể nói, nguyên tắc tổ chức và thực hiện quyền tư pháp được thể hiện thành các quy định của các văn bản pháp luật, trước hết, là Hiến pháp, các bộ luật chuyên ngành, các luật về tổ chức nhà nước nói chung và các cơ quan tư pháp nói riêng Nhưng phải thấy rằng, “đời sống”, “hành tung” của các nguyên tắc này không dừng lại ở đấy Các nguyên tắc phải trở thành tư tưởng chỉ đạo, sợi chỉ đỏ xuyên suốt cả hệ thống pháp luật về quyền tư pháp Cũng vì vậy, toàn bộ hoạt động lập pháp, lập quy về quyền

tư pháp phải thể hiện, quán xuyến lời văn, tinh thần của các nguyên tắc, chuyển tải chúng đến từng quy định có liên quan, bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán của cả hệ thống pháp luật về quyền tư pháp Tuy nhiên, đối với các nguyên tắc tư pháp pháp quyền vấn

đề cũng không chỉ là lập pháp, lập quy Các nguyên tắc đó không chỉ “gửi thân” nơi các quy định của pháp luật, kể cả Hiến pháp, các bộ luật và các luật, mà phải được thâm nhập, “hoá thân” vào đời sống pháp luật, tư pháp sống động mà trước hết là thâm nhập, chi phối, biến thành tư duy, nhận thức công tác của người cán bộ tư pháp trong vận dụng, thi hành, áp dụng pháp luật, và cũng không chỉ là tư duy, nhận thức mà phải thâm nhập vào tiềm thức, tác phong và có thể được, thành thói quen công tác của họ

Nói một cách khác, áp dụng pháp luật chính là “mảng đời” rất quan trọng của cái nguyên tắc tư pháp pháp quyền Thực tế cho thấy rất rõ đây là mặt trận khó khăn nhất trong thực thi quyền tư pháp Thực hiện một cơ chế chặt chẽ, nghiêm minh bảo đảm cho từng quy định của pháp luật thể hiện các nguyên tắc tư pháp pháp quyền được thực thi theo đúng tinh thần và lời văn của nguyên tắc là vấn đề, có thể nói, có tính chất sống còn, liên quan đến việc thiết lập nền công lý của chế độ, đến sự công bằng, lẽ phải mà người dân mong đợi, tìm kiếm ở các cơ quan tư pháp nhất là ở toà án, đến lòng tin của

người dân đối với chế độ và có thể nói, đến cả sự vững bền của chế độ

2 Hệ thống các nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền tư pháp

Các tư tưởng chỉ đạo tổ chức, hoạt động của quyền tư pháp bắt nguồn từ bản chất, chức năng, đặc trưng của phương thức thực hiện quyền tư pháp và các mối quan hệ bản chất giữa thực hiện quyền tư pháp với thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp trong vận hành quyền lực nhà nước thống nhất

Ngày đăng: 14/05/2014, 22:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ trên cho thấy tỷ lệ y án, huỷ hoặc sửa trong một số năm từ 1992 đến 2001.  Theo thống kê của Toà án nhân tối cao, từ năm 2001- 2004, khi xét xử phúc thẩm, Toà - Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của toà án trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân
Sơ đồ tr ên cho thấy tỷ lệ y án, huỷ hoặc sửa trong một số năm từ 1992 đến 2001. Theo thống kê của Toà án nhân tối cao, từ năm 2001- 2004, khi xét xử phúc thẩm, Toà (Trang 154)
Bảng số liệu dưới đây cho thấy trình độ chuyên môn của các luật sư không đồng  đều, số luật sư không có bằng cử nhân luật, số luật sư kiêm nhiệm lại chiếm tỉ lệ đáng - Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của toà án trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân
Bảng s ố liệu dưới đây cho thấy trình độ chuyên môn của các luật sư không đồng đều, số luật sư không có bằng cử nhân luật, số luật sư kiêm nhiệm lại chiếm tỉ lệ đáng (Trang 177)
Hình tranh tụng và nguyên tắc truy tố tuỳ nghi, cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra  khá rộng rãi và giữ vai trò khá độc lập với công tố nhưng lại chịu sự kiểm tra, giám sát  chặt chẽ của toà án và luật về chứng cứ - Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của toà án trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân
Hình tranh tụng và nguyên tắc truy tố tuỳ nghi, cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra khá rộng rãi và giữ vai trò khá độc lập với công tố nhưng lại chịu sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của toà án và luật về chứng cứ (Trang 395)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w