1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ứng dụng thực tế quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và một số giải pháp nông học để nâng cao nâng suất cà phê bền vững ở đăk lăk

86 1,2K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ứng dụng thực tế quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và một số giải pháp nông học để nâng cao năng suất cà phê bền vững ở Đăk Lăk
Tác giả Bộ Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn, Viện Bảo Vệ Thực Vật
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Quản lý dịch hại tổng hợp, Nông học
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài khoa học công nghệ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài rệp sáp ra, các loài sâu đục thân, sâu gặm vỏ, sâu đục hạt, tuyến trùng, bệnh gỉ sắt, bệnh khô cành khô quả cũng đang gây hại cho nhiều vùng cà phê chất lượng cao trong cả nước, cũ

Trang 1

Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn

viện bảo vệ thực vật

báo cáo tổng kết đề tài kh&cn cấp nhà nước

nghiên cứu ứng dụng thực tế quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và một số giảI pháp nông học để nâng cao năng suất cà phê

Trang 2

I Tính cấp thiết của đề tài

Khi đánh giá về những thành tựu đạt được trong sự nghiệp đổi mới kinh tế Việt Nam, các nhà kinh tế thế giới đều thống nhất nhận định: thành công lớn nhất là nông nghiệp Điều đó hoàn toàn đúng, từ năm 1995 đến nay nông nghiệp Việt Nam không chỉ sản xuất đủ lương thực, thực phẩm nuôi sống hơn 83 triệu dân trong nước mà còn dư thừa để xuất khẩu Hàng năm Việt Nam xuất khẩu 4,5triệu tấn gạo, hàng nghìn tấn thịt,

cà phê, tiêu, rau quả, thu về cho đất nước hàng tỷ USD Một nền nông nghiệp hàng hoá

đã hình thành với những sản phẩm xuất khẩu nổi tiếng như cà phê, cao su, chè, rau quả hộp Đến nay Việt nam đã trở thành nước có sản lượng cà phê vượt qua Colombia và chiếm vị trí thứ 2 trên thế giới, chỉ sau Brazil Được xác định là một trong những cây công nghiệp xuất khẩu chủ lực, chỉ sau cây lúa Ngành cà phê đã tham gia có hiệu quả vào các chương trình kinh tế xã hội như định canh định cư, xoá đói giảm nghèo, tạo công

ăn việc làm cho hàng triệu lao động ở miền núi trong đó có một phần là đồng bào dân tộc

ít người và đóng góp một tỷ trọng quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu hàng năm của đất nước

Cây cà phê được trồng chủ yếu tại các tỉnh Tây Nguyên như: ĐakLak, Lâm

Đồng, Gia Lai, đây là những vùng đất đỏ bazan, màu mỡ, có tầng canh tác dày, lại có khí hậu nóng và ẩm nên rất thích hợp cho cà phê Đaklak là tỉnh có diện tích cà phê lớn nhất của cả nước, với diện tích 178.000 ha, sản lượng xuất khẩu trên 300.000 tấn/năm, giá trị xuất khẩu chiếm trên 90% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Cây cà phê đã đóng góp trên 60% GDP của tỉnh và trên 1/4 số dân trong tỉnh sống nhờ vào cây cà phê Ngành cà phê Việt Nam nói chung, Đaklak nói riêng đang đứng trước các thử thách là suy giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế như: chất lượng sản phẩm chế biến còn nhiều điểm bị khách hàng chê trách Giá bán cà phê của Đaklak thường thấp hơn từ 50-150 USD/tấn so với sản phẩm cùng loại của các nước khác Theo tổ chức cà phê thế giới (ICO) từ tháng 10/2006 đến 6/2007) cà phê bị loại thải trên thị trường LIFE

là 958,667 bao trong đó 74 % là của Việt Nam (Ne’stor Osorio-Giám đốc điều ICO- hội thảo triển vọng thị trường cà phê Việt Nam-26-27/3/2008 tại Hà Nội) Những

hành-lý do dẫn đến yếu kém nêu trên là: diện tích cà phê phát triển với tốc độ quá nhanh trong khi cơ sở phục vụ cho sản xuất chưa phát triển một cách tương xứng như: các hoạt

động khoa học công nghệ bao gồm nghiên cứu về giống, kỹ thuật canh tác, bảo vệ thực vật, đến các cơ sở hạ tầng Ngoài ra do mở rộng diện tích cà phê nhanh chóng đã đưa

đến nạn phá rừng, khai thác nguồn nước ngầm và nước mặt một cách bừa bãi dẫn đến cạn kiệt các nguồn tài nguyên, giảm dần độ che phủ thực vật, dẫn đến suy thoái môi trường, các yếu tố khí hậu, đất đai thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho sản xuất nông nghiệp như hạn hán, lũ lụt, ngoài ra các dịch hại trên cà phê phát triển nhanh, với nhiều chủng loài, mức độ và tỷ lệ gây hại ngày càng lớn Để phòng chống dịch hại, người trồng cà phê chủ yếu vẫn dựa vào thuốc hoá học, liều lượng và số lần phun năm sau cao hơn năm trước, việc làm đó đã dẫn đến nhiều vấn đề mới nẩy sinh, rất phức tạp và không thể giải quyết được, như nhiễm độc môi trường, nhiều loại sâu hại mới phát triển tái phát với mức độ trầm trọng hơn sau một thời gian sử dụng thuốc hoá học Chỉ tính riêng vùng cà phê ĐakLak hàng năm có hàng chục ngàn ha bị hại do rệp sáp, gỉ sắt, tuyến trùng, đục thân mức hại từ trung bình đến nặng

Trang 3

Trong các dịch hại quan trọng cho cà phê tại Đăk Lăk từ 1998 đến nay là do tập đoàn rệp sáp: Rệp sáp hại tất cả các bộ phận trên mặt đất và dưới mặt đất của cây

cà phê Các địa phương bị rệp sáp hại nặng của Đăk Lăk là Krông Búk 3.700 ha, Ea Hleo 3.500 ha, thành phố Buôn Ma Thuột 3.147 ha, Krông Păk 2.130 ha Nhiều diện tích cà phê sau khi nở hoa đậu quả bị nhiễm rệp sáp làm rụng hết quả Các diện tích cà phê bị hại nặng đã giảm năng suất cà phê nghiêm trọng Rệp sáp gây hại không chỉ làm

ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển, năng suất của cây cà phê trong thời điểm bị hại của ngay năm bị hại, mà nó còn gây ảnh hưởng cho vườn cà phê vào các năm kế tiếp sau, nếu cà phê không được chăm sóc, hồi phục tốt Các địa phương của tỉnh Đaklak đã triển khai các biện pháp phòng trừ rệp sáp, nhưng hiệu quả thấp Theo số liệu điều tra của Chi cục BVTV ĐakLak hàng năm toàn tỉnh đã đưa vào sử dụng khoảng 600 tấn thuốc BVTV các loại vào quản lý dịch hại cho cây cà phê, cá biệt có nơi sử dụng tới 35 lít thuốc trừ sâu/1 ha cà phê/1 vụ (Nguyễn Văn Khoa, 1999) Người sản xuất và các nhà hoạch định chính sách thực sự lúng túng trước tình trạng rệp sáp gây hại cà phê, trước thực trạng trên Bộ KHCN đã giao nhiệm vụ cho Viện Bảo Vệ Thực Vật thực hiện đề tài

"Nghiên cứu ứng dụng thực tế quản lý dich hại tổng hợp (IPM) và một số giải pháp nông học để nâng cao năng suất cà phê bền vững ở đăk lăk ” bắt đầu từ năm 2005

Nhằm đề xuất được biện pháp phòng chống rệp sáp có hiệu quả phục vụ sản xuất cà phê

ĐakLak

Trang 4

Chương I Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước

Cà phê là cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, là một mặt hàng thương mại quan trọng ở trên thị trường quốc tế Nếu so sánh với những mặt hàng được buôn bán nhiều nhất thì mặt hàng cà phê chỉ đứng sau sản phẩm dầu hoả Theo tài liệu của Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) trên thế giới hiện nay có khoảng 80 nước trồng cà phê với tổng diện tích trên 10 triệu ha và giá trị hàng hoá xuất khẩu hàng năm khoảng 55 tỷ đô la Ngày nay có tới hàng trăm triệu người trên thế giới uống cà phê, và ở các nước trồng cà phê

đã sử dụng tới 20 triệu người lao động

+ Cà phê vối (Coffea canephora): từ Tây Phi và Madagascar đưa sang Nam Mỹ và

Amsterdam vào năm 1899 Sau đó từ Amsterdam (Hà Lan) đưa sang Java vào năm

1900 và sau đó từ Java lại trở về châu phi vào năm 1912 Cà phê vối có chiều cao từ

8-12 m, nhiều thân, ít cành thứ cấp Cà phê vối Coffea canephora var robusta là giống

được trồng nhiều nhất, chiếm trên 90% diện tích cà phê vối trên thế giới Các nước trồng nhiều cà phê vối gồm có Camaroon, Côte’ d’Ivoire Uganda, Madagascar, ấn Độ, Indonexia, Philippines, Brazil Tại Việt Nam giống cà phê vối Coffea canephora var robusta được trồng trên 95% diện tích

+ Cà phê chè (Coffea arabica): từ Ethiopia đem đến Yêmen sang Java (1690) đến

Amsterdam năm 1706, sang Trung Mỹ năm 1724, đến Colombia năm 1724 Cà phê chè

có nhiều giống như Typica, Bourbon, Caturra (Brazil, Colombia), Mundo Novo (Brazil), Tica (Trung Mỹ), giống lùn San Ramon và giống Blue Mountain ở Jamaica

Cà phê chè và cà phê vối là hai giống quan trọng nhất về mặt kinh tế, chiếm trên 90% sản lượng cà phê toàn thế giới Ngoài ra còn 2 loài cà phê khác được trồng với quy mô nhỏ hơn là Coffea liberica Bull var liberica (được gọi là cà phê dâu da) và Coffea deweira var Excelsa ( được gọi là cà phê mít)

- Sản xuất và tiêu thụ cà phê trên thế giới: căn cứ vào loại cà phê xuất khẩu ICO

đã chia các nước sản xuất cà phê thành các nhóm: nhóm sản xuất cà phê Arabica, nhóm sản xuất cà phê Robusta Tuy nhiên cũng có nước thuộc nhóm Arabica cũng sản xuất

cà phê Robusta hay ngược lại có những nước thuộc nhóm Robusta cũng sản xuất cà phê Arabica

Trang 5

Theo thống kê của FAO sản lượng cà phê trên toàn thế giới vào năm 2000 đạt 7.259 triệu tấn, năng suất trung bình đạt 618 kg/ha và diện tích trồng 11.748.000 ha Đảo Hawaii (Mỹ), là những nơi có truyền thống về nghề trồng cà phê, còn ở đảo Kona cây cà phê đã được trồng và thương mại hoá cách đây hàng trăm năm Tại Puerto Rico sản lượng cà phê đạt 8.650 tấn vào năm 2001, với giá trung bình là 4.041 đô la/tấn và tổng thu nhập là 34.955 triệu đô la, tại khu vực này cây cà phê là cây đứng thứ 2 về giá trị hàng hoá ở nhiều nước đang phát triển, cà phê là một ngành sản xuất quan trọng, giá trị kim ngạch xuất khẩu cà phê ở một số nước có tỷ trọng khá lớn trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu, trong đó có Việt Nam

Cũng theo dự báo của FAO (2006), hàng năm diện tích trồng cà phê trên toàn thế giới tăng 0,5% từ năm 2000 đến 2010, sản lượng ước tính hàng năm đạt 7 triệu tấn (117 triệu bao) Các nước thuộc Mỹ La Tinh và Caribbean vẫn là các nước dẫn đầu về năng suất, diện tích và sản lượng cà phê trên thế giới Tại Brazil kế hoạch giảm sản lượng cà phê xuống còn 1,3 triệu tấn vào năm 2010 so với 2,1 triệu tấn trong giai đoạn 1998-

2000 Còn Colombia dự kiến sẽ đạt sản lượng 747.000 tấn cà phê vào năm 2010 so với năm 1998-2000 là 699.000 tấn Các nước khác ở Trung Mỹ như Mexico kế hoạch đạt sản lượng 273.000 tấn, Guatemala đạt 348.000 tấn và Costa Rica đạt 194.000 tấn vào năm 2010 Châu Phi, diện tích trồng cà phê sẽ tăng 1,5% hàng năm, nhìn chung chiến lược ở khu vực này là tăng năng suất chứ không tăng diện tích trồng cà phê từ nay đến năm 2010 Ethiopia là nước sản xuất cà phê chè lớn nhất Châu Phi , sản lượng ước đạt 207.000 tấn vào năm 2010 Châu á dự định tăng diện tích trồng cà phê hàng năm 2,1%,

đạt 1,7 triệu tấn vào năm 2010 Indonesia là nước sản xuất cà phê lớn nhất trong khu vực, kế hoạch đến năm 2010 đạt 654 000 tấn Còn tại ấn Độ diện tích trồng tăng 3,1 %/ năm, sản lượng đạt 409 000 tấn vào 2010 Việt Nam, theo dự tính diện tích trồng cà phê hàng năm tăng 2,0% và ước tính sản lượng đạt 561 000 tấn vào năm 2010

Có thể thấy sản lượng cà phê thế giới phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết khí

hậu, các diễn biến khí hậu bất thường như hạn hán, mưa bão, sương muối ảnh hưởng

rất lớn không những đến sản lượng cà phê ngay ở vụ đó mà còn ảnh hưởng đến viễn

cảnh của sản xuất cà phê Khu vực Châu á - Thái Bình Dương bị hạn hán nghiêm trọng,

đáng kể là Indonesia, Papua New Guinea và Philippines Nắng hạn đã gây ra nhiều vụ cháy rừng, huỷ hoại môi trường Nhiều diện tích cà phê đã bị cưa bỏ, trong đó Việt Nam đã từng chịu ảnh hưởng nghiêm trọng do thời tiết hạn hán gây ra cho cà phê Ngoài ra mưa lớn cũng gây tổn thất cà phê, nhất là vào giai đoạn thu hoạch và chế biến

Phân bón: cà phê là loại cây lâu năm, vì vậy việc bón phân không chỉ để nuôi quả

mà còn để tại cành lá dự trữ cho năm sau Tại ấn Độ lượng phân bón bình quân cho 1 ha

có năng suất dưới 1 tấn là 80kg N, 60 kg P2O5, 80 kg K2O và trên 1 tấn cần là 120 kg

N, 90 kg P2O5, 120 kg K2O ( Bheemaiah, 1992) Cũng theo tác giả cho biết, lượng dinh dưỡng lấy đi từ sản phẩm thu hoạch chỉ bằng 1/3 tổng số dinh dưỡng mà cây cần để nuôi quả và bộ khung tán

Nước tưới: caramori (1996) đã thông báo kết quả thực nghiệm từ 1957-1961 tại

Trang 6

1900 mm Nhờ vậy tổng sản lượng cà phê tăng 370kg/ha (tăng 12%), trung bình mỗi năm tăng 0,77kg/ha trên 1 mm nước tưới

Gathaara và Kiara (1988) đã thông báo kết quả thực nghiệm từ 1984-1987 cho việc tưới nước cho cà phê ở vùng Ruiri, Kenya thấy rằng nếu cà phê được tưới nước trong suốt hai mùa khô đã làm sản lượng cà phê hạt tăng, cũng như tăng chất lượng cà phê loại A lên

đáng kể từ 30-43% Ngoài ra tác giả còn khuyến cáo là lượng nước tưới nên là 38 mm chu kỳ tưới là 21 ngày Còn Akunda và Kuma (1981) đề nghị quyết định thời điểm tưới dựa vào lúc giấy clorua coban khô chuyển từ màu xanh sang màu hồng khi áp tờ giấy vào mặt lá từ 4-5 phút lúc giữa trưa nắng ở Kenya Lượng nước tưới trong lá có khoảng 2,0 Mpa và khi đó tiến hành tưới

Có rất nhiều cách tưới để lựa chọn cho phù hợp với cây cà phê Vì thiết bị tưới rất

đa dạng, tuy nhiên có ba loại hệ thống tưới sau đây đã áp dụng trên cà phê ở nhiều nước trên thế giới

1) Hệ thống tưới béc: có thể di động hoặc cố định, tưới cách này cần để nước thấm sâu, hiệu quả việc tưới đạt 80-85% Tưới cách này làm sạch lá, kích thích quá trình hoa nở

2) Hệ thống tưới gốc: trang thiết bị rẻ tiền, tổn thất nước thấp, chi phí nhiên liệu thấp , tuy nhiên chi phí nhân công cao, thao tác nặng nề, cần tạo bồn xung quanh gốc Làm bộ

rễ tổn thương do làm bồn (thế giới không sử dụng) Việt Nam là nước duy nhất áp dụng phổ biến kỹ thuật này cho cà phê, vì trồng âm do vậy khi làm bồn không gây tổn thương

đến rễ

3) Kỹ thuật tưới nhỏ giọt: được sử dụng ở ấn Độ, Brazil (Azizuddin, 1994) Phương pháp này tổn thất nước ít nhất, giảm chi phí vận hành và hạn chế cỏ dại… tuy nhiên lại tốn kém cho chi phí trang thiết bị Theo Ram (1992) tưới nhỏ giọt làm tăng năng suất cà phê lên 1,764 kg/ha so với không tưới

Các nghiên cứu về sâu bệnh hại cà phê

Bệnh hại chính trên cà phê

Bệnh gỉ sắt : bệnh do nấm Hemileia vastatrix gây ra Những diện tích cà phê bị hại

do nấm này có thể sẽ không bao giờ phục hồi sau khi bị hại nặng Bệnh có liên quan tới nhiệt độ, bào tử ở trên lá, nảy mầm và lấy dinh dưỡng từ lá, làm cho lá chuyển sang màu nâu và màu gỉ sắt Nhiệt độ thấp thì quá trình nảy mầm diễn ra chậm hơn, ở những khu vực ở độ cao so với mực nước biển, nhiệt độ và độ ẩm ở đó sẽ làm cho bào tử nấm nảy mầm rất chậm đến nỗi lá chết tự nhiên trước khi bào tử nấm có thể xâm nhập và gây hại Nói chung bệnh gỉ sắt lá hại cà phê chè arabica hơn là cà phê vối robusta Bệnh

có mặt ở nhiều vùng trồng cà phê trên toàn thế giới

Người ta đã tìm thấy những cây cà phê sống sót trên một vườn cà phê thuộc giống

cà phê chè arabica trên một vườn cà phê đã bị xoá sổ bởi bệnh gỉ sắt Tên người chủ

Trang 7

vườn là Kent, do vậy người ta gọi là cây cà phê Kent Cây cà phê Kent sau đó đã được

gửi tới ấn Độ, Đông á, và nhiều khu vực khác nơi mà nấm Hemileia vastatrix gây hại

nặng Các cây cà phê thuộc loài cà phê Kent có thể chống chịu với nấm gỉ sắt rất tốt

Bệnh đốm lá do nấm: bệnh này làm chết cây nhanh hơn bệnh gỉ sắt Lá rụng, héo úa

và tách rời Bệnh phổ biến ở châu Mỹ Nhiều vùng ở Mehico, Guatelama, Costa Rica, Colombia và Brazil có những vườn cà phê bị xoá sổ bởi loài bệnh này Bệnh đốm lá do nấm gây hại cả trên các cây trồng khác như cacao, cam quýt, chúng chỉ hại cà phê chè arabica Phương pháp hiệu quả trừ bệnh đốm lá là sử dụng Perenox, Captan, pha chế với

7 kg sunphat đồng, 7 kg vôi, và khoảng 140 lít nước phun mù để ngăn chặn bệnh

Bệnh trên quả : bệnh do nấm Colletotrichum coffeanum loài nấm này thuộc giống

Colletotrichum và được coi như là nòi hoạt động tích cực so với hai loài nấm trên

Nấm Colletotrichum coffeanum chỉ gây hại trên quả Bệnh gây hại ở nhiều thời

điểm khác nhau, khi nấm Colletotrichum coffeanum tấn công vào những mô màu xanh

ở giai đoạn bắt đầu hình thành quả và xâm nhập vào bên trong quả gây hại hạt Bệnh gây hại nghiêm trọng ở Kenya và Congo Các giống cà phê như Jamaican Blue Mountain có khả năng chống chịu với bệnh tốt Phòng trừ bệnh bằng phun Perenox và những thuốc trừ nấm có chứa đồng khác phun 4 lần trong 1 năm

Bệnh héo Tracheomycosis: bệnh do nấm Fusarium xylorioides Đây là bệnh do vi

sinh vật gây ra, chúng ở trong đất và xâm nhập vào các vết thương ở tầng thấp hoặc ở dưới rễ Bệnh lan qua thân vào các sợi mạch Triệu chứng của bệnh là làm vàng và rụng lá Bệnh thường gây hại cây cà phê ở các vùng đất khô và ấm ở các khu vực gần xích đạo Châu Phi Bệnh tấn công cà phê vối robusta và làm xoá sổ hàng vạn ha cà phê

ở các vùng nói trên

Sâu hại chính trên cà phê

-Tuyến trùng (TT) hại cà phê: đây là loài dịch hại nguy hiểm trên cà phê của nhiều

nước trên thế giới Chiến lược quản lý tuyến trùng là làm giảm quần thể tuyến trùng dưới mức có thể gây ra thiệt hại, các biện pháp cần áp dụng như sau

Trước trồng: trên những khu ruộng bị hại nặng, để đất trống ít nhất 9 – 12 tháng trước khi trồng lại Giữ ruộng không bị cỏ dại mọc Mục đích là làm giảm những khu vực sinh sản của ký chủ của tuyến trùng Cũng có thể trồng cây che phủ đất, những cây không phải là ký chủ của tuyến trùng Tuy nhiên giải pháp này sẽ không có hiệu quả nếu vẫn có cỏ dại xâm nhập vào cây trồng che phủ đất

Cây giống : trong trường hợp ruộng không bị nhiễm TT nốt sưng, chọn cây giống khoẻ Loại bỏ tất cả các cây giống bị nhiễm từ vườn ươm Trồng cà phê trên đất đã

được khử trùng, tuân thủ đúng các thao tác vệ sinh trong vườn ươm

Trang 8

Phòng trừ cỏ dại: phòng trừ tất cả các loài cỏ dại là ký chủ của TT nốt sưng trên ruộng cà phê, đặc biệt là những diện tích bao quanh gốc cà phê và giữa các luống cà phê Những cây cà phê trồng lại có thể mang một số lượng khá lớn quần thể TT nốt sưng

Trồng lại: trồng lại những ruộng cà phê bị hại nặng bằng những cây con được ghép trên gốc ghép có sức chống chịu với TT Nếu có thể trồng ở những khu vực ở độ cao trước sau đó đến khu vực dưới thấp để ngăn chặn sự di chuyển của TT qua con đường xói mòn đất Nhổ bỏ tất cả các cây và rễ cây trên các vườn bị nhiễm bệnh Giải pháp này nhằm ngăn chặn sự tăng lên của quần thể tuyến trùng

Quản lý đất: bổ sung những thành phần hữu cơ vào trong đất gần gốc cây cà phê để kích thích sự cạnh tranh của các vi sinh vật với TT và nâng cao tính chất đất Che phủ hữu cơ cũng sẽ giúp duy trì độ ẩm đất và tăng cường dinh dưỡng cho cây cà phê Che phủ nên cách thân chính của cây một vài cm

Vệ sinh: tránh không để lây lan TT từ khu vực bị nhiễm sang khu vực không bị nhiễm

Điều tra: điều tra định kỳ để phát hiện kịp thời, xác định sự phân bố và sự nghiêm trọng của những triệu chứng làm suy giảm năng suất

Biện pháp canh tác

Tránh việc tưới nước và bón phân quá nhiều trên những khu ruộng bị nhiễm bệnh và

TT nặng Tưới nước quá nhiều sẽ làm tăng nốt sưng và giúp cho TT sinh sản mạnh hơn

và cũng làm tăng cường sự di chuyển của chúng trong đất Vườn cà phê cần có hệ thống thoát nước để tránh xói mòn và sự di chuyển của TT trên vườn

Thường xuyên phân tích mẫu đất và mô lá để đánh giá tình trạng dinh dưỡng đất Những cây cà phê bị hại do TT điển hình là những cây bị mất cân bằng về dinh dưỡng

Để đất hoang tới tận khi mật độ quần thể TT dưới mức gây ra những thiệt hại có thể xác định được Một số thao tác giúp làm giảm quần thể TT một cách nhanh chóng đó là:

ắ Không để cỏ dại mọc

ắ Tạo điều kiện để đẩy nhanh sự phân huỷ của rễ cà phê

ắ Lấy mẫu để xác định quần thể TT

- Sâu đục lá cà phê: thường xuất hiện vào lúc thời tiết khô, có đỉnh cao vào tháng 1-2

và nghiêm trọng hơn là vào tháng 6-7 ở Puerto Rico Sâu đục lá hại đã tạo ra các vết thương ngoằn nghèo trên lá, lá bị hại sớm bị rụng Nếu sâu đục lá không được phòng trừ đúng sẽ làm giảm 50% khả năng quang hợp, làm giảm đáng kể trọng lượng của

Trang 9

cành (70%), rễ (60%) Sâu non ăn phần thịt lá tạo ra những đốm nâu và làm giảm năng suất cà phê nghiêm trọng

- Rệp sáp: các nghiên cứu về rệp sáp và rệp sáp mềm hại cà phê trên thế giới cho thấy,

loài rệp sáp xanh (Coccus viridis), Rệp hình bán cầu (Saissetia coffeae), rệp sáp (Plannococcus sp.) thường gây hại nặng vào mùa khô trên cả vườn ươm, cây nhỏ và cây

đã lớn Rệp hại làm cho lá vàng, rụng và làm chết cây

Các kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của chúng như sau: chúng sống thành quần tụ ở mặt dưới của lá, cành và thân Quần thể lớn làm cho cây sinh trưởng kém, chồi và lá nhỏ đi, ảnh hưởng đến quang hợp và số lượng chồi làm quả nhỏ và kém chất lượng

Rệp hút dịch cây từ bên trong vỏ cây bằng việc chích vòi hút vào cành Rệp sáp hại cả rễ cây Chúng hình thành những lớp vỏ cứng xanh bao phủ: rệp sáp xanh hoặc rệp sáp nâu, và rệp hình bán cầu Chính điều này đã làm cho chúng rất khó phòng trừ bằng cả thuốc hoá học và sinh học Rệp non mới hình thành di chuyển từ những lớp sáp

sử dụng các thuốc trừ sâu ít độc và đúng phương pháp, đúng thời điểm

Để phòng trừ tổng hợp dịch hại cà phê có một số nghiên cứu về vấn đề này như sau: khi phòng trừ dịch hại nếu quá lệ thuộc vào thuốc hoá học sẽ nẩy sinh tính kháng thuốc của sâu hại: trong nhiều trường hợp sử dụng thuốc hoá học có phổ tác động rộng

là tăng cường sâu hại thông qua việc tiêu diệt những côn trùng có ích (KTTN) Chẳng hạn như ở Brasil chỉ ra việc sử dụng thuốc Dicrotophos organophosphate ở nồng độ cao

sẽ dẫn đến sự bùng phát số lượng sâu đục lá cà phê vào thời điểm 2 tháng sau khi phun thuốc do sự giảm nhanh của ong ký sinh sâu hại

3 chiến lược trong phòng trừ sinh học

a) Chiến lược phòng trừ sinh học (PTSH) cổ điển

Rệp cà phê, Planococcus kenya được lan truyền từ Uganda sang Kenya vào đầu

những năm 1920, sự bùng phát loài dịch hại này xảy ra vào thời gian ngay sau đó Việc

thả ong ký sinh anagyrus kivensis nhập từ Uganda đã có hiệu quả cao trong việc trừ loài

sâu hại này Bên cạnh một số thành công, song cũng có những thất bại Bởi biện pháp PTSH cổ điển luôn yêu cầu điều kiện khí hậu và sinh thái của hệ sinh thái nông nghiệp

Trang 10

của các vùng này phải phù hợp cho việc thiết lập quần thể những loài nhập nội và bất cứ loại thuốc hoá học nào được sử dụng phải ít ảnh hưởng tới chúng

Chương trình PTTH sâu đục quả cà phê được tài trợ bởi tổ chức cà phê quốc tế ở

Mỹ Latin, ấn Độ và Caribe với mục đích là kết hợp và đưa vào những ong ký sinh của sâu đục quả cà phê từ các nước Tây phi với việc sử dụng thuốc trừ sâu sinh học, các biện pháp canh tác có hiệu quả và sử dụng thuốc trừ sâu chọn lọc khi cần thiết Việc tập huấn nông dân về lựa chọn và thích nghi với những phương pháp này là rất cần thiết để tiến hành chương trình

- Chiến lược bảo tồn

Chiến lược tiếp theo là việc bảo tồn những loài có ích đã có trong tự nhiên (KTTN) Thuốc trừ sâu chỉ sử dụng như là liệu pháp cuối cùng khi mà các biện pháp khác không thu được kết quả cần thiết, tuy nhiên khi sử dụng thuốc trừ sâu, cần sử dụng

ở mức tối thiểu, có hiệu quả và đúng đối tượng Ngoài ra cần sử dụng các loại thuốc trừ sâu sinh học an toàn cho các loài có ích trong tự nhiên

Thuốc hoá học cũng có thể được dùng hiệu quả hơn nhờ phương pháp sử dụng chúng Một ví dụ điển hình là sử lý đoạn thân cà phê ở dưới để trừ kiến Hầu hết kiến là

những loài bắt mồi quan trọng, song có những loài nhất định như loài Pheidole

punctulata, chúng sử dụng chất thải của rệp làm thức ăn và bảo vệ rệp khỏi nhiều

KTTN Vì vậy, trừ kiến là một phần trong công tác phòng trừ rệp hại

- Chiến lược nhân số lượng thiên địch

Biện pháp này là chủ động thúc đẩy quần thể KTTN vốn đã có trong hệ sinh thái nhưng chưa thể ngăn chặn dich hại đạt tới mức thiệt hại kinh tế Tại Colombia, người

dân đã phun chế phẩm nấm Beauveria bassiana để nhiễm và tiêu diệt sâu đục quả cà

phê lên vườn cà phê để làm tăng cường sự có mặt của chúng trong môi trường tự nhiên

b) Phòng trừ bằng biện pháp canh tác

Có một vài biện pháp canh tác cụ thể cho từng loài sâu hại Đối với sâu hại quan trọng là sâu đục quả cà phê, do loài sâu này có thể sống sót từ vụ này sang vụ khác ở trong quả cà phê rơi xuống đất hoặc quả còn sót trên cây Vì vậy một biện pháp quan trọng là vệ sinh, nhặt bỏ những quả chín, quả khô ở dưới đất và ở trên cây vào cuối mỗi

vụ

- Đốn tỉa: việc đốn tỉa để làm tăng sự sinh trưởng của cây cà phê, cắt đi những cành vô

hiệu và làm thông thoáng tán cây làm cho cây tiếp xúc với ánh sáng và không khí lưu thông tốt làm giảm độ ẩm và nhiệt độ Điều kiện này không thuận lợi cho một số sâu và bệnh hại cà phê như bệnh hại quả và bọ xít Người trồng cà phê ở Kenya quan sát thấy

tỷ lệ ký sinh đối với bọ xít Antestia cao hơn ở những vườn được đốn tỉa so với vườn không được đốn

Trang 11

Bên cạnh đó, khi canh tác tốt, cây cà phê sẽ phát triển tốt, làm tăng khả năng chống chịu đối với sâu bệnh hại, hoặc làm cho cây có khả năng bù lại những thiệt hại

có thể xảy ra

-Che phủ: che phủ với những nguyên vật liệu hợp lý làm tăng cường độ màu mỡ cho

đất, giữ ẩm, giảm độ axit Che phủ cũng làm duy trì tầng đất mặt hạn chế sự rửa trôi

Che phủ còn có ảnh hưởng trực tiếp đến quần thể dịch hại, bọ trĩ phát triển rất nhanh trong điều kiện nóng và khô, nên đất được che phủ sẽ vừa ẩm và mát làm giảm

bọ trĩ

Tuy nhiên, biện pháp che phủ có thể làm tăng sự thiệt hại do sâu đục lá do tạo điều kiện thuận lợi cho chúng phát triển khi chúng rơi xuống đất và hoá nhộng

c) Biện pháp sử dụng giống chống chịu sâu bệnh hại

Sử dụng giống chống chịu là một trong những chiến lược quan trọng trong PTTH Hiện nay đã có các giống chống chịu với nhiều loài sâu và bệnh hại Chẳng hạn như giống Ruiru11 chống chịu với bệnh hại quả phát triển ở Kenya Hầu hết các giống chống chịu với bệnh gỉ sắt chỉ có hiệu lực với một hoặc 1 vài chủng nấm, nhưng tổ hợp lai tự nhiên từ Timor lại có khả năng chống chịu với tất cả các chủng quan trọng của nấm gỉ sắt cà phê Tổ hợp lai này đã được sử dụng trong chương trình nhân giống với các giống cà phê Caturra ở Brazil và Colombia để phát triển giống Catimor chống chịu với tất cả các chủng nấm chính Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện nay chưa có thông tin nào cho thấy trên thế giới đã chọn tạo ra giống cà phê chống chịu rệp sáp

1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Cách đây 32 năm, một phần ba thế kỷ, vấn đề phát triển cây cà phê được đặt ra với những bước khởi đầu rầm rộ, chủ yếu là tại địa bàn hai tỉnh Đăklăk và Gia lai, Kontum

ở Tây Nguyên Vào thời gian này cả nước mới chỉ có không đầy 20 ngàn hécta phát triển kém, năng suất thấp, với sản lượng chỉ khoảng 4.000-5.000 tấn Đến năm 2000 cả nước đã có 500.000ha cà phê hầu hết sinh trưởng khoẻ, năng suất cao, tổng sản lượng

đạt tới 80 vạn tấn Những con số đó vượt xa tất cả mọi suy nghĩ, mọi mục tiêu chiến lược của ngành Sau 32 năm ngành cà phê từ chỗ chỉ có trên dưới 20 ngàn hecta với sản lượng khoảng 5000 tấn, đến cuối thế kỷ XX cả nước đã có trên nửa triệu hecta sản lượng vụ cao nhất gần 1 triệu tấn (Đoàn Triệu Nhạn, 2004) Đặc biệt, năm 2006 cà phê Việt Nam đã có bước tăng trưởng rất đáng kể về kim ngạch xuất khẩu (hơn 1,1 tỷ USD)

và trở thành mặt hàng nông sản chủ lực có lợi thế cạnh tranh trong nhóm hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam Thành tựu đó được ngành cà phê thế giới ca ngợi và chúng ta

đã từng tự hào vì nó Tuy nhiên trong vài năm trở lại đây do kích thích mạnh mẽ của giá cả thị trường, cà phê đã từng mang lại cho các nhà sản xuất lợi nhuận siêu ngạch Tình hình phát triển cà phê đã ra khỏi tầm kiểm soát của ngành cũng như của Nhà nước, chính vì sự tăng trưởng nhanh chóng với mức độ lớn đã dẫn đến một số tác động xấu

đến sản xuất cụ thể là: một số năm giá cả xuống thấp, các tài nguyên đất và nước bị

Trang 12

khai thác cạn kiệt, sâu bệnh phát triển đa dạng, tàn phá trên diện rộng như rệp sáp, tuyến trùng, gỉ sắt, rệp sáp và gần đây lại là ve sầu

Chúng ta cùng nhìn nhận những mặt mạnh và những vấn đề khó khăn mà sản xuất

cà phê tại Tây Nguyên hiện nay đang phải đối mặt

Kỹ thuật thâm canh cây cà phê: theo TS Lê Ngọc Báu, phó Viện trưởng Viện

Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên, biện pháp tưới nước cho cây cà phê

đã trở thành yếu tố quan trọng trong việc hình thành năng suất kỷ lục của ngành cà phê Việt Nam Với năng suất cà phê bình quân khoảng 1,7 tấn/ha, Việt Nam được xếp vào loại cao nhất thế giới (năng suất bình quân của các nước trồng cà phê thấp hơn 0,7 tấn/ha) Do đó, nhiều nông dân trồng cà phê có khuynh hướng sử dụng một lượng nước cao hơn nhiều so với nhu cầu của cây, điều này không những gây lãng phí mà còn làm mất chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng Việc sử dụng quá mức lượng phân bón tại các vùng chuyên canh cà phê thường cao hơn từ 10 – 23% so với yêu cầu dinh dưỡng của cây trồng, dẫn tới chi phí sản xuất cao Biện pháp loại bỏ cây che bóng cũng được xem như là một tiến bộ kỹ thuật quan trọng trong nghề trồng cà phê ở Việt Nam và không thể phủ nhận tác dụng tăng năng suất của biện pháp này Tuy nhiên, sự bùng nổ của dịch bệnh và tình trạng hạn hán, thiếu nước tưới trong những năm gần đây khiến cho nhiều người lo ngại về tính bền vững của biện pháp này trong các vườn trồng cà phê Đi đôi với cải thiện chất lượng sản phẩm, việc áp dụng quy trình sản xuất thân thiện với môi trường cùng với các tiến bộ kỹ thuật đã được công nhận là rất cần thiết như: thay thế giống xấu, năng suất thấp bằng các giống vô tính có tiềm năng năng suất cao, kích cỡ hạt lớn hơn, khả năng kháng cao bệnh gỉ sắt của Viện Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên chọn lọc phóng thích ra sản xuất Khuyến khích nông dân trồng xen các loại cây lâu năm trong vườn cà phê nhằm giảm thiểu những rủi ro do biến động của thời tiết, sâu bệnh và giá cả mà còn nâng cao thu nhập nhờ vào các sản phẩm thu từ những cây trồng xen

Về nước tưới: theo một nghiên cứu của Dave A.D’Haeze cho biết: cà phê vối Đaklak

với phương pháp tưới dí mà các chủ vườn đang áp dụng hiện nay có thể sẽ dẫn tới thảm

hoạ cạn kiệt nguồn nước ngầm ở Tây Nguyên vào mùa khô Nếu giảm đi 40% lượng nước tưới so với như phương pháp tưới hiện nay thì cà phê vẫn cho hiệu quả cao

Về phân bón: lượng phân bón cần cho 1 ha cà phê có năng suất 3 tấn nhân là 340 kg

N, 100 kg P2O5 và 230 kg K2O (Tôn Nữ Tuấn Nam, 1993) Cũng theo tác giả Tôn Nữ Tuấn Nam thì cà phê yêu cầu khá cao về lưu huỳnh, tuy đất đỏ Bazan Tây Nguyên lượng lưu huỳnh khá cao từ 300- 700 ppm, nhưng không đủ để đảm bảo cho cây cà phê sinh trưởng, phát triển tốt và cần bổ sung từ 30- 60 kg S/ha/năm bằng cách dùng phân ammonnium sulfate (SA)

Việc sử dụng phân chuồng làm tăng năng suất cà phê vối Tây Nguyên, cụ thể là tác giả Trương Hồng (1999) cho biết, khi bón bổ sung 20 tấn phân chuồng/ha theo chu

kỳ 3 năm 1 lần có tác dụng nâng cao năng suất trên 15% và có hiệu quả kinh tế cao hơn

so với đối chứng không bón

Trang 13

Theo kết quả nghiên cứu mới nhất của Viện KHKTNLN Tây Nguyên thì lượng phân hoá học bón theo tỷ lệ 3,2 : 1 : 3,5 tức là 448 kg N, 200 kg SA, 465 kg P2O5 và

455 kg K2O đã cho hiệu quả sử dụng phân bón là cao nhất (Hoàng Thanh Tiệm, 2004)

Theo Trình Công Tư (1999) cho biết tổ hợp phân khoáng có tác dụng cho sinh trưởng phát triển và năng suất của cà phê vối trên đất đỏ Bazan Tây Nguyên là 400 kg

N, 150 kg P2O5, 400 kg K2O cho 1 ha và đạt năng suất là 3,71 tấn/ha

Về giống và phương pháp thu hái: theo kết quả đánh giá của TS Hoàng Thanh Tiệm

chủ nhiệm đề tài “áp dụng TBKHCN nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cà phê vối của tỉnh Đaklak” năm 2004 cho biết: khâu yếu nhất trong ngành cà phê Việt Nam

là nghiên cứu đổi mới giống, phần lớn diện tích cà phê được trồng bằng hạt do nông dân tự chọn lấy, do đó vườn cây không đồng đều, tỷ lệ cây không có hiệu quả chiếm 10-15% (Trinh Đức Minh, 1997) (trích theo Hoàng Thanh Tiệm, 2004), cỡ hạt nhỏ trọng lượng 100 nhân thấp ( 13-14 g), tỷ lệ đạt tiêu chuẩn loại 1 thấp, chỉ đạt 30-40% (Nguyễn Thị Đa, 1997) (trích theo Hoàng Thanh Tiệm, 2004) Tập quán thu hái nhiều quả xanh và thiếu phương tiện chế biến đã làm cho chất lượng cà phê Đaklak chưa cao,

tỷ lệ hạt đen từ 2-8% (Hoàng Anh, 1999) (trích theo Hoàng Thanh Tiệm, 2004)

Về sâu bệnh hại và biện pháp quản lý chúng

Các loài dịch hại trên cà phê đa dạng về chủng loại Theo kết quả điều tra dịch hại cà phê vùng Tây Nguyên trong 3 năm (1996-1998) của Trung Tâm Bảo Vệ Thực Vật miền Trung đã ghi nhận có 29 loài gồm 12 loài côn trùng, 14 loài bệnh, 2 loài tuyến trùng và 1 hiện tượng vàng lá sinh lý Các loài phổ biến thường gặp là: rệp vẩy xanh, rệp sáp, bệnh gỉ sắt Riêng tại Đaklak thì có 7 loài dịch hại phổ biến đó là: rệp vẩy xanh, rệp sáp, mọt đục cành, sâu đỏ đục thân, gỉ sắt, bệnh đốm mắt cua và hiện tượng vàng lá (Đoàn Công Đỉnh, 1999) Theo Vũ Khắc Nhượng và CTV, 1999 thì có hơn 10 loài dịch hại cà phê tại Gia Lai, trong đó có 5 loài gây hại đáng kể là: rệp sáp hại chùm quả, bệnh lở cổ rễ, bệnh thối rễ tơ, bệnh gỉ sắt Trong nhóm rệp sáp hại chùm

quả đã ghi nhận có 2 loài là Planococcus citri và Pseudomonas odoridum

Theo Nguyễn Thị Chắt (1999) tập đoàn sâu hại cà phê ở Việt Nam có 15 loài,

trong đó có 6 loài quan trọng đó là: rệp sáp giả Pseudococus spp., rệp vảy xanh Coccus spp., sâu đục thân mình hồng Zeurera coffea Neitner, sâu đục thân mình trắng

Xylotrechus quadripes Chevr, mọt đục cành Xyloborus morstatti Hag, mọt đục quả cà

phê Stephanoderes hampei Fer

Kết quả điều tra của viện BVTV (1999) đã thu thập được 12 loài sâu hại cà phê tại phía Nam và Tây Nguyên, bộ cánh cứng 5 loài, bộ cánh vảy 3 loài, bộ cánh đều 2 loài, bộ cánh thẳng 1 loài, bộ cánh nửa 1 loài

Theo Phạm Thị Vượng, Trương Văn Hàm của Viện BVTV (2004) ghi nhận thấy sâu hại trên cà phê chè ở một số tỉnh phía Bắc bao gồm 24 loài, trong đó có 4 đối

Trang 14

tượng thường xuyên có mật độ cao và mức độ gây hại kinh tế quan trọng trên vườn cà phê đó là; sâu đục thân, sâu tiện vỏ, mọt đục quả và tập đoàn rệp sáp

Nguyễn Huy Phát (2000) khi nghiên cứu về sâu hại cà phê và kẻ thù tự nhiên tại

Đaklak, tác giả cho biết, thành phần sâu hại cà phê tại Buôn Ma Thuột có 16 loài sâu hại thuộc 12 họ và 4 bộ côn trùng Trong đó các sâu hại nghiêm trọng là rệp sáp mềm xanh, rệp sáp hại quả , mọt đục cành Các loài kẻ thù tự nhiên của sâu hại cà phê gồm

có bọ rùa hồng, bọ rùa nhỏ, bọ mắt vàng

Theo TS Trần Thị Kim Loang cho biết có nhiều nhóm sâu và bệnh hại Một số sâu hại chính như rệp hại thân, lá, quả và rễ cà phê, mọt đục cành, đục quả Cũng theo tác giả tại hội nghị Khoa Học Công Nghệ Cây Trồng của Bộ NN&PTNT tổ chức vào ngày 10-11/3/2005 tại Hà nội, cho biết cà phê vối tại Đaklak bị nhiều loài bệnh gây hại

nghiêm trọng, trong đó bệnh vàng lá, thối rễ do tuyến trùng Pratylenchus coffeae gây

ra làm chết cây, không thể trồng lại sau khi cây đã chết Tuy nhiên các biện pháp đã áp dụng thành công là luân canh cây trồng, sau đó là biện pháp thu gom tàn dư thực vật trước khi trồng mới Biện pháp xử lý đất với vôi, đốt, và bón thuốc hoá học như Viben

C 50 BTN hay Furadan 10H cho hiệu quả trong trường hợp đã áp dụng tốt hai biện pháp trên

Bệnh vàng lá cà phê: hiện nay bệnh vàng lá cà phê là bệnh nguy hiểm cho hầu hết các

vùng trồng cà phê trong cả nước, trong đó có vùng cà phê Đaklak Bệnh do nhiều nguyên nhân, trong đó có cả nguyên nhân do sâu và do bệnh Kết quả nghiên cứu của Viện BVTV cho biết vàng lá cà phê do nấm, tuyến trùng, sâu và có nơi do thiếu dinh dưỡng và nước tưới Có tới 26 loài tuyến trùng và 6 loài nấm gây hại trên cà phê Loài

tuyến trùng Meloidogyne, Pratylenchus là loài nguy hiểm cho cà phê Các loài nấm như

Fusarium, Pythium và Cylindrrocldium quan trọng cho cà phê Trong một số trường

hợp tuyến trùng Meloidogyne, Pratylenchus kết hợp với nấm Fusarium và với rệp sáp

để gây lên hiện tượng vàng lá cà phê Để phòng trừ bệnh vàng lá cà phê cần một chiến lược tổng thể từ xác định đúng nguyên nhân gây vàng lá, đến khâu cung cấp đủ dinh dưỡng, nước tưới, luân xen canh cây trồng đến sử dụng một số loại thuốc hoá học khi cần thiết

Các nghiên cứu về rệp sáp hại cà phê

Tất cả các công trình nghiên cứu về cà phê, nhất là về sâu bệnh hại cà phê đều cho biết trong các năm gần đây, rệp sáp là những đối tượng gây hại rất quan trọng trên

cà phê cả trên cà phê chè và cà phê vối

Khi nghiên cứu về rệp sáp (Pseudococcus citri Risso) hại quả cà phê tác giả Vũ

Văn Tố có một số nhận xét sau: đây là loài rệp phổ biến nhất ở hai tỉnh Đak Lak và Gia Lai Rệp với mật độ cao làm quả bị rụng, cây bị nặng năng suất giảm từ 20 – 40% Khi mật độ rệp cao thì ở vườn giao tán bị nặng hơn vườn không giao tán, vườn được tưới nước phun mưa thì tỷ lệ rệp và mức độ rệp giảm đi Một số loại thuốc trừ rệp có hiệu quả là Suprathion, Selectron, Subatox

Trang 15

Vũ Quang Giảng (2001) khi nghiên cứu về rệp sáp nâu Parasaissetia nigra

(Nietner) hại cà phê cho biết loài này có mặt thường xuyên trên cà phê chè tại Sơn La, hại các bộ phận như thân cành, chồi vượt, cuống lá, đặc biệt ở các bộ phận đang sinh trưởng như cành bánh tẻ cành non, chồi vượt Khả năng đẻ của chúng từ 91-331 trứng, vòng đời từ 53 – 78 ngày Việc phòng trừ bằng thuốc như Supracide 40ND, Visher 25ND, Vibasa 50 ND có hiệu quả trên 80%

Theo Nguyễn Thị Chắt (2003) đã ghi nhận có 10 loài rệp sáp hại cà phê tại các tỉnh phía Nam Tỷ lệ cây cà phê tại Lâm Đồng và Bình Phướnc bị hại do rệp sáp là 53%, tỷ lệ cành bị hại là 22-29%, tỷ lệ lá bị hại là 11-21%, tỷ lệ trái bị hại là 11-17% Rệp sáp giả không chỉ hại cành, lá mà còn hại cả gốc cà phê

Kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Vượng và Trương Văn Hàm (2004) trên cà phê chè của các tỉnh phía Bắc có đến 6 loài rệp hại cà phê, trong đó các loài rệp sáp giả

(Planococcus citri) và rệp sáp nâu mềm (Parasaissetia nigra) là quan trọng nhất

Những năm khô hạn và nắng mưa xen kẽ có mật độ và tỷ lệ bị hại cao

Biến động số lượng của rệp sáp: tại Gia Lai, rệp sáp phát triển mạnh từ tháng 2

đến tháng 7, từ tháng 8 – 10 do mưa liên tục nên rệp sáp ít đẻ và đẻ ít trứng Nhiệt độ thích hợp cho rệp sinh sản và phát triển là 20 – 250C và có nắng mưa xen kẽ Theo Nguyễn Thị Chắt thì rệp sáp ưa độ ẩm, vào mùa khô mật độ rệp sáp trên các đọt non, lá quả giảm nhiều và di chuyển xuống dưới gốc, mưa ẩm chúng lại di chuyển lên

Các loài rệp sáp giả và rệp sáp nâu mềm thường phát sinh mạnh vào các tháng 7-9 hàng năm tại các tỉnh phía Bắc khi có nắng mưa xen kẽ (Phạm Thị Vượng và CTV, 2004)

Tình hình gây hại của rệp sáp: rệp sáp hại tất cả các bộ phận trên mặt đất và

dưới mặt đất của cây cà phê Chỉ tỉnh riêng vùng cà phê của Đaklak năm 2004 có 14.717 ha bị nhiễm rệp sáp trong đó có 2000 ha bị hại nặng Theo thông tin từ bộ Nông nghiệp &PTNT cho biết, các địa phương của tỉnh Đaklak đã triển khai các biện pháp phòng trừ rệp sáp, nhưng hiệu quả thấp, rệp tái phát lại nhiều lần, có thể rệp đã nhờn với thuốc hoá học Khi rệp sáp hại cà phê ở cấp 4 (tức là trên 75% bộ phận của cây có rệp) thì thiệt hại là 66,6% năng suất cà phê nhân (Phạm Thị Vượng và CTV, 2004) Ngoài rệp sáp ra, các loài sâu đục thân, sâu gặm vỏ, sâu đục hạt, tuyến trùng, bệnh gỉ sắt, bệnh khô cành khô quả cũng đang gây hại cho nhiều vùng cà phê chất lượng cao trong cả nước, cũng theo thông tin từ Bộ NN&PTNT cho biết năm 2004 hàng trăm ha

cà phê ở Đà Lạt đã chết trụi Chỉ riêng xã Xuân Trường có 1.200 ha cà phê chè thì có

đến 300 ha bị chết trắng và hơn 100 ha có nguy cơ phá bỏ do sâu đục thân gây hại

Các biện pháp phòng trừ rệp sáp và sâu hại khác trên cà phê: rệp sáp phân bố rộng,

phổ biến trên các vườn cà phê trên thế giới cũng như Việt Nam Theo nghiên cứu của Viện BVTV rệp xuất hiện và gây hại trên cà phê từ khi mới trồng, đỉnh cao trong năm tháng 7- tháng 9 và gây hại trên tất cả các giống cà phê hiện trồng ở các tỉnh phía Bắc Rệp có nhiều cây ký chủ quan trọng hiện đang là cây trồng xen chủ lực của vườn cà phê

Trang 16

nhiều loài kiến sống cộng sinh, kiến bảo vệ rệp sáp khỏi thiên địch và giúp chúng phát tán Ngoài ra rệp sáp có lớp sáp bao bọc, do vậy các biện pháp phòng trừ thường có hiệu quả không cao

Các thuốc trừ sâu như Diaphos 10H bón 30-50g/gốc có hiệu quả trừ rệp sáp giả hại gốc Lanate 40 SP nồng độ 0,3% có hiệu quả trừ rệp vẩy xanh đạt hiệu quả 82-83,4% (Nguyễn Thị Chắt, 2003)

Ba loại thuốc là Supracide 40EC, Cymerin 10 EC và DC-Tron Plus đều có hiệu quả cao trừ rệp sáp hại quả và rệp sáp xanh mềm từ 87-93% (Nguyễn Huy Phát, 2000)

Thuốc Supracide 40 EC và Diazinon 50 EC kết hợp với dầu khoáng (giảm lượng thuốc đi 50% so với của nông dân) đã phòng trừ các loài rệp sáp giả, rệp sáp nâu mềm, sâu đục thân , tiện vỏ cà phê chè tại Sơn la và Nghệ An đạt hiệu quả cao trên 90% (Phạm Thị Vượng và Trương Văn Hàm, 2004) Viện Bảo Vệ Thực Vật cũng đã đưa ra một qui trình phòng trừ tổng hợp cho các loài sâu hại quan trọng cho cà phê chè được Hội đông KHCN của Bộ NN&PTNT công nhận là TBKT vào năm 2002 Kết quả đó

đang được các vùng trồng cà phê của Sơn La, Nghệ an áp dụng có hiệu quả trên diện rộng, ổn định diện tích, năng suất, nâng cao chất lượng và giảm lượng thuốc trừ sâu sử dụng

Nhìn chung cho đến nay người sản xuất cà phê ở Đaklak chủ yếu dựa vào thuốc trừ sâu để trừ rệp sáp và các dịch hại khác trên cà phê, tuy nhiên chưa hạn chế được thiệt hại do chúng gây ra, một số đối tượng hại như rệp sáp, sâu đục thân thì sự gây hại của chúng còn lan rộng năm sau cao hơn năm trước Người sản xuất và các nhà hoạch

định chính sách thực sự lúng túng trước tình trạng này và các cơ quan thông tin đại chúng cũng đã đề cầp rất nhiều đến vẫn đề này qua các phương tiện truyền thông trong thời gian qua Theo ông Đoàn Triệu Nhạn, hiện nay ngành cà phê Việt Nam đang đối

đầu với nhiều khó khăn, đặc biệt là sự phát triển của sâu bệnh mà nguyên nhân chính là

sự cân bằng vi sinh vật có hại và có lợi bị phá vỡ

Trước tất cả những hạn chế và những vẫn đề khó khăn của ngành cà phê đang gặp phải, Hiệp hội cà phê Cacao (Vicofa) và Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ) phối hợp tổ chức Hội nghị quốc tế về phát triển bền vững ngành cà phê Việt nam vào 21/6/2004 tại Hà nội “Mục tiêu của ngành cà phê Việt Nam là đạt tới sự phát triển bền vững sau những biến động về giá cả, sản xuất” Sáng kiến 4C tạo diễn đàn trao đổi giữa các bộ phận của cộng đồng cà phê toàn cầu trong một quy trình nhiều thành phần tham gia, nhằm mở rộng nhận thức chung về sản xuất, chế biến và kinh doanh cà phê bền vững Hội nghị đã thảo luận về hành động và tạo cơ hội cho các chuyên gia có cái nhìn thực tế hơn đối với khâu thực hành trong canh tác cà phê ở Việt Nam Chính vì vậy chương trình 3 giảm, 3 tăng và 1 chống của ngành cà phê đã được thông qua như sau

3 giảm: giảm đầu tư phân hoá học; giảm nước tưới (30%); giảm thuốc trừ sâu

3 tăng: tăng đầu tư phân hữu cơ; tăng tạo hình tỉa cành tạo tán cho cà phê; tăng

bóng mát cho cà phê

Trang 17

1 chống: chống hái quả xanh

Tóm lại: cây cà phê là một trong những cây công nghiệp xuất khẩu chủ lực,

đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam Ngành cà phê đã tham gia có hiệu quả vào các chương trình kinh tế xã hội của các tỉnh Tây Nguyên như định canh

định cư, xoá đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động, trong đó có một phần đồng bào dân tộc và đóng góp một tỷ trọng nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu hằng năm của đất nước Bên cạnh những thành công trên thì vấn đề sâu bệnh hại cà phê là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất Những kết quả nổi bật của đề tài đang được áp dụng có hiệu quả trên diện rộng, ổn định diện tích, năng suất, nâng cao chất lượng và giảm lượng thuốc trừ sâu sử dụng

Trang 18

Chương II Mục tiêu, Địa Điểm, nội dung, phương pháp nghiên cứu

2.1 Mục tiêu của đề tài

Xác định được nguyên nhân gây bùng phát dịch rệp sáp trên cà phê tại Đak Lak, nghiên cứu triển khai ứng dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)

và một số giải pháp nông học nhằm hạn chế sự gây hại của rệp sáp và một số dịch hại quan trọng khác Nâng cao hiệu quả sản xuất, an toàn cho môi trường, nhằm góp phần phát triển cà phê bền vững cho Đak Lak và các tỉnh Tây nguyên

2.2 Địa điểm thực hiện các mô hình thí nghiệm

2 2.1 Viện Bảo vệ thực vật: Huyện Krông Pác

2.2 2 Chi cục Bảo vệ thực vật Đak Lak: Thực hiện tại TP Buôn Ma Thuột

2.2.3 Viện KHKTNLN Tây Nguyên: Thực hiện tại huyện CưMgar

2.2.4 Trung tâm UDKH&CN – Sở KH&CN Đak Lak: thực hiện tại Huyện CưMgar

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1) Nghiên cứu thực trạng sản xuất, những ưu và hạn chế của hiện trạng này liên quan đến sự bùng phát của dịch rệp sáp hại cà phê, làm ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng cà phê, cũng như đến tính bền vững của ngành cà phê Việt nam

2 3.1.1 Nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, thực trạng sản xuất cà phê ở các địa phương

của Đaklak

2.3.1.2 Nghiên cứu trình độ, tập quán canh tác, kỹ thuật canh tác, mức độ thâm canh

2.3.1.3 Phân tích, đánh giá những tồn tại, những kinh nghiệm hay, những điểm then chốt là nguyên nhân gây bùng phát dịch rệp sáp hại trên cà phê cần tác động, những

ảnh hưởng của chúng đến môi trường và hiệu quả sản xuất thấp

2.3.2) Nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài rệp sáp quan trọng trên cà phê, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp phòng trừ đạt hiệu quả cao.

2.3.2.1 Nghiên cứu mức độ nhiễm rệp của các giống cà phê đang trồng phổ biến, các biện pháp đang áp dụng phòng trừ, các ưu và hạn chế của chúng để từ đó đưa ra các giải pháp phòng trừ có tính khả thi, nhằm giảm lượng thuốc trừ sâu đang áp dụng trên cà phê hiện nay

Trang 19

2.3.2.2 Thu thập và định loại thành phần rệp sáp hại cà phê, tình hình và mức độ gây hại của chúng ở các vùng sinh thái

2.3.2.3 Nghiên cứu xác định vai trò gây hại của các loài trong quần thể dịch hại cà phê

ở các hệ thống canh tác khác nhau tại Đak Lak

2.3.2.4 Nghiên cứu các đặc điểm sinh học, hình thái của những loài rệp sáp quan trọng

đặt cơ sở cho nghiên cứu và đề xuất các biện pháp phòng trừ

2.3.2.5 Nghiên cứu biến động quần thể của rệp sáp trong năm và qua các năm trong mối liên quan với các điều kiện sinh thái khác nhau, từ đó tìm ra quy luật duy trì, phát triển và bùng phát quần thể Trên cơ sở đó đề xuất và chủ động triển khai biện pháp quản lý chúng có hiệu quả cho sản xuất

2.3.2.6 Xác định được thành phần ký chủ phụ của những loài rệp sáp quan trọng, từ đó

định hướng cho việc giới thiệu hoặc chọn lựa loại cây trồng luân xen canh phù hợp cho sinh trưởng phát triển cà phê, phục vụ mục tiêu 3 tăng, cũng như hạn chế việc bùng phát quần thể rệp sáp từ nguồn các loài cây ký chủ phụ

2.3.2.7 Xác định thành phần ký sinh thiên địch của rệp sáp, vai trò tự nhiên của chúng trong quản lý dịch hại và hướng sử dụng chúng trong việc điều khiển quần thể rệp sáp, góp phần giảm thiệt hại và giảm việc sử dụng thuốc trừ sâu

2.3.3 Nghiên cứu ứng dụng thực tế các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) phòng trừ rệp sáp và các dịch hại quan trọng khác trên cà phê.

2.3.3.1 Nghiên cứu ứng dụng phòng trừ rệp sáp bằng biện pháp sinh học

2.3.3.2 Nghiên cứu ứng dụng phòng trừ rệp sáp bằng biện pháp thủ công và biện pháp canh tác

2 3.3.3 Nghiên cứu ứng dụng phòng trừ rệp sáp bằng biện pháp hoá học phù hợp (hiệu quả cao, đúng chủng loại, ít độc, đúng lúc và đúng cách )

2.3.3.4 Nghiên cứu ứng dụng phòng trừ các dịch hại quan trọng khác trên cà phê như; tuyến trùng, mọt hại quả, gỉ sắt… bằng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp

2.3.3.5.Từ kết quả nghiên cứu ứng dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) tổng kết thành quy trình áp dụng xây dựng mô hình trình diễn

2.3.4) Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp nông học (trồng xen, nước tưới và phân bón) hiệu quả và bền vững cho cà phê

2.3.4.1 Nghiên cứu tổng quan về quy trình công nghệ sản xuất cà phê chất lượng cao, lựa chọn giới thiệu các công nghệ thích hợp với điều kiện ở Đak Lak

Trang 20

2.3.4.2 Xác định loại cây trồng xen có hiệu quả cho cà phê ở vùng có dịch rệp sáp và phù hợp với điều kiện canh tác và văn hoá ở Đak Lak

2.3.4.3 Nghiên cứu ứng dụng một số biện pháp nông học như duy trì độ ẩm (giải pháp duy trì độ ẩm: GPĐA), dinh dưỡng (giải pháp cung cấp dinh dưỡng: GPDD) giúp cây cà phê sinh trưởng tốt, cho năng suất cao, hạn chế mật độ và ảnh hưởng của rệp sáp và các sâu bệnh hại quan trọng khác gây hại

a Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật bón phân

- Cách bón

- Liều lượng bón

- Chủng loại phân bón

b Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật quản lý nước

-Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật tưới nước nhằm đảm bảo đủ ẩm và hạn chế rệp sáp gây hại cho cà phê

-Xác định loại kỹ thuật bổ sung khác duy trì độ ẩm: che phủ hạn chế bốc hơi nước, giữ

ẩm đất, kỹ thuật sử dụng chất giữ ẩm

2.3.5) Xây dựng mô hình trình diễn áp dụng các TBKH về quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và một số biện pháp nông học sản xuất cà phê hiệu quả, bền vững

-Trên cở sở kết quả nghiên cứu về 1) đặc điểm sinh học, sinh thái (nguyên nhân gây bùng phát) của những loài rệp sáp quan trọng 2) các nghiên cứu ứng dụng thực tế các biện pháp phòng trừ rệp sáp và các dịch hại quan trọng khác từ đó tổng kết thành qui trình kỹ thuật để áp dụng trên mô hình sản xuất cà phê hiệu quả, bền vững

- Trên cở sở kết quả nghiên cứu về 1) loại cây trồng xen 2) các kết quả của việc áp dụng

kỹ thuật bón phân hiệu quả 3) các kết quả của việc áp dụng biện pháp cung cấp nước tưới hiệu quả từ đó tổng kết thành qui trình kỹ thuật để áp dụng trên mô hình sản xuất

Trang 21

- Thu thập thông tin chung về tình hình sản xuất cà phê từ các kết quả điều tra nghiên cứu của các cơ quan có liên quan tại Việt Nam

- Điều tra điều kiện tự nhiên bằng phương pháp thu thập tài liệu từ các cơ quan

địa phương sau đó tổng hợp và xử lý các thông tin, kết hợp với điều tra thực tế tại các vùng sản xuất cà phê trọng điểm trên địa bàn tỉnh

- Điều tra thực trạng sản xuất theo phương pháp phỏng vấn nông dân tại các huyện có diện tích, sản lượng cà phê lớn nhất tại Đak Lak như: Krông Pác, Krông Buk, Krông Ana, CưM gar và Thành phố Buôn Ma Thuật Mỗi huyện điều tra 100-150 hộ

- Điều tra thực trạng sản xuất cà phê tại một số vùng có đồng bào dân tộc thiểu

số sinh sống, mỗi vùng điều tra 10-15 hộ

2.4.2 Nội dung 2

- Theo phương pháp chuẩn của Viện BVTV đã tiến hành nghiên cứu cho các dịch hại trên cây trồng nói chung, cho cà phê nói riêng trong nhiều năm qua, cả trong phòng, nhà lưới và ngoài thực địa sản xuất

- Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học của một số loài rệp sáp trên cà phê theo phương pháp nghiên cứu côn trùng của Viện bảo vệ thực vật và theo phương pháp của M Kosztarab và F Kozar, 1988

- Thu thập, xử lý mẫu tiến hành theo qui trình D J Borror, D M Delong, C A Triplehorn, 1981 và M Kosztarab, F Kozar, 1988

- Các mẫu sâu bệnh hại thu được định loại nhờ các chuyên gia trong nước và nước ngoài

- Đánh giá mức độ gây hại theo thang 5 cấp:

+ Cấp 0: không xuất hiện rệp

+ Cấp 1: rệp xuất hiện rải rác, gây hại rất nhẹ < 10 rệp/chùm hoa, quả

+ Cấp 2: rệp xuất hiện, gây hại nhẹ 10-20 rệp/chùm hoa, quả

+ Cấp 3: rệp xuất hiện, gây hại TB 20-30 rệp/chùm hoa, quả

+ Cấp 4: rệp xuất hiện, gây hại nặng > 30 rệp/chùm hoa, quả

2.4.3 Nội dung 3

Trang 22

- Tất cả các thí nghiệm phòng trừ rệp sáp và các dịch hại quan trọng khác đều được thực hiện ở diện hẹp, diện rộng theo tiêu chuẩn ngành (10 TCN 520- 2002 và 10 TCN 202-94)

- Hiệu quả của các thuốc được hiệu đính theo công thức ABBOTT (đối với thí nghiệm trong phòng và nhà lưới) và theo công thức Henderson- tilton ( đối với thí nghiệm ngoài đồng) Tất cả các số liệu đều được sử lý IRRISTAR và trên Excell

- Các thí nghiệm thử nghiệm về biện pháp trồng xen, tưới nước, bón phân được tiến hành tại huyện Cư Mgar, diện tích thí nghiệm từ 1ha đến 1,5 ha được chia làm 2 công thức

Thí nghiệm cây trồng xen: trên vườn cà phê 2 tuổi

CT1: không sử dụng cây trồng xen

CT2: sử dụng cây trồng xen, một số cây họ đậu như đậu đen, đậu đỏ vụ hè thu và cây lạc trong vụ thu đông

Thí nghiệm tưới nước

CT1: tưới theo quy trình Viện KHKTNLN Tây Nguyên

CT2: tưới theo nông dân

Thí nghiệm phân bón

CT1: bón theo quy trình Viện KHKTNLN Tây Nguyên

CT2: theo tập quán của nông dân

2.4.5 Nội dung 5

- Lựa chọn vùng trồng cà phê trọng điểm của Đaklak

Trang 23

- Lựa chọn vùng bị hại do rệp sáp nghiêm trọng trong các năm qua

- Lựa chọn các vùng sản xuất cà phê hiệu quả thấp

Mỗi mô hình là 1- 2 ha

Vườn xây dựng mô hình thực nghiệm diện hẹp và trình diễn thực hiện trên những

vườn đã có sẵn của các hộ nông dân và là vùng có dịch rệp sáp hại nặng trong thời gian

qua: CưMga, Krông Pák và thành phố Buôn Mê Thuột

- Vườn đang trồng các giống phổ biến ngoài sản xuất Giống có chất lượng cao,

có thị trường tiêu thụ, có tiềm năng xuất khẩu

- áp dụng đồng bộ tất cả các kết quả thích hợp nhất rút ra từ những nghiên cứu, thực nghiệm của đề tài và kết hợp với nghiên cứu tổng quan trong nước, nước ngoài

- áp dụng quy trình bón phân hiệu quả nhất theo kết quả của đề tài “áp dụng tiến

bộ khoa học công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cà phê vối của tỉnh

Đak lak” do TS Hoàng Thanh Tiệm của Viện KHKT Nông Lâm Nghiệp Tây Nguyên

(Viện KHKTNL Tây Nguyên) thực hiện kết thúc vào năm 2004

- Cải tạo vườn cà phê bằng việc trồng bổ sung cây che tán, cây trồng xen hiệu quả

và giảm rệp hại theo kết quả nghiên cứu của đề tài

-áp dụng quy trình đốn tỉa hàng năm của Viện KHKTNLN Tây Nguyên để duy trì năng suất và chất lượng và sinh trưởng của cây

- áp dụng quy trình giữ độ ẩm và tưới nước tối ưu theo kết quả nghiên cứu của đề tài

-áp dụng Tiêu chuẩn ngành 10 TCN 478-2001 về “quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch cà phê vối, do Bộ NN&PTNT ban hành

- áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp rệp sáp và các dịch hại quan trọng khác theo kết quả nghiên cứu của đề tài và các công trình nghiên cứu khác

2.4.6 Nội dung 6

- Chuyển giao kết quả vào sản xuất thông qua hội nghị đầu bờ, tham quan mô hình

và phân phát tài liệu cho cán bộ kỹ thuật địa phương, nông dân về các giải pháp nông học tốt, phù hợp, các biện pháp phòng trừ rệp sáp hiệu quả cao, để sản xuất cà phê: kỹ thuật trồng, kỹ thuật thâm canh, đốn tỉa, phòng trừ sâu bệnh

Trang 24

Chương III kết quả nghiên cứu 3.1 Thực trạng sản xuất cà phê tại Đak Lak, ưu và hạn chế

3.1.1 Tình hình kinh tế chính trị, xã hội

Đak lak có số dân vào khoảng 1,8 triệu người, trong độ tuổi lao động chiếm

50% Đây là khu vực đa dạng về thành phần dân tộc, toàn tỉnh hiện có trên 44 dân tộc

anh em, người Kinh chiếm 69,9% dân số, đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm 30,1%

(bảng 1) Dân tộc kinh hầu hết là dân từ nhiều vùng của cả nước đã di cư về đây, sản

xuất cà phê, cao su, tiêu là nguồn thu nhập chính của các hộ gia đình Đồng bào các

dân tộc thiểu số sống chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn, trình độ văn hóa và

KHKT thấp, canh tác cà phê theo phương thức cổ truyền không, hoặc ít đầu tư thâm

canh Đó là những lý do dẫn đến sự khác biệt về hiệu quả sản xuất cà phê giữa người

kinh và người các dân tộc Đây chính là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, khai thác tài

nguyên cạn kiệt và bất ổn về xã hội trong thời gian qua

Bảng 1: Sự đa dạng các dân tộc sinh sống tại Đăk Lăk, Tây Nguyên

(Theo số liệu thống kê năm 2002 của Uỷ ban dân tộc tỉnh)

3.1.2 Điều kiện tự nhiên và hiện trạng sản xuất cà phê tại Đak lak

3.12.1 Điều kiện tự nhiên

Trang 25

Đak Lak nằm ở độ cao 600 - 650m so với mực nước biển, phía Bắc giáp với Gia

Lai, phía Nam giáp với Lâm Đồng, phía Đông giáp với Khánh Hoà và phía Tây giáp với

Cam Pu Chia, hệ thống giao thông phát triển Do vậy việc giao thương với các tỉnh nhìn

chung thuận lợi Đak Lak là một tỉnh có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc

phòng và an ninh, về kinh tế và môi trường sinh thái Chính vì vậy, Nhà nước quan tâm

và đầu tư phát triển mạnh về cơ sở hạ tầng, vật chất và con người để dần xây dựng Đak

Lak trở thành trung tâm kinh tế lớn mạnh của khu vực Tây Nguyên và của cả nước

Điều kiện khí hậu: Một năm có 2 mùa rõ rệt; mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4

năm sau) và mùa mưa (đầu tháng 5 đến hết tháng 11) Tổng nhiệt độ hàng năm khoảng

8.500 – 8.8000C, nhiệt độ trung bình trong các tháng mùa mưa là 23,5 0C trong các

tháng mùa khô là 24,30C Tổng lượng mưa hàng năm từ 1800 – 2400mm tuỳ theo điều

kiện từng tiểu vùng mà lượng mưa có sự phân bố khác nhau Mưa chủ yếu tập trung từ

tháng 6 đến tháng 9

3.1.2.2 Hiện trạng sản xuất cà phê

Đắc Lắc có diện tích 13.085 km2 đất bazan mầu mỡ, phù hợp với những cây

công nghiệp như cà phê, ca cao, hồ tiêu, dâu tằm, trà Là tỉnh có diện tích cà phê lớn

nhất cả nước, cà phê Buôn Ma Thuột nổi tiếng với chất lượng cao Sản lượng xuất khẩu

trên 300.000 tấn/năm, giá trị xuất khẩu chiếm trên 90% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh

Năm 2007, sản lượng chế biến cà phê nhân tại Đăk Lăk đạt 217.000 tấn/tổng công

suất chế biến 300.000 tấn nhấn/năm Một số mặt hàng cà phê tinh chế của tỉnh tăng

như: cà phê bột năm 2007 đạt 7.100 tấn, tăng 15,8 % so với năm 2005, cà phê hoà

tan đạt 860 tấn, tăng 21,43 % so với năm 2005, năm 2007 kim ngạch xuất khẩu cà

phê đạt 289,234 triệu USD Cây cà phê đã đóng góp trên 40% GDP của tỉnh và trên

1/4 số dân trong tỉnh sống nhờ vào cây cà phê ( Tạp chí KH&CN- số 102- năm thứ

Trang 26

Trong 14 năm qua, diện tích, sản lượng cà phê của cả tỉnh nhìn chung đã tăng lên nhanh Từ 130 583 ha ( 1997) tăng lên 178.903ha (2007), mặc dù có những giai

đoạn diện tích cà phê đã giảm do giá trên thị trường thế giới giảm mạnh ( 2002 – 2004), bên cạnh đó giai đoạn này do sự phát sinh, gây hại mạnh của các loài rệp sáp do vậy một phần diện tích cà phê đã bị phá bỏ Từ năm 2005 đến nay giá cà phê có xu hướng tăng mạnh trở lại nên các hộ trồng cà phê đã dần khôi phục lại diện tích, tăng cường

đầu tư thâm canh, năng suất và diện tích đã tăng và sản xuất cà phê hiệu quả hơn

3.1.3 Kỹ thuật sản xuất cà phê tại Đak Lak

Trên địa bàn tỉnh Đak Lak có một số công ty trực thuộc nhà nước hoặc các công

ty tư nhân có qui mô sản xuất lớn Kỹ thuật canh tác và trình độ thâm canh cao, mức

đầu tư cao và ổn định nên hàng năm cho sản lượng lớn như: công ty cà phê 49, 52, 717,

716, Thắng lợi, Việt Đức, Việt Thắng Còn lại đa số các vườn cà phê là của dân, nhìn chung việc áp dụng KHKT của các hộ còn một số bất cập như sau:

3.1.3.1 Giống: hiện nay hầu hết vườn cà phê trên địa bàn tỉnh Đak Lak trồng giống cà

phê vối (chiếm 99%) Những giống cà phê ngoài sản xuất là do người dân tự chọn lọc

và nhân để trồng, do vậy cây cà phê có các dạng hình, dạng lá rất khác nhau giữa các cá thể, năng suất các cá thể trong vườn không đồng đều, cây cho năng suất cao, cây cho năng suất thấp, không ổn định và nhiễm một số loại sâu bệnh như: Gỉ săt, nấm hồng, rệp sáp Tuy nhiên theo ý kiến của các chuyên gia của Viện KHKTNLN Tây Nguyên thì chúng chỉ là 1 giống

Trong những năm qua Viện KHKTNLN Tây Nguyên đã thành công trong việc chọn tạo ra một số dòng cà phê vối cho năng suất cao, ổn định và có khả năng chống chịu được bệnh gỉ sắt như: dòng TR4, TR5, TR6, TR7, TR8, đây là những dòng đã

được công nhận là giống quốc gia năm 2004 Hiện đang được nhân trồng mới hoặc ghép cải tạo các cây, vườn già cỗi, bị hại nặng do gỉ sắt

3.1.3.2 Kỹ thuật trồng và chăm sóc

a)Kỹ thuật trồng

+ Khoảng cách: có 70 – 88,06 % diện tích cà phê trồng với khoảng cách 3m x

3m (1 100 cây/ha), đây được coi là khoảng cách thích hợp nhất cho sự phát triển và có hiệu quả kinh tế cao nhất

Với khoảng cách 3,3m x 3m (1 000 cây/ha) có khả năng tạo điều kiện cho cây

cà phê phát triên tốt nếu chăm sóc tốt, đầu tư cao Tuy nhiên với mật độ này cũng rất ít

được người dân trồng (9%) vì phí đất

Trang 27

Bảng 3: Mật độ và khoảng cách trồng cà phê vối tại Đăk Lăk

Tỷ lệ (%) trồng theo khoảng cách STT Địa điểm điều tra

+ Kỹ thuật đào hố trồng cây: hố được đào với kích thước 50 x 50cm trước khi trồng 20

- 30 ngày Có 80% số hộ khi trồng có sử dụng phân để bón lót: phân chuồng kèm theo khoảng 0,5kg lân nung chảy/hố

b)Kỹ thuật bón phân

+ Một số loại phân bón sử dụng phổ biến trên cây cà phê là: Ure, SA, K và NPK Trong

5 năm trở lại đây hầu hết các hộ sản xuất sử dụng một số loại phân tổng hợp NPK hoặc kết hợp với phân đơn (60-80%) liều lượng từ 1500-2500kg/ha Biện pháp sử dụng các loại phân tổng hợp thường giúp giảm công bón phân, nhưng hiệu quả sử dụng phân bón thấp hơn so với các biện pháp sử dụng phân đơn

+ Với những hộ có điều kiện kinh tế khá hơn có sử dụng thêm phân chuồng và giữ ẩm cho cây Thường chu kỳ bón phân chuồng 2 năm/lần

+ Những năm giá cà phê cao người dân thường đầu tư cao, vượt quá mức cần thiết, gây

ô nhiễm, những năm giá cà phê xuống thấp, người dân thường đầu tư rất thấp hoặc bỏ hoá nên năng suất thấp và vườn cà phê suy giảm năng suất và chu kỳ kinh doanh

Bảng 4: Chủng loại phân bón ở một số địa bàn khác nhau tại Đak Lak

Một số loại phân thường dùng (%) STT Địa điểm điều tra

Trang 28

+ Lượng phân bón: theo kết quả điều tra tại 5 huyện cho thấy hiện tượng sử dụng lãng

phí phân bón vẫn diễn ra rất phổ biến Từ 13-60% hộ sử dụng thừa phân kali, từ

27-65% số hộ sử dụng thừa phân đạm vô cơ, từ 3-23% số hộ sử dụng thừa phân lân Theo

kết quả nghiên cứu nhiều năm của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây

Nguyên và cả các thí nghiệm kiểm chứng của đề tài mức đầu tư phân bón cần thiết cho

1 ha cà phê thấp hơn so với lượng phân bón mà nhân dân đang sử dụng bón cho cà phê,

nhưng vẫn đạt năng suất và hiệu quả cao Điều đó chứng tỏ nhiều hộ dân đang sử dụng

phân bón kém hiệu quả và điều đó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng cà phê, ô nhiễm môi

trường, cũng như là nguyên nhân gây lên bùng phát các dịch hại

Bảng 5: Liều lượng phân bón được sử dụng trên cây cà phê tại Đăk Lăk

Tỷ lệ (%) sử dụng phân bón tại các điểm điều tra Loại

-Cách bón: 1) Phương pháp bón rải trên mặt đất: Phân được rải trên mặt đất trước khi

tưới nước Biện pháp này có đa số người dân áp dụng (90%) vì tốn ít công lao động

Nhưng hiệu quả phân bón không cao nhất là sau khi bón phân gặp trời nắng to hoặc

mưa lớn sẽ làm mất đi một lượng lớn 2) Phương pháp bón theo rãnh: rãnh được đào

xung quanh gốc hoặc theo từng hàng như ô bàn cờ, sau khi bón phân tiến hành lấp đất

Đây là biện pháp giúp cây sử dụng phân bón hiệu quả cao hơn Tuy nhiên chi phí cho

việc bón phân thường cao hơn rất nhiều so với phương pháp rải trên mặt đất, mặt khác

việc đào rãnh bón phân làm ảnh hưởng đến bộ rễ của cây nhất là giai đoạn mùa khô do

vậy rất ít người dân sử dụng phương pháp này (10%)

Một số hạn chế trong kỹ thuật sử dụng phân bón của nông dân

- Sử dụng quá nhiều phân bón

- Sử dụng phân bón không đúng kỹ thuật

- Sử dụng không đúng chủng loại phân theo yêu cầu của cây theo từng giai đoạn

Trang 29

c) Kỹ thuật tưới nước: đây là một trong những kỹ thuật hết sức quan trọng góp phần

quyết định đến năng suất cây cà phê Sau khi thu hoạch xong (tháng 12) cây cà phê bắt

đầu chuyển sang giai đoạn phân hoá mầm hoa Sau khoảng 35 -40 ngày là giai đoạn rất cấn nước để cho quá trình ra hoa, đậu quả Nếu có đủ nước, cà phê sẽ nở hoa tập trung,

tăng khả năng ra hoa và đậu quả của cà phê

+Số lần tưới trong năm thường dao động từ 3 - 4 lần, tuỳ thuộc vào điều kiện khí hậu từng vùng Lần tưới đầu vào khoảng 15 - 20 tháng 1, các lần sau cách nhau 20-25 ngày

+Cách tưới: 1)Tưới dí: được áp dụng ở những vùng thương gặp khó khăn về nước tưới,

gia đinh có điều kiện kinh tế khó khăn Theo kết quả điều tra, một số huyện như: Krông Buk, Krông Năng và thành phố Buôn Ma Thuột tỷ lệ tưới dí chiếm tỷ lệ rất lớn (80-90%) Đây là biện pháp tưới nước tiết kiệm nhưng có rất nhiều hạn chế

Hạn chế của biện pháp tưới dí: hiệu quả sử dụng nước của cây thấp, một phần nước

thấm sâu kèm theo với một phần phân bón, chu kỳ tưới phải rút ngắn do vậy số lần

tưới/năm thường nhiều hơn tưới béc 1-2 lần 2)Tưới Béc: tưới béc sẽ giúp cây trồng sử

dụng nước hiệu quả hơn, do nước thấm và hoà tan phân chậm Mặt khác tưới béc còn tạo ra vùng tiểu khí hậu trong vườn cà phê luôn thông thoáng hơn, ẩm độ cao hơn giúp kéo dài chu kỳ tưới nước tưới làm sạch bộ lá giúp cây quang hợp tốt hơn

-Trên thực tế người nông dân đã tưới với lượng nước lớn hơn so với yêu cầu thực tế của cây cà phê đã gây ra hiện tượng lãng phí nước, một phần lớn lượng nước thừa đã thấm sâu và kéo theo một phần phân bón bị thấm sâu xuống mạch nước ngầm nên rất lãng phí nước tưới và phân bón

d) Kỹ thuật trồng cây che bóng, cây trồng xen

Sản xuất cà phê ở Việt Nam đã khuyến cáo và ứng dụng kỹ thuật sử dụng cây

che bóng và cây trồng xen từ lâu Bởi kỹ thuật này mang lại nhiều lợi ích trong sản xuất

cà phê như; hạn chế ánh sáng trực xạ, tăng năng suất cà phê, chống gió rét, giữ ẩm, chống cỏ dại, chống xói mòn, tăng độ phì, đem lại thu nhập khi cho vườn cà phê Chúng ta hãy xem kỹ thuật này tại các vườn cà phê của Đăk lăk

+ Kết quả điều tra tại Đak Lak cho thấy chủng loại cây trồng xen trong các vườn cà phê rất phong phú về số lượng cũng như chủng loại Tuy nhiên không phải tất cả các vườn cà phê đều có cây trồng xen và thường mỗi vườn chỉ trồng một vài loại cây Nhưng ở hầu hết các vùng trồng cà phê đều xuất hiện các loại cây trồng xen nêu tại bảng 6a Trong 18 loài cây khác nhau, trong đó bao gồm 16 cây trồng được xem là cây trồng xen ( bao gồm cây ăn quả lâu năm, cây công nghiệp ngắn ngày) cây chôm chôm, sầu riêng, mãng cầu, bơ được trồng với số lượng nhiều nhất và thường tập trung cả ở vườn cà phê trong giai đoạn kiến thiết cơ bản và thời kỳ kinh doanh)

+ Tỷ lệ số hộ có sử dụng cây trồng xen là cây ăn quả lâu năm đạt tỷ lệ rất cao >70% Tuy nhiên chủ yếu tập trung ở các vườn cà phê gần nơi sinh sống của các hộ nông dân

Trang 30

kỳ kiến thiết cơ bản, diện tích được trồng xen bởi các loại cây công nghiệp ngắn ngày

như: đậu tương, đậu xanh, lạc , thường chiếm từ trên 80 % đến trên 90 %

+ Bên cạnh những mặt có lợi của các loại cây trồng che bóng và trồng xen thì chúng có

những hạn chế đó là 15 loại trong 18 loài cây là ký chủ phụ của rệp sáp, một đối tượng

sâu hại quan trọng cho cà phê trong năm qua Đây chính là lý do góp phần vào việc

phát sinh, phát triển mạnh của quần thể rệp sáp hại cà phê trong thời gian qua Các loài

cây có tần xuất hiện của rệp sáp cao hơn cả là : ổi, chôm chôm, mãng cầu xiêm, lạc,

dâu tằm (bảng 6b, 6c )

Bảng 6a: Một số loài cây ký chủ của một số loài rệp sáp hại quan trọng

trên cà phê (Đăk Lăk, 2006)

I Cây ăn quả lâu năm

II Cây công nghiệp ngắn ngày

V Cây công nghiệp dài ngày

Ghi chú: + Tỷ lệ cây xuất hiện rệp <10%

++ Tỷ lệ cây xuất hiện rệp <11-25%

+++ Tỷ lệ cây xuất hiện rệp > 25%

Trang 31

Bảng 6b: Thành phần và mức độ gây hại của rệp sáp trên một số cây ký

chủ chính trong vườn cà phê Loài rệp

Cây ký chủ

Rệp sáp mềm tua

ngắn Planococcus kraunhiae Kuwana

Rệp sáp mềm tua dài

Ghi chú: +++: Bắt gặp thường xuyên gây hại nặng

++: Bắt gặp khá thường xuyên gây hại trung bình

+: Bắt gặp hiếm gây hại nhẹ

-: Bắt gặp rất hiếm gây hại không đáng kể

Bảng 6c: Thời gian và mức độ gây hại của rệp sáp trên một số cây

ký chủ chính Thời gian

Vào các tháng mật độ rệp sáp trên vườn cà phê không cao, thì trên cây ký chủ lại

bắt gặp tần suất rệp cao (tháng 5- tháng 10), tháng 11-12 trên cây cà phê mật độ rệp rất

thấp nhưng trên cây ký chủ lại ở mức trung bình (bảng 6c )

Tóm lại: cây trồng xen, che bóng là cần thiết trong kỹ thuật sản xuất cà phê hiệu quả

Tuy nhiên nhiều loại cây đang trồng tại Đăk Lăk lại là ký chủ của rệp sáp hại cà phê

Đó chính là một trong các lý do làm đa dạng nguồn thức ăn cho rệp sáp, góp phần tăng

khả năng phát sinh phát triển quần thể rệp và bùng phát dịch trong những năm có điều

kiện thời tiết tối ưu

3.1.4 Sâu bệnh hại và kỹ thuật áp dụng phòng chống chúng

a)Tình hình gây hại của một số loài sâu bệnh quan trọng trên cà phê tại Đak lak

trong những năm vừa qua

Theo kết quả điều tra của đề tài từ 2005-2008, trên cây cà phê vối tại Đak Lak

đã ghi nhận được 18 loài sâu bệnh hại, trong có một số loài có tần suất xuất hiện và gây

hại với mức độ quan trọng hơn là: Rệp sáp mệm tua ngắn, rệp sáp tua dài, bênh gỉ sắt và

bệnh nứt thân, kết quả bảng 7

Trang 32

Bảng 7: Thành phần sâu bệnh hại trên cây cà phê ( Đak Lak, 2005-2007)

hại

Mức độ hại

3 Rệp vảy trắng Aulacaspis sp Diaspididae quả, lá +

4 Rệp sáp hại rễ Planococcus lilacinus

8 Rệp muội Toxoptera aurantii B.de F Aphididae Lá, búp -

10 Mọt đục cành Xyleborus morstatti Hag Scolytidae cành +

11 Mọt đục quả Stephanoderes hampei

13 Bệnh rỉ sắt Hemileia vastatrix B & Br Lá +++

14 Bệnh nấm hồng Corticium salmonicolor B

Ghi chú: +++: Bắt gặp thường xuyên gây hại nặng

++: Bắt gặp khá thường xuyên gây hại trung bình

+: Bắt gặp hiếm gây hại nhẹ

-: Bắt gặp rất hiếm gây hại không đáng kể

Sâu hại gồm có 12 loài thuộc 3 bộ côn trùng Trong đó bộ cánh đều (Homoptera)

có số loài nhiều nhất là 9 loài, thuộc 5 họ chiếm 75% tổng số loài thu thập được, tiếp

đến là bộ cánh cứng (Coleoptera) 2 loài, 1 họ, chiếm 16,7%, bộ cánh vảy (Lepidoptera)

1 loài, chiếm 8,3% Về tần suất xuất hiện và gõy hại ngoài sản xuất của sõu hại cà phê

Trang 33

cho thấy: 2 loài rệp sáp là rệp sáp mềm tua ngắn ( Planococcus kraunhiae Kuwana.), rệp sáp mềm tua dài ( Ferrisia virgata Cockerell.) là các đối t−ợng có tần suất xuất hiện

cao, diện tích bị hại lớn

Về bệnh hại đã ghi nhận đ−ợc 6 loại bệnh, tuy nhiên trong các năm từ

2005-2008 thì bệnh gỉ sắt ( Hemileia vastatrix B & Br ) quan trọng nhất sau đến là bệnh nứt thân do (Fusarium spp.) gây ra

Bảng 8: Diện tích bị hại do một số sâu bệnh quan trọng gây nên trên cà phê

(Đak Lak, 1998- 2008)

Diện tích nhiễm (ha)

TT Năm Loài gây hại

4 2001

Rệp sáp mềm xanh 8.672 8.672 Rệp sáp hại cành 8.318 8.318

Trang 34

Rệp sáp hại quả 1669,5 1669,5 Rệp sáp mềm xanh 1468,5 1468,5

( theo số liệu của chi cục BVTV Đak Lak)

Trong 3 năm 2005-2008, tình hình bị hại do rệp sáp trên cà phê không gay cấn

nh− những năm 2002-2004, tuy nhiên chúng vẫn là đối t−ợng sâu hại quan trọng nhất,

các địa điểm nghiên cứu có mật độ rệp cao (hình 1a và 1b)

Hình 1a: Diễn biến quần thể rệp sáp tại tp Buôn Ma Thuột, Krông Ana và Krông Buk

năm 2006

Trang 35

-2 0 2 4 6 8 10 12

Hình 1b: Diễn biến quần thể rệp sáp tại tp Buôn Ma Thuột, Krông Ana và Krông Buk-

b)Biện pháp nhân dân áp dụng phòng trừ sâu bệnh hại cà phê

- Biện pháp canh tác: hầu hết các hộ trồng cà phê đều cắt tỉa cành tạo tán Tuy nhiên chỉ

có 45% số hộ áp dụng biện pháp này đúng kỹ thuật đề ra (phụ lục 1) do vậy hiện tượng

số lượng cành/cây nhiều nhưng số lượng quả lại thấp, tán cây mọc không tròn đều nên xảy ra hiện tượng cạnh tranh ánh sáng Bên cạnh đó có từ 30-40% số hộ nông dân (chủ yếu người kinh, có kinh tế khá trở lên) đã sử dụng biện pháp dùng vòi nước dưới áp suất cao phun trực tiếp vào những cành có rệp có thể làm giảm mật độ rệp 40 - 50%

-Phòng trừ rệp sáp: hiện nay trên thị trường xuất hiện rất nhiều loại thuốc phòng trừ

rệp sáp do vậy người nông dân thường gặp rất nhiều khó khăn trong việc chọn lựa thuốc như: thuốc không có hiệu quả, thuốc có độ độc cao

Hiện tượng sử dụng thuốc tràn lan, không theo đúng kỹ thuật do vậy hiệu quả phòng trừ thấp, chi phí cao

Phun thuốc không chọn lọc khi rệp xuất hiện thường phun trên diện rộng, phun

định kỳ 7 - 10 ngày 1 lần trong thời gian 1-2 tháng ( 4-5 lần) với lượng thuốc khá lớn từ 2-3 lit dung dịch thuốc/cây cho đến khi mùa mưa bắt đầu do vậy không chỉ lãng phí thuốc, tiêu diệt hết các loài thiên địch của rệp mà còn gây ra hiện tượng ô nhiễm môi

Trang 36

- Phòng trừ bệnh hại: hiện tượng phun phòng xảy ra khá phổ biến Trên 70% số hộ

thường phun phòng các loại bệnh vào giai đoạn mùa mưa Một số loại thuốc sử dụng

phòng trừ một bệnh gỉ sắt và nấm hồng như: Anvil, Tiltsuper, tilvil phun 2-3 lần vào

tháng 4 và tháng 6

Tóm lại: trong phòng chống sâu bệnh còn trên 43% số hộ không áp dụng theo

nguyên tắc 4 đúng cụ thể là: Số lần phun thuốc nhiều 4-5 lần (người kinh) và 7-8 lần

(dân tộc), lượng thuốc lớn/cây (2-3 lit thuốc /ha), phun thuốc tràn lan theo hướng tự

phát, không theo hướng dẫn làm ảnh hưởng đến môi trường và giảm hiệu quả sản xuất

3.1.5 Thu hoạch: thu hoạch thường kéo dài từ tháng cuối tháng 11 đến hết tháng 12

Hiện nay hầu hết các hộ nông dân trồng cà phê (70- 80% số hộ ) vẫn thu hoạch cà phê

xanh khi tỷ lệ quả chín chỉ đạt 40-50% Một số diện tích cà phê do các công ty quản lý

(20%) thu hoạch khi tỷ lệ quả cà phê chín đạt trên 70% Đây là một yếu điểm làm cho

chất lượng cà phê của Việt Nam kém hơn các nước, vì vậy trong tiêu chí 4C thì có 1

tiêu chí là Chống hái quả xanh

Bảng 9 : Tỷ lệ các hộ áp dụng đúng các kỹ thuật trong sản xuất cà phê

(Đắk Lắk , 2005-2006) Stt Các biện pháp kỹ thuật Tỷ lệ số hộ áp dụng (%)

Chúng tôi đã tiến hành điều tra trên địa bàn xã Ea Kao thuộc thành phố Buôn

Ma Thuật, với tổng diện tích đất tự nhiên là 4690 ha, với dân số 17 623 người, xã có

nhiều dân tộc cùng chung sống như: Êđe (48,3%), Kinh (43%), còn lại là các dân tộc

Tày, Nùng, Mường, Mán, Thái, Gia Rai, Thổ

Tuy là một xã gần trung tâm của tỉnh, nhưng tỷ lệ đói nghèo của xã vẫn còn rất

cao (23%) trong đó trên 90% là các dân tộc thiểu số Thu nhập từ nông nghiệp chiếm

90%, còn lại 10% là dịch vụ và các ngành nghề khác

Trang 37

Những nơi đất tốt, thuận lợi về tưới tiêu và giao thông hầu hết đã thuộc quyền sở

hữu của các hộ thuộc dân tộc kinh, do đó việc sản xuất của người đồng bào dân tộc

thường khó khăn hơn, cùng với đó, do nghèo, trình độ văn hoá thấp, do đó việc ứng

dụng KHKT vào sản xuất nông nghiệp, cà phê còn rất ít, vì vậy hiệu quả sản xuất thấp

Bảng 10: Mức độ đầu tư, thâm canh cà phê giữa các hộ thuộc dân tộc kinh và dân

tộc thiểu số (Ea Kao , Ban Mê Thuột, Đăk Lăk, 2007) STT Kỹ thuật áp dụng Dân tộc kinh Dân tộc thiểu số

(Kết quả điều tra tại xã Ea Kao – 2006) Việc sản xuất cà phê của đồng bào dân tộc thiểu số gặp rất nhiều khó khăn, thiếu

về kiến thức, kỹ thuật, điều kiện kinh tế khó khăn do vậy không có khản năng đầu tư

Các kỹ thuật áp dụng đều theo tập quán và kinh nghiệm, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

không đúng kỹ thuật gây lãng phí thuốc, ô nhiễm môi trường dẫn đến sản xuất kém

hiệu quả, năng suất chỉ đạt 1-1,5 tấn nhân/ha, tỷ lệ số hộ có năng suất đạt 2,5-3 tấn

nhân/ha khoảng 15-20% Hộ người kinh sản xuất cà phê có hiệu quả cao hơn rất nhiều,

năng suất bình quân đạt 3-3,5 tấn nhân/ha

Tóm lại: Đăk Lăk là tỉnh có đất đai phì nhiêu, khí hậu ôn hoà rất thích hợp cho cà phê

Cây cà phê đã cho thu nhập cao, là cây giải quyết đói nghèo, công ăn việc làm, ổn định

xã hội cho vùng đất giầu và đa dạng văn hoá của Tây Nguyên Người dân Đăk Lăk có

kinh nghiệm sản xuất cà phê và đại đa số hộ người kinh đầu tư thâm canh cao cho cà

phê, nắm được kỹ thuật tỉa cành tạo tán, tưới nước, bón phân và phòng trừ sâu bệnh

Tuy nhiên trong sản xuất cà phê hiện nay còn một số tồn tại cần thay đổi để hướng tới

Trang 38

các kỹ thuật bón phân, tưới nước, tỉa cành tạo tán, che bóng, trồng xen vì vậy năng suất thấp, vườn cây tàn nhanh Ngoài ra việc tưới nước, bón phân hoá học quá nhiều của các hộ có kinh tế khá (nhất là năm cà phê được giá), phun quá nhiều thuốc trừ sâu, không đúng lúc, đúng liều lượng đã dẫn đến cạn kiệt nguồn nước, ô nhiễm môi trường, hái quả xanh, chế biến dẫn đến chất lượng cà phê thấp Tất cả những vấn đề nêu trên nếu không được giải quyết sẽ không thể có được một ngành sản xuất cà phê

hiệu quả và bền vững Với chiến lược 4C (Chống tưới quá nhiều nước, chống sử dụng nhiều phân đạm, chống sử dụng nhiều thuốc trừ sâu, chống hái quả xanh ) của ngành sản xuất cà phê đưa ra trong giai đoạn hiện nay, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, với thời hạn 3 năm, chúng tôi đã tập trung nghiên cứu và đề xuất được một số biện pháp phòng chống rệp sáp hiệu quả, góp phần vào việc giảm thuốc trừ sâu là 1 trong 4 tiêu chí của 4C đưa ra Những kết quả và giải pháp của đề tài sẽ được tiếp tục trình bầy trong các phần sau

3.2 Mức độ bị hại do rệp gây ra trên một số dòng/ giống cà phê vối

Một trong các nguyên nhân đóng vai trò quan trọng số một trong các nguyên nhân gây bùng phát dịch hại (sâu bệnh hại), đó là quan hệ giữa ký sinh (sâu bệnh) và

ký chủ (thức ăn =cây trồng) Để có cơ sở lý giải cho nguyên nhân gây bùng phát dịch rệp sáp hại cà phê tại Đăk Lăk, chúng tôi đánh giá mức độ bị hại của giống cà phê vối

đang trồng ngoài sản xuất với rệp sáp, cũng như để có cơ sở cảnh báo dịch cho tương lai, chúng tôi đánh giá mức độ bị hại do rệp sáp của các dòng/giống cà phê vối mới

được công nhận, giới thiệu ra trồng trong thời gian gần đây

3.2.1 Mức độ bị hại do rệp sáp của giống cà phê vối đang trồng đại trà ngoài sản xuất tại Đăk lăk

Trong những năm vừa qua rệp sáp là một trong những đối tượng hại gây ảnh hưởng lớn nhất đến sản xuất cà phê tại Đaklak Theo thống kê của Chi Cục Bảo vệ thực vật Đak Lak thì năm 2004 có 16.339,3 ha cà phê tại Đak Lak bị nhiễm rệp sáp trong đó

có 2.518 ha bị hại nặng Các địa phương bị rệp sáp hại nặng là Krông Buk 3.700 ha, Ea Hleo 3.500 ha, thành phố Buôn Ma Thuột là 3147 ha, Krông Pac là 2130 ha Kết quả nghiên cứu tại ĐakLak từ năm 2005 -2008 đã thu thập được 7 loài rệp sáp, trong đó loài rệp sáp gây hại chủ yếu ảnh hưởng lớn nhất đến sản xuất cà phê là loài rệp sáp mềm tua

ngắn (Planococcus kraunhiae) Chúng phát sinh và gây hại quanh năm, nhưng gây hại

nặng vào giai đoạn mùa khô, trùng với thời kỳ ra hoa, hình thành quả Kết quả nghiên cứu của chúng tôi từ năm 2006 đến nay tại một số địa phương của ĐakLak cho thấy trên cà phê vối trồng phổ biến ở ĐakLak hiện nay đều nhiễm với rệp sáp, tỷ lệ cây bị hại từ 5 tới 100 % và mật độ từ 0,5 lên tới trên 10 con/đoạn cành tuỳ thuộc vào điều kiện canh tác, tuổi cây khác nhau và điều kiện thời tiết từng năm (hình 1a,1b)

Theo ý kiến của chuyên gia Viện KHKTNLN Tây Nguyên, cà phê vối hiện nay ngoài sản xuất của Đăk lăk chỉ có 1 giống, tuy chúng có các dạng hình khác nhau như: Dạng hình lá tím chiếm tỷ lệ rất nhỏ, khoảng 0,1 % Dạng cây lá to nhẵn chiếm 40% Dạng cây lá nhăn, mép lá hơi gợn răng cưa, lượn sóng chiếm tỷ lệ 59,9 %

Trang 39

Hình 2a: Dạng hình lá tím Hình 2b: Dạng lá to, nhẵn Hình 2c: Dạng lá nhăn,

mép lượn sóng Khi theo dõi ngoài sản xuất thấy hầu hết các cây lá nhăn, dày mép lá hơi gợn răng cưa có năng suất cao, sau đến cây lá to nhẵn, thấp nhất là cây lá tím Tuy nhiên khi đánh giá mức độ bị hại do rệp sáp thì ngược lại; lá nhăn dày mép lá hơi gợn răng cưa có mật độ và tỷ lệ hại do rệp cao nhất và thấp nhất là cây lá tím (bảng 11a) Điều

đó chứng tỏ giống cà phê vối đang trồng ngoài sản xuất bị nhiễm rệp sáp nặng

Bảng 11a : Tỷ lệ cây bị nhiễm rệp sáp và mật độ rệp sáp hại quả

(Planococcus kraunhiae) trên 3 dạng hình cây cà phê vối ở ĐakLak

Tỷ lệ cây nhiễm rệp (%) Mật độ rệp (con/đoạn cành)

3.2.2 Mức độ bị hại do rệp sáp của các dòng/giống do Viện KHKTNLN chọn tạo, giới thiệu ra sản xuất

Các dòng/ giống cà phê vối mà Viện KHKTNLN Tây Nguyên chọn tạo và giới thiệu ra sản xuất, hoặc là trồng mới, hoặc là ghép cải tạo, đó là; Tr4, Tr5 Tr6, Tr7 và Tr8 Viện BVTV đã tiến hành đánh giá mức độ bị hại do rệp sáp với các dòng/giống trong điều kiện nhân tạo trong nhà lưới (nhân thả rệp), Viện KHKTNLN Tây Nguyên

đánh giá mức độ bị hại ngoài sản xuất tự nhiên tại Đăk Lăk

3.2.2.1 Mức độ bị hại do rệp sáp của các dòng/giống cà phê vối trong điều kiện nhà lưới

Thí nghiệm được tiến hành so sánh mức độ bị hại của 5 dòng/giống cà phê của Viện Tây Nguyên và đối chứng là 1 dòng cà phê vối thực sinh Đánh giá trong điều

Trang 40

sóc như nhau Nhân rệp sáp ( Planococcus kraunhiae Kuwana.) loài rệp sáp chính hại

cà phê ở Đăk Lăk, thả mỗi cây là 200 rệp tuổi 1, 2 Đánh giá vào các thời điểm sau thả

20, 40 và 60 ngày Kết quả cụ thể trình bầy bảng 11 b, 11c và11d

Bảng 11b : Mức độ bị hại của một số dòng cà phê với rệp sáp Planococcus

kraunhiae trong điều kiện nhà lưới ( Viện BVTV- 2006)

Bảng 11c : Mức độ bị hại của một số dòng cà phê với rệp sáp Planococcus

kraunhiae trong điều kiện nhà lưới ( Viện BVTV- 2007)

Dòng, giống

Cà phê vối thực sinh

CSH (%)

TLH (%)

CSH (%)

TLH (%)

CSH (%)

TLH (%)

CSH (%)

TLH (%)

CSH (%)

TLH (%)

CSH (%)

Ngày đăng: 14/05/2014, 21:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1b: Diễn biến quần thể rệp sáp tại tp. Buôn Ma Thuột, Krông Ana và Krông Buk- - Nghiên cứu ứng dụng thực tế quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và một số giải pháp nông học để nâng cao nâng suất cà phê bền vững ở đăk lăk
Hình 1b Diễn biến quần thể rệp sáp tại tp. Buôn Ma Thuột, Krông Ana và Krông Buk- (Trang 35)
Bảng 11b : Mức độ bị hại của một số dòng cà phê với rệp sáp Planococcus - Nghiên cứu ứng dụng thực tế quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và một số giải pháp nông học để nâng cao nâng suất cà phê bền vững ở đăk lăk
Bảng 11b Mức độ bị hại của một số dòng cà phê với rệp sáp Planococcus (Trang 40)
Bảng 11d : Mức độ bị hại của một số dòng cà phê với rệp sáp Planococcus - Nghiên cứu ứng dụng thực tế quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và một số giải pháp nông học để nâng cao nâng suất cà phê bền vững ở đăk lăk
Bảng 11d Mức độ bị hại của một số dòng cà phê với rệp sáp Planococcus (Trang 41)
Hình 4: Các pha phát dục của rệp sáp mềm tua dài: Ferrisia virgata Cockerell. - Nghiên cứu ứng dụng thực tế quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và một số giải pháp nông học để nâng cao nâng suất cà phê bền vững ở đăk lăk
Hình 4 Các pha phát dục của rệp sáp mềm tua dài: Ferrisia virgata Cockerell (Trang 46)
Hình 5a: Quan hệ giữa  diễn biến số l−ợng rệp sáp (con/cành) - Nghiên cứu ứng dụng thực tế quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và một số giải pháp nông học để nâng cao nâng suất cà phê bền vững ở đăk lăk
Hình 5a Quan hệ giữa diễn biến số l−ợng rệp sáp (con/cành) (Trang 54)
Hình 5c:  Quan hệ giữa tỷ lệ cây bị hại do rệp (%) với l−ợng m−a trong năm - Nghiên cứu ứng dụng thực tế quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và một số giải pháp nông học để nâng cao nâng suất cà phê bền vững ở đăk lăk
Hình 5c Quan hệ giữa tỷ lệ cây bị hại do rệp (%) với l−ợng m−a trong năm (Trang 55)
Bảng 20b : Sự phân bố của rệp trên các bộ phận của cây cà phê - Nghiên cứu ứng dụng thực tế quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và một số giải pháp nông học để nâng cao nâng suất cà phê bền vững ở đăk lăk
Bảng 20b Sự phân bố của rệp trên các bộ phận của cây cà phê (Trang 56)
Hình 6b: Sự phân bố của rệp theo chiều cao của tán cây trong mùa m−a - Nghiên cứu ứng dụng thực tế quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và một số giải pháp nông học để nâng cao nâng suất cà phê bền vững ở đăk lăk
Hình 6b Sự phân bố của rệp theo chiều cao của tán cây trong mùa m−a (Trang 57)
Hình 7 : Diễn biến mật độ quần thể rệp sáp trên vườn cà phê KD và KTCB - Nghiên cứu ứng dụng thực tế quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và một số giải pháp nông học để nâng cao nâng suất cà phê bền vững ở đăk lăk
Hình 7 Diễn biến mật độ quần thể rệp sáp trên vườn cà phê KD và KTCB (Trang 58)
Hình 8: Diễn biến quần thể rệp sáp trong thí nghiệm cắt tỉa cành tạo tán - Nghiên cứu ứng dụng thực tế quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và một số giải pháp nông học để nâng cao nâng suất cà phê bền vững ở đăk lăk
Hình 8 Diễn biến quần thể rệp sáp trong thí nghiệm cắt tỉa cành tạo tán (Trang 62)
Hình 9: Vai trò của biện pháp tưới nước hạn chế mật độ của quần thể rệp sáp hại - Nghiên cứu ứng dụng thực tế quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và một số giải pháp nông học để nâng cao nâng suất cà phê bền vững ở đăk lăk
Hình 9 Vai trò của biện pháp tưới nước hạn chế mật độ của quần thể rệp sáp hại (Trang 64)
Hình 13: Diễn biến tr−ởng thành ve sầu hại cà phê tại Đắk Lắk - 2008 - Nghiên cứu ứng dụng thực tế quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và một số giải pháp nông học để nâng cao nâng suất cà phê bền vững ở đăk lăk
Hình 13 Diễn biến tr−ởng thành ve sầu hại cà phê tại Đắk Lắk - 2008 (Trang 73)
Hình 14: Đánh giá ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật đến mật độ rệp sáp - Nghiên cứu ứng dụng thực tế quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và một số giải pháp nông học để nâng cao nâng suất cà phê bền vững ở đăk lăk
Hình 14 Đánh giá ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật đến mật độ rệp sáp (Trang 76)
Hình 15: Tỷ lệ cây bị hại do bệnh gỉ sắt của mô hình so với đối chứng - Nghiên cứu ứng dụng thực tế quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và một số giải pháp nông học để nâng cao nâng suất cà phê bền vững ở đăk lăk
Hình 15 Tỷ lệ cây bị hại do bệnh gỉ sắt của mô hình so với đối chứng (Trang 77)
Hình 17 : Thời điểm phòng trừ một số đối t−ợng dịch hại chính trên cà phê - Nghiên cứu ứng dụng thực tế quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và một số giải pháp nông học để nâng cao nâng suất cà phê bền vững ở đăk lăk
Hình 17 Thời điểm phòng trừ một số đối t−ợng dịch hại chính trên cà phê (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w