1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng chăn nuôi và chế biến các sản phẩm từ cá sấu, đà điểu và đề xuất mô hình khai thác tối ưu nguồn cá sấu và đà điểu trong nước

78 807 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu thực trạng chăn nuôi và chế biến các sản phẩm từ cá sấu, đà điểu và đề xuất mô hình khai thác tối ưu nguồn cá sấu và đà điểu trong nước
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn Ks. Nguyễn Hữu Cung
Trường học Viện nghiên cứu da giầy, Bộ Công Thương
Chuyên ngành Nghiên cứu khoa học, Chăn nuôi, Thực phẩm
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hy vọng những đề xuất của đề tài sẽ được áp dụng vào thực tế, góp phần năng cao hiệu quả của việc chăn nuôi và nâng cao gía trị các sản phẩm từ cá sấu và đà điểu... 1.5 Tổng quan tình hì

Trang 1

Báo cáo tổng kết

đề tài nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu thực trạng chăn nuôi và

chế biến các sản phẩm cá sấu, đà điểu và

đề xuất mô hình khai thác tối ưu nguồn

cá sấu và đà điểu trong nước

Chủ nhiệm đề tài: Ks Nguyễn Hữu Cung

Trang 2

Tóm tắt nội dung đề tài

Trong những năm gần đây phong trào nuôi cá sấu phát triển khá mạnh tại nhiều tỉnh thành trong cả nước, đặc biệt là ở thành phố Hồ Chí Minh, khu vực đồng bằng sông Cửu Long Tình trạng nuôi cá sấu tự phát, không đăng

ký, không rõ nguồn gốc xuất xứ không chỉ khiến cho việc tiêu thụ cá sấu gặp nhiều khó khăn làm cho người nuôi chịu nhiều thiệt hại về kinh tế mà nuôi tự phát, chuồng trại không đảm bảo tiêu chuẩn đã và đang tiềm ẩn những nguy

cơ gây mất an toàn, ảnh hưởng tới môi trường sinh thái

Đối với chăn nuôi đà điểu mặc dù đã bước đầu hình thành và phát triển như là một nghề chăn nuôi mới, có hiệu quả kinh tế cao nhưng chăn nuôi đà

điểu hiện nay đang gặp không ít khó khăn Hiện nay giá con giống quá cao

do số lượng con giống còn quá ít, nguồn nhập khẩu con giống cũng hạn chế, không đủ cung ứng cho thị trường Mặt khác chăn nuôi đà điểu cần đầu tư chuồng trại, diện tích đồng cỏ chăn nuôi lớn vì chăn nuôi đà điểu là chăn nuôi hàng hoá, chứ không phải là sản xuất tự cấp, tự túc Đó là lý do vì sao chỉ có các trang trại, doanh nghiệp có đủ tiềm lực mới có thể đầu tư chăn nuôi kinh doanh Người chăn nuôi nhỏ, chăn nuôi nông hộ khó tiếp cận, áp dụng hình thức này nên việc phát triển, mở rộng sản xuất sẽ còn gặp nhiều khó khăn trong thời gian tới Mặt khác hiện nay các sản phẩm đà điểu chủ yếu được tiêu thụ dưới dạng sản phẩm thô và sơ chế, nhất là đối với sản phẩm da đà điểu nên hiệu quả kinh tế chưa cao Đồng thời do giá thành sản phẩm thịt và các sản phẩm khác còn quá cao so với thu nhập của người tiêu dùng nên các sản phẩm đà điểu chưa thành phổ biến và chưa thực sự trở

thành quan tâm của người chăn nuôi và người tiêu dùng

Trang 3

Thực tế trình bày ở trên đòi hỏi phải có nghiên cứu về thực trạng của việc gây nuôi, chế biến, tiêu thụ cá sấu đà điểu để từ đó có thể đề ra định hướng cho việc phát triển bền vững của việc nuôi và khai thác cá sấu

Thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học được Bộ giao, trong thời gian một năm qua nhóm chủ nhiệm đề tài đã tiến hành thu thập các thông tin trong và ngoài nước đồng thời tiến hành điều tra, khảo sát thực trạng chăn nuôi cá sấu, đà điểu trong phạm vi cả nước Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu tìm hiểu thực trạng và tham khảo nhiều mô hình chăn nuôi ở các nước, nhóm chủ nhiệm đề tài đã đề xuất mô hình chăn nuôi, khai thác cá sấu, đà

điểu một cách tối ưu phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta hiện nay Hy vọng những đề xuất của đề tài sẽ được áp dụng vào thực tế, góp phần năng cao hiệu quả của việc chăn nuôi và nâng cao gía trị các sản phẩm từ cá sấu

và đà điểu

Trang 4

/HĐ-1.2 Xuất xứ của đề tài

Trong những năm gần đây phong trào nuôi cá sấu phát triển khá mạnh

ở nhiều tỉnh thành trong cả nước đặc biệt là ở thành phố Hồ Chí Minh, khu vực đồng bằng sông Cửu Long Tình trạng nuôi cá sấu tự phát, không đăng

ký, không rõ nguồn gốc xuất xứ không chỉ khiến cho việc tiêu thụ cá sấu gặp nhiều khó khăn làm cho người nuôi chịu nhiều thiệt hại về kinh tế mà nuôi tự phát, chuồng trại không đảm bảo tiêu chuẩn đã và đang tiềm ẩn những nguy cơ gây mất an toàn, ảnh hưởng tới môi trường sinh thái Thực tế đó đòi hỏi phải có nghiên cứu về thực trạng của việc gây nuôi, chế biến, tiêu thụ để từ

đó có thể đề ra định hướng cho việc phát triển bền vững của việc nuôi và khai thác cá sấu

Tuy không phát triển đại trà như cá sấu, song đà điểu cũng đã phát triển rất nhanh Từ một số con được nuôi thí nghiệm ban đầu ở công ty gia cầm Thuỵ Phương, đến nay đà điểu đã được nuôi ở nhiều địa phương, đặc biệt là ở các trang trại lớn ở một số tỉnh phía Nam Chăn nuôi đà điểu

Tuy đã bước đầu hình thành và phát triển như là một nghề chăn nuôi mới, có hiệu quả kinh tế cao nhưng chăn nuôi đà điểu hiện nay đã gặp một só khó khăn tồn tại lớn sau:

Đầu tư vốn lớn

Chăn nuôi đà điểu cần vốn đầu tư lớn và vì vậy việc phát triển chăn nuôi đà điểu gặp không ít khó khăn Hiện nay giá con giống quá cao do số

Trang 5

lượng con giống còn quá ít, nguồn nhập khẩu con giống cũng hạn chế, không

đủ cung ứng cho thị trường Mặt khác chăn nuôi đà điểu cần đầu tư chuồng trại, diện tích đồng cỏ chăn nuôi lớn vì chăn nuôi đà điểu là chăn nuôi hàng hoá, chứ không phải là sản xuất tự cấp, tự túc Đó là lý do vì sao chỉ có các trang trại, doanh nghiệp có đủ tiềm lực mới có thể đầu tư chăn nuôi kinh doanh Người chăn nuôi nhỏ, chăn nuôi nông hộ khó tiếp cận, áp dụng hình thức này nên việc phát triển, mở rộng sản xuất sẽ còn gặp nhiều khó khăn trong thời gian tới

Công nghiệp chế biến, thị trường chưa phát triển

Hiện các sản phẩm đà điểu chủ yếu được tiêu thụ dưới dạng sản phẩm thô và sơ chế, nhất là đối với sản phẩm da đà điểu nên hiệu quả kinh tế chưa cao Đồng thời do giá thành sản phẩm thịt và các sản phẩm khác còn quá cao

so với thu nhập của người tiêu dùng nên các sản phẩm đà điểu chưa thành phổ biến và chưa thực sự trở thành quan tâm của người chăn nuôi và người tiêu dùng

1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Khảo sát thực trạng gây nuôi, chế biến, tiêu thụ sản phẩm cá sấu, đà điểu

- Định hướng phát triển gây nuôi, chế biến, tiêu thụ sản phẩm cá sấu, đà

điểu

1.4 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu của đề tài

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Cá sấu, đà điểu; việc nuôi, chế biến, tiêu thụ cá sấu, đà điểu và các sản phẩm từ chúng

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Cá sấu, đà điểu và việc gây nuôi, chế biến, tiêu thụ cá sấu, đà điểu và các sản phẩm từ chúng ở Việt Nam

Trang 6

1.4.3 Nội dung nghiên cứu

a Khảo sát tình hình gây nuôi, chế biến, tiêu thụ sản phẩm cá sấu, đà điểu một số khu vực trong nước

- Vấn đề môi trường, điều kiện tự nhiên xã hội, vấn đề con giống, chăn nuôi, giết mổ, an toàn, môi trường, thuộc da và chế biến đồ da từ cá sấu, đà điểu

- Nghiên cứu chất lượng con giống

- Đặc điểm của con cá sấu, đà điểu; môi trường thức ăn, dịch bệnh;

- Điều kiện chăn nuôi, tổ chức sản xuất Nghiên cứu và đề xuất mô hình chuồng trại hợp lý

- Tình hình giết mổ lấy thịt, da, thuộc da và chế biến sản phẩm từ da cá sấu,

- Điều kiện quản lý động vật hoang dã, quý hiếm

- Nhu cầu sử dụng (lấy thịt, thuộc da, làm các mặt hàng từ da cá sấu, phát triển du lịch…) hiện nay và những năm tới

c Định hướng phát triển việc gây nuôi, chế biến và tiêu thụ sản phẩm cá sấu

đà điểu

Căn cứ những số liệu, tình hình nghiên cứu, khảo sát, đánh giá, nhận

định đưa ra định hướng và chương trình phát triển, các giải pháp thực hiện, kết luận và đề xuât kiến nghị

1.5 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.5.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

- Việc nghiên cứu về con cá sấu, đà điểu đã được tiến hành trước đây nhiều năm, tuy nhiên cá sấu, đà điểu chỉ được nuôi tại các cơ sở nghiên cứu, và tại một số vườn thú phục vụ cho nhu cầu giải trí của khách tham quan

Trang 7

- Trong những năm gần đây, một số doanh nghiệp ở phía Nam đã tiến hành gây nuôi, chế biến và tiêu thụ sản phẩm cá sấu, đà điểu và đã thu được nhiều kiến thức cũng như lợi ích từ việc nuôi cá sấu, đà điểu

- Ngoài các cơ sở nói trên một số cơ sở tư nhân ở cả hai miền cũng đã tiến hành gây nuôi, chế biến và tiêu thụ sản phẩm cá sấu, đà điểu

- Viện Nghiên cứu Da-Giầy đã hợp tác với Trung tâm nghiên cứu gây nuôi

và phát triển cá sấu Hải Phòng cũng như một số cơ sở phía Bắc trong việc thuộc và chế biến sản phẩm từ da cá sấu Viện cũng đã và đang hợp tác với công ty Thuỵ Phương trong nghiên cứu thuộc da đà điểu để từng bước nâng cao giá trị của loại da đặc biệt này

1.5.2 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước

ở nước ngoài cá sấu, đà điểu đã được nghiên cứu rất kỹ lưỡng, đặc biệt ở các nước có điều kiện nuôi và phát triển đàn cá sấu, đà điểu như ở úc,

Mỹ, Thái Lan, v.v Ngoài ra nhiều nước khác cũng đã có rất nhiều kinh nghiệm và kiến thức trong thuộc da cá sấu, đà điểu và chế biến ra nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế rất cao từ da của các loại động vật hoang dã này

Trang 8

Phần Ii Đại cương về cá sấu tình hình nuôI, giết mổ, chế

biến, kinh doanh cá sấu trên thế giới và ở việt nam 2.1 Cá sấu

Cỏ sấu là loài bũ sỏt cú đầu dẹt, mừm dài và nhọn, Răng hình chóp nón răng nanh rất lớn, răng hàm trờn 38 chiếc, hàm dưới 30 chiếc Trong miệng cú lưỡi mà khụng tiến ra ngoài gọi là lưỡi giả, trờn đầu cú hai mắt và cuối mừm là 2 lỗ mũi nhỏ Cỏ sấu cú thõn dài màu vàng hoặc xỏm tựy theo loài, đuụi khỏe và dài hơn thõn, dẹp hai bờn như hỡnh mỏi chốo phủ các phiến sừng, vừa để di chuyển, vừa để tự vệ Trờn lưng che phủ bằng lớp da hỡnh thành bởi những vẩy cứng màu đen hoặc hơi vàng, dưới bụng màu vàng ngà, phần lưng và đuụi cú 2 hàng gờ chạy đến chút đuụi Chân cá sấu ngắn

và to gồm 4 chân: 2 chõn trước và 2 chõn sau; chõn trước cú 5 ngún, chõn sau cú 4 ngún dớnh lại bởi một màng da dựng để bơi giống như chõn vịt, cú vuốt nhọn ở đầu ngún Lỗ mũi và lỗ tai đều cú van chắn nước Da cá sấu dày; da lưng và da bụng có các bản xương dày; dạ dầy có vách cơ khoẻ; não, thị giác và thính giác rất phát triển; tim 4 ngăn, phổi lớn

Cá sấu thuộc lớp bò sát, là loài lưỡng ngư, thích nghi với cả hai môi trường: dưới nước và trên cạn Cá sấu trưởng thành có chiều dài khoảng 2-5

m, có khi đến 6 m Con cái để trứng thành các ổ, giấu trong cát hay bụi lau sậy; trứng có vỏ vôi chắc Cá sấu là loài hoạt động về đêm, hung dữ, ăn động vật, tấn công cả người Thức ăn chủ yếu của cá sấu là các loại động vật ( cá, chuột, ) Cá sấu phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới; sống ở sông , hồ, ao,

đầm; số ít sống ở ven bờ biển Cá sấu thích nghi được với nhiều điều kiện môi trường Chúng thích đầm mình dưới nước và phơi nắng ở trên cạn ở trên cạn cá sấu thường bò chậm chập, thậm chí nằm im phơi nắng cứng đờ như

Trang 9

một cây gỗ Cá sấu trở nên hung dữ hơn khi tìm mồi ở dưới nước Vào ban

đêm cá sấu hoạt động mạnh hơn

2.2 Phân loại cá sấu

Cá sấu thuộc Bộ Bò sát ở nước (cá sấu là một loại bò sát, chứ không phải là cá) Các loài cá sấu còn đến hiện nay là nhóm cuối cùng của những cá sấu cổ đại đã xuất hiện từ hơn 150 triệu năm trước đây lúc đó chúng có tới

15 họ với hơn 100 giống và nhiều loài Đến đầu đại Tân sinh đa số những cá sấu này đã bị tuyệt chủng Hiện nay việc phân loại cá sấu về mặt khoa học tuy chưa thật hoàn toàn thống nhất nhưng ít nhất các nhà khoa học đã thống nhất có 3 họ chính: Alligatorridae, Crocodiliae và Gavialidae trong đú phõn thành 7 giống và 21 loài

Cỏc đặc điểm để phõn biệt giữa 3 họ này được dựa vào hỡnh mừm, kớch thước cơ thể, sự sắp xếp của răng, tập quỏn và vị trớ phõn loại của chỳng

2.2.1 Họ cỏ sấu chớnh thức (Crocodiliae) gồm 3 giống:

Giống Crocodiliae: cú 11 loài

a Chõu Á và Chõu Đại Dương: cú 5 loài

- Crocodylus porosus (cỏ sấu hoa cà hay cũn gọi là cỏ sấu nước lợ) phõn bố từ ấn độ đến đảo Fiji và miền bắc Australia, đến cả Philippine, chỳng cựng loài với cỏ sấu hoa cà ở Việt Nam Loài này cú khả năng đi xa

bờ biển đến 1000 km, là loài cỏ hung dữ nhất, thường tấn cụng người, chiều dài cỏ sấu cú thể đạt đến 8,5m

- Crocodylus siamensis (cỏ sấu Xiờm): cú nhiều ở Đụng Nam Á, tại Việt Nam, chỳng sống ở cỏc đầm hồ lớn vựng U Minh, Nam Trung Bộ

- Crocodylus palustris: sống ở Ấn Độ, phõn bố trải từ Pakistan đến Srilanca

- Crocodylus movaoguinao: sống ở Philipine, New Guine

- Crocodylus jhonstoni: sống ở miền Nam Australia

Trang 10

Bốn loài trờn tương đối nhỏ và ớt tấn cụng người

b Chõu Mỹ: cú 4 loài

- Crocodylus rhombifer (cỏ sấu Cuba): sống ở đảo Pine và Cuba

- Crocodylus acutus (cỏ sấu mừm nhọn): sống trong vựng biển của Nam Mỹ, đảo Altiles

- Crocodylus moreleti: sống ở Mexico, Honduras và Guatemala

- Crocodylus intermidius: sống trong biển của Nam Mỹ

c Chõu Phi: cú 2 loài

- Crocodylus niloticus (cỏ sấu sông Nil): phõn bố ở Chõu Phi,chỳng sống ở cỏc sụng ngũi, nhưng cũng cú khả năng sống ở nước lợ, chiều dài trung bỡnh 6 – 7m thường tấn cụng người

- Crocodylus cataphratus (cỏ sấu đen): sống ở vựng biển Công Gô đến Senegal, kớch thước nhỏ hơn cỏ sấu sụng Nil, dài trung bỡnh 2m

Giống Osteolimus: Sống ở Trung Phi, là loài cỏ sấu nhỏ, dài từ 1-1,5 m

Giống Tomistoma: Cú 1 loài Tomistoma Schlegeli sống ở Malaysia, Thỏi

Lan và Indonesia

Bảng 1 Một số đặc điểm chủ yếu của 6 loài cá sấu phổ biến thuộc họ Cá sấu thực sự Crocodilidae ở vùng châu á-Thái Bình Dương (theo Melvin Bolton, 1990)

Tên thường

gọi-Tên khoa học

Kích thước tối đa (m)

Phân bố địa lý Mức độ

nguy cơ bị tiêu

Trang 11

ë §«ng Nam

¸ Malaixia, Suma-tra, Calimentan

Lín Lín

V¶y lín

2.2.2 Họ cá Ngạc (Alligatorridae)

Gồm có 4 giống: Alligator, Caiman, Melanoschus và Palaeosuchus bao gồm

7 loài, sống ở miền Nam Trung Quốc

Giống Alligator: có 2 loài

- Alligator Mississpiensis: là loài cá sấu Bắc Mỹ dài trên 3 m

- Alligator Chinensis: cá sấu Trung Quốc sống ở sông Dương tử, có khả năng chịu được mùa đông lạnh, dài từ 1,2 đến 2 m

Giống Caiman: có 2 loài

- Caiman crocodylus (còn gọi là cá sấu đeo kính): sống ở Nam Mỹ

- Caiman latirostus: sống ở Châu Mỹ

Hai loài này có kích thước nhỏ dưới 2 m

Giống Palaeosuchus: có 2 loài

- Palaeosuchus palperbrosus

- Palaeosuschus trigonatus

Hai loài này sống ở vùng Amazon Châu Mỹ, chiều dài trung bình 1,5 m

2.2.3 Họ cá sấu mõm dài (Gavialidae)

Chỉ có 1 loài sống ở Ấn Độ gọi là cá sấu sông Hằng (Gavialidae gangeticus), chiều dài trung bình 6 m

Trang 12

2.3 Một số đặc điểm sinh học của cỏ sấu:

Cá sấu có nhiều loại nh−ng chúng đều có những đặc điểm sinh học khá giống nhau

2.3.1 Nhiệt độ cơ thể

Cỏ sấu là loài biến nhiệt nờn khụng thể tự sản sinh ra quỏ nhiều nhiệt lượng để sưởi ấm cơ thể, thõn nhiệt của chỳng phụ thuộc vào nhiệt độ bờn ngoài Cỏ sấu thường sưởi ấm bằng cỏch phơi nắng, khi đú nhịp tim đập nhanh dể tăng tuần hoàn của mỏu, tăng hấp thu nhiệt để toả ra khắp cơ thể; khi cần mỏt chỳng chui vào búng rõm hoặc lặn xuống nước Cỏ sấu tự chọn chỗ nằm thớch hợp, tựy theo hướng giú và hướng mặt trời Khi nhiệt độ cơ thể giảm, chúng

bỏ ăn, ít hoạt động Nếu nhiệt độ khụng khớ và nhiệt độ nước xuống dưới 15,6oc cỏ sấu ngừng ăn, dưới 7,2oc chỳng khụng cũn giữ được thăng bằng ở trong nước nữa Điều kiện nhiệt độ thớch hợp cho cỏ sấu sinh trưởng là 25 – 30oc

khụng chạy sang khớ quản (Việt Chương – 2000)

2.3.3 Cơ quan cảm giỏc

Trang 13

Não của cá sấu có kích thước nhỏ như các loại bò sát khác nhưng phát triển đầy đủ hơn Cá sấu nhận biết mùi rất thính, ở đáy họng cá sấu có 2 tuyến xạ và 2 tuyến khác nữa ở trong lỗ huyệt Nhờ tuyến này mà cá sấu có thể giao tiếp và nhận biết nhau qua mùi

Tai cá sấu khá thính, lỗ tai ở ngay sau mắt và đều có nắp che, cá sấu

bố mẹ thường lắng nghe và đáp lại tiếng gọi của đàn con

Mắt của cá sấu có cấu trúc giúp cho nó có thể nhìn rõ ban ngày lẫn ban đêm, vị trí của mắt giúp cho cá sấu có góc nhìn lớn cả chiều ngang và chiều thẳng đứng, cũng giống như chim, cá sấu có một “mí mắt thứ ba” trong suốt, gặp ánh sáng mạnh đồng tử lập tức co lại theo một khe thẳng đứng

Ngoài ra cá sấu còn có những nhú vị giác ở trên lưỡi và nhú xúc giác

ở trên hàm; khác với loài bò sát khác, chỉ riêng cá sấu ở dưới răng mới có

những cơ quan nhạy cảm với áp lực (Trần Văn Vỹ - 2001)

2.3.4 Dinh dưỡng, sinh trưởng

Cá sấu là loài ăn thịt, thức ăn chủ yếu là ếch nhái, chim, cá hay thú nhỏ Có khi cá sấu tấn công các loài thú lớn, kể cả thú rừng rồi dùng hàm và chân trước xé xác con mồi Răng cá sấu có hình côn, hơi cong vào phía trong và cắm sâu vào trong hàm, răng mới được tạo ra liên tục ở chân răng

cũ để thay thế vì vậy không thể dựa vào răng để định tuổi cho cá sấu

Cá sấu tiêu hóa thức ăn khá nhanh, quá trình tiêu hóa kéo dài khoảng

70 giờ Dạ dày có vách khỏe và dày, cá sấu có thể ngừng ăn khi bị hoảng sợ Chúng có thể nhịn ăn trong nhiều tháng mà vẫn sống nhưng yếu đi rõ rệt, lượng thức ăn cho cá sấu ăn hàng ngày xấp xỉ 1/70 trong lượng thân và có thể ăn từ 1-3 lần mỗi tuần Trong chăn nuôi nên chú ý cho cá sấu ăn được

no, đầy đủ, đây là yếu tố rất quan trọng giúp chúng lớn nhanh, cá sấu tăng

Trang 14

trưởng mạnh trong giai đoạn từ 1-3 tuổi, trung bỡnh tăng mỗi năm 35 – 45cm , từ năm thứ 4 trở đi cỏ sấu tăng trưởng chậm lại, mỗi năm từ 8 – 15 cm

2.3.5 Sinh sản.

Đối với giống cỏ sấu Xiờm (Crocodylus siamensis), cỏ sấu cỏi trưởng thành và bắt đầu sinh nở lỳc 5-6 tuổi Cỏ sấu đẻ 1 năm 1 lần vào đầu mựa mưa từ thỏng 4 đến thỏng 10 dương lịch, mỗi lần đẻ từ 20 – 50 trứng, đẻ trứng này cỏch trứng kia khoảng 30 – 40 giõy, ấp nở 75 – 85 ngày

2.4 Sản phẩm từ cá sấu

Sản phẩm quan trọng nhất của nghề nuôi cá sấu là da, sau đó là thịt và các sản phẩm phụ khác Cá sấu giống cũng là loại hàng bán được giá (một con cá sấu con ở Mỹ là 20-30 USD) Những năm gần đây các trại nuôi cá sấu còn gắn chặt với kinh doanh du lịch và nhờ thế đã thu về lợi nhuận không nhỏ

Da cá sấu là mục tiêu chủ yếu để con người săn bắt và phải nuôi con vật nguy hiểm này Da cá sấu mỏng hơn so với một số loại da khác và nó gồm 2 phần chính: da và lớp vẩy Thành phần chủ yếu của vẩy là colagen và chỉ có một lớp keratin mỏng bao bọc bên ngoài Da cá sấu có cấu tạo tương

Trang 15

Paris người ta thậm chí đã bán một quán rượu nhỏ lưu động được bọc bằng

da cá sấu với giá 7.500 đô la Mỹ

Tổng lượng da được buôn bán trên toàn thế giới là 1.318.060 tấm (2000), 1.329.487 tấm (2001) và 1.085.195 tấm (2002), giảm gần 25 % Hiện nay hàng năm thị trường da cá sấu cần đến 2 triệu tấn da cá sấu cỡ 3-4 tuổi và 20.000 tấn thịt, thị trường chủ yếu là Trung Quốc, Mỹ và EU Nhu cầu về sản phẩm da cá sấu rất lớn và có giá bán cao, từ 5,5 đến 12 USD/cm

Thịt cá sấu

Mục đích chính của việc nuôi cá sấu là lấy da, nhưng trong nhiều trường hợp việc bán các sản phẩm phụ, nhất là thịt đôi khi cũng thu được kết quả rất đáng kể Thịt cá sấu trắng hồng, thớ sợi tương tự như thịt lợn, bê Loại thức ăn cá sấu ăn có ảnh hưởng đến mùi vị của thịt cá sấu Nếu được nuôi bằng thức ăn là cá, ít nhiều thịt sẽ có mùi vị của cá Cá sấu thường có lớp mỡ rất dày, nhất là ở đuôi và đặc biệt ở những cá sấu nuôi nhốt trong chuồng Lượng đạm trong thịt cá sấu khá cao, tỷ lệ phần trăm của mỡ cũng khá cao Để có thể thấy được tỷ lệ các thành phần trong thịt của cá sấu có thể

so sánh với thành phần của thịt lợn ở thịt lợn thành phần trung bình của các chất như sau: đạm 13 %, mỡ 20 %, nước 57 %

Bảng 2 Thành phần của thịt cá sấu nuôi (theo Moody và CTV, 1980)

1,5 1,2 1,2 1,0

76,5

73 75,9 76,8

1,3 1,3 1,3 1,3

Trang 16

Một con cá sấu thương phẩm trung bình cho 20 Kg thịt Giá bán 1 Kg thịt tươi là 5-7 đô la, nếu xuất ở dạng đông lạnh sang thị trường châu âu giá

có thể lên gấp đôi Thịt cá sấu thơm, mềm ngọt, có thể nướng, rán, xào, luộc,

là loài thuốc bổ quí và có tác dụng chữa bệnh gan Nhiều người sành ăn cho

là thịt cá sấu hấp dẫn hơn thịt gà có tính trị bệnh như thịt cóc ở một số nước

ở châu á còn bán thịt cá sấu khô nhưng lợi nhuận ít, việc chế biến khá phiền toái, có không ít khó khăn vì khi sấy thịt cá sấu người ta phải tách xương nhất là phải lọc hết mỡ ra vì nếu không thịt sấy sẽ có màu vàng và có mùi khó chịu Thịt cá sấu được xuất khẩu dưới dạng tươi hoặc khô và là món ăn phổ biến của người châu á, đặc biệt là người Trung quốc Người châu á tin rằng thịt cá sấu có dược tính và thịt của nó có thể được chế biến theo nhiều kiểu khác nhau chẳng hạn rán giòn hoặc luộc Hiện tại trên thị trường thịt cá sấu được đóng hộp cùng với thảo dược Nó có hàm lượng Protein cao song ít chất béo Mỡ cá sấu cũng rất hữu ích Người Trung quốc và người Singapore

sử dụng mỡ làm dầu hoặc xoa bóp vết thâm tím và bỏng Mỡ cá sấu cũng là một thành phần trong kem chống nắng của Australia Ruột cá sấu được sử dụng trong y học Trung quốc truyền thống

Theo dữ liệu của CITES tổng lượng thịt cá sấu được buôn bán toàn thế giới từ năm 1997 tới năm 2002 đã đạt mức trung bình gần 400 tấn mỗi năm, dao động từ 250 tới 504 tấn Sau thời kỳ tăng đều từ 1997 đến 2001 lượng thịt xuất khẩu năm 2002 giảm xuống bằng mức 1998 Sự suy giảm thịt cá sấu các loại ngoại (trừ cá sấu Crocodylus porosus của Australia) là rất rõ ràng

Từ năm 1998 có sự dao động lớn về kim ngạch xuất khẩu của các nước cũng như các loài cá sấu liên quan Cho tới năm 1992 Mỹ là nước xuất khẩu thịt cá sấu Aligator mississippiensis lớn, đặc biệt là tới Đài Loan Tuy nhiên kể

từ năm 1993 xuất khẩu thịt cá sấu Crocodylus niloticus từ Nam Phi, Zambia

và Zimbabwe đã tăng đều từ chưa tới 2 tấn năm 1992 lên gần 300 tấn năm

Trang 17

2000 Xuất khẩu thịt cá sấu C.novaeguineae và C.porosus của Indonesia sang Hong Kong tăng cho tới năm 2000 Tuy nhiên kể từ đó nước này chỉ xuất khẩu khoảng 666 kg năm 2001 và 628 kg năm 2002 Xuất khẩu của Papua new Guinea tăng tới 90 tấn vào năm 2001 song giảm xuống còn 45 tấn năm

2002 Thái Lan hiện là nước xuất khẩu cá sấu C.siamensis duy nhất vơi 56 tấn năm 2001, 25 tấn trong năm 2002 và với 13 tấn năm 2006 Thái Lan có

17 trang trại cá sấu đăng ký với CITES Nước này xuất khẩu 5.459 bộ da cá sấu năm 1999, 2.417 bộ năm 2000, 4.392 năm 2001 và 3.580 bộ năm 2002 Các nước nhập khẩu da chính của Thái Lan là Nhật bản và Hàn Quốc Tuy nhiên trong năm 2001 có 2.311 tấm da được xuất khẩu sang Italia Các quốc gia khác mà Thái Lan xuất khẩu da với số lượng vài trăm tấm là Trung Quốc,

Đức, Singapore và Nam Phi

2.5 Các sản phẩm phụ khác của cá sấu

Hai tuyến xạ ở dưới hàm cá sấu được dùng trong công nghệ chế biến nước hoa vì nhờ nó mà nước hoa có mùi đặc trưng và bền mùi hơn Một số

bộ phận của cá sấu sấy khô được dùng làm các loại thuốc truyền thống ở phương Đông, tuy nhiên thị trường còn rất hạn chế Mật cá sấu được dùng để chữa những bệnh ở đường hô hấp, tiêu hoá Một vài nơi bán dầu cá sấu chế

từ mỡ của nó Có người dùng xương xọ và toàn bộ xương của cá sấu để nấu cao Răng cá sấu được sử dụng làm vòng cổ, dải băng trên mũ hoặc vòng đeo tay với giá từ 20 đến 100 USD Trong năm 2000 Indonesia đã xuất khẩu 10.000 răng cá sấu C.novaeguineae sang Singapore và 1.500 chiếc trong số này đã tái xuất sang Nhật Tuy nhiên Australia là nước sử dụng răng cá sấu nhiều nhất vì từ năm 1999 tới 2002 Papua New Guinea đã xuất khẩu trên 130.000 răng cá sấu Crocodylus porosus tới đó Trong năm 2001 và 2002, Singapore nhập 30.000 răng C.porosus từ Malaysia và tái xuất chúng sang Australia năm 2002

Trang 18

Kinh doanh du lịch từ việc nuôi cá sấu

Các trại nuôi cá sấu có tiếng trên thế giới đều là các điểm tham quan

du lịch, nổi tiếng Tại đây thường mở cửa liên tục đón khách từ 8- 9 giờ sáng tới 5- 6 giờ chiều Với các tên gọi như :” Trại nuôi cá sấu lâu đời nhất thế giới Samut Prakan” (Thái Lan) Thiên đường cá sấu Jurong” (Singapore); Vương quốc cá sấu Cienaga de Zapata “ (Cuba); trung bình mỗi nơi đón hàng triệu khách du lịch mỗi năm ở những nơi này người ta tạo ra đồi núi, suối hốc đá với đủ các loại cây cảnh, cây bóng mát, thảm cỏ, xanh rộng trở thành nơi giải trí rất tốt

2.6 Tình hình nuôi cá sấu trong và ngoài nước

2.6.1 Tình hình nuôi cá sấu ở ngoài nước

Cá sấu là động vật quý hiếm; da được dùng làm hàng mỹ nghệ cao cấp, thịt làm thực phẩm, vì lý do đó số lượng cá sấu trong tự nhiên đã giảm nhanh và có nguy cơ tuyệt chủng do bị săn bắt nhiều Cách đây 40-50 năm sau chiến tranh thế giới thứ hai, tất cả các loài cá sấu trên thế giới đều là mục tiêu để con người săn lùng ráo riết Lúc đó cá sấu bị coi là những con vật có hại, gây nguy hiểm cho người và gia súc nên ở nhiều nơi mọi người được phép tự do săn bắt vì vậy chúng ngày một khan hiếm Thực tế một số loài cá sấu đã bị tuyệt chủng như cá sấu sông ở Bắc Mỹ Vào năm 1971 do nạn săn bắt, số cá sấu trên thế giới còn ít tới mức các nước đã nhất trí áp đặt lệnh cấm xuất khẩu các sản phẩm cá sấu Cá sấu được bảo vệ bằng cách được liệt vào phụ lục 1 của CITES (Công ước buôn bán quốc tế các loài bị đe doạ) Tuy nhiên vào năm 1986 chúng được đưa sang phụ lục II nghĩa là sản phẩm cá sấu nuôi có thể được xuất khẩu

Để khắc phục tình trạng săn bắt cá sấu trong tự nhiên, việc nuôi cá sấu

có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển loài động vật hoang dữ nhưng có nhiều lợi ích này Để bảo tồn, phát triển cũng như khai thác lợi ích

Trang 19

của cá sấu, ở một số nước như Thái Lan, Cămpuchia, Malaixia, Cuba, Hoa

Kỳ, Việt Nam, các trại nuôi cá sấu tập trung với số lượng lên đến hàng nghìn con đã được xây dựng Tại ấn độ và Papua New Guinea, hai dự án đầu tiên trên thế giới về nuôi cá sấu đã được tổ chức Nông nghiệp và Thực phẩm của Liên hợp quốc (FAO) triển khai vào những năm 70 ở ấn độ người ta đã nuôi thử nghiệm hàng trăm con cá sấu mõm dài sông Hằng (tên khoa học là Gavialis gangeticus) để cứu loài vật này khỏi bị tuyệt chủng ở Papua New Guinea cũng đã tiến hành những biện pháp mới đưa cá sấu vào chương trình bảo vệ các động vật quí hiếm Sau hai dự án này, tổ chức FAO còn giúp nhiều nước khác ở châu á-Thái Bình Dương, châu Phi và Mỹ La Tinh cùng phát triển nghề nuôi cá sấu

Thái Lan là một trong những nước nổi tiếng thế giới về nuôi cá sấu Trại nuôi cá sấu đầu tiên của Thái Lan và cũng là của châu á do ông Utai Yangprakom thành lập năm 1950 tại tỉnh Samut Prakan, một tỉnh lỵ cách Băng Cốc về phía Tây Nam 10 km Năm 1960 trại mới chỉ xuất được 150 con cá sấu nhỏ, đến nay trại đã có hơn 40.000 con cá sấu với đủ các kích cỡ (mỗi ngày cần tới 4-5 tấn thịt gà làm thức ăn) Thành công của trại Samut Prakan đã không những cứu cá sấu nước này khỏi bị tuyệt chủng mà còn liên tục cung cấp da và các sản phẩm phụ của cá sấu cho thị trường trong và ngoài nước Ngoài trại Samut Prakan được coi là trại cá sấu lớn nhất, Thái Lan còn có nhiều trại chuyên nuôi cá sấu nữa như trại cá sấu của tỉnh Chachoeng Sao, trại Samphran ở tỉnh Nakhon Pathom, v.v Hơn nữa hầu hết các trại cá sấu của Thái Lan đều nuôi cá sấu nhiều hoặc ít và sản xuất cá sấu giống (ví dụ trại cá Nakhon Sawan là trại cá đầu tiên của Thái Lan thành lập năm 1951 trên đường từ Băng Cốc đi Chiềng Mai, trại cá Pathumthani, v.v)

ở một số nước việc nuôi cá sấu rất được quan tâm, ví dụ như ở Niu Di Lân, Chính phủ đầu tư cho mỗi gia đình 10.000 đô la Mỹ để nuôi xuất khẩu;

Trang 20

ở một số nước nuôi cá sấu cũng là một trong những chương trình khuyến

ngư

Mặc dù có hàng trăm nghìn con cá sấu được nuôi trong các trang trại song số lượng cá sấu hoang dã vẫn đang giảm nhanh Ngoài ra cần lưu ý rằng nuôi cá sấu trên qui mô lớn đồng nghĩa với việc xuất khẩu cá sấu Tuy nhiên xuất khẩu cá sấu sống ra ngoài môi trường bản địa có tiềm năng đe doạ tới sự

đa dạng sinh học của các nước nhập khẩu Không thể đánh giá được tác động

mà các loài cá sấu lạ gây ra đối với cá sấu địa phương nếu chúng sinh sản ở

đó Tuy nhiên sự tăng trưởng của ngành chăn nuôi cá sấu trên thế giới có ý nghĩa là hoạt động xuất khẩu này vẫn tiếp tục Bên cạnh việc sử dụng da, thịt và các sản phẩm từ cá sấu, cá sấu còn được buôn bán vì nhiều lý do khác: vật cảnh trong gia đình, vật nuôi trong vườn thú, các trại nuôi nhập khẩu chúng để bổ sung nguồn gien và một số được nhập khẩu để tăng cường cho

số cá sấu hoang dã Trung quốc bắt đầu nhập khẩu cá sấu C Siamensis từ Thái Lan năm 1997 và có lẽ đã nhập khẩu hơn 100.000 con từ 1997 tới 2002 Nhập khẩu từ Căm puchia bắt đầu năm 2000 và trên 64.000 con đã được xuất khẩu từ 2000-2002 hoặc trực tiếp từ Cămpuchia hoặc thông qua Việt Nam Cămpuchia cũng xuất khẩu 2000 con sang Thái Lan năm 2000 và có 6 trang trại cá sấu đăng ký với CITES

2.6.2 Cá sấu ở Việt Nam, tình hình nuôi, giết mổ cá sấu ở trong nước

Cá sấu hoang dã ở Việt Nam còn rất ít và có nguy cơ bị diệt vong Trong tự nhiên có hai loại: cá sấu Xiêm và cá sấu hoa cà Trước đõy cá sấu Xiêm được phát hiện ở sụng Đồng Nai, cỏc suối và cỏc hồ lớn ở Tõy nguyờn, tuy nhiờn hiện nay cũn rất ớt Cỏ sấu Xiờm cũn xuất hiện ở cỏc địa điểm như Bàu Cỏ ở Nam Cỏt Tiờn, hồ Lak ở Gia Lai – Kon Tum và vựng Buụn

Mờ Thuột Cá sấu hoa cà (cá sấu nước lợ, tên khoa học là Crocodylus prosus) thường tập trung ở cỏc cửa sụng, được phát hiện ở vựng rừng Sỏc

Trang 21

chạy từ Vũng Tàu qua vịnh Thỏi Lan Đõy là loài cỏ sấu hung dữ, hay tấn cụng người, phõn bố rộng Hiện cú nhiều dọc theo vựng bờ biển Duyờn Hải, Phỳ Quốc, Cụn Đảo và phớa Tõy tỉnh Tiền Giang

Tháng 12/2004 cá sấu nước ngọt hoang dã ( wild Siamese crocodile)

được phát hiện ở huyện Sông Hinh, tỉnh Phú yên và thông tin này đã được kiểm tra, khẳng định lại vào tháng 6 năm 2005 trong cuộc khảo sát tiến hành bởi tổ chức bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững vùng sông Mêkông (MWBP), Viện sinh học nhiệt đới ( ITB), Tổ chức bảo tồn động thực vật quốc tế ( FFI), chính quyền địa phương hai nước Việt Nam và Căm

pu chia Cuộc khảo sát này khẳng định có một nhóm nhỏ cá sấu nước ngọt hoang dã sống ở khu vực nói trên Đây là một phát hiện quan trọng và có ý nghĩa đối với Việt Nam bởi vì loại cá sấu này được cho rằng đã bị diệt vong trong tự nhiên và đã được liệt vào danh sách loại động vật có nguy cơ bị diệt vong đặc biệt bởi tổ chức bảo tồn thế giới ( UCN) Ngay Căm pu chia nơi có

số lượng cá sấu nước ngọt hoang dã lớn nhất, nhưng số lượng cũng không quá 300 con

Để bảo tồn và khai thác cá sấu, tất yếu phải nuôi cá sấu ở dạng tập trung trong các trang trại Hiện nay ở nước ta có 3 loại cá sấu được nuôi, đó là: cá sấu nước lợ, cá sấu nước ngọt và cá sấu Cu Ba Tuy nhiên theo cuộc khảo sát tháng 6 năm 2006 tại 10 hộ nuôi cá sấu ở thành phố Hồ Chí Minh

do Trung tâm tư vấn và hỗ trợ nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh tiến hành, 96% cá sấu nước ngọt được nuôi có nguồn gốc từ Thái Lan Cá sấu hoa cà ở nước ta đã trở nên rất khan hiếm nên rất khó phát triển đàn cá sấu này bằng phương pháp nuôi ở các trang trại tập trung

Cá sấu nước ngọt (Crocodylus siamensis) còn gọi là cá sấu Xiêm hoặc cá sấu Xiêm-Việt Nam Thân có mầu xám ánh sắc xanh, không có vẩy đen Con trưởng thành dài 3-4 m, đầu ngắn và rộng Chúng sống ở các đầm hồ Trung bộ như sông Ba (Gia Lai), sông Thày (Công Tum), sông Easup (Đắc

Trang 22

Lắc), sông Đồng Nai, sông La Ngà (Lâm Đồng) Loại này dễ thuần hoá và nuôi dưỡng, thích hợp với vùng nước ngọt

Cá sấu nước ngọt đã được đưa vào nhóm IB Nghị định 48/2002/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 22 tháng 4 năm 2002 và phụ lục 1 của Công

ước CITES ( Convention on International Trade in Endangered Species-Công

ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp) mà Việt Nam là thành viên chính thức Cả hai văn bản này đều quy định cấm

đánh bắt từ tự nhiên cá sấu nước ngọt vì mục đích sử dụng hoặc xuất khẩu Trường hợp muốn khai thác để gây nuôi sinh sản phải được phép của Thủ tướng Chính phủ ( do Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đề xuất) Theo các quy định này, việc xuất khẩu cá sấu nước ngọt chỉ được thực hiện khi đáp ứng các yêu cầu sau:

- Có trại nuôi sinh sản được đăng ký với chi cục kiểm lâm địa phương

- Có sản phẩm từ thế hệ F2 trở lên ( thế hệ F1 là con của cặp bố mẹ ( FO)

được đánh bắt từ tự nhiên và số lượng cá sấu F2 phải trên 10.000 con

- Trại nuôi có đăng ký với Ban thư ký Công ước CITES , do cơ quan thẩm quyền quản lý CITES -Việt Nam đề xuất theo đúng quy định của Công

ước CITES

- Có Quota xuất khẩu được Ban thư ký Công ước CITES phê chuẩn

- Chủ trại phải có trách nhiệm ghi chép, lập hồ sơ theo 15 tiêu chí của CITES

Ngoài cá sấu nước ngọt, ở Việt Nam hiện còn nuôi 2 loài cá sấu nữa

đó là cá sấu nước lợ và cá sấu Cuba

- Cá sấu nước lợ (còn gọi là cá sấu hoa cà, cá sấu hoa, cá sấu đa sừng, cá sấu lửa, cá sấu Đồng Nai) có tên khoa học là Crocodylus porosus Thân có màu vàng ánh, sắc mầu xanh lá cây, có vẩy đen xen lẫn; đầu dài và thuôn Con trưởng thành dài 6-8 m Loài này sống thích hợp ở các vùng nước lợ cửa sông

Trang 23

Mêkông và sông Đồng Nai (Nam bộ) như Cần giờ ( Hồ Chí Minh) Minh Hải, Vũng tầu, Côn đảo, Phú Quốc….Cá sấu nước lợ có kích thước da lớn,

đầu có hai gờ, có khi tấn công cả người, thường nuôi 2-3 năm là bán được Bản chất giống này hung dữ, khó thuần hoá

- Cá sấu Cuba (Crocodylus rhombiefer): thân có màu vàng sẫm pha nâu, có xen các chấm đen Đầu dài và hơi thuôn Con trưởng thành dài 2,5 m-3 m thích hợp với các vùng nước ngọt Năm 1985 nhập vào Việt Nam 100 con, năm 1997 ta lại nhập tiếp 150 con Cá sấu Cuba hiện nay đang được nuôi ở vườn thú Hà Nội, Đà Nẵng, Nha Trang, Minh Hải, TP Hồ Chớ Minh, Cà Mau

và một số tỉnh khỏc và mới đây ở Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương (Viện chăn nuôi) Nhiều cơ sở nuôi cá sấu của ta đã cho chúng sinh sản được và đã lai thành công cá sấu Xiêm với cá sấu Cuba Trại nuôi cá sấu Thủ Đức của Công ty Lâm sản thành phố Hồ Chí Minh ngoài việc nuôi cá sấu Xiêm đã lai cá sấu Cuba với cá sấu Xiêm Cá sấu lai dễ nuôi; trại đã nuôi gần 300 con Năm 1996 trại đã đầu tư 600 triệu đồng để có thêm 80-100 con cá sấu bố mẹ, từ đó mỗi năm sản xuất được 1000 con cá sấu giống

ở một số tỉnh miền Nam nước ta như Đồng Nai, An Giang, Cà mau đã

lẻ tẻ có một số gia đình nuôi cá sấu từ những năm 1970 Thương nhân đã buôn cá sấu từ vùng Biển Hồ, dọc sông Tông Lê Sáp, từ các tỉnh Bat tam Bong, Xiêm Riệp, Kông Pông Thom… của Cămphuchia về để bán Việc nuôi cá sấu ở qui mô nhỏ dần dần lan rộng ra các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên Đến hết năm 1995 ở hầu hết các tỉnh đồng bằng Nam Bộ đều có trại nuôi cá sấu của Nhà nước và tư nhân ở qui mô gia đình việc nuôi cá sấu thường theo hướng nuôi cá sấu thương phẩm là chính do điều kiện kỹ thuật nuôi tương đối dễ, đặc biệt là ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long và ở những nơi có nguồn thức ăn dồi dào và rẻ tiền, nhu cầu thị trường lại cao

Trang 24

Hiện nay phong trào nuôi cá sấu đang phát triển khá mạnh tại các tỉnh khu vực đồng bào sông Cửu Long Tình trạng nuôi cá sấu không đăng ký không rõ nguồn gốc xuất xứ không chỉ khiến việc tiêu thụ cá sấu đang gặp khó khăn làm người nuôi chịu thiệt hại về kinh tế, mà nuôi tự phát chuồng trại không đảm bảo tiêu chuẩn đã và đang tiềm ẩn những nguy cơ gây mất an toàn, ảnh hưởng tới môi trường sinh thái

Từ mấy năm nay, khi nghề nuụi cỏ sấu lấy da, thịt xuất khẩu nở rộ tại cỏc tỉnh phớa Nam, phong trào nuụi cỏ sấu ở tỉnh Bạc Liờu cũng phỏt triển rất nhanh Theo số liệu thống kờ từ việc khảo sỏt thực tế, trờn địa bàn tỉnh Bạc Liờu tổng đàn cỏ sấu nuụi hiện cú trờn 80 ngàn con, với hơn 546 hộ gia đỡnh tham gia nghề chăn nuụi cỏ sấu Trong đú, cú một số hộ chăn nuụi và phỏt triển theo mụ hỡnh trang trại, mỗi trang trại thường xuyờn duy trỡ đàn cỏ sấu từ 2.000 – 3.000 con (trang trại Phương Thảo, huyện Phước Long; Trại ễng Đỏn, huyện Giỏ Rai), đặc biệt cú trang trại lượng cỏ sấu nuụi hiện cú đến 6.000 con (trại ễng Mai, huyện Phước Long) …

Còn tại thành phố Hồ Chí Minh, mặc dù nghề nuôi cá sấu mới phát triển khoảng 7 năm trở lại đây song đàn cá sấu nuôi tại và xung quanh thành phố đã phát triển rất nhanh và thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành địa phương dẫn đầu cả nước trong xuất khẩu cá sấu và các sản phẩm từ cá sấu Theo Chi cục Kiểm lâm thành phố Hồ Chí Minh tính đến thời điểm tháng 10/2008, thành phố đã xuất khẩu được 13.000 con cá sấu sống và 19.662 tấm

da cá sấu (8.570 tấm da muối, 2.292 tấm da thuộc và 8.800 tấm da lưng) Quy đổi ra thành phố HCM đã xuất khẩu được khoảng 26.000 con cá sấu tăng 77 % so với cùng kỳ năm 2007 Trong đó dẫn đầu là Công ty cá sấu Tồn Phát xuất khẩu tới 6.980 tấm da muối, 300 tấm da thuộc và 2.800 tấm da lưng Còn công ty lâm nghiệp Sài Gòn thì dẫn đầu xuất khẩu cá sấu sống với

Trang 25

6.800 con Hai doanh nghiệp còn lại trong 4 doanh nghiệp của thành phố

được tổ chức CITES cấp hạn ngạch xuất khẩu cá sấu là Công ty cá sấu Hoa

Cà cũng xuất tới 5.200 con cá sấu sống, 1.440 tấm da cá sấu muối và 13 tấm

da thuộc, Công ty du lịch văn hoá Suối Tiên 1000 con cá sấu sống Nếu năm

2003 Bộ NNPTNT cấp hạn ngạch xuất khẩu cá sấu cho thành phố hơn 9000 con cá sấu nhưng các doanh nghiệp chỉ xuất khẩu được một số ít sản phẩm ra các nước như Nhật, Hung ga ry, Italia theo hình thức chào hàng, quảng cáo sản phẩm thì ở thời điểm này với tỷ lệ xuất khẩu như trên hạn ngạch đã gấp hơn 4 lần.Ngoài thị trường xuất khẩu cá sấu truyền thống như Trung quốc, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã thâm nhập được vào thị trường mới đầy tiềm năng như Đức, Pháp, Canada, Hàn Quốc với những sản phẩm như thịt cá sấu tươi, thịt cá sấu khô, da cá sấu Ngoài lượng cá sấu đã xuất khẩu, hiện tại các doanh nghiệp xuất khẩu chủ lực còn những hợp đồng xuất khẩu trong năm nay khoảng 15.000 con vì vậy thành phố đang hy vọng xuất khẩu năm nay đạt khoảng 3,7 triêu USD

Việc nuôi cá sấu đang mở rộng ra các tỉnh phía Bắc, tuy nhiên do thời tiết ở miền Bắc không thuận lợi cho sự sinh trưởng của cá sấu về mùa đông nên ở nhiều nơi việc nuôi cá sấu mới chỉ là nuôi thăm dò Có thể nói trong

số các cơ sở nuôi cá sấu ở miền Bắc chỉ có Trung tâm gây nuôi cá sấu với thương hiệu Crocodile Queen ở Hải Phòng là thành công nhất Tại trung tâm này hàng nghìn con cá sấu đã được nuôi trong điều kiện tương tự như ở các tỉnh phía Nam ngay cả trong mùa đông

Bên cạnh việc nuôi cá sấu lấy thịt và da, còn có cơ sở nuôi cá sấu sinh sản như Công ty Lâm Sản thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau, Long An, Kiên Giang, thành phố Hồ Chí Minh, v.v Đặc biệt có cơ sở nuôi cá sấu để kinh doanh kết hợp với du lịch như Cà Mau, Đầm Sen, Suối Tiên, Thảo cầm viên, Lâm Viên Cần Giờ

Trang 26

Số lượng cá sấu nuôi ở Việt Nam

Không có con số chính xác về số lượng cá sấu trong toàn quốc nhưng theo số liệu của CITES, riêng châu thổ sông Mêkông có hơn 1000 trại nuôi cá sấu với hơn 100.000 con cá sấu trưởng thành Phần lớn các trang trại này

ở tỉnh An Giang và tỉnh Đồng tháp là nơi tình trạng ngập lụt thường xảy ra Thành phố Hồ Chí Minh có 56 trại và hơn 200 hộ nuôi cá sấu với tổng số cá sấu là khoảng 100.000 con Con số này chưa tính số cá sấu do các hộ nuôi tự

do chính quyền không kiểm soát được Tỉnh Khánh Hoà có trại nuôi cá sấu của công ty KHATACO với số lượng cá sấu lên đến 10.000 conđược chuyên gia úc đánh giá là trại nuôi cá sấu lớn nhất khu vực Đông Nam á Các tỉnh khác cũng có nuôi cá sấu tuy nhiên với số lượng không nhiều

Do khí hậu không phù hợp nên trước đây ở phía Bắc, không ai nghĩ tới việc nuôi cá sấu Tuy nhiên sau khi cơ sở nuôi cá sấu ở Hải Phòng với thương hiệu CroQueen thành công trong nuôi và khai thác giá trị của cá sấu, phong trào nuôi cá sấu ở khu vực Hải phòng và các tỉnh lân cận mới phát triển mạnh và có triển vọng sẽ đưa số lượng cá sấu ở phía Bắc lên trên

100.000 con trong thời gian tới

Bảng 1: Số lượng cỏ sấu gõy nuụi năm 2007 (số liệu điều tra và

cỏc Chi cục kiểm Lõm, Trung tõm Kiểm lõm Vựng III )

STT Năm

Tỉnh

Năm 2005 (con)

Năm 2006 (con)

Năm 2007 (con)

Trang 27

Vể đầu ra của cá sấu thương phẩm

Chỉ một phần nhỏ số lượng cá sấu được tiêu dùng trong nước, phần lớn còn lại được xuất khẩu sang các nước như Trung quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Đức, Pháp, vv và phải nói rằng trong đó Trung quốc là thị trường tiêu thụ cá sấu lớn nhất Da cá sấu (giá trị chiếm tới 80% của giá trị con cá sấu)

được xuất khẩu đi EU, Mỹ, Trung Quốc, ý, Tây Ban Nha, Nga, Hồng Kông Trong đó Trung quốc, Đài Loan chiếm tới 30% doanh thu xuất khẩu

Xuất cá sấu thương phẩm (cá nguyên con) sang Trung quốc theo

đường tiểu ngạch thông qua các thương lái, hình thức này hiện nay đang là phổ biến Xuất khẩu da cá sấu muối sang Nhật (59%), Singapore (22%), Pháp (12%), Thái Lan (5%), Da cá sấu thuộc xuất sang Hàn Quốc v.v So với năm 2007, dự kiến năm 2008 lượng cá sấu xuất khẩu tăng hơn 3 lần

Trang 28

Một số doanh nghiệp thuộc da và thương lái ở Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương v.v tổ chức mua cá sấu loại từ 2 đến 3 năm tuổi với trọng lượng đạt từ 25 đến 35kg/con để lấy da làm nguyên liệu thuộc và bán để chế biến các mặt hàng da, còn thịt thì cung ứng cho thị trường trong nước và xuất khẩu

Loại nuụi từ một năm, một năm rưởi tuổi, trọng lượng đạt từ 10 – 15kg/con, được bỏn cho thương lỏi theo đặt hàng hoặc một vài trang trại cú năng lực mua thu gom để xuất bỏn cỏ sấu thương phẩm bằng đường tiểu ngạch qua Trung Quốc, hỡnh thức tiờu thụ này hiện nay là rất phổ biến

Gần đây một số trang trại tổ chức tự giết mổ, bán thịt và muối da để bán lại cho các cơ sở chế biến thực phẩm và thuộc da nhưng không nhiều do hiệu

quả không mấy khả quan so với bán cá thương phẩm

Về việc cấp giấy phép xuất khẩu cá sấu

Đến cuối năm 1998 do số lượng cá sấu của ta còn ở dưới mức 10.000 con nên chưa được Tổ chức quốc tế bảo vệ động vật hoang dã (CITES) cấp giấy phép xuất khẩu da cá sấu Tuy nhiên trong những năm gần đây tình hình

đã khác do sự phát triển nhanh chóng của các cơ sở nuôi cá sấu cũng như của

số lượng cá sấu được nuôi Hiện nay cơ quan thẩm quyền quản lý CITES đã cấp chứng nhận cho 5 trại nuôi cá sấu nước ngọt xuất khẩu Trong đó có một trại ở tỉnh An Giang, 4 trại ở Thành phố Hồ Chí Minh (gồm Công ty cá sấu Hoa cà, Quận 12; Công ty du lịch Suối Tiên, Quận 9, Cơ sở nuôi cá sấu Tồn Phát, Củ chi, Công ty Lâm nghiệp Sài Gòn, Thủ Đức)

Phần lớn cá sấu ở Việt Nam được nuôi và xuất khẩu bởi 5 công ty

được cấp phép bởi CITES Việt Nam nói trên

2.6.3 Một số vấn đề liên quan đến việc nuôi cá sấu ở Việt Nam

2.6.3.1 Chuồng trại và chế độ nuôi

Vấn đề chuồng trại

Trang 29

Chuồng trại cần được bố trí ở nơi có nhiều ánh nắng mặt trời, kín gió Một chuồng cỡ trung bình kích thước 30x30 m có thể nuôi hơn 800 con cá sấu thương phẩm

Rào chắn: không cần phải làm rào chắn quá cao, nhưng cá sấu có thể tẩu thoát bằng cách dũi đất nhất là khi đất quá ẩm, vì vậy nên chôn hàng rào ngập trong đất ít nhất 50 cm Có thể dùng gạch chỉ, gạch patanh để xây móng chìm trong đất và xây thành tường cao lên cách mặt đất 30 cm Phía trên hàng tường này buộc gỗ hoặc lưới kim loại để rào kín Tường rào xây cao khoảng 1,4 m có thể nuôi nhốt những con cá sấu dài 2 m an toàn Chuồng nuôi nhất thiết phải có nước cho cá sấu đắm mình vì vậy phải có ao hoặc bể xây

Mô hình nuôi một ao nuôi cá sấu có đáy đất, bờ được xếp hoặc kè đá

và xi măng, có dòng nước tự chảy vào ra nhưng vẫn giữ được mức nước cố

định được coi là mô hình phù hợp nhất đối với các chuồng nuôi cá sấu thương phẩm

Mật độ nuôi

Cá sấu được nuôi theo từng lứa tuổi, ứng với mỗi lứa tuổi cần có mật

độ nuôi thích hợp Khi cá sấu nuôi ở lứa tuổi 1-3 rất cần có khoảng trống để vận động, mật độ nuôi phải thưa, từ 0,6-1 con/m2 ở điều kiện bình thường Nếu có điều kiện cho ăn tốt, giữ được vệ sinh chuồng trại và cá sấu được phân loại để nuôi riêng theo cùng kích thước thì có thể nuôi với mật độ dày hơn (3 con/m2)

Cho ăn và chăm sóc

Có thể cho cá sấu ăn tất cả thức ăn có nguồn gốc động vật như lòng lợn, lòng bò, lòng gà, vịt nhưng tốt nhất là cá đồng và cá biển, chuột.Tốc độ lớn của chúng phụ thuộc rất nhiều vào nguồn đạm động vật cho chúng ăn Những loại thức ăn bán sẵn dành cho chó, cá (trong đó dùng đạm có nguồn

Trang 30

gốc thực vật) rất ít tác dụng với cá sấu và thường rất đắt Cá sấu không chịu

ăn loại thức ăn có phối trộn nhiều thành phần đã sấy khô hoặc ướp muối

Cách cho ăn

Phải cho cá sấu ăn thức ăn tươi, cắt thành các mảnh nhỏ để cá sấu dễ nuốt và không để ruồi nhặng bâu Khoảng 2 ngày mới cho cá sấu ăn 1 lần Lượng thức ăn hàng ngày xấp xỉ 1/70 trọng lượng thân và có thể dồn lại mỗi tuần cho ăn 3 lần Nếu nuôi ở quy mô nhỏ, khi cho cá sấu ăn, người ta đặt thức ăn lên các tấm ván hoặc các miếng tôn để dễ dàng quét dọn, di chuyển

Tốc độ lớn: cá sấu đực thường lớn nhanh hơn cá sấu cái 11%

Khi nuôi cá sấu thương phẩm chú ý nên có chuồng cách ly để nuôi riêng những con yếu; dùng nguồn nước riêng, máng ăn giữ sạch và có chế độ chăm sóc đặc biệt Ngoài ra nên lập một khu riêng có nhiều ngăn chuồng nhỏ để nhốt giữ cá sấu trước khi thịt

2.6.3.2 Dịch bệnh và điều trị

Một số bệnh thường gặp trờn đàn cỏ sấu nuụi

Cỏ sấu là loại động vật hoang dó cú sức đề khỏng cao, ớt bệnh tật khi ở ngoài thiờn nhiờn, nhưng khi được nuụi ở trang trại với mật độ nhiều, cỏ sấu bắt đầu xuất hiện bệnh nhưng khả năng hiểu biết về cỏ sấu của người chăn nuụi cũn rất ớt Vào khoảng cuối năm 2004, đầu năm 2005 dịch bệnh trờn đàn cỏ sấu đó xóy ra trờn diện rộng, làm thiệt hại khụng nhỏ cho người chăn nuụi Thực tế nuụi cỏ sấu ở Việt Nam cho thấy cỏ sấu nuụi thường mắc một

số bệnh như sau:

Thiếu vitamin

Thiếu Vitamin A cú thể xảy ra đối với quần thể bũ sỏt sống ngoài tự nhiờn và quần thể nuụi Trong một số trường hợp con vật bị chết khi thiếu Vitamin A do thứ nhiễm bởi vi trựng và ký sinh trựng Thiếu vitamin A biểu hiện ở cỏ sấu là chậm tăng trưởng, phự ở mớ mắt và cỏc nơi khỏc trong cơ

Trang 31

thể, tăng sừng hóa và biến đổi ở bề mặt của biểu mô Khẩu phần có 4.850 đơn vị vitamin A/kg thức ăn cho thấy đã đủ nhu cầu cho các loài bò sát ( Wallach,J.D.1970) Nếu phát hiện sớm có thể điều trị bằng cách cung thêm Vitamin A vào khẩu phần

Thiếu vitamin B1 có thể làm bại liệt hai chân trước xảy ra ở cá sấu từ 4 tháng đến 10 năm tuổi, biểu hiện chân trước bị xệ xuống cùng với sự gấp lên của khớp cổ tay và bàn tay, do sự bại liệt hoàn toàn của các dây thần kinh chi trước

Cã thÓ ®iều trị b»ng c¸ch bổ sung vitamin B1 liều 50 -100mg/kg IM

Thiếu vi tamin E có thể do bị kết tủa, bởi khẩu phần có nhiều acid béo bão hòa, chẳng hạn như cá đông lạnh để trong thời gian lâu Bệnh biểu hiện bởi tính rối loạn dinh dưỡng và sự mỡ hóa của cơ vân

Triệu chứng: cá sấu biếng ăn, các tảo lục bám vào và phủ một phần của

răng Sau một đến hai tháng không ăn thức ăn, cá sấu bị bệnh mỡ cứng lồi lên tại một số nơi Trong một số trường hợp, các vết loét hoại tử trầm trọng

có đường kính 1 – 10 cm thấy ở đuôi Các vết loét sâu, có mầu hơi nâu tại chỗ hoại tử

Cắt ngang đuôi khi khám tử, mỡ giữa các cơ bị hoại tử (necrosis) có mầu nâu hơi vàng, tình trạng này có thể đưa đến các acid béo không bão hòa, không có đủ lượng vitamin tương ứng, bị peroxide hóa với sắc tố ceroid Khi sắc tố này tích lũy lại, sẽ có đáp ứng viêm của cơ thể Cấp 15 -100 IU vitamine E mỗi ngày và khẩu phần có tỷ lệ chất béo thấp hơn 25% giúp ngừa bệnh thiếu Vitamine E

Bệnh thiếu Calcium và phospho

Các động vật được nuôi với khẩu phần thiếu Ca và dư P bị loạn dưỡng xương và thận Thịt các loại động vật, cá.v.v dùng để nuôi c¸ sấu thường có

ít Ca và tỷ lệ Ca/P không cân bằng đối với nhu cầu của loài bò sát Tỷ lệ

Trang 32

Ca/P đòi hỏi từ 1/1,2 – 1/1,5 Cho ăn ruột hay ruột hay gan gà có thể thay

đổi tỷ lệ này đến 1/20 – 1/50; làm mất cân bằng nghiêm trọng tỷ lệ Ca/P Triệu chứng: Xương hàm mềm có thể uốn cong được như cao su, các

xương dài bị biến dạng và xương trục bị ngắn đi Khẩu phần có 0,3% calium và 0,2% phospho cho thấy đủ đáp ứng nhu cầu sinh trưởng và duy

trì

Bệnh ký sinh trùng

Cá sấu có thể bị nhiễm bệnh do ký sinh trùng như :

Giun tròn (Nematodes); sán dây(Cestodes); giun phổi (entastomiasis); Đỉa (Hirudo)

* Giun tròn(Nematodes)

Các loài bò sát khi bị nhiễm nặng giun tròn có thể bị các tác hại sau:

- Có thể bị tắc nghẽn ruột

- KST sử dụng phần lớn thức ăn ăn vào

- Làm tổn hại các mô tạo điều kiện chi vi trùng xâm nhập

Các biến chứng khi bị nhiễm giun tròn không rõ lắm, có thể bao gồm biếng ăn, ói Chẩn đoán qua việc tìm trứng ký sinh trùng trong phân, cần lưu

ý một số trứng của KST ký sinh ở các động vật, dùng thức ăn cho cá sấu thường thấy trong phân cá sấu Một số loài giun tròn sau đây ở có ở cá sấu

và các loài bò sát: 0phidascaris spp, polydelphis spp; ký sinh ở ống tiêu hóa như dạ dày , ruột non thực quản Ký chủ trung gian của Ophidascaris là ếch nhái

Trang 33

* Sán dây (cestodes)

Ký sinh ở đa số các loài bò sát, tất cả các loài sán dây đều cần ký chủ trung gian, thường là các động vật không xương sống

Chẩn đóan: Qua việc thấy đốt sán hay trứng trong phân

Điều trị: Nichosamide ( yomesan): 150 – 160 mg/kg thể trọng hoặc

Bunamidine HCL 25 -50 mg/kg thể trọng

* Pentastomiasis:

Qua khám tử một cá sấu bị chết do gim phổi( Pentastomiasis); cắt phổi thấy các ấu trùng thuộc lớp tiết túc( Arthropods) Nhiều ấu trùng gắn chặt vào phổi Các ký sinh trùng trưởng thành thường di chuyển vào phế quản đẻ trứng Làm cho thành phế quản dày lên do sự kích thích lâu dài của KST

Mặc dù chưa có thuốc điều trị giun phổi một cách hiệu quả Có thể dùng Levamisol liều 10mg/kg cùng với Vitamine và kết hợp với kháng sinh

để ngừa thứ nhiễm

* Ngoại ký sinh trùng:

Đĩa(Hirundo) thuộc lớp Hirudinae thường thấy bám vào quanh miệng hay phần da mềm dưới chân cá sấu Điều trị bằng cách dùng forcep gỡ đỉa

ra, hoặc đĩa tự rớt nếu dùng alcohol chấm vào.-

Viêm miệng ( Stomatitis)

Bệnh tích tiêu biểu là tổn thương gây loét niêm mạc lợi, lan đến các lỗ chân răng, quanh các cung xương hàm trên và dưới, hậu quả có thể làm rụng răng và tủy xương Nếu không điều trị cá sấu sẽ chết vì đói, toàn nhiễm và viêm phổi Aeromonas có thể lan đến các tuyến làm trơn vùng giữa, vùng giác mạc và mắt

Trang 34

Viêm ruột ( Enteritis)

Viêm ruột có thể do vi trùng hay ký sinh trùng với các triệu chứng: Biếng ăn hay bỏ ăn, tiêu chảy và có thể lòi lỗ huyệt

Triệu chứng : gầy ốm, bụng to Mổ khám tử thấy ruột non bị xuất

huyết dạng nhày so với phần còn lại của ruột nhạt màu hơn Tùy theo nguyên nhân gây bệnh mà có thể điều trị bằng kháng sinh hay thuốc diệt ký sinh trùng

Bệnh viêm mắt

Bệnh thường xảy ra đối với cá sấu dưới 1 tuổi, bệnh thường vào mùa mưa

Triệu chứng: Trước tiên mắt bắt đầu chảu nước mắt, về sau màng

ngoài của mắt có thể nguy hại đến việc dính mí mắt, sau đó màng ngoài của mắt đỏ tiếp sau đó trắng như bã đậu, quá trình phân lập người ta thấy sự hiện diện của Anomonas, Staphylococcus, Pseudomonas

Điều trị: dùng một trong các thuốc kháng sinh Chloramphenicol,

tetramycine, Ampiciline; thuốc sát trùng có thể dùng thuốc tím với tỷ lệ 10 phần triệu

Bệnh đường hô hấp

Tảo(Algae), vi trùng, nấm(fungi), ký sinh trùng là các tác nhân gây bệnh phổ biến ở hệ thống hô hấp của loài bò sát Vi trùng gây bệnh gồm cả gram dương và gram âm, nhưng thường phân lập được các vi trùng gram âm: như Aeromonas hydrophila, Streptococcus Sp

Triệu chứng: Khó thở, viêm mũi, chảy nước mũi

Bệnh viêm mũi hầu ( Rhinopharyngitis)

Trang 35

Cá sấu có triệu chứng yếu đuối, biếng ăn, quanh mũi có chất nhày hay

mủ Các mô mềm ở trong họng cá sấu bệnh bị phù, xung huyết, sưng phồng lên làm hẹp một phần khí quản Cá sấu non bị bệnh rất dễ chết

Nhiễm trùng noãn hoàng và viêm rốn

Thường xảy ra với cá sấu con vài tháng tuổi, triệu chứng sình bụng làm cơ thể không thể hấp thu được noãn hoàng , noãn hoàng sẽ tồn tại trong bụng cá sấu con lâu hơn bình thường, nội tạng bị đè ép, không thể tiêu hóa thức ăn, gầy ốm và chết

Bệnh lao: ( Tuberculosis)

Triệu chứng, bệnh tích: U hạt ở da, các thùy của phổi bị xâm nhập

nhiễm toàn bộ bởi các u hạt

Chẩn đóan: Qua việc gửi bệnh tích đến phòng thí nghiệm

Mycobacteria xenopi và M ranae được phân lập từ phổi của người bị lao, Mycobacteria chelonei được phân lập từ các abscess ở người Do đó cần phải thận trọng không nên điều trị các loài bò sát bị lao

Nhiễm khuẩn huyết ( Septicemia)

Nhiễm khuẩn huyết thường gây lên bởi nhiễm Aeromonas hydrophila hoặc enterobactor do sấu tiếp xúc với nước có nhiễm các loài vi khuẩn trên

Triệu chứng: có thể quan sát được là các đốm xuất huyết ở niêm mạc

và da Chuẩn đoán bệnh qua việc cấy các cơ quan nội tạng có mô mềm để tìm tác nhân gây nhiễm khuẩn huyết Việc Điều trị bao gồm Tetracyline, chloramphenicol, Carben icilline hay Gentamicine

Phòng bệnh:

- Tách nuôi riêng các cá thể bị bệnh

- Vệ sinh và sát trùng chuồng trại

Trang 36

- Tiêu diệt các loại ngoại ký sinh trùng

* Mổ khám tử có thể thấy xung huyết trầm trọng ở các cơ quan nội tạng, đặc biệt là màng thanh dịch ruột

Ngộ độc thức ăn

Cá sấu được nuôi bằng thức ăn mua từ bên ngoài có thể bị chết vì ngộ độc thức ăn, do thức ăn bị nhiễm khuẩn hay các chất bảo quản thức ăn Biểu hiện của bệnh là: ãi, co dật, liệt các cơ, chân sau bị cứng đờ, con ngươi mở rộng và sau đó có thể chết

Biện pháp phòng và trị bệnh trên đàn cá sấu nuôi

Cách chuẩn đoán, điều trị cách bệnh về chuyển hóa, truyền nhiễm và

ký sinh trùng ở cá sấu, trăn và các loài bò sát khác cũng tương tự như ở chim

và thú Hệ thống miễn nhiễm của loài bò sát phụ thuộc nhiệt độ, vì thế điều kiện của môi trường sống, gần với điều kiện tốt nhất, giúp chúng tránh nhiễm các tác nhân gây bệnh Việc định liều các loại kháng sinh, thuốc tẩy giun sán, thuốc mê bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ của động vật và bị ảnh hưởng trực tiếp của môi trường sống

Thuốc có thể cấp qua đường tiêu hóa, chích thịt hay chích dưới da Với các kháng sinh khác, khi cấp thuốc cho các loài bò sát phải có liều từ hai đến ba lần so với các động vật máu nóng Nên sử dụng thuốc ở dạng dung dịch nước được hấp thu nhanh hơn ở dạng dầu

Do cá sấu là lòai động vật cực kỳ hung dữ, khó đến gần nên việc chẩn đóan bệnh và trị bệnh rất khó khăn Tuy nhiên nhờ tố chất của lòai vật sống hoang dã, sức đề kháng tốt nên những bệnh lý kể trên ít khi xảy ra trên diện rộng Việc phòng bệnh trên đàn cá sấu chủ yếu bằng cách cung cấp thức ăn không hư thối, giữ sạch nguồn nước, chuồng trại khô ráo đảm bảo vệ sinh Hồ nước phải đảm bảo điều kiện tháo nước cũng

Trang 37

như đưa nước vào dể dàng Mỗi tuần thực hiện việc thay nước từ 1 – 2 lần Đối với việc điều trị bệnh, thường thỡ dựa vào cỏc triệu chứng biểu hiện ở cỏ sấu bị bệnh, bằng kinh nghiệm người chăn nuụi cú thể đoỏn ra loại bệnh mà cắt thuốc Trước hết phải cỏch ly những con cỏ sấu bệnh ra một chuồng riờng, sử dụng thuốc khỏng sinh hoặc cỏc loại thuốc đặc trị cho vào thức ăn hoặc nguồn nước để cỏ sấu có thể tự đưa đ−ợc lượng thuốc điều trị bệnh vào cơ thể của nó

2.7 Nhận định chung về thuận lợi khó khăn trong phát triển chăn nuôi cá sấu ở Việt Nam

- Nguồn lực lao động dồi dào, cần cự chịu khú, ham học hỏi nhất là khu vực lao động nụng thụn; vốn đầu tư ban đầu cho gõy nuụi đàn cỏ sấu bỡnh quõn từ 100-200 nghìn đồng/con là khụng lớn đối với những hộ chăn nuụi cỏ thể nờn việc chăn nuụi cú điều kiện phỏt triển nhanh và sẽ là những

mụ hỡnh vệ tinh tốt cho cỏc trang trại chăn nuụi quy mụ lớn

- Mặc dù thị trường tiờu thụ sản phẩm chưa thật sự ổn định; phương thức tiờu thụ chưa khai thỏc triệt để giỏ trị sản phẩm cỏ sấu làm ra nhưng lợi nhuận mang lại cho người chăn nuụi thời gian qua là khỏ tốt tạo niềm hứng khởi cho người dõn đẩy mạnh phỏt triển nghề chăn nuụi cỏ sấu Theo tính toán của các hộ chăn nuôi có cá sấu đã xuất bán thì lợi nhuận bình quân từ

400.000đ đến 500.000đ/con/2 năm, cao hơn việc chăn nuụi cỏc loài vật khỏc

ví dụ cao gấp 3 lần so với nuôi tôm sú )

Trang 38

- Nhiều địa phương như Thành phố Hồ Chí Minh, khu vực đồng bằng sông Cửu Long có cỏc chớnh sỏch đầu tư phỏt triển, khuyến khớch nụng dõn làm giàu; cú sự hổ trợ từ cỏc cơ quan chuyờn mụn, cỏc nhà khoa học trong cỏc họat động phổ biến cỏc kiến thức cần thiết trong chăn nuụi và tiờu thụ sản phẩm cỏ sấu; tuy bước đầu hiệu quả đạt được chưa cao nhưng đó tạo tiền thuận lợi cho quỏ trỡnh phỏt triển.

2.7.2 Khó khăn

- Nghề chăn nuụi cỏ sấu phỏt triển đột biến trong những năm gần đõy mang tớnh tự phỏt theo phong trào trong nhõn dõn, chưa cú sự tham gia của cỏc cơ quan quản lý nhà nước để quy họach, định hướng phỏt triển theo hướng bền vững; chưa tạo được cơ sở hành lang phỏp lý chớnh thức, cụ thể

về quy trỡnh chăn nuụi, thị trường tiờu thụ sản phẩm, đặc biệt là thị trường xuất khẩu Tỡnh trạng phỏt triển chăn nuụi ồ ạt theo phong trào tự phỏt như hiện nay do thiếu sự kiểm soỏt của Nhà nước, một lỳc nào đú sẽ dẫn đến tỡnh trạng khủng hoảng thừa

- Do nghề nuôi cá sấu còn khá mới mẻ, hiểu biết về cỏ sấu cũn rất nhiều hạn chế, đặc biệt trong cỏc lĩnh vực liờn quan đến chế biến, thuộc da

và thị trường tiờu thụ sản phẩm, chủ yếu phụ thuộc vào kinh nghiệm chỉ bảo của người đi trước cho người đi sau Việc tiếp cận thông tin, kiến thức trong việc gây nuôi, kỹ thuật môi trường, chế biến và tiêu thụ chưa nhiều Cơ sở chăn nuụi phần lớn theo dạng hộ cỏ thể, quy mụ nhỏ, lẻ, thiếu tập trung Rất khú khăn cho cụng tỏc quản lý, kiểm súat của cỏc cơ quan quản lý chuyờn ngành; một số trang trại cú quy mụ tương đối cũng chưa hội đủ cỏc điều kiện

về quy chuẩn kỹ thuật chăn nuụi, đảm bảo vệ sinh mụi trường … đặc biệt đảm bảo cỏc quy định của cụng ước Cites

Việc tiêu thụ sản phẩm chủ yếu là cá sấu thương phẩm, việc đầu tư phát triển lĩnh vực lột mổ, chế biến thịt theo hướng công nghiệp để sử dụng

Trang 39

nguồn da, đem thuộc và chế biến đồ dùng bằng da cá sấu mang lại giá trị kinh tế cao hầu nh− ch−a đ−ợc quan tâm

- Cỏc chớnh sỏch hổ trợ của Nhà nước về phỏp lý, kỹ thuật, tớn dụng

ưu đói đầu tư phỏt triển lĩnh vực chăn nuụi cỏ sấu tại địa phương cũn quỏ ớt

và chưa thật sự phỏt huy hiệu quả

- Điều đặc biệt khú khăn hiện nay khụng chỉ riờng nghề chăn nuụi cỏ sấu đú là thị trường tiờu thụ khụng ổn định, nằm ngoài sự kiểm súat của nhà nước 90% sản lượng cỏ sấu của cỏc trang trại chăn nuụi được tiờu thụ tại thị trường Trung Quốc thụng qua đường xuất khẩu tiểu ngạch Việc xuất cá sấu chủ yếu theo hỡnh thức buụn bỏn cỏ sấu thương phẩm (bỏn nguyờn con) Trong đú:

- Loại cỏ sấu nuụi từ trờn 2 năm đến 3 năm tuổi, trọng lượng đạt từ 25 – 30 kg/con, thường được bỏn cho cỏc thương lỏi thu mua cho cỏc nhà mỏy chế biến, thuộc da tại thành phố Hồ Chí Minh, Bỡnh Dương và cỏc tỉnh khỏc; gần đõy một vài trang trại thử tự giết mổ, bỏn thịt và muối da bỏn lại cho cỏc nhà mỏy thuộc da nhưng khụng nhiều do hiệu quả mang lại khụng mấy khả quan so với bỏn cỏ sấu thương phẩm

- Loại nuụi từ một năm, một năm rưởi tuổi, trọng lượng đạt từ 10 – 15kg/con, được bỏn cho thương lỏi theo đặt hàng hoặc một vài trang trại cú năng lực mua thu gom để xuất bỏn cỏ sấu thương phẩm bằng đường tiểu ngạch qua Trung Quốc, hỡnh thức tiờu thụ này hiện nay là rất phổ biến

Tỡnh trạng phụ thuộc hoàn toàn vào một số “đầu nậu” thõu túm gần như toàn bộ hệ thống cung – cầu mặt hàng cỏ sấu tại Việt nam Hiện nay đầu mối chớnh của những “đường dõy” này nằm ở cỏc tỉnh biờn giới Lạng Sơn, Múng Cỏi, ỏn ngữ đường xuất khẩu tiểu ngạch sang Trung Quốc Chớnh tỡnh trạng phụ thuộc này đó dẫn tới giỏ cả mặt hàng cỏ sấu luụn bấp bờnh, đầu ra

Ngày đăng: 14/05/2014, 21:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Australian Government- Rural Industries Research and Development Corporation: Improved Preservation and Early Stage Processing of Australian Crocodile Skins, RIRDC Publicationb No 04/164 RIRDC project No CWT-3 A Sách, tạp chí
Tiêu đề: Improved Preservation and Early Stage Processing of Australian Crocodile Skins
Tác giả: Australian Government- Rural Industries Research and Development Corporation
Nhà XB: RIRDC
1. Ch−ơng trình phát triển cá sấu TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2005- 2010 Khác
2. Báo cáo thực trạng tình hình gây nuôi, chế biến, tiêu thụ sản phẩm cá sấu tỉnh Bạc Liêu Khác
3. Trần Văn Vỹ: Kỹ thuật nuôi cá sấu, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội, 1999 Khác
4. Thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng về nuôi, giết mổ, chế biến, kinh doanh cá sấu và các sản phẩm từ cá sấu trong và ngoài n−ớc Khác
5. Website của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 6. Website của SITES Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Một số đặc điểm chủ yếu của 6 loài cá sấu phổ biến thuộc họ Cá sấu  thực sự Crocodilidae ở vùng châu á-Thái Bình D−ơng (theo Melvin Bolton, - Nghiên cứu thực trạng chăn nuôi và chế biến các sản phẩm từ cá sấu, đà điểu và đề xuất mô hình khai thác tối ưu nguồn cá sấu và đà điểu trong nước
Bảng 1. Một số đặc điểm chủ yếu của 6 loài cá sấu phổ biến thuộc họ Cá sấu thực sự Crocodilidae ở vùng châu á-Thái Bình D−ơng (theo Melvin Bolton, (Trang 10)
Bảng 2. Thành phần của thịt cá sấu nuôi (theo Moody và CTV, 1980) - Nghiên cứu thực trạng chăn nuôi và chế biến các sản phẩm từ cá sấu, đà điểu và đề xuất mô hình khai thác tối ưu nguồn cá sấu và đà điểu trong nước
Bảng 2. Thành phần của thịt cá sấu nuôi (theo Moody và CTV, 1980) (Trang 15)
Bảng 3: Số l−ợng trang trạivà đà điểu giống - Nghiên cứu thực trạng chăn nuôi và chế biến các sản phẩm từ cá sấu, đà điểu và đề xuất mô hình khai thác tối ưu nguồn cá sấu và đà điểu trong nước
Bảng 3 Số l−ợng trang trạivà đà điểu giống (Trang 48)
Hình ảnh cá sấu - Nghiên cứu thực trạng chăn nuôi và chế biến các sản phẩm từ cá sấu, đà điểu và đề xuất mô hình khai thác tối ưu nguồn cá sấu và đà điểu trong nước
nh ảnh cá sấu (Trang 72)
Hình ảnh Đà Điểu - Nghiên cứu thực trạng chăn nuôi và chế biến các sản phẩm từ cá sấu, đà điểu và đề xuất mô hình khai thác tối ưu nguồn cá sấu và đà điểu trong nước
nh ảnh Đà Điểu (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w