Kết quả phân tích một năm quan trắc thu được biến động mật độ của các loài tảo thuộc chi này đã cho thấy các loài thuộc chi tảo Pseudo-nitzschia thường xuyên có mặt tại vùng nghiên cứu h
Trang 1những tác hại do chúng gây ra”
Chủ nhiệm đề tài: TS Chu Văn Thuộc
Báo cáo chuyên đề
Thành phần độc tố ASP và PSP trong vi tảo biển
tự nhiên tại khu vực nuôi thuỷ sản
Đồ Sơn và Cát Bà, Hải Phòng
ThS Nguyễn Thị Minh Huyền, CN Phạm Thế Th−
CN Trần Mạnh Hà Phòng Sinh vật phù du và Vi sinh vật Biển,
Trang 2Đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
I đặt vấn đề
Vi tảo nổi trong các đại dương của Thế giới là thức ăn cơ bản của thân mềm hai
vỏ ăn lọc (hầu, nhuyễn thể, trai, sò, ngao ) cũng như của cá bột thuộc nhóm giáp xác
có giá trị kinh tế quan trọng và finfish Trong phần lớn các trường hợp, sự tăng nhanh của vi tảo phù du (thường được goị là nở hoa tảo, đạt tới hàng triệu tb/l), điều đó là lợi ích đối với nuôi trồng thuỷ sản và các hoạt động ngư nghiệp tự do Tuy nhiên trong một số các trường hợp sự nở hoa có thể gây ảnh hưởng có hại, là nguyên nhân gây tổn thất kinh tế nghiêm trọng đối với các hoạt động nuôi trồng thuỷ sản, ngư nghiệp, du lịch và là nhân tố chính tác động đến môi trường và sức khoẻ con người Trong số 5.000 loài vi tảo nổi trên toàn Thế Giới (Sournia và cộng sự, 1991), có khoảng 300 loài
có khả năng xảy ra bùng phát số lượng lớn, hiển nhiên làm thay đổi màu nước bề mặt
đại dương (thường được gọi là thuỷ triều đỏ), trong đó chỉ có 80 loài có khả năng sản sinh độc tố, có thể tìm thấy các độc tố này thông qua cá, thân mềm hai vỏ và đến người (đối tượng tiêu thụ cuối cùng trong chuỗi thức ăn)
Trong trường hợp nở hoa của vi tảo không có độc tố thường bùng phát mật độ dày đặc dẫn đến sự thiếu oxy huyết làm cả cá và động vật không xương sống chết hàng loạt Sự làm giảm Oxy có thể do mật độ cao của tảo gây lên (vào đêm hoặc khi
ánh sáng yếu trong ngày) nhưng thông thường nguyên nhân chính là do sự hô hấp của
vi khuẩn trong quá trình phân rã của tảo nở hoa Đôi khi sự nở hoa của vi tảo không có
độc tính có thể gây lên các tác động chính đến hệ sinh thái, ví dụ như cảnh quan không đẹp do cái chết của cá, chất nhầy và các chất bọt bẩn chống lại các hoạt động
du lịch và giải trí
Dạng khác của nở hoa tảo gây hại đang được đề cập đến như là kết quả của việc tăng tính nhạy cảm của các hệ thống nuôi trồng thuỷ sản đối với cá finfish Một số
Trang 3Đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
1.Các loài làm đổi màu nước, tuy nhiên dưới các điều kiện bị loại trừ trong các vịnh, sự nở hoa có thể phát triển đến mức dày đặc làm chúng trở thành nguyên nhân gây tổn thất giết chết cá và động vật không xương sống thông qua việc giảm oxy
Ví dụ các loài tảo Giáp Akshiwo sanguinea, Gonyaulax polygramma, Noctiluca
scintillans, Scrippsiella trochoidea; Cyanobacterium Trichodesmium erythraeum
2 Các loài có khả năng sản sinh độc tố, có thể tìm được cách đi của chúng thông qua chuỗi thức ăn đến con người, là nguyên nhân của các bệnh về đường ruột, thần kinh cụ thể như:
+ độc tố gây tê liệt cơ (PSP):
(ví dụ: tảo giáp Alexandrium catenella, A cohorticula, A fraterculus, A leei, A
minutum, A tamarense, Gymnodinium catenatum, Pyrodinium bahamense var compressum)
+ Độc tố gây tiêu chảy (DSP)
Ví dụ: tảo giáp Dinophysis caudata, D acuta, D acuminata, D fortii, D
norvegica, D mitra, D sacculus, Prorocentrum lima
+ Độc tố gây mất trí nhớ (ASP)
Ví dụ: tảo silíc Pseudo-nitzschia australis, P delicatissima, P multiseries, P
pseudodelicatissima, P pungens (một số chủng), P seriata
Trang 4Đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Bảng 1 Tóm tắt một số độc tố vi tảo quan trọng và hiệu ứng sinh học của chúng
cùng với các tài liệu tra cứu [Andersen, 1996]
STT Độc tố và tác động
của chúng đối với
môi trường
Bản chất hoá học
Loài vi tảo Hiệu ứng
sinh học
Tài liệu tham khảo
Pseudonitzschia spp, Nitzschia navis-varingica, Amphora
coffeaeformis
ảnh hưởng đến cả hệ thần kinh
và hệ tiêu hoá, là chất đối kháng mạnh của Glutamate
Bates(1998), Skov và cs (1999), Van Dolah(2000), Quilliam (2002a)
compressum
Độc tố thần kinh làm tắc nghẽn các ion Na + của các tế bào cơ và thần kinh ngăn cản sự khử cực
và dẫn truyền khả năng hoạt
động
Shimizu (2000)
3 Okadaic acid (OA),
Là chất kìm hãm
hệ enzym protein phosphatase, acid okaidaic có thể là nhân tố kích thích các
Rossini (2000), Van Dolah (2000)
Trang 5Đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Vẫn đề gia tăng bùng phát tảo gây hại trên toàn cầu đã trở thành chủ đề định kỳ
được thảo luận trong phần lớn các hội nghị lớn đề cập đến nở hoa tảo Có bốn lý do giải thích cho sự gia tăng này đã được đề cập đến là: Sự tăng các kiến thức hiểu biết khoa học đối với các loài tảo độc; tăng sử dụng các vùng nước ven bờ cho nuôi trồng thuỷ sản; hiện tượng phì dinh dưỡng do nuôi trồng và các điều kiện thời tiết bất thường
đã tạo sự thuận lợi cho nở hoa tảo; sự di chuyển các bào tử ngủ của tảo Giáp trong các nước thải của tàu biển hoặc dòng di chuyển của nguồn lợi thân mềm hai vỏ từ một vùng đến các vùng khác nhau
Việc hấp thu các muối dinh dưỡng trong nước của quần xã vi tảo biển đã góp phần làm sạch môi trường và hạn chế hàm lượng các muối dinh dưỡng dư thừa trong nước biển Tuy nhiên, khi vi tảo gây “nở hoa nước” thì lại làm ô nhiễm môi trường nước, gây ảnh hưởng đến các quần xã sinh vật trong các thuỷ vực và ảnh hưởng tới sức khoẻ con người, đặc biệt là các nhóm vi tảo có khả năng sản sinh độc tố và được thân mềm hai vỏ tích luỹ và người là đối tượng tiêu thụ cuối cùng trong chuỗi thức ăn và là người chịu tác động của các độc tố do tảo sản sinh Vì vậy việc nghiên cứu, khảo sát, phát hiện và giám sát sự có mặt của các loài tảo TTĐH, các hiện tượng nở hoa tảo độc
là rất cần thiết, đặc biệt là trong các vùng nước ven bờ, vùng tập trung nuôi trồng thuỷ sản cao Từ đó có các giải pháp hạn chế tác hại của chúng Chính vì vậy, bất kỳ một chương trình nghiên cứu về môi trường nước biển, nước lợ hay nước ngọt đều cần phải xem xét đến tảo độc và coi chúng như là một trong những yếu tố gây rủi ro của hệ sinh thái và đặc biệt khả năng gây ô nhiễm các nguồn nước của đại dương
Trang 6Đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề
xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
II Phương pháp nghiên cứu
2.1.Phương pháp thu mẫu và xử lý mẫu
2.1.1Phương pháp thu thập mẫu ngoài hiện trường
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu thực vật phù du và tảo độc hại được biên
soạn trong các tài liệu: Phytoplankton manual, Manual on harmful marine microalgae
và Design and implementation of some harmful algal monitoring system do UNESCO
ấn hành Phương pháp tiến hành cụ thể dưới đây
• Dụng cụ chủ yếu
Dụng cụ thu mẫu thực vật nổi cho phân tích độc tố ngoài hiện trường là lưới
kéo thực vật phù du với kích thước mắt lưới từ 20 đến 25àm
• Thu sinh khối để phân tích độc tố
Dùng lưới thực vật phù du với kích thước mắt lưới từ 20 đến 25àm kéo thẳng
đứng từ đáy lên mặt một vài lần nhằm mục đích thu được sinh khối thực vật phù du
lớn nhất
Lọc qua lưới để loại bớt nước biển, cô mẫu với thể tích từ 300-500mL Dồn
mẫu sang chai sạch cho vào hộp đá để mát và vận chuyển ngay về phòng thí nghiệm
với khoảng thời gian trong ngày
2.1.1 Xử lý mẫu trong phòng thí nghiệm theo quy trình sau:
Mẫu mang về phòng thí nghiệm
Đo chính xác thể tích lượng nước
Phần I: 10mL + lugol Lọc qua màng lọc thuỷ tinh GF/F
(Whattman)
Trang 7Đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Thu dịch trong -> bảo quản trong tủ đá để phân tích
độc tố ASP và PSP bằng ELISA
2.2 Phương pháp phân tích các loại mẫu độc tố ASP, PSP
Độc tố ASP và PSP được phân tích bằng phương pháp ELISA còn gọi là
phương pháp miễn dịch học liên kết enzym (Enzyme Linked Immunosorbant
Assay). Nguyên tắc của phương pháp này là dựa vào các chất kháng thể (được chiết xuất từ huyết thanh thỏ) để nhận biết độc tố tảo Các kháng thể này được
đánh dấu bằng các chất phóng xạ hoặc huỳnh quang Hoà dịch chiết thịt nhuyễn thể hai vỏ với các kháng thể đã được đánh dấu, tiếp theo dùng máy so màu chuyên dụng để phát hiện tổng lượng phóng xạ hoặc huỳnh quang của hợp chất huyết thanh miễn dịch + chất kháng thể, từ đó tính ra hàm lượng độc tố tảo có trong mẫutheo phương pháp của Branaa và cộng sự (1999) và Kodama (2003)
2.3 phương pháp xử lý, tính toán hàm lượng độc tố trong các mẫu tảo tự nhiên
2.3.1 Tính trung bình các chỉ số OD đo được trên máy (3 lần)
2.3.2., Phác thảo đồ thị tính toán: Bằng tay, hoặc sử dụng MS-Excel hoặc các phần
mềm tính toán khác để có được phương trình và đồ thị đường chuẩn cho tính toán hàm lượng độc tố trong các mẫu vi tảo biển tự nhiên dựa trên nồng độ các độc tố chuẩn thực hiện trong ngày phân tích
Kết quả được các đồ thị đường chuẩn cho tính toán hàm lượng độc tố ASP như sau:
100
Trang 8Đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Kết quả được các đồ thị đường chuẩn cho tính toán hàm lượng độc tố PSP như sau:
y = 24.595e-2.1301x
1 10
Hình 2 2 Đồ thị đường chuẩn cho tính toán hàm lượng độc tố PSP trong vi tảo biển tự nhiên
thu tại Đồ Sơn – Cát Bà (HảI Phòng) dựa trên hàm lượng các chất STX chuẩn
2.3.3 Đánh giá hàm lượng độc tố trong mỗi mẫu thử bằng việc sử dụng bước 2 =
A(nM) = A pmol/mL
2.3.4 Tính tổng hàm lượng độc tố ASP và PSP trong mẫu nước thu sinh khối TVPD
bằng cách; A(pmol/mL) x 20 mL (V cô lại của các mẫu) = B (pmol/mẫu)
= B (pmol/mẫu) x MW (trọng lượng phân tử của độc tố) = C(pg/mẫu)
2.3.5 Tính hàm lượng độc tố trong 1mL mẫu nước thu sinh khối TVPD
= C (pg/mẫu) : V (thể tích mẫu thu sinh khối) = D (pg/mL mẫu)
Trang 9Đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
2 4 6 8 10 12
14
ng/mL mẫu
Thời gian thu mẫu
Hình 3 1 Biến động hàm l−ợng độc tố ASP trong vi tảo biển tự nhiên tại Đồ Sơn
Hình 3.1 cho thấy hàm l−ợng độc tố ASP trong các vi tảo biển là rất thấp,
Trang 10Đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
phân tích được cho thấy độc tố trong vi tảo biển tự nhiên thường xuất hiện ở khu vực
Đồ Sơn là rất thấp
Độc tố ASP đã được tìm thấy trong phần lớn các loài tảo Silíc thuộc chi
Pseudo-nitzschia như P multiserie, P pseudo-delicatissima, P australis v.v
[Hallegraeff, 1993] Vì vậy, khi thu sinh khối chúng tôi cũng tiến hành giữ lại một
phần mẫu để đếm mật độ tế bào tảo thuộc chi Pseudo-nitzschia, những loài có khả
năng sản sinh độc tố ASP trong nước biển Kết quả phân tích một năm quan trắc thu
được biến động mật độ của các loài tảo thuộc chi này đã cho thấy các loài thuộc chi
tảo Pseudo-nitzschia thường xuyên có mặt tại vùng nghiên cứu hầu như các tháng trong năm Biến động mật độ của các loài tảo Pseudo-nitzschia rất khác nhau theo thời
gian và được trình bày trong hình sau
0 50000 100000
04 20/6/048/7/0421/7/0
4 4/8/0418/8/0414/9/0
4 26/9/0
4
11/10/0420/10/047/
11/0 4 21/11
/04 4/12
/04
18/12/0411/1/0
5 24/1/0
5 6/2/0523/2/0
5 9/3/
05 20/3/055/4/0529/4/0
5
Thời gian thu mẫu
0 2 4 6 8 10 12 14
Hình 3.2 Biến động hàm lượng độc tố ASP trong tảo tự nhiên và mật độ chi
Pseudo-nitzschia trong nước biển Đồ Sơn
Trang 11Đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
xuyên xuất hiện hai loài tảo gây hại thuộc chi Pseudo-nitzschia Việc định loại các
loài vi tảo thuộc chi này là không thể thực hiện dưới kính hiển vi thường nên chúng tôi tạm phân biệt chúng bằng hình thái ngoài Kết quả phân tích định lượng cho thấy
tháng 10 năm 2004, tổng mật độ vi tảo thuộc chi Pseudo-nitzschia không cao, nhưng lại là tháng có mật độ của loài Pseudonizschia sp.1 cao thứ hai trong năm quan trắc (960 tb/L) Đợt quan trắc II của tháng 1 năm 2005 có mật độ vi tảo thuộc chi Pseudo-
nitzschia đạt cao nhất trong năm (15240 tb/L), nhưng đóng góp vào đỉnh sinh khối này
chủ yếu là loài Pseudo-nitzschia sp.2 (đạt tới 1,5 x 104tb/L) Mặt khác theo các nghiên cứu về độc tố tảo, hai loài tảo trên đã được phân lập, nuôi sinh khối và phân tích độc
tố, kết quả nghiên cứu cho thấy loài vi tảo Pseudo-nitzschia sp.2 không có độc tố, loài
P sp.1 có khả năng sản sinh độc tố Kết hợp các kết quả nghiên cứu trong phòng thí
nghiệm và khảo sát thực địa cho thấy hình 3.2 đã phản ánh mối tương quan chặt chẽ giữa mật độ của các loài tảo silíc có khả năng sản sinh độc tố và hàm lượng độc tố ASP trong vi tảo tự nhiên thu tại vùng nghiên cứu
Mặt khác trong khuôn khổ hợp tác song phương của dự án JSPS và các nước thuộc khối ASEAN, chúng tôi đã tiến hành quan trắc hàm lượng độc tố trong các mẫu
vi tảo biển sống tự nhiên trong 2 năm từ 2002 đến 2004 [Nguyễn Thị Minh Huyền và cs., 2006] Kết quả quan trắc đã cho thấy hàm lượng độc tố rất thấp, không đáng kể
trong suốt hai năm, thậm trí cả những tháng có mật độ cao của chi Pseudo-nitzschia
Điều này cho thấy hàm lượng độc tố có trong các loài tảo thuộc chi này rất thấp So sánh các kết quả nghiên cứu thu được trong các năm trước và kết quả nghiên cứu đang thực hiện tại vùng biển Đồ Sơn đã cho thấy hoàn toàn phù hợp
Trang 12Đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Mẫu vi tảo biển tự nhiên trong vùng nước nghiên cứu được thu định kỳ và phân tích hàm lượng độc tố cũng như quan sát mật độ tế bào của các loài vi tảo tiềm tàng
độc hại thuộc chi Pseudonizschia trong phòng thí nghiệm Sinh vật phù du và Vi sinh
vật biển Biến động hàm lượng độc tố ASP trong các mẫu vi tảo biển thu tự nhiên được biễu diễn trong hình sau
0.5 1 1.5 2 2.5 3 3.5 4
4.5
ng/mL
Thời gian thu mẫu
Hình 3.3 Biến động hàm lượng độc tố ASP trong vi tảo biển tự nhiên tại Cát Bà
Hình 3.3 cho thấy, hàm lượng ASP trong vi tảo biển biến động theo thời gian thu mẫu, dao động từ 0,02ng/mL mẫu đến 4,28ng/mL mẫu Nhìn chung hàm lượng
độc tố này rất thấp, dao động trong các tháng đa số nhỏ hơn 0,1ng/mL mẫu và tạo thành một đỉnh hàm lượng cao nhất vào đợt quan trắc thứ II của tháng 8 năm 2004
Trang 13Đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
0 1000
11/5
/200426/5
4 9/6/
04
21/6
4 9/7/
04
20/7
/045/8/
/04
23/1
1/04 5/12
/04
20/1
2/04 12/1 /200525/1
5 5/2/
05
28/4
5
Thời gian thu mẫu
0 0.5
Hình 3.4 Mối tương quan giữa mật độ tế bào tảo của chi Pseudo-nitzschia và hàm
lượng độc tố ASP trong nước biển tự nhiên thuộc vùng biển Cát Bà
Hình 3.4 cho thấy mối tương quan khá chặt chẽ giữa mật độ của các loài tảo
thuộc chi Pseudo-nitzschia và hàm lượng độc tố ASP trong nước biển Các đỉnh về mặt độ tảo Pseudo-nitzschia trong các đợt quan trắc gần như luôn trùng với đỉnh hàm
lượng độc tố ASP trừ đỉnh mật độ tế bào cao nhất trong năm quan trắc (đợt II tháng 1 năm 2005)
Kết hợp với các kết quả nghiên cứu về định tính và định lượng các loài tảo
thuộc chi Pseudo-nitzschia có mặt tại vùng biển Cát Bà trong thời gian nghiên cứu cho
thấy tháng 8 năm 2004 là tháng có mật độ tế bào tảo có khả năng sản sinh độc tố
thuộc chi Pseudo-nitzschia cao nhất (đạt 1,4 x 104 tb/L trong đợt quan trắc I của tháng 8) Các kết quả phân tích định tính còn cho thấy, xuất hiện trong thời gian quan trắc có mặt của 3 loài tảo thuộc chi này, trong đó ưu thế thuộc về một loài có kích thước nhỏ,
ít bắt gặp trong các đợt quan trắc trước Kết quả nghiên cứu định lượng mật độ tảo/lít quan trắc giảm dần, trong tháng 1 mật độ chi này không quá cao (đạt từ 390-670 tb/L) tuy nhiên trong mẫu thu sinh khối để phân tích độc tố, các loài thuộc chi này đã chiếm
ưu thế với số lượng khá cao (đạt 9800 tb/mL mẫu), kết quả phân tích định lượng cho
thấy sự có mặt của cả 2 loài Pseudo-nitzschia (gồm cả loài có kích thước lớn và bé)
Tại đợt quan trắc này mối tương quan giữa hàm lượng độc tố ASP và mật độ chi
Pseudo-nitzschia không được chặt chẽ lắm Vì không thể phân loại chính xác được
các loài cụ thể dưới kính hiển vi thường, nên không xác định được vai trò của các loài
Trang 14Đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
bước đầu về khả năng sản sinh độc tố ASP của một số loài tảo thuộc chi
Pseudo-nitzschia trong nước biển tự nhiên đã thu được một số kết quả ban đầu So sánh các
kết quả nghiên cứu của hai vùng biển này với nhau được trình bày trong bảng 3.2 và hình dưới đây
Bảng 3.2 Biến động hàm lượng độc tố ASP trong tảo biển tự nhiên và mật độ tảo
thuộc chi Pseudo-nitzschia tại vùng biển Đồ Sơn và Cát Bà (Hải Phòng) năm
Trang 15Đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
So sánh về mật độ các loài tảo thuộc chi Pseudo-nitzschia tại hai vùng biển này
cho thấy chúng biến động theo thời gian và vùng nghiên cứu rất khác nhau Chúng thường xuất hiện ít, có khi không gặp trong các tháng 6, 7 và bắt gặp mật độ cao từ tháng 8, cùng đạt mật độ cao nhất trong khoảng thời gian tháng 1 và tháng 2 năm
2005 Có thể nhận thấy sự có mặt thường xuyên của các loài tảo thuộc chi
Pseudo-nitzschia tại các đợt quan trắc thuộc vùng biển Cát Bà hơn vùng biển Đồ Sơn với mật
độ cao hơn và khá đồng đều giữa các tháng và các đợt quan trắc, tuy nhiên đỉnh mật
độ cao nhất lại thuộc vùng biển Đồ Sơn Nhưng kết quả nghiên cứu hàm lượng độc tố ASP lại không chỉ ra mối tương quan thuận và chặt chẽ với đỉnh mật độ của các tảo
biển thuộc chi Pseudo-nitzschia này
Trang 16Đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
/044/12
/04
11/1
/056/2/05 9/3/
05 5/4/05 Thời gian
thu mẫu
Vi tảo biển Đồ Sơn Vi tảo biển Cát Bà
Hình 3.5 Biến động hàm lượng độc tố ASP trong tảo biển tự nhiên vùng biển Đồ Sơn
và Cát Bà (Hải Phòng) năm 2004-2005
Các kết quả nghiên cứu trong bảng 3.2 và hình 3.5 cho thấy biến động hàm lượng độc tố theo thời gian quan trắc giữa hai vùng khác nhau, đỉnh hàm lượng độc tố ASP tại Đồ Sơn được hình thành vào đợt quan trắc I của tháng 10 năm 2004, còn tại Cát Bà lại hình thành trước sớm hơn vào đợt II của tháng 8 năm 2004 và giảm dần kéo dài đến hết tháng 9 năm 2004 Hàm lượng độc tố ASP cũng biến động khác nhau, tại
Đồ Sơn (12,37 ng/mL mẫu) đạt giá trị cao xấp xỉ gấp 3 lần so với Cát Bà (4,28 ng/mL mẫu), còn lại dao động trong các tháng khác rất thấp
Trang 17Đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
quả quan trắc trong năm 2004-2005, cùng cho thấy chi Pseudo-nitzschia thường có
mật độ cao vào giai đoạn đầu năm (giai đoạn điển hình của mùa khô)
Như vậy có thể khẳng định, trong mẫu vi tảo biển tự nhiên có các loài
Pseudo-nitzschia có khả năng sản sinh độc tố ASP thông qua hàm lượng độc tố ASP đã được
xác định trong các mẫu tảo biển sống tự nhiên, tuy nhiên hàm lượng này rất khác nhau phụ thuộc vào loài và điều kiện môi trường sống của chúng Hàm lượng độc tố ASP trong vi tảo biển tự nhiên rất thấp, nhưng đây là những bằng chứng đầu tiên xác nhận
nguyên nhân tích luỹ độc tố trong thân mềm hai vỏ là từ tảo biển thuộc chi
Pseudo-nitzschia thông qua chuỗi thức ăn Để có được những hiểu biết xác thực hơn về mối
quan hệ giữa tảo có khả năng sản sinh độc tố ASP và độc tố ASP trong thân mềm hai
vỏ cần có những nghiên cứu tiếp theo về sự tích luỹ độc tố này trong đối tượng thân mềm hai vỏ
3.2 Độc tố PSP
Gần đây, một số hiện tượng ngộ độc độc tố PSP lần đầu tiên được báo cáo tại
vùng nước Malaysia [Usup 2002] và bốn loài tảo có độc tố thuộc chi Alexandrium đã
được tìm thấy trong vùng nước này [Lim 2002] Hiện tượng người bị nhiễm độc do A
minutum xảy ra ở Bolinao và Pangasinan trong năm 2003, lần đầu tiên được ghi nhận
trong lịch sử về ngộ độc PSP của Philippines [Bajarias và cộng sự, 2003]
ở Việt Nam hiện tượng người bị ngộ độc do ăn phải thân mềm hai vỏ có tích luỹ
độc tố chưa được báo cáo Tuy nhiên, sự xuất hiện của một số loài là nguyên nhân gây
nên tích luỹ độc tố PSP như loài Alexandrium đã được tìm thấy trong một số vùng,
trong đó có Hải Phòng (Thuộc 2000) Yoshida và cộng sự (2000) cũng đã công bố lần
đầu tiên tìm thấy loài có khả năng sản sinh độc tố A minutum từ đầm nuôi tôm
Quảng Ninh Những nghiên cứu trên đã gợi mở khả năng tích luỹ độc tố trong thân mềm hai vỏ và khả năng xảy ra các hiện tượng người bị ngộ độc khi ăn phải các đối
Trang 18Đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
35
pg/mL mẫu
Thời gian thu mẫu
Hình 3.6 Biến động hàm l−ợng độc tố PSP trong vi tảo biển tự nhiên thu tại Đồ Sơn
Các kết quả phân tích đ−ợc cho thấy hàm l−ợng độc tố PSP trong tảo biển tự nhiên biến động rất khác nhau theo thời gian và rất thấp so với hàm l−ợng độc tố ASP, dao động từ 5,87 đến 30,62 pg/mL mẫu Hàm l−ợng độc tố PSP đạt giá trị cao nhất trong đợt quan trắc I của tháng 12 năm 2004 (30,62pg/mL mẫu), bên cạnh đó còn hai
đỉnh nhỏ đ−ợc hình thành liên tục trong khoảng thời gian quan trắc đợt I của tháng 9 (đạt 18,25 pg/mL mẫu) và giảm dần rồi tăng đến 18,55 pg/mL mẫu vào đợt quan trắc
Trang 19Đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
mặt, các loài thuộc chi này được coi là những đối tượng chính sản sinh độc tố PSP và
được thân mềm hai vỏ tích luỹ thông qua chuỗi thức ăn
Kết quả phân tích mật độ của tế bào tảo các loài thuộc chi Alexandrium có mặt trong 1mL mẫu cho thấy tần xuất bắt gặp các loài Alexandrium ở Đồ Sơn thấp, hầu
như không bắt gặp trong các đợt quan trắc Mặt khác, theo các kết quả quan trắc của
ĐTQG cho thấy các loài thuộc chi Alexandrium thường có mặt ở Đồ Sơn với mật độ
rất thấp, dao động từ vài chục đến vài trăm tb/L Kết quả nghiên cứu giữa hàm lượng
độc tố và mật độ tb/mL mẫu được biểu diễn trong hình sau
04 21/7/044/
04 18/8/0
4 14/9/04 26/9/0
4 11/10
/04
20/10/0
4 7/11/0
4
21/11/0
4 4/12/0418/12
/0411/1/05 24/1/056/
05 23/2/059/
05 20/3/0
5 5/4/0529/4/0
5
Thời gian thu mẫu
0 5 10 15 20 25 30 35
Hình 3.7 Mối tương quan giữa mật độ tế bào tảo của chi Alexandrium và hàm lượng
độc tố PSP trong nước biển tự nhiên thuộc vùng biển Đồ Sơn
Trang 20Đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
tố (đạt 58tb/mL mẫu tương ứng với 10,27pg/mL mẫu) Điều này cho thấy có thể các
loài Alexandrium có mặt trong đợt quan trắc này là những loài chứa độc tố rất thấp
Tháng 10 là tháng quan trắc có mật độ đạt 10-120tb/L, đợt quan trắc II của tháng 12
có mật độ chi Alexandrium cao thứ hai sau tháng 5 năm 2004 (đạt 200tb/L) và trùng
với đỉnh độc tố PSP cao nhất trong năm quan trắc 2004-2005 nhưng mật độ chi
Alexandrium trong mẫu phân tích độc tố lại không bắt gặp Điều này có thể giải thích
do chi Alexandrium có mật độ rất thấp trong nước biển nên xác xuất bắt gặp ít và
không đồng đều do vậy phải phối hợp nhiều kết quả nghiên cứu để có thể tìm được kết quả nghiên cứu chính xác nhất và tìm hiểu nguyên nhân của bất thường trong quá trình nghiên cứu
3.2.2 Biến động hàm lượng độc tố PSP trong nước biển thu tại các lồng nuôi vẹm
xanh (Mytilus sp.) nuôi tại Cát Bà – Hải Phòng
Kết quả quan trắc một năm hàm lượng độc tố PSP trong vi tảo biển tự nhiên thu tại các lồng nuôi vẹm xanh tại Cát Bà - Hải Phòng được biễu diễn trong hình sau
0 5 10 15 20 25 30 35
pg/mL mẫu
Trang 21Đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Hình 3.8 cho thấy hàm lượng độc tố dao động không mạnh, khá đồng đều trong các đợt quan trắc, ngoại trừ có một đỉnh độc tố duy nhất được hình thành trong đợt quan trắc I của tháng 9 năm 2004, đạt tới 184,92 pg/mL mẫu, cao gấp 10 đến 20 lần hàm lượng độc tố PSP tại các tháng khác Tuy nhiên nhìn chung hàm lượng độc tố PSP trong vi tảo biển thu tại các lòng nuôi vẹm Cát Bà thấp, chỉ dao động trong phạm vi vài chục pg/mL mẫu trừ tháng 9 Hàm lượng độc tố thấp nhất trong tháng 5 năm 2004 (dao động từ 6,35 – 8,38pg/mL mẫu)
Một phần thu sinh khối được giữ lại cho phân tích mật độ các loài thuộc chi
Alexandrium So sánh giữa mật độ và hàm lượng độc tố PSP trong 1ml mẫu cho thấy
không có mối tương quan chặt chẽ giữa chúng, cũng tương tự với kết quả nghiên cứu ở
Đồ Sơn tháng quan trắc bắt gặp loài Alexandrium thì hàm lượng độc tố lại thấp (hình
4 9/7/
04 20/7/0
4 5/8/
04 17/8/0
4 17/9/0
4 30/9/0
4 13/10
/04 21/10
/04 9/11/0
4 23/11
/04 5/12/0
4 20/12
/04 12/1/2
00525/1/0
5 5/2/0524/2/0
5 10/3/0
5 18/3/0
5 5/4/
05 28/4/0
5
Thời gian thu mẫu
0 20 40 60 80 100 120 140 160 180 200
Trang 22Đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
chủ yếu dao động trong khoảng vài chục tb/L, trừ tháng 10 và tháng 11 mật độ đạt trên
100 tb/L Kết quả phân tích hàm l−ợng độc tố PSP trong các đợt quan trắc của tháng
10 và tháng 11 lại thấp Đợt có hàm l−ợng độc tố cao nhất đạt 184,92 pg/mL mẫu thì
mật độ chi Alexandrium lại rất thấp, chỉ đạt 40tb/L, có thể đó là loài có khả năng sản
sinh độc tố mạnh hơn
3.2.3 So sánh hàm l−ợng độc tố và khả năng tích luỹ độc tố vi tảo từ tảo đến thân
mềm hai vỏ thuộc hai vùng nuôi trên
Hàm l−ợng độc tố PSP phân tích trong vi tảo biển tự nhiên tại 2 vùng biển Đồ Sơn và Cát Bà (Hải Phòng) rất thấp, không đáng kể Biến động không mạnh trong suốt năm quan trắc tại cả 2 vùng biển, dao động vài chục pg/mL mẫu trừ một vài đỉnh độc
tố đ−ợc hình thành Nh−ng hàm l−ợng độc tố PSP trong vi tảo biển tự nhiên vùng Đồ Sơn thấp và ổn định hơn vùng biển Cát Bà (hình 3.10) Đỉnh hàm l−ợng độc tố cao nhất (184,92 pg/mL mẫu) xuất hiện trong đợt quan trắc I của tháng 9 năm 2004 tại Cát
Trang 23Đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề
xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
khả năng sản sinh ra độc tố này Kết quả phân tích định lượng còn cho thấy tần xuất
bắt gặp các loài Alexandrium tại Cát Bà nhiều hơn Đồ Sơn nhưng mật độ các loài này
tại Đồ Sơn lại cao hơn nhưng không đáng kể Có thể thấy rõ mối tương quan này qua
bảng sau và hình
Bảng 3.3 Biến động hàm lượng độc tố PSP trong tảo biển tự nhiên và mật độ tảo
thuộc chi Alexandrium tại vùng biển Đồ Sơn và Cát Bà (Hải Phòng) năm 2004-2005
Trang 24Đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
điểm này cũng suýt soát thời điểm tạo đỉnh độc tố tại Cát Bà (đầu tháng 9) và Đồ Sơn (đầu tháng 12) cuả năm quan trắc 2004-2005
Tại Đồ Sơn và Cát Bà đều có một bức tranh chung: đợt quan trắc bắt gặp chi
Alexandrium với mật độ cao thì hàm lượng độc tố lại thấp và tháng quan trắc có mật
độ thấp thì hàm lượng độc tố lại cao, điều này có thể do các loài Alexandrium có khả
năng sản sinh độc tố khác nhau và phụ thuộc vào điều kiện môi trường theo không gian và thời gian tại thời điểm quan trắc Kết quả định tính và các nghiên cứu trước
cũng đã cho thấy một số loài Alexandrium như A minutum, A tamiyavanichii, A
ostenfeldii, A tamarese, A leei và A affine đã được quan sát thấy xuất hiện ở cả hai
vùng biển, mặc dù mật độ của chúng rất thấp Sự có mặt thường xuyên của các loài
thuộc chi Alexandrium trong vùng biển nghiên cứu đã chứng tỏ các loài thuộc chi này
là thành viên cơ bản của quần xã thực vật phù du trong hai vùng biển đang nghiên cứu nhưng mật độ rất thấp Hàm lượng độc tố PSP trong vi tảo biển tự nhiên thu tại hai vùng biển này cũng rất thấp, nhưng đây là những bằng chứng cho thấy các loài thuộc
chi Alexandrium được coi như là những đối tượng gây nên sự sản sinh độc tố PSP
trong nước biển và tích luỹ trong thân mềm hai vỏ Cần có những nghiên cứu tiếp theo
để có đủ những bằng chứng khẳng định nguyên nhân sản sinh và gây tích luỹ độc tố
trong tảo Alexandrium và thân mềm hai vỏ
Trang 25Đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
đạt 12,37 ng/mL mẫu) và đỉnh độc tố tại Cát Bà được hình thành vào cuối tháng 8 năm
2004 (hàm lượng đạt 4,28 ng/mL mẫu), thấp hơn 3 lần so với Đồ Sơn
- Nghiên cứu về biến động mật độ của các loài thuộc chi Pseudo-nitzschia cho
thấy mối tương quan không chặt chẽ giữa hàm lượng độc tố ASP và mật độ các loài thuộc chi này ở Đồ Sơn, ở Cát Bà mối tương quan này rõ ràng hơn Đợt quan trắc có
hàm lượng độc tố cao là đợt có mật độ các loài thuộc chi Pseudo-nitzschia thấp , có thể các loài Pseudo-nitzschia có mặt tại thời điểm đó là những loài có khả năng sản
sinh độc tố thấp hoặc không Tuy nhiên vẫn nhận thấy mối tương quan giữa hàm lượng
độc tố ASP với loài cụ thể
- Hàm lượng độc tố PSP trong vi tảo tự nhiên tại Đồ Sơn và Cát Bà cũng rất thấp, dao động từ vài pg đến vài chục pg/mL mẫu Cũng như độc tố ASP, hàm lượng độc tố PSP biến động theo thời gian và không gian trong năm quan trắc Nhìn chung hàm lượng độc tố khá ổn định, dao động không mạnh và thường thấp vào các tháng 5, 6 ở cả hai vùng nghiên cứu Tại Đồ Sơn có một đỉnh độc tố được hình thành vào đầu tháng
12 năm 2004 (hàm lượng đạt 30,62 pg/mL mẫu) và đỉnh độc tố tại Cát Bà được hình thành vào đầu tháng 9 năm 2004 (hàm lượng đạt 184,92 pg/mL mẫu), cao hơn từ 10
Trang 26Đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
4.2 Kiến nghị
- Hàm lượng độc tố ASP và PSP trong tảo biển tự nhiên thu tại vùng biển Đồ Sơn - Cát Bà tuy mới gặp ở mức hàm lượng thấp, nhưng đây là cơ sở cho thấy vi tảo biển là tác nhân gây tích lũy độc tố ASP và PSP trong ĐVTMHMV, trong đó các loài
tảo Pseudo-nitzschia, Alexandrium được xem như là nhóm các loài đóng vai trò chủ
yếu Cần có những nghiên cứu tiếp theo để có đủ những bằng chứng khẳng định khả năng sản sinh độc tố ASP và PSP của các nhóm tảo này
- Nghiên cứu sinh thái các loài tảo độc nhằm tìm hiểu các giai đoạn tảo có thể sản sinh độc tố cao nhất
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện môi trường đến khả năng sản sinh
độc tố của các loài tảo độc trong điều kiện phòng thí nghiệm cũng như ngoài tự nhiên
Trang 27Đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Tài liệu tham khảo
Andersen P., 1996 Design and Implementation of some Harmful Algal Monitoring Systems IOC Technical Series No 44, UNESCO
Bajarias F.F.A., Montojo U M., Relox J., Sato S., Kodama M., Yoshida M and
Fukuyo Y., 2003 Paralytic shellfish poisoning due to Alexandrium minutum Halim
in Northeastern Philippines In Proceedings of the First Joint Seminar 0n Coastal Oceanography, Chiang Mai Nitithamyong, C (ed), p.278, NRCT/JSPS
Chu Văn Thuộc, 2000 Bước đầu nghiên cứu một loài tảo gây hại thuộc chi
Alexandrium Halim (Dynophyceae) ở vùng nước ven bờ phía Bắc Việt Nam Tạp
chí Tài nguyên và Môi trường Biển, tập 7 : trang 207-213 Nhà xuất bản Khoa học
và Kỹ thuật, Hà Nội
Fleming, L.E., J.A Bean & D.G Baden 1995 Epidemiology and public health
Pp 475-487 - In G.M Hallegraeff, D.M Anderson, & A.D Cembella (Eds.)
Manual on Harmful Marine Microalgae: IOC Manuals and Guides No 33
UNESCO
Hallegraeff G.M., Anderson D M and Cembella A.D (Edi), 2004 Manual on Harmful Marine Microalgae UNESCO Publishing 793 pp
Huyen N.T.M., Thuoc C.V., Ogata T., Sato S., Takata Y., Kodama M and Fukuyo Y.,
2006 Seasonal variation of paralytic and amnesic shellfish toxicities in bivalves and microalgae in Haiphong area, Vietnam In Coastal Marine Science 30(1): 000-
000, 2006
Kodama M., Sato S and Shinagawa K., 2003 Japan Patent No 2003 – 12699 Japan Kotaki Y., Koike K., Ogata T., Sato S., Fukuyo Y and Kodama M., 1996 Domoic acid production by an isolate of Pseudo-nitzschia multiseries, a possible cause for
Trang 28Đề tài: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Lam N.N., 2004 An autecological study of the potentially toxic dinoflagellate Alexandrium affine isolated from Vietnamese waters Harmful Algae 3(2): 117-
129
Lim P.T., Leaw C.P and Usup G., 2002 First paralytic shellfish poisoning in the east coast of Peninsula Malaysia Marine Scienece into New Millennium: New perspectives and challenges, Kuala Lumpur, University of Malaya, Maritime Research Center
Shimizu Y., Gupta S., Masuda K., Maranda L., Walker C.K and Wang R., 1989 Dinoflagellate and other microalgal toxins: Chemistry and Biochemistry Pure Appl Chem 61: 513-516
Sournia A (EDS), 1978 Phytoplankton Manual UNESCO
Usup G., Leaw C.P., Lim P.T, and Ahmad A., 2002 Probable toxin producer responsible for the first occurrence of paralytic shellfish poisoning on the east coast of Peninsula Malaysia Malays Appl Biol 31(2): 29-35
Yoshida M., Ogata T., Thuoc C.V., Matsuoka K., Fukuyo Y., Hoi N.C and Kodama M., 2000 The first finding of toxic dinoflagellate Alexandrium minutum in Vietnam Fish Sci 66: 177-179
Trang 29Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Đề tài KC-09-19
-
Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo
trong tảo phù du sống tự nhiên
Thể tích nước thu qua lưới: 400mL
Trang 30Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Đề tài KC-09-19
-
Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ
Trang 31Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Đề tài KC-09-19
-
Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ
Trang 32Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Đề tài KC-09-19
-
Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ
Trang 33Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Đề tài KC-09-19
-
Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ
Trang 34Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Đề tài KC-09-19
-
Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ
Trang 35Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Đề tài KC-09-19
-
Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ
Trang 36Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Đề tài KC-09-19
-
Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ
Trang 37Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Đề tài KC-09-19
-
Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ
Trang 38Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Đề tài KC-09-19
-
Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ
1 1,618
Trang 39Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Đề tài KC-09-19
-
Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ
1 0,318
Trang 40Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Đề tài KC-09-19
-
Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ
1 0,99