Tất cả các đặc điểm, cấu trúc hình thái phục vụ cho định loại chúng đều phải dựa trên kết quả quan sát dưới kính hiển vi quang học chủ yếu là kính hiển vi có sử dụng kỹ thuật tương phản
Trang 1=========000=========
Đề tài cấp nhà nước kc-09-19
“Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu
những tác hại do chúng gây ra”
Chủ nhiệm đề tài: TS Chu Văn Thuộc
Báo cáo chuyên đề
Nghiên cứu phân loại một số loài tảo độc hại bằng kính hiển vi điện tử
Người thực hiện:
TS Chu Văn Thuộc Phòng Sinh vật phù du và Vi sinh vật Biển Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Tel (031) 565 495 Fax (031) 761 521 e-mail: Planktondept@imer.ac.vn
Trang 2
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 1
I Đặt vấn đề
Trong nghiên cứu vi tảo nói chung và vi tảo độc hại nói riêng, việc định tên chính xác các loài có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Vi tảo có kích thức cơ thể rất nhỏ thường chỉ dao động từ một vài mirô-mét đến vài chục micrô-mét Tất cả các đặc điểm, cấu trúc hình thái phục vụ cho định loại chúng đều phải dựa trên kết quả quan sát dưới kính hiển vi quang học (chủ yếu là kính hiển vi có sử dụng
kỹ thuật tương phản ánh sáng huỳnh quang - tạm gọi là kính hiển vi huỳnh quang (fluorescent microscope) và các loại kính hiển vi điện tử, bao gồm kính hiển vi điện tử quét (Scanning Electron Microscope - SEM) hoặc kính hiển vi
điện tử truyền qua (Transmission Electron Microscope - TEM) tuỳ theo nhóm
loài vi tảo định loại Đối với các loài thuộc lớp tảo Giáp (Dinophyceae) có vỏ
xen-lu-lô, việc định loại chủ yếu được thực hiện dưới kính hiển vi huỳnh quang
và kính hiển vi điện tử quét để quan sát cấu trúc bề mặt của vỏ tế bào Trong khi
đó, đối với các loài thuộc lớp tảo Silic (Bacillariophyceae) người ta chủ yếu sử
dụng kính hiển vi quang học với thấu kính pha tương phản và hệ thống thấu kính tương phản vi phân khác hoặc kính hiển vi điện tử truyền qua để quan sát
Báo cáo dưới đây trình bày một số kết quả nghiên cứu trên cơ sở phân tích các mẫu vật đã thu thập được trong thời gian trước đây, cũng như trong quá trình thực hiện đề tài KC-09-19 và đã được phân lập, nuôi cấy, lưu giữ tại phòng thí nghiệm Sinh vật phù du thuộc Viện Tài nguyên và Môi trường Biển Trong quá trình phân tích mẫu vật chúng tôi đã nhận được sự tư vấn, giúp đỡ của các chuyên gia Nhật Bản hiện đang nghiên cứu về vi tảo độc hại, nhất là trong việc
định tên các loài khó định loại Do thời gian có hạn nên số lượng chủng vi tảo
đã phân lập và nuôi cấy thành công trong phòng thí nghiệm còn hạn chế nhưng các kết quả nghiên cứu có được bước đầu cũng đã gợi mở cho những nghiên cứu tiếp theo trong thời gian tới
II Vật liệu và Phương pháp nghiên cứu
Bao gồm các mẫu vi tảo (tổng cộng có 8 loài) đã và đang được nuôi cấy duy trì hoặc lưu giữ tại Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, cụ thể như sau: Chi tảo Prorocentrum có 4 loài, trong đó có 2 loài hiện đang nuôi duy trì (Prorocentrum rhathymum, P micans) và 3 loài (P minimum, P lima và P maculosum) lưu giữ dưới dạng mẫu cố định bằng formalin Các mẫu P maculosum và P lima được phân lập từ các mẫu tảo đáy thu ở một số rạn san hô
Trang 3khu vực Cát Bà (Hải Phòng) Riêng mẫu P minimum thu được do chúng nở hoa
trong ao nuôi Đồ Sơn (Hải Phòng) vào tháng 1/2002
Chi tảo Coolia có 1 loài (Coolia monotis) phân lập được từ các mẫu tảo
đáy thu ở vùng biển Cát Bà, hiện được lưu giữ dưới dạng mẫu cố định bằng formalin
Chi tảo Pseudo-nitzschia có 3 loài, trong đó có 2 loài (P cf delicatissima
và P pungens) hiện đang được nuôi duy trì và 1 loài (P pseudodelicatissima)
lưu giữ dưới dạng mẫu cố định bằng formalin Cả 3 loài tảo trên đều được phân lập từ các mẫu tự nhiên thu ở vùng ven biển Đồ Sơn và Cát Bà trong năm 2004
Các loài vi tảo trên đây là những loài thường gặp phổ biến ở vùng ven biển Việt Nam Theo các dẫn liệu đã công bố trên thế giới, các loài này ít nhiều
có khả năng gây hại do chúng có thể sản sinh các độc tố hoặc bùng phát số phát gây khác hiệu ứng tiêu cực cho môi trường thuỷ vực (sẽ trình bày chi tiết đối với từng loài dưới đây)
Trong quá trình phân tích, chúng tôi đã sử dụng kính hiển vi huỳnh quang hiệu OLYMPUS BX-51 có hệ thấu kính vi phân (DIC) và kèm theo hệ thống máy chụp ảnh kỹ thuật số OLYMPUS - DP 12 thuộc Phòng thí nghiệm Sinh vật phù du, Viện Tài nguyên và Môi trường Biển để quan sát và chụp ảnh hình dạng chung của tế bào vi tảo
Việc phân tích, quan sát hình thái chi tiết và chụp ảnh hiển vi điện tử được tiến hành dưới kính hiển vi điện tử quét hiệu JSM - 5410 LV (Nhật Bản) thuộc Khoa Vật lý chất rắn, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) và kính hiển vi điện tử truyền qua hiệu Jeol JEM 1010 thuộc Phòng Kính hiển vi điện tử, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương tại Hà Nội (Bộ Y tế)
Nhân đây, chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của TS Đỗ Thị Thoa, CN Trần Quang Huy (Phòng Kính hiển vi điện tử, Viện Vệ sinh Dịch
tễ Trung ương), CN Lê Đức Anh (Phòng Kính hiển vi điện tử, Khoa Vật lý chất rắn, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) trong quá trình xử lý mẫu vật và vận hành kính hiển vi điện tử
Trang 4Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 3
III Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1 Lớp tảo Giáp - Dinophyceae
3.1.1 Bộ Prorocentrales Taylor
Họ Prorocentraceae Stein
Chi Prorocentrum Ehrenberg
• Prorocentrum lima (Ehrenberg) Dogde, 1975 (Hình 1)
Synonym: - Cryptomonas lima Ehrenberg; Exuviaella marina Cienkowski; Dinopyxis laevis Stein; Exuviaella lima (Ehrenberg) Butschli; Exuviaella laevis (Stein) Schroder; Exuviaella cincta Schiller; Exuviaella ostenfeldii Schiller; Exuviaella caspica Kiselev; Prorocentrum marinum Dodge
et Bibby
Dưới kính hiển vi quang học, nhìn từ mặt vỏ, tế bào có dạng trứng, phần trên hơi nhỏ và phần dưới phình rộng, dài khoảng 40àm, rộng 25 - 26àm, có một hạt tạo bột khá tròn nằm ở phần trung tâm, phía dưới sát mép vỏ có một nhân lớn Tế bào gồm 2 mảnh vỏ ghép lại, mảnh vỏ bên phải hơi lõm xuống ở
đỉnh, mảnh vỏ bên trái có đỉnh tương đối phẳng và hơi lượn ở mép mặt vỏ có một hàng lỗ chạy dọc với mật độ khoảng 7 lỗ trên 10àm Trên mặt vỏ có các lỗ phân bố rải rác, trừ phần trung tâm của mặt vỏ - nơi có hạt tạo bột - không có lỗ Quan sát dưới kính hiển vi điện tử, các lỗ này có dạng bầu dục hoặc gần tròn
Trong điều kiện nuôi, các tế bào P lima thường xếp thành hàng và tập trung lại
thành từng đám
Phân bố chung: - Trên thế giới, P lima phân bố rất rộng, gặp ở nhiều
vùng khác nhau trên thế giới từ vùng ôn đới đến nhiệt đới Atlantic, Thái Bình dương, Biển Carribe, Australia Chúng sống trên cát, san hô chết, rong biển [Faust và cộng sự, 1999]
- ở Việt Nam, loài P lima thường gặp trong các rạn san hô từ Bắc đến Nam Chúng thường sống bám trên các rong biển lớn, đôi khi ở dạng tự do xung quanh giá thể [Larsen và cộng sự, 2004]; ở miền Bắc đã gặp loài này sống phù
du (trong các mẫu vớt bằng lưới) nhưng chủ yếu chúng sống bám trên rạn san hô thuộc các đảo Bạch Long Vỹ, Hạ Long, Cát Bà, Long Châu, Thượng Mai, Cô Tô, Hải Vân - Sơn Chà [Chu Văn Thuộc, 2002] Trong điều kiện nuôi, các tế bào
P lima thường ít khi chuyển động mà bám vào bề mặt các bình nuôi
Độc tính: Đã phát hiện 4 loại độc tố trong P lima như các đồng phân của
axit okadaic, DTX-1, DTX-4 và prorocentrolide [Faust và cộng sự, 1999]
Riêng các mẫu thu được ở Việt Nam chưa có điều kiện kiểm định, phân tích độc tính
Trang 5• Prorocentrum maculosum Faust, 1993 (Hình 2)
Synonym: Exuviaella maculosum (Faust) McLachlan et Boalch, 1997
Dưới kính hiển vi quang học, nhìn từ mặt vỏ, tế bào có dạng hình trứng, dài khoảng 30 - 40 àm, rộng khoảng 25 - 30 àm Đỉnh tế bào lõm xuống ở mặt
vỏ bên phải Tế bào có một nhân lớn nằm ở trung tâm Về hình dạng tế bào, loài
này rất giống với loài P lima Do vậy, rất khó có thể phân biệt được hai loài P maculosum và P lima khi quan sát dưới kính hiển vi quang học Dưới kính hiển
vi điện tử, bề mặt tế bào tảo P maculosum có các lỗ hình quả thận phân bố rải
rác, trừ khu trung tâm của mặt vỏ không có lỗ Theo Faust và cộng sự (1999), hình dạng lỗ của loài này là đặc điểm quan trọng để phân biệt với loài
Prorocentrum lima (có lỗ hình bầu dục hoặc gần tròn phân bố trên bề mặt vỏ)
Các kết quả quan sát của chúng tôi thấy rằng, mẫu phân tích có cấu trúc lỗ hình quả thận điển hình Mép mặt vỏ có một hàng lỗ chạy dọc, có khoảng 7 lỗ trên 10àm
Phân bố chung: - Trên thế giới, loài P maculosum phân bố ở các vùng
biển thuộc vùng nhiệt đới và á nhiệt đới
- ở Việt Nam, loài này thường phân bố trên các rạn san hô phía Bắc, sống
bám trên rong biển cùng với một số loài tảo sống đáy khác (như Prorocentrum lima, P emarginatum, P concavum, Gambierdiscus spp v.v.) [Chu Văn Thuộc,
2002]
Độc tính: Đã phát hiện có độc tố okadaic acid trong P maculosum [Zhou
and Fritz, 1993] Hiện chưa có điều kiện kiểm định, phân tích độc tính các mẫu thu được ở Việt Nam
Trang 6Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 5
• Prorocentrum rhathymum Loeblich, Sherley et Schmidt Tafall, 1979
(Hình 3)
Synonym: - Prorocentrum maximum Schiller;
Dưới kính hiển vi quang học, nhìn từ mặt vỏ, tế bào của P rhathymum có
dạng trứng không đều, dài 30 - 32,5 àm, rộng 20 - 22,5 àm Nhìn từ phía đai, tế bào có dạng nêm, dày khoảng 13àm, trong khi mảnh vỏ bên phải hơi lượn thì mảnh vỏ bên trái vồng lên hình cánh cung Mảnh vỏ bên phải lõm ở đỉnh, có một tấm lồi lên, khi quan sát dưới kính hiển vi tấm này trông giống như một gai ngắn Mảnh vỏ bên trái hình trái xoan, phần trên hầu như không lõm xuống mà chỉ hơi lượn Mép mặt vỏ tế bào thường dày và không quan sát thấy có các lỗ phân bố trên mép vỏ
Quan sát dưới kính hiển vi điện tử, tế bào có bề mặt vỏ khá trơn, nhẵn, trên đó có hai loại lỗ (lỗ to và lỗ nhỏ) phân bố, trong đó lỗ to thường phân bố rải rác ở phần trên của mặt vỏ, ở phần dưới các lỗ này tập trung lại thành tia xếp theo hình phóng xạ ra mép mặt vỏ Các lỗ nhỏ có số lượng ít, phân bố rải rác, không theo trật tự nhất định
Phân bố chung: - Trên thế giới, loài P rhathymum phân bố ở các vùng
biển thuộc vùng nhiệt đới và á nhiệt đới
- ở Việt Nam: P rhathymum là loài sống nổi gặp khá phổ biến ở vùng ven bờ nhưng đôi khi cũng phát hiện thấy trong các mẫu đáy [Chu Văn Thuộc,
2002] Trong điều kiện nuôi, các tế bào tảo P rhathymum thường bơi rất linh
động, chúng phát triển tốt ở trong điều kiện phòng nuôi có nhiệt độ khoảng
24-27oC, cường độ ánh sáng khoảng 3000 lux
Độc tính: P rhathymum là loài có thể sản sinh độc tố có hoạt tính gây
hoại huyết [Larsen và cộng sự, 2004] Tuy nhiên, việc kiểm định độc tính của
mẫu P rhathymum đã phân lập được ở Việt Nam vẫn chưa được tiến hành.
Trang 7• Prorocentrum micans Ehrenberg, 1834 (Hình 4)
Synonym: - Cercaria sp Michaelis;
- Prorocentrum schilleri Bohm in Schiller;
- Prorocentrum levantnoides Bursa;
- Prorocentrum pacificum Wood)
Dưới kính hiển vi quang học, nhìn từ mặt vỏ, tế bào hình trái xoan, tròn ở phía trên, thuôn nhọn ở phía dưới, dài 35 - 40 àm, rộng 25 - 30 àm Nhìn từ phía
đai, tế bào dày khoảng 25 àm, hai mảnh vỏ tế bào cong đều úp vào nhau Phần
đai trơn và không có các lỗ Mảnh vỏ bên phải hơi lõm ở đỉnh, có một tấm đỉnh nhô lên trong giống như một cái gai dài khoảng 10 àm, ngoài ra có thể có 1-2 gai ngắn, tuy nhiên các gai này chỉ có thể nhìn thấy dưới kính hiển vi điện tử Mảnh vỏ bên trái hầu như không lõm
Quan sát dưới kính hiển vi điện tử, bề mặt vỏ tế bào có cấu trúc hoa văn, ngoằn ngoèo và có hai loại lỗ phân bố rải rác, trong đó loài lỗ nhỏ chỉ có thể nhìn thấy ở độ phóng đại lớn Loại lỗ to phân bố theo hai cách: nửa phía trên của mặt vỏ có các lỗ nằm rải rác, nửa dưới các lỗ sắp xếp hình phóng xạ hướng ra mép vỏ Phần trung tâm mặt vỏ không gặp loại lỗ to mà chỉ gặp một số lỗ loại nhỏ phân bố thưa thớt
Phân bố chung: - Trên thế giới, P micans phân bố ở vùng ven bờ, cửa
sông từ ôn đới tới nhiệt đới
- ở Việt Nam, loài này phân bố quanh năm ở vùng ven biển nước ta và đã
đạt mật độ khá cao ở vùng ven biển Hải Phòng - Quảng Ninh [Chu Văn Thuộc,
2002] Trong điều kiện nuôi, tảo P micans bơi rất linh động và phát triển tốt ở
khoảng nhiệt độ 24-27oC, cường độ ánh sáng 3000 lux
Độc tính: là loài tảo gây nên các hiệu ứng thiếu ôxy trong thuỷ vực khi
phát triển ở mật độ cao [Faust và cộng sự, 1999]
Trang 8Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 7
• Prorocentrum minimum (Pavillard) Schiller, 1933 (Hình 5)
Synonym: - Prorocentrum mariae-lebourae (Parke & Ballantine) Loeblich;
- Prorocentrum triangulatum Martin;
- Exuviaella mariae-lebourae Parke & Ballantine;
- Prorocentrum cordiformis Bursa
Tế bào nhỏ, dẹp, nhìn từ mặt vỏ tế bào hình trứng rộng hoặc tam giác tròn, dài 20 - 22,5 àm, rộng 17 - 20 àm Phần đỉnh hơi lồi lên và có thể nhìn thấy 1-2 gai ngắn Mảnh vỏ bên phải lõm xuống ở đỉnh, mảnh vỏ bên trái khá bằng phẳng Trên mặt vỏ có nhiều gai rất nhỏ bao phủ, quan sát dưới kính hiển
vi điện tử các gai này nhọn ở đầu
Phân bố chung: - Trên thế giới, loài này thường phân bố ở vùng cửa sông
từ ôn đới tới nhiệt đới Loài P minimum thường nở hoa ở vùng ôn đới [Kimor và
cộng sự, 1985; Witek và cộng sự, 2000]
- ở Việt Nam, loài này phân bố rất rộng, có thể gặp chúng ở các vùng
ngoài khơi đến cửa sông và đầm nước lợ, cụ thể là đã thu được mẫu P minimum
ở vùng biển Bạch Long Vỹ, Hạ Long, Đồ Sơn, Văn Lý, Thừa Thiên - Huế; thậm trí phát triển với mật độ rất cao trong một số ao nuôi Đồ Sơn, Tiên Lãng (Hải Phòng) [Chu Văn Thuộc, 2002]
Độc tính: Là loài tảo độc gây chết cá và các loài hải sản khác Bản thân P minimum có thể sản sinh độc tố [Faust và cộng sự, 1999]
Trang 93.1.2 Bộ Gonyaulacales Taylor
Họ Goniodomaceae Limdemann
Chi Coolia Meunier
Synonym: - Ostreopsis monotis Schiller, 1933
Tế bào nhỏ và có hình thấu kính Nhìn từ mặt bụng, tế bào hình trứng lệch sang trái Nhìn từ đỉnh tế bào hình trứng rộng thuôn dần về phía bụng Chiều dài lưng-bụng 25 - 30 àm, rộng khoảng 27-28 àm, dày khoảng 25àm Rãnh ngang hẹp, sâu Hai đầu của rãnh ngang lệch nhau một khoảng bằng chiều cao của rãnh Nửa trên của tế bào thấp hơn nửa dưới một chút Rãnh dọc hẹp, lõm xuống
và được bao phủ bởi các cánh nhô ra từ cả hai phía Theo Fukuyo (1981) công thức sắp xếp các tấm vỏ tế bào loài này là: Po, 3', 7'', 5''', 1'''' Sự sắp xếp các tấm
ở phần vỏ trên rất giống với sự sắp xếp của chi Ostreopsis [Fukuyo, 1981] Tấm
lỗ đỉnh khác thường dài xấp xỉ 10 àm, nằm ở phần lưng lệch về phía trái, và có một khe giống như lỗ Tấm 1' lớn và chiếm hầu hết phần lưng phía trái Tấm 3' nhỏ, hình 5 cạnh Tấm 3''' lớn nhất, chiếm phần chủ yếu của phần dưới tế bào và kéo dài theo hướng lưng - bụng Tất cả các đường khớp của các đều sắp xếp phóng xạ xuất phát từ rãnh dọc Nhiều hạt sắc tố màu nâu vàng Các tấm vỏ dầy, trên bề mặt có các lỗ nhỏ phân bố rải rác Dưới kính hiển vi điện tử, các lỗ này
có dạng hình tròn
Phân bố chung: - Trên thế giới, Coolia monotis là loài nước lợ, phân bố
rộng khắp từ vùng ôn đới đến nhiệt đới Là loài sống đáy, bám đáy và nhưng có thể gặp chúng sống phù du [Tomas, 1997]
- ở Việt Nam, đã gặp loài này phân bố trên các rạn san hô thuộc đảo Bạch Long Vỹ, Cát Bà, Long Châu, Cô Tô, Thượng Mai, Hải Vân - Sơn Chà [Chu
Văn Thuộc, 2002] Trong điều kiện nuôi, bên cạnh các tế bào tảo C monotis
thường bơi rất linh động, bên cạnh đó có thể gặp các tế bào sống bám trên bề mặt lọ thí nghiệm
Độc tính: là loài sinh độc tố cooliatoxin có thể gây ngộ độc ciguatera
[Tomas, 1997] Các mẫu thu ở Việt Nam vẫn chưa được kiểm định độc tính
Trang 10Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 9
3.2 Lớp tảo Silic - Bacillariophyceae
Bộ Bacillariales
Họ Bacillariaceae Ehrenberg
Chi Pseudonitzschia H Peragallo
• Pseudo-nitzschia pseudodelicatissima (Hasle) Hasle, 1993 (Hình 7)
Basionym: - Nitzschia pseudodelicatissima Hasle, 1976
Synonym: - Nitzschia delicatissima Hasle, 1965
Quan sát dưới kính hiển quang học, tế bào có dạng hình que, hai đỉnh thuôn nhọn Tế bào dài khoảng 78 - 83àm; rộng khoảng 3,5 - 5àm Các tế bào thường tạo thành chuỗi dài tới vài chục tế bào và gối lên nhau ở hai đầu tế bào Phần gối thường ngắn, chỉ khoảng 5 - 7,5àm Quan sát dưới kính hiển vi điện tử
có thể thấy rõ nhiều dải lỗ rây chạy ngang trục tế bào, mỗi dải chỉ có một hàng
lỗ Số dải xen trong 10 àm là 34 dải
Phân bố chung: - Trên thế giới, đây là loài ven bờ, phân bố toàn cầu
- ở Việt Nam: Loài này rất phổ biến ở vùng cửa sông ven biển, chúng
thường xuất hiện cùng với loài P pungens với mật độ khá cao vào các tháng từ
tháng 1 đến tháng 4 ở vùng ven bờ phía Bắc [Chu Văn Thuộc và cộng sự, 2004]
Trong điều kiện nuôi thí nghiệm, tảo P pseudodelicatissima phát triển tốt,
thường tạo thành các chuỗi dài tới vài chục tế bào và nhanh chóng đạt tới đỉnh sinh trưởng trong phòng nuôi có điều kiện nhiệt độ 24-27oC, cường độ ánh sáng
khoảng 3000Lux Tương tự như loài P pungens, sau khi đạt tới đỉnh sinh trưởng
chúng bị suy thoái dần và thường gặp ở dạng tế bào đơn độc Các tế bào tảo này thường sống bám hoặc di chuyển theo cách trượt trên bề mặt đáy hoặc trôi nổi khi tảo phát triển ở mật độ dày
Độc tính: Đã phát hiện loài P pseudodelicatissima sản sinh độc tố [Skov
và cộng sự, 1999] Tuy nhiên, mẫu phân lập được ở vùng ven bờ phía Bắc Việt
Nam chưa phát hiện khả năng sinh độc tố
Trang 11• Pseudo-nitzschia pungens (Grunow ex P.T Cleve) Hasle, 1993 (Hình 8)
Synonym: - Nitzschia pungens Grunow ex P.T Cleve 1897
Dưới kính hiển vi thường, tế bào có dạng que nhọn hai đầu Trong các mẫu đã phân lập và nuôi trong phòng thí nghiệm, tế bào dài khoảng 92 - 101àm, rộng khoảng 3,7 - 5àm Tế bào thường tạo thành các chuỗi dài tới vài chục tế bào Các tế bào gối lên nhau ở đầu với chiều dài của phần gối nhau chiếm khoảng 1/4 đến xấp xỉ 1/3 chiều dài tế bào (khoảng 25 - 27,5àm) Quan sát dưới kính hiển vi điện tử, trên mỗi dải lỗ cắt ngang trục tế tế bào có 2 hàng lỗ rây Số dải xen trong 10àm là 14
Phân bố chung: - Trên thế giới, đây là loài ven bờ, phân bố toàn cầu
- ở Việt Nam: Loài này rất phổ biến ở vùng cửa sông, ven biển Việt Nam Theo Larsen và cộng sự (2004), loài gặp ở nhiệt độ nước từ 20-32oC và độ muối 14,5 - 34,5%o Theo công bố trước đây của Trương Ngọc An (1993), tảo
Nitzschia pungens (= Pseudo-nitzschia pungens) rất phổ biến ở vùng ven bờ
Việt Nam và đôi khi xuất hiện với mật độ cao Các kết quả khảo sát gần đây cho thấy, chúng thường xuất hiện với mật độ cao vào các tháng từ tháng 1 đến tháng
3 ở vùng ven bờ phía Bắc Tảo P pungens phát triển tốt tạo thành các chuỗi dài
tới vài chục thậm trí tới hàng trăm tế bào/chuỗi và nhanh chóng đạt tới đỉnh sinh trưởng trong phòng nuôi có điều kiện nhiệt độ 24-27oC, cường độ ánh sáng khoảng 3000 lux Sau khi đạt tới đỉnh sinh trưởng chúng bị suy thoái dần và thường gặp ở dạng tế bào đơn độc Các tế bào tảo này thường sống bám hoặc di chuyển theo cách trượt trên bề mặt đáy hoặc trôi nổi khi tảo phát triển ở mật độ dày
Độc tính: Người ta đã phát hiện thấy loài P pungens sản sinh độc tố domoic acid [Skov và cộng sự, 1999] Kết quả phân tích mẫu tảo P cf pungens
đã phân lập từ vùng ven biển Giao Thuỷ (Nam Định) cho thấy, chúng có chứa
độc tố domoic acid với hàm lượng từ 0,38 đến 0,43 pg/tế bào (trung bình là 0,45 pg/tế bào) [Chu Văn Thuộc và cộng sự, 2004] Tuy nhiên, chưa phát hiện khả năng sinh độc tố ở một số mẫu phân lập được ở vùng ven bờ Hải Phòng Nguyên nhân hiện chưa rõ, nhưng theo một số chuyên gia, khả năng sinh độc tố cũng
như hàm lượng độc tố trong tảo Pseudo-nitzschia bị thay đổi tuỳ theo điều kiện
môi trường
Trang 12Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 11
• Pseudo-nitzschia cf delicatissima (P.T Cleve) Heiden, 1928 (Hình 9)
Synonym: - Nitzschia delicatisima P T Cleve 1897
- Nitzschia actydrophila Hasle 1965
Dưới kính hiển vi quang học, tế bào có dạng hình que ngắn, thuôn dần về hai đầu, đỉnh tế bào tù Trong điều kiện nuôi, kích thước tế bào của loài này tương đối ổn định, dài khoảng 35àm, rộng khoảng 2,5àm Các tế bào có thể sống đơn độc hoặc tạo thành chuỗi vài tế bào gối lên nhau một đoạn khoảng 1/7
đến 1/10 chiều dài tế bào [Skov và cộng sự, 1999], chưa gặp các chuỗi có vài chục tế bào ngay cả trong điều kiện nuôi
Dưới kính hiển vi điện tử, có thể nhìn rõ hai hàng lỗ rây, số lượng lỗ rây trên 1àm có khoảng 8-9 lỗ Số cầu rãnh trong 10àm là 26
Phân bố chung: - Trên thế giới, đây là loài ven bờ, phân bố toàn cầu
- ở Việt Nam: Loài này phân bố ở vùng cửa sông, ven biển Việt Nam
Theo Larsen và cộng sự (2004), loài P delicatissima được tìm thấy ở nhiệt độ
24-28oC và ở độ muối 25 - 30%o Kết quả nuôi thử nghiệm trong phòng thí nghiệm cho thấy, chúng phát triển tốt ở nhiệt độ 24 - 25oC, cường độ ánh sáng khoảng 3000 lux Tuy nhiên chúng thường nhanh tàn luị do thời gian đạt tới sinh
trưởng ngắn Các tế bào của tảo P delicatissima thường sống cố định hoặc di
chuyển trượt trên bề mặt đáy lọ thí nghiệm, ở mật độ nuôi dày, một số tế bào sống lơ lửng trong nước
Độc tính: Là loài sản sinh độc tố domoic acid [Skov và cộng sự, 1999]
Tuy nhiên kết quả phân tích các mẫu đã phân lập ở vùng ven bờ Việt Nam chưa phát hiện thấy độc tố, có thể là do nuôi trong điều kiện ánh sáng yếu đã ảnh hưởng đến khả năng sản sinh độc tố Vấn đề này cần phải tiếp tục nghiên cứu