Những hoạt động tự phát của nghề nuôi trồng biển là một trong những tác nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi trường - Các chất thải hữu cơ từ nguồn thức ăn dư thừa có thể chứa các mầm bệnh, các
Trang 1Viện khoa học và công nghệ việt nam
Viện hải dương học
=========000=========
Đề tài cấp nhà nước kc-09-19 “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng
nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp
phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Chủ nhiệm đề tài: TS Chu Văn Thuộc
Báo cáo chuyên đề
hàm lượng một số độc tố vi tảo trong nghêu và vẹm xanh tại một số khu vực nuôi trọng điểm
miền trung và nam việt nam
đào việt hà viện hải dương học
6132-18
02/10/2006
nha trang –12/2004
Trang 2HÀM LƯỢNG MỘT SỐ ĐỘC TỐ VI TẢO TRONG NGHÊU MERETRIX
LYRATA VÀ VẸM XANH PERNA VIRIDIS TẠI MỘT SỐ KHU VỰC
NUÔI TRỌNG ĐIỂM MIỀN TRUNG VÀ NAM VIỆT NAM
Đào Việt Hà – Viện Hải Dương Học
MỞ ĐẦU
Gần đây, việc nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi các loài hai mảnh vỏ nói riêng đã và đang phát triển rầm rộ ở nhiều địa phương ven biển nứơc ta Điều này đã đóng góp vào việc phát triển ngành kinh tế biển, phục vụ cho nhu cầu thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước, tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống cho nhiều hộ cư dân ven biển Tuy nhiên, việc khai thác quá mức nguồn lợi hải sản ven bờ, phát triển nghề nuôi trồng thủy sản không theo qui hoạch, phát triển du lịch không bền vững, phát triển giao thông vận tải biển, công nghiệp, khu dân cư ven biển… mà không có các qui hoạch hợp lý cũng như các biện pháp quản lý hữu hiệu của nhà nước về môi trường sẽ làm môi trường biển ngày càng bị suy thoái Những hoạt động tự phát của nghề nuôi trồng biển là một trong những tác nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi trường - Các chất thải hữu cơ từ nguồn thức ăn dư thừa có thể chứa các mầm bệnh, các hóa chất (và các sản phẩâm sinh học khác được sử dụng trong quá trình nuôi) cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự ô nhiễm, tạo điều kiện cho sự xuất hiện và bùng
nổ của các loài vi tảo độc hại Trong trường hợp này, các loài thân mềm hai mảnh vỏ là đối tượng trung gian chính để gây ra hiện tượng ngộ độc do các độc
tố tảo ở con người và các sinh vật bậc cao khác (chim biển, thú biển…) (Shumway, 1990; Shumway et al., 1995; Bricelj & Shumway, 1998 ; Thorarinsdottir, 1998 ) Đồng thời, sự bùng nổ của các loài vi tảo độc hại còn gây ra những hậu quả xấu cho hệ sinh thái biển, là nguyên nhân dẫn đến cái chết hàng loạt của một số loài tôm, cá biển (Tufts, 1979)…
Hiện nay, ở nước ta, kiểm định chất lượng hai mảnh vỏ về mặt độc tố vi tảo mới chỉ được tiến hành đối với một số lô hàng xuất khẩu nhất định Việc nghiên cứu, điều tra sự có mặt, tích lũy của những độc tố vi tảo nguy hiểm (độc tố PSP, DSP, ASP) có mặt trong đối tượng hai mảnh vỏ chưa được theo dõi một cách định kỳ tại các khu vực nuôi Do đó, đây là một trong những nghiên cứu bước đầu tập trung theo dõi hàm lượng các độc tố vi tảo trong loài Nghêu (Meretrix lyrata) và Vẹm xanh Perna viridis – Là những loài có giá trị và sản lượng xuất khẩu khá cao tại các tỉnh miền Trung và Nam nước ta, nhằm góp phần cung cấp những dẫn liệu khoa học cho các nhà quản lý biển, nhằm tránh những thiệt hại kinh tế và góp phần bảo đảm an toàn sức khỏe cộng đồng
Trang 3I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Các loài vi tảo độc hại có thể chia thành 03 nhóm khác nhau: Nhóm thứ nhất có khả năng sản sinh các độc tố có thể tích lũy trong các sinh vật biển hoặc làm chết cá Nhóm thứ hai là các loài có khả năng phát triển với mật độ tế bào cao, dẫn đến hiện tượng thiếu oxygen cho nhiều sinh vật khác Nhóm thứ ba bao gồm một số loài vi tảo có cả hai khả năng trên
Một trong những tác hại chính từ sự nở hoa của các loài vi tảo là chúng gây ra hiện tượng ngộ độc ở con người thông qua việc tiêu thụ các sinh vật hai mảnh
vỏ Trong trường hợp này, có thể chỉ cần mật độ tế bào tảo khá thấp cũng có thể dẫn đến biểu hiện bệnh lý hoặc tử vong của con người Các loài hai mảnh vỏ như sò, vẹm, hàu hoặc điệp là bọn ăn lọc trực tiếp các loài vi tảo trong đó có các loài vi tảo độc, bằng con đường này, chúng có khả năng tích lũy độc tố vi tảo trong cơ thể với một thời gian dài nhưng không hế gây ra hiệu ứng độc với bản thân chúng Nhưng các độc tố được tích lũy này lại là một mối nguy hại lớn cho con người hoặc các sinh vật khác khi tiêu thụ hai mảnh vỏ bị nhiễm độc tố (Thorarinsdottir 1998)
Dựa vào biểu hiện khi ngộ độc, các độc tố được đặt tên là paralytic, diarrhetic, neurotoxic and amnesic shellfish poisoning (PSP, DSP, NSP and ASP) Ngoài
ra, một loại độc tố khác-ciguatera fish poisoning (CFP) sản sinh từ một số loài tảo giáp sống bám đáy trên bề mặt cửa nhiều quần xã san hô
1 Nguồn gốc, bản chất và hiệu ứng sinh học của độc tố vi tảo
Dựa theo các triệu chứng ngộ độc lâm sàng, các độc tố vi tảo này được đặt tên như sau:
Độc tố gây tê liệt (Paralytic Shellfish Poisoning – PSP)
Độc tố gây tiêu chảy (Diarrhetic Shellfish Poisoning – DSP)
Độc tố gây mất trí nhớ tạm thời (Amnesic Shellfish Poisoning – ASP)
Độc tố gây tắc nghẽn kênh trao đổi ion Na+ của tế bào thần kinh (Neurotoxic phenomena – NSP và Ciguateric fish poisoning – CFP)
1.1 Độc tố gây tê liệt (Paralytic shellfish poisoning - PSP):
PSP là hiện tượng ngộ độc của con người gây ra do tiêu thụ các sinh vật có vỏ (chủ yếu là bọn hai mảnh vỏ -HMV) đã bị nhiễm độc tố của các loài vi tảo (chủ
yếu là bọn tảo giáp thuộc các giống như Alexandrium, Pyrodinium, và
Gymnodinium) (Hashimoto & Noguchi 1989) Ngoài ra, một số loài tảo lam
sống nước ngọt {Carmichael, Ahmood, et al 1990 ID: 38}, tảo calcareous red macroalgae và có thể một số loài vi khuẩn biển {Kodama, Ogata, et al 1990 ID: 39} cũng sản sinh loại độc tố thần kinh này Độc tố PSP không chỉ tìm thấy ở
Trang 4trong các sinh vật HMV ăn lọc mà còn ở cả cua, ốc, cá ngừ và các loài cá ăn thực vật khác nữa
Độc tố PSP có bản chất là Saxitoxin và khoảng hơn 20 dẫn xuất - Các hợp chất
này tan trong nước và hầu hết đều bền nhiệt (Baden et al 1993) Saxitoxin và
các dẫn xuất khác phong bế kênh Na+ của tế bào thần kinh, ngăn cản sự truyền xung thần kinh và do đó chúng gây ảnh hưởng đến cả hoạt động thần kinh và
các phản ứng của hệ cơ (Baden et al 1993)
Triệu chứng ngộ độc thường xuất hiện khoảng 5 –90 phút sau khi ăn, với cảm giác ban đầu là bỏng rát ở lưỡi và miệng, lan toả đến vùng hầu và cổ họng; ngứa
và đau như kim chích ở đầu ngón tay, ngón chân Tiếp theo đó là cảm giác nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, nôn và có thể tiêu chảy Trong trường hợp nghiêm trọng, quá trình liệt cơ xuất hiện, đặc biệt biểu hiện rõ nhất là liệt cơ hô hấp gây
ra triệu chứng phát âm và hô hấp khó khăn Nạn nhân ngộ độc nặng có biểu hiện như bị kích động và hiện tượng tử vong do liệt cơ hô hấp có thể xảy ra trong vòng 2-24 giờ sau khi ăn Tỉ lệ tử vong gây ra do độc tố PSP là khoảng 1-14%, có thể lên tới 20% nếu như không được cấp cứu kịp thời Tuy nhiên, biện pháp chữa trị chỉ là hỗ trợ hô hấp, tăng cường sức chống chịu của người bệnh Giới hạn an toàn của độc tố PSP là 80 µg/100 g thịt HMV (Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới), hoặc 40 µg/100 g (ở Philippine, Đức){Hallegraeff 1995 ID: 1}
1 2 Độc tố gây tiêu chảy (Diarrhetic shellfish poisoning - DSP):
Độc tố DSP gây nên triệu chứng ngộ độc ở hệ tiêu hóa, độc tố này có nguồn gốc
từ bọn vi tảo giáp sống trôi nổi hoặc sống đáy, phần lớn thuộc giống Dinophysis
và giống Prorocentrum (Yasumoto, wt.al 1985), Lee et al 1989) Độc tố DSP
là chuỗi polyether tan trong chất béo(QUlliam & Wright 1995) Độc tố này bao gồm các nhóm Okadaic acid (OA), dinophysistoxin (DTX 1, 2, 3),
pectenotoxins (Yasumoto et al 1985) và nhóm yessotoxin (Murata et al 1987)
Okadaic acid là chất ức chế serin/threonine phosphatase, là nhóm enzyme quan trọng, cần thiết, có mối tương quan chặt chẽ với nhiều quá trình trao đổi chất chủ yếu trong tế bào, Và vì vậy, sự rối loạn của các enzyme phosphatase này thông qua sự tăng quá trình phosphoryl hóa sẽ ảnh hưởng đối với hàng loạt các
quá trình chuyển hóa tiếp theo (Bialojan &Takai 1988, Haystead et al 1989)
gây ra sự rối loạn tiêu hóa ở dạ dày và ruột Ngoài ra, pectentoxin (PTX 1- 4) gây hoại tử gan, yessentoxin (YTX) ảnh hưởng cơ tim Đáng chú ý là sự nhiễm độc lâu dài có thể là tác nhân kích thích sự phát triển của các tế bào u, ung thư của hệ tiêu hóa
Các triệu chứng ngộ độc ở người thường xuất hiện khoảng 30 phút đến vài giờ sau khi ăn, bao gồm đau như bị chuột rút ở vùng bụng, tiêu chảy, nôn mửa – Và thường hồi phục sau 3 ngày Ở liều 14 MU, độc tố này gây ra ngộ độc nhẹ cho người, xác suất các triệu chứng ngộ độc là tiêu chảy 92%, buồn nôn 80%, nôn
Trang 5mửa 79% và đau thắt vùng bụng 53% Liều tối thiểu gây tiêu ch3y ở người lớn của okadaic acid và DTX-1 là khoảng 40 đến 36 µg Tiêu chuẩn an toàn đối với độc tố DSP trong sinh vật có vỏ có thể từ mức độ không thể phát hiện được (Denmark, Germany, Italy, The Netherlands, Spain, và Portugal) cho đến 20 µg/100 g thịt hoặc 2 µg/100 g nội quan (Japan, Korea, and Norway), hoặc
40-60 µg/100 g ở Sweden (Hallegraeff, 1995)
1.3 Độc tố gây mất trí nhớ tạm thời (Amnesis shellfish poisoning – ASP):
ASP là triệu chứng ngộ độc của người khi tiêu thụ hai mảnh vỏ bị nhiễm độc tố
domoic acid từ các loài tảo silic thuộc giống Pseudo-nitzchia Domoic acid là
một hợp chất bền nhiệt, tan trong nước, nhưng lại không bền pH,ï có tính chất đặc trưng của nhóm amino acid
Domoic acid hoạt động như một chất cạnh tranh mạnh mẽ của glutamic acid - nó bịt kín điểm tiếp nhận glutamate của tế bào thần kinh với ái lực hóa học rất mạnh Triệu chứng ngộ độc ở người thường gặp 4 h sau khi ăn (hoặc có thể sau 72h) bao gồm buồn nôn, nôn mửa, rối loạn dạ dày, chảy máu dạ dày và tiêu chảy (Triệu chứng ở hệ tiêu hóa) Tiếp theo là các triệu chứng ngộ độc thần kinh như chóng mặt, yếu, nhầm lẫn, ngủ lịm đi, hôn mê, lên cơn, và hội chứng mất trí nhớ tạm thời (Quilliam & Wright, 1995) Giới hạn an toàn đối với domoic acid là 20 µg/g mô (Hallegraeff, 1995)
1 4 Độc tố thần kinh (Neurotoxic shellfish poisoning – NSP):
NSP (đôi khi còn gọi là BSP-Brevetoxin shellfish poisoning) là hiện tượng ngộ
độc bởi các loài hai mảnh vỏ nhiễm độc tố từ loài vi tảo Gymnodinium breve
Loài vi tảo này là tác nhân gây ra cái chết của hàng loạt cá, sự nhiễm độc của các sinh vật có vỏ mà nếu ăn phải chúng, con người sẽ bị ngộ độc NSP Ngoài
ra, loài vi tảo này còn có thể gây ra triệu chứng giống như là hen suyễn cho người nếu như hít phải
Độc tố NSP là hợp chất polyether vòng tan trong chất béo, được phân ra làm 2
dạng cấu trúc chính gồm 9 hợp chất khác nhau (Shimizu et al 1986) Độc tố
NSP gây hiệu ứng độc do sự gắn kết của nó tại vị trí đặc biệt (vị trí số 5) trên kênh trao đồi Na+ gây ra sự hoạt hóa làm tăng dòng ion Na+ dẫn đến hiện tượng kích hoạt tế bào, làm tăng dòng ion Na+ đi vào tế bào, dẫn đến phá vỡ cân bằng điện giải
Độc tố này vượt trội hơn tất cả các độc tố biển khác về liều chết đối với chuột thí nghiệm (0.13 µg/kg) và chúng tác động đến hệ thống miễn dịch của cơ thể Triệu chứng ngộ độc ở người bao gồm ngứa và nóng rát ở môi, lưỡi, họng và hầu, đau nhức cơ, rối loạn dạ dày và chóng mặt, hoa mắt Thường sự ngộ độc này không dẫn đến tử vong, các triệu chứng thường bắt đầu và kéo dài trong vài giờ hoặc vài ngày Giới hạn an toàn cho brevetoxins là 80 µg/100 g hai mảnh vỏ
ở tất cả các quốc gia trên thế giới (Hallegraeff, 1995)
Trang 61 5 Độc tố CFP (Ciguateric fish poisoning):
CFP là hội chứng ngộ độc cấp tính ở người do ăn phải các loài cá sống ở rạn san
hô và quanh các đảo có tích lũy độc tố từ bọn vi tảo sống rặng như
Gambierdiscus toxicus và một số loài tảo sống đáy khác Độc tố CFP là chuỗi
polyether vòng có thể tan trong nước (nhóm Maitotoxins) hoặc tan trong lipid (nhóm Ciguatoxins) Nhóm độc tố tan trong nước gây ra sự mở kênh Na+ nên tăng cường tính thấm của màng đối với ion Na+; ảnh hưởng đến dạ dày, thần kinh và tim mạch Nhóm không tan trong nước (CTX và những dẫn xuất) tạo ảnh hưởng lên kênh Ca++ trên màng tế bào, dẫn đến sự co thắt cơ trơn màng ruột
(Murata et al 1991)
2 Sự tích lũy sinh học:
Nhiều loài vi tảo đã được khẳng định hoặc nghi ngờ là nguồn gốc sinh ra các độc tố Hầu hết các loài vi tảo độc này sống trong môi trường biển và nước lợ, thuộc ngành tảo giáp; ngoài ra, tảo si líc, tảo đỏ, tảo xanh lam và tảo roi bám cũng có thể chứa độc tố Các độc tố vi tảo có thể gây nguy hại trực tiếp cho hệ thực vật và hệ động vật khác, hoặc chúng có thể tích lũy trong các sinh vật thông qua chuỗi thức ăn như hai mảnh vỏ, bọn cá xương, và thông qua đó sẽ gây nguy
hại cho các loài động vật ăn thịt trong đó bao gồm cả con người (Backer et al
2003, Hallegraeff 2003, Landsberg 2002)
Hàm lượng độc tố cao nhất trong tế bào tảo có thể bắt gặp ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau ở các loài tảo khác nhau Ví dụ như ở một loài tảo giáp
Alexandrium, hàm lượng độc tố cao nhất là ở giai đọan tăng trưởng hàm số mũ
(Cembella 1998 và các tài liệu trích dẫn liên quan), trong khi đó, ở tảo si líc
Pseudo-nitzschia, độc tố đựơc sản sinh chủ yếu ở giai đoạn ổn định (Bates 1998,
and references therein) Ngoại trừ trường hợp đặc biệt, dường như tế bào tảo của
loài Prorocentrum cordatum chỉ độc ở giai đoạn sau ổn định và giai đoạn tàn
lụi
Mặt khác, trong cùng một loài tảo nhưng chúng có thể rất độc, độc, hoặc không độc, tùy theo phân bố tại các vùng địa lý khác nhau, ví dụ như ở các loài tảo
giáp Alexandrium (Cembella 1998), Gynodinium catanetum (Oshima et al 1993), và các loài tảo si líc Pseudo-nitzchia (Bates et al 1998) Chính vì vậy,
những loài được bắt gặp trong khảo sát hiện nay tại vùng biển ven bờ Việt Nam, mặc dù chúng được coi là loài độc ở những vùng biển khác nhưng không thể khẳng định là loài độc tại Việt Nam– Ở đây sẽ gọi là những loài có khả năng gây độc Một vài loài đã được kiểm chứng là loài độc, và cần phải có những nghiên cứu tiếp tục để xác định rõ những loài nào trên thực tế thực sự độc ở vùng biển Việt Nam
Con đường chính mà độc tố vi tảo có thể gây ảnh hưởng cho con người và các sinh vật biển bậc cao khác (chim biển, thú biển…) là sự tích lũy trong
Trang 7nhuyễn thể (chủ yếu là các loài hai mảnh vỏ) và một số sinh vật khác như cua,
cá ăn thực vật Các sinh vật nhuyễn thể sử dụng các vi tảo (trong đó có thể có các loài vi tảo độc) như là nguồn thức ăn chính của chúng trong tự nhiên và tích lũy độc tố mà không hề có biểu hiện bệnh lý nào Nhưng khi con người và các sinh vật bậc cao khác ăn phải những loài nhuyễn thể đã tích lũy một hàm lượng độc tố nhất định nào đó, sẽ có triệu chứng nhiễm độc và có thể dẫn đến tử vong Hàm lượng độc tố tích lũy trong các loài nhuyễn thể cũng rất khác nhau, phụ thuộc vào khả năng tích lũy, lưu giữ và tốc độ đào thải của từng loài Theo Bricilj & Shumway (1998) và Shumway (1994), tốc độ tích lũy độc tố của các loài nhuyễn thể ăn lọc có liên quan đến số lượng tế bào vi tảo thích hợp với chúng; trong khi đó, tốc độ đào thải độc tố này lại phụ thuộc vào bộ phận mà chúng lưu giữ độc tố trong cơ thể Ví dụ như độc tố được tích lũy trong hệ tiêu
hóa (như ở giống vẹm Mytilus) sẽ được đào thải nhanh hơn độc tố lưu giữ trong các mô cơ (như ở các giống Placopecten, Spisula, Saxidomus) Trong các loài hai mảnh vỏ, vẹm (Mytilus spp., Modiolus spp., Perna spp…) được xem như là
nhạy cảm nhất với độc tố PSP không chỉ ở khả năng tích lũy nhanh mà còn ở khả năng tự đào thải nhanh (trong khoảng 2 tuần) so với các loài khác Do đó,
vẹm xanh (Mytilus edulis, Perna viridis) được dùng làm sinh vật chỉ thị trong
chương trình giám sát môi trường về tảo độc ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Trong khi đó, một số loài sò và hàu lại có khả năng lưu giữ độc tố rất lâu trong các mô của cơ thể (có thể đến 2 năm) (Shumway & Cembella, 1993; Shumway, 1994) Nhìn chung, khả năng tích lũy độc tố phụ thuộc vào đặc điểm sinh học và cơ chế trao đổi chất của từng loài cũng như từng cá thể trong loài Ngoài ra, điều kiện sống của sinh vật cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình tích lũy độc tố
Sự tiêu thụ các hải sản đã bị nhiễm độc tố vi tảo có thể gây ra hàng loạt các triệu chứng hệnh lý về hệ tiêu hóa hoặc hệ thần kinh ở người Hiện nay, không có thuốc giải đặc hiệu cho việc ngộ độc từ độc tố vi tảo, nhưng việc cung cấp các thiết bị hô hấp nhân tạo có thể cứu sống nhiều nạn nhân trong trường hợp ngộ độc PSP, hay việc dùng mannitol cũng làm giảm nhẹ các triệu chứng trong trường hợp ngộ độc CFP (Hallegraeff 2003)
Một điều rất quan trọng là các độc tố tảo không hề gây ra bất kỳ mùi
vị khác lạ nào trong đối tượng hản sản khi chúng ta ăn phải, do đó, ngư dân hoặc người tiêu thụ không thể nào phát hiện ngay lập tức sự có mặt của chúng mà chỉ có thể phát hiện bằng các phương pháp thử nghiệm sinh học hoặc phân tích hóa học Mặt khác, các độc tố tảo không bị phá hủy trong qúa trình nấu chín; chính vì vậy, chúng có thể tồn tại ở cả các sản phẩm hải sản đồ hộp, đông lạnh hoăc các sản phẩm chế biến khác
Khó khăn chính trong theo dõi và giám sát sự nở hoa của các loài vi tảo độc hại là vấn đề thiếu cơ sở về mối tương quan giữa sự xuất hiện của các loài vi tảo độc và độc lực trong sinh vật có vỏ Có thể có rất nhiều lý do cho sự thiếu nhất quán bao gồm thiếu kiến thức về sinh thái học đối với bọn vi tảo và các loài ăn
Trang 8lọc có liên quan; và cả chương trình thu mẫu kém hiệu quả cũng như việc phân tích và sử dụng số liệu một cách chưa chính xác
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Thu và bảo quản mẫu:
Từ 04/2004 đến 04/2004, tiến hành thu mẫu định kỳ hàng tháng đối với mẫu
Nghêu (Meretrix lyrata) tại một số khu vực nuôi trọng điểm thuộc tỉnh Cần Giờ
và Vẹm xanh Perna viridis tại đầm Nha Phu, Khánh Hòa Sau khi thu, mẫu được
rửa sạch bên ngoài bằng nước ngọt, để ráo, tách loại bỏ phần vỏ cứng, tách riêng lấy phần tuyến tiêu hóa giữ trong túi plastic kín ở điều kiện nhiệt độ -180C dùng cho phân tích các độc tố vi tảo
2 Phương pháp phân tích:
a Chiết rút độc tố:
- Độc tố PSP: Hỗn hợp mẫu (100g) và HCl (100 ml) được nghiền nhỏ bằng máy
xay, chuyển sang cốc thủy tinh và đun sôi cách thuỷ trong 5 phút, để nguội, hiệu chỉnh pH 3-4, định mức đến thể tích 200 ml và ly tâm lấy dịch trong Dịch này được bảo quản ở nhiệt độ 2-60C cho phân tích độc tố bằng phương pháp ELISA
(Kodama et.al 2006, inpress): Dựa vào phản ứng liên kết đặc hiệu giữa kháng
nguyên và kháng thể; trong đó, kháng nguyên (Saxitoxin) có thể được xác định khi được nhận biết đặc hiệu bằng kháng thể thứ hai (HRP-labeled anti-goat IgG)
đã cộng hợp với enzym Horse Raddish Peroxidase thông qua kháng thể thứ nhất
là Goat anti serum against PSP-KLH (Keyhole Limpet Hemoglocyanin) sẽ tạo
ra sản phẩm có màu khi tác dụng với cơ chất (Ortho-phenylenediamin) Cường
độ màu của phản ứng tỉ lệ nghịch với hàm lượng độc tố có mặt trong dịch chiết
- Độc tố DSP: Chiết rút trong acetone, loại béo bằng n-Hexan, sau đó chiết
trong chloroform, cô chân không cho phân tích độc tố bằng phương pháp PP 2A (Yasumoto, 1989a,b): Okaidaic acid (OA) hoặc DTX 1 có tác dụng ức chế hoạt động của emzyme PP2A trong phản ứng bẻ gãy liên kết phosphoryl của hợp chất Para-nitorophenyl (không màu) để tạo thành hợp chất có màu vàng Cường độ
màu của phản ứng tỉ lệ nghịch với hàm lượng độc tố có mặt trong dịch chiết
- Độc tố ASP: Chiết rút trong Methanol 50%, ly tâm lấy dịch trong và phân tích
độc tố bằng phương pháp ELISA (Takata Y 2006) Dựa vào phản ứng liên kết đặc hiệu giữa kháng nguyên và kháng thể; trong đó, kháng nguyên (Acid Domoic - DA) có thể được xác định khi được nhận biết đặc hiệu bằng một kháng thể thứ hai đã cộng hợp với enzym (Horse Raddish Peroxidase) thông qua kháng thể thứ nhất là Rabbit anti serum against DA-BSA (Bovine Serum
Trang 9Albumin) sẽ tạo ra sản phẩm có màu khi tác dụng với cơ chất (Ortho-phenylenediamin) Cường độ màu của phản ứng tỉ lệ nghịch với hàm lượng độc
tố có mặt trong dịch chiết
III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1 Độc tố PSP:
Các kết quả phân tích độc tố PSP trong mẫu Nghêu Meretrix lyrata thu tại Cần Giờ, TP.HCM và Bến Tre, Vẹm xanh Perna viridis thu tại Nha Phu, Khánh Hòa
được trình bày tại bảng 1 dưới đây
Bảng 1: Kết quả phân tích hàm lượng độc tố PSP (µg/100g) trong Meretrix lyrata và Perna
viridis tại các điểm nghiên cứu (2004-2005)
Thời gian thu mẫuPerna viridis Meretrix lyrata
Nha Phu Cần Giờ Bến Tre 04/2004 37.25 28.56 22.37 05/2004 21.23 21.69 27.10 06/2004 13.16 14.70 18.50 07/2004 14.72 15.27 11.50 08/2004 16.65 14.76 11.85 09/2004 19.45 16.91 14.72 10/2004 18.72 18.56 16.16 11/2004 10.79 20.26 17.10 12/2004 18.91 20.50 13.75 01/2005 14.34 18.75 11.83 02/2005 17.17 13.22 12.55 03/2005 13.02 15.15 12.80 04/2005 27.19 26.75 23.50
Trung bình 18.66 18.85 16.44
Từ kết quả nghiên cứu, có thể nói rằng các mẫu này không có sự tích lũy cao đối với độc tố PSP, và chúng đều nằm trong tiêu chuẩn giới hạn an toàn cho người tiêu dùng (< 80 µg/100 g) Mặt khác, không thấy có sự khác biệt đáng kể
giữa hàm lượng độc tố PSP trong Perna viridis và Meretrix lyrata (bảng 1)
Khá dễ dàng lý giải kết quả về hàm lượng độc tố này ở Nghêu Meretrix
lyrata: Meretrix spp là các loài ăn lọc nhưng sống đáy (detritus filter feeding
species) nên nguồn thức ăn của chúng không những chỉ là các loài vi tảo (bao gồm vi tảo độc) mà còn có thể là những hạt vật chất hữu cơ khác của quá trình xáo trộn trầm tích đáy biển (Defossez & Hawkins 1997) Hầu hết các loài vi tảo sản sinh độc tố PSP đều thuộc nhóm tảo giáp dinoflagellate sống trôi nổi, có thể
di chuyển theo dòng chảy bề mặt, trong khi Nghêu là sinh vật ăn lọc thụ động (hầu như không di chuyển) nên tần xuất để chúng bắt gặp các loài vi tảo độc này
Trang 10trong thức ăn là không cao (Shumway et al 1985) Tuy nhiên, chúng vẫn sử
dụng các loài vi tảo độc này như là một trong những nguồn thức ăn luôn có mặt trong môi trường Điều này đã được chứng minh từ các kết quả phân tích sắc ký lỏng cao áp trong các nghiên cứu trước đây của chúng tôi, một hàm lượng độc tố PSP vẫn được ghi nhận ở tất cả các mẫu phân tích, dù ở mức độ khá nhỏ Trong
khi đó, Vẹm xanh Perna viridis thường sống ở tầng nước giữa, và thức ăn chủ
yếu của chúng là các loài vi tảo bao gồm cả các loài vi tảo độc có mặt trong môi trường Vẹm được coi là loài HMV nhạy nhất đối với sự tích lũy độc tố từ các loài vi tảo độc, chúng được sử dụng là sinh vật chỉ thị cho sự nở hoa của vi tảo độc Như vậy, kết quả chỉ phát hiện được hàm lượng nhỏ độc tố PSP này chỉ có thể lý giải do trong thời điểm nghiên cứu, không có sự xuất hiện mật độ cao của các loài vi tảo độc sản sinh độc tố PSP ở cả 03 địa điểm nghiên cứu
Theo đồ thị 1, hàm lượng độc tố PSP trong các mẫu nghiên cứu biến thiên một cách khá ngẫu nhiên, chưa thấy biểu hiện tính qui luật theo thời gian - Không tìm thấy sự khác biệt của chúng giữa các mẫu cũng như giữa các đợt thu mẫu trong các thời điểm khác nhau
0.00 5.00 10.00 15.00 20.00 25.00 30.00 35.00 40.00
Apr-04 May-04 Jun-04 Jul-04 Aug-04 Sep-04 Oct-04 Nov-04 Dec-04 Jan-05 Feb-05 Mar-05 Apr-05
Thời gian thu mẫu (tháng)
ug/100g
Perna viridis Nha Phu Meretrix lyrata Cần Giờ Meretrix lyrata Bến Tre
Hình 1: Sự biến thiên của độc tố PSP trong Nghêu Maretrix lyrata và Vẹm Xanh Perna
viridis theo thời gian tại các vùng nghiên cứu
Một nhận xét là hàm lượng độc tố PSP tại cả 03 vùng nghiên cứu thường đạt giá trị cao vào thời điểm tháng 04, 05 (hình 1), trùng hợp là giai đoạn chuyển tiếp giữa 2 mùa Xuân - Hạ mà theo nhiều tác giả nhận định rằng là một trong những thời điểm thích hợp về nhiệt độ nước và ánh sáng cho sự phát triển của các loài tảo giáp trong đó có các loài sản sinh độc tố PSP Tuy nhiên, cần thiết
có những so sánh, đối chứng với số liệu về mật độ và thành phần các loài vi tảo
có mặt trong môi trường theo các thời điểm thu mẫu này để có thể tìm hiểu mối