Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác
Trang 1Viện khoa học và công nghệ việt nam
Viện tài nguyên và môi trường biển
=========000=========
Đề tài cấp nhà nước kc-09-19
“Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng
nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp
phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Chủ nhiệm đề tài: TS Chu Văn Thuộc
Báo cáo chuyên đề
Hàm lượng độc tố gây mất trí nhớ (ASP)
Tel (031) 565 495 Fax (031) 761 521 e-mail: Planktondept@imer.ac.vn
6132-13
02/10/2006
Hải Phòng, tháng 2/2006
Trang 2Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 1
đặt vấn đề
Vi tảo nổi trong các đại dương của thế giới là thức ăn cơ bản của thân mềm hai
vỏ ăn lọc (hầu, nhuyễn thể, trai, sò, ngao ) cũng như của ấu trùng thuộc nhóm giáp xác có giá trị kinh tế quan trọng và các loại cá có vây Sự bùng phát mật độ của vi tảo phù du (thường được gọi là nở hoa tảo, đạt tới hàng triệu tế bào/lít), thông thường điều
đó có thể mang lại lợi ích đối với nuôi trồng thuỷ sản và các hoạt động ngư nghiệp tự
do vì làm phong phú nguồn thức ăn cho các đối tượng này Tuy nhiên trong một số các trường hợp sự nở hoa có thể gây ảnh hưởng có hại, là nguyên nhân gây tổn thất kinh tế nghiêm trọng đối với các hoạt động nuôi trồng thuỷ sản, ngư nghiệp, du lịch và là nhân tố chính tác động đến môi trường và sức khoẻ con người Trong số 5000 loài vi tảo nổi trên toàn thế giới (Sournia và cộng sự, 1991), có khoảng 300 loài có khả năng xảy ra bùng phát số lượng lớn, hiển nhiên làm thay đổi màu nước bề mặt đại dương (thường được gọi là thuỷ triều đỏ), trong đó chỉ có 80 loài có khả năng sản sinh độc tố,
có thể tìm thấy các độc tố này thông qua cá, thân mềm hai vỏ và đến người (đối tượng tiêu thụ cuối cùng trong chuỗi thức ăn)
Sự nở hoa của các loài tảo gây hại, trong chiều hướng quan hệ chặt chẽ giữa chúng và các điều kiện môi trường hoàn toàn là các hiện tượng tự nhiên đang xảy ra và
đã xảy ra trong lịch sử, trong hai thập kỷ qua tác động lên sức khoẻ của cộng đồng và nền kinh tế thậm chí xuất hiện với tần xuất, cường độ ngày càng tăng và phân bố theo vùng địa lý Các chương trình quan trắc về tảo và biến động hàm lượng độc tố do chúng sản sinh ra đã được các nước phát triển quan trắc từ những thập kỷ 40 đến nay
Đây là những chuỗi số liệu rất hệ thống và có ý nghĩa
Trường hợp ngộ độc ASP xảy ra trên thế giới được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1987 tại đảo Price Edward, Canada Đây là nguyên nhân làm chết 3 người và 105 người bị ngộ độc đường tiêu hoá phải đưa đi cấp cứu do ăn vẹm xanh Các triệu chứng bao gồm buồn nôn, nôn mửa, đau co thắt vùng bụng Trong trường hợp nặng có thể mất trí nhớ tạm thời Phần lớn nguyên nhân gây nên loại độc tố này là do một số loài thuộc tảo silíc (không phải tảo giáp) Thân mềm hai vỏ có chứa nhiều hơn 20 àg acid domoic/g thịt thân mềm hai vỏ được xem xét là không thích hợp với người tiêu thụ
Các loài tảo silíc Pseudo-nitzschia australia (N pseudoseriata), P delicatissima, P
multiseries, P multistriata, P pseudodelicatissima, P seriata và đôi khi cả xảy ra cả
với các loài P fraudulenta, P pungens và P turgidula được xem là có liên quan
(Bates và cs 1989 ) Theo số liệu, các báo cáo về domoic acid trong các sản phẩm
đồ ăn biển đã được báo cáo chủ yếu xảy ra tại vùng Bắc Mỹ (Bay of fundy, California,
Trang 3Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 2
Oregon, Washington, Alaska) và Canada (Prince Edward Island, British Columbia), những nơi tập trung cao đã được phát hiện trên những vùng khác của thế giới như Châu Âu, úc, Nhật Bản và New Zealand Các phát hiện gần đây đã cho thấy domoic
acid (DA) còn được sinh ra từ loài tảo Nitzschia navis-varingica từ đầm nuôi tôm
vùng nhiệt đới (Lundholm và Moestrup, 2000)
Cấu trúc của domoic acid (DA) đã được các nhà khoa học Nhật Bản nghiên cứu
từ năm 1982 (Ohfune và Tomita), domoic acid thuộc về nhóm amino acid được gọi là kainoids, chúng được xếp hạng là các độc tố gây kích thích thần kinh hoặc cản trở cơ chế vận truyền thần kinh trong não Khả năng phân tích định lượng đối với acid domoic trở nên rất quan trọng sau sự kiện ngộ độc ASP ở miền đông Canada Wringht
và cs 1989), DA đã chỉ ra là nguyên nhân của các vụ ngộ độc trên và được tìm thấy trong thân mềm hai vỏ với hàm lượng rất cao đạt tới 1000mg/kg mô Mức độ tích luỹ này được phát hiện dễ dàng bởi phương pháp thử chuột đối với độc tố gây tê liệt cơ (PSP) (theo phương pháp AOAC, 2000a) cùng với với vấn đề của độc tố acid domoic
đang trở nên rất đặc trưng và có khoảng cách rõ ràng từ chúng đến độc tố PSP Mức độ
an toàn cho phép sử dụng hiện nay đối với loại độc tố này ở Canada là 20mg/kg, đối với thử nghiệm trên chuột giới hạn phát hiện cho DA là 40mg/kg thì không được sử dụng làm thức ăn cho người tiêu dùng (áp dụng trong hệ thống quan trắc)
Sự tiêu thụ các hải sản đã bị nhiễm độc tố tảo có thể gây ra hàng loạt các triệu chứng bệnh lý về hệ thần kinh ở người Các bệnh lý và các triệu chứng lâm sàng quan trọng khi ngộ độc độc tố ASP được tóm tắt trong các bảng sau Hiện nay, không có thuốc giải đặc hiệu cho các hiện tượng ngộ độc từ độc tố tảo, nhưng việc cung cấp các thiết bị hô hấp nhân tạo có thể cứu sống nhiều nạn nhân trong trường hợp ngộ độc(Hallegraeff 2004)
Bảng 3.1 Một số triệu chứng khi ngộ độc tố ASP
Thời gian ủ bệnh từ 3-5 giờ
Giảm phản ứng đối với các đau sâu
Choáng váng, ảo giác lẫn lộn Mất trí nhớ tạm thời Lên cơn co
ảnh hưởng đến cả hệ thần kinh và hệ tiêu hoá, là chất đối kháng mạnh của Glutamate
Trang 4Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 3
Mặc dù các phân tích hoá học đối với axit domoic là không khó, nhưng trong một số tình huống then chốt việc xác định chi tiết độc tố này đóng vai trò mang tính quyết định
Việc đánh giá các thành phần hoá học của acid domoic đã được nghiên cứu rất nhiều (Takemoto và Daigo, 1960; Ohfune và Tomita, 1982;Wright và cs 1989) Độc
tố này là một chất tinh thể tan trong nước có các tính axit điển hình của một amino acid Các tính chất lý – hoá học điển hình của acid domoic được chỉ ra trong bảng 3.2
Bảng 3.2 Các tính chất lý-hoá học của acid domoic
Nhiệt độ
nóng chảy
Góc quay quang học
Trọng lượng phân tử
UV (rượu- ethanol) Lọc tia hồng
ngoại/cm 215-216oC [α]D25-120,5o
(khan)
C15H21NO6311,14
(ngậm nước)
Bản chất là axit amin
Các loài ĐV thân mềm hai vỏ và cá sống rạn là đối tượng chủ yếu tích luỹ độc
tố tảo, tuy nhiên một số sinh vật biển khác như cua, rùa biển cũng có thể tích luỹ các
độc tố này (Shumway 1990, Landsberg 2002) Điều quan trọng là các độc tố tảo không hề gây ra bất cứ mùi vị khác lạ nào cho thực phẩm biển, do đó ngư dân hoặc người tiêu thụ không thể nào phát hiện ngay lập tức sự có mặt của chúng mà chỉ có thể phát hiện bằng các phương pháp thử nghiệm sinh học hoặc phân tích hoá học Một vấn
đề quan trọng nữa là các độc tố tảo không bị phá huỷ trong quá trình đun nấu và chính vì vậy chúng có thể tồn tại ở cả các sản phẩm hải sản đóng hộp, cấp đông hoặc các sản phẩm chế biến khác
Sự tích luỹ của thân mềm hai vỏ đối với một số loại độc tố như độc tố ảnh thần kinh gây mất trí nhớ (ASP), độc tố gây tê liệt cơ (PSP) và độc tố gây tiêu chảy (DSP)
là nguyên nhân gây tổn hại nghiêm trọng cho sức khoẻ cộng đồng cũng như ngành thuỷ sản Điều này đã trở thành một vấn đề toàn cầu về sự gia tăng các trường hợp ngộ
độc Tần xuất, cường độ ngộ độc lan rộng theo phân bố địa lý của các loài vi tảo có chứa độc tố và các vấn đề này cũng đang xảy ra tại các nước Đông Nam á ở Việt Nam, người bị ngộ độc do ăn phải thân mềm hai vỏ có độc tố chưa được thống kê và
Trang 5Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 4
báo cáo Tuy nhiên sự xuất hiện của các loài tảo tiềm tàng độc hại ở vùng biển Việt Nam đã được thống kê và báo cáo (Larsen và cs., 2004)
Các nghiên cứu từ trước đến nay ở Việt Nam về lĩnh vực tảo độc đã cho thấy sự phân bố của các loài vi tảo tiềm tàng độc hại khá phong phú dọc theo các vùng ven biển, trong đó có một số loài bắt gặp với tần xuất xuất hiện nhiều và mật độ cao tại các
vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung như các loài thuộc chi Pseudo-nitzschia thường
xuyên xuất hiện với mật độ cao tại các vùng ven biển miền Bắc trong khoảng thời gian
từ tháng 12 đến tháng 2 và bắt gặp nở hoa mật độ đạt trên 106 tb/L tại vùng ven biển
Đồ Sơn và Cát Bà tháng 2 năm 2003 Mặt khác, Kotaki và cộng sự (2000) cũng đã tìm
thấy sản phẩm domoic acid được sản sinh từ loài Nitzschia navis-varvingica phân lập
từ đầm nuôi tôm ở Đồ Sơn Kết quả nghiên cứu trên đã gợi ý khả năng tích luỹ độc tố ASP của các sinh vật biển và khả năng bùng phát các hiện tượng ngộ độc ở người trong các khu vực đó Tuy nhiên, mối quan hệ giữa việc xuất hiện các loài tảo độc và việc tích luỹ độc tố trong thân mềm hai vỏ vẫn chưa được hiểu biết rõ ràng do thiếu hệ thống quan trắc có tính hệ thống trong các vùng này
Hiện tại các nước phát triển, hàng năm phải chi phí một lượng kinh phí rất lớn cho nguồn kiểm soát thực phẩm từ bờ biển Phần lớn các nước kết hợp việc quan trắc giám sát mật độ tảo với tiến hành phân tích, kiểm định độc tố ASP và các độc tố khác trong nhuyễn thể bằng phương pháp thông dụng nhất là thử nghiệm trên chuột (theo tiêu chuẩn của AOAC, 1995) và sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC)
Trong khuôn khổ của đề tài Nhà nước với mã số KC-09-19, nội dung nghiên cứu về biến động hàm lượng các độc tố vi tảo được tích luỹ trong thân mềm hai vỏ tại một số vùng nuôi trồng thuỷ sản trọng điểm đã được tiến hành nghiên cứu nhằm tìm hiểu biến động, hàm lượng và mối quan hệ giữa các loài tảo độc và khả năng tích luỹ
độc tố của thân mềm hai vỏ nhằm đưa ra được những cảnh báo về nguy cơ xảy ra các hiện tượng ngộ độc ở người tiêu dùng khi sử dụng hải sản làm thực phẩm Độc tố ASP
là một trong ba loại độc tố được tìm hiểu và nghiên cứu trong một số đối tượng thân mềm hai vỏ có giá trị kinh tế được nuôi
Trang 6Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 5
II Phương pháp nghiên cứu
2.1 Vật liệu nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Vùng biển Hải Phòng: Vẹm xanh (Mytilus sp.) và Ngao (Meretrix meretrix) là
những đối tượng thân mềm hai vỏ có giá trị kinh tế được nuôi chủ yếu tại hai vùng biển Cát Bà và Đồ Sơn (Hải Phòng) vừa phục vụ xuất khẩu thuỷ sản, vừa phục vụ chế biến đồ ăn hải sản cho khách du lịch tại chỗ
+ Vùng biển Thái Bình: Ngao (Meretrix lyrata) là đối tượng được nuôi chủ yếu tại
các vùng ven biển Thái Bình và cũng là đối tượng được nghiên cứu hàm lượng các độc
tố vi tảo trong khuôn khổ của đề tài KC- 09-19
+ Vùng Lăng Cô (Huế): Vẹm xanh (Mytilus sp.) là đối tượng được nuôi lồng tại
vùng biển này vừa là nguồn thực phẩm cho nhân dân địa phương và phục vụ nhu cầu
du lịch tại chỗ
- Tần xuất thu mẫu:
+ Vẹm xanh và Ngao nuôi tại vùng biển Hải Phòng, được thu một tháng 2 lần và thu liên tục trong một năm từ tháng 5/2004 đến hết tháng 4 năm 2005 Tổng số mẫu
được tiến hành phân tích tại mỗi một điểm nghiên cứu là : Cát Bà 24 mẫu, Đồ Sơn: 24 mẫu
+ Ngao nuôi tại Thái Bình được thu mỗi tháng 1 lần cùng với các mẫu tảo và mẫu hoá nước tại vùng nghiên cứu
+ Vẹm xanh được nuôi trong đầm Lăng cô (Huế) được thu mỗi tháng 1 lần cùng với các mẫu tảo và mẫu hoá nước trong vùng nghiên cứu
Ngoài ra còn sử dụng các số liệu đã được quan trắc liên tục trong 2 năm
2002-2004 của dự án JSPS trong khuôn khổ hợp tác song phương giữa Viện tài nguyên và Môi trường Biển (thuộc VAST) của Việt Nam và trường Đại học Kitasato của Nhật Bản
Tham khảo các số liệu đã nghiên cứu về độc tố ASP trong ngao nuôi tại tỉnh Thái Bình, Nam Định và Thanh Hoá của tác giả Nguyễn Văn Nguyên và cs., 2003
2.2 Phương pháp thu mẫu và xử lý mẫu
Trang 7Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 6
- Đồ Sơn: Ngao được cào hàng tháng trên bãi tự nhiên vào các thời điểm có con
nước trong tháng (tháng thu 2 lần), lựa những con có kích cỡ ổn định, đều nhau hàng tháng
- Cát Bà: Vẹm xanh được đặt mua cả chùm to, đặt nuôi cố định trong một lồng
nuôi, hàng tháng đến ngày tỉa thu mẫu theo một kích cỡ ổn định
- Thái Bình: Ngao cũng được thu trực tiếp ngay trên các vây nuôi hàng tháng
+ 2 kg Ngao (hoặc vẹm) được rửa sạch bằng nước ngọt để loại bùn cát trên vỏ, để ráo nước
+ Mổ, tách thịt và vỏ
+ Rửa thịt mẫu dưới vòi nước thật nhẹ nhàng để loại muối
+ Sau khi để ráo nước (trong 5 phút), mổ tách nội quan (phần có mầu nâu hoặc mầu sẫm hơn), cho vào lọ sạch
+ Nghiền nội quan bằng máy xay sinh tố hoặc cắt nhỏ rồi đem nghiền bằng cối sứ (loại cối sứ sử dụng trong phòng thí nghiệm)
+ Sau khi mẫu được nghiền đồng nhất
Bỏ bã
Thu phần dịch chiết
Trang 8Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 7
Bảo quản trong tủ đá (-18oC là tốt nhất)
Phân tích ASP và PSP khi có thể (1ml mẫu = 0,5g mô nội tạng)
+ Phần còn lại, đựng mẫu trong lọ sạch, nút kín và bảo quản trong tủ đá nhiệt
độ càng thấp càng tốt (-18oC là tốt nhất)
2.3 Phương pháp phân tích độc tố ASP
Độc tố ASP được phân tích bằngphương pháp ELISA còn gọi là phương pháp
miễn dịch học liên kết enzym (Enzyme Linked Immunosorbant Assay) Nguyên tắc
của phương pháp này là dựa vào các chất kháng thể (được chiết xuất từ huyết thanh thỏ) để nhận biết độc tố tảo Các kháng thể này được đánh dấu bằng các chất phóng xạ hoặc huỳnh quang Hoà dịch chiết thịt nhuyễn thể hai vỏ với các kháng thể đã được
đánh dấu, tiếp theo dùng máy so màu chuyên dụng để phát hiện tổng lượng phóng xạ hoặc huỳnh quang của hợp chất huyết thanh miễn dịch + chất kháng thể, từ đó tính ra hàm lượng độc tố tảo có trong mẫu theo phương pháp của Branaa và cộng sự (1999) và Kodama (2003)
Lưu ý: quá trình phân tích acid domoic phụ thuộc vào yếu tố pH, Do thường
bền trong môi trường có pH=5-7, DA được giữ tốt nhất trong pH này dưới điều kiện có Argon hoặc nitrogen và để tối Nếu bảo quản trong một năm có thể để ở 4oC, còn nếu lâu hơn cần bảo quản ở –80oC
2.4 Phương pháp xử lý, tính toán hàm lượng độc tố trong các loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ
2.4.1 Tính trung bình các chỉ số OD đo được trên máy (3 lần)
2.4.2 Phác thảo đồ thị tính toán: Bằng tay, hoặc sử dụng MS-Excel hoặc các phần mềm tính toán khác
Phương trình và đồ thị đường chuẩn cho tính toán hàm lượng độc tố ASP trong các mẫu thân mềm hai vỏ đã được xây dựng dựa trên các nồng độ chất chuẩn của DA standar
Trang 9Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 8
2.4.5 Tính hàm lượng độc tố trong 1g mẫu mô nội tạng của thân mềm hai vỏ
= C (ng/mL) : 0,5 (1mL dịch chiết chứa 0,5 g mô nội tạng) = D (ng/g mô nội tạng)
Trang 10Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 9
III Kết quả thảo luận
ASP là độc tố gây mất trí nhớ ở người Độc tố này là acid domoic, chủ yếu do
các loài tảo silíc thuộc chi Pseudo-nitzschia sản sinh Độc tố ASP còn gây ảnh hưởng
đến hệ tiêu hoá và hệ thần kinh của con người [Quilliam và Wright 1995]
3.1 Biến động hàm lượng độc tố ASP trong ngao (Meretrix meretrix) nuôi tại Đồ
Sơn - Hải Phòng
Kết quả phân tích độc tố ASP trong một năm quan trắc với tần xuất thu mẫu 2 lần/tháng cho thấy ngao nuôi tại vùng biển Đồ Sơn có tích luỹ độc tố trong các mô nội tạng Tuy nhiên hàm lượng độc tố rất thấp, dao động từ 0 đến 2,8 ng/g Ngao nuôi trong tháng 4 và tháng 5 có tích luỹ độc tố ASP thấp nhất, ngao nuôi trong tháng 9 có tích luỹ độc tố cao, đặc biệt đợt quan trắc II của tháng 9, hàm lượng độc tố đạt 2,8ng/g Đây là đỉnh cao nhất của độc tố ASP quan trắc trong ngao nuôi Đồ Sơn năm
2004, tiếp đến là đợt quan trắc II của tháng 10, hàm lượng độc tố đạt 2,16 ng/g
Trang 11Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 10
JSPS, nhận thấy hàm lượng độc tố ASP tích luỹ trong ngao nuôi ĐS rất thấp, cao nhất cũng chỉ đạt vài ng/g mô nội tạng Trong năm quan trắc 2003, hàm lượng độc tố trong ngao nuôi tại vùng này cũng có một đỉnh duy nhất vào đợt quan trắc I của tháng 11 (với hàm lượng đạt tương ứng 7,2 ng/g) – hình Đỉnh hàm lượng độc tố ASP trong năm 2003 cao hơn 2 lần đỉnh độc tố ASP được tích luỹ trong ngao năm 2004 Nhưng khi tích luỹ cao nhất, hàm lượng độc tố vẫn rất thấp, không gây ảnh hưởng đối với người tiêu thụ khi ăn ngao
một số loài tảo thuộc chi Pseudo-nitzschia sản sinh ra, vì vậy việc quan trắc mật độ
của các loài tảo này luôn được tiến hành cùng lúc với quan trắc hàm lượng độc tố ASP trong thân mềm hai vỏ Các kết quả phân tích về thành phần loài và mật độ tb/L của
các loài thuộc chi Pseudo-nizschia tại các khu vực thu mẫu ngao cũng đã cho thấy sự
có mặt của các loài này và mối tương quan thuận giữa hàm lượng độc tố được tích luỹ trong ngao và mật độ của chúng
Nhìn vào hình 3.3 nhận thấy mối tương quan không thuận giữa hàm lượng độc
tố ASP và mật độ tb/L của các loài thuộc chi Pseudonitzschia, tháng có hàm lượng
Trang 12Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 11
ASP cao thì mật độ không cao lắm (tháng 10 – tháng 11), tháng có hàm lượng ASP thấp thì mật độ chi tảo này lại cao (đợt quan trắc II tháng 1-2005) Kết hợp với các kết quả nghiên cứu mẫu định tính và định lượng tại vùng biển này, thấy đóng góp chủ yếu
vào đỉnh mật độ trong đợt II tháng 1 là loài Pseudo-nitzschia sp.2 (có kích thước nhỏ,
cf pseudodelicatissima) Điều này đã gợi ý rằng tuy loài này có mật độ cao nhưng
không có khả năng sản sinh độc tố hoặc rất thấp, không đáng kể vì vậy không tạo thành đỉnh độc tố tích luỹ trong ngao
0 2000
4 8/7/
04 21/7/0
4 4/8/0418/8/0414/9/0426/9/04
11/10
/04 20/10
/04 7/11/0
4 21/11
/04 4/12
/04
18/12/0411/1/0524/1/056/
05 23/2/0
5 9/
05 20/3/0
5 5/4/0529/4/05
Thời gian thu mẫu
0 0.5 1 1.5 2 2.5 3
Mật độ tb/L Hàm lượng độc tố DA ng/g
Hình 3.3 Tương quan giữa hàm lượng độc tố ASP trong ngao và mật độ tảo thuộc chi
Pseudo-nitzschia tại vùng biển Đồ Sơn (Hải Phòng) 2004-2005
Kết quả phân tích định lượng còn cho thấy tháng 9, 10, và 11 là những tháng có
mật độ chi Pseudo-nitzschia cao hơn các tháng khác, mật độ chủ yếu trong các tháng này thuộc về loài P sp.1 (có kích thước to hơn, P cf pungens) Như vậy có sự tương quan giữa hàm lượng độc tố ASP tích luỹ trong ngao và mật độ của loài P.sp.1 Điều
này gợi ý đây có thể là loài có sản sinh ra độc tố
Kết quả trên mới chỉ là những nghiên cứu ban đầu, để có được những hiểu biết sâu hơn trong lĩnh vực này rất cần có những nghiên cứu tiếp theo
Trang 13Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 12
3.2 Biến động hàm lượng độc tố ASP trong vẹm xanh (Mytilus sp.) nuôi tại Cát
Bà – Hải Phòng
Đối với vẹm xanh nuôi tại lồng nuôi ở vùng biển Cát Bà, hàm lượng độc tố ASP trong nội tạng vẹm cũng được quan trắc một năm với tần xuất thu mẫu 2 lần/tháng Kết quả phân tích cho thấy vẹm xanh có tích luỹ loại độc tố này trong mô nội tạng với hàm lượng độc tố thấp, tuy nhiên vẫn cao hơn hàm lượng độc tố trong ngao nuôi Đồ Sơn
0 10
04 9/7/
04 5/
04 17/9/0413/10/
04 9/11
/04 5/12 /04 12/1 /200
5 5/
05 10/3/05 5/
so với đỉnh độc tố tích luỹ trong ngao (tương ứng 78,38 ng/g và 2,8 ng/g) Cũng vì thế biến động hàm lượng độc tố ASP trong ngao không mạnh theo thời gian, còn trong vẹm xanh nuôi tại Cát Bà dao động hàm lượng độc tố cao hơn
Trang 14Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 13
Mặt khác, nhận thấy đỉnh hàm lượng độc tố trong vẹm xanh Cát Bà (đợt II/tháng8) diễn ra sớm hơn đỉnh độc tố trong ngao nuôi Đồ Sơn (đợt II/ tháng 9) một tháng
So sánh các kết quả thu được trong năm quan trắc 2004-2005 với các kết quả quan trắc thu được cũng trong vẹm xanh nuôi ở vùng biển Cát Bà năm 2003-2004 của
dự án JSPS, nhận thấy hàm lượng độc tố ASP tích luỹ trong vẹm xanh Cát Bà cũng thấp, cao nhất cũng chỉ đạt vài chục ng/g mô nội tạng Kết quả quan trắc trong năm
2003 cũng cho thấy đỉnh hàm lượng độc tố cao nhất đạt 80 ng/g (trong đợt quan trắc I của tháng 12), đỉnh này kéo dài từ tháng 10 đến hết tháng 12 năm 2003
I-T4 II-T4 I-T5 II-T5 I-T6 II-T6 I-T7 II-T7 I-T8 II-T8 I-T9 II-T9 I-T10
II-T10 I-T11 II-T11 I-T12 II-T12 I-T1 II-T1 I-T2 II-T2 I-T3 II-T3 I-T4 II-T4
Thời gian thu mẫu
và ở ĐS thường xuất hiện đỉnh trước Có thể việc hình thành đỉnh độc tố tích luỹ trong các đối tượng nuôi thân mềm hai vỏ còn phụ thuộc vào sự có mặt và mật độ của các
loài tảo có khả năng sản sinh độc tố thuộc chi Pseudo-nitzschia
Trang 15Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 14
0 2000
4 9/
04 20/7/0
4 5/
04 17/8/04 17/9/04 30/9/0413/10/0421/10/049/11/0
4 23/11
/04 5/12/0
4 20/12
/04 12/1/2
00525/1/055/2/0524/2/05 10/3/05 18/3/055/4/
05 28/4/0
5
Thời gian thu mẫu
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90
Hình 3.6 Tương quan giữa hàm lượng độc tố ASP trong vẹm xanh và mật độ tảo thuộc
chi Pseudo-nitzschia tại vùng biển Cát Bà (Hải Phòng) 2004-2005
Có thể thấy mối tương quan khá thuận giữa hàm lượng độc tố ASP được tích
luỹ trong vẹm xanh và mật độ các loài tảo thuộc chi Pseudonitzschia, đỉnh của mật độ
diễn ra trước đỉnh của hàm lượng độc tố 1 đợt quan trắc Điều này cũng đã được đưa ra trong các nghiên cứu của Premazzi và Voltera (1993)
Đóng góp vào đỉnh mật độ tảo trong tháng 8 là loài P sp có kích thước rất nhỏ,
mật độ đạt tới hơn 104tb/L Điều này gợi ý loài này có thể sản sinh độc tố Nhưng
phân loại các loài Pseudo-nitzschia dưới kính hiển vi quang học đến loài là không thể
và việc tiến hành thí ngiệm trong phòng thí ngiệm cũng rất khó có những kết luận chính thức trong vấn đề này Cần có thời gian và kinh phí cho các nghiên cứu tiếp theo
3.3 Biến động hàm lượng độc tố ASP trong ngao (Meretrix meretrix) nuôi tại
Tiền Hải – Thái Bình
Khác với việc quan trắc ngao nuôi tại ĐS và xẹm xanh nuôi tại Cát Bà, đối tượng thân mềm hai vỏ Ngao nuôi tại Thái Bình chỉ được quan trắc với tần xuất 1lần/tháng vì hạn chế về kinh phí và mục tiêu nghiên cứu
Trang 16Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 15
Khi so sánh hàm lượng độc tố ASP trong ngao nuôi TB và ngao nuôi ĐS nhận thấy, ngao ở cả 2 vùng biển tích luỹ độc tố ASP rất thấp, nhìn chung dao động cao nhất chỉ đạt gần 20ng/g mô nội tạng và hàm lượng độc tố trong ngao TB cao hơn ĐS vài lần khi tạo đỉnh Thời gian hình thành đỉnh độc tố cũng khác nhau, ở ĐS đỉnh độc
tố hình thành sớm hơn
So sánh với các kết quả đã nghiên cứu về hàm lượng độc tố ASP trong ngao nuôi TB được tiến hành quan trắc năm 2002-2003 được phân tích bằng phương pháp HPLC (Nguyễn Văn Nguyên và cs., 2004) cho thấy kết quả quan trắc được của các tác giả trên cao hơn, dao động từ vài ng/g đến 24 ng/g
Trang 17Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 16
Mặt khác, nhận thấy trong 2 năm quan trắc, thời gian ngao nuôi ở Thái Bình có tích luỹ hàm lượng độc tố ASP cao nhất luôn trùng nhau vào tháng 11
Kết quả phân tích định tính và định lượng về các loài tảo Silíc có khả năng sản
sinh độc tố ASP thuộc chi Pseudo-nitzschia đã được quan trắc trong năm 2004-2005
cho thấy chi này luôn có mặt tại điểm nghiên cứu gần hết các tháng trong năm Nhưng mật độ của chi đạt cao nhất 104 tb/L
Trang 18Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 17
Mặt khác, kết hợp với các kết quả nghiên cứu về định tính và định lượng các
loài tảo tiềm tàng độc hại có mặt trong vùng nghiên cứu cho thấy chi Pseudonitzschia
có mật độ chiếm tỉ lệ ưu thế trong các tháng quan trắc 8, 10 Tháng 11, mật độ của chi này đạt cao nhất trong năm với 4x104 tb/l Như vậy có thể thấy mối tương quan khá thuận giữa hàm lượng độc tố ASP và mật độ của chi này khi hàm lượng độc tố được tích luỹ cao nhất trùng với khoảng thời gian các loài vi tảo có khả năng sản sinh độc tố ASP có mật độ cao nhất trong năm quan trắc Tuy nhiên cần có nhiều nghiên cứu tiếp theo mới có thể khẳng định được kết quả này, nhưng các kết quả trên đã gợi ý cho
thấy những loài Pseudo-nitzschia xuất hiện trong đầm Lăng cô vào các tháng 10, 11 là
các loài có khả năng sản sinh độc tố nhưng hàm lượng thấp nên độc tố này được tích luỹ trong mô nội tạng của vẹm xanh cũng rất thấp, nằm trong giới hạn cho phép sử dụng các đối tượng này làm thực phẩm cho người tiêu dùng
Trang 19Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 18
3.5 So sánh khả năng tích luỹ độc tố ASP trong nội quan (gan, tuỵ) của ngao và vẹm xanh nuôi tại một số vùng trọng điểm miền Bắc
Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy sự xuất hiện nở hoa của tảo độc và độc
tố tảo trong các sinh vật có vỏ xảy ra không đồng thời Nhìn chung, hàm lượng độc tố cao nhất trong sinh vật có vỏ được ghi nhận khoảng 1-2 tuần sau khi xuất hiện sự nở hoa của tảo độc [Premazzi và Voltera, 1993] Mặt khác khả năng tích luỹ độc tố lại rất khác nhau tuỳ theo từng loài sinh vật, phụ thuộc vào sự nhạy cảm, khả năng tích luỹ trên cơ sở sức chịu của hệ thần kinh của từng loài đối với độc tố và tập tính ăn lọc Sự
đào thải độc tố đã tích luỹ lại phụ thuộc vào vị trí hay bộ phận mà chúng tập trung tích luỹ trong cơ thể sinh vật
Đối tượng thuỷ sản được nuôi tại các khu vực khác nhau, vì vậy khả năng tích luỹ độc tố ASP cũng sẽ khác nhau Khi so sánh hàm lượng độc tố ASP được tích luỹ ngao và vẹm tại các vùng ven biển Hải Phòng, Thái Bình và Huế chúng tôi đã thu
04 8/
04 4/8/
04
14/9
/04 11/10/
04 7/11
/04 4/12
/04
11 /1/05 6/2/05 9/3/
05 5/
05
Thời gian thu mẫu
Ngao Đồ Sơn Vẹm Cát Bà
Hình 3.9 So sánh hàm lượng độc tố ASP được tích luỹ trong ngao và vẹm xanh ở vùng
biển ven bờ Hải Phòng (số liệu quan trắc năm 2004-2005)
Hình 3.9 cho thấy trong năm quan trắc 2004-2005, hàm lượng độc tố ASP
được tích luỹ trong vẹm xanh thường cao hơn ngao ở tất cả các vùng nghiên cứu, đỉnh
Trang 20Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 19
hàm lượng độc tố trong vẹm xanh thường cao hơn ngao nhiều lần Điều này chứng tỏ vẹm xanh có khả năng tích luỹ loại độc tố ASP lớn hơn ngao Theo nghiên cứu của Shumway và Cembella (1990) cũng cho thấy vẹm được coi là sinh vật hai vỏ tích luỹ
độc tố nhanh nhất và đào thải trong thời gian ngắn nhất Mặt khác, khả năng tích luỹ
độc tố trong sinh vật còn phụ thuộc vào các yếu tố môi trường như dòng chảy, chất lượng nước, mùa và yếu tố địa hình nên muốn làm rõ điều này cần có những nghiên cứu tiếp theo
Ngao TháI Bình Vẹm Huế
Hình 3.10 So sánh hàm lượng độc tố ASP được tích luỹ trong ngao và vẹm xanh ở vùng biển ven bờ Thái Bình và Huế (số liệu quan trắc năm 2004-2005)
Mặt khác, cũng nhận thấy hàm lượng độc tố ASP được tích luỹ trong ngao nuôi tại Thái Bình cao hơn hàm lượng độc tố được tích luỹ trong ngao Đồ Sơn Có thể do chất lượng môi trường nước tại hai vùng biển này khác nhau, vùng biển ven bờ Thái Bình là cửa sông lớn nên thường tồn dư thuốc bảo vệ thực vật và các chất hữu cơ cao nhất ở khu vực phía Bắc Hay đầm Lăng Cô (Huế) là một vụng nhỏ, nước không được trao đổi thường xuyên như ở vùng biển đảo Cát Bà vì vậy đã có những ảnh hưởng khác nhau đến khả năng tích luỹ độc tố ASP trong các đối tượng động vật thân mềm hai mảnh vỏ nuôi tại đây
3.6 So sánh hàm lượng độc tố và độ an toàn thực phẩm trong thân mềm hai vỏ thuộc 3 vùng nuôi trên
Trang 21Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 20
Độc tố ASP không gây nguy hiểm cho tính mạng của con người như độc tố PSP (như gây tê liệt thần kinh, dễ dàng dẫn đến tử vong khi ăn phải nhuyễn thể hai vỏ có tích luỹ loại độc tố này), nhưng độc tố ASP có thể làm giảm trí nhớ, ảnh hưởng đến các tế bào thần kinh của người Vì vậy, độc tố ASP cũng được quan tâm nghiên cứu
và hiện là một trong những tiêu chuẩn kiểm định an toàn thực phẩm trong xuất nhập khẩu thuỷ sản của các nước EU và phương Tây Với đặc tính có thể tự lọc sạch, đào thải độc tính nếu ngao được nuôi trong nước sạch (Grimmel và cộng sự, 1990) sau nhiều ngày, nhưng độc tố trong mô không bị phân huỷ khi nấu với nhiệt độ cao, thậm chí thời gian dài Điều này đã làm độc tố ASP trở nên nguy hiểm hơn vì không thể loại trừ khỏi thực phẩm khi nhuyễn thể đã tích luỹ loại độc tố này trong thời gian khai thác Để bảo vệ sức khoẻ của người dân, hiện tại một số nước đã có các tiêu chuẩn cụ
thể về mật độ của các loài tảo Silíc thuộc chi Pseudo-nitzschia trong nước biển tại các
khu nuôi trồng thân mềm hai vỏ tập trung Người ta có thể đi đến các quyết định cho
phép khai thác hay đóng cửa các khu nuôi khi mật độ các loài tảo chi
Pseudo-nitzschia quá cao hoặc hàm lượng độc tố ASP trong mô của nhuyễn thể vượt quá hàm
lượng cho phép Dưới đây là một số tiêu chuẩn cho phép về mức độ an toàn cho phép của loại độc tố này tại một số nước trên thế giới (bảng 3.3)
Bảng 3.3 Giới hạn cho phép của độc tố tảo ASP trong nhuyễn thể hai vỏ (Theo
Andersen, 1996)
Bảng 3.4 Hàm lượng độc tố ASP được tích luỹ trong một số đối tượng thuỷ sản được nuôi ở các vùng ven biển phía Bắc VN(số liệu quan trắc năm 2004-2005)
Địa điểm và đối tượng quan trắc Hàm lượng TB (ng/g)
Tháng thu mẫu
Ngao Đồ Sơn (Hải Phòng)
Vẹm Cát Bà (Hải Phòng)
Ngao Thái Bình
Vẹm xanh Huế
Trang 22Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 21
này Tuy nhiên rất cần có các quan trắc thường xuyên về mật độ tảo thuộc chi
Pseudo-nitzschia và hàm lượng độc tố ASP để phát hiện kịp thời khi vượt quá giới hạn cho
phép
Trang 23Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 22
Kết luận và kiến nghị
Kết luận
- Kết quả phân tích độc tố ASP trong một năm quan trắc với tần xuất thu mẫu 2 lần/tháng trong Ngao nuôi tại vùng biển Đồ Sơn, vẹm xanh nuôi ở Cát Bà và quan trắc với tần xuất 1lần/tháng trong Ngao nuôi ở Thái Bình và Vẹm xanh nuôi tại Lăng Cô (Huế) cho thấy các đối tượng nghiên cứu này đều có tích luỹ độc tố ASP trong các mô nội tạng Tuy nhiên hàm lượng độc tố rất thấp, đều nằm dưới giới hạn cho phép sử dụng làm thực phẩm nhiều lần
+ Đối với Ngao nuôi tại vùng biển Đồ Sơn, hàm lượng độc tố dao động từ 0 đến 2,8 ng/g Ngao nuôi trong tháng 4 và tháng 5 có tích luỹ độc tố ASP thấp nhất, ngao nuôi trong tháng 9 có tích luỹ độc tố cao, đặc biệt đợt quan trắc II của tháng 9, hàm lượng độc tố đạt 2,8ng/g Đây là đỉnh cao nhất của độc tố ASP quan trắc trong ngao nuôi Đồ Sơn năm 2004
+ Hàm lượng độc tố ASP trong vẹm xanh Cát Bà dao động từ 0 ng/g (đợt quan trắc
II của tháng 4 năm 2005) đến đỉnh cao nhất đạt 78,38 ng/g (trong đợt quan trắc II của tháng 8 năm 2004) Đỉnh độc tố này kéo dài liên tục và bắt đầu giảm mạnh vào đợt quan trắc II của tháng 9
+ Hàm lượng độc tố ASP trong ngao Thái Bình đạt thấp trong tháng 12 năm 2004 (0,02 ng/g mô nội tạng) và cao nhất trong tháng 11 năm 2004 (đạt 19,54 ng/g mô nội tạng), sau đó giảm trong tháng 12 năm 2004 và tiếp tục tăng tạo đỉnh thứ 2 trong tháng 1 năm 2005 (đạt 17,16 ng/g mô nội tạng) và giảm dần
+ Nhìn chung hàm lượng độc tố ASP trong vẹm xanh giữa các tháng khá ổn định, biến động từ 13,66 ng/g đến 20,9 ng/g mô nội tạng của vẹm xanh, trừ tháng 7 năm
2004 hàm lượng độc tố được tích luỹ thấp nhất (0,22ng/g) trong vẹm xanh và tháng 11 năm 2004 có hàm lượng độc tố được tích luỹ cao nhất trong vẹm xanh (đạt 307,26 ng/g)
- Trong năm quan trắc 2004-2005, hàm lượng độc tố ASP được tích luỹ trong vẹm xanh thường cao hơn ngao ở tất cả các vùng nghiên cứu, đỉnh hàm lượng độc tố trong vẹm xanh thường cao hơn ngao nhiều lần Điều này chứng tỏ vẹm xanh có khả năng tích luỹ loại độc tố ASP lớn hơn ngao
- Dựa vào các tiêu chuẩn cho phép về hàm lượng độc tố ASP trong nhuyễn thể của các nước trên, nhận thấy hàm lượng độc tố ASP đã phát hiện được trong ngao và vẹm nuôi tại các khu vực Hải Phòng (Đồ Sơn – Cát Bà), Thái Bình và Huế (Lăng Cô) thấp
Trang 24Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 23
hơn mức cho phép nhiều lần và vẫn nằm trong giới hạn an toàn cho sức khoẻ của người dân tại các cộng đồng dân cư ven biển tại các tỉnh này
- Nghiên cứu khả năng tích luỹ và đào thải của một số loài thân mềm hai mảnh
vỏ có giá trị kinh tế đối với độc tố ASP
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường tới khả năng tích luỹ độc tố ASP trong một số loài thân mềm hai vỏ
Trang 25Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 24
Tài liệu tham khảo
Nguyễn Văn Nguyên và cs, 2004 Điều tra nghiên cứu tảo độc hại tại ba vùng nuôi ngao tập trung tại Thái Bình, Nam Định và Thanh Hoá Báo cáo đề tài cấp Bộ Thuỷ sản Hải Phòng 2003 97 trang
Andersen P., 1996 Design and Implementation of some Harmful Algal Monitoring Systems IOC Technical Series No 44, UNESCO
Branaa P., Naar J., Chinain M and Panillac S 1999 Preparation and characterization
of domoic acid-protein conjugates using small amount of toxin in a reversed unicella medium, application in a competitive enzyme-linked immunosorbent assay Bioconjug Chem 10 : 1137-1142
Fleming, L.E., J.A Bean & D.G Baden 1995 Epidemiology and public health Pp 475-487 - In G.M Hallegraeff, D.M Anderson, & A.D Cembella (Eds.) Manual
on Harmful Marine Microalgae: IOC Manuals and Guides No 33 UNESCO
Garrison D L., Conrad S M., Eilers P P and Waldron E M 1992 Confirmation of domoic acid production by Pseudonitzschia austrailis (Bacillariophyceae) cultures In: J Phycol 28 (5): 604-607
Hallegraeff, G.M 1995 Harmful Algal Blooms: A global overeview Pp 4-18 - In G.M Hallegraeff, D.M Anderson, & A.D Cembella (Eds.), Manual on Harmful
Marine Microalgae: IOC Manuals and Guides No 33 UNESCO
Hallegraeff G.M., Anderson D M and Cembella A.D (Edi), 2004 Manual on Harmful Marine Microalgae UNESCO Publishing 793 pp
Huyen N.T.M., Thuoc C.V., Ogata T., Sato S., Takata Y., Kodama M and Fukuyo Y.,
2006 Seasonal variation of paralytic and amnesic shellfish toxicities in bivalves and microalgae in Haiphong area, Vietnam In Coastal Marine Science 30(1): 000-
Trang 26Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 25
Blooms pp 151-154, Intergovernmental Oceanographic Commision of UNESCO, Paris
Kotaki Y., Koike K., Yoshida M., Thuoc C.V., Huyen N.T.M., Hoi N.C., Fukuyo Y and Kodama M., 2000 Domoic acid production in Nitzschia sp (Bacillariophyceae) isolated from a shrimp-culture pond in Do Son, Viet Nam J Phycol 36 (6): 1057-1060
Larsen J and N.L Nguyen (editors) 2004 Potentially toxic microalgae of Vietnamese waters In: Opera Botanica 140 Copenhagen 2004
Quilliam, M.A & J.L.C Wright 1995b Methods for Domoic acid, the Amnesic shellfish poisons Pp 113-133 – In: G.M Hallegraeff, D.M Anderson, & A.D Cembella (Eds.), Manual on Harmful Marine Microalgae: IOC Manuals and
Guides No 33 UNESCO
Shumway, S.E (1990) A review of the effects of algal blooms on shelllfish and
aquaculture J.World Aquaculture Soc., 21, 65-104
Shumway, S.E., & Cembella, A.D (1993) The impact of toxic algae on scallop
culture and fisheries Rev.Fish.Sci., 1, 121-150
Shumway, S.E., H.P.von Egmond, J.W.Hurst, & L.L.Bean (1995) Management of
shellfish resources In G.M Hallegraeff, D.M Anderson, & A.D Cembella (Eds.), Manual on Harmful Marine Microalgae (pp 433-463) UNESCO
Sournia A (EDS), 1978 Phytoplankton Manual UNESCO
Trang 27Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Đề tài KC-09-19
-
Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ
Loài động vật hai mảnh vỏ dùng cho phân tích: Ngao (Meretrix meretrix)
1 2,18
2 2,148
2,164 0,04 0,01 0,02
Trang 28Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Đề tài KC-09-19
-
Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ
Loài động vật hai mảnh vỏ dùng cho phân tích: Ngao (Meretrix meretrix)
1 2,074
2 2,011
2,043 0,07 0,02 0,04
Nguyễn Thị Minh Huyền Takehico Ogata
Trang 29Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Đề tài KC-09-19
-
Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ
Loài động vật hai mảnh vỏ dùng cho phân tích: Ngao (Meretrix meretrix)
1 1,953
2 2,04
1,997 0,08 0,03 0,06
Nguyễn Thị Minh Huyền Takehico Ogata
Trang 30Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Đề tài KC-09-19
-
Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ
Loài động vật hai mảnh vỏ dùng cho phân tích: Ngao (Meretrix meretrix)
1 2,045
2 2,01
2,028 0,07 0,02 0,04
Nguyễn Thị Minh Huyền Takehico Ogata
Trang 31Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Đề tài KC-09-19
-
Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ
Loài động vật hai mảnh vỏ dùng cho phân tích: Ngao (Meretrix meretrix)
1 1,829
2 1,841
1,835 0,17 0,05 0,1
Nguyễn Thị Minh Huyền Takehico Ogata
Trang 32Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Đề tài KC-09-19
-
Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ
Loài động vật hai mảnh vỏ dùng cho phân tích: Ngao (Meretrix meretrix)
1 1,79
2 1,952
1,871 0,15 0,05 0,1
Nguyễn Thị Minh Huyền Takehico Ogata
Trang 33Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Đề tài KC-09-19
-
Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ
Loài động vật hai mảnh vỏ dùng cho phân tích: Ngao (Meretrix meretrix)
1 2,103
2 2,099
2,101 0,05 0,02 0,04
Nguyễn Thị Minh Huyền Takehico Ogata
Trang 34Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Đề tài KC-09-19
-
Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ
Loài động vật hai mảnh vỏ dùng cho phân tích: Ngao (Meretrix meretrix)
1 2,16
2 2,179
2,170 0,04 0,01 0,02
Nguyễn Thị Minh Huyền Takehico Ogata
Trang 35Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Đề tài KC-09-19
-
Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ
Loài động vật hai mảnh vỏ dùng cho phân tích: Ngao (Meretrix meretrix)
1 1,598
2 1,606
1,602 0,50 0,15 0,3
Nguyễn Thị Minh Huyền Takehico Ogata
Trang 36Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Đề tài KC-09-19
-
Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ
Loài động vật hai mảnh vỏ dùng cho phân tích: Ngao (Meretrix meretrix)
1 1,583
2 1,54
1,562 4,49 1,40 2,8
Nguyễn Thị Minh Huyền Takehico Ogata
Trang 37Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Đề tài KC-09-19
-
Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ
Loài động vật hai mảnh vỏ dùng cho phân tích: Ngao (Meretrix meretrix)
1 1,973
2 1,951
1,962 1,14 0,35 0,7
Nguyễn Thị Minh Huyền Takehico Ogata
Trang 38Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Đề tài KC-09-19
-
Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ
Loài động vật hai mảnh vỏ dùng cho phân tích: Ngao (Meretrix meretrix)
1 1,182
2 1,175
1,179 3,46 1,08 2,16
Nguyễn Thị Minh Huyền Takehico Ogata
Trang 39Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Đề tài KC-09-19
-
Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ
Loài động vật hai mảnh vỏ dùng cho phân tích: Ngao (Meretrix meretrix)
1 2,167
2 2,01
2,089 0,05 0,02 0,04
Nguyễn Thị Minh Huyền Takehico Ogata
Trang 40Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Đề tài KC-09-19
-
Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ
Loài động vật hai mảnh vỏ dùng cho phân tích: Ngao (Meretrix meretrix)
1 1,52
2 1.475
1,498 0,80 0,25 0,5
Nguyễn Thị Minh Huyền Takehico Ogata