1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

điều tra, nghiên cứu tảo độc gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra - hàm lượng độc tố gây liệt cơ (psp) trong động vật thân mềm ha

99 737 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hàm lượng độc tố gây liệt cơ (PSP) trong động vật thân mềm há
Tác giả ThS. Nguyễn Thị Minh Huyền, CN. Phạm Thế Thư, ThS. Nguyễn Thị Thu, CN. Trần Mạnh Hà
Trường học Viện Tài Nguyên Và Môi Trường Biển
Chuyên ngành Sinh học biển và thủy sản
Thể loại Báo cáo chuyên đề
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 423,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khuôn khổ của đề tài Nhà nước với mã số KC-09-19, nội dung nghiên cứu về biến động hàm lượng độc tố vi tảo PSP được tích luỹ trong thân mềm hai vỏ tại một số vùng nuôi trồng thuỷ s

Trang 1

=========000=========

Đề tài cấp nhà nước kc-09-19

“Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng

nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp

phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”

Chủ nhiệm đề tài: TS Chu Văn Thuộc

Báo cáo chuyên đề

Hàm lượng độc tố gây liệt cơ (PSP) trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ

ở một số vùng nuôi thủy sản tập trung

6132-14

02/10/2006

Trang 2

I đặt vấn đề

Một trong các trường hợp nhiễm độc đầu tiên của con người sau khi ăn phải độc

tố tảo giáp được tích luỹ trong thân mềm hai vỏ từ năm 1793, khi thuyền trưởng George Vancouver và đội thuỷ thủ của ông lên đất liền ở British Columbia, ngày nay được biết

là Poison Cove Ông đã ghi lại các bộ lạc ở vùng ấn độ nghiêm cấm ăn nhuyễn thể hai

vỏ khi nước biển phát quang do sự nở hoa của tảo roi [Dale và Yentsch, 1978] Nguyên nhân gây lên bởi các độc tố nhóm kiềm, bây giờ được gọi là nhóm độc tố gây liệt cơ (PSP), độc tố này sẽ gây ảnh hưởng đến người và các sinh vật khác khi tích luỹ một lượng nhất định (khoảng 500àg) trong 100g thịt động vật thân mềm hai mảnh vỏ (ĐVTMHMV) Trên phạm vi toàn cầu, đã thống kê được khoảng 2000 trường hợp người

bị nhiễm độc (15% tử vong) thông qua ăn phải cá và thân mềm hai vỏ được báo cáo hàng năm và nếu không được kiểm soát, các tổn thất kinh tế sẽ xảy qua việc giảm tiêu thụ địa phương và giảm xuất khẩu các sản phẩm thuỷ sản Cá voi và cá heo cũng có thể trở thành các nạn nhân khi chúng nhận độc tố thông qua chuỗi thức ăn được tích luỹ trong động vật nổi và cá [Geraci và cộng sự, 1989]

Hiện tượng ngộ độc PSP xảy ra trên thế giới ở các vùng nước lạnh và nước ấm Các trường hợp ngộ độc PSP ở người đã được đề cập từ những năm của thập kỷ 1700 ở Bắc Mỹ, nhưng nguyên nhân gây ra vẫn chưa được biết đến cho đến tận cuối thập niên

1920 và 1930, khi các nhà nghiên cứu của California tìm thấy mối quan hệ họ hàng của

độc tố trong động vật thân mềm hai vỏ bị nhiễm độc với các loài tảo Giáp ở khu vực đó

thuộc chi Alexandrium Sommer và các cộng sự của ông thậm chí còn cho các loài thân

mềm ăn các loài tảo giáp có độc để kiểm tra lại nguyên nhân và đường đi của độc tính,

và sau đó ông cho thân mềm ăn tảo giáp không độc để cho phép thân mềm lọc sạch độc

tính Ngày nay, 12 loài tảo Giáp thuộc chi Alexandrium, Pyrodinium, Gonyaulax và

Gymnodinium sản sinh độc tố PSP Thêm vào đó, một số loài vi khuẩn, tảo xanh lục và

tảo đỏ có khả năng sản sinh cùng loại độc tố có liên quan với neurotoxin, saxitoxin và các dẫn xuất của nó Các sinh vật trên sản sinh trên 18 loại độc tố đã biết, các độc tố bị biến đổi qua lại và sửa chữa cấu trúc [Oshima và cộng sự, 1984, 1990] Từng loài tảo Gíap riêng biệt không chứa tất cả các độc tố, chúng chỉ chứa các độc tố phù hợp và sự kết hợp giữa các loại độc tố tạo nên khả năng gây độc tính khác nhau Độc tính mạnh yếu có thể khác nhau, phụ thuộc vào vị trí địa lý nơi thu mẫu phân lập và điều kiện môi trường nơi các loài tảo này sinh sống [Anderson 1990]

Theo lịch sử, các hiện tượng PSP trong nước biển chủ yếu đã được xác định bởi

các loài Alaxandrium (= Protogonyaulax); tuy nhiên, trong vòng 10 năm trở lại đây, sự

Trang 3

bùng nổ PSP do Pyridinium bahmense var compressum và Gymnodinium catenatum đã

được xem xét là nguyên nhân gây tử vong cho con người và các vấn đề có liên quan đến sức khoẻ Không có các loài mới được quan sát, nhưng chúng là các loài gốc đã được mô tả, không có các dấu hiệu chứng tỏ chúng là các sinh vật nở hoa độc Ngày nay phần lớn các hiện tượng tử vong của con người từ sự bùng nổ PSP, hoặc các sự kiện độc tố thân mềm khác có độc được tích luỹ từ tảo Giáp, thường xuất hiện ở những nơi không

có các chương trình quan trắc quốc gia Các chương trình quan trắc thông thường sẽ bảo vệ những người sử dụng thân mềm làm thực phẩm bằng các quy định trong các bãi khai thác động vật thân mềm hai mảnh vỏ (ĐVTMHMV) khi các loài tảo Giáp độc có mặt hoặc khi độc tính trong thịt ĐVTMHMV vượt quá mức quy định đã được cho phép trong sử dụng đảm bảo an toàn thực phẩm Các nước không có các chương trình quan trắc bị rơi vào sự bất ngờ khi các sự kiện tảo giáp độc là nguyên nhân làm ĐVTMHMV trở lên độc và khi các hiện tượng này xảy ra, các cơ quan chức năng không kịp chuẩn bị thu mẫu, kiểm tra và thông báo các kết quả đã kiểm tra một cách kịp thời cho người tiêu dùng Tỷ lệ tử vong của người bị nhiễm độc tố ở các nước này đã được thống kê khoảng 20%

Độc tố PSP không chỉ tìm thấy trong bọn hai vỏ ăn lọc, chúng còn được đề cập

đến trong các cơ thể sống khác, thực phẩm hải sản trong vùng nuôi, như cua, ốc, cá thu Và khi ăn cá nuôi ở một số các vùng nuôi, người ăn có thể bị ốm hoặc chết, phụ thuộc vào độc tính và hiệu lực của các thành phần chứa trong ruột và sống trong cá

Sự tiêu thụ các hải sản đã bị nhiễm độc tố tảo có thể gây ra hàng loạt các triệu chứng bệnh lý về hệ thần kinh ở người Các bệnh lý và các triệu chứng lâm sàng quan trọng được tóm tắt trong các bảng dưới Hiện nay, không có thuốc giải đặc hiệu cho các hiện tượng ngộ độc từ độc tố tảo, nhưng việc cung cấp các thiết bị hô hấp nhân tạo có thể cứu sống nhiều nạn nhân trong trường hợp ngộ độc PSP [Hallegraeff và cộng sự, 2004]

Dưới đây là một số triệu chứng khi người tiêu dùng ăn phải thực phẩm hải sản có hàm lượng độc tố PSP cao

Trang 4

Các loài ĐVTMHMV và cá sống rạn là đối tượng chủ yếu tích luỹ độc tố tảo, tuy nhiên một số sinh vật biển khác như cua, rùa biển cũng có thể tích luỹ các độc tố này [Shumway 1990, Landsberg 2002] Điều quan trọng là các độc tố tảo không hề gây ra bất cứ mùi vị khác lạ nào cho thực phẩm biển, do đó ngư dân hoặc người tiêu thụ không thể nào phát hiện ngay lập tức sự có mặt của chúng mà chỉ có thể phát hiện bằng các phương pháp thử nghiệm sinh học hoặc phân tích hoá học Một vấn đề quan trọng nữa là các độc tố tảo không bị phá huỷ trong quá trình đun nấu và chính vì vậy chúng có thể tồn tại ở cả các sản phẩm hải sản đóng hộp, cấp đông hoặc các sản phẩm chế biến khác

Các nghiên cứu trước đây [Falconer I.R., 1993] về khả năng tích luỹ của Điệp

(Scallop) đối với độc tố của các loài Alexandrium đã cho thấy mức độ tích luỹ cao và

khả năng phân huỷ (tự giải độc) rất tốt nhưng khác nhau đối với chuỗi độc tố trong từng

bộ phận khác nhau Chúng được chỉ ra dường như tăng độc tính trong cơ quan sinh dục trong suốt quá trình giải độc vì sự chuyển gonyautoxin thành saxitoxin Một vấn đề nói riêng về sự tích luỹ độc tố trong điệp (scallop) đối với độc tố tảo là nhìn chung chỉ có

Trang 5

những con trưởng thành và cơ quan sinh dục (trứng) là được người tiêu thụ Các kết quả nghiên cứu trong mạng lưới quan trắc quốc gia của Pháp đã cho thấy đối với độc tố tảo dựa trên cơ sở xác định độc tính trong nội tạng và không xác định trong toàn bộ phần thịt hoặc trong các mô phân chia khác Giới hạn an toàn cho phép của Quốc tế sử dụng cho toàn bộ phần thịt thân mềm hai vỏ là 80 gSTXeq/100g mô Một số các nghiên cứu khác cũng khẳng định một điều các độc tố PSP được tích luỹ trong điệp (scallop) và chúng được đào thải rất chậm [Shumway và cs 1992] Đây chính là các nguyên nhân làm tăng sự không an toàn đối với người tiêu thụ thực phẩm hải sản

Sự tích luỹ của thân mềm hai vỏ đối với một số loại độc tố như độc tố ảnh hưởng thần kinh gây mất trí nhớ (ASP), độc tố gây tê liệt cơ (PSP) và độc tố gây tiêu chảy (DSP) là nguyên nhân gây tổn hại nghiêm trọng cho sức khoẻ cộng đồng cũng như ngành thuỷ sản Điều này đã trở thành một vấn đề đối với toàn cầu về sự gia tăng các trường hợp ngộ độc và tần xuất, cường độ lan rộng theo phân bố địa lý của các loài vi tảo có chứa độc tố và các vấn đề này cũng đang xảy ra tại các nước Đông nam á ở Việt Nam, người bị ngộ độc do ăn phải thân mềm hai vỏ có độc tố chưa được thống kê và báo cáo Tuy nhiên sự xuất hiện của các loài tảo tiềm tàng độc hại ở vùng biển Việt Nam đã

được thống kê và báo cáo [Larsen J và cs 2004]

Các nghiên cứu từ trước đến nay ở Việt Nam về lĩnh vực tảo độc đã cho thấy sự phân bố của các loài vi tảo tiềm tàng độc hại khá phong phú dọc theo các vùng ven biển, trong đó có một số loài bắt gặp với tần xuất xuất hiện nhiều và mật độ cao tại các vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung và một số đầm nuôi tôm, thành phần loài của chi

Alexandrium ở vùng biển phía Bắc khá phong phú, theo các nghiên cứu của tác giả Chu

Văn Thuộc đã phát hiện được hơn 10 loài có mặt [Chu Văn Thuộc, 2002) Nghiên cứu

của Yoshida và cs (2000) lần đầu tiên tìm thấy độc tố trong loài Alexandrium minutum

phân lập từ đầm nuôi tôm ở Quảng Ninh, Nguyễn Ngọc Lâm (2004) cũng đã công bố về

khả năng sản sinh độc tố của loài Alexandrium affine phân lập từ Vịnh Hạ Long Nghiên

cứu về khả năng tích luỹ độc tố trong một số đối tượng thân mềm hai vỏ cũng đã được phòng thí nghiệm Sinh vật phù du của Viện Tài nguyên và Môi trường biển Hải Phòng bắt đầu thực hiện từ năm 2002 trong khuôn khổ hợp tác với Đại học Kitasato của Nhật Bản Bên cạnh đó, một số đề tài nhỏ nghiên cứu về độc tố trong thân mềm hai vỏ đã

được phòng thí nghiệm Sinh hoá Viện Hải dương học Nha Trang thực hiện dưới sự tài trợ của dự án ASEAN-CANADA (năm 1999) v.v Những nghiên cứu này đã phát hiện

sự tồn tại của độc tố vi tảo trong đối tượng hai mảnh vỏ, nhưng hàm lượng thấp tại vùng biển ven bờ phía bắc như Hải Phòng, Thái Bình và phía nam như Nha trang, Phan Thiết

Trang 6

nay, NAFIQUAVED đã tổ chức tại các chi nhánh lớn của một số thành phố các phòng chịu trách nhiệm thực hiện các phân tích độc tố trong thân mềm hai mảnh vỏ trong lĩnh

vực kiểm soát an toàn và xuất khẩu thuỷ sản Trong đó, chỉ có Ngao (Meretrix

meretrix), Nghêu (Meretrix lyrata) là đối tượng được phân tích độc tố tảo một cách

thường xuyên theo quy định Độc tố dạng DSP được phân tích bằng phương pháp thử chuột của Yasumoto (1981), độc tố PSP cũng được phân tích theo phương pháp của AOAC (AOAC, 1995) trên chuột và độc tố dạng ASP (domoic acid) được phân tích bằng máy sắc ký khí lỏng cao áp HPLC [Lawerence và cs 1989]

Từ các kết quả nghiên cứu thu được ở trên đã gợi ý khả năng tích luỹ độc tố của các sinh vật biển và khả năng bùng phát các hiện tượng ngộ độc ở người trong các khu vực đó Tuy nhiên, mối quan hệ giữa việc xuất hiện các loài tảo độc và việc tích luỹ độc

tố trong thân mềm hai vỏ vẫn chưa được hiểu biết rõ ràng do thiếu hệ thống quan trắc có tính hệ thống trong các vùng này

Hiện tại các nước phát triển, hàng năm phải chi phí một lượng kinh phí rất lớn cho nguồn kiểm soát thực phẩm từ bờ biển Phần lớn các nước kết hợp việc quan trắc giám sát mật độ tảo với tiến hành phân tích, kiểm định độc tố ASP, PSP và DSP trong nhuyễn thể bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC)

Trong khuôn khổ của đề tài Nhà nước với mã số KC-09-19, nội dung nghiên cứu

về biến động hàm lượng độc tố vi tảo PSP được tích luỹ trong thân mềm hai vỏ tại một

số vùng nuôi trồng thuỷ sản trọng điểm đã được tiến hành nghiên cứu nhằm tìm hiểu biến động, hàm lượng và mối quan hệ giữa các loài tảo độc và khả năng tích luỹ độc tố của thân mềm hai vỏ nhằm đưa ra được những cảnh báo về nguy cơ xảy ra các hiện tượng ngộ độc ở người tiêu dùng khi sử dụng hải sản làm thực phẩm

II Phương pháp nghiên cứu

Độc tố gây liệt cơ (PSP) được gây nên bởi một nhóm khoảng 24 độc tố thần kinh mạnh (hình ) Các độc tố này đặc biệt được gắn vào các vị trí kích thích trên dây thần kinh và các tế bào cơ, kết quả cuối cùng là làm tê liệt cơ và suy kiệt sức khoẻ dẫn đến tử vong khi tiêu thụ thân mềm hai vỏ có tích luỹ độc tố Bởi vậy, sự phát triển của các phương pháp phân tích đối với việc định lượng và định tính các loại độc tố được xác

định cùng PSP là nhiệm vụ rất quan trọng Nhìn chung việc kiểm soát chất lượng độc tố tích luỹ trong thực phẩm luôn đòi hỏi chính xác việc định lượng của các độc tố PSP cùng với sự quan tâm đến các quy định quốc tế đối với việc bảo vệ sức khoẻ cộng đồng

và giao dịch thương mại quốc tế Phạm vi độc tính rộng của các độc tố PSP khác nhau

Trang 7

[Oshima, 1995], thêm vào là sự đa dạng các nhóm độc tố PSP của tảo Giáp, những loài

có khả năng sản sinh độc tố PSP và khả năng vận chuyển sinh học của các độc tố này trong phạm vi sinh học biển [Shumway, 1990], vì thế có sự thay đổi trong phân tích hoá học để phát triển các phương pháp phân tích chính xác và đáng tin cậy Phương pháp nghiên cứu hàm lượng độc tố PSP bằng phương pháp ELISA hiện đang được một số nước có kỹ thuật tiên tiến thực hiện như Nhật Bản Phương pháp này có ưu điểm là có thể phát hiện nhanh và rất nhạy đối với độc tố PSP ở hàm lượng rất thấp, thao tác đơn giản, dễ thực hiện, không đòi hỏi các trang thiết bị đắt tiền như các phòng hoá sinh tiêu chuẩn, trừ một số độc tố chuẩn và các kháng thể phải được chuẩn bị ở các phòng thí nghiệm lớn Nhưng lại có nhược điểm là dựa trên kháng thể với độc tố STX nên sẽ cho sai số nhỏ nếu độc tố PSP có thành phần chính là saxitoxin và các dẫn xuất của nó, sai

số sẽ lớn khi thành phần chính của nhóm độc tố không phải là saxitoxin và phương pháp này chỉ xác định được hàm lượng tổng số, không cho thấy được tỷ lệ giữa các nhóm độc

tố và vai trò cũng như độc tính của chúng khi tích luỹ trong sinh vật

Phân tích hàm lượng độc tố PSP được phân tích bằng phương pháp ELISA còn

gọi là phương pháp miễn dịch học liên kết enzym (Enzyme Linked Immunosorbant

Assay) Nguyên tắc của phương pháp này là dựa vào các chất kháng thể (được chiết xuất

từ huyết thanh thỏ) để nhận biết độc tố tảo Các kháng thể này được đánh dấu bằng các chất phóng xạ hoặc huỳnh quang Hoà dịch chiết thịt nhuyễn thể hai vỏ với các kháng thể đã được đánh dấu, tiếp theo dùng máy so màu chuyên dụng để phát hiện tổng lượng phóng xạ hoặc huỳnh quang của hợp chất huyết thanh miễn dịch + chất kháng thể, từ đó tính ra hàm lượng độc tố tảo có trong mẫu theo phương pháp của Branaa và cộng sự (1999) và Kodama (2003) Các bước phân tích cụ thể đối với độc tố được mô tả ở phần sau

2.1 Vật liệu nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

+ Vùng biển Hải Phòng: Vẹm xanh (Mytilus sp.) và Ngao (Meretrix meretrix) là

những đối tượng thân mềm hai vỏ có giá trị kinh tế được nuôi chủ yếu tại hai vùng biển Cát Bà và Đồ Sơn (Hải Phòng) vừa phục vụ xuất khẩu thuỷ sản, vừa phục vụ chế biến đồ

ăn hải sản cho khách du lịch tại chỗ

+ Vùng biển Thái Bình: Ngao (Meretrix sp.) là đối tượng được nuôi chủ yếu tại

các vùng ven biển Thái Bình và cũng là đối tượng được nghiên cứu hàm lượng các độc

tố vi tảo trong khuôn khổ của đề tài KC-09-19

Trang 8

+ Vùng biển Lăng Cô (TT Huế): Vẹm xanh (Mytilus sp.) là đối tượng thân mềm

hai vỏ được nuôi vừa cung cấp thực phẩm cho dân địa phương vừa là đồ hải sản được khách du lịch ưa chuộng trong các bữa ăn nên đã được chọn làm đối tượng nghiên cứu của đề tài

- Tần xuất thu mẫu:

+ Vẹm xanh và Ngao nuôi tại vùng biển Hải Phòng, được thu một tháng 2 lần và thu liên tục trong một năm từ tháng 5/2004 đến hết tháng 4 năm 2005 Tổng số mẫu

được tiến hành phân tích tại mỗi một điểm nghiên cứu là : Cát Bà 24 mẫu, Đồ Sơn: 24 mẫu

+ Ngao nuôi tại Thái Bình và Vẹm xanh nuôi tại vùng biển Lăng Cô (Huế) được thu mỗi tháng 1 lần cùng với các mẫu tảo và mẫu hoá nước tại vùng nghiên cứu

- Ngoài ra còn sử dụng các số liệu đã được quan trắc liên tục trong 2 năm

2002-2004 của dự án JSPS trong khuôn khổ hợp tác song phương giữa Viện tài nguyên và Môi trường Biển (thuộc VAST) của Việt Nam và trường Đại học Kitasato của Nhật Bản

Tham khảo một số kết quả nghiên cứu về độc tố PSP trong Ngao tại vùng biển Thái Bình, Nam Định và Thanh Hoá của nhóm tác giả Nguyễn Văn Nguyên (2004)

2.2 Phương pháp thu mẫu và xử lý mẫu

- Đồ Sơn: Ngao được đặt người cào hàng tháng trên bãi tự nhiên vào các thời

điểm có con nước trong tháng (tháng thu 2 lần), lựa những con có kích cỡ ổn định, đều nhau hàng tháng

- Cát Bà: Vẹm xanh được đặt mua cả chùm to, đặt nuôi cố định trong một lồng nuôi, hàng tháng đến ngày tỉa thu mẫu theo một kích cỡ ổn định

- Thái Bình: Ngao cũng được thu trực tiếp ngay trên các vây nuôi hàng tháng theo một kích cỡ ổn định

- Huế: Vẹm xanh được thu trực tiếp ngay trong các lồng nuôi theo một kích cỡ

Trang 9

+ Sau khi để ráo nước (trong 5 phút), mổ tách nội quan (phần có mầu nâu hoặc mầu sẫm hơn), cho vào lọ sạch

+ Nghiền nội quan bằng máy xay sinh tố hoặc cắt nhỏ rồi đem nghiền bằng cối

sứ (loại cối sứ sử dụng trong phòng thí nghiệm)

+ Sau khi mẫu được nghiền đồng nhất

2.3 Phương pháp phân tích độc tố PSP

Độc tố PSP được tiến hành phân tích theo phương pháp của Branaa (1999) và Kodama (2003)

Lưu ý: quá trình phân tích PSP phụ thuộc vào yếu tố pH, Do thường bền trong

môi trường có pH=5-7, saxitoxin cùng các dẫn xuất được giữ tốt nhất trong pH này dưới

điều kiện có Argon hoặc nitrogen và để tối Nếu bảo quản trong một năm có thể để ở

Trang 10

2.4 Phương pháp xử lý, tính toán hàm lượng độc tố trong ĐVTMHMV

2.4.1 Tính trung bình các chỉ số OD đo được trên máy (mẫu lặp 3 lần)

2.4.2 Phác thảo đồ thị tính toán: Bằng tay, hoặc sử dụng MS-Excel hoặc các phần mềm tính toán khác

Phương trình và đồ thị đường chuẩn cho tính toán hàm lượng độc tố ASP trong các mẫu thân mềm hai vỏ đã được xây dựng dựa trên các nồng độ chất chuẩn của STX

Hình 2.1 Đồ thị đường chuẩn cho tính toán hàm lượng độc tố PSP trong Ngao và Vẹm

xanh nuôi tại 4 vùng nuôi trên dựa trên hàm lượng các chất STX chuẩn

2.4.3, Đánh giá hàm lượng độc tố trong mỗi mẫu thử bằng việc sử dụng bước 2 =

A(nM) = A nmol/L : 1000 = B nmol/mL

Trang 11

2.4.4 Tính tổng hàm lượng độc tố PSP trong 1mL mẫu thân mềm đã xử lý cho phân tích

độc tố theo các bước trên bằng cách:

= B (nmol/mL) x MW (trọng lượng phân tử của độc tố) = C(ng/mL)

2.4.5 Tính hàm lượng độc tố trong 1g mẫu mô nội tạng của thân mềm hai vỏ

= C (ng/mL) : 0,5 (1mL dịch chiết chứa 0,5 g mô nội tạng) = D (ng/g mô nội tạng)

III Kết quả và thảo luận

PSP là độc tố gây tê liệt thần kinh, người ngộ độc là do ăn phải các sinh vật có vỏ

đã nhiễm độc tố do các loài tảo Giáp sản sinh (ví dụ như Alexandrium, Pyrodinium và

Gymnodinium) [Hashimoto và Noguchi 1989] Độc tố PSP bao gồm saxitoxin (STX) và

hơn 20 dẫn xuất của nó Các hợp chất này tan tốt trong nước và hầu hết đều bền nhiệt, chúng có tác động đến cả hệ thần kinh và các hoạt động của hệ thống cơ của con người

3.1 Biến động hàm lượng độc tố PSP trong Ngao (Meretrix meretrix) nuôi

tại Đồ Sơn – Hải Phòng

Cũng như độc tố ASP, độc tố PSP được quan trắc với tần xuất 2 lần/tháng trong Ngao nuôi tại Đồ Sơn Kết quả phân tích các mẫu thu được cho thấy Ngao nuôi Đồ Sơn

có tích luỹ loại độc tố này nhưng hàm lượng rất thấp (hình 3.1)

Hình 3.1 cho thấy hàm lượng độc tố PSP biến động không mạnh theo các đợt quan trắc trong năm, dao động từ vài phần trăm ng/g đến 2 ng/g mô nội tạng của Ngao nuôi Tháng 4 năm 2005 là tháng quan trắc có hàm lượng độc tố PSP thấp nhất (0,03-0,18 ng/g), hàm lượng độc tố PSP quan trắc trong cả năm đạt cao nhất 1,97 ng/g trong

đợt quan trắc II của tháng 11 năm 2004 và tiếp đến là đợt quan trắc I của tháng 2 năm

2005 (đạt 1,74 ng/g)

So sánh với kết quả quan trắc năm 2003-2004 trong khuôn khổ của dự án JSPS, nhận thấy, hàm lượng độc tố PSP (thành phần chính là độc tố saxitoxin STX) trong năm quan trắc này biến động mạnh hơn dao động từ 0 đến 3,56 ng(STXeq)/g mô nội tạng và

có 2 đỉnh độc tố cao nhất trong năm quan trắc là đợt quan trắc II tháng 9 (hàm lượng

đạt 3,45ng/g) và tiếp đến là đợt quan trắc II tháng 10 (hàm lượng độc tố đạt 2,35 ng/g)

Trang 12

/04 4/8

/04

14/94

11/10

/047/11/04 4/12/04 11/1

/05 6/2/0

5 9/3/0

5 5/4/05

Thêi gian thu mÉu

Trang 13

năm 2004 Điều này có thể phụ thuộc vào sự có mặt và mật độ của các loài tảo có khả

năng sản sinh độc PSP như chi Alexandrium

Kết hợp với các kết quả nghiên cứu định lượng về các loài tảo Giáp thuộc chi

Alexandrium phân bố trong vùng nghiên cứu, nhận thấy có mối tương quan giữa hàm

lượng độc tố PSP được tích luỹ trong Ngao và mật độ tb/L của chi này Tuy nhiên mối

tương quan này không chặt chẽ vì chi Alexandrium thường có mật độ rất thấp, tần xuất

bắt gặp trong mẫu nhỏ nên số liệu khó xử lý, chỉ mang tính xu thế

0 0.5 1 1.5 2 2.5

Mật độ Alexandrium spp Hàm lượng độc tố ng/g (STX)

Hình 3.3 So sánh mối tương quan giữa hàm lượng độc tố PSP được tích luỹ trong Ngao

Đồ Sơn với mật độ tảo chi Alexandrium (quan trắc năm 2004-2005)

Kết quả nghiên cứu định tính cũng cho thấy chi Alexandrium tuy có mật độ thấp

nhưng có mặt quanh năm trong vùng biển Đồ Sơn , đỉnh mật độ cao nhất của chi này đạt trong tháng 5/2004, nhưng các đỉnh độc tố PSP lại không trùng với khoảng thời gian

này Điều này gợi ý có thể loài Alexandrium đóng góp cho mật độ này lại không có khả

năng sản sinh độc tố hoặc có nhưng rất thấp Hình 3.3 còn cho thấy, các đỉnh độc tố luôn không trùng với đỉnh mật độ nhưng thường xuất hiện sau đỉnh mật độ, điều này rất trùng với các kết quả đã được nghiên cứu trước đó của các tác giả Premazzi và Voltera (1993)

Trang 14

Các nghiên cứu trước của phòng thí nghiệm sinh vật phù du trong khuôn khổ dự

án JSPS và của tác giả Nguyễn Văn Nguyên (2004) cũng cho thấy không có mối tương

quan chặt chẽ giữa mật độ của các loài tảo thuộc chi Alexandrium và hàm lượng độc tố

PSP được tích luỹ trong Ngao

3.2 Biến động hàm lượng độc tố PSP trong Vẹm xanh (Mytilus sp.) nuôi

tại Cát Bà – Hải Phòng

Hàm lượng độc tố PSP trong Vẹm xanh nuôi ở Cát Bà cũng được quan trắc với tần xuất 2 lần/tháng Kết quả phân tích cho thấy Vẹm xanh nuôi ở Cát Bà có tích luỹ loại độc tố PSP, nhưng hàm lượng thấp dao động từ 0,36 đến 7,43 ng (STXeq)/g mô nội tạng Biến động giữa các đợt quan trắc trong năm không mạnh, tháng 5 năm 2004 và tháng 2, tháng 4 năm 2005 là những tháng quan trắc cho hàm lượng độc tố PSP thấp

Đợt quan trắc I của tháng 11 năm 2004 cho thấy hàm lượng độc tố PSP đạt cao nhất trong năm quan trắc (7.43 ng STXeq/g mô nội tạng) Dao động giữa các đỉnh hàm lượng

độc tố không nhiều

0 1 2 3 4 5 6 7 8

11/

5/2004 9/6/

04 9/

04 5/

04

17/9

/04 13/10/

04 9/11

/04 5/12/04 12/

Trang 15

Các đỉnh độc tố xuất hiện trong đợt quan trắc I của tháng 7 (đạt 25,4 ng/g) và II của tháng 9 (đạt 23,73 ng/g) Hai năm quan trắc đều thấy các tháng 1, 2 và 3 có hàm lượng

độc tố giảm dần và đạt thấp nhất trong năm để tìm hiểu nguyên nhân tích luỹ độc tố cao hay thấp trong Vẹm xanh cần tìm hiểu mối quan hệ giữa mật độ các loài tảo

Alexandrium (chi chủ yếu số loài có khả năng sản sinh độc tố PSP) và hàm lượng độc tố

PSP tích luỹ trong nội quan của Vẹm xanh

Hình 3.6 cho thấy mối tương quan không chặt chẽ giữa hàm lượng độc tố được

tích luỹ trong Vẹm xanh và mật độ tảo thuộc chi Alexandrium Mặt khác cũng nhận

thấy mật độ của các loài tảo thuộc chi này rất thấp dao động từ 0 đến gần 100 tb/L tại

vùng nghiên cứu Mẫu định tính cũng cho thấy chi Alexandrium phân bố quanh năm,

điều này giải thích vì sao hàm lượng độc tố PSP được tích luỹ quanh năm trong Vẹm xanh nhưng với hàm lượng rất thấp

Trang 16

04 21/6/

04 9/7/0420/7/045/8/0417/8/0417/9/0430/9/04

13/10/0421/10/049/11/

04

23/11/

04 5/12/

05 5/

05 24/2/

05 10/3/

05 18/3/

Hình 3.6 So sánh mối tương quan giữa hàm lượng độc tố PSP được tích luỹ trong

Vẹm xanh Cát Bà với mật độ tảo chi Alexandrium (quan trắc năm 2004-2005)

3.3 Biến động hàm lượng độc tố PSP trong Ngao (Meretrix sp.) nuôi tại

Tiền Hải – Thái Bình

Khác với đối tượng Ngao và Vẹm xanh nuôi ở vùng biển Hải Phòng được quan trắc với tần xuất 2 lần/tháng, Ngao nuôi ở Thái Bình được quan trắc 1 lần/tháng Kết quả quan trắc được cho thấy Ngao nuôi Thái Bình có tích luỹ độc tố PSP trong mô nội tạng, biến động hàm lượng độc tố giữa các tháng không lớn trừ đợt quan trắc của tháng 12 năm 2004 và tháng 2 năm 2005

Trang 17

Hình 3.7 cho thấy hàm lượng độc tố PSP trong Ngao nuôi Thái Bình dao động từ 0,54 (tháng 8 năm 2004) đến 6,01ng/g mô nội tạng (tháng 11 năm 2004)

Mặt khác theo tác giả Đào Việt Hà và cs (2004), hàm lượng độc tố PSP trong Ngao nuôi Thái Bình quan trắc trong năm 2002-2003 cho kết quả phân tích bằng HPLC dao động từ 69,1 đến 385 ng/g thịt Ngao Hàm lượng độc tố này cao hơn rất nhiều lần kết quả quan trắc của năm 2004-2005 (bảng 3.1)

Bảng 3.1 So sánh hàm lượng độc tố PSP tích luỹ trong Ngao nuôi Thái Bình

Ghi chú: (*) nguồn số liệu Nguyễn Văn Nguyên và cộng sự (2003)

Sự khác nhau về hàm lượng độc tố theo thời gian và không gian nghiên cứu vì

chúng sẽ phụ thuộc vào sự có mặt và mật độ của các loài tảo thuộc chi Alexandrium

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Nguyên (2004) cho thấy sự dao động khác nhau về hàm lượng độc tố PSP tích luỹ trong Ngao 3 vùng Thái Bình, Nam định và Thanh Hoá trùng

với sự dao động khác nhau về mật độ chi Alexandrium ở Thanh Hoá mật độ

Alexandrium đạt trên 1000 tb/L đã làm độc tố PSP được tích luỹ cao nhất (77,28àg/100

g thịt Ngao) –số liệu quan trắc năm 2002-2003

Số liệu quan trắc về mật độ chi Alexandrium năm 2004-2005 tại Thái Bình cũng

cho thấy chi này thường có mặt ở vùng nước xa bờ, mật độ dao động trong năm quan trắc thấp, biến động từ 0 đến 450 tb/L và bắt gặp trong các tháng 8 năm 2004 và tháng

2, 3 năm 2005 So sánh giữa mật độ Alexandrium và hàm lượng độc tố PSP trong Ngao

không có mối tương quan chặt chẽ, có thể do mật độ và hàm lượng độc tố trong môi trường cũng như tích luỹ trong Ngao thấp nên mối tương quan không thể hiện rõ ràng

Trang 18

3.4 Biến động hàm lượng độc tố PSP trong Vẹm xanh (Mytilus sp.) nuôi

tại Lăng Cô (Huế)

Vẹm xanh (Mytilus sp.) là đối tượng thân mềm hai vỏ được nghiên cứu về khả

năng tích luỹ độc tố PSP và được quan trắc với tần xuất 1lần/tháng Kết quả phân tích

độc tố PSP cho thấy, Vẹm xanh có khả năng tích luỹ độc tố PSP, nhưng hàm lượng độc

tố tích luỹ thấp, nằm trong giới hạn an toàn cho phép sử dụng làm thực phẩm Biến động theo thời gian quan trắc, dao động từ 0,63 (tháng 7 năm 2004) đến 21,27 ng(STXeq)/g mô nội tạng (tháng 10 năm 2004)

Hình 3.8 Biến động hàm lượng độc tố PSP trong nội tạng Vẹm xanh nuôi tại Lăng Cô -

Huế (số liệu quan trắc tháng 5/ 2004- tháng 4/2005)

Các số liệu khảo sát về mật độ của chi Alexandrium do đại học Huế thực hiện trong năm 2004-2005 cho thấy tảo thuộc chi Alexandrium xuất hiện trong phần lớn các

đợt khảo sát nhưng mật độ thấp, dao động từ 30 đến 1.667 tb/L Riêng tại trạm HCL4,

chi Alexandrium trung bình dưới 1000tb/L và vào đợt quan trắc tháng 12 năm 2004, mật

độ chi Alexandrium cao nhất đạt 7.200tb/L So sánh với hàm lượng độc tố được tích luỹ

trong Vẹm xanh, nhận thấy đỉnh độc tố xuất hiện (tháng 10 năm 2004) không trùng với

đỉnh mật độ chi Alexandrium, chiếm ưu thế đạt 355tb/L (tháng 4 năm 2005) Có thể do

mật độ của chi này quá thấp và hàm lượng độc tố tích luỹ cũng rất thấp nên không thể hiện mối tương quan ró ràng

Trang 19

3.5 So sánh khả năng tích luỹ độc tố PSP trong nội quan (gan, tuỵ) của

Ngao và Vẹm xanh nuôi tại các vùng thuỷ sản trọng điểm miền Bắc và miền Trung

Trong năm 2002-2003, tác giả Đào Việt Hà và cs trong khuôn khổ của đề tài cấp

Bộ thuỷ sản đã tiến hành nghiên cứu hàm lượng độc tố PSP trong Ngao nuôi tại 3 tỉnh Thái Bình, Nam Định và Thanh Hoá, trong nghiên cứu này tác giả đã sử dụng phương pháp HPLC (sắc ký lỏng cao áp) Kết quả nghiên cứu được cho thấy hàm lượng độc tố tích luỹ trong Ngao nuôi tại 3 tỉnh trong năm 2002-2003 cao hơn nhiều lần kết quả phân tích được trong năm 2004-2005

So sánh với các kết quả quan trắc được về hàm lượng độc PSP trong Ngao và Vẹm xanh nuôi tại Hải Phòng, Thái Bình và Lăng Cô (Huế) trong năm 2004-2005, ta

được kết quả trong bảng 3.2

Bảng 3.2 So sánh hàm lượng độc tố PSP được tích luỹ trong Ngao và Vẹm xanh nuôi tại

các vùng biển Đồ Sơn, Cát Bà, Thái Bình và Lăng Cô (Huế)

Số liệu quan trắc 2004-2005 Hàm lượng

ít nhất (cao nhất chỉ đạt 1,97 ng/g mô nội tạng) So sánh mật độ của chi Alexandrium tại

4 vùng biển nghiên cứu nhận thấy chi này luôn có mật độ thấp tại cả 4 vùng, nhưng vùng Lăng Cô (Huế) có mật độ dao động mạnh nhất từ 30 đến 1.667 tb/L Riêng tại

trạm HCL4, chi Alexandrium trung bình dưới 1000tb/L và vào đợt quan trắc tháng 12 năm 2004, mật độ chi Alexandrium cao nhất đạt 7.200tb/L Tuy đỉnh mật độ này không trùng với đỉnh độc tố nhưng nó gợi ý Alexandrium cao là nguyên nhân gây tích luỹ độc

tố PSP trong Vẹm xanh nên Vẹm xanh nuôi tại Lăng Cô (Huế) có tích luỹ độc tố PSP cao nhất

Trang 20

9/7/0 4 20/7

5/8/0 4 17/8

4

2/0 4

Hình 3.9 So sánh khả năng tích luỹ hàm l−ợng độc tố trong Ngao nuôi ở Đồ Sơn và

Vẹm xanh nuôi ở Cát Bà (Hải Phòng) quan trắc năm 2004 - 2005

Các vùng nghiên cứu còn lại, mật độ chi Alexandrium luôn thấp tại các tháng dao

động từ vài chục đến vài trăm tb/L nên hàm l−ợng độc tố đ−ợc tích luỹ trong thân mềm hai vỏ thấp hơn

Ngao TháI Bình Vẹm Huế

Hình 3.10 So sánh khả năng tích luỹ hàm l−ợng độc tố trong Ngao nuôi ở Thái Bình và

Vẹm xanh nuôi đầm Lăng Cô (TT Huế)

Trang 21

Bảng 3.2 và hình 3.9, 3.10 cho thấy hàm lượng độc tố PSP được tích luỹ trong Vẹm xanh thường cao hơn trong Ngao nhiều lần điều này đã được Shumway và cộng sự (1995) nghiên cứu cho thấy khả năng tích luỹ độc tố rất khác biệt theo từng loài sinh vật, tốc độ tích luỹ độc tố của các sinh vật ăn lọc có liên quan chặt chẽ đến số lượng tế bào vi tảo thích hợp với chúng Nhưng sự đào thải của các độc tố đã tích luỹ lại phụ thuộc vào vị trí hay bộ phận mà chúng tập trung tích luỹ trong cơ thể sinh vật Ví dụ độc

tố tập trung trong hệ tiêu hoá của Vẹm xanh sẽ bị đào thải nhanh hơn là độc tố tích luỹ

trong cơ, còn đối với các giống Saxidomus, Placopecten và Spisula thì ngược lại Do vậy Vẹm Mytilus được coi là loài có khả năng tích luỹ độc tố nhanh nhất và đào thải độc tố

trong thời gian ngắn nhất Ngược lại sò và điệp có thể lưu giữ độc tố trong khoảng thời gian khá dài (2 năm) [Shumway và Cembella 1990]

Mặt khác sự tích luỹ độc tố trong các đối tượng nuôi khác nhau còn phụ thuộc rất nhiều vào sự có mặt và mật độ của các loài tảo sản sinh ra các độc tố này So sánh giữa Ngao Đồ Sơn và Vẹm Cát Bà cho thấy, hàm lượng độc tố dao động khác nhau nhưng

đỉnh hàm lượng độc tố xuất hiện trong các thời điểm gần nhau (đợt quan trắc II của tháng 10 đến tháng 12năm 2004 Đây cũng là những thời điểm có mặt các loài tảo

Alexandrium tại 2 vùng biển này và mật độ quan trắc được của các chi này khá cao so

với các đợt quan trắc khác (theo kết quả phân tích định tính và định lượng của vi tảo gây hại tại vùng biển này –hình 3.11)

04 8/

04

20/6

4 8/7

/04

21/7

4 4/

11/044/12/

05 6/

05 23/2/

05 9/

05 20/3/

05 5/

Trang 22

Ngao nuôi ở Thái Bình và Vẹm xanh nuôi ở Huế cũng cho bức tranh tương tự,

độc tố PSP tích luỹ trong Vẹm cao hơn Ngao và kết quả nghiên cứu về thành phần loài,

phân bố và mật độ chi Alexandrium cũng cho thấy tại các trạm khảo sát của Huế luôn

bắt gặp chi này và có tháng bắt gặp với mật độ rất cao (thảo luận ở trên)

3.6 So sánh hàm lượng độc tố và độ an toàn thực phẩm trong thân mềm

hai vỏ thuộc 3 vùng nuôi trên

Độc tố PSP có thể gây nguy hiểm tới tính mạng của người khi ăn phải thức ăn có

độc tố này, trong trường hợp nghiêm trọng tử vong có thể xảy ra do liệt cơ hô hấp trong vòng 2-24 giờ sau khi ăn, các dấu hiệu ngộ độc cụ thể đã được trình bày trong bảng 1 ở phần trên

Chính vì độc tố PSP có mức độ nguy hiểm như vậy đối với sức khoẻ người tiêu dùng nên nó được quan trắc ở phần lớn các quốc gia (chiếm 81% các nước có biển) bằng phương pháp thử nghiệm trên chuột theo phương pháp chuẩn của AOAC (1995), trừ một số nước sử dụng hệ thống phân tích HPLC như Nethrlands, DanMạch, Nhật Bản, UK-Scoland [Design and Implementation]

Tiêu chuẩn về giới hạn an toàn đối với hàm lượng độc tố PSP cũng rất khác nhau tại các nước Đối với các nước EU, giới hạn hàm lượng độc tố PSP trong mô các nhuyễn thể cho phép sử dụng là dưới 80àg STXeq/100g thịt thân mềm hai vỏ tương ứng với 400MU/100g thịt Giới hạn tiêu chuẩn này được áp dụng cho 89% các nước và vùng có quan trắc độc tố PSP Tiêu chuẩn cho phép đối với độc tố này được áp dụng ở Philippine

và Norway thấp hơn, chỉ áp dụng mức 40 àg/100g thịt (200 MU/100g thịt) Còn đối với Canada, các sản phẩm có hàm lượng độc tố PSP đạt đến 160àg/100g mô sẽ bị huỷ bỏ Dưới đây là một số tiêu chuẩn cụ thể được áp dụng tại một số nước có sản phẩm thuỷ sản chiếm ưu thế và phương pháp phân tích loại độc tố này

Bảng 3.3 Giới hạn cho phép đối với độc tố PSP tại một số nước và phương pháp sử dụng

cho phân tích độc tố này (Shumway và cs 1996)

Trang 23

Như vậy, đối chiếu với các tiêu chuẩn cho phép về hàm lượng độc tố PSP tại một

số nước và Việt Nam [tiêu chuẩn của Bộ Thuỷ sản, 2000], nhận thấy các đối tượng Ngao và Vẹm xanh nuôi tại Hải Phòng, Thái Bình và Huế có tích luỹ độc tố PSP nhưng hàm lượng rất thấp (dao động trong phạm vi vài ng/g tương đương với vài trăm ng/100g thịt) dưới mức an toàn cho phép rất nhiều lần Tuy nhiên hàm lượng độc tố này sẽ biến

đổi phụ thuộc vào sự có mặt và mật độ của các loài tảo có khả năng sản sinh độc tố PSP

như các loài thuộc chi Alexandrium v.v và các yếu tố môi trường tại từng thời điểm và

từng vùng nghiên cứu Vì vậy để đảm bảo cho sức khoẻ cộng đồng khi sử dụng hải sản làm thực phẩm rất cần có hệ thống quan trắc thường xuyên để có thể kịp thời cảnh báo khi mật độ của các loài tảo sản sinh độc tố quá cao hoặc đóng cửa các vùng khai thác

đối tượng thân mềm hai vỏ khi hàm lượng độc tố PSP/100g thịt vượt quá giới hạn cho phép (>80àg)

Các nghiên cứu trước của các nhóm tác giả thuộc Phân viện hải dương học Hải Phòng và Nha trang đều cho thấy hàm lượng độc tố PSP tích luỹ trong các đối tượng thân mềm hai vỏ thuộc các khu vực phía Bắc và Trung nam bộ thấp, nằm trong giới hạn

an toàn cho người sử dụng các đối tượng này làm thực phẩm nhiều lần Trừ trường hợp ngộ độc tại đảo Nhơn Châu vào tháng 5/1998 đã có một cô giáo bị chết và một số người

được cứu sống khi ăn phải cua biển trong một chuyến dã ngoại Dưới sự tài trợ của dự

án ASEAN- Canada 1998, loài cua này đã được thu và phân tích độc tố, kết quả phân

tích này cho thấy chúng có chứa độc tố PSP và đặc biệt loài cua Mặt quỷ Zosymus

aeneus có độc tính cao nhất (631,87 àg STXeq/100g thịt) [Nga và cs 1998]

Trang 24

3.7 Giải pháp làm giảm tác hại của các độc tố tảo PSP đối với người tiêu

thụ ĐVTMHMV làm thực phẩm

Các kết quả nghiên cứu trên tuy không cho thấy rõ mối tương quan thuận giữa

mật độ của các loài tảo thuộc chi Alexandrium có khả năng sản sinh độc tố PSP và sự

tích luỹ độc tố trong ĐVTMHMV, nhưng cũng đã cho thấy rõ mật độ của chi

Alexandrium chính là nguyên nhân chính gây nên sự tích luỹ độc tố nguy hiểm này

trong ĐVTMHMV Chính vì vậy, một số nước trên Thế giới đã kiểm soát rất chặt chẽ vấn đề môi trường của các vùng nuôi trồng thuỷ sản Để đảm bảo an toàn trong đồ ăn hải sản cho người dân, chính phủ của các nước này đã đưa mật độ tế bào của một số loài

tảo có khả năng sản sinh độc tố thuộc chi Alexandrium thành một tiêu chuẩn quy định

cho việc khai thác thuỷ sản tại vùng nuôi trồng tập trung Bảng dưới đây sẽ cho thấy rõ hơn vấn đề này

Bảng 3.4 Giới hạn mật độ của một số loài tảo thuộc chi Alexandrium đối với việc khai

thác nhuyễn thể (theo Andersen 1996)

độc tố Spain-Valencia

Alexandrium catanella

Trang 25

đồng, khi mật độ của các loài thuộc chi này dao động từ có mặt trong vùng nuôi trồng

đến 5x107 tb/L lập tức phải tăng cường quan trắc thu mẫu hàng ngày hoặc đóng cửa khai

thác Phần lớn các nước còn tăng cường quan trắc việc phân tích độc tố trong nhuyễn

thể bằng HPLC Có sự khác nhau về giới hạn mật độ của các loài khác nhau trong cùng

một chi quy định cho các hoạt động ứng xử khác nhau Điều này là kết quả của sự sản

sinh hàm lượng độc tố biến động khác nhau giữa các loài khác nhau

Kết luận và kiến nghị

Kết luận

Sau một năm quan trắc hàm lượng độc tố PSP được tích luỹ trong mô nội tạng

của Ngao và Vẹm xanh nuôi tại một số tỉnh miền Bắc (Hải Phòng, Thái Bình) và miền

Trung (Huế) cho thấy:

- Các đối tượng thân mềm hai vỏ Ngao (Meretrix meretrix) và Vẹm xanh

(Mytilus sp.) nuôi tại các vùng biển Đồ Sơn, Cát Bà, Thái Bình và Lăng Cô (Huế) có

tích luỹ độc tố PSP trong mô nhưng hàm lượng rất thấp, dưới mức giới hạn cho phép

trong sử dụng các đối tượng này làm thực phẩm nhiều lần Nhìn chung hàm lượng độc

tố dao động từ vài phần trăm đến vài chục ng/g mô nội tạng

+ Hàm lượng độc tố PSP trong Ngao (Meretrix meretrix) nuôi Đồ Sơn dao động

từ vài phần trăm ng/g đến 2 ng (STXeq)/g mô nội tạng của Ngao nuôi Tháng 4 năm

2005 là tháng quan trắc có hàm lượng độc tố PSP thấp nhất (0,03-0,18 ng/g), hàm lượng

độc tố PSP quan trắc trong cả năm đạt cao nhất 1,97 ng/g trong đợt quan trắc II của

tháng 11 năm 2004

+ Hàm lượng độc tố PSP trong Vẹm xanh nuôi ở Cát Bà thấp, dao động từ 0,36

đến 7,43 ng (STXeq)/g mô nội tạng Biến động giữa các đợt quan trắc trong năm không

mạnh, tháng 5 năm 2004 và tháng 2, tháng 4 năm 2005 là những tháng quan trắc cho

Trang 26

hàm lượng độc tố PSP thấp Đợt quan trắc I của tháng 11 năm 2004 cho thấy hàm lượng

độc tố PSP đạt cao nhất trong năm quan trắc (7.43 ng STXeq/g mô nội tạng)

+ Hàm lượng độc tố PSP trong Ngao nuôi Thái Bình thấp, dao động từ 0,54 (tháng 8 năm 2004) đến 6,01ng (STXeq)/g mô nội tạng (tháng 12 năm 2004)

+ Hàm lượng độc tố PSP trong Vẹm xanh nuôi ở vùng Lăng Cô (Huế) thấp, dao

động từ 0,63 (tháng 7 năm 2004) đến 21,27 ng(STXeq)/g mô nội tạng (tháng 10 năm 2004)

- So sánh khả năng tích luỹ độc tố PSP trong các đối tượng thân mềm hai vỏ cho thấy Vẹm xanh được nuôi ở Lăng Cô (Huế) tích luỹ độc tố PSP cao nhất (đạt 21,27 ng/g mô nội tạng), Ngao nuôi Đồ Sơn có hàm lượng độc tố tích luỹ ít nhất (cao nhất chỉ

đạt 1,97 ng/g mô nội tạng)

- Hàm lượng độc tố PSP tích luỹ trong Ngao và Vẹm xanh nuôi tại các vùng

nghiên cứu có mối tương quan không chặt chẽ với mật độ của chi Alexandrium phân bố

tại các vùng biển này Có thể do chi này có mật độ quá thấp, thường chỉ dao động từ vài chục đến vài trăm tb/L nên biểu hiện tương quan không rõ ràng, trừ vùng Lăng Cô (Huế) có mật độ dao động mạnh nhất từ 30 đến 1.667 tb/L Riêng tại trạm HCL4, chi

Alexandrium trung bình dưới 1000tb/L và vào đợt quan trắc tháng 12 năm 2004, mật độ

chi Alexandrium cao nhất đạt 7.200tb/L Tuy đỉnh mật độ này không trùng với đỉnh độc

tố nhưng nó gợi ý Alexandrium cao là nguyên nhân gây tích luỹ độc tố PSP trong Vẹm

xanh nên Vẹm xanh nuôi tại Lăng Cô (Huế) có tích luỹ độc tố PSP cao nhất

tố từ các loài tảo sản sinh độc tố đến tích luỹ trong thân mềm hai vỏ còn ít được biết

đến Để tìm hiểu các vấn đề này ở các nước phát triển đã có các hệ thống quan trắc quá trình tích luỹ độc tố và mật độ của các loài tảo sản sinh độc tố hàng vài chục năm, từ đó mới có những hiểu biết cũng như những kết luận chính thức cho vần đề này Ví dụ như

chương trình quan trắc mức độ phong phú của các loài Heterosigma akashiwo,

Prorocentrum triestinum, Prorocentrum minimum và Heterocapsa rotundata trong vịnh

Narragansett từ năm 1959-1980 [Karentz và Smayda, 1984] Vì vậy đối với Việt Nam rất cần có những nghiên cứu tiếp theo

Trang 27

Tài liệu tham khảo

Chu Văn Thuộc, 2000 Bước đầu nghiên cứu một loài tảo gây hại thuộc chi Alexandrium

Halim (Dynophyceae) ở vùng nước ven bờ phía Bắc Việt Nam Tạp chí Tài

nguyên và Môi trường Biển, tập 7: trang 207-213 Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội

Nguyễn Văn Nguyên và cs, 2004 Điều tra nghiên cứu tảo độc hại tại ba vùng nuôi ngao

tập trung tại Thái Bình, Nam Định và Thanh Hoá Báo cáo đề tài cấp Bộ Thuỷ sản Hải Phòng 2003 97 trang

Andersen P., 1996 Design and Implementation of some Harmful Algal Monitoring

Systems IOC Technical Series No 44, UNESCO

Branaa P., Naar J., Chinain M and Panillac S 1999 Preparation and characterization of

domoic acid-protein conjugates using small amount of toxin in a reversed unicella medium, application in a competitive enzyme-linked immunosorbent assay Bioconjug Chem 10 : 1137-1142

Bajarias F.F.A., Montojo U M., Relox J., Sato S., Kodama M., Yoshida M and Fukuyo

Y., 2003 Paralytic shellfish poisoning due to Alexandrium minutum Halim in Northeastern Philippines In Proceedings of the First Joint Seminar 0n Coastal Oceanography, Chiang Mai Nitithamyong, C (ed), p.278, NRCT/JSPS

Fleming, L.E., J.A Bean & D.G Baden 1995 Epidemiology and public health Pp

475-487 - In G.M Hallegraeff, D.M Anderson, & A.D Cembella (Eds.)

Manual on Harmful Marine Microalgae: IOC Manuals and Guides No 33

UNESCO

Hallegraeff, G.M 1995 Harmful Algal Blooms: A global overeview Pp 4-18 - In

G.M Hallegraeff, D.M Anderson, & A.D Cembella (Eds.), Manual on Harmful

Marine Microalgae: IOC Manuals and Guides No 33 UNESCO

Hallegraeff G.M., Anderson D M and Cembella A.D (Edi), 2004 Manual on Harmful

Marine Microalgae UNESCO Publishing 793 pp

Huyen N.T.M., Thuoc C.V., Ogata T., Sato S., Takata Y., Kodama M and Fukuyo Y.,

2006 Seasonal variation of paralytic and amnesic shellfish toxicities in bivalves and microalgae in Haiphong area, Vietnam In Coastal Marine Science 30(1): 000-000, 2006

Trang 28

Ian R.Falconer (Ed.), 1993 Algal toxins in Seafood and Drinking water Academic

Larsen J and N.L Nguyen (editors) 2004 Potentially toxic microalgae of Vietnamese

waters In: Opera Botanica 140 Copenhagen 2004

Lim P.T., Leaw C.P and Usup G., 2002 First paralytic shellfish poisoning in the east

coast of Peninsula Malaysia Marine Scienece into New Millennium: New perspectives and challenges, Kuala Lumpur, University of Malaya, Maritime Research Center

Nga, D.T 2000 Preliminary study on crab poisoning in Isle village Nhon Chau (Binh

Dinh province) In: The conference Bien Dong held at Nhatrang, 19-21 september 2000

Premazzi, G & L.Voltera 1993 Microphyte Algae Commission of the European

Communities

Shimizu Y., Gupta S., Masuda K., Maranda L., Walker C.K and Wang R., 1989

Dinoflagellate and other microalgal toxins: Chemistry and Biochemistry Pure Appl Chem 61: 513-516

Shumway, S.E (1990) A review of the effects of algal blooms on shelllfish and

aquaculture J.World Aquaculture Soc., 21, 65-104

Shumway, S.E., & Cembella, A.D (1993) The impact of toxic algae on scallop culture

and fisheries Rev.Fish.Sci., 1, 121-150

Shumway, S.E., H.P.von Egmond, J.W.Hurst, & L.L.Bean (1995) Management of

shellfish resources In G.M Hallegraeff, D.M Anderson, & A.D Cembella

(Eds.), Manual on Harmful Marine Microalgae (pp 433-463) UNESCO

Sournia A (EDS), 1978 Phytoplankton Manual UNESCO

Usup G., Leaw C.P., Lim P.T, and Ahmad A., 2002 Probable toxin producer

responsible for the first occurrence of paralytic shellfish poisoning on the east coast of Peninsula Malaysia Malays Appl Biol 31(2): 29-35

Trang 29

Yashumoto, T., Y.Oshima, & Y.Kotachi (1983) Analysis of paralytic Shellfish toxins

in coral reef crabs and gastropods with the indentification of the primary source

of toxins Toxicon, 513-519

Yoshida M., Ogata T., Thuoc C.V., Matsuoka K., Fukuyo Y., Hoi N.C and Kodama M.,

2000 The first finding of toxic dinoflagellate Alexandrium minutum in Vietnam Fish Sci 66: 177-179

Trang 30

Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo

trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ

Loài động vật hai mảnh vỏ dùng cho phân tích: Ngao (Meretrix meretrix)

Khối lượng mẫu hai mảnh vỏ đã thu: 2kg

Trọng lượng mẫu nội tạng sau xử lý: 20g

1 2,27

Đại diện nhóm phân tích Người kiểm tra

Nguyễn Thị Minh Huyền T Ogata

Trang 31

Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo

trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ

Loài động vật hai mảnh vỏ dùng cho phân tích: Ngao (Meretrix meretrix)

Khối lượng mẫu hai mảnh vỏ đã thu: 2kg

Trọng lượng mẫu nội tạng sau xử lý: 20g

1 2,285

Đại diện nhóm phân tích Người kiểm tra

Nguyễn Thị Minh Huyền Takehico Ogata

Trang 32

Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo

trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ

Loài động vật hai mảnh vỏ dùng cho phân tích: Ngao (Meretrix meretrix)

Khối lượng mẫu hai mảnh vỏ đã thu: 2kg

Trọng lượng mẫu nội tạng sau xử lý: 20g

1 1,999

Đại diện nhóm phân tích Người kiểm tra

Nguyễn Thị Minh Huyền Takehico Ogata

Trang 33

Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo

trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ

Loài động vật hai mảnh vỏ dùng cho phân tích: Ngao (Meretrix meretrix)

Khối lượng mẫu hai mảnh vỏ đã thu: 2kg

Trọng lượng mẫu nội tạng sau xử lý: 20g

1 2,222

Đại diện nhóm phân tích Người kiểm tra

Nguyễn Thị Minh Huyền Takehico Ogata

Trang 34

Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo

trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ

Loài động vật hai mảnh vỏ dùng cho phân tích: Ngao (Meretrix meretrix)

Khối lượng mẫu hai mảnh vỏ đã thu: 2kg

Trọng lượng mẫu nội tạng sau xử lý: 20g

1 1,995

Đại diện nhóm phân tích Người kiểm tra

Nguyễn Thị Minh Huyền Takehico Ogata

Trang 35

Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo

trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ

Loài động vật hai mảnh vỏ dùng cho phân tích: Ngao (Meretrix meretrix)

Khối lượng mẫu hai mảnh vỏ đã thu: 2kg

Trọng lượng mẫu nội tạng sau xử lý: 20g

1 2,319

Đại diện nhóm phân tích Người kiểm tra

Nguyễn Thị Minh Huyền Takehico Ogata

Trang 36

Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo

trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ

Loài động vật hai mảnh vỏ dùng cho phân tích: Ngao (Meretrix meretrix)

Khối lượng mẫu hai mảnh vỏ đã thu: 2kg

Trọng lượng mẫu nội tạng sau xử lý: 20g

1 2,221

Đại diện nhóm phân tích Người kiểm tra

Nguyễn Thị Minh Huyền Takehico Ogata

Trang 37

Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo

trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ

Loài động vật hai mảnh vỏ dùng cho phân tích: Ngao (Meretrix meretrix)

Khối lượng mẫu hai mảnh vỏ đã thu: 2kg

Trọng lượng mẫu nội tạng sau xử lý: 20g

1 2,173

Đại diện nhóm phân tích Người kiểm tra

Nguyễn Thị Minh Huyền Takehico Ogata

Trang 38

Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo

trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ

Loài động vật hai mảnh vỏ dùng cho phân tích: Ngao (Meretrix meretrix)

Khối lượng mẫu hai mảnh vỏ đã thu: 2kg

Trọng lượng mẫu nội tạng sau xử lý: 20g

1 2,085

Đại diện nhóm phân tích Người kiểm tra

Nguyễn Thị Minh Huyền Takehico Ogata

Trang 39

Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo

trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ

Loài động vật hai mảnh vỏ dùng cho phân tích: Ngao (Meretrix meretrix)

Khối lượng mẫu hai mảnh vỏ đã thu: 2kg

Trọng lượng mẫu nội tạng sau xử lý: 20g

1 2,263

Đại diện nhóm phân tích Người kiểm tra

Nguyễn Thị Minh Huyền Takehico Ogata

Trang 40

Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lượng độc tố tảo

trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ

Loài động vật hai mảnh vỏ dùng cho phân tích: Ngao (Meretrix meretrix)

Khối lượng mẫu hai mảnh vỏ đã thu: 2kg

Trọng lượng mẫu nội tạng sau xử lý: 20g

1 1,776

Đại diện nhóm phân tích Người kiểm tra

Nguyễn Thị Minh Huyền Takehico Ogata

Ngày đăng: 14/05/2014, 21:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Một số triệu chứng khi ngộ độc tố PSP - điều tra, nghiên cứu tảo độc gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra - hàm lượng độc tố gây liệt cơ (psp) trong động vật thân mềm ha
Bảng 1. Một số triệu chứng khi ngộ độc tố PSP (Trang 4)
Hình 2.1. Đồ thị đường chuẩn cho tính toán hàm lượng độc tố PSP trong Ngao và Vẹm - điều tra, nghiên cứu tảo độc gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra - hàm lượng độc tố gây liệt cơ (psp) trong động vật thân mềm ha
Hình 2.1. Đồ thị đường chuẩn cho tính toán hàm lượng độc tố PSP trong Ngao và Vẹm (Trang 10)
Hình 3.2. So sánh hàm l−ợng độc tố PSP tích luỹ trong Ngao nuôi ĐS trong các năm - điều tra, nghiên cứu tảo độc gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra - hàm lượng độc tố gây liệt cơ (psp) trong động vật thân mềm ha
Hình 3.2. So sánh hàm l−ợng độc tố PSP tích luỹ trong Ngao nuôi ĐS trong các năm (Trang 12)
Hình 3.1.  Biến động hàm l−ợng độc tố PSP trong nội tạng Ngao nuôi tại Đồ Sơn (số liệu - điều tra, nghiên cứu tảo độc gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra - hàm lượng độc tố gây liệt cơ (psp) trong động vật thân mềm ha
Hình 3.1. Biến động hàm l−ợng độc tố PSP trong nội tạng Ngao nuôi tại Đồ Sơn (số liệu (Trang 12)
Hình 3.3. So sánh mối tương quan giữa hàm lượng độc tố PSP được tích luỹ trong Ngao - điều tra, nghiên cứu tảo độc gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra - hàm lượng độc tố gây liệt cơ (psp) trong động vật thân mềm ha
Hình 3.3. So sánh mối tương quan giữa hàm lượng độc tố PSP được tích luỹ trong Ngao (Trang 13)
Hình 3.4. Biến động hàm l−ợng độc tố PSP trong nội tạng Vẹm xanh nuôi tại Cát Bà (số - điều tra, nghiên cứu tảo độc gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra - hàm lượng độc tố gây liệt cơ (psp) trong động vật thân mềm ha
Hình 3.4. Biến động hàm l−ợng độc tố PSP trong nội tạng Vẹm xanh nuôi tại Cát Bà (số (Trang 14)
Hình 3.5. So sánh hàm l−ợng độc tố PSP tích luỹ trong vẹm xanh nuôi Cát Bà trong các - điều tra, nghiên cứu tảo độc gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra - hàm lượng độc tố gây liệt cơ (psp) trong động vật thân mềm ha
Hình 3.5. So sánh hàm l−ợng độc tố PSP tích luỹ trong vẹm xanh nuôi Cát Bà trong các (Trang 15)
Hình 3.7. Biến động hàm l−ợng độc tố PSP trong nội tạng Ngao nuôi tại Thái Bình (số - điều tra, nghiên cứu tảo độc gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra - hàm lượng độc tố gây liệt cơ (psp) trong động vật thân mềm ha
Hình 3.7. Biến động hàm l−ợng độc tố PSP trong nội tạng Ngao nuôi tại Thái Bình (số (Trang 16)
Hình 3.6. So sánh mối tương quan giữa hàm lượng độc tố PSP được tích luỹ trong   Vẹm xanh Cát Bà với mật độ tảo chi Alexandrium (quan trắc năm 2004-2005) - điều tra, nghiên cứu tảo độc gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra - hàm lượng độc tố gây liệt cơ (psp) trong động vật thân mềm ha
Hình 3.6. So sánh mối tương quan giữa hàm lượng độc tố PSP được tích luỹ trong Vẹm xanh Cát Bà với mật độ tảo chi Alexandrium (quan trắc năm 2004-2005) (Trang 16)
Hình 3.7. cho thấy hàm l−ợng độc tố PSP trong Ngao nuôi Thái Bình dao động từ  0,54 (tháng 8 năm 2004) đến 6,01ng/g mô nội tạng (tháng 11 năm 2004) - điều tra, nghiên cứu tảo độc gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra - hàm lượng độc tố gây liệt cơ (psp) trong động vật thân mềm ha
Hình 3.7. cho thấy hàm l−ợng độc tố PSP trong Ngao nuôi Thái Bình dao động từ 0,54 (tháng 8 năm 2004) đến 6,01ng/g mô nội tạng (tháng 11 năm 2004) (Trang 17)
Hình 3.8. Biến động hàm l−ợng độc tố PSP trong nội tạng Vẹm xanh nuôi tại Lăng Cô - - điều tra, nghiên cứu tảo độc gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra - hàm lượng độc tố gây liệt cơ (psp) trong động vật thân mềm ha
Hình 3.8. Biến động hàm l−ợng độc tố PSP trong nội tạng Vẹm xanh nuôi tại Lăng Cô - (Trang 18)
Bảng 3.2. So sánh hàm l−ợng độc tố PSP đ−ợc tích luỹ trong Ngao và Vẹm xanh nuôi tại - điều tra, nghiên cứu tảo độc gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra - hàm lượng độc tố gây liệt cơ (psp) trong động vật thân mềm ha
Bảng 3.2. So sánh hàm l−ợng độc tố PSP đ−ợc tích luỹ trong Ngao và Vẹm xanh nuôi tại (Trang 19)
Hình 3.9. So sánh khả năng tích luỹ hàm l−ợng độc tố trong Ngao nuôi ở Đồ Sơn và - điều tra, nghiên cứu tảo độc gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra - hàm lượng độc tố gây liệt cơ (psp) trong động vật thân mềm ha
Hình 3.9. So sánh khả năng tích luỹ hàm l−ợng độc tố trong Ngao nuôi ở Đồ Sơn và (Trang 20)
Hình 3.10. So sánh khả năng tích luỹ hàm l−ợng độc tố trong Ngao nuôi ở Thái Bình và - điều tra, nghiên cứu tảo độc gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra - hàm lượng độc tố gây liệt cơ (psp) trong động vật thân mềm ha
Hình 3.10. So sánh khả năng tích luỹ hàm l−ợng độc tố trong Ngao nuôi ở Thái Bình và (Trang 20)
Bảng 3.2. và hình 3.9, 3.10 cho thấy hàm l−ợng độc tố PSP đ−ợc tích luỹ trong  Vẹm xanh thường cao hơn trong Ngao nhiều lần - điều tra, nghiên cứu tảo độc gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra - hàm lượng độc tố gây liệt cơ (psp) trong động vật thân mềm ha
Bảng 3.2. và hình 3.9, 3.10 cho thấy hàm l−ợng độc tố PSP đ−ợc tích luỹ trong Vẹm xanh thường cao hơn trong Ngao nhiều lần (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm