Chu Văn Thuộc BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU KHẢ NĂNG SẢN SINH ĐỘC TỐ ASP VÀ PSP TRONG MỘT SỐ LOÀI TẢO ĐỘC PHÂN LẬP TỪ NƯỚC BIỂN VÙNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN MIỀN BẮC VIỆT NAM Người
Trang 1
VIEN KHOA HOC VA CONG NGHE VIET NAM
VIEN TAI NGUYEN VA MOI TRUONG BIEN
000
ĐỀ TÀI CẤP NHÀ NƯỚC KC-09-19
“Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng
nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp
phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Chủ nhiệm đề tài: TS Chu Văn Thuộc
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU KHẢ NĂNG SẢN SINH ĐỘC TỐ
ASP VÀ PSP TRONG MỘT SỐ LOÀI TẢO ĐỘC PHÂN LẬP
TỪ NƯỚC BIỂN VÙNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MIỀN BẮC VIỆT NAM
Người thực hiện:
ThS Nguyễn Thị Minh Huyền, CN Phạm Thế Thư, ThS Nguyễn Thị Thu, CN Trần Mạnh Hà Phòng Sinh vật phù du và Vi sinh vật Biển, Viện Tài nguyên và Môi trường Biến
Tel (031) 565 495 Fax (031) 761 521 E-mail: Planktondept@imer.ac.vn
tf A0/0G
Trang 2Báo cdo chuyén dé - Dé tai KC-09-19: “Diéu tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trông thuỷ
sản tập trung ven biển, để xuất giải pháp phòng ngữa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiều loài vi tảo đã được khẳng định hoặc nghi ngờ là nguồn gốc sinh ra các
độc tố Hầu hết các loài vi tảo độc này sống trong môi trường biển và nước lợ thuộc
lớp tảo Giápvà tảo Silíc, ngoài ra còn một số loài thuộc tảo Sợi Bám, tảo Kim và Vĩ
khuẩn Lam cũng có thể chứa độc tố Các độc tố tảo có thể gây hại trực tiếp cho khu hệ
thực vật và động vật hoặc chúng có thể tích luỹ trong các sinh vật thông qua chuỗi thức ăn như bọn động vật thân mềm hai mảnh vỏ, cá và do đó gây nguy hại cho bọn động vật ăn thịt trong đó bao gồm cả người tiêu thụ loại thực phẩm này
Hàm lượng độc tố cao nhất trong tế bào tảo có thé bat gap ở các giai đoạn sinh
trưởng khác nhau ở các loài tảo khác nhau Ví dụ như ở chỉ tảo Alexandrium, hàm lượng độc tố cao nhất là ở giai đoạn tăng trưởng hàm sé mi (Cambella 1998), trong khi đó, & tao Silic Pseudo-nitzschia, độc tố được sản sinh chủ yếu ở giai đoạn ổn định
(Bates 1998) trường hợp đặc biệt khác Prorocentrum cordatum chỉ độc ở giai đoạn
tăng trưởng sau ổn định và tan lui (Grzebyk va cs 1997)
Sự khác biệt rõ rệt có ở nhiều loài là một loài tảo có thể rất độc, độc ít, hoặc
không độc — những khác biệt này có thể xảy ra ở trong cùng một vùng, hoặc ở các vùng địa lý khác nhau, ví dụ một số loài thuộc chi Alexandrium (Cembella 1998),
Gymnodinium catenatum (Oshima và cs 1993) và các loài tảo Silíc Pseudo-nitzschia (Bates va cng su 1998)
¢ Hiéu ứng sinh học của các độc tố tảo
Bản chất hoá học và hiệu ứng sinh học của độc tố của các loài tảo sống trong
môi trường biển được trình bày tóm tất trong bảng sau Những khái niệm khái quát
hơn về độc tố tảo, ảnh hưởng của chúng và cả các phương pháp phân tích
Bảng 1 Các dòng độc tố tảo có trong thực phẩm hải sản và một số đặc tính
Brevetoxin (10) NSP (Neurotoxic Shellfish Chất béo [Thần kinh, cơ,
Poisonins) - độc tố thân kinh phối, não
Ciguatoxin CFP (Ciguatera Fish Poisoning) |Chat béo [Thần kinh, cơ,
Axit domoic (11) | ASP (Amnesic Shellfish Poisoning) | Nudc Nao
Axit Okadaic (3) DSP (Diarrhetic Shellfish Chất béo |_ Hệ thống
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 1
Trang 3Báo cáo chuyên để - Dé thi KC-09-19: “Diéu tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, để xuất giải pháp phòng ngữa, giảm thiểu nhiing tác hại do chúng gây ra”
Poisoning) - độc tố gây tiêu chảy enzym
Saxitoxin (18) PSP (Paralytic Shellfish Poisoning)- | Nước "Thần kinh,
Tất cả các độc tố tảo không những là độc đối với hệ thần kinh mà một số còn
gây độc đối với hệ tiêu hoá Bao gồm các nhóm độc tố sau:
+ Độc tố thần kinh
Độc tố PSP là nhóm lớn nhất và điển hình nhất trong nhóm độc tố thần kinh
Độc tố PSP được chia thành 3 nhóm (Carbamate, N-sulfocarbamoyl, Decarbamoyl
toxins) Độc tố carbamate là độc tố chiếm đa số và là nguyên nhân cho các phản ứng đầu tiên khi tiêu thụ độc tố Nhóm sulfocarbamoyl thường có mặt trong cả tảo Giáp
và nhuyễn thể nhưng không thường xuyên đóng góp nhiều vào độc tính chung của nhuyễn thể Độc tố Decarbamoyl được tìm thấy trong các vùng địa lý được lựa chọn
và sự phát triển một phần trong nhuyễn thể từ sự chuyển hoá ngược lại của độc tố từ
hai nhóm còn lại Độc tính của độc tố Decarbamoyl là trung gian giữa hai loại độc tố
kia Sự biến đổi qua lại của các loại độc tố khác nhau có thể thực hiện trên cả hoá học
và enzym học (Sullivan và cộng sự 1983) Nhìn chung giữa 3 và 12 của các độc tố
khác nhau có mặt trong bất cứ một mẫu thân mềm và tạo thành một file độc tố của nhuyễn thể File độc tố phụ thuộc vào các chủng của tảo Giáp, loài nhuyễn thể và thời
gian giữa đào thải và thu mẫu độc tố Các file độc tố có thể chịu ảnh hưởng của quá
trình chuyển hoá ngược hoặc sự duy trì có lựa chọn của các độc tố trong nhuyễn thể
sau khi ăn vào bụng Chính điều này đi đôi cùng với các file độc tố khác nhau trong các chủng tảo giáp khác nhau, làm chúng rất khó dự đoán độc tố nào sẽ xuất hiện
trong mẫu nhuyễn thể và tạo ra sự khó khăn khi thực hiện phân tích và xác định độc
tính trong thân mềm Xa hơn nữa trong việc phân lập nói riêng các toxic profile trong các loài nhuyễn thể là có mối liên hệ không đổi
Độc tố ASP là chất cạnh tranh mạnh của kainite, chúng bịt kín các điểm tiếp nhận gÌutamate của não bộ Sự hoạt hoá trực tiếp của các điểm tiếp nhận kainafe glutamate gay ra su tăng nồng độ N+ trong tế bào — hiện tượng này có thể làm phá vỡ
tế bào Đặc biệt ở vùng dưới của não bộ — vùng điều khiển chức năng hiểu biết và trí nhớ là nơi chịu ảnh hưởng chủ yếu của axit domoic
+ Độc tố hệ tiêu hoá
Độc tố DSP ức chế enzym protein phosphatase — là enzym đóng vai trò điều hoà các quá trình trao đổi chất quan trọng của tế bào Hiện tượng tiêu chảy gây ra bởi độc tố DSP là đo quá trình hydrate hoá các protein trong biểu mô thành ruột, làm rối
loạn cân bằng nước (Van Dolah 2000) Ngoài ra đã có rất nhiều bằng chứng cho rằng
a xit okadaíc là tác nhân kích thích sự phát triển của các khối u bướu (Rossini 2000)
Trang 4Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Diéu tra, nghién citu tdo déc, tdo gay hai ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đê xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hai do chúng gây ra”
Cho đến năm 1970, sự bùng phát muộn của các loài tảo giáp như Alexandrium
(Gonyaulax) tamarense và Alexandrium (Gonyaulax) cattenella được duy nhất biết
đến từ các vùng nước ấm của châu Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản (Dale và Yentsch, 1978) đến năm 1990, các hiện tượng này đã được biết đến nhiều ở cả các vùng Southern
Hemisphere, trong vùng South africa, Astralia, New Zealand, India, Thailand, Brunel,
Sabah, Phillippin va Papua New Guinca Có rất nhiều ghi nhận trong thời gian dài của
sự nở hoa tảo tại bất cứ vùng nào
Nghiên cứu về tảo độc hại mới được thực hiện khoảng 10 năm trở lại đây ở Việt
Nam, tuy nhiên bước đầu đã đạt được một số kết quả nhất định, trong đó chủ yếu kiểm
kê về thành phần loài tảo tiềm tàng độc hại có mặt trong vùng nước ven bờ Việt Nam Các nghiên cứu này cho thấy một số chỉ có chứa các loài tảo có khả năng sản sinh độc
tố như chỉ Pseudo-nitzschia (độc tố ASP) và chị Alexandrium (độc tố PSP) có số loài
khá phong phú và phân bố rộng khắp Đây là những nhóm khó phân loại, như chỉ tảo
GiápAlexandrium vẫn có thể định loại dưới kính hiển vi quang học, tuy nhiên những
quan sát chỉ tiết để phân biệt giữa các loài đòi hỏi tới các chuyên gia Tương tự như vậy, để phân loại các loài thuộc chỉ tảo Silíc Pseudo-nifzschia, nhất thiết cân đến việc
sử dụng kính hiển vi điện tử Còn nghiên cứu về độc tố ở Việt Nam mới chỉ được bắt
đầu, trước đây phòng thí nghiệm sinh hoá của Viện Hải đương học Nha Trang đã thực
hiện một số nghiên cứu trong phạm vi hẹp của các đề tài cấp viện và Bộ thuỷ sản, mẫu chủ yếu được phân tích bằng phương pháp thử chuột của Yasumoto (1981) Bên
cạnh đó, phòng thí nghiệm sinh vật phù du của Viện Tài nguyên và Môi trường Biển trong khuôn khổ hợp tác JSPS với Nhật Bản cũng đã tiến hành quan trắc biến đổi hàm
lượng độc tố trong một số đối tượng nuôi trồng thuỷ sản có giá trị kinh tế tại khu vực Hải Phòng bằng phương pháp ELISA trong giai đoạn 2002-2004 Hiện nay, NAFIQUAVED đã tổ chức tại các chỉ nhánh lớn của một số thành phố các phòng chịu trách nhiệm thực hiện các phân tích độc tố trong than mềm hai mảnh vỏ trong lĩnh vực
kiểm soát an toàn và xuất khẩu thuỷ sản Trong đó, chỉ có Nghêu (Merethrix lyrata) là
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 3
Trang 5Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại Ở mội số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, để xuất giải pháp phòng ngửa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
đối tượng được phân tích độc tố tảo một cách thường xuyên theo quy định Độc tố dang DSP được phân tích bằng phương pháp thử chuột của Yasumoto (1981), độc tố PSP cũng được phân tích theo phương pháp của AOAC (AOAC 1995) và độc tố dạng ASP (acid domoic) được phân tích bằng máy sắc ký khí lỗng cao áp HPLC
(Lawerence và cs 1989)
Trang 6Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hai Ở một số vùng nuôi trắng thuỷ
sản tập trung ven biển, đê xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
1L PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp thu mẫu và xử lý mẫu
2.1.1 Phương pháp thu thập mẫu ngoài hiện trường
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu thực vật phù du và tảo độc hại được biên soạn trong các tài liệu: Phytoplankton rmanual [Sournia, 1978], Manual on harmful marine microalgae (Hallegraeff va cs., 1995, 2004] va Design and implementation of some harmful algal monitoring system [Andersen, 1996] do UNESCO ấn hành
Phương pháp tiến hành cụ thể dưới đây
e Dung cu chi yéu
Dụng cụ thu mẫu thực vật nổi cho phân tích độc tố ngoài hiện trường gồm hai loại thiết bị thông dụng là máy lấy nước (còn gọi là Bathomet) gồm các loại Vandorn,
Niskin, và lưới kéo thực vật phù du với kích thước mắt lưới từ 20 đến 254m
+ Thu sinh khối để phân tích độc tố
Đùng lưới thực vật phù du với kích thước mắt lưới từ 20 đến 25m kéo thẳng đứng từ đáy lên mặt một vài lần nhằm mục đích thu được sinh khối thực vật phù du lớn nhất
Lọc qua lưới để loại bớt nước biển, cô mẫu với thể tích từ 300-500mlL, Dồn
mẫu sang chai sạch cho vào hộp đá để mát và vận chuyển ngay về phòng thí nghiệm với khoảng thời gian trong ngày
2.1.2 Xử lý mẫu trong phòng thí nghiệm theo quy trình sau:
Mẫu nuôi được gom lại
‡ Đo chính xác thể tích lượng nước
Phần I: 10m1, + lugol Lọc qua màng lọc thuy tinh GF/F
(Whattman)
Đếm mật độ tế bào vỉ tảo Mẫu cô trong 10mL,
cu chuyén dung
Thu mẫu + PBS ->10mL Dun séi cach thuy 5 phiit
Trang 7Báo cáo chuyên đề - Dé tai KC-09-19: “Diéu tra, nghién citu tdo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, để xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hai do chúng gây ra”
Thu dịch trong -> bảo quản trong tủ đá để phân tích
độc tố ASP và PSP bằng ELISA
2.2 Phương pháp phân tích các loại mẫu độc tố ASP, PSP
- Kiểm tra hàm lượng độc tố ASP và PSP được phân tích bằng phương pháp ELISA còn gọi là phương pháp miễn dịch học liên kết enzym (Enzyme Linked Immunosorbant Assay) Nguyên tắc của phương pháp này là dựa vào các chất kháng thể (được chiết xuất từ huyết thanh thỏ) để nhận biết độc tố tảo Các kháng thể này được đánh dấu bằng các chất phóng xạ hoặc huỳnh quang Hoà địch chiết thịt nhuyễn thể hai vỏ với các kháng thể đã được đánh đấu, tiếp theo
dùng máy so màu chuyên dụng để phát hiện tổng lượng phóng xạ hoặc huỳnh
quang của hợp chất huyết thanh miễn dịch + chất kháng thể, từ đó tính ra hàm lượng độc tố tảo có trong mẫu theo phương pháp của Branaa và cộng sự (1999)
và Kodama (2003)
- Đối với chủng nuôi Alexandrium minutum được phân lập từ đầm nuôi
tôm khu vực Đồ Sơn (Bắc Việt nam) đã được khẳng định có độc tính trong
nghiên cứu của Yoshida và cs 2000 Vì vậy độc tố PSP của chủng này đã được mnang sang Nhật và thực hiện các nghiên cứu tại phòng thí nghiệm hoá sinh trường Đại học Kitasato của Nhật Bản và được phân tích bằng sắc ký lỏng cao
áp Một loại độc tố mới (PST- Paralytic shellfish toxin) đã được phân tích sâu hơn trên quang phổ khối LC/MS
2.3 phương pháp xử lý, tính toán hàm lượng độc tố trong các mẫu tảo tự nhiên 2.3.1 Tính trung bình các chỉ số OD đo được trên máy (3 lần)
2.3.2 Phác thảo đồ thị tính toán:
Bằng tay, hoặc sử dụng MS-Excel hoặc các phần mềm tính toán khác để có được phương trình và đồ thị đường chuẩn cho tính toán hàm lượng độc tố trong các mẫu vi tảo biển tự nhiên dựa trên nồng độ các độc tố chuẩn thực hiện trong ngày
Trang 8Báo cáo chuyên đê - Dé tai KC-09-19: “Diéu tra, nghién cttu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, để xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hai do ching gây ra”
= B(pmol/mẫu) x MW (trọng lượng phân tử của độc tố) = C(pg/mẫu)
2.3.5 Tính hàm lượng độc tố trong 1tế bào mẫu tảo độc nuôi
= C(pg/mẫu) : M (tổng mật độ tế bào nuôi đã thu sinh khối) = D (pg/tế bào mẫu tảo)
II KẾT QUÁ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Tìm hiểu khả năng sẵn sinh độc tố ASP trong chỉ tảo Pseudo-nifzschia
Sự kiện nở hoa của loài tảo Silíc Pseudo-nifzschia multiseries 6 ving biển Atlantic Canada năm 1987 đã là nguyên nhân làm chết 3 người và 105 người bị ngộ độc Các nghiên cứu về sinh thái, phân bố địa lý và kết hợp với định loại trong chỉ này
đã cho thấy loài P mulriseries có khả năng sản sinh ra domoic acid (DA) tồn tại dưới
đạng một amino axit, sau đó được tích luỹ trong vẹm xanh nuôi tại khu vực đó và cuốt cùng được người tiêu thụ và bị ngộ độc Những năm sau đó, nhiều loài khác trong chỉ
này đã được xác định có khả năng sản sinh độc tố DA và ảnh hưởng của độc tố này đang được quan trắc từ đầu vào của chuỗi thức ăn đến động vật phù du, cá, chim, động vật biển và người
Chi Pseudo-nitzschia cé hon 20 loài phân bố trên toàn cầu Trước kia chúng
được xếp thành một nhóm nằm trong chỉ Ni/zschia, sau đó dựa vào các đặc điểm hình thái học, sinh lý học và di truyền học, Hasle (1993, 1994) đã xếp lại Pseudo-nitzschia thành một chí mới Chí Psewdo-nitzschia được chú ý nhiều từ khi xảy ra sự bùng phát của độc tố PSP gây mất trí nhớ được tích luỹ trong động vật thân mềm hai vỏ vào năm
1987 Các nghiên cứu đã cho thấy độc tố được sản sinh ở giai đoạn sinh trưởng ổn định (pha tinh) cia tao [Bates va cong su, 1989; Lundholm va céng su 1994, Pan và cộng sự 2000] Những nghiên cứu còn cho thấy rằng những dòng độc và không độc của cùng một loài đều tồn tại và các điều kiện sinh lý để sản sinh độc tố hiện vẫn chưa
được biết đầy đủ [LundholÌm và cs 1997, Bates va cs 1998]
Chỉ Pseudo-nizschia ở Việt Nam đã xác định được 11 loài, bao gồm: P brasiliana, P calliantha, P cuspidata, P delicatissima, P cf granii, P micropora, P
multistriata, P pungens, P cf sinica va P subfraudulenta {J Larsen va cs., 2004]
Trong đó, khu vực miền Bắc thường xuyên xuất hiện các loai P calliantha (Synonym:
P pseudodelicatissma), P delicatissừna và P pưngens
3.1.1 Các loài tảo Pseudo-nitzschia phân lập được tại vùng biển Hải Phòng
Trong khuôn khổ của để tài KC-09-19, chúng tôi đã tiến hành quan trắc, khảo sát hàng tháng, thu mẫu sống và phân lập, nuôi cấy các loài Psewdo-nitzschia bắt gặp
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 7
Trang 9Báo cáo chuyên đề - Đề tai KC-09-19: “Diéu tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vàng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Kết quả qua nhiều lần phân lập và nuôi cấy, phòng thí nghiệm Sinh vật phù du của Viện Tài nguyên và Môi trường biển đã phân lập thành công các loài P pưngens ở Đồ Sơn và P pseudodelicatissma, P delicatissima ở Cát Đà
Sau khi phân lập thành công, các loài này đã được nuôi sinh khối trong nước
biển đã làm giàu bằng môi trường K và sinh khối được thu vào thời kỳ giữa pha sinh
trưởng để phân tích độc tố ASP, tìm hiểu khả năng sản sinh domoic acid (DA) của các
loài này bằng phương pháp ELISA Kết quả phân tích được chỉ ra trong bảng sau
Bảng 3.2 Tìm hiểu khả năng sản sinh độc tố ASP của chỉ Pseudo-nitzschia
ở miền Bắc Việt Nam
Ghi chi: ND (not detected): không phát hiện được (âm tính)
Kết quả phân tích được trong bảng 3.2 cho thấy 3 loài tảo Pseudo-nitzschia khi kiểm tra độc tố ASP đều cho kết quả âm tính (không phát hiện được) Khi so sánh số liệu phân tích của chúng tôi với các kết quả nghiên cứu của các tác giả khác nhận thấy, các mẫu phân tích ASP được thu để phân tích độc tố đang ở giữa giai đoạn của
pha log- pha sinh trưởng, trong khi đó theo nghiên cứu của Bates va cs (1989); Lundholm và cs (1994), Pan và cs (2000) cho thấy độc tố được sản sinh ở giai đoạn
sinh trưởng ổn định (pha cân bằng - pha tĩnh) của tảo Các nghiên cứu còn cho thấy
rằng, cùng một loài đều tồn tại những dòng độc và không độc và các điều kiện lý sinh
để sản sinh độc tố hiện vẫn chưa được biết đầy đủ [Lundholm và cs., 1997, Bates và
cs., 1998] Đây có thể là một trong những lý do để giải thích vì sao không phát hiện
được độc tố trong tế bào của các loài thuộc chỉ Pseudo-nifzschia Ngoài ra, khả năng sản sinh độc tố ASP của tảo Pseudo-nitzschia còn phụ thuộc vào cường độ ánh sáng,
cụ thể là ở cường độ ánh sáng mạnh thì khả năng sản sinh độc tố cũng mạnh [Kotaki thông báo cá nhân] Điều này góp phần giải thích vì sao không phát hiện được độc tố trong các loài tảo Pseudo-nitzschia mà đề tài đã phân lập được tại Viện Tài nguyên và Môi trường Biển trong các năm 2004-2005, khi ánh sáng được thiết kế nuôi sinh khối tảo chỉ ở mức 2000-3000 lux trong phòng muôi tảo Nói chung, cơ chế sản sinh độc tố của tảo Pseudo-nitzschia là rất phức tạp, do vậy cần có các nghiên cứu theo hướng này
trong thời gian tới thì mới có thé đưa ra các nhận định chính xác hơn về kha nang san
sinh độc tố trong các loài tảo này ở vùng biển Việt Nam
Trang 10Báo cáo chuyên để - Đề tài KC-09-19: “Điều tra, nghiên cứu táo độc, tảo gây hại Ở một số vàng nuôi trông thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Kết quả nghiên cứu của Dự án HABViệt khi phân tích các mẫu Psewdo-
nitzschia pseudodelicatissima trên HPLC cũng rút ra kết luận âm tính với axit domoic
Tuy nhiên, kết quả kiểm tra trên chuột lại thấy có triệu chứng ngộ độc ASP khi loài tảo này nở hoa [Larsen và cs., 2004] Ngoài ra, Martin và cộng sự (1997) cũng đã ghi
nhận có từ 9,7 10? đến 2,21.10pg axit domoic/tế bào trong loài này
Đối với loài P delicatissima, trong nuôi cấy cho thấy loài này đã sản xuất ra
5fg axit domoic/té bao [Smith va cs., 1991]
Đối với loài P pungens, trong khuôn khổ của dự án HAB-Việt, các mẫu được
phân lập ở vùng biển Việt Nam được phân tích bằng sắc ký lỏng cao áp cho thấy các
dòng nuôi cấy của Việt nam không sản sinh axit đomoic (DA) Các kết quả này đã
được Dahlmamn (rường Đại học Jena, Đức) xác nhận bằng phương pháp phân tích LC/MS Tuy vay, các nghiên cứu khdc [Bates va cs 1998, Rhodes va cs 1998 va
Trainer va cs 1998] đã mô tả độc tính của loài này
3.1.2 Tìm hiểu khả năng sản sinh độc tố của một số loài thuộc chỉ Pseudo-
n¡zschia được phân lập ở vùng biển Thái Bình - Nam Định
Trong khuôn khổ của đề tài cấp Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, năm
2003 để tìm hiểu mối tương quan giữa tảo silíc thuộc chỉ Pseudonizschia và sự tích luỹ độc tố trong mô của ngao nuôi, chúng tôi trong quá trình đi khảo sát đã tiến hành thu mẫu sống tại các vùng biển này Phân lập được 2 loài Pseudonizschia sp.l và Pseudo-
nitzschia sp.2 thu tại vùng biển Thái Bình - Nam Định tại hai trạm thu mẫu Giao Lạc
1 và Giao Lạc 2 Nhìn vẻ hình thái ngoài, kích cỡ, hình dạng của tế bào, đây có thể là một loài (P cƒ pưngens), nhưng để xác định chính xác tên loài của các loài vi tảo thuộc chỉ Pseudo-nitzschia dưới kính hiển vi thường là không thể Vì vậy, chúng tôi tạm ký hiệu loài Pseudo-nifzschia sp được phân lập từ mẫu Giao Lạc 1 là GL1, va loài kia là GL⁄2 Sau đó tiến hành nuôi thử trong nước biển nền của vùng Nam Định được làm giàu bằng 2 môi trường khác nhau (T và K) Các nghiên cứu trước trong điều kiện phòng thí nghiệm của nhóm chúng tôi đã chứng minh loài tảo này phát triển tốt trong cả hai môi trường trên [Chu Văn Thuộc và cộng sự, 1999] Khi tế bào đang ở pha phát triển tốt nhất, môi trường nuôi có màu nâu đỏ, chúng tôi tiến hành thu mẫu
và phân tích độc tố ASP trong các loài tảo này Kết quả thu được, được trình bày trong bảng 3.3
Kết quả trong bảng 3.3 đã cho thấy, 2 loài tảo silíc thuộc chỉ Pseudo-nitzschia phân lập được từ mẫu thu tại Giao Lạc là loài có khả năng sản sinh ra độc tố ASP (ĐA) trong tế bào Hàm lượng độc tố DA trong tế bào của mỗi loài cũng biến động
khác nhau, phụ thuộc vào môi trường nuôi và loài khác nhau Mặt khác, chúng tôi còn
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng 9