Các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, một số loài tảo có chứa độc tố có thể gây hại ngay cả khi chúng có mật độ thấp ở trong môi trường nước, chỉ dao động trong khoảng vài trăm đến dưới
Trang 1-000 -
Đề tài cấp nhà nước kc-09-19
“Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa,
giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Chủ nhiệm đề tài: TS Chu Văn Thuộc
Báo cáo chuyên đề
Bước đầu nghiên cứu cơ chế gây hại
của tảo độc và tảo gây hại
6132-19
02/10/2006
Hải Phòng, tháng 4/2006
Trang 2Mở đầu
Như chúng ta đã biết, tảo độc, tảo gây hại có ảnh hưởng rất lớn tới sinh thái môi trường các hệ sinh thái thủy vực nói chung và hệ sinh thái biển nói riêng Hơn nữa tảo độc hại còn gây tác hại trực tiếp hoặc gián tiếp tới đời sống của các loài thủy sinh vật, thậm chí tới sức khỏe con người Các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, một số loài tảo có chứa độc tố có thể gây hại ngay cả khi chúng có mật độ thấp ở trong môi trường nước, chỉ dao động trong khoảng vài trăm đến dưới 1000 tế bào trên lít (TB/L)
chẳng hạn như các loài Alexandrium, Pyrodinium Trong khi đó các loài tảo gây hại
(không có khả năng sinh độc tố) chỉ gây hại cho môi trường và sinh vật khi bùng phát mật độ (hiện tượng nở hoa tảo) Qua đó thấy rằng, khả năng gây hại của tảo độc hại diễn ra rất phức tạp và thay đổi tùy theo từng loài, nhóm loài nhất định, biến đổi tùy
theo thời điểm cũng như vùng địa lý khác nhau Ví dụ tảo Alexandrium tamarense là
loài có khả năng sản sinh độc tố gây liệt cơ (PSP) ở các vùng nước ôn đới, tuy nhiên các chủng tảo này phát hiện ở vùng nhiệt đới đôi khi lại không sản sinh độc tố Tương
tự như vậy, khả năng sinh độc tố của một số chủng tảo chi Pseudo-nitzschia (P pungens) cũng thay đổi tùy theo điều kiện môi trường Ngoài ra, ngay cả trong cũng
một chủng tảo có chứa độc tố thì hàm lượng độc tố của chúng cũng thay đổi theo chu
kỳ vòng đời Do đó, cơ chế sinh độc tố, cơ chế gây hại của tảo độc hại là vấn đề hết sức phức tạp không phải một sớm một chiều có thể nhận biết được ngay mà đòi hỏi phải có những nghiên cứu rất hệ thống, tốn kém thời gian và công sức thì mới có thể hiểu được bản chất thực sự của chúng Trong quá trình thực hiện đề tài, thông qua các
điều tra, khảo sát ở ngoài tự nhiên cũng như tiến hành một số nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, bước đầu chúng tôi đưa ra một số nhận định có liên quan đến điều kiện bùng phát mật độ tảo cũng như sự hiện diện của các độc tố tảo trong môi trường nước, trong một số loài tảo và các đối tượng ĐVTMHMV có giá trị kinh tế hiện đang được nuôi ở vùng ven biển Việt Nam
I Một số điều kiện bùng phát mật độ tảo độc hại
Trong môi trường tự nhiên, sự phát triển của tảo chịu ảnh hưởng đồng thời của nhiều yếu tố khác nhau, trong đó không chỉ có các yếu tố thủy hóa như nhiệt độ, ánh sáng, độ mặn, muối dinh dưỡng, mà còn chịu ảnh hưởng của nhiều các yếu tố hữu sinh khác như các mối quan hệ nội tại trong quần thể, mật độ tế bào ban đầu hay tình trạng sinh lý của tế bào Ngược lại, mỗi loài sinh vật nói chung và tảo nói riêng lại có sinh thái riêng, do đó mỗi một loài có một điều kiện môi trường tối ưu cho sự phát triển của chúng Từ đó khả năng bùng phát mật độ tảo thay đổi tùy theo từng loài
Trang 31.1 Một số dẫn liệu nghiên cứu về điều kiện bùng phát mật độ tảo độc hại ở
ngoài tự nhiên và trong phòng thí nghiệm ở Việt Nam
Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, sự phát triển của các loài tảo thí nghiệm
có mối tương quan rất chặt và tương đối chặt với nồng độ muối dinh dưỡng có trong
môi trường, khi nồng độ muối dinh dưỡng trong môi trường cao thì quần thể có sự
phát triển nhanh hơn và kích thước quần thể cũng đạt lớn hơn ở ngoài tự nhiên, đây
là sự tương tác đa thông số rất phức tạp, quan hệ của các loài tảo trong quần xã tảo là
quan hệ cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng, không gian , khi một loài chiếm ưu thế về
số lượng sẽ lấn át các loài khác
• Đối với các loài tảo độc hại thuộc tảo silic và tảo giáp: Trên cơ sở các nghiên
cứu ở ngoài thực địa cũng như trong phòng thí nghiệm, một số thông số môi trường
chủ yếu sau đây được xem là một trong những điều kiện có thể gây bùng phát mật độ
của một số loài tảo độc hại Pseudo-nitzschia, Alexandrium, Dinophysis caudata,
Prorocentrum ở vùng ven biển Việt Nam, được thống kê trong các bảng 1, 2, 3, 4
Bảng 1 Khoảng thích hợp của một số yếu tố môi trường
với sự phát triển của tảo Pseudo-nitzschia
Nhiệt độ (oC)
Độ mặn (‰)
Muối dinh dưỡng (àg/L)
Thích nghi
Tối thích
Thích nghi
Tối thích
NO3-: 120 (r = 0,35)
PO43-: 2190 (r= 0,98) SiO-: 9570
Trang 4Bảng 2 Khoảng thích hợp của một số yếu tố môi trường với sự phát triển
của nhóm tảo Alexandrium (sản sinh độc tố PSP)
Nhiệt độ (oC) Độ mặn (‰) Muối dinh dưỡng (àg/L) Nguồn số liệu (vùng
nghiên cứu, tài liệu) Thích
nghi
Tối thích
Thích nghi
Tối thích
Thích nghi
Tối thích
Đồ Sơn – Cát Bà 18-31 27-30 7-33,5 15-30
PO43-: 33,4 SiO3-: 1032
NH4+: 284,7Tiền Hải, Thái Bình 21-30 15-18 27-30
Nguyễn Văn Nguyên
và cs (2003)
27-30 18-30 NO4-: 1-50
PO43-: 1-50 SiO3-: 50-
2000 Lăng Cô (Huế): 23-33,18 15,9-32
NH4+: 180 Trong đầm Lăng Cô
(mật độ đạt 4,6
103TB/L)
PO43-: 15 SiO3-: 952,5
Trang 5(đạt 2,36.105TB/L) SiO
3
-: 80
NH4+: 134 Larsen và cs (2004) 20-30 30 4-34
PO43-: 5220 (r= 0,94)
Bảng 3 Khoảng thích hợp của một số yếu tố môi trường với sự phát triển của tảo
Dinophysis caudata (sản sinh độc tố DSP)
Nhiệt độ (oC)
Độ mặn (‰)
Muối dinh dưỡng (àg/L) Nguồn số liệu
Thích nghi
Tối thích
Thích nghi
Tối thích
Thích nghi
Tối thích
31,4
31,4 (948 TB)
Trang 6Bảng 4 Khoảng thích hợp của một số yếu tố môi trường với sự phát triển
của tảo Prorocentrum spp
Nhiệt độ (oC) Độ mặn (‰) Muối dinh dưỡng (àg/L) Nguồn số liệu
Thích nghi
Tối thích
Thích nghi
Tối thích
Thích nghi
Tối thích
Trang 7PO43-: 2390, (r=0,96)
Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, có sự sai khác khá rõ ràng về phạm vi phân bố cũng như khả năng bùng phát tại các loại thủy vực nhất định của các nhóm
loài tảo nói trên Các loài tảo Alexandrium, Prorocentrum minium có thể bùng phát số
lượng trong các thủy vực nước tĩnh lẫn vùng ven biển, trong khi đó loài tảo giáp có
khả năng sống dị dưỡng Dinophysis caudata và tảo Silic chi Pseudo-nitzschia lại
thường phân bố và đạt mật độ cao tại các thủy vực cửa sông ven biển nơi nước được trao đổi thường xuyên Nhiệt độ, độ mặn và cường độ ánh sáng có ảnh hưởng rất lớn
đến sự phát triển của các loài tảo giáp và tảo silic
Đối với các muối dinh dưỡng, kết quả thí nghiệm cho thấy hầu hết các loài tảo
đều có tương quan tuyến tính rất chặt với nồng độ các muối dinh dưỡng PO43- , SiO3-2
(0,9 < r < 1) trừ NO3-, đặc biệt muối Phốtphat có tương quan tuyến tính chặt chẽ nhất,
hệ số tương quan r đạt tới 0,98 trong điều kiện phòng thí nghiệm Tuy nhiên, các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cũng cho thấy các loài tảo có nhu cầu dinh dưỡng khác nhau với từng muối cụ thể và các yếu tố môi trường khác nhau, trong đó muối silicat có ảnh hưởng khá rõ ràng tới sự phát triển và bùng phát mật độ của các loài tảo silic Riêng các loài tảo giáp thì các muối nitrat và phốt phát lại có ảnh hưởng đáng kể tới sự phát triển quần thể của chúng Hầu hết sự phát triển mật độ của các loài tảo thí nghiệm đều có tương quan tuyến tính rất chặt với nồng độ các muối dinh dưỡng PO4-3
và NO3- (0,9 < r < 1) Khi nồng độ muối dinh dưỡng trong môi trường cao thì quần thể
có sự phát triển nhanh hơn và kích thước quần thể cũng đạt lớn hơn
• Đối với các nhóm tảo Lam: hai loài Oscillatoria lemmermannii, mium erythraeum có khả năng sản sinh độc tố luôn chiếm ưu thế ở vùng ven biển Cần
Trichodes-Giờ, Bình Đại thuộc các tảo lam có biên độ nhiệt độ và độ mặn rộng nhưng vẫn có
Trang 8những khoảng tối thích về độ mặn và nhiệt độ khác nhau, cụ thể như O lemmermannii
có xu hướng phát triển tốt trong điều kiện nhiệt độ cao, độ mặn trung bình (lợ mặn),
trong khi đó tảo T erythraeum lại có xu thế thích nghi với nhiệt độ thấp hơn, nhưng
đòi hỏi môi trường có độ mặn cao hơn Chính vì vậy loài T erythraeum chỉ xuất hiện
vào tháng 2, tháng 4 ở các điểm ngoài bãi nghêu
Các nghiên cứu còn cho thấy, mật độ của các nhóm tảo này quan hệ chặt chẽ với muối nitrat, ammonia và phốtphat Hàm lượng các muối này thường cao vào cuối
mùa khô đầu mùa mưa, thuận lợi cho sự phát triển mật độ của loài T erythraeum Còn loài O lemmermannii thường đạt mật độ cao vào các tháng 7, 8, 9 Đặc biệt các loài
này thường có mật độ cao trong các ao nuôi tôm do mức độ phú dưỡng của các ao nuôi từ nguồn thức ăn cho tôm dư thừa, gặp nhiệt độ và độ mặn thích hợp sẽ gây nở hoa
• Đối với loài tảo gây hại Skeletonema costatum: Các kết quả nghiên cứu tại
một số vùng nuôi trồng hải sản tập trung ven biển Việt Nam đã cho thấy, loài này thường có phổ thích nghi với nhiệt độ và độ mặn rất rộng từ 15-340C và 3-33‰, nhưng phát triển tốt trong khoảng nhiệt độ 20-300C và độ mặn dao động 25-28‰ Sự phát triển của chúng có mối liên quan chặt chẽ với các muối dinh dưỡng ammonia, nitrat
và silicat Dễ bùng phát mật độ khi gặp các điều kiện tối thích trên
Tóm lại: Sự nở hoa của các loài vi tảo trong các thuỷ vực chịu ảnh hưởng mạnh
mẽ của những điều kiện ngoại cảnh như tính chất thuỷ lý-thuỷ hoá, các yếu tố dinh dưỡng, cũng như cấu trúc vật lý của cột nước, những điều kiện thời tiết như nhiệt độ,
ánh sáng, thời gian chiếu sáng, sức gió, mưa… Những cơ chế bên trong tế bào của các loài gây nở hoa đảm bảo cho khả năng phát triển chiếm ưu thế trong những điều kiện stress trong môi trường như khả năng cố định nitơ, tích luỹ dinh dưỡng nội bào (P;N) v.v Do đó, những hệ thống giám sát nhằm ngăn cản sự nở hoa của tảo và bảo vệ nguồn lợi thuỷ hải sản cần phải xem xét và vận dụng các mối liên quan về tổng thể của các yếu tố sinh học, vật lý và hoá học có lợi cho sự phát triển của những loài tảo
độc hại nhằm ngăn chặn các cơ chế này
Các bảng trên đã thống kê các khoảng nhiệt độ, độ mặn thích nghi và tối thích cho sự phát triển mật độ của một số loài tảo độc hại, cũng như hàm lượng của một số muối dinh dưỡng cùng các điều kiện môi trường thích hợp gây nên sự nở hoa tảo trong các vùng nghiên cứu ven biển của Việt Nam bước đầu đã ghi nhận được và một số
điều kiện tối thích cho sự phát triển của một số loài tảo độc hại trong điều kiện phòng thí nghiệm.Khi quan trắc các thông số môi trường có các yếu tố trên cùng lúc rơi vào khoảng tối thích cho sự phát triển của các nhóm loài này, cần tăng cường giám sát mật
độ thường xuyên để có thể kiểm soát và phát hiện kịp thời sự bùng phát mật độ của chúng nhằm ngăn chặn nguy cơ bùng phát mật độ của các nhóm tảo độc hại cũng như
Trang 9ngăn chặn các hiện tượng ngộ độc các độc tố tảo cho người sử dụng hải sản làm thực phẩm
1.2 Một số dẫn liệu nghiên cứu về cơ chế bùng phát tảo độc hại trên thế giới
1.2.1 Bùng phát chi tảo Pseudo-nitzschia
Theo một số kết quả nghiên cứu đã có, chu trình sống của các loài nitzschia có liên quan đến cơ chế bùng phát mật độ không những chưa được hiểu biết
Pseudo-mà còn cả những địa điểm nơi tiềm ẩn bùng phát (trầm tích, cột nước) và các bào tử
nghỉ Sự nở hoa của loài P multiseries thường xuất hiện trong mùa lạnh hơn (mùa thu
và mùa xuân), trong khi đó sự nở hoa của loài P pungens, P pseudodelicatissima và
P australis thường gặp trong suốt mùa ấm hơn Không có hiện tượng lý sinh bất
thường nào xảy ra hoặc yếu tố nhiệt độ được tìm thấy để thống kê sự hiện diện của chúng tại các thời điểm đó trong năm Vì vậy để có thể tìm hiểu được cơ chế cụ thể gây bùng phát mật độ của chi tảo còn là một câu hỏi cho các vùng nước
1.2.2 Cơ chế bùng phát tảo Alexandrium
Theo các nghiên cứu của Andersen (1996), kết quả nuôi trong phòng thí
nghiệm cho thấy tốc độ phân chia của tảo Alexandrium điển hình khoảng từ 0,5 đến
0,7/ngày Với sự phát triển mật độ này không phản ánh (không gây) sự bùng phát đơn loài ngay cả mức độ sinh khối vừa phải và xảy ra cùng với các loài khác Sự bùng phát không xảy ra trước đó nói riêng, mà dường như nó có liên hệ chặt chẽ với thời gian bằng sự chuyển tiếp vòng đời Giai đoạn bào tử đóng vai trò rất quan trọng trong động
lực gây bùng phát mật độ Alexandrium, cả hai khía cạnh khởi đầu và kết thúc của quá
trình bùng phát
Các kết quả nghiên cứu cho thấy, số lượng tế bào tảo Alexandrium và bào xác
nghỉ (cyst) trong môi trường ít, khoảng 10 đến vài trăm tế bào/lít, mà sự nở hoa phải
có mật độ cao Tốc độ phân chia tế bào phụ thuộc nhiều vào các điều kiện môi trường
ảnh hưởng lên sự vận động của các tế bào Tuy nhiên, số lượng cyst được giải phóng trong môi trường khi gặp điều kiện thuận lợi lại diễn ra rất nhanh, có thể tạo nên sự
bùng phát mạnh các tế bào Alexandrium và gây nở hoa Ví dụ, một số hiện tượng nở
hoa trong phạm vi nhỏ diễn ra ở một số vịnh và nở hoa xảy ra ở các vùng ven biển, sự tương tác giữa các yếu tố vật lý và sinh học là một trong những nguyên nhân giới hạn
số lượng (kích thước), phát triển và phát tán của quẩn thể tảo Ngoài ra, sự di chuyển theo cột nước thẳng đứng là những đặc điểm quan trọng được đề cập đến khi tảo xuất hiện với mật độ cao Kết thúc của sự nở hoa là các chuyển đổi chu kỳ sống, mặc dù
điều quan trọng liên quan đến quá trình tạo cyst là các yếu tố dinh dưỡng và thay đổi các yếu tố khác, nhưng chưa được nghiên cứu kỹ Hơn thế nữa, cyst của các loài
Trang 10Alexandrium đã được nghiên cứu kỹ và đã chứng minh sự phục hồi rất rõ ràng cũng
như khả năng tạo thành nhóm, phân bố trong các nơi sống khác nhau và các chế độ thuỷ văn Sẽ không có sự ngạc nhiên khi các vấn đề sinh địa đã được xem xét đáng kể trong thời gian gần đây [Anderson và cs., 1994] và sự bùng phát PSP còn là một vấn
đề mang tính toàn cầu
2 khả năng sản sinh, tích lũy độc tố tảo trong thực vật phù
du biển tự nhiên, trong tảo độc và trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ ở vùng nghiên cứu
2.1 Các độc tố tảo tích lũy trong thực vật phù du tại ven biển Đồ Sơn, Cát Bà
Trên cơ sở phân tích hàm lượng các độc tố tảo ASP, PSP các mẫu thực vật phù
du được thu thập một tháng/2 lần từ môi trường tự nhiên tại khu vực Đồ Sơn và Cát Bà trong các năm 2004, 2005 chúng tôi rút ra một số nhận xét như sau:
• Về độc tố ASP, có thể khẳng định trong mẫu tảo biển tự nhiên ở khu vực Đồ
Sơn và Cát Bà gồm các loài Pseudo-nitzschia có khả năng sản sinh độc tố ASP, tuy
nhiên hàm lượng độc tố này rất khác nhau phụ thuộc vào loài có mặt và điều kiện môi trường sống của chúng
Biến động hàm lượng độc tố theo thời gian quan trắc giữa hai vùng khác nhau, trong đó đỉnh hàm lượng độc tố ASP tại Đồ Sơn được hình thành vào đợt I tháng 10/2004, còn tại Cát Bà lại hình thành đỉnh cao sớm hơn, xuất hiện vào đợt II của tháng 8/2004, sau đó giảm dần và kéo dài đến hết tháng 9/2004 Hàm lượng độc tố ASP cao nhất tại từng khu vực cũng biến động khác nhau, cụ thể tại Đồ Sơn là 12,37 ng/mL mẫu, cao xấp xỉ gấp 3 lần so với Cát Bà (chỉ đạt 4,28 ng/mL mẫu), các tháng còn lại hàm lượng độc tố rất thấp
Tuy hàm lượng độc tố ASP trong tảo tự nhiên rất thấp, nhưng đây là những bằng chứng đầu tiên xác nhận nguyên nhân tích luỹ độc tố trong ĐVTMHMV là từ
tảo silic Pseudo-nitzschia thông qua chuỗi thức ăn Cho dù kết quả nghiên cứu hàm
lượng độc tố ASP trong mẫu tảo tự nhiên tại vùng nghiên cứu lại không cho thấy mối tương quan thuận và chặt chẽ với đỉnh mật độ của các tảo thuộc chi này
• Về độc tố PSP, nhìn chung hàm lượng độc tố này trong tảo tự nhiên tại 2 khu vực Đồ Sơn và Cát Bà rất thấp ở cả hai khu vực biến động hàm lượng độc tố diễn ra không mạnh trong suốt thời gian khảo sát, dao động vài chục pg/mL mẫu, trừ một vài
đỉnh độc tố được hình thành nhưng cũng rất thấp Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng, hàm lượng độc tố PSP trong tảo tự nhiên khu vực Đồ Sơn thấp và ổn định hơn khu vực Cát Bà Đỉnh hàm lượng độc tố cao nhất (184,92 pg/mL mẫu) xuất hiện trong
đợt I tháng 9/2004 tại Cát Bà
Trang 11Kết quả nghiên cứu ở cả hai khu vực trên còn cho thấy mối tương quan không
rõ ràng giữa hàm lượng độc tố PSP và mật độ tảo Alexandrium, những loài có khả năng sản sinh ra độc tố này Tần xuất bắt gặp các loài Alexandrium tại Cát Bà cao hơn
Đồ Sơn nhưng mật độ các loài này tại Đồ Sơn lại cao hơn nhưng không đáng kể
Kết quả nghiên cứu trong các năm từ 2002 đến 2004 cũng đã chỉ ra rằng,
không có mối tương quan chặt chẽ giữa hàm lượng độc tố PSP và mật độ tảo drium Hàm lượng độc tố PSP đạt giá trị cao vào giữa tháng 8 và cuối tháng 11/2002
Alexan-tại vùng biển Cát Bà, thời điểm này cũng gần trùng với thời điểm hình thành đỉnh cao
độc tố vào đầu tháng 9 (tại Cát Bà) và đầu tháng 12 (tại Đồ Sơn) trong các năm
2004-2005
Tuy vậy, sự hiện diện thường xuyên của các loài tảo tảo Alexandrium tại vùng
nghiên cứu được xem như là những tác nhân chính sản sinh độc tố PSP trong nước biển và tích luỹ trong ĐVTMHMV Tuy nhiên, cần có những nghiên cứu tiếp theo để
khẳng định nguyên nhân sản sinh độc tố của tảo Alexandrium và gây tích luỹ độc tố
trong các động vật này
2.2 Khả năng sản sinh độc tố của một số loài tảo độc hại ở vùng nghiên cứu
Từ những kết quả phân tích, thử nghiệm độc tố trong các loài tảo phân lập được
ở vùng nghiên cứu, có thể rút ra một số nhận xét như sau:
Chưa phát hiện được độc tính trong tế bào của các loài Pseudo-nitzschia đã phân lập và nuôi cấy trong năm 2004-2005 Loài P punges có cả chủng độc và không
độc phân bố ở khu vực phía Bắc Việt Nam, nhưng hàm lượng của độc này rất thấp dao
động từ 0,38 đến 0,53pg/tế bào
Tảo Alexandrium minutum phân bố trong đầm nuôi tôm khu vực Đồ Sơn (Hải
Phòng) có khả năng sản sinh độc tố, với hàm lượng độc tố biến đổi từ 3,0 đến 13,8 fmol PST/tế bào Thành phần độc tố bao gồm các loại: GTX4, GTX1, neoSTX, dcSTX, GTX3,2 và STX Trong đó đã phát hiện một loại độc tố mới (PST-paralytic
shellfish toxin) thuộc nhóm độc tố gonyautoxin trong chủng tảo A minutum của Việt
Nam, được tách nằm giữa GTX4 và GTX1 Độc tố này được phân tích sâu hơn trên quang phổ khối LC/MS
Chưa phát hiện được độc tố trong loài A tamarense phân lập từ vùng ven biển
Cát Bà
Loài A affine theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Lâm (2004) là loài có khả
năng sản sinh độc tố, nhưng hàm lượng thấp (đạt 2,28 fmol/tbào), chưa được kiểm tra lại trong các nghiên cứu này
Tuy nhiên, trên đây mới chỉ những nhận định bước đầu, để có những kết luận xác đáng cần thiết phải có các thí nghiệm kiểm chứng, lặp lại nhiều lần nhất là đối với
Trang 12tảo Pseudo-nitzschia khi mà khả năng sinh độc tố của chúng phụ thuộc vào các yếu tố
môi trường cũng như giai đoạn phát triển quần thể
2.3 Khả năng tích lũy các độc tố tảo trong ĐVTMHMV tại một số vùng nuôi hải sản tập trung ven biển Việt Nam
2.3.1 Độc tố ASP
Hàm lượng độc tố ASP tích luỹ trong các mô nội tạng của các đối tượng
ĐVTMHMV nuôi tại 7 vùng nghiên cứu thường dao động không mạnh theo thời gian, ngoại trừ khu vực Cát Bà có hàm lượng độc tố ASP cao nhất (đạt 78,38ng/g xuất hiện vào đợt II tháng 8/2004) Hàm lượng trung bình tháng của độc tố ASP cao nhất gặo ở
loài Vẹm Perna viridis tại đầm Nha Phu (Nha Trang), tiếp đến là Cần Giờ và Bến Tre
Hàm lượng độc tố thấp nhất gặp trong ngao tại Đồ Sơn (Hải Phòng) chỉ dao động từ 0,005 đến xấp xỉ 2 ng/g
Có mối tương quan giữa hàm lượng độc tố ASP và mật độ tảo Pseudo-nitzschia
tại các vùng nghiên cứu, tuy nhiên mối tương quan này biểu hiện khác nhau ở từng khu vực nghiên cứu Sự tích luỹ độc tố phụ thuộc vào khả năng tích luỹ độc tố và sự tự
đào thải khác nhau của các đối tượng ĐVTMHMV, vào mật độ tảo Pseudo-nitzschia
có mặt trong các khoảng thời gian trước và thời điểm nghiên cứu cũng như khả năng sản sinh độc tố của loài tảo có mặt trong từng thời điểm nhất định Ngoài ra, sự tích luỹ độc tố trong sinh vật còn phụ thuộc vào các yếu tố môi trường của từng khu vực
Đây là vấn đề rất phức tạp do vậy không thể nội suy từ đối tượng này sang đối tượng khác hoặc từ vùng này sang vùng khác
Kết quả so sánh về khả năng tích luỹ độc tố ASP trong các loài ngao (nghêu)
và vẹm cho thấy, hàm lượng độc tố trong mô của vẹm thường cao hơn ngao (nghêu) Tuy nhiên đây mới chỉ là nhận xét ban đầu, cần phải có các nghiên cứu tiếp theo để khẳng định vấn đề này
Hàm lượng độc tố ASP đã phát hiện được trong mô của ngao (nghêu) và vẹm nuôi tại 7 vùng nghiên cứu còn thấp hơn giới hạn cho phép nhiều lần và vẫn nằm trong giới hạn an toàn cho người sử dụng
2.3.2 Độc tố PSP
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về hàm lượng độc tố PSP trong ĐVTMHMV tại 7 vùng nuôi trồng hải sản tập trung ven biển thấy rằng, hàm lượng độc tố tại 3 vùng nuôi thuộc Nam Trung Bộ và Nam Bộ (trung bình từ 159,47 đến 180,43 ng/g) cao hơn nhiều lần hàm lượng độc tố ở khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (trung bình từ 0,86
đến 8,2 ng/g)