Sự phát triển hình 2a và tốc độ phân chia tế bào hình 2b của tảo Alexandrium affine tại các CĐAS khác nhau Kết quả thí nghiệm được kiểm tra độ tin cậy bằng phương pháp phân tích ANOVA m
Trang 1Viện tài nguyên và môi trường biển
-0o0 -
Đề tài cấp nhà nước kc-09-19
“Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu
những tác hại do chúng gây ra”
Chủ nhiệm đề tài: TS Chu Văn Thuộc
Báo cáo chuyên đề
ảnh hưởng một số yếu tố môi trường
tới sự phát triển của một số loài tảo giáp độc hại
trong điều kiện phòng thí nghiệm
Người thực hiện:
Phạm Thế Thư, Nguyễn Thị Minh Huyền, Trần Mạnh Hà
Nguyễn Thị Thu Phòng Sinh vật phù du và Vi sinh vật Biển Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Tel (031) 565 495 Fax (031) 761 521 e-mail: Planktondept@imer.ac.vn
6132-24
02/10/2006
Hải Phòng, tháng 4/2006
Trang 2Mục Lục
Mục Lục i
Danh mục các chữ viết tắt ii
i Mở Đầu 1
II Phương pháp nghiên cứu 2
2.1 Đối tượng nghiên cứu 2
2.2 Phương pháp nghiên cứu 2
2.2.1 Phương pháp thu mẫu tảo độc hại (tảo sống) ngoài hiện trường 2
2.2.2 Phương pháp phân lập, làm sạch và giữ giống tảo trong điều kiện phòng thí nghiệm 2
2.2.2.1 Phương pháp phân lập và làm sạch 2
2.2.2.2 Phương pháp giữ giống tảo độc hại trong phòng thí nghiệm 3
2.2.3 Phương pháp thiết kế thí nghiệm 3
2.2.3.1 Thí nghiệm ảnh hưởng của cường độ ánh sáng tới sự phát triển của tảo 3
2.2.3.2 Thí nghiệm ảnh hưởng của độ mặn tới sự phát triển của tảo 4
2.2.3.3 Thí nghiệm ảnh hưởng nhiệt độ tới sự phát triển của tảo 4
2.2.3.4 Thí nghiệm ảnh hưởng của muối dinh dưỡng tới sự phát triển của tảo 4
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 4
III Kết quả và thảo luận 6
3.1 Phân lập, nuôi thành công một số loài tảo và sự phát triển của vi tảo 6
3.1.1 Phân lập và nuôi thành công một số loài tảo 6
3.1.2 Sự phát triển của tảo 6
3.2 ảnh hưởng của cường độ ánh sáng tới sự phát triển của tảo 7
3.2.1 Chi tảo Alexandrium 7
3.2.1.1 Loài tảo Alexandrium affine 7
3.2.1.2 Loài tảo Alexandrium minutum 9
3.2.2 Chi tảo Prorocentrum 10
3.2.2.1 Loài tảo Proroxentrum cf mexicanum 10
3.3 ảnh hưởng của độ mặn tới sự phát triển của tảo 11
3.3.1 Chi tảo Alexandrium 11
Trang 33.3.1.2 Loài tảo Alexandrium minutum 13
3.3.1.3 Loài tảo Alexandrium tamarense 14
3.3.2 Chi tảo Prorocentrum 15
3.3.2.1 Loài tảo Prorocentrum cf mexicanum 15
3.3.2.2 Loài tảo Prorocentrum micans 16
3.4 ảnh hưởng của nhiệt độ tới sự phát triển của tảo 18
3.4.1 Chi tảo Alexandrium 18
3.4.1.1 Loài tảo Alexandrium minutum 18
3.4.1.2 Loài tảo Alexandrium affine 19
3.4.2 Chi tảo Prorocentrum 21
3.4.2.1 Loài tảo Prorocentrum cf mexicanum 21
3.4.2.2 Loài tảo Prorocentrum micans 22
3.5 ảnh hưởng nồng độ muối dinh dưỡng tới sự phát triển của tảo 24
3.5.1 ảnh hưởng của muối nitrat - NO 3 - tới sự phát triển của tảo 25
3.5.1.1 Loài tảo Alexandrium minutum 25
3.5.1.2 Loài tảo Prorocentrum cf mexicanum 29
3.5.2 ảnh hưởng của muối phốt phát - PO 4 -3 tới sự phát triển của tảo 34
3.5.2.1 Loài tảo Alexandrium minutum 34
3.5.2.2 Loài tảo Prorocentrum cf mexicanum .38
3.6 Vài nhận định về khả năng thúc đẩy sự bùng phát mật độ tảo của một số yếu tố môi trường chính .42
IV Kết luận và kiến nghị 45
4.1 Kết luận 45
4 2 Kiến nghị 45
Tài liệu tham khảo 47
5.1 Tài liệu tiếng Việt 47
5.2 Tài liệu tiếng Anh: 48
Phụ Lục 50
Trang 5độ lên tới hàng triệu tế bào/lít nó đã và đang gây nhiều thiệt hại về kinh tế, sức khoẻ con người và ảnh hưởng mạnh mẽ đến môi trường và sinh thái Đặc biệt sự xuất hiện của chúng đang ngày càng gia tăng cả về tần số xuất hiện và phân bố địa lý
Trong tổng số khoảng 5000 loài thực vật phù du biển đã được phát hiện, có khoảng 300 loài có khả năng gây thuỷ triều đỏ [Souria, 1995], khoảng 1/4 trong số
đó có khả năng sản sinh độc tố đang là mối đe doạ, thậm chí có thể tàn phá khu hệ
động, thực vật bao gồm cả sự thiệt hại về con người Khi nở hoa chúng làm cạn kiệt
ôxy hoặc làm tăng hàm lượng amoniac trong thuỷ vực, gây tắc nghẽn và phá huỷ mang cá Hàng năm trên thế giới có khoảng 2000 người bị ngộ độc (số người chết chiếm 15%) do ăn phải động vật nhuyễn thể, cá đã nhiễm độc tố tảo [Hallegraeff et al.1995] Trong các năm từ 1987 đến 1991, tại vùng biển Seto Inland và Kyu Syu (Nhật Bản) đã có hàng ngàn trường hợp bùng phát tảo độc hại với thiệt hại lên tới vài tỷ yên [Andersen 1996], Gần đây, vào tháng 3; 4 năm 1998, sự bùng nổ của tảo
Gyrodinium, Alexandrium và Cochlodinium ở vùng biển Hồng Kông đã ảnh hưởng
nghiêm trọng tới 2/3 nghề nuôi cá lồng ở khu vực này và gây thiệt hại khoảng 42 triệu đô la Mỹ Cũng như các nước trên thế giới, Việt Nam cũng đã từng bị thiệt hại nặng nề do hiện tượng thuỷ triều đỏ gây nên, ví dụ như ở vịnh Văn Phong - Bến Gỏi
sự bùng phát của tảo Noctiluca vào các tháng 5;6 năm 1995 đã làm cho các trại
nuôi tôm hùm trong khu vực bị thiệt hại hàng tỷ đồng [Nguyễn Ngọc Lâm và cộng
sự, 1996] Trong tháng 7 năm 2002, tảo Phaeocystis gây hiện tượng thuỷ triều đỏ
trải dài khoảng 30 km ở biển Bình Thuận đã huỷ diệt hầu hết các loài thuỷ sinh vật trong vùng bị tác động [Báo tuổi trẻ số 31-2002/ngày 11-8-2002]
Sự gia tăng các hiện tượng thuỷ triều đỏ ở các vùng biển và những thuỷ vực khác
đã và đang gây nhiều thiệt hại về kinh tế, con người và môi trường sinh thái Từ đó
đặt ra nhiệm vụ cấp bách cho các nhà khoa học là tìm hiểu cơ chế bùng phát của chúng nhằm đưa ra các giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những ảnh hưởng xấu do tảo độc hại gây ra và tiến tới kiểm soát được sự bùng phát của chúng Để góp phần tìm hiểu cơ chế bùng phát của tảo độc hại thì chúng tôi đã thực hiện nội dung
nghiên cứu với tiêu đề “ảnh hưởng một số yếu tố môi trường tới sự phát triển của
một số loài tảo giáp độc hại trong điều kiện phòng thí nghiệm”
Trang 6II đối tượng và Phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các loài tảo tiềm tàng độc hại thuộc các chi
Alexandrium, Prorocentrum đã được phân lập từ các mẫu thu tại các vùng nuôi
trồng thuỷ sản ven biển phía Bắc Việt Nam (Đồ Sơn và Cát Bà) trong năm 2004 và
2005, các loài tảo được phân loại tới loài bằng phương pháp hình thái trên kinh hiển
vi, hiển vi điện tử bởi các chuyên gia Nhật Bản và được kiểm định lại bằng phương pháp sinh học phân tử
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu mẫu tảo độc hại (tảo sống) ngoài hiện trường
- Mẫu tảo sống được thu bằng lưới vớt thực vật phù du với mắt lưới 20àm, sau
đó bảo quản mẫu trong điều kiện mát (15 - 22oC bằng đá lạnh) và đưa ngay về phòng thí nghiệm để tiếp tục xử lý
- Thu mẫu tảo bám đáy để nuôi bằng cách: ngắt nhẹ các tản rong biển hoặc cành san hô chết cho vào lọ, bổ sung nước biển lọc, sau đó giữ trong điều kiện mát bằng đá lạnh rồi đưa ngay về phòng thí nghiệm
Trước khi phân lập, để mẫu tảo sống trong “buồng nuôi” có điều kiện môi trường tương đối ổn định về nhiệt độ, cường độ ánh sáng
2.2.2 Phương pháp phân lập, làm sạch và giữ giống tảo trong điều kiện phòng
thí nghiệm
2.2.2.1 Phương pháp phân lập và làm sạch
- Tiến hành phân lập, nhặt tế bào bằng pipet pasteur đã qua xử lý đèn cồn,
phân lập mẫu tảo trên kính hiển vi đảo ngược Tiến hành “rửa” các tế bào đã phân lập được qua nước biển lọc nhiều lần Sau đó chuyển ngay chúng vào môi trường nuôi Tiếp theo, cấy từng tế bào vào từng "giếng" của "vỉ nuôi" và nuôi trong điều kiện môi trường ổn định tại buồng nuôi Khi số lượng tế bào tảo trong các giếng nuôi đã tăng lên, chuyển sang các ống nghiệm có thể tích lớn hơn, nếu tảo phân lập chưa được thuần thì phải tiến hành phân lập lại Tiếp tục chuyển mẫu nuôi sang các bình tam giác có thể tích lớn hơn (100; 250 ml) khi mật độ tảo trong các ống nghiệm đã phát triển cao
Phân lập tảo đáy: đối với một số loài bơi khá linh động như Coolia monotis,
Prorocentrum cf mexicanum, Amphidinium carterae có thể tiến hành phân lập như
đối với tảo phù du
Đối với các loài tảo thường bám chặt vào vật thể đáy như Prorocentrum
lima, P emarginatum, cách phân lập như sau: dựa vào tập tính của tảo đáy là thường
Trang 7nổi lên bề mặt vào ban đêm, nếu gặp các vật chắn sẽ bám vào, tiến hành đặt các tấm lamen lên trên bề mặt đĩa petri đựng mẫu tảo sống và để qua một đêm Sau đó cho mỗi mảnh lamen này vào một giếng của vỉ nuôi, hoặc từng ống nghiệm đã có sẵn môi trường nuôi Sau khoảng một tuần, tiến hành kiểm tra dưới kính hiển vi và chọn
ra những giếng thuần giống để làm thí nghiệm Nếu chưa có giống thuần, phải tiến hành lặp lại công việc trên
Kiểm tra sự sinh trưởng và phát triển của các mẫu nuôi hàng ngày bằng cách
đếm số lượng tế bào dưới kính hiển vi đảo ngược
2.2.2.2 Phương pháp giữ giống tảo độc hại trong phòng thí nghiệm
Sau khi đã có nguồn giống tảo qua phân lập thì việc khó khăn và rất quan trọng tiếp theo là làm giầu và giữ giống Việc giữ giống tảo thường phải kết hợp
đồng thời nhiều yếu tố môi trường như:
- Điều kiện vô trùng: điều quan trọng trước tiên là tránh bị lây nhiễm các
loài khác Các dụng cụ nuôi (thuỷ tinh, nhựa), môi trường dinh dưỡng, nước biển
đều phải được khử trùng Trong một số trường hợp để tránh bị kết tủa nước biển do khử trùng bằng nồi áp suất thì sử dụng phương pháp khử trùng qua màng lọc
- Chiếu sáng và nhiệt độ: để duy trì và giữ giống tảo, thông thường ta chọn
phương án dùng ánh sáng yếu và nhiệt độ 15-200C để hạn chế sự sinh trưởng và phát triển của chúng Buồng nuôi phải có trang thiết bị điều khiển và duy trì được ánh sáng và nhiệt độ
- Cấy truyền: tần số cấy truyền phụ thuộc vào điều kiện giữ giống và tuỳ
thuộc loài tảo Các dạng tảo đơn bào và tảo dạng sợi không chuyển động có thể được cấy truyền với tần số thưa hơn so với các loài có roi Theo dõi giống thường xuyên
để cấy truyền vào thời gian phù hợp
- Môi trường dinh dưỡng: có nhiều loại môi trường dinh dưỡng dùng cho
nuôi tảo trong điều kiện phòng thí nghiệm Nhưng để đảm bảo tốt cho sự sinh trưởng của tảo thì cần lưu ý một số điểm:
+ Nồng độ mặn (NaCl), thường phụ thuộc vào nguồn gốc sinh thái của chính cơ thể tảo
+ Nguồn nitơ, cacbon, phốt phát, và một số ion khác
+ pH và yếu tố vi lượng khác như vitamin
2.2.3 Phương pháp thiết kế thí nghiệm
2.2.3.1 Thí nghiệm ảnh hưởng của cường độ ánh sáng tới sự phát triển của tảo
Thí nghiệm được tiến hành tại 4 mức cường độ ánh sáng khác nhau ( 500lux, 1000lux, 2000lux và 3000lux), các yếu tố môi trường khác được duy trì ổn định như sau: Chu kỳ sáng : tối là 14h : 10h Nhiệt độ ~240C; S = 24‰ hoặc tuỳ loài; pH~7,8
Trang 8Tảo được nuôi trong môi trường IMK Tại mỗi cường độ ánh sáng, thí nghiệm được lặp lại 3 lần với 3 lọ giống nhau về thể tích và mật độ tế bào giống
Hàng ngày kiểm tra sự phát triển của tảo bằng cách đếm số lượng tế bào dưới kính hiển vi trên buồng đếm Sedgewick-Rafter thể tích 1ml
2.2.3.2 Thí nghiệm ảnh hưởng của độ mặn tới sự phát triển của tảo
Thí nghiệm được tiến hành tại 7 độ mặn khác nhau (S1=5‰; S2=10‰; S3= 15‰ ; S4=20‰; S5=25‰; S6=30‰ và S7=35‰), cường độ ánh sáng 3000lux và các yếu tố môi trường khác được duy trì ổn định như sau: Chu kỳ sáng : tối là 14h : 10h Nhiệt độ ~240C; pH~7,8 Tảo được nuôi trong môi trường IMK Tại mỗi độ muối, thí nghiệm được lặp lại 3 lần với 3 lọ giống nhau về thể tích và mật độ tế bào giống Mật độ tế bào của tảo được kiểm tra 2 ngày một lần bằng cách đếm số lượng tế bào dưới kính hiển vi trên buồng đếm Sedgewick-Rafter thể tích 1ml
2.2.3.3 Thí nghiệm ảnh hưởng nhiệt độ tới sự phát triển của tảo
Thí nghiệm được tiến hành tại 4 mức nhiệt độ khác nhau (35; 30; 25 và 200C), các yếu tố môi trường khác được duy trì ổn định như sau: Chu kỳ sáng : tối là 14h : 10h; cường độ ánh sáng là 3000Lux; S = 24‰ hoặc tuỳ loài; pH~7.8 Tảo được nuôi trong môi trường IMK Tại mỗi mức nhiệt độ, thí nghiệm được lặp lại 3 lần với 3 lọ giống nhau về thể tích và mật độ tế bào giống
Kiểm tra sự phát triển của tảo bằng cách đếm số lượng tế bào tảo hai ngày một lần dưới kính hiển vi trên buồng đếm Sedgewick-Rafter thể tích 1ml
2.2.3.4 Thí nghiệm ảnh hưởng của muối dinh dưỡng tới sự phát triển của tảo
Mỗi loại muối dinh dưỡng được thí nghiệm tại hai nồng độ khác nhau: nồng
độ thứ nhất (N1) thấp hơn nồng độ môi trường chuẩn (IMK) là 2 lần, nồng độ thứ hai (N3) là cao hơn nồng độ môi trường 2 lần và nồng độ môi trường chuẩn (N2) là nồng độ đối chứng Các yếu tố môi trường khác được giữ ổn định: Cường độ ánh sáng là 3000Lux; Chu kỳ sáng : tối là 14h : 10h Nhiệt độ ~240C; S = 24‰ hoặc tuỳ loài; pH~7,8 Tại mỗi nồng độ mặn dinh dưỡng, thí nghiệm được lặp lại 3 lần với 3
lọ giống nhau về thể tích và mật độ tế bào giống Trước khi đặt thí nghiệm thì nồng
độ các muối dinh dưỡng (NO3-; PO4-3; NO22-; H4+; SiO32-) được đo và mẫu nước được lấy ra 3 lần tại các giai đoạn: đầu pha log, cuối pha log và cuối pha cân bằng để kiểm tra nồng độ các muối dinh dưỡng (NO3-; PO4-3)
Kiểm tra sự phát triển của tảo bằng cách đếm số lượng tế bào tảo hai ngày một lần dưới kính hiển vi trên buồng đếm Sedgewick-Rafter thể tích 1ml
2.4 Phương pháp xử lý số liệu
- Số liệu được cập nhật, tính toán và vẽ đồ thị bằng phần mềm EXCEL
Trang 9- Kết quả thí nghiệm được kiểm tra độ tin cậy bằng phương pháp phân tích ANOVA một yếu tố dựa trên chương trình thống kê trong phần mềm EXCEL (tools-Analysis-ANOVA one way):
Giả thiết H0 là yếu tố thí nghiệm không có ảnh hưởng thật sự với sự phát triển của tảo Nếu kết quả thí nghiệm có Ftính toán > Ftra bảng thì giả thiết H0 bị bác bỏ hay yếu tố thí nghiệm có ảnh hưởng thật sự tới sự phát triển của loài tảo thí nghiệm với độ tin cậy là 95% (α = 0,05) Nếu kết quả thí nghiệm có
Ftính toán < Ftra bảng thì giả thiết H0 được chấp nhận hay kết quả khác nhau trong các thí nghiệm chỉ là ngẫu nhiên
- Hệ số tương quan được tính bằng phương pháp phân tích tương quan hồi quy tuyến tính một lớp trên chương trình thống kê trong phần mềm EXCEL (tools-Analysis-regression)
- Tốc độ phân chia tế bào được tính theo công thức:
Trang 10III Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1 Phân lập, nuôi thành công một số loài tảo và sự phát triển của vi tảo
3.1.1 Phân lập và nuôi thành công một số loài tảo
Cùng với quá trình thu mẫu tảo phù du thì chúng tôi đã đồng thời thu mẫu tảo sống tại hai trạm thu mẫu là Đồ Sơn và Cát Bà, sau 12 tháng thu mẫu và phân lập các loài tảo độc hại thì chúng tôi đã phân lập và nuôi thành công 12 chủng tảo độc hại thuộc ngành tảo giáp Nuôi thu sinh khối để phục vụ cho mục đích phân tích độc
tố cũng như làm nguyên liệu cho việc nghiên cứu trên kính hiển vi điện tử và phân tích sinh học phân tử Sau khi thực hiện phân loại bằng kính hiển vi huỳnh quang và kiểm tra bằng phương pháp sinh học phân tử thì trong 12 chủng tảo đã được phân
lập có 5 loài tảo đã được khẳng định, đó là: Alexandrium minutum; Alexandrium
affine; Alexandrium tamarense; Prorocentrum cf mexicanum và Prorocentrum micans
Sau khi phân lập và nuôi thành công 5 loài tảo giáp trên thì chúng tôi đã tiến hành các thí nghiệm về ảnh hưởng của các một số yếu tố môi trường tới sự phát triển của loài, qua thời gian thực hiện đề tài thì chúng tôi đã thu được một số kết quả khá khả quan và các kết quả đó sẽ được trình bày trong các phần sau của báo cáo Tuy nhiên do điều kiện thực hiện các thí nghiệm trong khoảng thời gian có hạn và cơ sở vật chất phòng thí nghiệm chưa đầy đủ nên một số thí nghiệm chưa cho kết quả như mong muốn
3.1.2 Sự phát triển của tảo
Sự sinh trưởng và phát triển của vi tảo đã được đề cập bởi nhiều tác giả khác nhau, Đặng Đình Kim (1999) , nhìn chung sự phát triển của vi tảo là một đường cong gồm 4 giai đoạn hay 4 pha như hình 1
Theo đường cong sinh trưởng (Hình 1) của vi tảo và các kết quả thí nghiệm ta thấy:
- Pha lag: tảo bắt đầu thích nghi với môi trường nuôi, bắt đầu hấp thu chất dinh dưỡng và tiến hành phân cắt tế bào nhưng với tốc độ chậm, nếu môi trường mới thay
đổi qúa nhiều so với môi trường sống cũ của tảo thì thời gian trong giai đoạn này rất dài, thậm chí tảo có thể chết
- Pha log: quần thể tế bào tảo đã thích nghi với môi trường nuôi, mật độ tăng nhanh với tốc độ theo hàm số mũ, kích thước lớn tế bào lớn, sắc tố nhiều và chuyển
động mạnh, có loài thì còn biểu hiện chuỗi tế bào dài, nhìn mắt thường bên ngoài có xuất hiện nhiều khí trên thành bình, có thể do tảo hấp thụ chất dinh dưỡng mạnh, quang hợp xảy ra tốt và phân chia tế bào mạnh, thời gian trong pha này là rất tốt để dùng làm giống cho các thí nghiệm hay chuyển sang môi trường nuôi mới
Trang 11Hình1 Đường cong sinh trưởng của vi tảo
- Pha cân bằng: mật độ tế bào không tăng, ổn định trong một thời gian nhất định Quá trình quang hợp và phân chia tế bào vẫn xảy ra trong suốt giai đoạn này nhưng
số lượng tế bào mới sinh ra gần bằng với số lượng tế bào chết đi, đầu pha cân bằng
là giai đoạn tốt để thu sinh khối tế bào làm nguyên liệu cho phân tích độc tố cũng như phân tích ADN
- Pha suy tàn: mật độ tế bào giảm đi nhanh chóng và chết, chúng ta có thể quan sát hiện tượng kết lắng đáy hoặc mất dần sắc tố tảo Nguyên nhân do sự già của tảo
và môi trường cạn dinh dưỡng
3.2 ảnh hưởng của cường độ ánh sáng tới sự phát triển của tảo
Vi tảo là thực vật bậc thấp có khả năng quang hợp, hấp thu ánh sáng và các chất vô cơ khác nhau từ môi trường xung quanh để tổng hợp nên các hợp chất hữu cơ cấu tạo tế bào và cung cấp năng lượng cho các quá trình hoạt động của tế bào Do vậy cường độ ánh sáng cũng như thời gian chiếu sáng có vai trò rất quan trọng đối với sự sinh trưởng và phát triển của vi tảo nói chung và các loài tảo độc hại nó riêng Góp phần làm sáng tỏ sự ảnh hưởng của cường độ ánh sáng tới sự phát triển của tảo
độc hại thì chúng ta đi vào phân tích các kết quả thí nghiệm đã đạt được qua thời gian thực hiện đề tài
3.2.1 Chi tảo Alexandrium
3.2.1.1 Loài tảo Alexandrium affine
Sau 28 ngày thí nghiệm thì chúng tôi đã thu được kết quả về sự phát triển của
tảo Alexandrium affine như trên hình 2
Pha Log
Pha Lag
Pha suy tàn
Pha cân bằngMĐTB
Thời gian
Trang 123000Lux 2000Lux 1000Lux 500Lux
Hình 2 Sự phát triển hình 2a và tốc độ phân chia tế bào hình 2b của tảo
Alexandrium affine tại các CĐAS khác nhau
Kết quả thí nghiệm được kiểm tra độ tin cậy bằng phương pháp phân tích ANOVA một yếu tố và kiểm tra mối tương quan bằng phương pháp tính hệ số tương quan hồi quy một lớp, kết thu được ta thấy: Ftính toán = 34,68 > Ftra bảng =2,44 và R = 0,97
Vậy, yếu tố CĐAS có ảnh hưởng thật sự tới sự phát triển của loài tảo
Alexandrium affine và yếu tố cường độ ánh sáng và sự phát triển của tảo có mối
tương quan tuyến tính thuận rất chặt
Từ hình 2a chúng ta thấy, trong 4 cường độ ánh sáng đã thí nghiệm thì tại cường
độ ánh sáng 3000Lux có sự phát triển nhanh, mạnh và đạt được kích thước của quần thể lớn nhất, tiếp đến là cường độ 2000Lux rồi 1000Lux
Tại cường độ 3000Lux, sự phát triển của quần thể tại pha lag rất ngắn (khoảng 4 ngày) và chuyển ngay sang pha log, pha log có tốc độ phân chia tế bào rất nhanh với tốc độ phân chia tế bào trung bình là 0,29 lần/ngày đếm, nên thời gian để đạt được tới đỉnh của pha là rất ngắn chỉ sau 6 ngày và kích thước quần thể đạt là 4735 tb/ml, quần thể chuyển ngay sang pha suy thoái gần như không thấy pha cân bằng
Tại CĐAS 2000Lux, quần thể tế bào có pha lag kéo dài tới 10 ngày và chuyển sang pha log, tại pha log thì quần thể cũng phát triển chậm và đạt tới kích thước lớn nhất của quần thể tại ngày thí nghiệm thứ 15 với mật độ tế bào là 2180 tb/ml, chuyển sang pha cân bằng rồi suy tàn
Tại cường độ ánh sáng 1000Lux, quần thể phát triển rất chậm và đạt mật độ tế bào cao nhất tại ngày thí nghiệm thứ 19 với mật độ 810 tb/ml Tại CĐAS 500lux, gần như chúng ta không thấy đường biểu diễn tăng trưởng của tảo hiển thị trên hình (Hình 1a), dường như quần thể chỉ duy trì và suy tàn dần, nếu có sự phát triển thì cũng rất yếu
Trang 13Từ kết quả về tốc độ phân chia tế bào thông qua hình 2b chúng ta thấy, các quần thể tế bào có tốc độ phân chia tương đối ổn định nhưng vẫn tạo thành các đồ thị hình răng cưa Tại cường độ ánh sáng 3000Lux có tốc độ phân chia tối đa là 0,95 lần/ngày đếm và tốc độ phân chia trung bình là 0,07 lần/ngày đếm Tại cường độ
ánh sáng 2000Lux có tốc độ phân chia cao nhất là 0,61 lần/ngày đếm và tốc độ phân chia trung bình là 0,06 lần/ngày đếm Tại cường độ ánh sáng 1000Lux và 500Lux thì thấp hơn
3.2.1.2 Loài tảo Alexandrium minutum
Thực hiện thí nghiệm theo phương pháp đã thiết kế, sau 28 ngày theo dõi sự phát triển của tảo, chúng tôi đã thu được kết quả như trên hình 3
Hình 3 Sự phát triển hình 3a và tốc độ phân chia tế bào hình 3b của tảo
Alexandrium minutum tại các CĐAS khác nhau
Để kiểm tra yếu tố cường độ ánh sáng có ảnh hưởng thật sự tới sự phát triển của
tảo Alexandrium minutum hay không thì chúng tôi đã dùng phương pháp phân tích
ANOVA một yếu tố và kiểm tra mối tương quan bằng phương pháp tính hệ số tương quan hồi quy một lớp, kết quả thu được ta thấy: Ftính toán = 27,63 > Ftra bảng =2,44 và R
= 0,86
Vậy, yếu tố CĐAS có ảnh hưởng thật sự tới sự phát triển của loài tảo
Alexandrium minutum và yếu tố cường độ ánh sáng và sự phát triển của tảo có tương
quan tuyến tính thuận rất chặt
Nhìn vào kết quả trong hình 3a chúng ta thấy, trong 4 cường độ ánh sáng đã thí nghiệm, tảo phát triển tốt nhất tại cường độ ánh sáng 3000lux, tại cường độ ánh sáng 3000Lux thì quần thể có sự phát triển ở pha lag là 12 ngày và chuyển sang pha log, quần thể đạt đến kích thước lớn nhất vào ngày thí nghiệm thứ 23 với mật độ tế bào
Trang 14là 33000 tb/ml, quần thể tiếp tục chuyển sang pha cân bằng và suy tàn.Tại các cường
độ ánh sáng khác thì gần như không có sự phát triển, các quần thể chỉ duy trì một thời gian rồi suy tàn dần, do đó chúng ta không thấy sự hiển thị trên đồ thị
Từ kết quả phân chia tế bào trên hình 3b chúng ta thấy, các quần thể phát triển tạo thành các đồ thị hình răng cưa lớn, điều này có nghĩa sự phát triển của các quần thể không được ổn định Tại cường độ ánh sáng 3000Lux có tốc độ phát triển cao nhất là 1,65 lần/ngày đếm
3.2 1 Chi tảo Prorocentrum
3.2.1.1 Loài tảo Proroxentrum cf mexicanum
Thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp đã thiết kế và sau 32 ngày theo dõi
thí nghiệm, chúng tôi đã thu được kết quả về sự phát triển của loài tảo Proroxentrum
cf mexicanum tại các CĐAS khác nhau như trên hình 4
Để kiểm tra yếu tố cường độ ánh sáng có ảnh hưởng thật sự tới sự phát triển của
tảo Proroxentrum cf mexicanum hay không thì chúng tôi đã dùng phương pháp
phân tích ANOVA một yếu tố và kiểm tra mối tương quan bằng phương pháp tính
hệ số tương quan hồi quy một lớp, kết quả thu được ta thấy: Ftính toán =77,11 > Ftra bảng
=2,44 và R = 0,92
Vậy, yếu tố CĐAS có ảnh hưởng thật sự tới sự phát triển của loài tảo
Proroxentrum cf mexicanum và yếu tố cường độ ánh sáng và sự phát triển của tảo
có tương quan tuyến tính thuận rất chặt
Hình 4 Sự phát triển (hình 4a) và tốc độ phân chia tế bào (hình 4b) của tảo
Proroxentrum cf mexicanum tại các CĐAS khác nhau
Nhìn vào kết quả trong hình 4 chúng ta thấy: tại cường độ ánh sáng 3000Lux thì quần thể tế bào có sự phát triển tại pha lag rất ngắn (khoảng 3,5 ngày) và chuyển sang pha log, tại pha log thì mật độ tế bào tăng dần nhưng tốc độ phân chia cũng
a
b
Trang 15không cao nên kích thước lớn nhất của quần thể đạt được vào ngày thứ 20 với mật
độ cao nhất là 6022 tb/ml, như vậy pha log của quần thể đã kéo dài tới 16 ngày với tốc độ phân chia tế bào trung bình là 0.05 lần/ngày đếm, tốc độ cao nhất là 1,66 lần/ngày đếm Tại cường độ 2000Lux thì số lượng tế bào trong quần thể không cao, pha lag kéo dài tới 12 ngày nuôi và đạt tới kích thước lớn nhất của quần thể vào ngày thứ 18 với mật độ 1655tb/ml Tại cường độ ánh sáng 1000Lux và 500 lux thì gần như chúng ta không thấy hiển thị lên đồ thị, điều này có nghĩa là quần thể tế bào tại các cường độ ánh sáng này gần như không có sự phát triển mà chỉ có khẳ năng duy trì sống rồi suy tàn dần
Như vậy, từ các kết quả đã thu được trong thời gian thí nghiệm chúng ta thấy
rằng sự phát triển của các loài tảo đã thí nghiệm có mối tương quan tuyến tính thuận với cường độ ánh sáng ở mức độ chặt và rất chặt, khi cường độ ánh sáng tăng thì quần thể tế bào có sự phát triển tăng nhanh, pha lag và pha log ngắn, kích thước của quần thể lớn Cụ thể trong 4 mức cường độ ánh sáng đã thí nghiệm thì quần thể phát triển tốt nhất tại cường độ ánh sáng 3000Lux Loài tảo Alexandrium affine đạt kích
thước quần thể là 4735 tb/ml với tốc độ phân chia tế bào là 0,07 lần/ngày đếm,
Alexandrium minutum có kích thước là 33000 tb/ml và tốc độ phân chia tế bào là
0,28 lần/ngày đếm, loài Prorocentrum cf mexicanum có kích thước là 6022 tb/ml và
tốc độ phân chia tế bào là 0,05 lần/ngày đếm Khi so sánh kết quả này với kết quả nghiên cứu của các tác giả Lush và Hallegraeff thì kích thước của quần thể tế bào
Alexandrium minutum đạt cao hơn [Lush and Hallegraeff, 1996]
Mặt khác trong 4 mức cường độ ánh sáng thì các quần thể tế bào vẫn có xu thế tăng lên do đó có thể khi gặp điều kiện cường độ ánh sáng cao hơn thì quần thể vẩn
có sự phát triển cao hơn nữa, do đó để có được kết luận chính xác và đánh giá được mức độ ảnh hưởng của cường độ ánh sáng tới sự phát triển của tảo rõ ràng hơn thì chúng ta cần phải có thí nghiệm tại các cường độ ánh sáng cao hơn nữa
3.3 ảnh hưởng của độ mặn tới sự phát triển của tảo
3.3.1 Chi tảo Alexandrium
3.3.1.1 Loài tảo Alexandrium affine
Tiến hành thí nghiệm trên 7 độ mặn khác nhau (S1=5‰; S2=10‰; S3=15‰;S4=20‰; S5=25‰; S6=30‰ và S7=35‰), điều kiện môi trường được giữ ổn
định trong suốt thời gian thí nghiệm như sau: cường độ ánh sáng 3000lux, Chu kỳ sáng : tối là 14h : 10h Nhiệt độ ~240C; pH~7.8 Tảo được nuôi trong môi trường IMK mỗi độ mặn được lặp lại 3 lần với 3 lọ giống nhau về thể tích và mật độ tảo giống ban đầu Sau thời gian thí nghiệm chúng tôi đã thu được kết quả được thể hiện như trên hình 5
Trang 16Hình 5 Sự phát triển (hình 5a) và tốc độ phân chia tế bào (hình 5b) của tảo
Alexandrium affine tại các độ mặn khác nhau
Để kiểm tra yếu tố độ mặn có ảnh hưởng thật sự tới sự phát triển của tảo
Alexandrium affine hay không thì chúng tôi đã dùng phương pháp phân tích
ANOVA một yếu tố và kiểm tra mối tương quan bằng phương pháp tính hệ số tương quan hồi quy một lớp, kết quả thu được cho thấy: Ftính toán =7,02 > Ftra bảng =2,11 và R
= 0,34
Vậy, yếu tố độ mặn có ảnh hưởng thật sự tới sự phát triển của loài tảo
Alexandrium affine và yếu tố độ mặn với sự phát triển của tảo có mối tương quan
tuyến tính yếu
Từ kết quả trong hình 5a chúng ta thấy tại độ mặn S4 thì quần thể có pha lag ngắn nhất (7 ngày) và chuyển sang pha log, đạt tới kích thước lớn nhất của quần thể vào ngày thứ 15 với kích thước của quần thể tế bào là 16260 tb/ml Tại độ mặn S3 thì quần thể tế bào có pha lag dài hơn (9 ngày), sang pha log cũng kéo dài hơn so với độ mặn S4 (5 ngày) và đạt tới kích thước lớn nhất của quần thể vào ngày thứ 21 với mật độ tế bào là 19250 tb/ml đạt kích thước quần thể lớn nhất Tiếp đến là độ mặn S5 có pha lag tương đối dài (12 ngày) và chuyển sang pha log, pha log của quần thể cũng kéo dài tới 11 ngày và đạt tới đỉnh của pha sinh trưởng vào ngày thí nghiệm thứ 23 với mật độ tế bào đạt được là 16630 tb/ml Tại độ mặn S6 thì quần thể tế bào có pha lag rất dài và chuyển sang pha log vào ngày thứ 17, đạt tới đỉnh pha log vào ngày thứ 23 với mật độ tế bào tương đối thấp 9880 tb/ml Tại hai độ mặn là S1 và S7 thì chúng ta không thấy hiển thị trên đồ thị, điều này có nghĩa là tế bào tảo trong các độ mặn này dường như không có sự phát triển mà nó chỉ duy trì một thời gian và dần dần suy tàn
a
b
Trang 17Kết quả về tốc độ phân chia tế bào được biểu thị trên hình 5b cho ta thấy, các quần thể tế bào tại các độ mặn khác nhau có sự phân chia tế bào tương đối đều, tạo nên các đường rích rắc hình răng cưa nhưng không lớn, các giá thị thường có giá trị dương, điều này có nghĩa rằng các quần thể tế bào có sự phát triển tương đối ổn
định
3.3.1.2 Loài tảo Alexandrium minutum
Tương tự như thí nghiệm đối với loài Alexandrium affine, sau 31 ngày theo dõi
thí nghiệm, chúng tôi thu được kết quả như trong hình 6
Để kiểm tra độ tin cậy của kết quả thí nghiệm thì chúng tôi đã dùng phương pháp phân tích ANOVA một yếu tố và kiểm tra mối tương quan bằng phương pháp tính hệ số tương quan hồi quy một lớp, kết quả thu được cho thấy: Ftính toán =10,6 >
Ftra bảng =2,09 và R = 0,56
Vậy, yếu tố độ mặn có ảnh hưởng thật sự tới sự phát triển của loài tảo
Alexandrium minutum và yếu tố độ mặn với sự phát triển của tảo có tương quan
Alexandrium minutum tại các độ mặn khác nhau
Nhìn vào kết quả trong hình 6a chúng ta thấy: trong 7 độ mặn chúng tôi đã thí nghiệm thì tại độ mặn S5 là có sự phát triển đạt mật độ tế bào cao nhất tuy pha lag của độ mặn này không phải là ngắn nhất, pha lag kéo dài tới ngày thứ 13 mới chuyển sang pha log nhưng quần thể tế bào đã đạt tới kích thước lớn nhất của quần thể sớm nhất vào ngày thứ 19 với kích thước của quần thể tế bào đạt 78980 tb/ml, tại pha log quần thể phát triển nhanh với tốc độ phân chia tế bào trung bình là 0,71 lần/ngày đếm Tại độ mặn S2 và S3 thì quần thể có pha lag ngắn hơn độ mặn S5
Trang 18nhưng pha log của nó lại kéo dài hơn rất nhiều so với độ mặn S5, pha log của độ mặn S2 từ ngày thứ 7 kéo dài tới ngày thứ 27 với mật độ tế bào là 65950 tb/ml, pha log của độ mặn S3 kéo dài từ ngày thứ 5 tới ngày thứ 25 với kích thước tế bào đạt
được là 72300 tb/ml Còn các độ mặn khác thì cũng có sự phát triển nhưng rất thấp
và có pha lag rất dài
Tốc độ phân chia tế bào đuựoc biểu thị trên hình 6b chúng ta thấy, các đồ thị tạo thành các đường rick rắc răng cưa lớn, điều này có nghĩa là các quần thể tại các độ mặn thí nghiệm có tốc độ phân chia tế bào không ổn định hay sự phát triển của các quần thể tế bào không đạt sự ổn định
3.3.1.3 Loài tảo Alexandrium tamarense
Tiến hành thí nghiệm theo phương pháp đã thiết kế, sau 35 ngày theo dõi thí nghiệm chúng tôi đã thu được kết quả như trong hình 7
A l exand r i um t amar ense
Hình 7 Sự phát triển (hình 7a) và tốc độ phân chia tế bào (hình 7b) của tảo
Alexandrium tamarense tại các độ mặn khác nhau
Để kiểm tra yếu tố độ mặn có ảnh hưởng thật sự tới sự phát triển của tảo
Alexandrium tamarense hay không thì chúng tôi đã dùng phương pháp phân tích
ANOVA một yếu tố và kiểm tra mối tương quan bằng phương pháp tính hệ số tương quan hồi quy một lớp, kết quả thu được cho thấy: Ftính toán =4,02 > Ftra bảng =2,08 và R
= 0,02
Vậy, yếu tố độ mặn có ảnh hưởng thật sự tới sự phát triển của loài tảo
Alexandrium tamarense và yếu tố độ mặn với sự phát triển của tảo có tương quan
tuyến tính rất yếu hay gần như không có tương quan, điều này có thể lý giải là do kết quả thí nghiệm chưa đạt được tốt
Trang 19Nhìn trên hình 7a chúng ta thấy tại độ mặn S7 thì quần thể tế bào có sự phát triển nhanh và đạt tới kích thước của quần thể tế bào lớn nhất, quần thể có pha lag kéo dài tới ngày thí nghiệm thứ 10 và chuyển sang pha log, quần thể đạt tới đỉnh pha log vào ngày thí nghiệm thứ 23 với kích thước quần thể là 25100 tb/ml rồi chuyển sang pha cân bằng rồi suy tàn ở các độ mặn khác thì đều có sự phát triển nhưng
đều có pha lag dài hơn và pha log cũng dài hơn so với độ mặn S7, tại đỉnh của pha log thì kích thước của các quần thể cũng nhỏ hơn
Như vậy ta thấy rằng mối tương quan giữa sự phát triển của các quần thể tảo đến yếu tố độ mặn là rất yếu và kết quả nhận được như trên hình 7a cũng cho thấy sự phát triển của các quần thể tảo là không có tính quy luật, do đó để có được kết quả
rõ ràng về vấn đề này thì chúng ta cần phải tiến hành lặp lại thí nghiệm nhiều hơn nữa Mặt khác, đồ thị hình 7b về tốc độ phân chia tế bào cũng cho thấy, tốc độ phân chia tế bào của các quần thể tạo thành các đường rich rắc hình răng cưa lớn, chứng
tỏ các quần thể tế bào có sự phát triển không có sự ổn định
3.3.2 Chi tảo Prorocentrum
3.3.2.1 Loài tảo Prorocentrum cf mexicanum
Sau 25 ngày theo dõi thí nghiệm thì chúng tôi đã thu được một số kết quả như trong hình 8
Hình 8 Sự phát triển (hình 8a) và tốc độ phân chia tế bào (hình 8b) của tảo
Prorocentrum cf mexicanum tại các độ mặn khác nhau
Để kiểm tra yếu tố độ mặn có ảnh hưởng thật sự tới sự phát triển của tảo
Prorocentrum cf mexicanum hay không thì chúng tôi đã dùng phương pháp phân
tích ANOVA một yếu tố và kiểm tra mối tương quan bằng phương pháp tính hệ số
Trang 20tương quan hồi quy một lớp, kết quả thu được cho thấy: Ftính toán = 8,13 > Ftra bảng = 2,12 và R = 0,55
Vậy, yếu tố độ mặn có ảnh hưởng thật sự tới sự phát triển của loài tảo
Prorocentrum cf mexicanum và yếu tố độ mặn với sự phát triển của tảo có tương
quan tuyến tính vừa
Từ kết quả trên hình 8a chúng ta thấy: tại độ mặn S2 thì quần thể có sự phát triển tốt nhất, tiếp theo là độ mặn tại S5, S1, S6 và S7 như vậy tạo độ mặn S3 và S4 do
điều kiện thực hiện thí nghiệm không được tốt nên thí nghiệm tại hai độ mặn này bị hỏng, do đó để đánh giá sự phát triển của loài tảo này trong dãi độ mặn rộng là rất khó Nhưng trong 5 độ mặn thí nghiệm thành công thì chúng ta thấy rằng tại độ mặn S2 thì quần thể có pha lag ngắn nhất và chuyển sang pha log vào ngày thứ 9, đạt tới kích thước lớn nhất của quần thể vào ngày thứ 19 với mật độ tế bào là 67780tb/ml Còn các độ mặn khác thì có pha lag kéo dài hơn và đạt mật độ tế bào cao nhất cũng
bé hơn so với độ mặn S2, đó là S5 là 57960tb/ml vào ngày thứ 21; độ mặn S1 là 46630tb/ml vào ngày thứ 23; độ mặn S6 và S7 thì rất thấp
Tương tự, từ hình 8b chúng ta cũng rể dàng thấy tốc độ phân chia tế bào tại độ mặn của S2 đạt cao nhất tại ngày thí nghiệm thứ 9, khi quần thể bước vào pha log với sự phát triển rất nhanh
Kết quả của thí nghiệm chưa phản ánh được điểm và khoảng tối thích cho sự phát triển của loài nhưng nhìn vào kết quả từ đồ thị hình 7a ta thấy, sự phát triển của
loài tảo Prorocentrum cf mexicanum cũng vẫn tuân theo quy luật chung về sinh thái
loài đối với yếu tố môi trường, giới hạn sinh thái loài tạo thành hình cung từ S1 đến S2 rồi sang đến S5; S6; S7, tạo thành vùng chống chịu trên, chống chịu dưới và vùng cực thuận nên chắc chắn tại độ mặn S3 và S4 thì quần thể tế bào vẫn có sự phát triển tốt Để minh chứng cho điều này thì chúng ta cũng thấy kết quả nghiên cứu của các
tác giả trước cũng đưa ra nhận định loài tảo Prorocentrum cf mexicanum phát triển
tốt nhất tại độ mặn 21‰ [Chu Văn Thuộc, Nguyễn Thị Minh Huyền, 1999; Trần văn Tựa, 2005] Nhưng để có được kết luận chính xác về điều này thì việc tiến hành thêm thí nghiệm là hết sức cần thiết
3.3.2.2 Loài tảo Prorocentrum micans
Thí nghiệm tương tự như đối với loài tảo Prorocentrum cf mexicanum, sau
29 ngày thí nghiệm thì chúng tôi thu được kết quả như trong hình 9
Để kiểm tra yếu tố độ mặn có ảnh hưởng thật sự tới sự phát triển của tảo
Prorocentrum micans hay không thì chúng tôi đã dùng phương pháp phân tích
ANOVA một yếu tố và kiểm tra mối tương quan bằng phương pháp tính hệ số tương quan hồi quy một lớp, kết quả thu được cho thấy: Ftính toán = 7,23 > Ftra bảng = 2,09 và
R = 0,62
Trang 21Vậy, yếu tố độ mặn có ảnh hưởng thật sự tới sự phát triển của loài tảo
Prorocentrum micans và yếu tố độ mặn và sự phát triển của tảo có tương quan
Hình 9 Sự phát triển (hình 9a) và tốc độ phân chia tế bào (hình 9b) của tảo
Prorocentrum micans tại các độ mặn khác nhau
Từ kết quả trong hình 9 chúng ta thấy: tại độ mặn S3 thì quần thể tế bào có sự phát triển mạnh và đạt mật độ cao nhất Tất cả các độ mặn trong thí nghiệm này đều
có pha lag kéo dài, tại độ mặn S3 thì pha lag kéo dài tới 13 ngày mới chuyển sang pha log và đạt tới kích thước lớn nhất của quần thể tại ngày thứ 27 với tốc độ phân chia tế bào đạt cao nhất tại độ mặn này là 1,93 lần/ngày đếm, tiếp đến là độ mặn S1 thì quần thể tế bào có pha lag ngắn hơn (11 ngày) và chuyển sang pha log đạt tới kích thước lớn nhất của quần thể vào ngày thứ 21 với mật độ tế bào là 37560 tb/ml vẫn thấp hơn so với mật độ cao nhất của độ mặn tại S3 là 44530 tb/ml Tiếp theo là tới độ mặn S4, tại độ mặn này thì pha lag dài hơn (15 ngày), pha log phát triển thấp hơn so với các độ mặn khác và đạt tới kích thước lớn nhất của quần thể vào ngày thứ
25 với mật độ tế bào là 18400 tb/ml Còn lại các độ mặn khác thì gần như không thấy hiển thị trên đồ thị, điều này có nghĩa rằng các quần thể tế bào ở các độ mặn này gần như không có sự phát triển, chỉ có thể duy trì một thời gian và suy tàn dần
Như vậy, Độ muối tạo ra điều kiện thẩm thấu của môi trường tạo thành cấu trúc
hoạt động của cơ chế điều chỉnh độ thẩm thấu và thành phần ion trong cơ thể thuỷ sinh vật nói chung và tảo nói riêng, hay nói cách khác tác động phối hợp của yếu tố muối và sự biến đổi của nó ảnh hưởng rất mạnh đến đời sống sinh vật, lên giới hạn phân bố và lên đặc tính của các loài phân bố ở các khu vực có độ mặn khác nhau
Do đó mỗi loài tảo cũng đều có vùng cực thuận về độ mặn cho sự phát triển riêng
biệt, cụ thể như những loài tảo đã được thí nghiệm ta thấy, loài Alexandrium affine
Trang 22có sự phát triển tốt trong khoảng độ mặn 15 - 30‰ nhưng phát triển nhanh nhất tại
25‰,loài Alexandrium minutum có sự phát triển tốt trong khoảng 10 - 25‰ và phát
triển tốt nhất tại độ mặn 25‰,điều này có thể do được phân lập từ mẫu thu trong
đầm nuôi tôm có độ mặn thấp 10 - 25‰ nên loài tảo này đã có sự thích nghi với môi
trường sống có độ mặn thấp, loài Alexandrium tamarense có biên độ thích nghi với
sự biến đổi của độ mặn là rất lớn, đạt kích thước cao tại 35‰ Theo kết quả của tác giả Hak Gyoon Kim (1996) thì loài tảo này phát riển tốt nhất tại độ mặn 25‰ nhưng đạt kích thước quần thể lớn nhất tại độ mặn 30‰, ngoài ra theo kết quả nghiên
cứu của tác giả Nguyễn Văn Nguyên (2003) thì các loài tảo Alexandrium thích nghi
với điều kiện độ mặn từ 8 – 33,5‰ và phát triển tốt nhất trong khoảng 18 - 30‰, theo
kết quả nghiên cứu của tác giả Sou Nagasoe thì loài tảo Gyrodinium intriatum có sự
phát triển tốt nhất tại độ mặn 25‰[Sou Nagasoe, 2005].Kết quả trên gợi ý cho
chúng ta nghĩ rằng loài tảo Alexandrium tamarense có tính rộng muối Để có được
kết luận rõ ràng về vấn đề này thì cần phải tiến hành thêm các thí nghiệm ở các độ
mặn rộng hơn nữa Các loài tảo thuộc chi Prorocentrum chưa đạt được kết quả rõ
ràng.Như vậy với các loài tảo đã thí nghiệm thì độ mặn thích nghi cho việc phát triển là từ 10-30‰ , mặt khác theo kết quả nghiên cứu của tác giả Vũ Dũng [Vũ Dũng và ctv, 2001] thì biến động độ mặn trong suốt vụ nuôi tôm tại đầm nước lợ là 11,4‰ , hay kết quả của đề tài sau 1 năm theo dõi thì độ mặn trung bình tại đầm nuôi tôm thâm canh là 14,2‰, đầm quảng canh là 19,3‰ , đền Bà Đế là 21,4‰và Cát Bà là 31,5‰ điều này có nghĩa rằng khu vực dải ven bờ cũng như các đầm nuôi thuỷ hải sản nước lợ là những khu vực có độ mặn phù hợp với sự phát triển của các loài tảo, khi gặp các yếu tố môi trường khác thuận lợi rễ gây ra hiện tượng nở hoa tảo nên cần có biện pháp theo dõi và phòng tránh
3.4 ảnh hưởng của nhiệt độ tới sự phát triển của tảo
3.4.1 Chi tảo Alexandrium
3.4.1.1 Loài tảo Alexandrium minutum
Sau 45 ngày theo dõi thí nghiệm chúng tôi đã thu được kết quả về sự phát triển của tảo như trên hình 10
Để kiểm tra độ tin cậy của kết quả thí nghiệm thi chúng tôi dùng phương pháp phân tích ANOVA một yếu tố và kiểm tra mối tương quan bằng phương pháp tính
hệ số tương quan hồi quy một lớp, kết quả thu được cho thấy: Ftính toán = 22,39 > Ftra
bảng = 2,45 và R = 0,95
Vậy, yếu tố nhiệt độ có ảnh hưởng thật sự tới sự phát triển của loài tảo
Alexandrium minutum và yếu tố nhiệt độ với sự phát triển của tảo có tương quan
tuyến tính rất chặt
Trang 23N g à y
Hình 10 Sự phát triển (hình 10a) và tốc độ phân chia tế bào (hình 10b) của tảo
Alexandrium minutum tại các nhiệt độ khác nhau
Từ kết quả hình 10a chúng ta thấy, tại nhiệt độ 200C thì quần thể tế bào phát triển tốt nhất, với pha lag dài nhất tới 13 ngày và chuyển sang pha log, tại kích thước lớn nhất của quần thể thì mật độ tế bào đạt 137765 tb/ml vào ngày thứ 23 và chuyển sang pha cân bằng rồi suy tàn dần ở nhiệt độ 250C, sự phát triển của quần thể tế bào tại pha lag kéo dài 9 ngày và chuyển sang pha log, pha log của quần thể kéo dài tới ngày 35 với mật độ tế bào tại đỉnh pha là 69100 tb/ml Lên nhiệt độ 300C thì sự phát triển của quần thể tảo có pha lag ngắn nhất chỉ 3 ngày và chuyển sang pha log, quần thể đạt được mật độ tế bào cao nhất tại ngày thí nghiệm thứ 25 với mật độ là
54700 tb/ml Khi cao tới nhiệt độ 350C thì đồ thị của sự phát triển gần như không có
sự tăng trưởng, quần thể tảo chỉ tồn tại rồi suy tàn dần Xét về tốc độ phân chia tế bào, trên hình 10b thấy rằng tại nhiệt độ 200C có tốc độ phân chia tế bào cao nhất vào ngày thí nghiệm thứ 11 với tốc độ là 1,38 lần/ngày đếm và tốc độ phân chia tế bào trung bình là 0,65 lần/ngày đếm, tại nhiệt độ 250C thì tốc độ phân chia tế bào trung bình là 0,14 lần/ngày đếm và cao nhất là 0,65 lần/ngày đếm vào ngày thứ 9, tại nhiệt độ 300C có tốc độ phân chia trung bình là 0,18 lần/ngày đếm và tốc độ cao nhất là 1,07 lần/ngày đếm vào ngày thí nghiệm thứ 3 Nhìn vào hình 10b chúng ta thấy tốc độ phân chia tế bào ở các nhiệt độ vẫn tạo nên đồ thị dạng răng cưa rất lớn,
điều này chứng tỏ sự phát triển của tảo ở các nhiệt độ thí nghiệm chưa có được ổn
định cao
3.4.1.2 Loài tảo Alexandrium affine
Tiến hành thí nghiệm theo phương pháp đã thiết kế và sau 55 ngày thí nghiệm thì chúng tôi đã thu được kết quả như trong hình 11
Để kiểm tra độ tin cậy của kết quả thí nghiệm thi chúng tôi dùng phương pháp phân tích ANOVA một yếu tố và kiểm tra mối tương quan bằng phương pháp tính
Trang 24hệ số tương quan hồi quy một lớp, kết quả thu được cho thấy: Ftính toán = 11,79 > Ftra
bảng = 2,69 và R = 0,38
Vậy, yếu tố nhiệt độ có ảnh hưởng thật sự tới sự phát triển của loài tảo
Alexandrium affine và yếu tố nhiệt độ với sự phát triển của tảo có mối tương quan
1 5 9 13 17 21 25 29 33 37 41 45 49 53
Ngày
Hình 11 Sự phát triển (hình 11a) và tốc độ phân chia tế bào (hình 11b) của tảo
Alexandrium affine tại các nhiệt độ khác nhau
Từ kết quả trong hình 11a chúng ta thấy rằng tại nhiệt độ 250C thì quần thể tế bào có sự phát triển mạnh nhất so với các mức nhiệt độ đã thí nghiệm Tại nhiệt độ
250C thì quần thể có pha lag kéo dài tới 29 ngày và đạt tới kích thước lớn nhất của quần thể vào ngày thí nghiệm thứ 51 với mật độ tế bào là 30600 tb/ml, như vậy để
đạt tới kích thước lớn nhất của quần thể thì quần thể tế bào phải mất tới 51 ngày phát triển Tại nhiệt độ 200C thì quần thể tế bào có sự phát triển kém hơn so với nhiệt độ 250C, nhưng pha lag lại có thời gian ngắn hơn so với nhiệt độ 250C vào ngày thí nghiệm thứ 22 là quần thể chuyển sang pha log, pha log kéo dài 23 ngày và
đạt tới kích thước lớn nhất của quần thể vào ngày thí nghiệm thứ 45 với mật độ tế bào là 16430 tb/ml Tiếp theo là tới nhiệt độ 300C, quần thể phát triển có pha lag rất ngắn (8 ngày) và chuyển sang pha log, quần thể đạt tới kích thước lớn nhất của quần thể vào ngày thí nghiệm thứ 11 với mật độ tế bào là 7560 tb/ml, tại pha cân bằng rất ngắn và quần thể chuyển ngay sang pha suy tàn
Xét về tốc độ phân chia tế bào, kết quả trên hình 11b cho thấy: tại nhiệt độ 300C thì có tốc độ phân chia tế bào cao nhất vào ngày thí nghiệm thứ 5 với tốc độ phân chia là 3,15 lần/ngày đếm, điều này phù hợp với sự chuyển hoá các chất tỉ lệ thuận với nhiệt độ Tiếp theo là tại nhiệt độ 250C, tốc độ phân chia tế bào ổn định hơn cả,
nó được biểu thị bằng đường răng cưa ngắn nhất với tốc độ phân chia trung bình là
Trang 250.15 lần/ngày đếm, tốc độ phân chia cao nhất là 1,65 lần/ngày đếm Tại nhiệt độ
200C có tốc độ phân chia tế bào trung bình là 0.21 lần/ngày đếm và đạt tốc độ phân chia cao nhất là 1,35 lần/ngày đếm
3.4.2 Chi tảo Prorocentrum
3.4.2.1 Loài tảo Prorocentrum cf mexicanum
Thực hiện thí nghiệm như phương pháp đã thiết kế, sau thời gian theo dõi thí nghiệm thì chúng tôi đã thu được kết quả như hình 12
Pr o r o cent r um mexi canum
Prorocentrum cf mexicanum tại các nhiệt độ khác nhau
Để kiểm tra độ tin cậy của kết quả thí nghiệm thì chúng tôi dùng phương pháp phân tích ANOVA một yếu tố và kiểm tra mối tương quan bằng phương pháp tính
hệ số tương quan hồi quy một lớp, kết quả thu được cho thấy: Ftính toán = 10,33 > Ftra
bảng =2,45 và R = 0,94
Vậy, yếu tố nhiệt độ có ảnh hưởng thật sự tới sự phát triển của loài tảo
Prorocentrum cf mexicanum và yếu tố nhiệt độ với sự phát triển của tảo có mối
tương quan tuyến tính rất chặt
Từ kết quả hình 12a chúng ta thấy, trong 4 mức nhiệt độ đã thí nghiệm thì tại nhiệt độ 200C thì quần thể tế bào có mật độ tế bào đạt cao nhất nhưng lại có pha lag kéo dài nhất ngoại trừ nhiệt độ 350C
Tại nhiệt độ 200C quần thể tế bào có pha lag kéo dài tới ngày thí nghiệm thứ 25 mới chuyển sang pha log, tại pha log thì quần thể phát triển tương đối ổn định với tốc độ trung bình là 0,17 lần/ngày đếm và đạt tới kích thước lớn nhất của quần thể vào ngày thí nghiệm thứ 41 với mật độ tế bào là 94300 tb/ml, quần thể tế bào có thời gian cho pha cân bằng rất ngắn và nó chuyển ngay sang pha suy tàn rất nhanh Lên
0
Trang 26tại nhiệt độ 200C nhưng mật độ tế bào lại thấp hơn nhiều so với nhiệt độ 200C, quần thể có pha lag kéo dài 11 ngày giống như tại nhiệt độ 300C, chuyển sang pha log kéo dài tới ngày thí nghiệm thứ 25 với mật độ tế bào tại kích thước lớn nhất của quần thể
là 35200 tb/ml rồi chuyển sang pha cân bằng và suy tàn vào ngày thứ 37 Đến nhiệt
độ 300C thì sự phát triển của quần thể tế bào gần giống với sự phát triển của quần thể tại nhiệt độ 250C, pha lag kéo dài tới ngày thí nghiệm thứ 11 và đạt tới kích thước lớn nhất của quần thể vào ngày thứ 29 với mật độ tế bào là 31200 tb/ml Tới nhiệt độ 350C thì chúng ta thấy đồ thì của sự phát triển quần thể gần như không thấy hiển thị trên hình, điều này có nghĩa rằng quần thể tế bào tại nhiệt độ 350C không có
sự phát triển mà chỉ duy trì số lượng tế bào trong một thời gian rồi suy tàn dần Xét về tốc độ phân chia tế bào cho thấy rằng: tại nhiệt độ 200C có tốc độ phân chia cao nhất vào ngày thí nghiệm thứ 7 với tốc độ phân chia là 2,1 lần/ngày đếm, tốc độ trung bình cho cả quá trình phát triển của quần thể là 0,34 lần/ngày đếm Tại nhiệt độ 250C và 300C thì quần thể có sự phát triển tương đối ổn định với tốc phân chia tế bào trung bình cho cả quá trình phát triển lần lượt là 0,12 lần/ngày đếm và 0,13 lần/ngày đếm
3.4.2.2 Loài tảo Prorocentrum micans
Tiến hành thí nghiệm như phương pháp đã được thiết kế thì sau 51 ngày thí nghiệm, chúng tôi đã thu được kết quả như trong hình 13
Hình 13 Sự phát triển (hình 13a) và tốc độ phân chia tế bào (hình 13b) của tảo
Prorocentrum micans tại các nhiệt độ khác nhau
Để kiểm tra yếu tố nhiệt độ có ảnh hưởng thật sự tới sự phát triển của tảo
Prorocentrum micans hay không thì chúng tôi đã dùng phương pháp phân tích
ANOVA một yếu tố và kiểm tra mối tương quan bằng phương pháp tính hệ số tương
Trang 27quan hồi quy một lớp, kết quả thu được cho thấy: Ftính toán = 13,88 > Ftra bảng = 2,44 và
R = 0,99
Vậy, yếu tố nhiệt độ có ảnh hưởng thật sự tới sự phát triển của loài tảo
Prorocentrum micans và yếu tố nhiệt độ với sự phát triển của tảo có mối tương
quan tuyến tính rất chặt
Từ kết quả trong hình 13a chúng ta thấy, trong 4 mức nhiệt độ đã được thí nghiệm thì tại nhiệt độ 200C là có sự phát triển đạt mật độ tế bào cao nhất nhưng lại
co pha lag dài nhất, tiếp theo là tới nhiệt độ 250C rồi tới 300C
Tại nhiệt độ 200C, sự phát triển của quần thể có pha lag kéo dài tới ngày thí nghiệm thứ 24 và đạt mật độ tế bào cao nhất tại kích thước lớn nhất của quần thể là
61400 tb/ml vầo ngày thí nghiệm thứ 37, tại pha log quần thể có sự phát triển rất mạnh tại thành đồ thị gần như là một đường thẳng dựng đứng với tốc độ phân chia tế bào trung bình tại pha log này là 0,37 lần/ngày đếm, tiếp theo quần thể chuyển sang pha cân bằng rồi pha suy tàn rất nhanh Tới nhiệt độ 250C thì quần thể có sự phát triển tại pha lag rất ngắn chỉ kéo dài tới ngày thí nghiệm thứ 7 và chuyển sang pha log, quần thể tế bào đạt tới kích thước lớn nhất của quần thể vào ngày thí nghiệm thứ
29 với mật độ tế bào là 47700 tb/ml, tiếp đến là quần thể chuyển sang pha cân băng
và pha suy tàn rất nhanh Lên đến nhiệt độ 300C thì quần thể có sự phát triển kém hơn rất nhiều so với nhiệt độ 250C và 200C, pha lag kéo dài tới ngày thí nghiệm thứ
7 và đạt tới kích thước lớn nhất của quần thể vào ngày thí nghiệm thứ 19 với mật độ
tế bào là 19600 tb/ml, chuyển sang pha cân bằng và pha suy tàn kéo dài tới ngày thí nghiệm thứ 33
Như vậy, nhiệt độ phân bố trong thuỷ quyển là rất khác nhau do sự khác biệt về vĩ
độ địa lý, khí hậu ngày đêm, do chu kỳ sáo trộn khác nhau của các khối nước … do tác động của nó mà sinh vật cũng đã hình thành nên các nhóm ưa lạnh, ưa ấm, hẹp nhiệt hay rộng nhiệt Khi sinh vật nói chung và tảo nói riêng phát triển trong khoảng giới hạn trên của nhiệt thì các quá trình sinh lý, sinh hoá hay trao đổi chất của nó tỷ
lệ thuận với sự tăng lên của nhiệt độ nhưng nhiệt độ tăng quá điểm cực thuận của nó thì mối tương quan trên lại có chiều ngược lại Do đó nhiệt độ môi trường vừa là yếu
tố kích thích sự phát triển nhưng nó cũng là yếu tố giới hạn, mỗi loài thì có giới hạn sinh thái riêng của mình, nên kết quả thí nghiệm của đề tài cho thấy đa số các loài tảo thí nghiệm đều có sự phát triển tốt tại nhiệt độ 200C như loài Alexandrium
minutum, Prorocentrum micans, Prorocentrum cf mexicanum nhưng cũng gặp loài Alexandrium affine phát triển tốt tại nhiệt độ 250C, vậy kết quả thí nghiệm này cũng khá phù hợp với một số kết quả nghiên cứu của các tác giả khác, như kết quả nghiên
cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Lâm khi nghiên cứu sinh thái của loài tảo
Trang 28Alexandrium affine phân lập tại Vịnh Hạ Long [L Nguyen-Ngoc, 2004] thì nồng độ
tế bào đạt cao nhất tại nhiệt độ là 24 và 270C Theo tác giả Anderson et al [Aderson
et al., 1984] thì loài tảo Alexandrium tamarense không phát triển tại nhiệt độ thấp
hơn 70C và cao hơn 260C, phát triển tốt trong khoảng 11 – 220C Loài Alexandrium
minutum được phân lập từ Australia phát triển mạnh nhất tại nhiệt độ 200C và phát triển tốt trong khoảng nhiệt độ 12 – 250C [Cannon, 1993], hay theo kết quả nghiên
cứu của tác giả Nguyễn Văn Nguyên thì tảo Alexandrium phát triển tốt tại nhiệt độ
từ 27 – 300C [Nguyễn Văn Nguyên, 2003] và tác giả cũng ghi nhận rằng loài tảo
Prorocentrum micans có độ mặn tối ưu là 220C trùng với ghi nhận của tác giả Chu Văn Thuộc (2002) còn tác giả Wang et al (2000) là 250C Mặt khác theo kết quả nghiên cứu của tác giả Vũ Dũng [Vũ Dũng và ctv, 2001] khi nghiên cứu sự biến đổi các thông số môi trường ở đầm nuôi tôm khu vực Đồ Sơn thì nhiệt độ nước trung bình trong năm là 28,6 – 33,80C trung bình là 30 – 320C, hơn nữa qua các thông số
đo nhanh tại hiện trường thì sau 1 năm thực hiện đề tài chúng tôi thấy nhiệt độ nước trung bình của khu vực nghiên cứu dao động từ 16 – 35,40C và thời gian có nhiệt độ nước vào khoảng 20 - 250C chỉ có vào tháng 12 Từ kết quả này chúng ta thấy rằng nhiệt độ tại khu vực nghiên cứu không thuận lợi cho sự phát triển của các loài tảo đã thí nghiệm và có lẽ điều này cũng là một yếu tố hạn chế sự bùng phát mật độ tảo
độc tại khu vực nghiên cứu trong năm, trong khi độ mặn là rất phù hợp cho sự phát triển thì nhiệt độ lại là yếu tố không thuận lợi, từ đây nẩy sinh ra một yếu tố khác
mà chúng ta cần phải nghiên cứu và xem xét tiếp đó là trong một phức hệ mối tương tác từ môi trường tới tảo thì mức độ, vai trò của từng yếu tố đó là bao nhiêu để thúc
đẩy sự phát triển tốt nhất của tảo và là bao nhiêu thì nó lại kìm hãm sự phát triển,
đấy là điều mà chúng ta cần phải có những thí nghiệm tiếp theo để làm sáng tỏ vấn
đề này
3.5 ảnh hưởng nồng độ muối dinh dưỡng tới sự phát triển của tảo
Vi tảo có vai trò hết sức quan trọng trong hệ sinh thái thuỷ vực, tảo là sinh vật có khả năng tổng hợp ra nguồn chất hữu cơ từ nước, CO2 và các muối thông qua quá trình quang hợp, tảo là mắt xích đầu tiên (sinh vật sản xuất) trong các chuỗi thức ăn
Do đó, điều kiện dinh dưỡng hay nồng độ các muối dinh dưỡng là một trong những nhân tố quan trọng đóng vai trò quyết định tới sự phát triển của tảo Mỗi loại muối dinh dưỡng lại có khả năng tác động ở mức độ khác nhau lên các loài tảo hay nói cach khác, mỗi loài tảo có nhu cầu dinh dưỡng khác nhau Chính vai trò quan trọng của muối dinh dưỡng đối với sự phát triển của tảo nên nó cũng chính là yếu tố giới hạn sự phát triển của tảo Vậy việc tìm ra được muối dinh dưỡng nào đóng vai trò quan trọng hơn và ở nồng độ nào thì nó thúc đẩy sự phát triển, ở nồng độ nào thì nó lại là yếu tố giới hạn đang được các nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu Để góp
Trang 29phần làm sáng tỏ sự tác động của muối dinh dưỡng PO4-3; NO3- tới sự phát triển của một số loài tảo giáp thì chúng ta đi vào phân tích các kết quả thí nghiệm đã thu được sau đây:
3.5.1.1 Loài tảo Alexandrium minutum
Thí nghiệm được tiến hành tại 3 nồng độ khác nhau, môi trường IMK là nồng độ chuẩn - N2, nồng độ thứ 2 ký hiệu là N1 và nồng độ thứ 3 ký hiệu là N3 Các môi trường được lấy nước biển làm nền, các nồng độ muối trong thí nghiệm cụ thể được thể hiện trong bảng 1
Bảng 1 Nồng độ các muối dinh dưỡng trong các thí nghiệm
loài tảo Alexandrium minutum như hình 14
Để kiểm tra yếu tố muối dinh dưỡng NO3- có ảnh hưởng thật sự tới sự phát triển
của tảo Alexandrium minutum hay không thì chúng tôi đã dùng phương pháp phân
tích ANOVA một yếu tố và kiểm tra mối tương quan bằng phương pháp tính hệ số tương quan hồi quy một lớp, kết quả thu được cho thấy: Ftính toán = 7,73 > Ftra bảng = 2,82 và R = 0,96
Vậy, yếu tố muối dinh dưỡng NO3- có ảnh hưởng thật sự tới sự phát triển của loài
tảo Alexandrium minutum và yếu tố muối dinh dưỡng NO3- với sự phát triển của tảo
có mối tương quan tuyến tính rất chặt
Trang 30Muoi NO3 - Alexandrium minutum
Hình 14 ảnh hưởng của nồng độ muối NO3-1 tới sự phát triển (hình 14a) và tốc độ
phân chia tế bào (hình 14b) của tảo Alexandrium minutum
Từ kết quả tên hình 14a chúng ta thấy, trong 3 nồng độ muối chúng tôi đã thí nghiệm thì tại nồng độ muối cao N3 là có sự phát triển đạt kích thước quần thể tế bào lớn nhất nhưng lại có pha lag kéo dài nhất so với hai nồng độ muối thấp hơn Tại hai nồng độ muối còn lại là N1 và N2 thì sự phát triển của quần thể tế bào tương
đối tương tự nhau cả về kích thước quần thể đạt được lẫn thời gian phát triển ở các pha sinh trưởng, tại nồng độ muối N2 có phần phát triển chậm hơn so với nồng độ muối N1 nhưng kích thước quần thể lại có phần lớn hơn vào ngày thí nghiệm thứ 19 Hình 14b chúng ta thấy các quần thể có sự phân chia tế bào tương đối đồng đều và
ổn định trong quá trình phát triển ngoại trừ tại pha log của nồng độ muối N3 có tốc
độ phân chia nhảy vọt, cao nhất là 3,35 lần/ngày đếm tại ngày thí nghiệm thứ 7 Tốc
độ phân chia trung bình tại nồng độ muối N3 là cao nhất 0,71 lần/ngày đếm, rồi tới N1 với tốc độ là 0,22 lần/ngày đếm và N2 là 0,18 lần/ngày đếm
Vậy để thấy rõ sự ảnh hưởng của nồng độ muối dinh dưỡng NO3- tới sự phát
triển của tảo Alexandrium minutum thì chúng ta đi vào phân tích mối quan hệ giữa
sự phát triển của tảo với từng nồng độ muối đã được thí nghiệm:
Từ kết quả thí nghiệm về sự phát triển của tảo đã đạt được cũng như kết quả phân tích muối dinh dưỡng từ các mẫu môi trường trong quá trình thí nghiệm thì chúng tôi đã có được mối tương quan tương đối chặt chẽ giữa sự phát triển của tảo với nồng độ muối, kết quả được thể hiện trên hình 15