Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Viện khoa học nông nghiệp việt nam Báo cáo tổng kết chuyên đề Phân tích hiệu quả kỹ thuật, kinh tế, môi trường và khả năng ứng dụng trên diện r
Trang 1Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Viện khoa học nông nghiệp việt nam
Báo cáo tổng kết chuyên đề
Phân tích hiệu quả kỹ thuật, kinh tế,
môi trường và khả năng ứng dụng
trên diện rộng của các biện pháp phòng trừ
Thuộc đề tài độc lập cấp nhà nước Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ (mimosa pigra l.) ở việt nam
Trang 2Chuyên đề: Phân tích về hiệu quả kỹ thuật, kinh tế, môi trường và khả năng ứng dụng trên diện rộng của các biện pháp phòng trừ
1 Đặt vấn đề
Nghiên cứu hiệu quả kinh tế, kỹ thuật và ảnh hưởng đến môi trường của các biện pháp nhằm diệt trừ cây trinh nữ thân gỗ là việc làm rất quan trọng vì hiện nay ở nước ta hầu như chưa có một công trình nghiên cứu đầy đủ nào về các biện
pháp phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ Trong khuôn khổ đề tài: “ Nghiên cứu các
biện pháp tổng hợp phòng trừ cây Trinh nữ thân gỗ (Mimosa pigra L.) ở Việt
Nam” chúng tôi tiến hành nghiên cứu, phân tích các nội dung nêu trên
2 Mục tiêu
Phân tích được hiệu quả kinh tế, kỹ thuật và ảnh hưởng đến môi trường của từng biện pháp và đề xuất được quy trình phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ phù hợp với từng điều kiện sinh thái cụ thể ở Việt Nam
3 Địa điểm triển khai thí nghiệm
(1) Vườn Quốc gia Tràm Chim – Tam Nông - Đồng Tháp
(2) Vườn quốc gia Cát Tiên – Tân Phú - Đồng Nai
(3) Lưu vực sông La Ngà - Định Quán - Đồng Nai
(4) Lòng hồ thuỷ điện Hoà Bình
(5) Lòng hồ thuỷ điện Thác Bà - Yên Bình - Yên Bái
4 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá hiệu quả kỹ thuật, kinh tế và tác động môi trường của các biện pháp phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ như: thủ công cơ giới (chặt, nhổ, đốt, chặt +
đốt, chặt ngâm ngập lụt) sinh học (gieo các loài cỏ dại cạnh tranh có trong hệ sinh thái của các vườn Quốc gia hay trồng cây tràm úc để che bóng ở một số vùng lòng hồ), hoá học (sử dụng các thuốc trừ cỏ huỷ diệt và chọn lọc) và thủ công kết hợp với hoá học tại vườn Quốc gia Tràm Chim, Cát Tiên, lưu vực sông La Ngà, lòng
hồ Hoà Bình và Thác Bà
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ cây TNTG được tiến hành thông qua các thí nghiệm diện rộng không nhắc lại với diện tích từ 2000 – 3.000m2 (tuỳ vào nội dung của từng thí nghiệm) để đủ cho việc đánh giá hiệu quả kỹ thuật, kinh tế đặc biệt là tác
động về mặt môi trường
* Các nghiên cứu cũng được tiến hành tại những vùng đại diện (vườn Quốc gia, đất hoang hoá, đất canh tác ven sông, đất canh tác trên cạn v.v ) các tuổi cây (cây con, cây 1, 2, 3 và 4 năm tuổi trở lên) và mức độ xâm nhiễm khác nhau (vùng
bị xâm nhiễm nhẹ <20% diện tích che phủ, vùng bị xâm nhiễm từ 20-50% và vùng
bị xâm nhiễm trên 50% diện tích che phủ)
Trang 3* Các biện pháp được tiến hành thử nghiệm bao gồm: biện pháp vật lý cơ giới (nhổ, chặt, xới bằng máy xới nhỏ, đốt, chặt kết hợp với đốt, chặt kết hợp với ngâm ngập lũ), biện pháp sinh thái (trồng các loại cây che bóng như tràm, cây họ đậu) và biện pháp hoá học (sử dụng các thuốc trừ cỏ chọn lọc và không chọn lọc)
+ Đối với biện pháp xử cây trưởng thành bằng thuốc hoá học, hiệu quả của thuốc được đánh giá bằng cách quan sát ở thời điểm 15 và 30 ngày sau phun ở thời điểm
45, 60 và 90 ngày sau phun thuốc được tính bằng cách đo chiều dài cây chết và hiệu quả diệt trừ hoàn toàn cây ở thời điểm 115ngày sau phun
+ Đối với biện pháp chặt + thuốc hoá học, hiệu quả của thuốc được tính bằng cách đếm số mầm chết hoàn toàn sau phu 15, 30, 45, 60 và 90 ngày Hiệu quả diệt trừ phần gốc cây được tính bằng cách đếm số gốc chết sau phun thuốc 115ngày
- Hiệu quả kinh tế: Chi phí đối với từng biện pháp (công lao động, vật tư và các phụ phí khác)
-Tác động môi trường
** Đánh giá tác động của từng biện pháp đối với một số nhóm động, thực vật và vi sinh vật chủ yếu
+ Thực vật: các nhóm cỏ chính như cỏ hoà thảo, cói lác và lá rộng: Xác định mật
độ và diện tích che phủ của các loài cỏ dại có trong các công thức thí nghiệm trước
và sau xử lý; thời gian mọc trở lại sau xử lý
++ Động vật: ảnh hưởng của thuốc hoá học đối với cá; TN trong phòng và TN trong nhà lưới; cho dung dịch nước thuốc vào bô can và bể xi măng theo nồng độ
đã xác định, mỗi nồng độ được lặp lại 3 lần Sau đó thả cá và ốc bươu vàng vào trong bô can và bể xi măng
Chỉ tiêu theo dõi: Số cá và ốc chết sau thả: 1,2,3,5 và 7 ngày
+++ ảnh hưởng đến các loài côn trùng và sinh vật sống trên cây: Quan sát và ghi nhận thành phần và tần suất bắt gặp của các loài sinh vật
++++vi sinh vật: Lấy mẫu đất từ 5 điểm đại diện trong các ô TN phun thuốc để phân tích số lượng vi sinh vật tổng số và một số nhóm chủ yếu khác như nấm mốc, nấm
men, xạ khuẩn v.v
Chỉ tiêu: Số lượng và thời gian khôi phục quần thể
+ đánh giá tồn lưu của thuốc trừ cỏ trong đất, nước
Trang 4++ xác định thời gian tồn tại của thuốc trong đất: thông qua phân tích dư lượng thuốc trong đất và biện pháp sinh học
5 Kết quả nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu sử dụng hoá chất để phòng trừ cây trinh nữ
5.1.1 Hiệu quả kỹ thuật của thuốc trừ cỏ Glyphosate đối với cây trưởng thành
Qua kết quả thí nghiệm trong năm 2005 cho thấy khi sử dụng Glyphosate ở lượng dùng là 1440; 2160; 2880 gai/ ha tương đương với 3,0; 4,5; 6,0 lít thuốc thương phẩm là Roundup 480SC, hoạt chất Glyphosate IPA đều có thể làm cháy lá sau khi phun 3 - 5 ngày Sau 7-10 ngày hầu hết các lá trên cây đều bị rụng, sau đó gây chết dần từ cành cấp 2 đến cấp 1 Cuối cùng thuốc có thể lưu dẫn xuống gốc và gây chết cho toàn cây
Khi tiến hành theo dõi các ô thí nghiệm chúng tôi thấy hiệu lực của thuốc có sự khác nhau đối với từng tuổi cây Sau 15 ngày hiệu lực của thuốc rất thấp, thuốc chủ yếu chỉ diệt được một số cây nhỏ mới mọc, sau 30 ngày hiệu lực của thuốc bắt đầu tăng lên Đối với cây 2; 3 năm tuổi thuốc có thể đạt
được 10,6 - 46,5% Đối với cây 4 - 5 năm tuổi hiệu lực của thuốc thấp hơn hẳn chỉ đạt được 6,4 - 15,6%
Bảng 1: Hiệu quả của thuốc trừ cỏ Roundup 480SC đối với cây trinh nữ
trưởng thành ở 90 ngày sau phun
Hiệu quả của thuốc (%) (tính theo chiều cao) sau xử lý 90 ngày tại các
điểm thí nghiệm Công thức Tuổi cây
(năm)
Tràm Chim
Cát Tiên
La Ngà
Hoà Bình
Yên Bái
Roundup 480SC – 3,0lít/ ha 60,4 55,2 54,3 56,2 64,4 Roundup 480SC – 4,5lít/ ha 88,9 85,3 86,6 83,3 87,7 Roundup 480SC – 6,0 lít/ ha 93,3 95,9 96,5 90,0 94,3
Đối chứng
1 tuổi
- - - - - Roundup 480SC – 3,0lít/ ha 43,4 45,7 49,7 54,7 47,9 Roundup 480SC – 4,5lít/ ha 85,0 84,2 80,0 82,5 84,5 Roundup 480SC – 6,0 lít/ ha 90,5 85,0 82,6 87,9 85,3
Đối chứng
2 – 3 tuổi
- - - - - Roundup 480SC – 3,0lít/ ha 40,3 32,3 46,5 34,3 37,2 Roundup 480SC – 4,5lít/ ha 70,8 75,5 74,0 76,4 70,1 Roundup 480SC – 6,0 lít/ ha 73,2 75,4 77,2 77,0 72,6
Trang 5Qua kết quả cũng cho thấy, thuốc không chỉ cho hiệu lực cao hơn mà còn phát huy được hiệu lực nhanh hơn khi phun vào giai đoạn cây còn nhỏ
Nhìn chung hoạt chất Glyphosate IPA có khả năng lưu dẫn cao và diệt trừ cao đối với các phần thân phía trên của cây TNTG ở mọi độ tuổi Những cây còn sống sót chủ yếu là do thảm quá rậm rạp nên thuốc không tiếp xúc được với cây khi phun Một số cây khác do kích thước gốc quá lớn nên sau khi cây chết lại có thể mọc tái sinh
Sau khi phun 3-4 tháng hiệu lực của thuốc đối với các cây 1 năm tuổi khá cao Đối với các cây 2 - 3 năm tuổi hiệu lực của thuốc vẫn thấp so với cây 1 năm tuổi, còn các cây 4 - 5 năm tuổi chỉ đạt cao ở lượng 6 lit/ ha Như vậy có thể thấy thuốc Glyphosate chỉ thực sự mang lại hiệu quả cao đối với cây tuổi 1-
3 khi sử dụng ở lượng 4,5 lit/ ha, còn với cây 4-5 tuổi trở lên thì phải dùng ở lượng 6,0 lit/ ha (bảng 1 + 2)
Bảng 2: Hiệu quả của thuốc trừ cỏ Roundup 480SC đối với cây trinh nữ
trưởng thành ở 120 ngày sau phun
Hiệu quả của thuốc (%) sau xử lý 120 ngày tại các điểm thí nghiệm Công thức
Tuổi cây
(năm) Tràm
Chim
Cát Tiên
La Ngà
Hoà Bình
Yên Bái
Roundup 480SC – 3,0lít/ ha 10,3 5,3 15,3 10,3 15,5 Roundup 480SC – 4,5lít/ ha 85,5 84,5 80,8 82,5 84,7 Roundup 480SC – 6,0 lít/ ha 90,2 85,9 82,1 87,0 85,1
Đối chứng
2 – 3 tuổi
- - -
Roundup 480SC – 4,5lít/ ha 56,8 55,5 54,2 50,9 60,3 Roundup 480SC – 6,0 lít/ ha 73,3 70,8 71,9 65,2 72,9
Đối chứng
> 4 tuổi
- - -
Ghi chú: Lượng nước thuốc 800lit/ ha Phun bằng bình bơm tay đeo vai – 16lit
và bình máy – 20 lít Tuy nhiên, qua thí nghiệm khảo sát chúng tôi cũng cho thấy, khi phun lên cây trưởng thành, thuốc chỉ mang lại hiệu quả cao khi phun với lượng nước đủ lớn
và công cụ phun là bơm tay đeo vai hay bơm động cơ nhỏ Nếu phun bằng bơm
động cơ DM 9 thì hiệu quả của thuốc đạt rất thấp (dưới 20%) Nguyên nhân là do bơm này có tốc độ rất cao, khó thao tác trong khu vực bị TNTG xâm lấn Mặt khác, do tốc độ phun lớn, kích thước hạt nhỏ nên thuốc thường bị đẩy ngang, khó phun lên cao được Do đó thuốc hầu như tiếp xúc rất ít với toàn bộ tán cây, đặc biệt
là tiếp xúc với phần ngọn, là những điểm mẫn cảm của cây
Trang 65.1.2 Hiệu quả kỹ thuật của thuốc trừ cỏ Metsulfuron Methyl (Ally 20DF) và Glyphosate (Roundup 480SC) trừ cây TNTG mới mọc
Kết quả thử nghiệm hiệu quả của thuốc Metsulfuron Methyl (Ally 20DF)
và Glyphosate (Roundup 480SC) trên cây con cho thấy cả hai hoạt chất đều phát huy hiệu quả rất nhanh và đạt hiệu quả cao đối với cây TN
Bảng 3: Hiệu quả của thuốc trừ cỏ đối với cây trinh nữ mới mọc
Hiệu quả của thuốc (%) sau xử lý 45 ngày tại các điểm thí nghiệm Công thức Chiều cao
cây (cm) Tràm
Chim
Cát Tiên
La Ngà
Hoà Bình
Yên Bái
Ghi chú: Lượng nước phun 300 – 400lít/ ha Khi phun vào 15-20 ngày sau mọc, tương đương với chiều cao cây từ 4-12
cm, trung bình là 7,5 cm thì ngay sau phun 7 ngày thì cây đã bị tóp, chết dần từ ngọn xuống gốc Sau khoảng 15 ngày thì cây bị chết hoàn toàn Sau phun 30 ngày thì một số ô thí nghiệm có cây con mọc thêm nhưng mật độ thấp Sau 45 ngày, thuốc có thể cho hiệu quả khá cao (80,8-85,3%) ngay ở lượng dùng 30g/
ha (tức là lượng dùng phổ biến trong nông nghiệp) ở lượng 45 và 60 g/ ha, hiệu lực của thuốc tại tất cả các điểm thí nghiệm đều đạt trên 90% Tuy nhiên trong thực tế, nhiều vùng sinh thái có địa hình không bằng phẳng, do đó thảm trinh nữ mọc sau khi nước rút là không đồng đều ở những nơi nước rút sớm, cây có thể mọc trước, còn những nơi nước rút muộn, cây mọc muộn hơn từ 15 – 20 ngày Mặt khác, do cây TN thường có đặc tính nảy mầm không đều, do đó trong nhiều trường hợp, thời gian mọc của cây thường kéo dài, dẫn đến kích thước không
đồng đều Lúc đó chúng ta không thể áp dụng phun thuốc ngay sau khi cây mọc
15 – 20 ngày được Để khảo sát khả năng trừ diệt cây con của Ally sau khi cây mọc 35-40 ngày (phần lớn lúc này mật độ cây con đã ổn định), tương đương với chiều cao cây từ 15 – 40 cm (TB là 28,5 cm), chúng tôi đã tiến hành thí nghiệm với cả nồng độ thấp và cao Tuy nhiên, qua kết quả cho thấy, chỉ khi ở lượng thí
Trang 7nghiệm từ 60 g/ ha trở lên, thuốc mới cho hiệu lực khá đối với cây TN mới mọc Sau phun thuốc 10 – 15 ngày, thuốc cũng gây táp ngọn, làm cho ngọn tóp rồi chết dần
từ ngọn xuống gốc Sau phun 30 ngày, tỷ lệ chết đã đạt khá cao và sau phun 45 ngày thì cho hiệu quả cao nhất Tuy nhiên, hiệu lực của thuốc chỉ thực sự cao (87-90%) khi lượng dùng của thuốc từ 90-120 g/ha, còn khi phun ở lượng 60g/ ha, hiệu lực chỉ đạt từ 55-65% Qua kết quả cũng cho thấy, hiệu quả trừ cây TN ở hai công thức phun 90 và 120g/ ha không có sự chênh lệch rõ rệt Như vậy, có thể thấy, thuốc có thể diệt 100% cây con có mặt tại thời điểm phun thuốc Số cây còn sót lại tại thời điểm 45 ngày sau phun là cây mọc sau, do đó dù có tăng nồng độ cao lên nữa thì hiệu lực của thuốc cũng chỉ đạt ổn định là 85-90%
Trong thực tế triển khai không phải lúc nào chúng ta cũng phun thuốc kịp thời được, trong trường hợp cây con mọc quá cao, hiệu quả của thuốc Ally sẽ bị hạn chế đáng kể Chúng tôi đã tiến hành thí nghiệm đối với thuốc Roundup ở lượng thấp (3,0 và 4,5 lit/ ha) phun vào thời điểm 60-80 ngày sau mọc, lúc này chiều cao cây TN có thể đạt từ 20-50cm, trung bình là 37,5cm Kết quả cho thấy ở cả 2 lượng thí nghiệm, thuốc đều cho hiệu quả rất cao Sau phun 45 ngày, hiệu quả của thuốc có thể đạt ổn định ở mức 85-95% (bảng 3)
Như vậy, trong điều kiện phun trừ cây con, không chỉ cho phép chúng ta
có nhiều cơ hội lựa chọn mà còn giảm đáng kể lượng thuốc dùng và lượng nước phun, do đó giảm chi phí phòng trừ trên 1 đơn vị diện tích
5.1.3 Nghiên cứu hiệu quả kết hợp giữa biện pháp thủ công kết hợp với thuốc hoá học để trừ cây TNTG
Để khắc phục những nhược điểm của cả biện pháp thủ công và sử dụng thuốc hoá học trong phòng trừ cây TNTG trưởng thành, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu biện pháp kết hợp giữa thủ công với hoá học Trong đó biện pháp thủ công được coi là chủ yếu, biện pháp hoá học là bổ trợ Biện pháp này được tiến hành bằng cách chặt cây TN trưởng thành sau đó chờ cho cây tái sinh mầm ở những kích thước phù hợp thì phun các loại thuốc hoá học trên để phun Kết quả khảo sát cho thấy:
+ Đối với công thức chặt + phun thuốc trừ cỏ Ally 20DF
Các kết quả nghiên cứu trước đây đã có nhận xét, thuốc Ally chỉ có hiệu quả trừ mầm tái sinh và lưu dẫn để diệt cả gốc cây ban đầu khi phun sớm ở giai đoạn mầm mọc tái sinh khoảng 30 cm, do đó chúng tôi đã tiến hành thử nghiệm lại với hai lượng dùng là
90 và 120 g/ ha vào thời điểm xử lý sau chặt 30 – 35 ngày, lúc này chiều dài mầm đạt bình 30 cm (dao động từ 13 – 45cm) Kết quả cho thấy, thuốc không chỉ diệt được các mầm mọc tái sinh mà còn có thể lưu dẫn xuống gốc để diệt tận gốc Tuy thuốc có tác
động chậm, sau phun 30 ngày chỉ đạt hiệu quả xấp xỉ 30% (dao động 25 – 35%) ở lượng
90 g/ ha và 40% (dao động 35 – 50%) ở lượng 120 g/ ha, nhưng sau phun thuốc 45 ngày, hiệu quả của thuốc có thể đạt: 85% (80 – 90%) và 95% (90 – 98%), sau 60ngày phun, cả hai lượng đều đạt từ 85- 96% (bảng 4)
+ Đối với thuốc trừ cỏ Roundup 480SC: Khi phun ở thời điểm sau chặt 35 – 45 ngày khi chiều dài mầm đạt bình 35 cm (dao động từ 13 – 50cm) với hai lượng 3 và 4,5lít/ ha cho thấy hiệu quả của thuốc ở 15 ngày sau phun thuốc tương ứng với 2 lượng dùng là: 25%
Trang 8(15-35%) và 30% (25-40%), 30 ngày sau phun là: 80% (76-91%), 45 ngày sau phun ở cả 2 lượng dùng hiệu quả diệt trừ mầm đều đạt từ 90- 98% (bảng 4)
Bảng 4: Hiệu quả của thuốc trừ khi phun lên mầm cây trinh nữ tái sinh sau chặt
Hiệu quả diệt trừ của thuốc (%) sau xử
lý 60 ngày tại các điểm thí nghiệm Công thức
La Ngà
Hoà Bình
Yên Bái
Ally 20DF – 120g/ ha 91,6 94,1 87,7 88,0 95,3
Đối chứng
Sau chặt 30–35
Roundup 480SC–3,0l/ ha 97,9 97,8 92,0 95,9 90,2 Roundup 480SC–4,5l/ ha 98,0 94,5 97,4 93,1 95,0
Đối chứng
Sau chặt 40–45
Ghi chú: Lượng nước phun là lượng 400 lit/ ha
Như vậy có thể thấy, cả hai thuốc đều phát huy tác dụng chậm nhưng có khả năng lưu dẫn cao để diệt tận gốc cây trưởng thành khi phun lên các mầm mọc tái sinh sau khi chặt, do đó có thể khắc phục được nhược điểm của biện pháp thủ công như chặt Do phun vào mầm non nên khả năng lưu dẫn của thuốc rất tốt, do đó chỉ cần dùng ở lượng thấp và khi không cần thiết có thể chỉ cần áp dụng phun theo
điểm, do đó tốn ít thuốc và đỡ ô nhiễm môi trường
5.2 Biện pháp thủ công cơ giới
5.2.1 Biện pháp chặt
Qua kết quả điều tra chúng tôi thấy sau chặt hai tuần một số gốc đã có mầm mọc trở lại cao 3-10cm, đây là các mầm đã phân hoá trước khi chặt, vì vậy sau khi chặt các mầm này sẽ được kích thích và phát triển rất nhanh, số lượng mầm phân hoá trước khi chặt thường thấp (<15%), còn lại là các mầm mới mọc tái sinh sau chặt
Sau chặt một tháng đã có 78,9% số gốc mọc tái sinh, số mầm mọc tái sinh TB lên tới 4,6 mầm/ gốc và chiều cao từ 20,4- 25,5cm, TB là 23,0 cm, diện tích che phủ là 10,5%
Khi quan sát sau chặt hai tháng chúng tôi thấy rằng hầu hết các gốc vẫn còn sống và có tới 91,8% số gốc có mầm mọc tái sinh, số mầm mọc tái sinh biến động chủ yếu từ 2- 10 mầm/ gốc, cá biệt có gốc mọc tới 14 mầm, trung bình là 6,4 mầm/ gốc, chiều cao TB là 70,3cm Ngay sau chặt 2 tháng có mầm đã ra hoa và quả
Về mật độ cây con: Sau khi chặt, do có khoảng không gian thuận lợi, cường
độ ánh sáng cao nên đã kích thích cây con phát triển rất nhanh, mật độ cây con trung bình trước khi chặt là 28,9 cây/m2 , sau khi chặt 1 tháng là 67,0 cây/ m2, sau
2 tháng mật là 78,7 cây/ m2 Như vậy, sau khi chặt 1 tháng mật độ cây con tăng lên 2,32 lần so với trước khi chặt Các thành phần thực vật trong ô thí nghiệm cũng phát triển rất nhanh và phong phú, do được tạo điều kiện thuận lợi về ánh sáng và nhiệt độ
Trang 9Nhìn chung nếu chỉ thực hiện đơn lẻ mình biện pháp chặt thì hiệu quả phòng
trừ cây TNTG sẽ không cao, do mật độ cây con tăng lên gấp 2,72 lần (bảng 5, 6 và
7)
Bảng 5 Hiệu quả áp dụng một số biện pháp thủ công để phòng trừ cây TNTG
tại các vùng lòng hồ phía Bắc – 2005
Sau xử lý Chỉ tiêu Biện pháp
Bảng 6 Hiệu quả áp dụng một số biện pháp thủ công để phòng trừ cây TNTG
tại các Vườn quốc gia – 2005
Sau xử lý Chỉ tiêu
Trang 10theo dõi
Phương pháp xử lý Trước xử lý 1 tháng 2 tháng
ở miền Nam vào mùa khô, sau chặt 15 ngày cây TN hầu như đã khô Những nơi
mật độ cây cao, lớp mùn dầy (do thảm thực vật chết tạo ra) thì tỷ lệ cháy cao và đạt
khoảng 80% Vì vậy, TLSK giảm đáng kể (TLSK trước xử lý tại ở các vườn quốc gia là
5.257,5 g/ m2, sau xử lý 1 tháng đạt 942,1 và sau 2 tháng là 1.536,4g/m2) Tại những khu
vực mật độ cây thưa thớt, lớp mùn mỏng (do thảm thực vật chết tạo ra) thì tỷ lệ cây cháy
trong điều kiện không gom cây lại mà để nguyên tại chỗ sau chặt rất thấp kể cả khi phun
dầu vào để đốt cũng chỉ đạt trên 50%
Tại các tỉnh miền Núi phía Bắc, vào thời kỳ tháng 3-4 độ ẩm không cao lại
có mưa phùn nên khi tiến hành đốt sau chặt 1 tháng, tỷ lệ cây cháy cũng rất thấp
(khoảng 15 – 20%) mặc dù đã phun thêm rất nhiều dầu để đốt (bảng 5)
Khi quan sát ở các ô mẫu chúng tôi thấy sau 10 ngày đã có cây con mọc và
mật độ cây con tăng lên nhanh, sau 30 ngày mật độ cây con trung bình là 120,7
Trang 11cây/m2, sau 2 tháng mật độ cây con trung bình là 140,2 cây/m2 (80,8-218,5 cây/
m2), cây con ở giai đoạn 3 - 4 lá (bảng 5, 6 và 7)
Sau khi đốt 15 ngày chưa thấy các mầm mọc lại, sau đốt một tháng đã có mầm mọc tái sinh, ở những điểm mà tỷ lệ cháy thấp dưới 20% thì các mầm mọc lại với mật độ thấp, mầm mọc yếu ớt hơn các điểm cháy cao (trên 80%)
5.3.3 Biện pháp đốt
Đây là biện pháp khó thực hiện kể cả trong tổ chức và hiệu quả Biện pháp này chỉ thực sự mang lại hiệu quả cao tại các điểm phía Nam có nhiệt độ cao trong mùa khô, độ ẩm thấp đồng thời có thảm thực vật và lớp xác thực vật bên dưới tán TNTG dày, khô, ví dụ tại các vườn quốc gia Tràm Chim và Cát Tiên Tuy nhiên, cũng trong điều kiện mùa khô ở miền Nam nhưng tại những nơi mà lớp thảm thực vật và lớp mùn dưới tán cây mỏng (như lưu vực sông La Ngà) thì tỷ lệ cây cháy cũng rất thấp chỉ đạt khoảng 30% ở các tỉnh phía Bắc, tỷ lệ cháy đạt rất thấp, hầu hết chỉ cháy được các cây tuổi 1, còn các cây 2-3 năm tuổi trở lên chỉ cháy xém phần lá phía trên, nguyên nhân là do thời gian bị ngập nước kéo dài (6 tháng) nên hầu hết các thảm thực vật phía dưới đều bị chết và hàm lượng nước trong thân lá còn rất cao, độ ẩm đất cũng lớn, vì vậy khi tiến hành phun dầu để đốt thì lửa không cháy lan ra xung quanh được, tỷ lệ cháy rất thấp
Do tỷ lệ cháy thấp nên dư lượng dầu còn rất nhiều, vì vậy sẽ làm ảnh hưởng tới môi trường sinh thái, do đó biện pháp đốt sẽ không hiệu quả và phù hợp với
điều kiện ở khu vực lòng hồ Thác Bà
Sau đốt 20 – 30 ngày, phần thân cây còn sống ở tất cả các điểm thí nghiệm
đều có mầm tái sinh, tỷ lệ phần thân cây tái sinh đã lên từ 65-89,3%, sau hai tháng
từ 82,8-96,7% Số mầm tái sinh ở các điểm thí nghiệm cũng có sự biến động lớn
từ 2,8 – 8,6 mầm/ gốc sau đốt 2 tháng Có một điểmđặc biệt là những nơi có tỷ lệ cây cháy cao như vườn quốc gia thì số mầm tái sinh và chiều cao mầm tái sinh cũng cao hơn những nơi có tỷ lệ cây cháy thấp (bảng 24, 25 và 26) Nguyên nhân
có thể do khi đốt, những nơi có tỷ lệ cháy cao đã ức chế mạnh sinh trưởng ngọn,
do đó kích thích sự tái sinh của các chồi gốc Các mầm tái sinh từ sát gốc thường phát triển mạnh hơn Ttrong khi đó tại những điểm có tỷ lệ cây cháy thấp như lưu vực sông La Ngà hay khu vực lòng hồ phái Bắc, các mầm chủ yếu mọc tái sinh từ phần thân phía trên, do đó nguồn dinh dưỡng phải cung cấp cho cả phần thân cây còn sống và mầm tái sinh nên tốc độ tăng trưởng của mầm tái sinh chậm hơn