1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu xây dựng giải pháp tổng thể sử dụng hợp lý các dải cát ven biển miền trung từ quảng bình đến bình thuận - thảm thực vật và tài nguyên thực vật trên dải cát ven biển và vùng phụ cận từ quảng bình đến bình thuận

89 717 2
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu xây dựng giải pháp tổng thể sử dụng hợp lý các dải cát ven biển miền trung từ Quảng Bình đến Bình Thuận - Thảm thực vật và tài nguyên thực vật trên dải cát ven biển và vùng phụ cận từ Quảng Bình đến Bình Thuận
Trường học University of Quy Nhơn
Chuyên ngành Environmental Science and Natural Resources
Thể loại Research Study
Thành phố Quy Nhơn
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 3,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong một vài điểm nghiên cứu chỉ tiết trên bán đảo Cam Ranh đã cho thấy tính chất khác nhau của nền cát đã tạo ra các kiểu thảm thực vật với các loài ưu thế khác nhau Trên đất cát ở cá

Trang 1

TRUNG TÂM KHOA HOC TU NHIEN VA CONG NGHE QUOC GIA

VIEN DIA LY

DE TAI

NGHIEN CUU XAY DUNG GIAI PHAP TONG THE SU DUNG

HOP LY CAC DAI CAT VEN BIEN MIEN TRUNG

TU QUANG BINH - BINH THUAN (KC 08-21)

BE MUC

THAM THUC VAT TREN DAI CAT VEN BIỂN

VA VUNG PHU CAN TU QUANG BINH-BINH THUAN

Phụ trách đề mục: KS Nguyễn Hữu Tứ

KS Huynh Nhung

KS Tran Thuy Van

KS Nguyễn Viết Lương

Hà Nội - 12/2004

JTh§-5

Trang 2

THẢM THỰC VẬT TRÊN DẢI CÁT VEN BIỂN

VÀ VÙNG PHỤ CẬN TỪ QUẢNG BÌNH-BÌNH THUẬN

Gần liền với các khu dân cư đồng bằng, thảm thực vật trên vùng cát bị khai thác mạnh liên tục trong quá khứ Cho đến thời gian cận đại, hầu hết thảm thực vật trên vùng cát chỉ là những quần thể có cấu trúc đơn giản So với rừng vùng đổi núi, chúng ít có giá trị về

gỗ và lâm sản khác nên không được đặt vào trọng tâm nghiên cứu của các nhà lâm học

Cho đến thời gian gần đây nguời ta mới thấy được giá trị môi trường và những giá trị khác

của vùng cát nói chung và thảm thực vật nói riêng đối với cả một khu vực đới bờ Thảm

thực vật trên vùng cát và khu vực kế cận được xem như mắt xích quan trọng trong một hệ

sinh thái ven biển, nguồn cung cấp thức ăn quan trọng cho các sinh vật, ổn định môi trường, giảm nhẹ thiên tai, tạo điều kiện phát triển kinh tế cho khu vực

Việc nghiên cứu thảm thực vật trên vùng cát từ trước đến nay thường sở lược Trước năm 1945, có công trình điều tra cơ bản hệ thực vật Đông Dương của tập thể tác giả người

Pháp do Lecomte chủ biên và nghiên cứu rừng Đông Dương của Maurand Một số loài cây của vùng cát đã được mô tả và ghi dia địa danh phân bố trong tuyển tập của Lecomte Trên ban đồ rừng Đông Dương năm 1943 của Maurand có ghi nhận sự tồn tại của các khu rừng nghèo trên cát với diện tích nhỏ ở Ba Đồn (Quảng Bình), Nam đầm Cầu Hai (Thừa Thiên-

Huế), xung quanh Hội Án (Quảng Nam), Phù Mỹ (Bình Định) Từ bán đảo Cam Ranh

(Khánh Hoà) trở vào các khu rừng trên cát có diện tích lớn và liền khoảnh

Trong thời gian 1960 đến 1975, có công trình nghiên cứu thảm thực vật trên quy mô toàn quốc của Thái Văn Trừng Thảm thực vật trên vùng cát được tác giả cho là thảm thực

vật đặc trưng cho đất phi địa đới luôn khô hạn với bộ lá nhỏ cứng và dùng thuật ngữ zú lá kín đặt tên cho chúng Trên quy mô khu vực có công trình nghiên cứu Schmid Khi nghiên cứu thảm thực vật khu vực Nam Trung Bộ, vùng cát ven biển và khu vực lân cận được tác giả gộp vào một đơn vị quần hệ thực vật của vùng bán hạn Trong hai công trình này thám thực vật được phân theo nguyên tắc sinh thái phát sinh Vị trí và đặc điểm của thảm thực vật trên một số vùng cát được đưa vào hệ thống chung Ở quy mô địa phương có các công

trình nghiên cứu thám thực vật trên cát đỏ Phan Ri-Phan Thiết của Barry, trên cất vàng xám, cát trắng xám và cát đỏ ở Ba Ngòi, Cam Ranh của Barry, Phạm Hoàng Hộ, Phùng Trung Ngân, Lê Công Kiệt và Nguyễn Văn Thuỳ Ngoài sự tồn tại của rú cây bụi ƒoiuré,

` buisson, hallier) các tác giả đều thừa nhận sự tồn tại của một rừng thấp hay rừng thưa trên cát khi thảm thực vật chưa bị con người phá huỷ Ngoài ra, thảm thực vật trên vùng cát ở

khu vực phia Nam còn được thể hiện trên bản đồ thảo mộc tỷ lệ 1/1.000.000, nam 1969,

của Nha Địa dư Đà Lạt

Từ năm 1975 có chương trình điều tra rừng trên quy mô tỉnh trong toàn quốc Kết quả công bố năm 1983 hầu như không đề cập đến thảm thực vật trong vùng cát

Từ năm 1960, việc trồng rừng trên cát được tiến hành ở Quảng Bình Khu vực miền Nam, công tác trồng rừng bắt đầu được tiến hành thường xuyên từ năm 1990

Gần đây, có một vài công trình nghiên cứu sơ lược về thám thực vật thứ sinh trên

cát ở một khu vực như Quảng Bình của Ngô Đình Hoà, Thừa Thiên-Huế của Đặng Thai

Dương

Ngoài sử dụng các tài liệu đã công bố về thảm thực vật ở vùng cát, báo cáo được

xây dựng trên các tư liệu khảo sát vùng cát từ năm 1991-1993 ở Quảng Bình, Quảng Ngãi,

từ năm 1996-1998 tại Ninh Thuận, Bình Thuận và các chuyến khảo sát toàn đải cát trong

những năm 2000, 2001, 2003, 2004 trong một số đề tài nghiên cứu có liên quan đến thảm

thực vật Thảm thực vật trên cát được đặt làm trọng tâm của báo cáo Thảm thực vật của các

khu vực lân cận cũng được đưa vào nhưng chỉ ở mức độ sơ lược Phần đầu của báo cáo đề

cập đến nhân tố sinh thái phát sinh, phần kế tiếp mô tả cấu trúc của thảm thực vật Trong

Trang 3

phần phụ lục, chúng tôi đưa ra danh lục thực vật khu vực nghiên cứu Phần lớn số loài được

thống kê theo tài liệu, chủ yếu là các loài thực vật trên cát- khoảng 1.103 loài Ngoài theo

tài liệu, một số loài có ghi số hiệu mẫu lưu trữ là loài được thu mẫu trong nãm 2003, 2004

I SƠ LƯỢC CÁC NHÂN TỔ SINH THÁI PHÁT SINH

Vùng cát ven biển Trung Bộ gắn liên với các khu vực đồng bằng, đổi núi da dang vé cấu trúc và động lực, kéo dài trong nhiều kiểu khí hậu, nhiều khu vực biển với chế độ thuỷ triều, bão khác nhau đã tạo nên một một thảm thực vật đa dạng về kiểu loại

1 Địa hình

Phần lớn các bãi cát, đụn cát, đổi cát đều phân bố ở các cung lõm của bờ biển, bao quanh phia ngoài các đồng bằng phù sa và hệ thống đầm, phá Quy mô, hình thái của vùng cát tại mỗi khu vực khác nhau, phụ thuộc vào địa hình vùng lân cận cũng như các điều kiện khác như động lực sông, biển, chuyển động kiến tạo, chế độ khí hậu

Độ rộng vùng cát lớn nhất khoảng 13-14 km ở Phong Điển, Quảng Điền, Thừa

Thiên-Huế, 7-9 km ở khu vực cát đỏ Phan Thiết, 6-7 km ở Thăng Bình, Quảng Nam, 4-5

km ở Nam Quảng Bình, Nam Phan Rang, 3-5 km ở Quảng Trị, Hàm Tân, Bình Thuận, 3-4

km ở Cam Ranh, 2-3 km ở Bình Sơn, Quảng Ngãi, Phù Mỹ, Phù Cát, Bình Định, 1-2 km ở Bắc Quảng Bình, Đà Nắng, Nam Quảng Ngãi, Bắc Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà Độ rộng vùng cát có ý nghĩa lớn trong phân bố các quần xã Các kiểu thảm thực sự đặc trưng

cho đất cát thể hiện rõ trong các khu vực cát rộng, do các yếu tố sinh thái khác ít tạo những

ảnh hưởng phụ Nơi có bề rộng lớn cũng là các khu vực tương đối bằng phẳng, cát di động yếu Các khu vực cát có bề ngang hẹp thường là các khu vực núi sát biển, hệ thống sông, đảm phá chạy dọc theo bãi cát hay đồng bằng phù sa phát triển mạnh Tại các khu vực này, cát thường bị trộn lẫn thành phần phù sa, sản phẩm rửa trôi từ núi xuống cũng như thừa

hưởng một nguồn nước khá phong phú từ ngoài đưa vào vùng cát

Ngoài ra, cũng cần để cập đến mức độ ăn sâu của vùng cát vào trong đất liền với các khối cát riêng biệt bị bao bạo bới phù sa Đó là khối cát trắng Quảng Trạch ở Bắc

- Quảng Bình cách biển 4-5 km, khu vực Trà Lộc, Quảng Trị cách biển 10 km, các khối cát trắng 70 ha, cách biển 12 km, tại Quế Phú, Quế Sơn, khối cát rộng 40 ha, cách biển 15 km

ở Duy Trung, Quế Sơn, Quảng Nam Các khối cát này thường liên quan với giai đoạn phát triển trước đây của vùng cát Trên các khu này, thảm thực vật đặc trưng cho vùng cát đang

bị xâm lấn bới các loài thực vật ở các khu vực kế cận

Độ cao địa hình của vùng cát thay đổi mạnh trong một khu vực, phụ thuộc vào động lực của cát hiện tại và địa hình khu vực lân cận:

- Các đụn cát đi động ven biển, nội địa, các đổi cát đỏ, các đổi cát phủ trên đá gốc cao từ

chục đến hơn trăm mét Các đụn cát nội địa ở Quảng Bình, Quảng Trị, các đụn cát ven biển

ở Phù Mỹ Bình Định, Cam Ranh, Khánh Hoà, Nam Phan Thiết cao 20-40m; các đổi cát đỏ

ở Ninh Thuận, Bình Thuận, các đổi cát ở bán đảo Phước Mai cao vài chục mét đến hơn trăm mét nơi phủ lên đá gốc Đây là các địa hình cát cao trong đải ven biển Trén cdc dun

cát vàng xám ven biển, cát di động mạnh Trên cát đỏ cường độ di động kém hơn do tính

chất ổn định của cả khối từ lau đời Nhìn chung, các đụn cát ven biển còn lại ở khu vực Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bắc Bình Định, Phú Yên, ven biển Khánh Hoà, Bắc Ninh Thuận, Bác Bình Thuận đều không cao, chỉ giới hạn trong khoảng

Trang 4

10-20 m Trên các địa hình cát cao này, đất cát gần như khô hạn trong thời gian không mưa, tầng nước ngầm thường sâu, cát di động mạnh ngay sau khi thâm thực vật bị phá huỷ

- Các bãi cát cao từ một vài mét đến chục mét, bề mặt nhấp nhô phổ biến trong toàn dải,

thường rõ nét ở các khu vực cát có bề rộng như Nam Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-

Huế, Quảng Nam, Nam Quảng Ngãi, Nam Bình Định, Phú Yên, Nam Khánh Hoà, Bắc Bình Thuận Phần lớn chúng là các khu vực chuyển tiếp của các địa hình cát cao và các khu vực trũng thấp Thành phần cát gồm cát vàng xám hay trắng xám và một diện tích nhỏ cát

vàng tươi ở Nam Quảng Bình-Bắc Quảng Trị So với các địa hình cát cao, thì các bãi cát gần mực nước ngầm hơn nhưng không bao giờ ngập Về mặt động lực: trên cát vàng tuơi, cát hầu như ổn định; trên các bãi cát khác, cát di động tương đối mạnh và dần chuyển đén

vùng trũng hay cung cấp cát tạo thành các đổi cát cao nội địa như ở Quảng Bình và Quảng

Trị

- Các bãi cát bằng thấp và các vùng trũng: độ cao dưới 1 hay 2m, phân bố rộng trên toàn

đải, thể hiện rõ ở Nam Quảng Bình, Quảng Trị, Bắc Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam

+ Các bãi cát bằng thấp nhiều chỗ rộng đến vài km, phân bố sau các đụn cát ven biển hay là

các các khu vực cát tiếp giáp với đồng bằng phù sa Các bãi cát ngập nước vào mùa mưa,

mùa khô tầng nước ngầm gần sát mặt Cát ở đây di động yếu, chủ yếu theo nước mặt Thảm

thực vật ở đây mang nét chuyển tiếp thảm thực vật khô hạn của vùng cát và thảm thực vật

ưa ẩm của vùng ngập Tầng nước ngầm cung cấp nước cho các cây khá phong phú nhưng lại cũng hạn chế sự phát triển hệ rễ theo chiều sâu của các cây gỗ Trên các bãi cát ở Quảng Trị, các cây gỗ như Táu, Dẻ mọc thành quần xã ưu thế nhưng kích thước thường chỉ một vài mét với bộ rẽ phát triển mạnh ở tầng mặt

+ Các địa hình trũng ngập nước quanh năm hay một thời gian dài trong năm Bao gồm các đạng sau:

* Các vùng trững ngập nước mặn, lợ: điển hình là hệ thống đầm phá sau đụn cát ven biển

vẫn còn liên hệ với biển qua hệ thống sông, lạch, đầm, phá và các vùng cát ven các cửa sông Ven bờ các vùng trũng này có rừng ngập mặn và dưới nước có các quần xã thuy sinh nước mặn

* Các vùng trũng ngập nước ngọt nhưng vẫn còn chịu ảnh hưởng hay có mối liên hệ với các

vùng ngập mặn trước kia điển hình là các bàu, trằm trên nên cát trắng ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, các khe trũng nhỏ trên cát trắng ở Hàm Tân, Bình

“Thuận Trên các khu vực này thường có rừng Tràm trên các đất có các lớp than bùn

.* Các khu vực ngập nước ngọt không liên quan đến khu vực nước mặn: điển hình là cdc bau

có diện tích lớn như Bàu Sen ở Nam Quảng Bình, Bàu Chó ở Bác Đồng Hới, khu đầm lầy ở

Ba Nà, Quảng Ngãi, Bàu Trắng ở Bình Thuận và hàng loạt các khu vực ngập nước có diện

tích nhỏ sau đụn cát ven biển hay khu vực cát tiếp giấp với đồng bằng phù sa, tích đọng

nước ở vùng cát rỉ ra Trên các khu vực này có rừng đầm lầy nước ngọt và các quần xã thuỷ

Sinh nước ngọt

Động lực vùng cát có quan hệ chặt chẽ với thảm thực vật Phần lớn các điện tích cát

cao và di động đều không có các cây gỗ, cây bụi lớn Các cây bụi và gỗ nhỏ ở các bãi cát cao, cát thường đi động trên bề mặt do gió, đoạn gốc thường bị vùi trong cát khoảng vài em đến vài chục cm Trên đụn cát vàng xám cao 40 m, sát biển ở Nam Phan Thiết, thảm thực vật hầu như bị phá huỷ, chỉ còn sót lại một vài cây gỗ lớn Cát được vun thành đụn cao phủ lên đồi cát đỏ ở trong Cây Buchania siamensis ? (Chây Xiêm) cao §-10m, đường kính 20-

30 cm, có gốc bị cát phủ hơn mét Các hiện tượng này chứng tỏ cát di động sau khi thảm thực vật bị phá huỷ Độ dày của lớp cát phủ trên gốc có thể biểu hiện phần nào cường độ

cát di động Ngược lại, trong các rú cây bụi trên bãi cát trắng khá ổn định cao 1-2 so với vùng trũng bằng, hay rừng (kín, khô, thường xanh) Vafica tonkinensis (Tâu), Hopea sp

(Sao), Shorea cf vulgaris (Cà chít) trên đụn cát ổn định cao 25-30m ở Cam Ranh [3] với

hệ rễ phát triển mạnh trên tầng mặt Điều này có nghĩa, ngay trên các khu vực cát di động

Trang 5

mạnh, thảm thực vật có thể dần phát triển ổn định cát va bé mat cat dan bi bao mon tro ra

hệ thống rễ Trong vùng cát, đồng thời tồn tại 2 quá trình; cát di động mạnh khi thảm thực vật bị phá huỷ và tạo nên các đụn cát cao như ở Nam Quảng Bình Bắc Quảng Trị, bán đảo Phước Mai và quá trình thảm thực vật xuất hiện, các quần xã thay thế nhau, phát triển ồn định bề mật cát Trong quá trình thứ hai cát chỉ chuyển động theo nước mặt với cường độ yếu, đần lấp các khu vực trững hơn

Trong nhiều khu vực, cát di động mạnh kết hợp với các yếu tố khác như kiến tạo làm biến đổi điện mạo cả khu vực làm cho sự thay thế các kiểu thảm thực vật trở nên nhanh

chóng Sự phát triển của các doi cát ven biển như ở cửa Thuận An, Tư Hiền, cửa Đà Nông đã làm cho nhiều thuỷ vực nước mặn bị cất đứt liên hệ với biển, đần ngọt hoá và hình thành các đầm lầy nước ngọt kéo theo sự biến đổi nhanh chóng của thẩm thực vật

Về mặt động lực có thể phân ra các khu vực cát di động và cát ổn định (sables mobiles, sables fixes ) Tương ứng với hai trạng thái này của địa hình, thảm thực vật có

những đặc điểm cấu trúc hoàn toàn phù hợp

2 Khí hậu

Vùng cát ven biển Trung Bộ có nền nhiệt thay đổi tuần tự từ Bắc vào Nam; chế độ

ẩm thay đổi theo từng khu vực tạo nên sự phân hoá khá đa dạng về sinh khi hậu Mối liên quan giữa khí hậu với thảm thực vật trên vùng cát ít được để cập do 2 lý do chính sau: một

là rừng trên các khu vực đất cát ở miền Bắc và phần lớn trên đất cát ở miền Nam bị khai

thác từ lâu đời nên giá trị hiện tại của rất thấp và ít được đề cập đến: thứ hai là, vai trò của

đất cát đối với thảm thực vật luôn được quan tâm hàng đầu Về mặt phát sinh, thảm thực vật

trên cát được xem như một quần thể đặc trưng cho đất phi địa đới Đất này luôn khô hạn do

quá trình thoát nước quá nhanh, chế độ ẩm trong đất không đặc trưng cho độ ẩm của khí hậu như các đất địa đới trên các đá mẹ khác ở vùng đổi núi Thực tế, sự sinh trưởng của

thực vật và cấu trúc của quần xã phụ thuộc vào nguồn nước trong đất cung cấp cho hệ rễ

ất cát cũng không hẳn khô sau khi hết mưa Như vậy, lượng nước trong đất cát cung cấp cho thực vật sinh trưởng hoàn toàn khác nhau trong mỗi một khu vực có chế độ mưa khác

nhau và với mỗi một sinh khí hậu sẽ có một kiểu thảm thực vật trên cát đặc trưng Tiếc

rằng, dai đa đa số thảm thực vật phát triển đến giai đoạn ổn định (trạng thái climax) trén cát đến ngày nay đều bị phá huỷ nên khó kiểm chứng nhận định trên Theo những điều tra năm

1960, 1961 của Barry, Nguyễn Công Kiệt, Nguyễn Văn Thuỳ, Phạm Hoàng Hộ, Phùng Trùng Ngân thì trên cát ở Cam Ranh có các rừng cây lá rộng cứng, thấp; trên cát đỏ ở

Thuận Quý, năm 1998, chúng tôi khảo sát thấy rừng thưa với ưu thế các loai Shorea Ở các khu vực khác như trên đụn cát ven biển ở Phú Quốc có rừng thưa cây họ Dipterocarpaceae

(ho Dau), tai dun cat vàng xám ở Bà Rịa có rừng rụng lá, ở dụn ở Cô Tô có rừng thưa cây lá

rộng [1,2,3,4,5, 23,48] Các dẫn chứng trên chứng tỏ trên cát đã có một kiểu thảm thực vật đặc trưng và cấu trúc của nó thường kém hơn so với thảm thực vật trên đất địa đới trong

cùng một khí hậu và thường thấp hơn một bậc về xếp loại cấu trúc.

Trang 6

a Mối liên quan của một số yếu tố khí tượng với thẩm thực vật

- Chế độ gió: chế độ gió mùa đông với đặc trưng khô lạnh, gió mùa hè với đặc trưng nóng

ầm, nóng khô có những ảnh hưởng quyết định đến hình thành nền khí hậu của toàn đải Các hướng gió chính kết hợp với hình thái địa hình góp phần tạo nên sự phát triển bề rộng của

các vùng cát Tốc độ trung bình của các gió thịnh hành trên toàn đải cát khoảng 3-6 m/s,

tốc độ mạnh nhất thường đạt đến 20-50 m/s trong bão, lốc Các cồn cát dị động có độ cao lớn, không có thực vật phủ đều phổ biến ở những nơi có gió mạnh như Quảng Bình, Quy

- Sự phân hoá nhiệt trên dải cát tuần tự theo độ vĩ: các khu vực phía Bắc có nền nhiệt thấp

hơn, có mùa đông lạnh ngắn, biên độ nhiệt năm lớn còn các khu vực phía Nam ngược lại

Khu vực Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế do vẫn còn chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa Đông Bắc nên nên nhiệt không cao Nhiệt độ trung bình năm < 25°C, mia dong

hơi lạnh với nhiệt độ trung bình tháng < 20°C kéo đài 3 tháng, từ tháng XII đến tháng II

Mùa nóng với nhiệt độ trung bình tháng >25°C kéo dài 5-7 tháng, từ tháng IV hay V đến

tháng IX hay X Biên độ nhiệt năm đạt 9,1- 11,0°C Khu vực từ Đà Nắng đến Bình Thuận

có nhiệt độ trung bình năm >25°C, khong có mùa đông, mùa nóng kéo đài >7 tháng, biên

độ nhiệt năm <9PC, tại Bình Thuận giảm xuống 4°C Phần lớn khu vực này có chế độ của

nhiệt đới chuẩn, khu vực phía Nam mang tính chất của chế độ nhiệt á xích đạo

Cũng như trên đất địa đới, chế độ nhiệt có những ảnh hưởng rõ rết đến thành phần loài của thảm thực vật Các cây trong chỉ Diperocarpus (Dầu) và Lagerstroemia (Săng lẻ) chỉ có mặt trên cát trong khu vực Nam Phan Thiết, các cây trong chi Shorea (Cà chíU, Hopea (Sao), Irvingia (Ko nia) chi thay phan b6 đến Cam Ranh, các cây trong chỉ Vafica (Táu) có mặt phổ biến ở từ Quảng Trị trở vào Các cây trong chi Castanopsis (Dé), Lithocarpus (S6i), Celtis (Séu) thấy phổ biến ở cát Quảng Trị, rải rác ở Thừa Thiên Huế nhưng rất hiếm ở khu vực phía Nam Có thể có một vài nhân tố khác liên quan đến giới hạn phân bố của các cây nhưng vai trò của nhiệt độ là khá chắc chắn

~ Sự phân hoá về lượng mưa trên đải cát khá rõ Từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi, lượng

mưa 2000-3000 mm/năm, ở Thừa Thiên Huế đạt đến 3200 mm; khu vực Bình Định đến

Khánh Hoà có lượng mưa 1000- 2000 mm/năm; khu vực Ninh Thuận, Bắc Bình Thuận

lượng mưa khoảng 600-800 mm/năm; khu vực Nam Bình Thuận có lượng mua 1000-

1600mm/năm Khu vực phia Bắc có kiểu mưa Hè, khu vực phía Nam có kiểu mưa Thu

Đông, khu vực Nam Bình Thuận có kiểu mưa Hè Thu Điều đáng lưu ý là lượng mưa của

mùa mưa chiếm đến 60-85% lượng mưa năm Đối với đất cát, khả năng trữ nước kém, càng

làm tăng mức độ độ khô hạn trong đất vào thời kỳ ít mưa Từ Quảng Bình đén Quảng Ngãi

có khoảng 1-3 tháng khô hạn trong năm, khu vực phía Nam có khoảng 5-8 tháng khô hạn

Trong thực tiễn sản xuất, lượng mưa tập trung trong mùa mưa, sự biến động mưa theo các

năm lớn, đất cát trữ nước kém làm cho mức độ thiếu hụt nước đối với cây trồng rất lớn Đối với thảm thực vật tự nhiên, khi cấu trúc ban đầu của thảm thực vật bị phá huỷ thì đất chuyển sang trạng thái khô hạn nhanh chóng và phải mất rất nhiều năm thảm thực vật mới

có thể khôi phục trạng được thái ban đầu.

Trang 7

- Gió khô nóng: phổ biến ở khu vực Bắc Trung Bộ, từ tháng IV đến tháng VIII, khaoảng

40-45 ngày/năm (Quảng Bình), 30-39 ngày/năm (Quảng Nam) Ngoài làm tăng nhiệt độ

trong phạm vi hoạt động còn làm giảm độ ẩm của khu vực, tạo ra các thời đoạn khô nóng

b Các sinh khí hậu

Căn cứ vào sự phân hoá nhiệt ẩm và một số điều tự nhiên khác, dựa trên các tiêu

chuẩn sinh khí hậu khi nghiên cứu thảm thực vật Việt Nam của một số tác giả, có thể tạm

phân định các sinh khí hậu trên đải cát ven biển như sau:

- Nhiệt đới ẩm

+ Nhiệt đới ẩm có mùa đông

Khu vực ven biển Quảng Bình, nhiệt độ trung bình năm 24,2°C, nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất 18,2°C; độ dài mùa lạnh 3 tháng (tháng XII-IJ); nhiệt độ tối cao tuyệt đối 42,2 °C (nam 1966, tại Ba Đồn); nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 7,6 °C (nam 1975), biên độ

nhiệt năm 10°C; lượng mưa năm 2.000-2.500 mm; số ngày mưa 130-150 ngày/năm; mùa ít mưa 4-5 tháng (từ tháng III-tháng VIID; mùa khô ngắn 0-1 tháng; gió khô nóng xuất hiện

từ tháng V đến tháng VII, khoảng 40-45 ngày; mưa tiểu mãn vào tháng V với lượng mưa

trên 100mm; độ ẩm không khí trung bình 82-83%; số ngày sương mù 14; số ngày mưa phùn !7; số ngày dông 26; số cơn bão đổ bộ 1-2 cơn/năm Tốc độ gió trung bình 2,5-

2,8m/s; gid cuc dai dat 40 m/s

Khu vực Quảng Trị - Huế, nhiệt độ trung binh nam 24,6-25,2°C; bién d6 nhiét nam

10°C; mùa lạnh khu vực Cửa Tùng 2 tháng, khu vực phía Nam I1 tháng; nhiệt độ tối cao 40°C; gió khô nóng có trong thời đoạn tháng IV đến tháng VI; lượng mưa năm >2500 mm; mùa khô kéo dài 2 tháng

+ Nhiệt đới ẩm không có mùa đông

+ Khu vực từ Đà Nẵng đến Quảng Ngãi nhiệt độ trung bình năm khoảng 25,4-25,7C, nhiệt độ tháng lạnh nhất >21,2°C, biên độ nhiệt năm 7-8°C, nhiệt độ cao nhất tuyệt đối 40°C, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 10- 13,7°C; lượng mưa năm 2000-2500 mm, tập trung vào

tháng IX-XII, số ngày mưa 140-145 ngày; mùa ít mưa 6-7 tháng, từ tháng I đến tháng VI, mùa khô 3 tháng, từ tháng I đến tháng IV; độ ẩm không khí trung bình năm 82%; bão xuất hiện từ 1-2 cơn/năm; gió khô nóng xẩy ra trong thời đoạn từ tháng IV-VIII, khoảng 30-39 ngày/năm

+ Nhiệt đới hơi ẩm

Vùng ven biển Bình Định có nhiệt độ trung bình năm 26,1-26,8°C, nhiệt độ trung

bình tháng lạnh nhất 22,3-23°C, biên độ nhiệt năm 7°C, mùa nóng dài 7-9 tháng , nhiệt độ

tối cao tuyệt đối dat 40°C, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 14-16,4°C; lượng mưa trung bình năm

khu vực phía Bắc 2000-2500 mm, khu vực phía Nam 1500-2000 mm; số ngày mưa 100

ngày, mùa ít mưa kéo đài 6-8 tháng, từ tháng I đến thángVIH, mùa khô kéo dài 4-5 tháng,

từ tháng I đến tháng V, độ ấm không khí 79-82%; số cơn bão 1 cơn/năm; tốc độ gió trung bình nam 2m/s, tốc độ gió mạnh nhất đạt 40 m/s

Vùng ven biển Tuy An (Phú Yên): gió tương đối mạnh, tốc độ gió trung bình 2,5-

2,6m/s; nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất trén 23°C, biên độ nhiệt trung bình nãm 5-6°C,

Trang 8

nhiệt độ tối cao tuyết đối 40C, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 15 °C; lượng mưa trung bình năm 1200-1500mm, số ngày mưa 80-90 ngày, mùa ít mưa 8-9 tháng, từ tháng XII đến tháng

VHI, mừa khô kéo dài 4-5 thang, tir thang I đến tháng IV, độ ấm không khí trung bình năm

80%

Khu vực ven biển Ninh Hoà (Khánh Hoà) gió tương đối mạnh, tốc độ trung bình

2,5-2,6m/s; nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất trên 23C, biên độ nhiệt trung bình năm 5-

6°, nhiệt độ tối cao tuyêt đối 40C, nhiệt đệ tối thấp tuyệt đối 15 °C; lượng mưa trung bình

nam 1200-1500mm, số ngày mưa 80-90 ngày, mùa ít mưa 8-9 tháng, từ tháng XII đến tháng VIII, mừa khô kéo dài 4-5 tháng, từ tháng I đến tháng IV, độ ẩm không khí trung bình năm 80%

Khu vực Hàm Tân có nhiệt độ trung bình năm 26,4'C, nhiệt độ tối thấp 16,6°C, biên

độ nhiệt năm 3,6°C, lượng mưa 1500-2000mm, mùa khô kéo dài 4-5 tháng

+ Nhiệt đới khô

Khu vực Tuy Hoà (Phú Yên): gió mạnh, tốc độ gió trung bình 2,5-2,8 m/s; nhiệt độ

trung bình năm 26,5 °C, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất 23,1°C, biên độ nhiệt độ năm 5-6°C, mùa nóng kéo đài 9 tháng, nhiệt độ tối cao tuyệt đối 39°C, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 15,3°C; lượng mưa trung bình năm 1200-1500 mm, số ngày mưa 120-125 ngày, mùa ít mưa

§ tháng từ tháng I đến tháng VIII, mùa khô kéo đài 6-7 tháng, độ ẩm không khí trung bình

79-82%

Khu vực ven biển Nha Trang, Cam Ranh có gió mạnh, tốc độ trung bình năm 2,5- 2,8 m/s nhưng gió cực đại lại nhỏ chỉ có 29m/s; nhiệt độ trung bình năm 26,4°C, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất 23-23,7C, biên độ nhiệt năm 5-6°C, mùa nóng kéo dài 9 tháng, nhiệt độ tối cao tuyệt đối 39°C, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 15,3“C; lượng mưa trung bình

năm 1200-1500 mm, số ngày mưa 120-125 ngày, mùa ít mưa kéo dài 8 tháng, từ tháng |

đến tháng VIII, mùa khô kéo dài 6-7 tháng, độ ẩm không khí 70-82%

Khu vực ven biển Ninh Thuận có gió mạnh với tốc độ trung bình năm 3,0 m/s, nhưng gió mạnh nhất chi 20m/s; nhiệt độ trung bình năm 26,8°C, nhiệt độ tháng lạnh nhất

trên 24°C, biên độ nhiệt năm 4,5 “C, mùa nóng kéo đài 10-11 tháng; lượng mưa trung bình

năm 600-800mm với 50-70 ngày mưa, mùa ít mưa kéo dài 8-9 tháng, mùa khô kéo dài 6-7 tháng, có 1-4 tháng hầu như không có mưa, độ ẩm không khí trung bình năm 78-80 %; bão

ít, khoảng 0,4 cơn/năm Đây là một trong những khu vực có khí hậu khô hạn nhất Việt

Nam

Khu vực ven biển Bắc Bình Thuận có gió khá mạnh, tốc độ trung bình năm 3,0-

3,2m/s, nhưng gió mạnh nhất chỉ đến 20m/s; nhiệt độ trung bình năm đạt 26,5 °C, nhiệt độ tháng lạnh nhất cũng trên 24°C; mùa nóng kéo dai 11 tháng: lượng mưa ở Phan Thiết 1000-

1100mm/năm, mùa khô dài 6 tháng từ tháng XI-IV Độ ẩm không khí 80-82% Bão khoảng 0,4 con/nam

Sự thay đổi của thảm thực vật tương ứng với sự thay đối của sinh khí hậu trên đất địa đới ở khu vực ven vùng cát khá rõ nét Trong khí hậu nhiệt đới ẩm, phổ biến là rừng kín

cây lá rộng thường xanh với ưu thế của cây họ Dầu, đặc biệt ở khu vực Thừa Thiên-Huế,

một số cây của họ này chiếm ưu thế tuyệt đối Trong khí hậu nhiệt đới hơi ẩm thấy xuất

hiện rừng rụng lá; trong khí hậu nhiệt đới khô phổ biến rừng thưa, rừng thấp lá cứng Trên

đất cát, rừng thưa hay rừng kín khô hạn (thuật ngữ của Barry), rừng thấp lá cứng (thuật ngữ

Trang 9

của Shmid) cây họ Dầu có mặt ở Cam Ranh; trên khu vực Quảng Bình, Thừa Thiên-Huế, trước đây, tồn tại các rú cây lá cứng kín; trên cát ở Hàm Tân, đến nay vẫn còn rừng rụng lá

và rừng thưa cây họ Dâu

3 Đất

Trong nghiên cứu thảm thực vật, lớp phủ đất đa dạng được gộp nhóm thành 3 nhóm đất thực vật có những ảnh hưởng quyết định đến cấu trúc của thảm thực vật Đất địa đới

hình thành trên các đá mẹ khác nhau, ở địa hình không đốc, trũng, thoát nước tốt, không

úng, tầng đất sâu đày, trữ nước tốt Thời kỳ độ ẩm hay lượng nước trữ trong đất chi phí cho

quá trình sinh trưởng của thực vật tương tự như độ ẩm của khí hậu hay đài hơn một chút

Đất nội địa đới phân bố ở các địa hình trũng thấp, hầu như ngập quanh năm, quá trình hình thành đất bị cán trở, chỉ một số loài thực vật sinh trưởng được trên đất này Đất phi địa đới hình thành trên các địa hình quá đốc, hay nền đá mẹ cho sản phẩm phong hoá giầu cát, trữ

nước kém, luôn ở tình trạng thiếu nước cho thực vật sinh trưởng, quá trình hình thành đất

không hoàn chỉnh

- Đất địa đới trong khu vực dải cát ven biển phân bố ở vùng đổi núi kế cận, chỉ có một vài mỏm đổi bị cát bao bọc, bao gồm các đất feralit màu vàng đỗ ở nhiệt đới ẩm, đất xám và đất nâu vùng khô hạn Trên đất này có thảm thực vật địa đới như: rừng kín cây lá rộng thường xanh nhiệt đới ẩm, rừng rụng lá ở khí hậu nhiệt đới hơi ẩm, rừng thưa và trang cay

bụi rụng lá ở khí hậu khô

- Đất phi địa đới chiếm diện tích lớn trong dải cát ven biển Đất cát ven biển trong nét khái quát được xem như đất phi địa đới với đặc trưng cơ bản là thoát nước quá nhanh, đất luôn

khô hạn, thiếu nước cho quần thể thực vật sinh trưởng Ngoài ra, về tính chất hoá học, đất

nghèo các yếu tố dinh dưỡng Tuy nhiên, khi đi vào phân tích từng khu vực cụ thể, thì chế

độ nước trong đất lại rất khác nhau tuỳ theo vị trí địa hình của khu vực cát Tại các cồn, đụn, đồi cát cao, mực nước ngầm sâu, đất luôn khô sau khi mưa, đất khu vực này được xem

như đất phi địa đới thực sự Thảm thực vật trên đất này có cấu trúc kém hơn rất nhiều so với

thảm thực vật trên đất địa đới trong cùng một kiểu khí hậu Theo màu sắc, thành phần cơ

giới có thể phân ra các đụn cát màu trắng hay trắng xám, cát vàng xám và cát vàng nghệ và cát đỏ Đất cát vàng xám, đất cát trắng nghèo, tỷ lệ SiO, cao; dat cat dé va dat cát vàng

nghệ giàu sét và dinh dưỡng hơn, khả năng trữ nước cũng cao hơn và tính khô hạn của đất cũng giảm ởi Trong một vài điểm nghiên cứu chỉ tiết (trên bán đảo Cam Ranh) đã cho thấy

tính chất khác nhau của nền cát đã tạo ra các kiểu thảm thực vật với các loài ưu thế khác

nhau

Trên đất cát ở các địa hình cao có các kiểu thảm thực vật với cấu trúc kếm hơn hẳn các kiểu thảm trên đất địa đới và các cây có các hình thái chịu hạn thể hiện rõ như lá cứng,

nhỏ, dai nhiều trường hợp lá biến thành gai như rừng thưa cây họ Dầu trên cát đỏ, rừng thấp

lá cứng giòn trên cất trắng Cam Ranh, ngoài ra còn phổ biến các trắng cây bụi, cỏ thứ sinh

Trang 10

Trên nền san hô vụn ở Hòn Đỏ (Phan Rang) có một trảng cỏ thấp nhỏ thân mọng nước, các

lác xác bao bộc thân rất đặc trưng

Liên quan đến ảnh hưởng của cát đến thảm thực vật cũng có cách đánh giá khác Khi nghiên cứu thảm thực vật trên cát ở Nam Trung Bộ, Barry cho rằng, tuổi địa chất của

cát có ảnh hưởng đến cấu trúc thảm thực vật Cấu trúc của thảm thực vật không liên quan

với tính chất lý-hoá học mà liên qua đến tuổi trầm tích Thực tế, mỗi một loại cát trong khu vực đều có tuổi khác nhau và thành phần lý-hoá khác nhau Trên các địa hình có tuổi cổ

hơn thì thảm thực vật phát triển lâu đời hơn và đất đưới thảm thực vật được cải thiện tốt hơn

nhưng không hẳn đã có ảnh hưởng mạnh hơn so với tính chất lý-hoá học của đất Ngay cả, trên các cát có tuổi trẻ nhất, nơi con nguời không tác động (như lăng, miếu, đến , 6 dun cát ven biển Phú Lộc, Thừa Thiên-Huế), có quần thể cây gỗ cao §-15m với tuổi không quá vài chục năm Yếu tố thời gian có tham gia vào phát triển thảm thực vật vùng cát với ý nghĩa lịch sử chứ không hoàn toàn quyết định khả năng sinh trưởng

Tại các vùng bằng, trũng, lượng nước trong đất nhiều khi trở thành ứ thừa, tạo ra các đầm lầy Các cây cô ở đây bao gồm các loài ua ẩm, chịu ngập Tuy nhiên, thành phần loài hầu như không giống như vùng đất ngập nước phù sa Có thể xem đất này như là đất nội địa

đới nhưng đặc trưng riêng biệt cho vùng cát Việc mô tả các quần xã thực vật trên đất này ít

được đề cập đến từ trước đến nay

- Đất nội địa đới trong vùng cát ít phổ biến, bao gồm đất nội địa đới ngập nước mặn và đất

4 Các yếu tố thuỷ triểu, thuỷ văn, bão

Yếu tố thuỷ văn, thuỷ triểu có vai trò quan trọng đối với thảm thực vật vùng ngập nước kế cận vùng cát Các sông sông ngắn ở Trung Bộ đều ngắn, lượng phù sa ít, vùng biển

kế cận khá sâu, bờ không có hệ thống đảo che chắn, sóng gió tác động trực tiếp vào bờ với

cường độ mạnh, nước dâng trong cao (cực đại đạt đến 100-250 mm trong bao [35)) han

chế sự phát triển của bãi bồi và sự phát triển của rừng ngập mặn

Những đợt lụt lớn thường làm ngập các vùng cát thấp quanh đồng bằng phù sa Đây

có thể xem như một nhân tố khống chế sự phát triển của thảm thực vật ở vùng cát bằng thấp

Trang 11

thuộc Quảng Trị, Huế Lũ lụt có thể làm chết đi hàng loạt các cây gỗ và sau đó một thế hệ cây mới lại bắt đâu một chu kỳ phát triển khác

5, Nhân tác

Là vùng thấp ven biển nơi tập trung dân cư, thảm thực vật vùng cát cũng như thảm

thực khu vực ven biển đã và đang bị con người khai phá mạnh mẽ Các di chỉ văn hoá Sa Huỳnh, đi tích văn hoá của dân tộc Chàm đều nằm trong trong hay cận kể với vùng cát; sự phát triển của đồ gốm, xây dựng bằng gạch nung sắn liền với các quá tình khai thác

mạnh các cây gỗ làm củi đốt Vùng đất phù sa dọc các con sông và các đồng bằng được

khai thác trồng lúa Các công trình thuỷ lợi được xây dựng từ thế kỷ XIII của dân tộc Chăm

cũng như các công trình ngày nay cũng góp phần thay đổi lớp phủ thực vật Điển hình nhất

là công trình đưa nước từ đập Đa Nhim về vùng khô hạn Ninh Thuận để trồng Lúa nước Những vết tích của thám thực vật đầm lầy chỉ còn lại rất ít Rừng trên các đụn cát cũng chỉ còn các vệt nhỏ ở Quảng Trị, Cam Ranh, Hàm Tân Trên đất địa đới rừng cũng chỉ còn ở vùng Tây Quảng Bình, Quảng Nam, Đà Nắng và một vài đỉnh núi ở Nam Trung Bộ Thảm thực vật hiện tại chủ yếu là trắng cây bụi, cỏ thứ sinh và thảm thực vật trồng Trên đất ngập

mặn, rừng chỉ còn các đốm, vệt nhỏ sót lại trong các đầm phá hay dọc sông

6 Sơ lược về sự phát triển phát triển của thảm thực vật vùng cát

Vào cuối Trung sinh sau hàng loạt các vận động kiến tạo, về cơ bản lãnh thổ Việt Nam đã hình thành Vào đầu Đệ tứ thảm thực vật Việt Nam đã đầy đủ giống, loài như hiện đại Trong pha biển tiến Pleistoxen giữa (700.000 năm trước), cả vùng cát hiện nay chìm trong biển Có lẽ trong giai đoạn này chỉ có rừng đầm lầy, rừng ngập mặn mọc ven bờ biển

ăn sâu vào lục địa Dấu tích của giai đoạn này còn để lại là những quần thể Tràm mọc phổ

~biến ở các đổi ở Phổ Yên (Thái Nguyên, cao 36m), Đại Lải (Vĩnh Yên, 10m)[11], Phong

Điền, Phú Lộc (Thừa Thiên-Huế, 17m) Pha biển lùi cuối Pleistoxen giữa đầu Pleistoxen muộn (khoảng 300.000 năm trước) đã hình thành khu vực đồng bằng ven biển Các loài

thực vật vùng lân cận bắt đầu xâm nhập vào vùng ven biển Thảm thực vật trên cát đỏ, trên cát vàng nghệ đã bất đầu phát triển từ thời kỳ này Rừng ngập nước mặn và rừng Tràm bị đẩy lùi ra các cửa sông, ven vịnh Các pha biển tiến Pleistoxen muộn-Hôlôxen sớm, pha biển lùi Hôlôxen giữa (4000 năm trước) với biên độ nhỏ, kết hợp với các vận động kiến tạo

(tương ứng với các thêm biển trong khu vực) đã thu hẹp hay mở rộng sự phân bố của thảm

thực vật Các rừng Tràm hiện tại phân bố trên cát trắng (được hình thành ở Hôlôxen sớm Q„„`) có lẽ bắt đầu được hình thành từ pha biển lùi cuối cùng và đang bị lấn dần bởi cất di

động

Nói chung, thảm thực vật trên vùng cát mới chỉ phát triển trong giai đoạn gần đây

Đại đa số các loài thực vật trên vùng cát đều có mặt trong các khu vực lân cận chứng tổ sự

thân thuộc của chúng với các khu vực xung quanh Tuy nhiên, nền đất cát khô đã làm đã biến đổi dạng sinh trưởng của đại đa số các loài và một số loài có thể có những biến chủng

sinh thai trên vùng cát

Tính thích ứng với khô hạn được thể hiện ở hầu hết các loài trên vùng cát Một số loài trên vùng cát lại có mặt với số cá thể lớn, đôi khi trở thành các quản xã thuần loại chứng tỏ sự thích nghỉ nhanh chóng của chúng đối với môi trường mới Một số loài phân bố

Trang 12

phổ biến ở các vùng trũng trở thành các loài thích ứng với khô hạn như Tràm, Lộc Vừng

(Barringtonia paucifloara - Cam lang, Chiếc ít hoa) ở trên các dun cát ở Tam Kỳ,Quảng

Nam Các loài Varica (Táu, ở Cam Ranh, Quảng Trị) đặc trưng cho khí hậu ẩm, các loài

trong chi Lithocarpus, Quercus cla ho Dé, Cinnamomum cia ho Long nao, Eurya cia họ của họ Chè (ở cát trắng Quảng Trị) đặc trưng cho khí hậu lạnh, cũng là những loài dân thích nghỉ với điều kiện sống mới ở vùng cát

Sự tác động của con người trong thời gian cận đại như khai thác gỗ, vật liệu xây dựng, định cư hình thành làng xóm, khai thác đất canh tác, trồng rừng đã làm biến đối tiếp

tục thảm thực vậi hình thành nên bức tranh thực vật như hiện nay

H THẢM THỰC VẬT

Thảm thực vật trên cát được trình bày chủ yếu trong phần thảm thực vật trên đất phi

địa đới và một phần trong thảm thực vật trên đất nội địa đới đối với các khu vực cát ngập nước Thảm thực vật trên đất địa đới bao gồm các kiểu thẩm trên vùng đổi núi, các kiểu thám trong đất nội địa đới như rừng ngập mặn kế cận vùng cát chỉ được trình bày sơ lược

A THẢM THỰC VẬT TỰ NHIÊN

a Trên đất địa đới

1 Rừng kín cây lá rộng thường xanh nhiệt đới 4m

Rừng phân bố trong các khu vực có khí hậu nhiệt đới ẩm như khu vực Đèo Ngang,

Bố Trạch, Quảng Trạch, Lệ Thủy, trên bazan ở Gio Linh, Đèo Hải Vân, bán đảo Sơn Trà, Hoà Vang, Tây Quảng Nam, trên bazan ở Thiên Ấn, Tây Quảng Ngãi, Tây Sơn (Bình

Định), Tây Phú Yên, Khánh Hoà, khu vực Tánh Linh (Bình Thuận) Trong khu vực phía Bắc, trong khí hậu nhiệt đới ẩm rừng lan rộng về phía Đông, còn trong khu vực Nam Trung

Bộ rừng chỉ phân bố trong các khe núi, sườn đón gió trong các dãy núi ở phía Tây

; So với khu vực miền Bắc, rừng ở khu vực Bắc Trung Bộ đã có sự tham gia đáng kể

của các cây họ Dipterocarpaceae (họ Dầu) trong cấu trúc rừng Độ cao của rừng cũng lớn hơn đặc biệt trong các khu vực mùa khô ngắn, mưa lớn, có một số tác giả đã xếp kiểu rừng này sang kiểu rừng ưa mưa[31] Trong thời kỳ (trước 1985) thảm thực vật chưa bị tác động mạnh, trên vùng đổi núi thấy phổ biến rừng với cấu trúc tốt và các loài ưu thé sau:

Ở phía tây Bố Trạch (Quảng Bình) trên đá phiến sét có khu rừng với ưu thế của

Sindora conchinchinensis (Gu); Tarrietia conchinchinensis (Huynh), Garuga sp (Chua

(Gidi) Michelia foveolata (Gidi 14 lang), M hypolampra (R6 vanh), Pachylarnax precaha (Sói gỗ) [36,53]

Ở phía tây Lệ Thuỷ (Quảng Bình) có rừng với các cây gỗ cao 20m với các loài

Hopea mollissima (Sao), Madhuca pasquireri (Sén), Pometia pinnata (Sang), Sapindus

oocarpus (Chét) [36,53]

Trang 13

Trên bazan ở Rú Lĩnh (Quảng Tri) cé rimg Sindora cochinchinensis (Gu) gan như

thuần loại hoặc xen một số cây Tarrietia conchinchinensis (Huynh) hay các cây

Castanopsis boissii (Dé gai) khi các cây Gụ bị đốn chặt [36]

Theo tư liệu của Viện điều tra quy hoạch rừng, trong thời kỳ 1983, ở vùng đổi núi ở tây Huế tồn tại kiểu rừng rất đặc trưng cho khí hậu nóng và ẩm quanh năm Tầng nhô của tán rừng cao đến 40m, tầng ưu thế sinh thái cao trên 20m, che phủ của 2 tầng này gộp lại tương đối kín Các cây gỗ chính có ifopea mollissừna (Sao mặt quỷ), H pierrei (Kiên

kién), Parashorea poilanei (Cho đen), Dipterocarpus costaus (Dầu mít), các cây họ

Fabaceae (Dau) cé Sindora tonkinensis (Gu), Sterculiaceae (ho Tróm) có Tarrieatia

javanica (Huynh), Reevesia gagnepainiana (Trudng hing), Moraceae (ho Dau tam):

Antiaris toxicaria (Sui); Sapotaceae (ho Hong xiém): Pomertia pinnata (Sang); Burseraceae

(họ Trám): Canarium album (Tram trắng) Elaeocarpaceae (họ Côm): Elaeocarpus petiolatus (Côm có cuống), E nitentfolius, E stipularis (Côm lá be) [Š3]

Tại khu bảo tồn sông Thanh thuộc huyện Hiên, Giằng (Quảng Nam) có ưu hợp với

ưu thế Erythrophleum fordii (Lim), Pometia pinnata (Sang), Aglaia gigantea (Géi), Paranephelium spirei (Trường) Ven suối có ưu hợp Dracontomelum duperreanum (Sau),

Hopea odorafa (Sao den) [12,59] Tại chân núi Bà Nà, có rừng với các loài ưu thế như

Sindora tonkinensis (Gu), Madhuca pasquieri (Sén) [18]

Khu vực phía Tây Quảng Nam, Quảng Ngãi (năm 1999) có rừng với 3 tầng cây gỗ:

tầng I cao trung bình 25m, tầng II cao 20m, tầng III cao 15m Các cây gỗ chính có

Castanopsis indica (Dé gai), Lithocarpus ducampi (Dễ đỗ), Michela medioris (Giỗi xanh), Hopha odorata (Sao den), Parashorea poilanei (Chd đen) Mật độ các cây gỗ có

đường kính trên 10cm là 500 cây/ ha; trữ lượng 190mỶ/ ha, độ tan che 0,7[53]

Ở khu vực Tây Sơn có ưu hợp Dialium cochinchinenris (Xoay), L ducampii (Dé do), Michelia faveolata (Giỗi), Canadium album (Trám trắng), Loai D cochinchinensis chiếm 50 — 55% tổ thành loài, L ducampii chiếm 20 — 25%, mật độ cây 500 cây/ ha, trữ

- lượng 200mỶ/ ha [53]

Trong khu vực Nam Trung Bộ, rừng có ở Tuy Hoà, Diên Khánh, Tây Sơn, Đức Linh, Tánh Linh trên các sườn và thung lũng đón gió ẩm So với khu vực Bắc, rừng ở đây

có thành phần cây họ Dầu chiếm ưu thế trong tầng sinh thái

6 Tuy Hoà có ưu hợp cây Parashorea pollanei (Chò đen), Hopea pierrei (Sao

Xanh), Dipterpcarpus alatus (Dâu rái), Niebuhria siamensis (Chan chan); ưu hợp D alatus

(Đâu rải), H.pierei (Kiền kiên), Lithocarpus ducampii (Dé), Syzygium sp (Tram), va ca ưu

hop Dialium cochinchinensis (Xoay), Michelia faveolata (Gidi), Canarium album (Tram

trắng) Các cây khác có: Elaeocarpus floribundus (Côm nhiều hoa), E gaqnepainii (Côm gagnepain) [53]

Vùng Đức Linh, Tánh Linh, lần cận sông La Ngà có khu rừng cao đến 40-50m, tán

rimg thua, dudi rimg sang, cay g6 chinh cé Dipterocarpus turbinatus (Dau cat), Swintonia griffithii (Xuan thon) Ngoai ra con cé D baudii (Dau Baud), D obtusifolius (Dau tra ben),

Shorea vulgaris (Ca chit), Hopea odorata (Sao xanh), Parkia dongnaiensis (Cam lai),

Trang 14

Scaphium affine (Ludi uoi), Mesua ferrea (Vấp), cây dạng nến có Arenga saccharifera

(Doat), Alstonia scholaris (Md cua), Palaquium annamense (Chây Trung B6), Irvingia

oliveri (Ko nia), Antiaris toxicaria, Mangifera sp [37]

Hiện tại, rừng còn ở một số nơi như Đèo Ngang, khu bảo tồn thiên nhiên Dakrông, Hai Van, tây Hoà Vang, Bà Nà, Sơn Trà, tây Sơn Tịnh nhưng đều ở tình trạng thứ sinh

Rừng chỉ cao 10-15m, gồm các loài cây gỗ tái sinh, ưa sáng mọc nhanh như Ormosia

balansae (Rang rang), Peltophorum tonkinensis (Lim xet), Commersonia echinata (Hu

den), Aglaia gigantea (GOi), Symplocos adenophylla (Dung ché), Ficus altissima (Da tia,

Đa trơn), Maglietia conifera-(Vang tam), Rhus chinensis (Mudi), Engelhardtia chrisolepis (Cheo tia), Alphonsea tonkinensis (Thau lĩnh), A gaudicaudiana (A chua) Elaeocarpus

erandiflorus (Côm bông 16n), Prerospermum sp (Long mang), Wrightia sp (Léng

mức) Dây leo khá nhiều thuộc cdc ho Convolvulaceae (Bim bim), Asclepiadaceae (Thiên lý), Vitaceae (Nho)[55]

Trên đất bazan ở núi Thiên Ấn (Quảng Ngãi) còn sót một khu rừng thứ sinh cao 8 — 12m, các cây có đường kính 15 —- 30cm, che phủ của tầng cây gỗ khoảng 80% với các cây

ưu thế như Flacourtia jangomas (Ming quan), Ficus aff geniculata voi thân thang va dep, Ficus calophyllum (Sung miu), F superba (Sung kiéu), F aff geniculata (Sung g6i), Millettia ichthyotoma (Than mat) Duéi tan cay c6é cdc cay bui nhu Srreblus taxoides,

Homalium cochinchinnensis (Cha ran Nam B6)[47]

Trên đất sỏi sạn hình thành từ đá mẹ granit ở Tây Bắc huyện Sơn Tịnh có rừng thứ sinh cao 8 — 12m, đường kính 15 — 30 cm, che phủ khoảng 80% Dưới tầng cây gỗ còn có tầng cây bụi, gỗ nhỏ, cỏ, cao dưới 3m Các cây ở tầng cây gỗ có: Elaeocarpus harmandii

(Com Harmand), Millettia ichthyotona (Than mat), Homalium cochinchinensis (Cha ran

Nam Bộ), Flacourtia jangomas (Ming quan), Litsea sp (Boi boi), Lindera annamensis (Liên đàn Trung Bộ), rụng lá vào tháng J, Ficus calophyllum (Sung mit u), F aff geniculata (Sung g6i), Streblus taxoides, Syzygium sp (Tram), Psychotria baviensis (Lau

_Ba Vi){47}

: Tai Bac Déo Cả, còn có cdc mang rimg vdi un thé Tarrietia parifolia (Huynh 14 nho), Agnilaria sp (D6 gach), Dipterocarpus grandiflorus (Dau dot do), Cinnamomum

cassia (Qué), Baccaurea silvestris (Dau tién, Du méc), Parashorea stellata (Chd nhai),

Antheroporum pierrei (Gang may) ; 6 Nam Déo Cả, có rừng vdi uu thé Microstemon poilanei (Ngũ liệt Poilane), Prema cambodiana (cách Cambét), Diospyros mun (Mun)

142]

2 Rừng rụng lá hơi ẩm nhiệt đới

Rừng phân bố trong khu vực có khí hậu hơi khô nhiệt đới như khu vực Bình Định

(An Lão, Vĩnh Thạnh, Vân Canh [28]), Tuy An, Hàm Tân nằm trong khu vực có mùa khô

kéo dài đến 4-5 tháng Trong khu vực Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, vùng ven biển

Trang 15

có mùa khô kéo dài 6-7 tháng nhưng khu vực phía Tây có mùa khó ngắn hơn khoảng 4-5 tháng

$o với rừng kín cây lá rộng thường xanh, tỷ lệ của các cây rụng lá trong mùa khô chiếm một tỷ lệ khá cao trong quần thể Các loài rụng lá ở khu vực miền Nam là các cây

trong họ Datiscaceae (Tung), Lythraceae (Bằng lăng), Bombaceae (Gạo) và chúng chiếm

vai trò quan trọng trong tầng tán rừng

Các khu rừng tốt có cấu trúc nhiều tầng như rừng lá rộng thường xanh tầng tán rừng

và tầng nhô có độ cao trung bình 20-30m, có độ tàn che 0,7 đường kính trung bình các cây

đạt 30-50cm, mật độ các cây 140-300cây/ha, trữ lượng gỗ 130-400m°/ha Tầng dưới tán

cao 15-20m chủ yếu là các cây gỗ thường xanh Ngoài ra còn có các tầng cây bụi và tầng

co, đây leo, phụ sinh, kí sinh Các cây chính của tầng tán rừng có Lagerstroemia angustifolia, L calyculata (Thao lao) L crispa (Bang lang ổï), L duperreana (Bằng lãng

láng), Thừa Thién, L /ecomtei (Bang lang Lecomte), L noei var longifolia (Bang lang No),

L ovalifolia (Bang lang 14 xoan), L tomentosa (Sang \€), Madhuca pasguieri (Sến),

Palaquium obovatum (Chay), Tetrameles nudiflora (Thung), Sindora tonkinensis (Gu lau),

S cochinchinensis (Gu biển), Pahudia cochinchinensis (Cà te), Pterocarpus pedatus

(Giáng hương), Dalbergia bariensis (Cẩm lai, D cochinchinensis (Trắc), Parkia donnaiensis, Irvingia oliveri (Ko nia), Dysoxylum laureirii (Huynh dang), Prerospermum

megalocarpus (Long man), Quercus kerrii (S6i Kerri)[37]

Ở phía tây Khánh Hoà trong thời điểm năm 1983 và ở Tây Ninh Thuận, Bình Thuận

thai diém 1996 thay phé bién uu hop L angustifolia, Sindora tonkinensis (Gu mat), S

cochinchinensis, Pahudia cochinchinensis (Gd) O Ham Tan, An Sơn (Bình Thuận) có ưu

hop Dipterocarpus intricatus (Dau long), D obtusifolius (Dau Tra ben), D tuberculatus

(Dầu đồng){53]

Hiện nay, diện tích rừng này còn rất ít ở một số nơi như Vân Canh, Tây Sơn, Vĩnh

Thạnh, An Lão, khu vực đổi núi ở Tây Phú Yên, Núi Ông, Hàm Thuận Độ cao của tán rừng hiện tại khoảng 10-15 m, che phủ thưa 40-50 % Các cây gỗ quý và gỗ lớn hầu như không còn Thành phần loài khá hỗn tạp, các cây gỗ phần lớn là mới tái sinh như

Stereospermum colais (Quao núi), Bombax ceiba (Gdn rimg), Canarium nigrum (Trém den), Garuga pinnata (Trám mao), Terminalia chebula (Chiêu liêu), T chebula (Xàng,

Tiếu), Dilenia penmagyna (Số ngũ thu), Dipterocarpus tubercularus (Dầu đồng), Shorea siamensis (Cẩm liên), Shorea roxbirghii (S ến mù), Afzelia xylocarpa (Gõ cà te), Bauhinia

malabarica (Tai voi), Dialium cochinchinensis (Xay), Peltophorum pterocarpum (Lim

xet), Albizia Iucidor (Dd4i bd, Ban xe), Xylia xylocarpa (Cam xe), Dalbergia lanceolata (Trắc mũi giáo), Cratoaylon formosum subsp prunifolium (Thanh nganh), Lagerstroemia ovalifolia (Bang lang 14 xoan), L crispida (Thao lao), L calyculata (Bang lang 4i), L noei var longifolia (Bang lang NO), Symplocos pendula var hirtistylis (Dung thong)

Ven rừng rụng lá có các mảng rừng thưa trên đất sỏi sạn với ưu thế của

Dipterocarpus tuberculatus (Dau déng), Shorea siamensis (Cam liên), Terminalia chebula

(Chiéu liéu), Shorea roxburghii (Sén mi) c6 thé xem nhu 1a kiéu tham tht sinh cia rimg rụng lá mặc dù chúng có hình thái, cấu trúc giống như rừng thưa cây lá rộng do khí hậu quy

định

3 Rừng thấp, rừng thưa cây lá rộng, truông trắng cây to nhiệt đới khô

Trang 16

Cả khu vực ven biển từ Tuy Hoà đến Phan Thiết nằm trong khí hậu nhiệt đới khô

với lượng mùa khô kéo dài đến 6-7 tháng Việc định tên của các kiểu thảm thực val trong vùng này còn có nhiều ý kiến chưa thống nhất Sự phúc tạp nảy sinh ra khi xác định quần thể nào là quần thể nguyên sinh đặc trưng cho khí hậu, quần thể nào quần thể thứ sinh do tác động của con người và sự chăn thả gia súc Schmid (1974) khi nghiên cứu thảm thực vật

ở khu vực đã gộp nhóm tất các các kiểu thảm có trong khu vực thành quần hệ của vùng bán hạn Thái Văn Trừng (1978, 1999) đã tách bạch ra từng kiểu thảm tương ứng với các mức

độ khô hạn khác nhau Những khảo sát về sau này, tuy tài liệu khí hậu đầy đủ và chính xác hơn nhưng thảm thực vật đã bị khai thác quá mạnh nên cũng không thể có kết luận rõ ràng

3.1 Rừng thấp trên các núi ven biển

Theo Schmid, tại khu vực núi Chúa (Đông Bắc thị xã Phan Rang nay thuộc khu bảo tồn thiên nhiên biển Núi Chúa-Phan Rang), khu vực đồi núi ở Ba Ngòi (phía Tây Cam

Ranh) phổ biến kiểu rừng thấp hay rú cây bụi ƒourrées) với các cây gỗ nhỏ thuộc họ

Annonaceae (Na) trong các chỉ như Rauwenhoffia (Di dé), Popowia (Bồ bốt,

Flacourtiaceae (Mùng quân) với chi Scolopia (Bém), ho Capparaceae (Cáp) với chi Capparis (Cáp); họ Hippocrateaceae (Kẹn) hay Celastraceae (Chân danh) với chi Salacia

(Chép mau), Siphonodon (Xung da); ho Euphorbiaceae (Thầu dầu): Phyllanthus (Me rimg),

Drypetes (Sang trang), Gelonium (Man may), Actephila (Da g4), Nephrostylus (Mac thu),

Dimorphocalyx (Lưỡng hình dài), Poilaniella (Ngũ nhuy mộc) ; họ Rutaceae (Cam) với chi Pleiospermum (Đa tử biển), Murraya (Nguyệt quý), Atalantia (Quyt gai); ho Moraceae

(Dâu tầm) có chỉ 7axotrophis (Ô rõ núi), Phyllochlamys Ngoài ra cồn có các cây trong

cắc chỉ Buxus (Ca ma), Connarus (Day khế), Hugonia (Hiệp nữ), Hiprage (Dài duc),

Gymmnosporia (Bã trâu biển), Clerodendron (Mò), Diospyros (Thị) Các dây leo thuộc các

ho Vitaceae (Nho), Moraceae, Asclepiadaceae (Thién ly nhu Dischidia), Dioscoreaceae

(Củ nâu với chỉ Dioscora) Ho Orchidaceae (Phong lan) cé mét dai dién 14 Galeola altissima

Trong khu vực núi Cà Ná phổ biến trắng cây bụi với các loài Cycas pectinata (Tuế rang lược), Dracaena cambodiana (Phất dù Cambôt) đưới tán của chúng là các laòi cỏ chịu khé han nhy Bryophylium calycinum (Thuốc bông), Selaginella tamaricina (Quyén ba

trudng sinh), Notholaena velutina (Rang son m6), Cheilanthes (Than mô) Theo chúng tôi

thì kiểu thảm này là kiểu thâm thứ sinh

3.2 Rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới

Trang 17

Rừng phân bố ở nơi khí hậu có mùa khô kéo đài nhiều tháng như đã phân tích ở phần I Mùa khô xảy ra vào mùa nóng và có đến 1-2 tháng không có mưa Đất dưới rừng phần lớn là phù sa cổ (đất xám) có địa hình bằng, tầng đất mỏng nghèo, ngập nước ngắn

vào mùa mưa Khu vực Tây Ninh Thuận, Bình Thuận còn có rừng thưa nền đất trên đá

bazan bọt, và trên đất đá khác ở các sườn núi Trên đất cát cũng có rừng thưa với cấu trúc

tương tự nhưng chúng tôi xếp vào nhóm đất phi địa đơi Ở phía Tây Ninh Thuận, rừng được

bảo tồn khá tốt Trên đất phù sa cổ và vùng bằng trước núi, rừng thưa cao 10-]5m các cây

có đường kính 20-40cm Trên các sườn núi, các cây chỉ cao §-1Ôm có hình dáng như các

cây bụi Các cây gỗ ở tầng ưu thế sinh thái, có bộ lá rộng, cứng láng bóng, dai Phần lớn các cây rụng lá vào mùa khô Vỏ của các cây thường có lớp bần dày trên Icm, thường nứt đọc Hầu như lửa cháy hàng năm nào vào mùa khô Dưới tầng cây gỗ là tầng cây bụi cao 5- 6m với bộ lá nhỏ dày dai, một số cây có gai Tầng cỏ khá đều đạn, dãy với các loài cỏ ưa sáng Phổ biến hơn cả là tầng cô với ưu thế #feteropogon coniortus (Dị thảo vận) cao 0,3-

0,5m tạo thành tầng dày, kín

Tầng tán rừng cao 10-20m, che phủ thưa Tầng dưới tán gồm các cây gỗ nhỏ, hay cây bụi cao 2-Ñm có bộ lá thường xanh Tầng cây cỏ cao 1-2m

Các cây ở tầng cây gỗ chủ yếu là các cây trong Dipterocarpaceae (họ Dầu), có một

vài cá thể rụng lá ở các họ khác Các loài cây gỗ chính có (chữ viết tất R: rụng lá):

Anacardiaceae: Buchanaria reticulata (M6 ca), Mangifera duperreana (Quéo), Odina coromandelia (Céc chuét); Bignoniaceae: Dolichandroe columnaris (Quao cét), D

serrulata (Quao rang) R; Srereospermum cylindricum (Quao vàng); Combretaceae:

Terminalia alata (Chiéu liêu xanh); Dilleniaceae: Dillenia indica (Sd An Độ) R; D

pentagyna (Số ngũ thư), R; Dipterocarpaceae: D obimsifolus (Dầu trà ben), D

tuberculatus (Dâu đồng), Pentacme siamensis (Cam lién) Dipterocarpus intricatus (Dau

long), Shorea cochinchinensis (Sén mt), S obtusa (Ca chic); Ebenaceae: Diospyros mun

(Mun) moc ven cdc dam lay trong rimg thua, D nhatrangensis (Thi héng), D rhodocalyx

(Thi den); Fabaceae: Bauhinia racemosa (Méng bo chim), Caesalpinia digyna (Méc méo

xanh) R, Dialium cochinchinensis (Xay), Pterocarpus macrocarpus (Giang huong 14 to), Sindora siamensis (G6 mat) Dalbergia nigrescens (Trac), Xyla dolabrformis (Cẩm xe);

Fagaceae: Lithocarpus lindleyanus (Dé Lindley); Juglandaceae: Engelhardtia spicata (Cheo ngtta) R; Meliaceae: Aradiracta excelsa (Sau dau); Rhamnaceae: Zizyphus oenoplia (To rimg) g6 nhd; Sterculiaceae: Sterculia foetida (Tram hoi), S lanceolata (Trém thon); Tiliaceae: Schoutenia ovata (Son tram ring); Cycadaceae: Cycas imersa (Thiên tuế lông

chim) phé bién trong rimg[49]

Khi bị khai phá nhiều lần làm nương rẫy, rừng chuyển sang tạng thái trắng cây bụi tái sinh gồm các loài có lá nhỏ, cứng, dai hay lá biến thành gai

Trên một số sườn núi, đất hình thành trên đá cho sản phẩm giàu cát, cây Peniacme

siamensis (Cẩm liên) mọc gần như thuần loại cao 5-&m với các cành nhánh loà xoà Thái Văn Trừng dùng thuật ngữ trảng cây bụi lá rộng, cứng để chỉ kiểu thảm tương ứng với một khí hậu có mùa khô dài 7-9 tháng Theo chúng tôi, chúng chỉ là kiểu phụ thứ sinh hay kiểu

phụ thổ nhưỡng của kiểu rừng trên[49]

3.3 Trảng cây to, cây bụi, có cao nhiệt đới khô

Theo khái niệm và cách phân chia của Thái Văn Trừng, tràng cây to, cây bụi phân

bố trong khí hậu có nhiệt độ trung bình năm 20-25°C, lượng mưa từ 600-1200 mm, mùa

Trang 18

khô dài 7-9, trong đó có 2-4 tháng hạn, 0-2 tháng kiệt, trên nền đất sỏi sạn và có cấu trúc giống như savan gồm tầng cỏ chịu khô hạn cao l-2m và xen vào đấy là các cây bụi Kiểu

thảm này phân bố ở khu vực Ninh Thuận, Bình Thuận Các cây cỏ thuộc các chỉ

Arundinella, Aristida, Callipedium, Schizachyrium (Tiết phượng), Themeda (Chè về), Heteropogon (Di thao), Cympobogon (Sa), Eulalia, Dictomis, Rottboelia, Miscanthus,

Kerriochloa, Sorghum, Imperata (Co tranh) Cac cay bui, g6 nhd c6 Dillenia obovata (S6),

D pentagyna (S6 ngii thu), D hererosepala, Craotoxylon polyanthium (Thanh nganh), C prunifolium, Careya sphoerica (Cam), Adina wodier (Céc chuột), Phyllanmthus emblica

(Me rừng), Buchanania reticulata (M6 ca), Symplocos racemosa (Dung), Aporosa

microcalyx (Thau tau), Helicteres angustifolia (Thao kén), H hirsuta, Tetracera scandens

(Day chiều), Dodonea viscosa (Chanh ranh), Phyllodium elegans, Wendlandia glabra,

Grewia sessiflora (CO ke), Crotalaria sp., Rhodomyrtus tomentosa (Sim), Melastoma

candidum (Mua), Breynia fructicosa (Bé6 cu vé), Bridelia sp., Cycas runphii, C pectinata

Các số liệu khí hậu dài năm ở khu vực nghiên cứu Phan Rang, Phan Thiết có lượng mưa 797-1644 mm, mùa khô dài 5 tháng với 2 tháng kiệt có lẽ là số liệu hợp lý hơn với

kiểu thảm này và các trắng cây bụi còn sót lại trên đồng bằng phù sa lân cận Phan Rang,

Phan Thiết là thuộc kiểu thảm thực vật Cũng như tác giả đã thừa nhận rằng rất khó phân

biệt kiểu thảm nguyên sinh của khí hậu này và kiểu thảm thứ sinh của các kiểu thảm đặc

trưng cho một khí hậu có mùa khô ngắn hơn nhưng bị tác động quá mạnh trong vùng bán

hoang mạc Vì lý do này, chúng tôi xếp và mô tả chúng trong kiểu trắng cây bụi thứ sinh trên đất không nguyên trạng

3.4 Kiểu truông cây bụi gai nhiệt đới hạn

Thái Văn Trừng cho đây là kiểu thảm đặc trưng cho khí hậu có lượng mưa 300- 600mm, với mùa khô dài 6-10, trong đó có 4-6 tháng hạn và 1-3 tháng kiệt (nguồn tài liệu tác giả dựa vào để chia kiểu này là của Carton, 1949) Mùa mưa trùng vào mùa thu-đông; nền đất sỏi sạn lẫn cát Khu phân bố chúng rất hẹp ở Nam Phan Rang và Nam Nha Trang Cấu trúc và thành phần loài của kiểu thảm này tác giả cho rằng chúng chính là kiểu rừng thấp hay rú cây bụi trên sườn núi ven biển mà Schmid nêu ra ở phần 3.1

Theo số liệu khí hậu với chuỗi đài hơn tới thời gian hiện nay thì nơi khô nhất của

khu vực Ninh Thuận-Bình Thuận có lượng mưa 707mm, mùa khô dài 6-8, trong đó có 4

thang han, 2 tháng kiệt Só liệu này trùng với cách nhận định của Sehnell (1962) khi nghiên cứu “ Các vấn đề địa lý thực vật của Đông Nam A” Tac gia đặt tên cho cho kiểu thảm thực vật ở Nam Phan Rang là thảo nguyên cây gai, nó tương ứng với khí hậu có lượng mưa 600-

700 mm, tập trung vào 2-3 tháng, có đến §-10 tháng khô, 1-3 tháng không mưa, trên đất sỏi

Trong những đợt khảo sát gần đây tại khu vực núi Chúa thì kiểu truông cât bụi gai

thường phân bố cận kể với các khu dân cư và thường xuyên bị chặt phá và nó là kiểu thảm thứ sinh thực sự Trong các khu vực xa hơn, trên đất còn day, cdc cay go cao 5-8m, các cây gai ít, có thể gọi là rừng thấp như Schmid là phù hợp và xếp hạng theo độ ầm nó gần tương đương với kiểu rừng thưa chứ không như Thái Văn Trừng quan niệm Quanh khu vực Phan Rang, hầu hết đất đã được khai phá canh tác và hệ thống nước thuỷ lợi đã làm biến đôi sâu sắc cảnh quan trước đây của khu vực Kiểu thảm thực vật trên đất phù sa quanh khu vực Cà

Ná (khu làm muối hiện nay), trên các đồi ở phía Tây quốc lộ I trong khu vực Tuy Phong là trùng khớp với khái niệm kiểu truông cây bụi trên

Ngoài ra, truông cây bụi gai với các loài như trên còn phổ biến trên khu vực khô hạn từ Nha Trang đến Bình Thuận trên các đất sỏi sạn trong một khu vực có mùa khô ngắn

hơn và ít sâu sắc hơn như tác giả đưa ra Có lẽ chúng là kiểu thảm thứ sinh, cũng vì vậy,

Trang 19

chúng tôi xếp và mô tả chúng trong kiểu trắng cây bụi thứ sinh trên đất không nguyên trạng

4 Trảng cây bụi thứ sinh

Trảng cây bụi thứ sinh hình thành trên các đất rừng bị khai thác làm nương rẫy sau

đó bỏ hoang Thành phần loài khá đa đạng vì trắng cây bụi có nguồn gốc từ nhiều kiểu

rừng khác nhau: từ rừng lá rộng thường xanh, rừng rụng lá, rừng thưa cây lá rộng, thêm vào

đấy tính chất của tầng dưới trảng cây bụi lại khá đa dạng phụ thuộc vào mức độ canh tác

trước đây

Cấu trúc của tảng cây bụi cũng tuỳ thuộc vào tính chất của tầng đất Trên đất có

tầng dày của chúng cao 4-8m và có độ che phủ kín, trên đất mỏng chúng có độ cao l-4m che phủ thưa

4.1 Trảng cây bụi thứ sinh trên đá vôi

Trên đá vôi ở Ngũ Hành Sơn có trảng cây bụi cao 4 — 8m, che phủ 40 — 50% với các loài như Strobilanthes annamitica (Chuy hoa Trung Bộ), Chirita hamosa (Ri ta móc),

Lindenbergia muraria (Mến tường)

4.2 Trắng cây bụi thứ sinh trên đất dày hình thành từ các đá mẹ khác nhau

Trên đất dày và ẩm ở khu vực Bắc Trung Bộ sau thời gian bỏ hoang 5-10 năm có trắng cây bụi cao 7-Bm, che phủ kín, gồm các loài ưa sáng mọc nhanh như Šïyr4x

- tonkinensis (Bồ đề), Ormosia balansae (Rang rang), Peltophorum tonkinensis (Lim xet),

Lysidice rhodostegia (Mi), Mallotus cochinchinensis (Hu nau), M apelta (Ba bét), Aporosa microcalyx (Thâu tấu), Phyllanthus emblica (Me rừng), Alchornea trewioides (Bo net), Macaranga denticulata (Ba soi), Breynia fruticosa (B6 cu vé), Litsea (Mang tang), Evodia triphylla (Ba chac), Syzygium (Tram), Rhus chinensis (Mudi), Aporosa (Thau dau),

Cratoxylon polyanthum (Thanh nganh), Dillenia pentagyna (Tai trâu).ở các thung lũng ẩm ướt, đất đày có các đám Musa vilsonii (Chuối rừng) Dây leo ở trảng cây bụi khá phố biến

các loài trong chi Jpomoea (Bim bim), Smilax (Khiic khắc) ở vùng đèo Hải Vân trên các

sườn đón gió ẩm thấy phổ biến các đám cây bụi mà dây leo Areyreia osyrensis (Bạc thau) phủ kín

Lân cận các khu rừng thường có ưu hợp Macarenga demiculara (Hu ba sol), Mallotus paniculata (Hu ba bét), Trema orientalis (Hu day) kha kin 14n sau 3 tudi Uu

hợp này phổ biến trên đất ẩm, lân cận rừng trong vùng thấp ẩm của cả nước

Trên đất bazan ở Thiên Ấn (Quảng Ngãi), ở Sông Cầu (Khánh Hoà) có trắng cây bụi cao 3-5m che phủ kin vdi cdc loai nhu Glycomis pentaphylla (Gai mung), Randia spinosa

Trang 20

(Gang gai), lxora coccinea (Đơn đỏ), Psychotria pentaphylla (Lâu), Desmos chinensis (Dù

dé), Rauwenhoffia siamensis, Calamus (May), Caryota urens (Méc), Phoenix humilis (Cha

12), Micromelum hirsutum (Mất trâu), các cây cô có gai Mimosa ứmisa (Trinh nữ) có rất nhiều trong trảng cây bụi Loài Srreblus asper (Duối nhám) mọc thành các đám gần như

thuần loại trong đất bazan ở Sông Cầu

Khu vực Bình Định, Phú Yên với mùa khô đài hơn, trắng cây bụi có một số thay đổi trong thành phần loài Các loài cây họ Na, các cây bụi có gai trong họ Cam, họ Cà phê trở nên phổ biến hơn Các loài thường gặp có Toxicodendron succedana (Sơn Phú Thọ),

Dasymaschalon robinsonii ( Mao qua Robinson), D sotopensis ( Mao qua Lao),

Holarrhena pubescens (Thing muc), Rawvolfia cambodiana (Ba gac Cam pét), Wightia tomentosa (Thimg miic léng), Rourea minor subsp minor ( Day khé), Breynia fruticosa

(Bồ cu vẽ), Claoxylon polor (Bồ lốt), Mallotus apelia (Ba bet trang), M barbatus (Bong

bet), M tetracoccus ( Rudi trang), Phyllanthus reticulata (Phen den), Sauropus quadrangulasis (Bồ ngót vuông), Bauhinia masiipoda (Móng bò đỏ), B saigonensis (Móng

bò Sai Gon), Acacia concinna (Keo dep), Albizia chinensis (Séng ran Trung Quéc), A

corniculaia (Sóng rắn sừng nhỏ), Urena lobata (Ké hoa đào), Melastoma bauchei (Mua

Bauche), Osbeckia chinensis (An bích Trung Quốc), Ficus hista (Ngái), F helerophylla

(Vu bd), Ardisia expansa (Khu neo), Morinda umbellata (Nhau tan), Mussaenda glabra (Bướm bạc nhẫn), Psychorria (Lầu, 5 loài), Wendlandia paniculata (Huân lang chùm tụ

tan), Glycomis pentaphylla (Com ruou), Micromelum minutum (Mat trau cong), Trema

oriemalia (Trầm mai đông), T cannabina (Trầm mai cần) Dây leo cũng khá phổ biến

trong trảng cây bụi như Lygodium (Bong bong, khoang 8 loai), Agnonerion polymorphum

(Dang), Beaumontia murtonii (Hing thom), Aristolochia pothieri (Son dich), Lonicera

annamensis (Kim ngan Trung B6), L japonica (Kim ngan), Jmpomoea triloba (Bim ba

thuy), Merremia gemella (Bim d6i), M hederacea (Bim vang), M hirta (Bim long),

Gymnostema pentaphyllum(Thu trang), Mukia maderaspatana (Cau qua nhám), Pueraria

Phaseoloides (Dau ma), Gelsemium elegans (14 ngén), Strychnos ignatii (Hoang nan),

Stephania japonica, Caraytia trifolia (Vac)

Trong khu vực có mùa khô dài hơn như Tuy Hoà, Phú Khánh trảng cây bụi có độ cao thấp dần, độ che phủ thưa đi Thành phần cây bụi gai trở nên ưu thế, các loài rụng lá

vào mùa khô cũng nhiều lên Kích thước lá của các cây bụi vào cỡ trung bình hay nhỏ Chất 1Ã thường dai hay cứng Các loài trong họ Cáp, họ Thị, họ Bàng có số loài phổ biến hơn cả

Các loài thường thấy có ÄiJiusa bangoiensis (Mại liều Ba Ngồi), Taxotrophis, Phyllanthus

emblica (Me rimg), Breynia diversifolia (Dé di diép), Sauropus poilanei (Bồ ngót Poilan),

Fluggea spierei (Kim moc), Grewia obtusifolia (Giam 1a rong), Derris fruticosa (Céc kèn

chổi nhé), Dalbergia discolor (Trắc biến màu) các loài trong chỉ Cappanis (Cap), Hiptage

capilliipes (Dii duc cong manh), Zizyphus oenoplia (Tao rimg), Diospyros ferrea (Thi), D

mollis (Mac ntta), Rhodammia dumetorum (T! iéu sim), D phanrangensis (Thi dat),

Jasminum brevinlocum (Nhai thuy ngan), J adenophyllum (Lai cé tuyén), Parinarium annamense (Cam), Stereospermum annamense (Quao), Odina wodier (Cóc chuột,

Combretum decidum (Chưng bầu) các cây gỗ tái sinh có kích thước nhỏ cũng có mặt

trong trang cay bui như Cinnamomum obtusifolium, Crispulum, Cratoxylum formosum (Thành ngạnh), Hisbicus macrophyllus (Bup 14 to), H surratensis (Bup xu6c), Rinorea virgata f.nhatrangensis, Firmiana colorata (Tro6m mau), Peltophorum dasyrachis (Lim

vang), Milletia erythrocalyx, Connarus semidecandrus (L6p bop), Lagerstroemia lecomtei

Trảng cây bụi trong vùng khô hạn Ninh Thuận, Bình Thuận như đã đề cập trong mục 3.3 Chúng được hình thành từ các khu rừng thưa cây lá rộng sau khi khai phá bỏ hoang

Đặc điểm nổi bật của trảng cây bụi ở khu vực này là tỷ lệ các có gai, rụng lá chiếm ưu thế

Trang 21

trong quần thể Các cây bụi có lá bé hay lá choát Hình đáng các cây bụi thường cong queo,

vo cay day va den do bị cháy hàng năm Ngoài các loài đã mô tả ở mục 3.3, trong trang cay

bụi còn có tỷ lệ đáng kể của cây mọng nước thuộc họ Cactaceae (Xương rồng) và họ

Euphorbiaceae (Thầu đầu), các loài cỏ chịu khô hạn như Quyền bá trường sinh

4.3 Trảng cây bụi thứ sinh trên đất soi san hình thành từ các đá mẹ khác nhau

Trên các đất có tầng mỏng do khai thác quá nhiều lần các cây bụi có chiều cao thấp 1-4 m, độ che phủ thưa Ngay trong khu vực có khí hậu ẩm, trắng cây bụi trên đất sỏi sạn

đã có các loài đặc trưng cho đất khô hạn Hình thức thể hiện tính mức thích qua kích thước cây (càng khô hạn cây càng nhỏ), kích thước lá (từ lá nhỏ, bé đến lá choát, ká kim, lá biến

thành gai), trạng mùa của lá (thường xanh đến rụng lá), vỏ cây (từ mỏng đến có lớp bần bao

bọc chống nóng) Tính thích ứng với chế độ khô hạn của đất cũng như của khí hậu thể hiện

rõ ràng theo các kiểu khí hậu theo mức độ dài và khắc nghiệt của mùa khô

Trong các khu vực ẩm, trảng cây bụi trên đất sỏi sạn cao 2-4m, che phủ §0-90%

gồm các loài như Desmos chinensis (Dé Trung Quốc), bụi trườn, 7efracera scandens (dây Chiéu), L, Croton ignifex, Antidesma bunius (Chdi mdi), Bridelia manoica (Phén den),

Breynia fruticosa (Bé cu vé), Albizzia corniculata (Séng ran stmg nhd), Mimosa pudica (Trinh nữ), Pihecellobium dulce (Me keo), GN, Mucuna inerrupia (Mắc mèo gián đoạn),

DL, Leucoena leucocephala (Bo chét, Keo dậu), GN, đôi khi mọc thuần loại thành các

mảng rộng (Tây Quảng Ngãi) trên đất giàu cát, Maclura cochinchinenis (Vàng lô), Sireblus asper (Duối nhám), vùng khô, S /axØiđes, nơi khô, § ///cƒolia (Duối ô rô), nơi khô hạn,

Ficus palmatiloba (Vi ché), Baeckea frutescen (Chéi sé), trên đất cát, Rhodammia dumetorum (Tiéu sim), Rhodomyrtus tomentosa (Héng sim), Randia spinosa (Gang tu hd), Severima monophylla (Gai xanh), Dodonea viscosa (Chanh ranh), <250m, Manilkara

hexandra (Gang néo), Rourea minor (Trúc cầm lá nhỏ), Rubus alceaefolius (mâm xôi),

_Ixora coccinea (Don d0), Solanum (Ca gai), Murraya paniculata (Nguyét quy), Phoenix

humilis (Cha là), Gleichenia linearis (Guột), Helicteres angustifolia (Thao kén đực), Grewia paniculata (CO ke)

Các dây leo có các loài trong chi Smilax, Puerraria phaseloides (Dau cit du),

Desmos cochinchinensis (Hoa dé), Tetraceras scandens (Day chiéu), Lygodium (Bong

bong), 7 loài

Dac biét trén dat mong, chat, chua, c6 quan x4 Rhodontyrtus tomentosa (Sim) moc

lẫn với Melastoma candidum (Mua), Memecylon edule (Sam) thé hién r6 trong khu vuc Bình Trị Thiên Nơi có tầng sỏi sạn lộ trên mặt đất, các cây Gleichenia linearis (Guét) tao

thành tầng có đầy đặc cao 0,5-1 m

Trên Đèo Cả, ranh giới Phú Yên với Khánh Hoà, đá lộ chiếm ưu thế ở tầng mặt, có

ưu hợp cây dạng nến có Arenga saccharifera (Đoát) rất đặc trưng, cao 5-6m, che phủ 40-

50% Các tài liệu trước đây đều không đề cập đến

Trong khu vực Quảng Ngãi, Bắc Bình Định, trên đất sỏi sạn hình thành từ đá cát thường thấy cây cỏ cứng Lantana camara (Bông hôi, Ngũ sắc) tham gia vào trắng cây bụi

Trang 22

Quần xã cây bụi cao ưu thế Dodonea viscosa (Chành dành) cao 2-5m, che phi 70-80% va quần xã Leucaena glauca (Keo dậu) cao 5-10m cũng rất phổ biến trong vùng trên đất cát khô, mỏng, chặt với tầng kết von bị lộ ra trên bề mặt

Trong khu vực Bình Định, Phú Yên, trên đất sỏi sạn nhiều khi trợ cả đá gốc có wring

cây bụi thấp có cấu trúc thấp cao 2 - 5m, thậm chí chỉ cao 1-2m, che phủ thưa,30-40% đây leo và các loài cỏ ưa ẩm ở đưới tán Phổ biến và điển hình ở khu Tây Quy Nhơn, Tuy Phước, Vân Canh nơi có mùa khô kéo đài Các loài thường thấy của trảng cây bụi này có Dicranopteris linearis (Rang Tay Son ngay) doi khi moc thuan loai Desmos chinensis (Dé Trung Quéc), Rauwenhoffia siamensis (Di dé), Strophanthus caudatus (Thuéc ban dudi),

S caudatus var macrophyllus (Thuéc ban 14 to), Nopalea cochenellifera (Tay citi), Opuntia dillenii (Vot gai), Capparis cantoniensis (Cap Thuong Hai), C floribunda (Cap

nhiều hoa), Cnestis palata (Trường khé), Connarus cochinchinensis (lốp bốp) dạng bụi

trườn, Teiracera scanđdens (Dây chiều), Dyospyros chevalieri (Thị Chevalier) gỗ nhỏ mọc ở

dang cay bui, Eleagnus conferta (Nhot dai), Securinega spirei (Kim moc), S virosa (Bong né), Sapium sp (Sồi), gỗ nhỏ, Acacia sp (Keo), dang bụi trườn, nhiều gai, Aibizzia

corniculata (Sóng rắn sừng nhỏ) bụi trườn, khá phổ biến, A myz/ophylla (Sóng rắn nhiều

14), Arbus fruticulosus (Cudm thảo chổi) L, A precatorius (Cườm thảo đỏ) L, Crotalaria verrucosa (Suc sac mut), C, Eriosema chinensis (Mao từ Trung Quốc), C, Leuco£na leucocephala (Keo đậu), gỗ nhỏ hay bụi cao 2-3m, đôi khi mọc thành đám thuần loại, Homalium cochinchinensis (Cha ran Nam B6), Scolopia nana (Bém lùn), Cratoxylon formosum (Thành ngạnh), gỗ nhỏ, Lagerstroemia noei var longifolia (Bang lang No) GN

có dạng bụi, Srychnos angustƒfolia (Cu chi) day leo, Sida acuta (Bai nhọn), S rhombifolia (Ké hoa vang), Memecylon edule (Sam bi), Streblus illicifolia (Du6i 6 16), S taxoides, S asper (Duéi nhém), Decaspermum parviflorum (Thập từ hoa nhd ), Rhodammia dumetorum (Tiéu sim), Rkodomyrtus tomentosa (Héng sim), Randia turgida (Gang truong), Fagerlindia depauperata (Gang nghéo), Severinia monophylla (Gai xanh),

Xanthoxylum nitidum (Sang), Dodonea viscosa (Chanh rành), Manilkara hexandra (Gang

néo), Xantolis maritina (Gang gai), Helicteres angustifolia (ổ kén hep), H lanceolata (Dé thon), H viscida (D6 trin), Wikstroemia indica (Dé niét An D6), Grewia asiatica (CO ke

Chau A), G annamica (Cd ke Trung Bd), Lantana camara ( Ngũ sắc), cô cứng, cao, Phoenix humilis (Chà là)

Trong vùng khô hạn Phú Khánh, Ninh Thuận, Bình Thuận, phổ biến kiểu trắng cây bụi khô hạn trên đất sỏi sạn hay lẫn cát Phần lớn trắng cây bụi này hình thành do khai phá

rừng thưa, một phần nhỏ từ rừng rụng lá, rừng kín trên các sườn dốc có đá mẹ giàu cát bị

canh tác quá nhiều lần làm mất tầng đất mặt, trơ đá gốc Lửa cháy hàng năm làm cho trắng

cây bụi thấp khá bền vững Các cây bụi có lá bé, lá choắt, chất lá thường là dai, cứng, bay

biến thành gai Vào mùa khô nhiều cây rụng lá Một số cây có hình thái cây mọng nước thích ứng với khô hạn Dây leo và cỏ ít Các cây bụi có kích thước bé và có nhiều nhánh loà xoà, thân cong queo do chồi sinh trưởng không an toàn trong quá trình sinh trưởng Các cây

gỗ ở trắng cây bụi này cũng chỉ có kích thước và hình đáng như cây bụi Nói chung cấu trúc cũng như hình thái từng loài đều mang các đặc điểm thích ứng với sống khô Các loài

thường thấy có cây trong họ Selaginellaceae (Quyển bá) như SeÌaginella tamariscina (Quyền bá trường sinh) rất đặc trưng cho chịu khô với bộ lá xếp lại quanh thân khi khô và

nở ra khi ẩm; Cycadaceae: Cyeas imersa (Thiên tuế lược); Acanthaceae: Barileria strigosa var semiorbicularis (Gai kim ban nguyét), B maderaspatensis (Tai ria), Dischoriste erecta, Hypoetes poilanei (Ha mi Poilane), Pararuellia poilanei (Song nổ) Các loài cò này mọc ở khe các tảng đá trên đổi núi trơ dé; Annonaceae: Miliusa bangoiensis (Mai liéu

Ba Ngòi), Ramenhofa siamensis (Dù dẻ); Bignoniaceae: Srereospermum cylindricum (Quao vàng) GN, nhưng thường có hình dáng cây bụi; Boraginaceae: Carmone microphylla

Trang 23

(Cim rum); Buxaceae: Buxus cochinchinensis (Ca md Nam Ba), Cactaceae: Nopalea cochenellifera (Tay chi), Opuntia dillenii (Vot gai), cây mọng nước, đôi khi mọc thuần

loại; Capparaceae, rất phố biến với thân có nhiều gai: Capparis annamensis (Cap Trung

Bộ) L, C beneolens (Cáp chân rết) L, C flavicans (Cáp vàng) C grandis (Cáp to), C

rigida (Cáp cứng), C sepiara (Cáp hàng rào), C thorelii var pranensis (Cap Thorel), C

tonkinensis (Cáp Bắc Bộ), C ;eylanica (Cáp Tích lan), Celastraceae: Gymnosporia

marcanii (Loã chau mốc), Maytenus diversifolia (Loã châu biến), M_ stylosa (Loã châu voi); Combretaceae: Combretum decidum (Chung bau rung 14) R; Convolvulaceae: Evolvulus alsinoides (Bat giao thon) L, Impomoea bracteosa (Bim 14 hoa); Crassulaceae: Kalanchoe laciniata (Stmg huou) C, mong nuéc; Dipterocarpaceae: Pentacme siamensis (Cẩm liên), cây bụi cao 2-3m; Ebenaceae: Diospyros nhatrangensis (Thi Nha Trang), D phanrangensis (Thi Phan Rang), D rhodocalyx (Thị đen), các cây gỗ này mọc như các cây bui cao 2-4m; Euphorbiaceae: Croton crassifolius (Ci dén 14 day), Euphorbia antiquorum

(Xương rồng), đôi khi mọc thuần loại trên đất sỏi sạn, E trirucalli (Xuong ca) than xanh với chức năng quang hợp, lá rất nhỏ, rụng sớm; Fabaceae: Cathormion Hmbellatim (Keo

chuỗi), /ndigofera longicauda (Chàm đuôi dày), Shuteria hirsuta (Mang sang lông) L;

Flacourtiaceae: Scolopia buxifolia (Bém cim rum), S nana (Bóm lùn); Loganiaceae, rất phổ biến với dạng cây bụi nhỏ, lá dày và nhỏ : Srychnos lucida (Mã tiền sáng), Š minor

(Thuốc mọi) GN nhưng có kích thước như cay bui; Lythraceae: Lagerstroemia lecomtei

(Bang lang Lecomte) R, GN, Pemphis acidula (Bang phi) GN các loài này có hình thái

giống như cây bui; Malvaceae: Sida cordifolia (Bii trang), S mrysorensis (Bai chim);

Myrtaceae: Rhodamnia dumetorum (Tiéu sim), Rhodomyrtus tomentosa (Héng_ sim);

Rubiaceae: Randia dasycarpa (Gang nhung); Rutaceae: Afalatia rotundifolia (Tiéu quat

tron), Limonia acidissima (Can thing) GN, Pleiospermum annamense (Đa tử Trung Bộ),

Severinia monophylla (Gai xanh), Xanthoxylum cucullipetalum (Hoàng mộc cánh bau); Simarubaceae: Balanites roxburghii; Agavaceae: Dracaena cambodiana (Kim cang Cam pốt) L Nếu ngừng lửa cháy và tác động, các cây bựi lớn, cây gỗ tái sinh nhưng kích thước của chúng khó đạt lại được kích thước ban đầu vì lớp đất mặt hầu như đã mất Cũng vì hình

thái sống khô của chúng trên nền đất có tính chất bất lợi về trữ ẩm (do nhân tác) mà nhiều

người lại quan niệm chúng là đặc trưng cho một khí hậu có tính chất khắc nghiệt hơn

5, Trảng cô thứ sinh

Trảng cỏ thứ sinh hình thành đo việc khai thác rừng hay trắng cây bụi làm đất canh tấc Sau đó trên đất bỏ hoang các cây cỏ tái sinh Trảng cỏ phân bố rải rác khắp trên toàn dải Quy mô về diện tích chúng không lớn bằng tráng cây bụi có lẽ do quá trình tái sinh của cây bụi khá nhanh nên chúng lấn dần diện tích của trảng cỏ Còn tráng cây bụi khi tái sinh trở lại rừng chúng luôn gặp các cản trở do việc khai thác gỗ, củi nên diện tích hầu như không giảm mà còn xu hướng tăng lên

Cũng như trảng cây bụi, tuỳ thuộc vào kiểu thảm ban đầu và mức độ canh tác mà

nền đất dưới trắng có dày hay mỏng Trảng cỏ trên 2 trạng thái đất này hoàn toàn khác biệt nhau về cấu trúc và thành phần loài

3.1 Trảng có thứ sinh trên đất còn nguyên trạng

Trong khu vực ẩm, trên đất bỏ hoang sau canh tác phổ biến trảng cỏ cao trung bình 0,5-2m che tương đối kín với uu thé clla Imperata cylindrica (cô Tranh) Cay này chịu được

Trang 24

lừa cháy, và lan rộng bằng căn hành Nơi tiếp giáp với trảng cây bụi hay rừng trên đất dày

và ẩm thường có quần xã Eupatorium odoratum (cò Lao) và các cây có cao Phragmites karka (Say), Saccharum spontaneum (Lau), Thysanolaena maxima (Chit), Miscanthus

sinensis (Ché vé), Themeda arundinacea, Arundienlla setosa Trén trắng cô còn có các cây

bụi và dưới trắng cây bụi có các cay co moc rai rác

Ngoài ra còn phải kể thêm trắng cỏ thấp phân bố ven các làng cao không quá 10cm

bị gia súc thường xuyên với ưu thế của loài Chrysopogon aciculatas (cb May) va Cynodon

dactylon (co Ga), Eulalia monostachya (cd Man tréu), Paspalum conjugatum (cd Dang)

Trong vực mùa khô tương đối dài Bình Định, Phú Yên, trắng cỏ thường thấp hơn và

số lượng các loài cỏ ưa khô như Äfiscamthus sinensis (Chè về), Acroceras tonkinensis (Nhân giác Bắc bộ), Apluda murica (Trấu thảo), Bothriochloa bladhii (Huyệt thảo trung gian) Brachiaria distachya (Vi thảo hai gốc), Cemihotheca lappacea (Cô mốc),

Desmotrichum bipinnatum (Tinh thao hai lan kép), Ischaemum aristarum (Mom rau),

Phragmites vallatoria (Say) tham gia dang ké trong trang cd

Trong khu vực khô hạn, trên đất dày, phổ biến hơn cả là trang cd véi uu thé Heteropogon contortus (Di thao van) cao 0,3-0,5m tao thanh tang day sau khi khai pha

rừng thưa cây họ Dầu trên nền phù sa cổ

5.2 Trang co thit sinh trên đất sỏi sạn

Cũng như trảng cây bụi, trên đất tầng mỏng hay sỏi san, trắng cỏ thể hiện rất rõ những đặc điểm thích ứng với khô hạn ngay cả trong vùng có khí hậu ẩm Hình thái thích nghỉ chế độ khô hạn của các loài cỏ thể hiện theo mức độ giảm kích thước lá và kích thước cây, tăng lớp lông phủ lá, thân để giảm thoát nước, nhiều loài có thân và lá mọng nước để trữ nước sống qua thời kỳ khô hạn kéo đài Hệ thống rễ của các cây cỏ phát triển mạnh hay chuyển sang đạng rễ mập, rễ củ tích nước Các loài cỏ nhất niên, chỉ sống trong thời gian

ẩm sau đó kết thúc vòng đời cũng là một dạng thích nghi với chế độ khô hạn gay gắt, kéo đài Vào mùa khô trắng cỏ thường bị cháy Có thể xem đây là nhân tố duy tri trang cỏ

Trong khu vực từ Bình Trị Thiên đến Quảng Ngãi, trên đất mỏng và sỏi sạn ở vùng

đổi kế cận với vùng cát có trắng cỏ thấp 0,2-0,5m che phủ thưa với các loài trong chi Heteropogon coniortus (Di thao), Pteridium aquilinum (Rang đại duc), Polycarpaea corymbosa (Đa quả tản phòng), Schizachyrium brevifolium (Tiết phugng), Ischaemum aristalum (co M@), Paspalum conjugatum (cd Dang), Eriachne pallescens (cd long lon), Eremochloa ciliaris (cé Long mi), Cymbopogon caesius (cb H6i), Arundinella hispida (cd

Léng cing), A birmaniaca, Germainia capitata (Mam Thomson), Kerriochloa siamensis

(Kiét thao), Garnotia petula, Fimbristylis nigbruna (Mao thu), Themeda triandra (L6 tam

hing), Zoysia sesleroides (Cong cong to)

Trong khu vực Bình Định, Phú Yên với mùa khô dài hơn có trắng cỏ với ưu thế của các loài cd trong ho Poaceae (ho Hoà thảo) như Andropogon quinhonensis (Hùng thảo Qui

Nhơn), Arundinella bengalensis (Trúc thảo Belgan), A rupestris (Trúc thảo đá), Digiiaria

quinhonensis (Tic hinh Qui Nhon), Miscanthus nepalensis (L6 Nepal), Perotis indica (Thiên nhĩ Ấn Đ@) Ngoài ra còn có các cây cỏ của các họ khác như Lepidagathis hyalina (Lam chuỳ thấu quang), Aerva sanguinolenta (Mao vĩ đò), Cyathula prostrata (Cước đài),

Crotalaria annamensis (Sục sạc Trung Bộ), Cyperus sulcinus (Cú trái có rãnh)

Trang 25

Trong khí hậu khô hạn ở Ninh Thuận, Bình Thuận có trảng cỏ thấp, thưa Về thành

phần loài: các cây cỏ họ Poaceae không giữ vai trò quan trọng như trong trảnng cỏ ở các

khí hậu ẩm hơn Các cây cỏ đều có dạng thích nghi với tình trạng khô hạn với bộ lá có lông, thân cứng, khô xác nhằm hạn chế thoát hơi nước hoặc thân, lá mọng nước, có rễ củ

Các cây bụi tái sinh trên điện tích trảng cỏ này khá khó khăn Trảng cỏ này thường xuyên

bị gia súc giẫm đạp và cháy vào giai đoạn cuối mùa khô

Các loài thường thấy của trảng cỏ có Noiholaena vehuina (Ráng sơn mô) Selaginella tamariscina (Quyền bá trường sinh), Heliotropium strigosum (Voi voi nhám), Trichodesma zeylanicum (Mao ty Tich lan), Nopalea cochenellifera (Tay citi), Opuntia dillenii (Vot gai), Polycarpaea corymbosa (Da qua tan phong), Kalanchoe laciniata (Stmg

huou), Indigofera colutea (Cham), | hirsuta (Cham long), / linnaei (Cham Liné), Mimosa

pudica (Trinh nit), Tephrosia villosa (Doan kiém léng), Uraria cochinchinensis (Hau vi Nam B6), Leucas aspera (Bach thiệt nhám), Mesona capitatum (Cẩm thuỷ hoa to), Nosema capitatum (Cam thuy dau), Orthosiphon lanatus (Truc quan long), Cassytha filiformis (To

xanh), ki sinh, Fatoua pilosa (Dau bich), Villebrunea frutescens (Nai), Tribulus cistoides

(Quỷ kiến sầu), T terrestris (Quy kién su nhd); Poaceae: Chrysopogon aciculatus (Cd

may) noi dat rat chat 6 tang mat, Sehima nervosum (So hi) d6i khi mọc thuần loại, 7huarea involuta, Tragus roxburghii (Ké thao), Tripogon chinensis (Tam hoa Trung Quéc), T thorelii (Tam hoa Thorel)

6 Rừng tre nứa thứ sinh

Rừng tre nứa được hình thành do việc khai thác các cây gỗ của rừng lá rộng, rừng

rụng lá Rừng thưa khi tầng cây gỗ bị khai thác thường hình thành rừng Le

(Oxytenanthera) Các loài tre nứa thường mọc thành khóm và sinh sản bằng căn hành

Rừng này thường ổn định cho đến khi ra hoa và chết hàng loạt Diện tích rừng Tre nứa ở khu vực kế cận vùng cát không nhiều, phân bố thành các mảng nhỏ rải rác dọc theo các sông và ở một số thung lũng

- Trong khu vực ẩm, rừng gồm tầng tre nứa cao §-15m mọc khá kín tán Trên tầng tre

nứa là các cây gỗ mới tái sinh hay của rừng cũ sót lại Loài tre chủ yếu là Bambusa

arundinacea (Tre gai), Cac loai Tre khac cé: B blumeana (Tre gai), B lineata (Tre ngay),

Dendrocalamus poilanei (Tre Poilane), D sinuata (Tre Alay), Gigantochloa

cochinchinensis (Tre Nam BO), G multicaulis (Tre Ha b6) Melocalamus compactiflorus (Tre lim), O hosseusii (Le Hosseus), O poilanei ( Le Poilane), Quang Tri, O stockesii (Le Stockec), Schizotachyum zollingeri (L6 6 Zollinger), Da Nang Céc cây gỗ cao 10-20m

gồm Lagerstroemia angustifolia (Sang 1), L.cf petiolaris (Sang Jé 14 bé), Xylia

đolabriformis (Cẩm xe), Pterocarpus macrocarpus (Giáng huong 14 to), Sindora cochinchinensis (Gu), Ormosia sp (Rang rang), Irvingia oliveri (Ko nia), Parinariwn

anamense (Cám), Viex sp (Bình linh) Dưới tán rừng còn có các cây gỗ nhỏ, bụi, có nhưng thưa thớt không tạo thành tầng So với rừng tre nứa ở đai cao á nhiệt đới rừng ở vùng thấp có các cây gỗ trong họ Đậu và các cây gỗ rụng lá nhiều hơn

Trang 26

Tai Tay Quang Nam có rừng Tre nứa với các loài Dinochloa sp (Tre quả thịt,

Rajul), Melocalamus Sp (Giang dac, Ra- ó), Cephalostachywm sp (Mum lóng dài, A cia)

[59]

Trong vùng khô hạn, rừng Tre nứa mọc ven các suối thuộc Binh Thuan, rai rác ở Ninh Thuận Các loài tre chủ yếu là Bambusa arundinacera (Tre gai), B procera (Lô 6), Dendroncalamus poilanei (Tre Poilanet), Oxytenanthera dinhensis (Le nti Dinh), Cac cay

tre cao 8-15m che phi tuong déi kin Dui tang tre thường ít cây bụi dây leo Các loài cây

gỗ mọc cùng có Bignoniaceae: Fernandoa adenophyllum (Ngot nai), 96; Fabaceae:

Indigofera wightii (Cham Wight), bui, Fagaceae: Lithocarpus lindleyanus (Dé Linley), go

Tóm lại, các kiểu thảm thực vật trên đất địa đới chiếm một diện tích không lớn ở khu vực phụ của dải cát ven biển Phần lớn chúng đều là các kiểu thảm thứ sinh đã bị tác động mạnh của con người trong nhiều năm Rừng chỉ chiếm một diện tích nhỏ, phần lớn điện tích là trảng cây bụi và trảng cỏ thứ sinh

b Trên đất phi địa đới Đất phi địa đới chiếm diện tích chính trong dải cát ven biển Trong quy mô toàn quốc, thì cả vùng cát thuộc đất này Tuy nhiên, khi đi vào chỉ tiết, các điện tích cát bị ngập

nước ngọt hay mặn đều phải tách sang nhóm đất nội địa đới vì mức độ thừa nước của chúng đối với sinh trưởng của thực vật trái ngược hẳn với tiêu chuẩn thiếu nước trong đất phi địa

đới Chỉ có những đất cát trên các đồi, đụn, bậc thểm và bãi cát cao hoàn toàn thoát ngập

Mặc dù tính chất đất bất lợi và hạn chế sự sinh trưởng, phát triển của thảm thực vật nhưng vai trò của thảm thực vật ở đây lại rất quan trọng đối với môi trường chung Dài cất

ven biển tiếp xúc trực tiếp với các vùng bãi bồi, bãi biển che chấn cho khu vực nội địa,

chúng được xem như một đới chuyển tiếp quan trong giữa biển và lục địa Tính ồn định của vùng đất cát không lớn Sự di động của cát thường kéo theo sự không ổn định của cả đới, gây ra nhiều thiệt hại cho sản xuất, nhà cửa, đường giao thông

Đất phi địa đới chủ yếu là đất cát giàu SiO; nghèo đinh dưỡng, toát nước nhanh, trữ nước kém Đất cát trên nền san hô vụn giàu CaCO; chỉ chiếm điện tích nhỏ

Nước trong đất hầu như chỉ đủ cho thảm thực vật vào thời kỳ mưa Sau khi mưa, đất

chuyển sang trạng thái khô hạn Hơn thế nữa, dải ven biển miền Trung thường có những

đợt khô nóng kếo dài làm cho tính chất khô hạn của đất cát thêm khắc nghiệt Lượng nước trong đất hay thời kỳ ẩm trong đất phụ thuộc vào số lượng trận mưa, thời kỳ kéo dài của

mùa mưa Như vậy, mặc dù đều thuộc nhóm đất phi địa đới nhưng đất cát có sự phân hoá theo khí hậu và thể hiện ở cấu trúc của thảm thực vật

Liên quan đến lượng nước trữ trong đất đáp ứng cho thực vật sinh trưởng, tính chất

của các loại cát cũng góp phần quan trọng Đất cát đỏ, đất cát vàng nghệ (ở Nam Quảng

Bình, Bắc Quảng Trị) với thành phần sét cao hơn có khả năng trữ nước tốt hơn đất cát màu

Trang 27

trắng, cát màu vàng xám và trên chúng thảm thực vật có một cấu trúc tốt hơn nếu như

chúng cùng phát triển trong một khí hậu Tuy nhiên, do tính chất thứ sinh của kiểu thảm

cũng như việc diéu tra chưa đẩy đủ nên chưa có được những phân tích thoả đáng cho mối quan hệ này

Độ dài của thời gian thiếu ẩm trong đất địa đới thường trùng với mùa khô, hạn của khí hậu hoặc ngắn đi một thời gian tuỳ theo tầng dày, thành phần cơ giới, dộc đốc địa hình Trên đất phi địa đới, độ dài của thời gian này lớn hơn và cấu trúc của thảm thực vật trên đất phi địa đới bao giờ cũng kém hơn Khi thảm thực vật phát triển ổn định, lớp vật

chất hữu cơ, mùn trên mặt dân tăng, độ ẩm được cải thiện dần Việc khai thác, gỗ, đất canh

tác làm mất đi lớp này và gần như cát chuyển sang trạng thái đi động Sự thành tạo lớp vật

chất hữu cơ này trên đất cát rất lâu dài và cũng có nghĩa khi rừng trên cát bị mất đi thì phải

rất nhiều năm mới khôi phục được Nói chung, rừng trên cát có cân bằng quần thể rất mỏng manh, còn các quần thể thứ sinh như trảng cỏ thì lại rất ổn định Liên quan đến thực tế, việc khai thác thảm thực vật trên vùng cát nên cân nhắc kỹ lưỡng và tìm phương pháp thích hợp; việc trồng rừng cần đầu tư lớn hơn so với các đất khác

Rừng trên đụn cát chỉ còn một diện tích nhỏ ở Nam Trung Bộ như Cam Ranh, trên

cát đỏ ở Ninh Thuận, Bình Thuận một vài điểm rải rác ở Quảng Bình, Quảng Trị, Núi Thành (Quảng Ngãi) Phần lớn diện tích rừng bị thay thế bởi trắng cây bụi, cỏ, đất canh

tác

7 Các quần hệ cây gỗ

Do vướng mắc về mặt thuật ngữ khi sử dụng để định tên quần thể cây gỗ trên cát chúng tôi lấy tên chung như trên Dân khu vực Bình Trị Thiên thường sử dụng từ zú để chỉ quần hệ cây bụi trên cát Thái Văn Trừng cũng sử dụng thuật ngữ này trong bảng phân loại

chung thám thực vật Việt Nam Trong khu vực Nam Trung Bộ, cấu trúc quần thể cây gỗ trên cát cũng chưa xác định chắc chắn và tên gọi của nó đều được nhiều tác giả sử dụng là

rừng kèm theo tên cây ưu thế Chúng tôi chỉ khảo sát kiểm tra và định loại quần thể ở một

sế khu vực

7.1 Rú cây bụi kín, rậm

Phân bố trong khí hậu nhiệt đới ẩm như Bình Trị Thiên và Quảng Nam, Quảng Ngãi Nơi rú cây còn có cấu trúc tương đối tốt, sót lại như Phú Thiết xã Hưng Thuỷ, Thanh Thuỷ thuộc Lệ Thuỷ, Quảng Bình, Hỗ Xá (Vĩnh Linh, trên cát vàng nghệ), Gio Linh (Vĩnh

Linh, trên cát trắng), rải rác ở Phong Điển (Thừa Thiên-Huế, cát trắng), Núi Thành (Quảng

Nam, cát vàng) Khu vực Quảng Ngãi, quần hệ này bị phá huỷ hầu như không còn

Cấu trúc: rú gồm các cây gỗ không cao quá 15 m, thường 5-8m, với bộ lá kín, ram,

chất lá dai, dày, bóng, kích thước lá nhỏ đến vừa Các cây gỗ thường chỉa cành sớm ở độ

cao trên 1m, mang hình thái trung gian giữa cây gỗ và cây bụi Vỏ cây thường xù xì do lớp

bần khá dày,

Các loài ưu thế thuộc các chi Eugenia (Tram), Syzygium (Tram), Rhodomyrtis (Sim), Decaspermum (Thập tử) của ho Myrtaceae (Sim), cdc chi Calophyllum (Mt u), Garcinia (Btta) thuộc họ Clusiaceae (Bứa), chi Chrysophyllum (Vi sita) thuéc ho Sapotaceae (Héng Xiém), chi Diospyros (Thi) thude ho Ebenaceae (Thi), chi Memecylon (Sâm) thuộc ho Melastomataceae (Mua)

Trang 28

Có thể xép ra cay Melaleuca cajuputi (Tram) cao 3-5 m, phan bé ven cdc ving thấp nhưng không ngập nước dang bị cát vùi vào quần hệ này Nó có thé xem như ranh giới

của cát không ngập nước ngọt

Tại chân các cồn cát ở thôn Phú Thiết (xã Hưng Thuỷ, Lệ Thuỷ, Quảng Bình) có rú

cây bụi cao trên 3 m với các loài gỗ nhỏ nhu Castanopsis mollisima (Dé), Litsea

laucilimba (Boi 1di), Combretum quadrangulare (Chung bau), Pouteria obovata (Tra

obov ‘ata (Trả, Chỏi, Mộc) các cây khác có Calophyllum rugosum (Cong nhám) mọc ven

khe ẩm, Giuta megalocarpa (Sơn trái to, Sơn tà vôi)

Trên các đụn cát vàng nghệ ở Hồ Xá (Quảng Trị, ngay sát đường quốc lộ IA) có

tràng cây bụi cao 5-8m với bộ lá cứng, dai, thường xanh với các loài Rapanea linearis (Xay

hep), Celtis sp (Séu), Rhodomyrtus tomentosa (Sim), Sizygium sp (Tram), Breynia (B6 cu về)

Tại Phong Điển (Thừa Thiên-Huế) trên cát trắng, có rú cao 5-§m, cành chỉa thấp

khoảng 1m, phân bố rải rác Theo điều tra của Đặng Thái Dương (2002) trong diện tích

2500 m” đã xác định được 26 loài cây như Dé cau, Dé gai, Tram bdu (Combretum

quadrangulare), Ma ca (Dasymaschalon), Mat cất (Rapanea sp.), Rôi (Gareimia ferra), Luc (?), Cha dam (néu 1a Cha ran Homatium), Tréng tring (Cinnamomum burmanit), Dau dang (hay Ô đước nam Lindera myrrha), Dau re (?), Sang ma (Carallia), Bach bénh (Eurycoma

longifolia), Tram (Melaleuca cajuputi), Cé uém (Archidendron bauchei), Sim

(Rhodomyrtus tomentosa), Mua (Melastoma), Trang (Ixora), Dai dé (Gluta megalocarpa?), Méc (Caryota urens), Dé niét (Wikstroemia indica), Boi 18i nhét (Litsea glutinosa), Budi

bung (Acronychia pedunculata) [Tén cdc loai tác gia ding tiéng dia phuong, tén /atinh chúng tôi đưa vào dựa vào các tài liệu của Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Tiến Bân Trong

danh sách tác giả còn đưa cây Sở, nhưng chúng tôi bỏ vì nó là cây trồng]

- Theo điều tra mới đây (2003-2004), trên cát trắng ở Hải Lãng và ở một số bãi cát ở Quang Tri, ri cây được bảo tồn khá tốt, cao 5-8 m, che phủ kín, cành nhánh chỉa gần đất

Các cây ưu thế là các loài trong họ Fagaceae (Dẻ) như Cas/anopsis ceratacaniha (Kha thụ

sừng nai), Lithocarpus dinhensis (Dé nti Dinh), L sabulicolus (Dé cat) va loai Vatica

mangechapoi subsp obtusifolia (Tau duyén hai) thudc ho Dipterocarpaceae (Dau), mot so

loài Syzygium (Trâm), Archidendron bauchei (Cổ ướm) Sự tồn tại các loài cây ôn đới sống cùng với các loài nhiệt đới ở vùng thấp được giải thích bởi sự hạ thấp nhiệt độ ở thời kỳ Pleistoxen [37,45] Nhưng sự có mặt khá phổ biến của chúng trên vùng cát mới được hình thành (mới thấy ở Bình Trị Thiên, chưa thấy hoặc đã bị con người khai thác hết ở vùng cát

phía Nam), phổ biến hơn các loài nhiệt đới trong cấu trúc quân thể, có thể tạm thời giả định

chúng là các loài tàn di địa mạo, phát triển mạnh trong quá khứ có khí hậu lạnh nhưng còn

kéo dài tới gần hiện đại; hiện nay, các loài này thích nghi hơn với điều kiện khu vực hơn

các loài khác; sự vắng mặt của chúng ở khu vực cát phía Nam là điều kiện thành tạo địa

hình không tương đồng với khu vực Bình Trị Thiên.

Trang 29

Tại các đổi cát bột sét mau trắng xám lẫn sạn, sỏi thạch anh kết vón (Pleistoxen muộn, phần trên Q”„ ) , cao 8-15 m, độ cao tương đối khoảng 4-5 m, xung quanh là vùng trũng trồng lúa, ở khu vực Thao Lao, Tam Kỳ, Quảng Nam có ưu hợp Barringionia pauciflora (7, Cam lang, Chiếc lá to) cao 5-8 m mọc gần như thuần loại Ưu hợp này còn thấy trên đụn cất cao 20 m, cạnh trại nuôi Đà Điểu đang bị cát di động phủ dần hay ven chân các dụn cát vàng xám (không bị ngập) dọc con đường ven biển ở phía Nam khu Dung quất-Chu Lai (huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) Các loài trong chỉ Barringtonia phân bố phổ biến ven các vùng ngập nước ngọt, nơi ẩm ở vùng đổi núi Sự hiệ diện của chúng trên các đổi cát không ngập nhưng lân cận các vùng thấp chứng tỏ sự thích ứng dần của chúng

trong quá trình nâng cao độ cao địa hình trong thời gian gần đây

Ru cay Melaleuca capujuti (Tràm), cao 3-5n, có hình thái cây gỗ, gần như ưu thế tuyệt đối, phổ biến ở các bãi trắng ở Quảng Phú (cạnh cảng biển Hòn La, Quảng Trạch,

Quảng Bình), ở thôn Thử Luật (Vĩnh Thái, Vĩnh Linh), một số điểm ở ThừaThiên-Huế có

thể xếp vào nhóm quần hệ rú cây trên cát Chúng phân bố trên đất hoàn toàn thoát ngập nhưng tầng nước ngầm còn khá gần đất (0,5-1m) Cũng như ưu hợp Barringtonia chúng là kiểu quần thể chuyển tiếp từ chế độ ngập sang thoát ngập của vùng cát

Có thể tạm thời xem Quảng Ngãi là giới hạn phân bố của rú cây và đây cũng là giới han của khí hậu nhiệt đới 4m

7.2 Rừng

Ở bán đảo Cam Ranh, theo nghiên cứu của Barry, Lê Công Kiệt, Phạm Hoàng Hộ

và Nguyễn Văn Thuỳ trên cát đỏ cao 150-200m và trên bậc thểm cát trắng cao 10-15m, có

rừng với độ che phủ kín với các cây như Vaiica tonkinensis (Táu mật), Hopea sp (Sao), Shorea sp (Ca chit), Shorea vulgaris (Chai), Irvingia oliveri (Ko nia), Calophyllum

‘saigonensis (Mt u), Eugenia rubicundra (Tram), Parinarium annamense (Cám) Rừng

cao 12-17m, các cây gỗ chia cành từ 5-6m Tầng cây bụi dưới rừng cao Im Các tác giả cho đây là rừng cao đỉnh Về định loại, rừng này tương đương với rừng kín ẩm nửa rụng lá ở châu Phi, do Trochain mô tả năm 1957 hay rừng ưa khô ở Đông Phi do Schnell mô tả năm 1952; rừng ẩm rụng lá và rừng khô nhiệt đới ở Ấn Độ do Champion mô tả năm 1936, Edward mô tả năm 1950, Ammal mô tả năm 1958; rừng ẩm rụng lá và rừng rụng lá khô ở Thái Lan do Ogawa và Yoda, Kiba mô tả năm 1961; nó không giống rừng hỗn hợp rụng lá

ở Lào do Vadal mô tả năm 1956 Khi bị khai thác một phần, rừng chuyển sang trạng thái thứ sinh Táu mật và Trâm, mất đi các loài Cám và Kơ nia Theo Barry, rừng này còn có mặt

ở chân các đụn cát trong khu vực giữa Ba Ngòi và Nha Trang, nơi cát có độ ẩm tương đối

thuận lợi từ trên các địa hình cao thấm xuống

Trên các bậc thểm cát thấp ở khu vực giữa Nha Trang và Ba Ngòi), theo mô tả của

Schmid có rừng thấp với các cây trong chỉ Miliusa bangoiensis (Mại liễu Ba Ngồi), Taxotrophis illicifolia (Du6i 6 16), Phyllanthus emblica (Me rimg), Breynia baudouinii (Dé Baudouni), B coreacea (Dé dai), Sauropus villosus (B6 ngót lông), Fluggea virosa

Trang 30

(Kim méc déc), Grewia hirsuta (CO ke long), Derris brevipes (Coc kén chan ngan), Dalbergia discolor (Trắc biến màu, đây leo), các cây Capparis beneolens (Cáp chân rết)

C flavicans (Cáp vàng), C rigida (Cáp cứng), C sepiara (Cáp hàng rao), C thorelii (Cap Thorel), C zeylanica (Cap Tich lan), Hiptage corymbifera (Di duc thon), H plaryptera, Zizyphus oenoplia (Téo rừng), Jasminum (các cây leo trong chi Nhai), Diospyros

bangoiensis (Thi Ba Ngoi), D barauensis (Thi Ba Rau), D ferrea (Thi), D phanrangensis

(Thị Phan Rang) Các cây gỗ chiếm ưu thế có Parinariim qannamense (Cám),

Sterospermum annamense (Quao), Odina wodier (Cóc chuột) Trong rừng có các đám cỏ

thấp mịn với các loài trong họ Cyperaceae (họ Cói), Arististida adscensionis (Co ba chia leo), Selaginella tamariscina (Quyền bá trường sinh) Hiện nay khu rừng này không còn

Theo nghiên cứu của Barry, trên bậc thêm cát đỏ ở Phan Rang, Phan Thiết rừng

“cực đỉnh” rừng tương ứng với khí hậu chưa bị con người khai phá, có thể là rừng với các

loai nhu Markhamia pierrei (Dinh), Euphoria longana (Nhan), Sterculia lanceolata (Sang sé), Albizia nigricans (Song ran den), Sindora maritima (G6 bién), Ochna sp (Mai) Hiện nay, các khu rừng này chỉ còn các đám nhỏ, phần lớn diện tích rừng bị khai thác mạnh trở

thành đất canh tác hay trắng cây bụi gai với ưu thế của cây Sống rấn đen

Năm 1998, trên cát đỏ và cát vàng xám ở Nam Phan Thiết, chúng tôi còn quan sát

được một rừng thưa cây lá rộng cao 9-12m, đường kính thân cây 15-30 cm che phủ của tầng cây gỗ 40-50% với ưu thế Hopea cordata (Sao hình tìm), Shorea guiso (Chai, Ca chit) (dân địa phương gọi rừng này là rừng Sến) Các cây gỗ khác có Carissa cochinchinensis

Œi rô Nam Bộ), Calophyllum cerVerum (Không), Vatica tonkinensis (Táu duyên hải),

Diospyros bangoiensis (Thị Ba Ngồi), D barauensis (Thị Ba Rau), D ferra, Sindora

maritima (G6 bién), Eugenia tinctora (Tram nhuộm), Strychnos lucida (Mã tiên sáng), S

minor (Thuéc moi) Các cây có bộ lá rộng cứng bóng Tầng cây gỗ che phủ thưa Dưới tầng cây gỗ là các cây bụi, cỏ cao dưới 4m

> Trên đất cát có tầng kết von Fe, Mn gần sát mặt ở Ba Ngòi, Phước Dinh (Ninh

_ Thuận) có rừng với các cây Gardenia obtusifolius (Dành dành lá tù), Zizyphus oeplia (Tao rimg), Combretum decidum (Chung bau), Buchanaria siamensis (Chay Xiém), cdc dém cỏ

trong rimg cé Heteropogon concortus (Di thao van), Asparagus cochinchinensis (Thong

thiên) và ranh giới của khu rừng này được giới hạn bởi các đám tre gai Bambusa

Trên bậc thểm cát vàng xám ven biển Hàm Tân (Bình Thuận), cao 15-20m, có rừng Šchieichere olerosa (Dấu đầu Xây lan) cao 5-§ m, mọc gần như thuần loại (năm 1998)

7.3 Rừng rụng lá

Trên cát vàng xám, bằng thấp, ở khu vực Nam Hàm Tân (2004), có rừng rụng lá với ưu thế của các loài Lagerstroemia spp (Săng lẻ) cao 15-20m, đường kính trên 30 cm,

che phủ khá kín Cùng mọc với chúng có nhiều loài cây lá rộng thường xanh Do khu rừng

được rào kín bằng lưới sắt nên không khảo sát được

Trang 31

Như vậy, trên các đụn cát khi chưa bị con người khai phá có một thảm thực vật tương đối kín tán, cấu trúc tốt, ồn định môi trường khu vực Các kiểu thảm chính bao gồm

rú cây kín ở khí hậu nhiệt đới ẩm, rừng thưa hay rừng thấp khô ở khí hậu nhiệt đới khô và

rừng rụng lá ở khí hậu nhiệt đới hơi ẩm Hạn chế sự tác động của con người là có khả năng phục hồi được rừng trên cát

§ Trảng cây bụi thứ sinh

Trảng cây bụi, phân bố phổ biến trên vùng cát, hầu hết chúng ở tình trạng thứ sinh Nền đất cát đưới trảng đều ở tình trạng di động nhất là trên đất cát xám vàng ở các đụn Tuy nhiên, theo mức độ di động và mức độ tác động của con nguời có thể phân ra một số

trảng cây bụi ở tình trạng khá nguyên vẹn, cát di động yếu Chúng tôi tạm thời quy định một cách định tính : nơi cát di động mạnh là nơi địa hình biến động nhanh, nơi địa hình ít

thay đổi do cát đi động theo gió được cơi là tạm thời ổn định Nói chung, nơi thảm thực vật kín tán hay độ che phủ cao, đất cát được tạm coi tương đối ổn định Tình trạng tương đối

nguyên vẹn hay thứ sinh chúng tôi đưa vào từng mục mô tả

8.1 Trắng cây bụi trên các đụn cát ven biển mới hình thành, ít bị tác động của con người

Phía tiếp giáp với biển của các đụn cát ở tình trạng không ổn định, các đụn cát luôn

được hình thành, các thực vật tiên phong xuất hiện cố định cát, ngăn cản cát di động theo

gió nâng đần độ cao của đụn Các đụn này thoát khỏi tác động của sóng trong khoảng thời gian dài trong năm hoặc trong một vài năm Tuy nhiên, những đợt sóng lớn trong bão, hay

nước đâng xuất hiện trong năm hay vài năm một lần phá huỷ nhanh chóng các đụn Quá

trình thành tạo địa hình ban đầu, thực vật cố định hình thành cấu trúc, nâng cao đụn và

- sóng phá huỷ dun điễn ra theo một chu kỳ

- Trảng cây bụi nơi bờ biển bắt đầu ổn định: trắng cỏ Spinifex littoreus (Cd chong) cao 0,5- 2m, mọc ven chân đụn cát về hướng biển, được xem là thực vật tiên phong trong toàn dai cát Sau chiing, cdc cay Vitex rotundifolia (Tỳ bị biển) dạng cây bụi mọc bò tiếp tục phát triển sau vị trí các cây Cỏ chông và tiếp nữa các loài Padanus spp (Dứa dại) xuất hiện và hình thành một quần xã khá ổn định Đây là trắng cây bụi điển hình ở các nơi bờ biển có gió mạnh Một vài điểm, cây Từ bi biển mọc trước

- Trang cây bụi nơi đất cát tương đối ổn định

Sau bãi biển, trên bãi cát có độ cao địa hình dưới 2m, ở Cam Ranh có trắng cây bụi ven bién (fourré littoral) với ưu thế của Euphoria longan (Nhãn đại, cây gỗ, mọc đạng bụi) với cành nhánh xoà sát gốc Các cây trong quần xã đều có lá nhỏ, có gai Các cây mọc cùng

có Ochna sp (Mai), Albizzia nigrican (Sống rắn đen), Wikstroemia indica (Gió niệt Ấn

Độ), Gymnosporia diversifolia (Bã trâu biển), Phyllanthus sp (Me rừng), Gmelia hystrix

(Tu hú), Dracena cambodiana (Phất dù Cămbốt, Aryfea litoral (Trường duyên hải, gỗ

Trang 32

mọc ở dạng bụi), Manilkaria hexandra (Gang néo), Pleiospermum littoral (Da ti bién),

Sindora maritima (G6 bién, g6 moc 6 dang bui), Sideroxylon maritimum (Ma duong, Gang

gai), Padanus reversispiralis (Dita dai) Mét sé day leo nhu Gloriosa superba (Ng6t

ngoéo), Solanum robinsonii (Ca Robinson), Sarcostema braevistigma (Tiét can)

Trang cây bụi này còn thấy phân bố ở bãi cát vàng xám, cao 2 m, ở Vĩnh Hảo, ngoài các loài Nhãn đại, Đa tử biển, Đa tử Nam Bộ, còn thấy phổ biến Capparis

annamensis (Cáp Trung Bộ), Strychnos Iucida (Mã tiên sáng), S minor var thorelit (Kim luông, Thuốc moi), Calotropis gigantea (Bong bòng to), C procera (Bòng bòng quý), các cay mong nước như Euphorbia antiquorum ( Xuong réng tru), Opuntia dillenii (Vot gai),

Padanus (Dita dai)

Trong khu vực Ninh Thuận, các đụn cát trên con đường đi Ninh Chữ hay khu bảo

tồn Núi Chúa, cao 3-4m, tại sườn phía biển, không thấy vành đai Cỏ chông, xuất hiện trang cây bụi gai, lá nhỏ, dai, che phủ kín tán Các cây thấp, dưới 1m, có hình đạng như các gối

Cây điển hình cho trắng cây bụi này là Pleispermiưm annamense (Đa tử Nam Bộ),

Limnocitrus littorale (Da tit biển) Quả của chúng giống hệt như quả chanh

- Trảng cây bụi trên cát đã ổn định

Trên các đụn cát ở Cam Ranh có độ cao trên 2 m có trắng cây bụi gần biển (ourré sub-linoral) 6n dinh, v6i wu thé cha Sindora maritima (Gõ biển, gỗ mọc ở dạng bụi),

Pleiospermum littoral (Da th bién), Dracena cambodiana (Phat dù Cambét), Arytea

littoral (Trường duyên hải, gỗ mọc ở dạng bụi) Các cây khác có các loài của trảng cây bụi ven biển đã kể trên và các loài của rừng trên cát ổn định như Varica fonkinensis (Táu Đắc

Bộ), Hopea sp (Sao), Eugenia rubicunda (Tram), E cymosa, Callophylum saigonensis

(Cong Sai Gon), Leucopogon malayanus (Ma ky), Scolopia buxifolia (B6m), Rhodamnia

trinerva (Tiéu sim), Sideroxylon ferrugineum (Choi, Pouteria obovata), Eurya turfora

(Linh min), Grewia asiatica (Cd ke Chau A), Salacia sp (Chép mau), Connarus

_cochinchinensis (Day khé), Plectronia discolor Day là quần hệ chuyển tiếp giữa trắng cây bụi ven bién (fourré littoral) và rừng trên các đụn cát trắng, đụn cát đỏ ở trung tâm bán dao Day leo ngoài các loài của trằng cây bụi ven biển còn có thêm loài Cassytha fliformis (Tơ xanh), Psychotria serpens (Lầu bd)

Có thể xem đây là những quần xã cây bụi đặc trung cho quá trình diễn thế nguyên sinh ở ven bờ biển cát

8.2 Trắng cây bụi thứ sinh trên các đất cát tương đối ổn định

Khác với các trảng cây bụi ở mục trên, các trảng cây bụi ở đây đều được hình thành

đo sự tác động mạnh mẽ của con người khi khai thác quần thể cây gỗ trên cát Hành động tác động chính là khai thác gỗ sau đó đến khai thác củi Hình thức khai thác làm rẫy chỉ tiến hành trên các cát có thành phần cơ giới giàu sết như cát vàng nghệ, cát đỏ

Trang 33

- Trang cây bụi trên các đổi cát cổ :

Trên các cồn cát vàng nâu, xám trắng có độ cao 20-30 m, ở Nam Quảng Bình, Bắc Quảng Trị, phân bố sát đường QL, 1A, là các cồn cát cổ, tương đối giàu sét, bề mật ổn định Trước đây, trên đổi phổ biến các rú cây tương đối tốt Do khai thác làm nương rẫy sau đó

bỏ hoang có trảng cây bụi cao 2-3 m tái sinh Diện tích trắng cây bụi này không lớn Một

phần điện tích các đổi này đang được trồng rừng và tái khai thác làm nhà ở và đất trồng

trọt Các loài chính có Khodomyrtus tomentosa (Sim), Syzygium bullokii (Trâm Bullok), Baeckea frutescens (Chéi sé), Ixora chinensis (Trang hep), Styrax annamensis (B6 dé

Nam), Severinia monophylla (Gai xanh), Tetracera scandens (Day chiều) Dưới tấn cây

bụi là các cây cỏ mọc khá dày đặc nhu Desmodium carlesii (Théc lép), Perotis indica (

Thiên nhĩ Ấn Độ), Eremochloa ciliare (Cô bông), Andropogon quinhonensis ( Hùng thảo Quy Nhơn), Digitaria pedicellaris (Cỏ chì)

Trảng cây bụi trên đổi cát dỗ phổ biến trong khu vực chiến khu Lê Hồng Phong, Bắc Bình, Bình Thuận và rải rác các đám nhỏ ở Ninh Thuận Trảng cây bụi được hình thành

do việc khai thác các cây gỗ lớn và chừa bớt lại các cây gỗ nhỏ và bụi Các cây bụi có điều kiện mở rộng không gian sinh sống, tạo thành tầng kín Trong chiến tranh, trắng cây bụi còn bị tác động mạnh của bom, đạn chất gây cháy Nhiều trận cháy rừng thường xảy ra vào mùa khô Khả năng tái sinh của các cây bụi khá mạnh, sau một thời gian có mưa chúng lại

phục hồi Đất dưới trắng cây bụi khá ổn định, không bị di động theo gió Trắng cây bụi cao

khoảng 3-5m, các cây bụi với cành nhánh loà xoà, các cây bụi trườn và các đây leo chằng

chịt tạo thành một cấu trúc lộn xện và đan kín như một tấm phên tre nứa Thêm nữa, các cây hầu hết có gai, các nhánh cây đan xen làm người ta khó có thể đi qua được chúng Các

cây bụi có bộ lá bế, cứng, đai, nhiều cây có gai Vào mùa khô nhiều loài rụng lá làm độ che phủ giảm Mùa mưa độ che phủ tương đối kín Các dây leo đều có thân cứng và cũng có gai (Smilax) Trên trắng cây bụi, đôi chỗ, còn sót lại một vài cây gỗ của rừng trước đây Các

loài cây chính thuộc các họ Fabaceae (họ Đậu với các loài trong chi Al/bizzia), Capparaceae (Cáp), Rutaceae (Cam chanh), Rubiaceae (Cà phê), Sapotaceac (Hồng xiém), Fabaceae

(Đậu) Thành phần loài cây khá phong phú Các loài thường thấy(Viết tất: C - Cô, L - Dây Jeo, R - Rụng lá, K - Kí sinh) gồm: Cycadaceae: Cycas rưmphii (Thiên tuế Rumphius);

- Annonaceae: Carissa cochinchinensis (Xì rô Nam Bộ), Sirophanthus caudarus (Thuốc bắn đuôi) trên cat dd; Asclepiadaceae: Pentatropis pierrei (Ngii huong Pierre) L, Streptocaulon kleinit (Bac cin Klein) L; Asteraceae: Calotis gaudichaudii (Ciic giai) C, than cimg moc sat

dat, Grangea maderaspatana (Cai déng) C, Wedelia biflora (Son ciic bién) C; Bignoniaceae: Stereospermum cylindricum (Quao vang) GN, moc như cây bụi, rất phổ

bién; Boraginaceae: Carmone microphylla (Cim rum); Cactaceae: Nopalea cochenellifera

(Tay chi), Opuntia dillenii (Vogt gai); Capparaceae: Capparis annamensis (Cap Trung B6)

L, C benelens (C4p chan rét) L, C flavicans (C4p vang), C grandis (Cap to), C rigida

(Cáp cứng), C sepiara (Cáp hàng rao), C thorelii var pranensis (Cap Thorel), C

tonkinensis (Cép Bac BO), C zeylanica (Cap Tich Lan), Niebuhria siamensis (Chan chan)

GN; Caryophyllaceae: Polycarpaea arenaria (Da qua cat) C, Polycarpon prostratum (Da

chau nam) C; Chenopodiaceae: Arthrocnemum indicum (Diễm giác) C, trên san hô vụn Combretaceae: Combretum decidum (Chung bau rung 14); Cucurbitaceae: Trichosanthes

kirilowi (Qua lau) L; Ebenaceae: Diospyros nhatrangensis (Thi Nha Trang), D phanrangensis (Thị Phan Rang), D rhodocalyx (Thị đen) các cây gỗ này có hình dáng như các cây bụi; Epacridaceae: Styphelia malayana (Ma ky) GN, 1-2m; Euphorbiaceae: Breynia baudouni (Dé Baudouni), B coriacea (Dé dai), Bridelia minutiflora (Dom hoa nhỏ), B pierei (Dom Pierre), Croton crassifolius (Ci dén 14 day), C dodecamerus (Ci dén

Trang 34

12 muém), Euphorbia antiquorum (Xuong réng) than mong nước, E rirucalli (Xương cá),

Securinega multiflora (Cé ngéng), Thyrsanthera suborbicularis (Chi hing), Fabaceae:

Albizia nigricans (Séng ran den), Caesalpinia bonduc (Vuét him), C godefroyana (Méc

6), Cathormion umbellatum (Keo chuối), Crotalaria ramosissima (Sục sạc nhiều nhánh),

Desmodium harmsii (Trang qua Harm), D rubrum (Trang qua dd), D thorelii (Trang qua

Thorel), Indigofera nummulariifolia (Cham tiéu), Rothia indica (Héng dau) C, Rhynchonia

manima (Dau m@ nhd) L, R nummularia (Dau mG déng tién) L, Tephrosia villosa (Doan

kiếm lông) C; Flacourtiaceae: Scolopia buxifolia (Bdbm cim rum), S nana (Bém lin); Lauraceae: Cassytha filiformis (To xanh) K; Loganiaeae: Mitrasacme pygmaea (Tao) C;

Lythraceae: Lagerstroemia lecomtei (Bang lang Leomte) GN, R, Pemphis acidula (Bang

phi) GN, các loài này có hình thái như cây bụi; Myrsinaceae: Rapanea linearis (Xay hẹp)

GN nhưng có dáng cay bui Myrtaceae: Eugenia tinctora (Tram nhudm) G cé dang bui, Melaleuca cajepati (Tram); Plumbaginaceae: Statice bicolor (Hai anh) C ctmg moc thanh bui nhu géi; Rubiaceae: Canthium cochinchinensis (Gang Nam B6), Hedyotis pinifolia (An

điển lá thông) C bé, H simplicissima (An dién don gian); Rutaceae: Pleiospermum

littorale (Da tt bién), Severinia monophylla (Gai xanh); Sapindaceae: Podonea viscosa

(Chanh ranh), Lepisanthes rubiginosa (Nhãn dé), Sapotaceae: Manilkara hexandra (Gang

néo), Xantolis barauensis (Ma duong Ba Rau), X martima (Gang gai); Thymelaceae:

Wikstroemia indica (D6 niét); Tiliaceae: Grewia annamica (Cd ke Trung B6), G hirsuta

(Cd ke léng), Triumfetta grandidens (Gai dau rang to) cdc cay bui nay cao 1-1,5m canh nhanh tua tha; Verbenaceae: Vitex rotundifolia (Tt bi bién), V tripinnata (Mat cdo) GN; Violaceae: Hybanthus suffruticosus (Tim phong) C Cac cây cô trong lớp Một lá mầm có:

Asparagaceae: Asparagus acerosus (Day tit thiên), C cochinchimensis (Thiên môn đông) Dưới tán cây bụi có các loài cỏ thuộc Cyperaceae: Bulbosrylis barbata (Chat), Cyperus bulbosus (Cú củ), C dubius (Bạc đầu ngờ), C radian (Cú xạ), C wncinafus (Ú du

méc), Fimbristylis adenolepsis (Mao thu vảy c6 tuyén), F argentea (Mao thu bac), F

eragrostis (Mao thw tinh thảo), F lasiophylla (Mao thu langs), F pauciflora (Co léng bd), F quiquangularis (Mao thu nam canh, Quan xanh), F sericea (Mao thu to), F subspicata (Mao thư gié), Schoenus calostachyus (Son to); ho Liliaceae (Hanh): Gloriosa superba (Ngét nghéo); ho Poaceae (Hoa thao): Cenchrus brownii (Cuéc), Chrysopogon orientalis (Cé may dong), Digitaria barbata (Tu€é hinh hai simg), Eragrostis ciliaris (Tinh thao ria),

-E pilosa (Tình thảo lông), E tremula (Tinh thao rung), Eremochla ciliaris (Ban thao ria),

Eriachne pallescens (Mao tai), Hyparrhenia capitata, Ischaemum muticum (Mém trui) và

một số cây cỏ họ Fabaceae (Đậu)

- Trảng cây bụi thứ sinh trên các bãi cát trắng bằng phẳng thấp:

Các bãi cát trắng phổ biến từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi, phủ lên các đầm lầy cổ, đưới thường có lớp than bùn [khu vực Tuy Phong, Bình Thuận, cũng phổ biến các bãi cát trắng, thoát ngập nhưng thảm thực vật ở trên đều bị phá huỷ, hiện đều được sử dụng vào đất canh tác theo kiểu trang trại hay nông nghiệp} Trắng cây bụi được hình thành do khai thác

quá mức rú cây Tràm đã trình bày ở mục 7./ Việc khai thác chủ yếu là chọn các cây to,

các cây còn sống hiện chủ yếu là các cây chồi với kích thước nhỏ hay các cây Tràm mới tái sinh Trảng cây bụi cao 0,5- 2 hay 3m, che phủ tương đối kín hay thưa Nơi tầng cây bụi thưa, dưới có tầng cỏ mọc dày đặc

Trang 35

Tại khối cát trắng Quảng Trạch (Quảng Bình), bằng phẳng, có độ cao tương đối 1-2

m (so với các đầm than bùn đang khai thác), cát ít khi ngập Đây là khu đất giành cho

nghĩa địa, bãi rác Trảng cây bụi ưu thế Tràm, cao trên 0,5 m, mọc thưa, che phủ 20-30% trên nên cỏ khá dày Các loài cỏ uu thé c6 Baeckea frutescens (Chéi sé), Setaria sp (Co sau rém), Chrysopogon orientalis (CO may d6ng) Noi tring sat voi dam lay cé Xyris

pauciflora ( Hoang dau), Melastoma bauchei ( Mua Bauchei), M normal (Mua thường)

Trảng cây bụi còn thấy phân bố rải rác trên các bãi cát trắng ở Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi Tại các khu vực này, các cây Tràm có kích thước lớn hơn

- Trảng cây bụi trên các bãi cát cao hay đụn cát thấp:

Trên các bãi cát cao độ cao tương đối khoảng 5 m, ven Tram Bau Bàng (Thừa

Thién- Hué), cat trắng lẫn cát vàng xám ở Bình Dương, Thăng Bình, Tam Kỳ (Quảng Nam) có trảng cây bụi cao 4-5 m, che phủ khá kín với ưu thế của các loài có gai, lá bé, dai như Ajbizzia nigricans (Táo nhân, Sống rắn đen), Sophora tonkinensis (Hoè Bắc Bộ), Eurya turfosa (Linh min), Severinia monophylla (Gai xanh), Ficus aff pumila (Sung than lan), Litsea glutinosa (Bdi 1di nhét), Tetracera scandens (Day chiéu), Eurycoma longifolia

(Bach bénh), Wikstroemia indica (Gió niệt An Độ), Syzygium mekongensis (Tram Mé

công), Š zeyianicum (Trâm Xây lan), Rhodamnia dumentorum (Tiéu sim), Alchornea

rugosa (B6 net), Breynia fruticosa (B6 cu vẽ), Croton lachnocarpus (Cù đèn nhím),C tourannensis (Cù đèn Da Nang), Cleistanthus concinus (CAch hoa ca), Securinega spierei (Km mộc), Cratoxylum formosum (Thanh nganh), Fagerlindia scandens, Ixora chinensis

(Trang hep), Strophanthus caudatus (Thuéc ban dudi), Tabernemontana buffaliana, Aglaia

sp, Gmelia philippinensis (Tu ht Philippin), Polyalthia sessiflora (Quan dau khéng cudng), Rauwenhofia siamensis (Di dé), Carmone microphylla (Ctm rum), Dodonea viscosa

(Chành rành) Các cây của rú cây bụi sót lại có các loài Dẻ, Trâm, Cổ ướm, Táu, Sơn trái

to, Xay hẹp, Xăng mã tram Day leo cé Indigofera aff aralenssis, Xenostegia tridentata,

Smilax sp (Kim cang), Jasminum umbellatum (Lai ding), J subtripliner (Lai gan ba gan),

Linociera sp

Tại thôn Ba Lăng, xã Phú Xuân, Phú Vang Thừa Thiên-Huế có trảng cây bụi cao 3-

5 m, che phủ 40-50% với ưu thế của các loài như Severinia monophylla (Gai xanh),

Archidendron bauchei (Cổ ướm), Eurycoma longifoha (Bách bệnh), dây leo trườn phổ biến

Tetracera scandens (Day chiéu)

Tai thén I x4 Binh Duong, Thang Binh, Quang Nam, trên bãi cát vàng xám lẫn cát trắng có độ cao khoảng 10 m, ven bàu nước có trảng cây bụi cao 2-3 m, che phủ 40-50% Nhiều cây bụi có gai, lá nhỏ hay cứng, dày thích ứng với khô hạn Các loài thường thấy có

Cleistanthus concinus (Cach hoa ca), Severinia monophylla (Gai xanh), Dodonea

viscosa (Chanh ranh), Rhodamnia dumentorum (Tiéu sim), Eurycoma longifolia (Bach

bénh), Opuntia dillenii (Xuong réng ba), Syzygium mekongensis (Tram Mé cong), S

zeylanicum (Tram Xay lan), Eurya turfosa (Linh min), Gluta megalocarpa (Son trai to), Wikstroemia indica (Gid niệt An D6), Securinega spierei (Kim moc) với lá rất bé, Strophanthus caudatus (Thu6c ban đuôi), Fagerlindia sacndens, Sophora tonkinensis (Hot

Trang 36

Bắc Bộ) cây ký sinh có Cuscuta australis (Tơ hồng), dây leo có Smilax, Day chiéu Cay

gỗ Vatica mangechapoi (Táu duyên hải) cũng khá phổ biến trong quần xã này nhưng ở

đạng bụi

Theo mô tả của Schmid (1974), trên các đụn cát ở khu vực Nha Trang có trắng cây bụi cao 2-4m, thưa, có bộ lá nhỏ, chất lá cứng và dai, và nhiều cây bụi rụng lá vào mùa khô Trắng cây bụi này có thể hình thành từ rừng trên cát vốn phổ biến trong khu vực đã bị

khai thác hết các cây gỗ lớn Các cây thường gặp có Vatica tonkinensis (Táu mật), Breynia

baudonii (Dé), B.coriacea (Dé dai), Eugenia tinctoria (Tram nhuém), Rhodamnia trinervia

(Tiéu sim), Decaspermum paniculatum (Thập từ hoa nhỏ), Ochna pruinosa (Mai), Ouratea striata (Mai soc), Albizia mileua (Sóng tấn), Connarus longipetalus (Lốp bốp), Calophyllum cerferum (Không, Choi), Cantuum cochnchinensis ( Găng Nam Bộ), Leucopogon malayanus (Ma ky Malai), Vaccinium bracteatum (Son tram 14 hoa), Carissa cochinchinensis (Xi 16 Nam Bộ), Xantolis maritima (Ma duong, Gang gai), Manilkara hexandra (Gang néo), Diospyros bangoiensis (Thi Ba Ngoi), .Các cây có bộ lá bé bò sát đất phổ biến như Polypogon indicum (Da hoa), Phyllanthus arenarius (Con nhat),

Desmodium rubrum (Trang quả đỏ), Oldenlandia pinƒfolia (An điền lá thông) Dưới các

cây bụi là các cây cỏ trong hai họ Cyperaceae (họ Cói) và Poaceae (họ Hoà thảo) với các

hình thái sống khô điển hình: thân cứng, lá có lông, nhỏ, hệ rễ phát triển Nhiều loài là cỏ nhất niên Các loài thường thấy các loài cỏ trong họ Cyperaceae như Cyperus radicans (Cú

xa), Fimbritylis pauciflora (Cé léng bd), F sericea (Mao thu to), F subspicata (Mao thu gié), F lasiophylla (Mao thu lang), Bulbostylis barbata (Chat rau) ; các cây cỏ ho Poaceae (Hoa thao) cé Eremochiloa ciliaris (Ban thao ria), Chrysopogon orientalis (CO may dong), Germainia schmidiana (Gét mén) Du6i tan cay bui noi cét dm cdn cé mét loai Duong xi Schizaea dichotoma (A diép ché) Cac loai ky sinh cé Cassytha filiformis (To

xanh), Henslowia buxiflora (Thượng mộc lá bụi), Scurrula argentea (Mộc vệ bạc)

83 Trang cây bụi thứ sinh trên cát di động

Địa hình cát di động phổ biến trên toàn dai cát, tập trung ở cát vàng xám hiện đại ven biển, một diện tích nhỏ trên cát trắng ở Nam Quảng Bình, Quảng Nam và trên cát đỏ ở

Ninh Thuận, Bình Thuận Trảng cây bụi trên cát không nhiều, thường ở phần thấp ở của các

đụn cát Nguồn gốc hình thành chủ yếu do việc khai thác các cây bụi làm củi, làm phá vỡ cấu trúc lớp cát gây ra tình trạng di động cát ở tầng mặt do gió Một số diện tích trảng cây bụi trên cát di động ở bán đảo Cam Ranh và trên cát đô Bình Thuận, Ninh Thuận lại có nguồn gốc đo canh tác nương rẫy

Nét đặc trưng của trắng cây bụi trên cát đi động là mật độ che phủ thưa, tuỳ thuộc

vào mức độ khai thác trước đây hay thời gian tái sinh, thông thường dưới 50% Độ cao

thường thấp, dưới 2m, do bị khai thác chọn các cây lớn và các cây tái sinh phần lớn là các cây bụi thấp hay mọc từ chổi Thành phần loài cơ bản giống như các trảng cây bụi trên đất

ổn định (đặc trưng cho mỗi một khu vực đã mô tả ở trên) chỉ có một số loài tắng số lượng

Trang 37

cá thể do thích nghỉ hơn môi trường mới Trên cát trắng, cát vàng xám có các loài

Canthium, Randia, Gmellia, Carmosum, Severinia v6i b6 14 bién thai nho di va day lên, lá

biến thành gai, các loài Aibizzia, Dodonea cũng trở rất phổ biến Trên cát đỏ, các loài Albizzia, Stereospermum, Diospyros trở lên phổ biến

Về môi trường, cát di động thường dần lấp các cây bụi Nơi cường độ phủ lấp nhanh, bề mặt thường không có lớp cỏ Nơi cường độ bé có các cây cỏ nhất niên và đạng cỏ

cứng bò sát mặt đất như các loài S¡2z spp (Bái, Ké hoa vàng)

Về tốc độ tái sinh, theo nghiên cứu của Barry, ở Cam Ranh trên đất cát đỏ, bỏ

hoang sau canh tác khoảng 15-20 năm, rừng thứ sinh với các loài của rừng cũ đã dân xuất

hiện như Vafica tonkinensis, Hopea sp Sindora cochinchinensis cùng mọc với các bụi hay g6 dang bui nhu Eugenia cymosa, Eurya turfosa, Clausena sp, Rhodamnia trinerva

9 Trang co

Phần lớn trảng cỏ hình thành do tác động của con người sau khi khai phá các quần thể cây gỗ, cây bụi trên đất cát Trên dải cát ven biển, trong quá trình dần ổn định các đụn cát di động, một loạt các quần xã cỏ tương ứng đã hình thành theo mức độ ổn định, tạo nên một điễn thế nguyên sinh

Thành phần loài và cấu trúc của trảng cỏ không phân hoá rõ theo khí hậu mà phân hoá rõ theo tình trạng đi động của của cát

9.] Trảng cỏ trên các đụn cát ven biển mới hình thành, ít bị tác động của con người

Như đã trình bày ở trên, vùng cát ven biển luôn ở trạng thái động và trảng cỏ là quần xã thực vật tiên phong xuất hiện cố định cát Thứ tự xuất hiện từ trắng cỏ chịu gió,

chịu mặn đến các quần xã cỏ chịu khô và tạo điều kiện cho trảng cây bụi hình thành nếu

như không bị sóng phá vỡ đụn cát Các quần xã cỏ xuất hiện tuần tự (dựa vào các tài liệu

và quan sát) như sau:

- Các quần xã cỏ chịu mặn, chịu gió, tiên phong mọc nơi cao nhất của bãi triểu, dần chiếm

cứ các đụn cát mới hình thành tạo thành quần xã thuần loại

+ Quần xã Spinijfex linoreus (Cô chông), cao 0,5-1,5 m, phổ biến dọc bờ biển, điển hình ở

những nơi có gió mạnh Tại Bố Trạch (Quảng Bình), ven biển nơi cát di động mạnh, Cỏ

chông mọc thành trảng cỏ thuần loại cao 0,5-1m, che phủ kín, trên các đụn cát cao 4-5m + Quần xã Viex :rifolia (Quan âm biển) cỏ cứng hay cây bụi nhỏ bò trên đụn cát ven biển

Tại địa điểm trên, cây này mọc thành quần xã thuần loại, cao o,2-0,3m, che phủ 50-60%,

trên đụn cát cố định

Trang 38

Hai quần xã trên phân biệt rõ về không gian nhưng không rõ về sinh thái Trên đụn

cát này cây này mọc thì không có mật của cây kia Các đụn cát cùng độ cao và cùng một

khoảng cách tính từ biển Ranh giới của 2 quần xã này không vượt quá giới hạn đụn cát ven biển Sau đụn cát biển, là các bãi cát (thấp bơn đụn cát ven biển 2-3m) với các mô cát nhấp

nhỏ, là trắng cỏ thấp thưa với ưu thế Fimbristylis sericea (Mao thư tơ, Quãn xanh)

- Quần xã cỏ ưa khô và các cây cỏ cứng, bụi bò sát đất mbrisrylis sericea (Mao thu to),

Eulalia monostachya (Cat vi 1 gié), E tristachya (Cat vi 3 gié), Pentatropis pierrei (Ngi huong Pierre), Euphorbia atota (Dai kich bién), Vitex trifolia (Quan 4m bién)

- Quần xã cỏ ưa khô và các cây bụi nhỏ có gai, lá nhỏ Chrysopogon orieniaal (Cô may

dong), Fimbristylis sericea (Mao thu to), Gisekia pierrei (Co lét, rễ củ mộng nước, cắm sâu

vào cát), Eulalia monostachya (Cat vi 1 gié), Pleiospermum littoral (Da ttt biển),

Sideroxylon maritimum (Gang gai)

- Trang cỏ lẫn cây bụi gai dạng thảo nguyên được xem như giai đoạn cuối cùng của khâu

diễn thế nguyên sinh trên cát ven biển: Sideroxylon maritimum (Gang gai), Vitex trifolia

(Quan 4m bién), Fimbristylis sericea (Mao thu to), Eulalia tristachya (Cat vi 3 gié),

Gisekia pierrei (CO lét), Tephrosia sp (Doan kiém)

Trong điểu kiện không có biến động lớn về sóng, bão các trắng cây bụi dần hình thành

9,2 Trảng có thứ sinh trên cát đi động

Các đụn cát di động tập trung ở dải ven biển, diển hình ở Quảng Bình, Bình Định với độ cao vài chục mét đến trên trăm mét Cát di động chủ yếu là cát vàng xám hiện đại Một số diện tích nhỏ cát đỏ ở Mũi Né Nơi cường độ cát di động quá mạnh, bể mặt cát thường trống trải Trong trường hợp này, không có một loài cổ nào có thể thích ứng nhanh được với tốc độ thay đổi bể mật của cát Các trảng cỏ chỉ xuất hiện ở sườn các đụn cát cao

hay trên các đụn cát thấp ở nhưng nơi cát di động với mức độ vừa phải

Hình thái trảng cỏ tương tự trên các nền cát, cao không quá 10 cm, che phủ thưa,

bao gồm các loài cỏ nhỏ, cô bò sát đất với hệ thống rễ phát triển mạnh Lá các loài cỏ thường nhỏ, phủ đầy lông tơ chống thoát nước hay ở dạng láng, bóng cứng Trong một vài điểm sạt lở, rễ của các loài cỏ, nhất là loài Fimbristylis lasiophylla (Mao thư láng, Quăn xanh), rễ ăn sâu tới vài mét, lan rộng thành một hệ thống chẳng chịt Nhiều khi gió thổi mạnh, thân cô tách ra khối bề mặt cát nhưng cây vẫn trụ lại và sống nhờ hệ thống rễ

Các loài cỏ chính có các cỏ của Cyperaceae (họ Cói) như: Cyperus rađians (Cú x4),

Fimbristylis paucifolia (Co léng bd), F lasiophylla (Mao thu lang, Quan xanh), F sericea (Mao thu to), Bulbostylis barbata (Chat, Bom râu), các cây có thuộc ho Poaceae (ho Hoa

thao) cé Eriachne pallescens (Mao tai), Eragrostis alopecuroides (Tinh thao cat) thudng

Trang 39

mọc ở đỉnh các đụn cát, khô, E zeylzmica (Tĩnh thảo Xây lan), Digitaria longilora () Cac

cây cô họ khác có Polygala paniculata (Kích nhũ chùm)

Nơi thấp, ẩm và cát ổn định hơn hơn xuất hiện các loài cô Chrysopogon oriemalis (Cỏ may đông), Germainia schmidiana (Mầm) và các cây cô họ Fabaceae, các loài có có than củ hay các loài cỏ cứng nửa bụi trong các họ khác, điển hình là các loài trong chi Sida phổ biến khắp các bãi cát di động

9.3 Trảng có thứ sinh trên đất cát tương đối ổn định

Trảng cỏ có hình thái rõ ràng tạo thành tầng, có độ che phủ tương đối kín hình như chỉ thấy trên các cát cát có tuổi cổ với kết cấu của cát tương đối bền

- Trảng cỏ trên các đổi cát cổ :

Trên các cồn cát vàng nâu, xám trắng ở Nam Quảng Bình, Bắc Quảng Trị, tương đối giàu sét, bể mặt ổn định có trắng cỏ thấp 10-20 cm, mọc khá day dac nhu Desmodium

carlesii (Théc lép), Perotis indica ( Thién nhi An D6), Eremochloa ciliare (Cd bong),

Andropogon quinhonensis ( Hing thao Quy Nhon), Digitaria pedicellaris (C6 chi)

Trên đồi cát đỏ ở Ninh Thuận, Bình Thuận trên cát sau canh tác có trắng cỏ hỗn tạp, cao duới 0,5m, che phủ 30-60% , thành phần loài khá phong phú Các cây cỏ thuộc Lớp hai

lá mầm có Polycarpaea arenaria (Đa quả cáU , Polycarpon prostrarum (Đa châu nằm),

Crotalaria ramosissima (Suc sac nhiéu nhaénh), Desmodium harmsii (Trang qua Harm), D rubrum (Tràng qua dé), D thorelii (Trang qua Thorel), Indigofera nummulariifolia (Cham tiêu), Rothia indica (Hồng đậu), Rhynchonia manima (Đậu mỡ nhỏ), R nưmmularia (Đậu

m6 déng tién), Tephrosia villosa (Doan kiém long), Hedyotis pinifolia (An dién lá thông),

H simplicissima (An dién don gian), Hybanthus suffruticosus (Tim phong) Cae cay cd

trong lớp Một lá mầm có: Asparagus acerosus (Day tat thién), C cochinchinensis (Thién

môn đông) Các loài cỏ thuộc họ Cyperaceae (C6i) cé Bulbostylis barbata (Chat), Cyperus

bulbosus (Ci ch), C dubius (Bac dau ngd), C radian (Cit xa), C uncinatus (U du móc), Fimbristylis adenolepsis (Mao thu vay cé tuyén), F argentea (Mao thu bac), F eragrostis

(Mao thu tinh thao), F lasiophylla (Mao thu langs), F pauciflora (Cd léng bd), F quiquangularis (Mao thư năm canh, Quan xanh), F sericea (Mao thu to), F subspicata

(Mao thu gié), Schoenus calostachyus (Son to); ho Liliaceae (Hanh): Gloriosa superba

(Ngét nghéo); ho Poaceae (Hoa thao): Cenchrus brownii (Cudéc), Chrysopogon orientalis (Cỏ may déng), Digitaria barbata (Tic hinh hai simg), Eragrostis ciliaris (Tinh thao ria),

E pilosa (Tinh thao long), E tremula (Tinh thao rung), Eremochla ciliaris (Ban thao ria),

Eriachne pallescens (Mao tai), Hyparrhenia capitata, Ischaemum muticum (Mém trui) va một số cây cỏ họ Fabaceae (Đậu)

Các cây có lá hay thân mọng nước moc rai rác trong trảng cỏ có Nopalea cochenellifera (Tay citi), Opuntia dillenii (Vợt gai), Euphorbia antiquorum (Xương rông), Calotropis gigantea (Bong bòng, lá to có phủ lớp lông bạc, rát đặc trưng ở khu vực khô

hạn), cỏ cứng dạng bụi như Triưnyferta grandidens (Gai đầu răng to) cũng rất phổ biến và mọc bò trên cát

39

Trang 40

Tại các chân đổi cát đỏ, đất ẩm, có quần xã cỏ cao 1-1,5m khá thuần loai Leonotis nepetaefolia (Sư nhì) họ Lamiaceae (Bạc hà), một loại cỏ nhất niên với cụm hoa hình chuỳ

to ở các đốt rất lạ mắt, đễ nhận

- Trảng cô thứ sinh trên các bãi cát trắng bằng phẳng thấp:

Trên cát trắng ở Quảng Trạch (Quảng Bình) có trắng cỏ thấp 20-50 cm, che phủ 60-

80 %, ưu thế Še/aria sp (Có sâu róm, mẫu T5), Chrysopogon orientalis (CO may đông, mẫu T6) Vào mùa khô, các cây cỏ héo úa thấy rõ lớp cát trắng Trảng cỏ phân bố ở trung tâm khối cát với độ rộng vài km trông giống như một đồng cỏ (prêri) Nguồn gốc trắng cỏ:

chúng là các cây cỏ dưới rú Tràm trước kia Vùng ven khối cát còn sót lại các cây Tràm

nhỏ mọc thưa thớt nhưng ở trung tâm khối cát cỏ mọc hầu như thuần loại không thấy có Tràm Có thể chúng không thể tái sinh được đo đất cát khô chứ không do người khai thác

Sự hiện diện của Cỏ may đông thành các đám trong đồng cỏ chứng tỏ cát còn đi động ở một số điểm do tác động đào bới của con người

Trên cất có tầng mỏng nằm trên tầng kết von (giàu Fe) ở Ba Ngồi có trắng cỏ

Heteropogon contortus (Di thao van), Asparagus cochinchinensis (Thong thién) moc 14n cd

cac cay bui Gardenia obtusifolia, Zizyphus Combretum, Buchanania

Trong khu vuc Vinh Hao, trén cat hat min , phang cé trang cd Perotis indica (Thién nhi An Độ) cao 10-20 cm, mọc dày đặc, xen kẽ với các cây bụi như Acacia leucophiloea

(Keo trang), Cathormian wmbellatum (Keo chuỗi), Euphorbia tirucale (Xương cá) và các

cây trong họ Cataceae (Xương rồng)

Trên các bãi cát khá bằng phẳng ở Tuy Phong, ngập nước một thời gian ngắn sau khi mưa có trảng cỏ cao 0,3-0,5m, với ưu thế của Rhynchelytrưm repens (Hồng nhung)

- Trảng cỏ thứ sinh trên các bãi cát cao hay dun cat thấp:

Trên các bãi cát trắng cao độ cao tương đối khoảng 5 m, ven Tràm Bàu Bàng (Thừa Thiên- Huế), có trảng cỏ cao 10-20 cm, mọc tương đối dày 40-60%, phân bố thành các

"mảng nhỏ xen vào trắng cay bụi, gồm các loài cổ Eragrostis alapecuroides (Tình thảo cát),

E tremula (Tinh thao rung) moc gần như thuần loại các loài khác như Digitaria barbata

(Túc hình 2 sừng), D heterantha (Túc hình dị hoa) chỉ có số lượng không đáng kể Kích thước của bãi cỏ không rộng, khoảng vài chục mét, bao quanh bởi trảng cây bụi Có thể đất cát này đã được canh tác một thời gian sau đó bỏ hoang

Theo mô tả của Schmid (1974), trên các đụn cát ở khu vực Nha Trang có trắng cỏ

trong hai họ Cyperaceae (họ Cói) và Poaceae (họ Hoà thảo) với các hình thái sống khô điển

hình: thân cứng, lá có lông, nhỏ, hệ rễ phát triển Nhiều loài là cô nhất niên Các loài thường thấy các loài cỏ trong họ Cyperaceae nhu Cyperus radicans (Ci xa), Fimbritylis

pauciflora (CO lông bò), Ƒ sericea (Mao thư tơ), F subspicara (Mao thư giê), F lasiophylla (Mao thu lang), Bulbostylis barbata (Chat râu) , các cây cô họ Poaceae (Hoà thảo) có Eremochioa củiaris (Bản thảo tìa), Chrysopogon oriemalis (Cô may đông),

Germainia schmidiana (Gét mén)

Trên các bãi san hô vụn ở Khánh Nhơn (Đông Bắc Phan Rang) có trắng cô

Arthocnenum indicum (Diêm giác) cao 0,3m, che phủ kín Loài này có thân mập, các lá

Ngày đăng: 14/05/2014, 21:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm