Phương pháp tiến hành Nghiên cứu sinh học của cây TNTG: được tiến hành theo phương pháp nghiên cứu sinh học của thực vật nói chung và của cỏ dại nói riêng thông qua kỹ thuật quan sát và
Trang 1Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Viện khoa học nông nghiệp việt nam
Báo cáo tổng kết chuyên đề
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái
quan trọng của cây trinh nữ thân gỗ
tại việt nam
Thuộc đề tài độc lập cấp nhà nước Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ (mimosa pigra l.) ở việt nam
Mã số: ĐTĐL – 2005/02
Chủ nhiệm đề tài: TS nguyễn hồng sơn
6463-3
15/8/2007
hà nội- 2007
Trang 2Chuyên đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái quan trọng của cây TNTG tại Việt Nam
1 Đặt vấn đề
Tìm hiểu đặc điểm sinh học sinh thái của cây trinh nữ thân gỗ là một nội dung rất quan trọng trong công tác phòng trừ cũng như nhằm ngăn chặn sự xâm lấn của cây trinh
nữ thân gỗ tại Việt Nam Trong khuôn khổ của đề tài: “ Nghiên cứu các biện pháp
tổng hợp phòng trừ cây Trinh nữ thân gỗ (Mimosa pigra L.) ở Việt Nam” chúng tôi
tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm quan trọng về sinh học, sinh thái của cây trinh nữ thân gỗ tại Việt Nam
2 Mục đích
Phân tích được một số đặc điểm sinh học, sinh thái quan trọng của cây trinh nữ thân gỗ tại Việt Nam nhằm giúp công tác nghiên cứu phòng trừ và ngặn chặn sớm loài thực vật ngoại lai này
3 Phương pháp tiến hành
Nghiên cứu sinh học của cây TNTG: được tiến hành theo phương pháp nghiên cứu sinh học của thực vật nói chung và của cỏ dại nói riêng thông qua kỹ thuật quan sát và đo đếm các chỉ tiêu sinh vật học cơ bản như tốc độ tăng trưởng chiều cao, tốc độ ra lá, phân nhánh, diện tích che phủ, đường kính thân, khả năng sinh sản, đặc điểm ngủ nghỉ và sức sống của hạt trong đất v.v…Đặc biệt chú trọng
đến phương pháp lấy phẫu diện để điều tra nguồn hạt trong đất, từ đó xác định đặc
điểm và nguồn lây lan của cây TNTG
Các nghiên cứu về sinh thái học được tiến hành thông qua đánh giá khả năng phát tán, sinh trưởng, phát triển của cây TNTG ở các vị trí có những đặc điểm sinh thái khác nhau đặc biệt là so sánh giữa những vùng ngập nước với vùng khô cạn, vùng đất canh tác thường xuyên với vùng hoang hoá, các vùng đất khác nhau
về thành phần cơ giới và dinh dưỡng v.v… Từ đó đánh giá những yếu tố thuận lợi hay bất lợi cho sự lây lan, phát triển của cây trinh nữ thân gỗ để có hướng kiểm soát chúng
4 Địa điểm nghiên cứu
(1) Vườn quốc gia Tràm Chim – Tam Nông – Đồng Tháp
(2) Vườn quốc gia Cát Tiên – Tân Phú - Đồng Nai
(3) Lưu vực sông La Ngà - Định Quán - Đồng Nai
(4) Lòng hồ thuỷ điện Hoà Bình
(5) Lòng hồ thuỷ điện Thác Bà - Yên Bình - Yên Bái
(6) Viện Bảo vệ thực vật – Từ Liêm – Hà Nội
5 Kết quả nghiên cứu
5.1 Đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nảy mầm của cây TNTG:
Nảy mầm là một quá trình quan trọng quyết định khả năng xâm nhiễm ban đầu
Trang 3của cây TNTG tại những vùng sinh thái nhất định Để xác định đặc tính ngủ nghỉ
và nảy mầm của hạt, chúng tôi đã tiến hành các thí nghiệm trong phòng nhằm khảo sát khả năng nảy mầm trong các điều kiện thí nghiệm và bảo quản khác nhau Vật liệu nghiên cứu là nguồn hạt TN được thu trong năm 2004, bảo quản trong điều kiện khô và vùi trong đất, sau đó tiến hành thử khả năng nảy mầm sau bảo quản 1, 3 , 5 và 7 tháng trong điều kiện nhiệt độ và ẩm độ khác nhau
Kết quả thí nghiệm cho thấy, trong khoảng nhiệt độ từ 15-40o C hạt TNTG đều hoàn toàn không nảy mầm khi bảo quản trong điều kiện khô ở tất cả các thời điểm bảo quản khác nhau (1, 3, 5 và 7 tháng) Tuy nhiên, khi xử
lý cưỡng bức ở điều kiện nhiệt độ cao (trên 45 và 500C) thì hạt có thể nảy mầm ngay sau khi thu, tỷ lệ nảy mầm sau khi xử lý nhiệt độ 15 ngày có thể
đạt TB là 13,7% Kết quả thí nghiệm có thể cho thấy rõ trong điều kiện bình thường, hạt TNTG đều xảy ra quá trình ngủ nghỉ sau khi rụng, nhưng khi xử
lý phá ngủ nghỉ cưỡng bức bằng tác nhân nhiệt độ, quá trình ngủ nghỉ có thể
bị phá vỡ Tuy nhiên, sau thời gian bảo quản 1, 3, 5 và 7 tháng, tỷ lệ nảy mầm của hạt trong điều kiện phá ngủ nghỉ bị giảm xuống rõ rệt
Ngược lại, với quá trình bảo quản khô, khi bảo quả hạt trong điều kiện vùi trong bùn và duy trì ngập nước thường xuyên, hạt TN có thể bắt đầu mọc mầm sau bảo quản 3 tháng ngay ở điều kiện nhiệt độ từ 25 đến 40 0C Trong khoảng nhiệt
độ này, tỷ lệ nảy mầm tăng khi nhiệt độ thí nghiệm tăng Thời gian bảo quản 5 tháng cho tỷ lệ nảy mầm cao nhất Khi nhiệt độ thấp dưới 200C, hạt TNTG hầu như không nảy mầm Trong điều kiện tăng nhiệt độ trên 40 0C, hạt TN cũng có thể mọc mầm ngay sau khi bảo quản 1 tháng (bảng 1)
Có thể quá trình ngủ nghỉ của hạt đã bị mất đi khi phần phôi đầu hạt bị thủng do vết xước cơ giới hay tác động của nhiệt, do đó việc đốt cây TNTG thường kích thích cho hạt nảy mầm nhiều hơn
Bảng 1: Khả năng nảy mầm của hạt TNTG trong các điều kiện bảo quản và nhiệt độ thí nghiệm khác nhau (TN trong phòng, Viện BVTV 2005)
Song song với việc tìm hiểu khả năng phá ngủ nghỉ của hạt bằng biệt pháp xử
lý nhiệt độ, các thí nghiệm thăm dò khả năng xử lý phá ngủ nghỉ bằng hoá chất cũng
đã được tiến hành Chúng tôi đã xử dụng Acid sulfuric ở các nồng độ xử lý 1/1000 kết qủa cho thấy khi xử lý acid ở nồng độ trên có thể phá ngủ nghỉ của hạt, do đó hạt có
Tỷ lệ nảy mầm (%) sau gieo 30 ngày
Bảo quản khô Vùi trong bùn ngâm ngập nước
Thời
gian
bảo quản
(tháng) 15 0 C
20
0 C
25
0 C
30
0 C
35
0 C
40
0 C
45
0 C
50
0 C
15
0 C
20
0 C
25
0 C
30
0 C
35
0 C
40
0 C
45
0 C
50
0 C
0 0 0 0 0 0 0 9,3 13,7 - - - -
1 0 0 0 0 0 0 7,3 7,7 0 0 0 0 0 0 8,3 12,0
3 0 0 0 0 0 0 5,0 6,0 0 0 0 0,3 1,3 1,3 9,7 13,3
5 0 0 0 0 0 0 4,7 5,3 0 0 3,3 4,3 4,0 4,7 9,7 13,7
7 0 0 0 0 0 0 4,7 5,7 0 0 2,3 3,0 3,7 3,3 7,0 11,0
Trang 4thể nảy mầm ngay sau thu Tuy nhiên, nếu sử dụng nguồn hạt đã được bảo quản sau
thu 1, 2 hay 3 tháng thì tỷ lệ nảy mầm vẫn không tăng lên được (bảng 2)
Qua các thí nghiệm xử lý phá ngủ nghỉ của hạt TNTG cũng cho thấy dù
trong điều kiện nào thì tỷ lệ nảy mầm của hạt cũng chỉ đạt thấp Nguyên nhân có
thể do mức độ thành thục về sinh lý của các hạt thu trên cùng một cây hay cùng
một đợt không đồng đều, do đó có nhiều hạt chưa thành thục hoàn toàn về mặt
sinh lý, dẫn đến mất sức nảy mầm ngay cả khi không trải qua quá trình ngủ nghỉ
hay phá ngủ nghỉ một cách cưỡng bức
Kết quả bảng 2 cũng cho thấy, khi xử lý bằng nhiệt độ thì tỷ lệ nảy mầm đạt
cao nhất ngay sau thu, sau khi đã qua quá trình bảo quản, tỷ lệ nảy mầm bị giảm
dần Nhưng khi xử lý bằng nhiệt độ thì tỷ lệ nảy mầm hầu như ít có sự biến động
khi sử dụng các nguồn hạt đã được bảo quản ở các thời gian khác nhau
Bảng 2 Hiệu quả phá ngủ nghỉ của hạt TNTG bằng tác nhân nhiệt độ và hoá chất
(TN trong phòng, Viện BVTV – 2005)
Thời gian bảo quản
của hạt (tháng)
Tỷ lệ nảy mầm khi xử
lý ở nhiệt độ 50 o C
Tỷ lệ nảy mầm khi xử bằng H2SO4 (1%o)
0 13,7 7,3
1 7,7 8,7
2 7,0 9,7
3 6,0 9,0
Ghi chú: Nguồn hạt TN được bảo quản trong điều kiện bảo quản khô
Bảng 3: Khả năng nảy mầm của hạt TNTG ngày trong các điều kiện
ẩm độ thí nghiệm khác nhau
(TN trong chậu vại, Viện BVTV 2005)
Mực nước thí nghiệm
(cm)
Thời gian mọc sau gieo
(ngày)
Tỷ lệ nảy mầm
(%)
Tuy nhiên, qua quan sát cũng như thí nghiệm cho thấy, khả năng nảy mầm
của hạt TN phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện ngoại cảnh như ẩm độ đất hay
cường độ ánh sáng Qua kết quả thí nghiệm trong phòng với nguồn hạt TNTG
được bảo quản trong điều kiện ngâm vào bùn và ngập nước sau khi thu 5 tháng cho
Trang 5thấy, tỷ lệ nảy mầm của hạt đạt cao nhất (4,7%) trong điều kiện khay thí nghiệm
được giữ đủ ẩm, không bị ngập nước Trong điều kiện không đủ ẩm hay bị ngập nước, thời gian nảy mầm kéo dài và tỷ lệ nảy mầm bị giảm đi Khi ngập nước 5 - 7cm, thời gian bắt đầu nảy mầm có thể kéo dài đến 17 ngày sau gieo và tỷ lệ nảy mầm giảm từ 4,7 xuống 1,0 và 0,3% Khi mực nước thí nghiệm được duy trì trên
10 cm, hạt hoàn toàn không nảy mầm (bảng 3)
Quan sát ngoài đồng ruộng chúng tôi cũng nhận thấy, khả năng nảy mầm của hạt TN phụ thuộc rất nhiều vào chế độ nước Trong cùng một khu vực thí nghiệm nhưng tại những vị trí cao không ngập nước, hạt TN nẩy mầm rất nhiều, mật độ cây con có thể nên tới 98,8 cây/ m2, trong khi đó tại khu vực trũng (lòng chảo), tỷ lệ nảy mầm bị giảm rõ rệt Tại những vị trí có mực nước từ 1 – 2cm mật
độ cây chỉ đạt 12,8 cây/ m2, những nơi mực nước từ 3 – 5 cm mật độ cây chỉ 3,5 cây/ m2 còn ở đáy lòng chảo nơi có mực nước trên 9cm thì hầu như không thấy sự
có mặt của cây TN mới mọc (Bảng 4)
Bảng 4: ảnh hưởng của mực nước đến khả năng nảy mầm của cây TN
(Quan sát thực địa tại Tràm Chim, Cát Tiên và Yên Bình – Yên Bái)
STT Mực nước (cm) Mật độ (cây/ m 2 )
Bên cạnh yếu tố ẩm độ, cường độ ánh sáng cũng có ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ
lệ nảy mầm cuả hạt TNTG Qua quan sát tại những ô thí nghiệm có diện tích che phủ của cây TN trưởng thành khác nhau chúng tôi thấy mật độ cây con mọc ở tầng dưới có sự biến động rất lớn và tương quan rất chặt chẽ với diện tích che phủ của tầng tán bên trên Tại Yên Bái, cùng diện tích bị nhiễm cây TNTG như nhau nhưng
ở những khu vực cây sinh trưởng kém, diện tích che phủ chỉ đạt dưới 20% thì mật
độ cây con mới mọc trong năm 2005 lên tới 128,2 cây/ m2, trong khi đó, tại những
vị trí bị che phủ từ 20-50%, mật độ cây con là 96,4 cây/ m2; 51-80% là 40,7 cây/ m2 và trên 80% là 24,0 cây/ m2 (bảng 5)
Bảng 5: Khả năng mọc mầm của cây TNTG tại những vị trí có diện tích
che phủ của cây trưởng thành khác nhau
(Quan sát tại Tràm Chim và Yên Bình – Yên Bái, 2005)
Mật độ cây con (cây/ m2) Diện tích che phủ
Trang 6Tại Tràm Chim, do lớp đất mặt nhanh chóng bị chai cứng sau khi nước rút, nên mật độ cây con thấp hơn so với Yên Bái nhưng tại những vị trí có diện tích che phủ của cây TN khác nhau, mật độ cây con cũng có sự biến động rõ rệt
Trong quá trình quan sát cũng cho thấy, khả năng nảy mầm của hạt trong
điều kiện bị các thảm thực vật trên bề mặt che phủ giảm đáng kể so với điều kiện
bề mặt đất không có thảm thực vật che phủ Tại một số vùng đất canh tác, nếu ở
đầu vụ ngay sau nước rút nông dân có thể tranh thủ trồng các loại cây trồng như lúa, ngô, mía, lạc hay khoai lang thì mật độ cây con sau 1-2 tháng giảm đi rõ rệt so với điều kiện đất trống
5.2 Một số chỉ tiêu sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây TNTG
5.2.1 Chiều cao cây
Ngay sau khi mọc, cây TNTG tăng trưởng chiều cao rất nhanh, sau 7 ngày, chiều cao TB của cây từ 2,8-4,3cm; sau sau 1 tháng cây có thể cao tới 19,5-25,3 cm; sau 2 tháng đạt 35,5-40,6cm Trong suốt 6 tháng mùa khô, kích thước chiều cao của cây con có thể đạt từ 84,2-119,6cm Qua theo dõi động thái tăng trưởng chiều cao ở bảng 6 cũng cho thấy, trong điều kiện phía Nam, tăng trưởng chiều cao cây giai đoạn đầu nhanh hơn khu vực phía Bắc Nguyên nhân là do giai đoạn sinh trưởng ban đầu của các tỉnh phía Bắc trùng vào các tháng mùa đông, nên tốc độ tăng trưởng chiều cao chậm hơn Chiều cao đạt được sau 180 ngày ở 3 điểm phía Nam cũng cao hơn so với các tỉnh phía Bắc
Bảng 6: Động thái tăng trưởng chiều cao cây mới mọc tại các điểm theo dõi
Chiều cao cây (cm)
Địa điểm
theo dõi 7NS
M
15NS
M
30NS
M
60NS
M
90NS
M
120NS
M
150NS
M
180NS
M
Hoà Bình 2,5 6,6 15,6 32,4 46,8 57,3 69,1 84,2
La Ngà 3,3 8,4 20,2 38,5 58,1 80,2 94,6 111,4 Tràm
Cát Tiên 4,3 12,4 25,3 40,6 67,2 87,5 102,8 119,6
Ghi chú: NSM – Ngày sau mọc
Chiều cao cây TNTG ở các năm tiếp theo phụ thuộc rất nhiều vào tuổi cây, mật độ cây cũng như điều kiện sinh thái đặc biệt là chế độ nước ở từng vùng sinh thái
Sau khi kết thúc mùa khô, cây TNTG vẫn tiếp tục tăng trưởng chiều cao trong mùa mưa thậm chí trong điều kiện ngập nước Sự gia tăng này không phải là vô hạn nhưng thông thường, khi nước dâng cao, cây cũng tăng dần chiều cao để vượt qua mặt nước Sau 1 năm tuổi chiều cao ở các điểm theo dõi
có thể đạt từ 117-167cm, các cây 2-3 năm tuổi có thể đạt 186-225cm, cây 4-5 năm tuổi có thể đạt 237-300cm và cây trên năm tuổi có thể đạt 304-360cm
Trang 7Lúc này cây rất ít tăng trưởng về chiều cao, tuy nhiên tại nhiều vùng ngập nước thường xuyên, cây thường kết thành bè và chiều cao có thể kéo dài đến
400 thậm chí trên 500cm
Qua điều tra cũng cho thấy, trong điều kiện nhiệt độ cao ở các tỉnh phía Nam như khu vực Tràm Chim, Cát Tiên hay lưu vực sông La Ngà, chiều cao cây ở từng độ tuổi có thể đạt cao hơn các khu vực lòng hồ phía Bắc từ 40-60cm (bảng 7)
Bảng 7: Chiều cao cây TNTG tại một số vùng sinh thái khác nhau
Chiều cao ở các khu vực điều tra (cm)*
Tuổi cây
Lòng hồ Vườn quốc gia Lưu vực sông La Ngà
Ghi chú: * Số liệu thu thập từ các vùng bán ngập
Tuy nhiên, ở tất cả các khu vực điều tra, chiều cao cây trong cùng một vùng
bị xâm nhiễm cũng không có sự đồng nhất Nguyên nhân có thể là do đặc tính nảy mầm không đồng đều của hạt nên nhiều cây có điều kiện nảy mầm trước thường sinh trưởng, phát triển tốt hơn và lấn át các cây khác Quan sát tất cả các khu vực
điều tra đều cho thấy, trong cùng một khu vực xâm nhiễm, chiều cao cây TNTG có thể biến động rất lớn (từ <0,5 m - > 3,0m) – bảng 8
Bảng 8 Biến động chiều cao cây TNTG tại một số khu vực bị xâm nhiễm
Tỷ lệ cây ở các chiều cao tương ứng (%)
Địa điểm
điều tra <0,5m
0,5-1,0m
1,0-1,5m
1,5-2,0m
2,0-2,5m
2,5-3,0m
>3,0m
Tràm Chim
Cát Tiên
La Ngà 6,40 8,70 15,51 13,24 18,72 16,90 20,50 Hoà Bình 8,03 17,72 18,06 14,71 13,71 14,72 13,04 Thác Bà 10,28 10,28 14,95 14,95 24,3 10,28 14,95
TB
Bảng 9 Sự phân bố tuổi cây tại một số khu vực bị xâm nhiễm cây TNTG
Tỷ lệ cây ở các tuổi (%)
Điểm khảo
sát
Mật độ (cây/ m2) 1 năm 2-3 năm 4-5 năm > 5 năm
Trang 8Một nguyên nhân nữa có thể do trong cùng một diện tích bị xâm nhiễm nhưng tồn tại nhiều tuổi cây khác nhau Qua quan sát cho thấy, trong nhiều khu vực đã bị xâm lấn nhưng nếu chưa bị che phủ hoàn toàn thì cây con vẫn tiếp tục mọc, do đó có thể tồn tại nhiều tuổi cây khác nhau (bảng 9)
Qua điều tra cũng cho thấy, chiều cao cũng phụ thuộc rất rõ rệt vào điều kiện sinh trưởng phát triển ở từng vùng, trong đó điều kiện ngập nước có ảnh hưởng rất lớn đến sự tăng trưởng chiều cao Những cây TNTG mọc trong điều kiện khô hạn như bờ kênh, gò cao hay ven đường không bị ngập nước thì chiều cao cây thường thấp hơn ở các vùng bán ngập hay thường xuyên ngập nước Trong điều kiện thường xuyên ngập nước như các lạch nước, khu vực giữ nước của vườn quốc gia hay các vùng đất trũng ở lòng hồ thì cây thường vươn cao hơn rõ rệt (bảng 10)
Bảng 10: ảnh hưởng của chế độ nước tới chiều cao cây cây TNTG tại một số
vùng sinh thái khác nhau
Chiều cao cây (cm)
Tại vườn Tràm Chim Tại khu vực lòng hồ thuỷ điện
Tuổi cây Vùng
không ngập nước
Vùng bán ngập
Vùng ngập thường xuyên
Vùng không ngập nước
Vùng bán ngập
Vùng ngập thường xuyên
2 – 3 năm 198,1 225,5 255,5 165,9 186,5 213,7
> 5 năm 340,5 360,5 371,8 275,6 304,7 345,3
5.2.2 Đường kính thân cây
Là một chỉ tiêu sinh trưởng có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình cạnh trạnh dinh dưỡng, che phủ và sản sinh hạt của cây TNTG Cũng như chỉ tiêu chiều cao cây,
đường kính thân cây TNTG phụ thuộc rất nhiều vào tuổi cây và điều kiện sinh thái
đặc biệt là tình trạng ngập nước ở khu vực xâm nhiễm Trong điều kiện bình thường, cây TNTG sống trong điều kiện bán ngập ở vùng lòng hồ có thể đạt đường kính TB là 0,69cm sau 1 năm tuổi, sau 2-3 năm đường kính có thể đạt 1,16 cm, sau 4-5 năm đạt 1,70 cm và cây trên 5 năm tuổi có đường kính khoảng 2,12cm Tại khu vực vườn quốc gia hay lưu vực sông La Ngà, đường kính thân cây cao hơn rõ rệt so với các vùng lòng hồ phía Bắc, đặc biệt các cây trên 5 tuổi ở lưu vực sông La Ngà có thể đạt
đường kính tới 5,12 cm
Ngược với chỉ tiêu chiều cao cây, trong điều kiện ngập nước, đường kính thân cây giảm so với trong điều kiện bán ngập hay khô hạn Có thể sự tăng trưởng
về chiều cao để thích nghi với điều kiện ngập nước đã hạn chế khả năng tăng trưởng về đường kính thân cây TNTG (bảng 11)
Trang 9Bảng 11 Đường kính thân cây TNTG (cm) ở các tuổi cây và điều kiện ngập
nước khác nhau
Vùng lòng hồ phía Bắc Vườn quốc gia
Lưu vực sông La Ngà Tuổi
cây
Vùng
không
ngập
nước
Vùng bán ngập
Vùng ngập thường xuyên
Vùng không ngập nước
Vùng bán ngập
Vùng ngập thường xuyên
Vùng không ngập nước
Vùng bán ngập
Vùng ngập thường xuyên
1 năm 0,75 0,69 0,48 1,18 1,02 0,85 1,35 1,22 1,06 2–3 năm 1,32 1,16 0,86 2,03 1,98 1,57 2,45 2,30 2,03 4-5 năm 1,91 1,70 1,58 2,81 2,63 2,40 3,84 3,66 3,26
>5 năm 2,33 2,12 1,84 3,55 3,45 3,21 5,12 4,70 3,94
5.2.3 Khả năng phân nhánh của cây TNTG
Đây là một đặc điểm quan trọng giúp cho cây tăng trưởng sinh khối và diện tích che phủ Thông thường trong năm thứ nhất cây TNTG không phân nhánh Kể
từ năm thứ hai trở đi, cây bắt đầu phân nhánh Trong điều kiện không ngập nước cây có thể phân nhánh ngay ở phần gốc, cách mặt đất 10-15 cm, nhưng trong điều kiện ngập nước, vị trí phân nhánh thường cao hơn tuỳ thuộc vào mực nước Thông thường, sau mùa khô năm thứ nhất cây cao khoảng 1m, khi bị ngập nước phần ngọn cây bị trùn xuống thậm chí bị chết Sau mùa nước rút, cây bị đình trệ sinh trưởng ngọn và bắt đầu mọc chồi nách cách mặt đất từ 80-120cm
Bảng 12: Số nhánh/ thân chính và chiều dài nhánh tại một số vùng sinh thái
Số nhánh/ thân chính Chiều dài nhánh (cm) Tuổi
cây
(năm)
Vùng không ngập nước
Vùng bán ngập
Vùng ngập thường xuyên
Vùng không ngập nước
Vùng bán ngập
Vùng ngập thường xuyên
Đặc điểm và khả năng phân nhánh của cây không có sự khác biệt lớn giữa các vùng sinh thái khác nhau mà chủ yếu biến động theo điều kiện ngập nước Trong điều kiện không ngập nước, số nhánh cấp 1 cao hơn rõ rệt so với cây mọc trong điều kiện bán ngập hay ngập nước thường xuyên Tuy nhiên, trong điều kiện bán ngập, cây TNTG cũng bắt đầu mọc nhánh từ phần gần sát gốc như điều kiện khô hạn nhưng nhánh cây nhanh vươn dài để thích nghi với điều kiện ngập nước nên nhánh thường
Trang 10dài hơn nhánh của cây mọc trong điũu kiện khô hạn Còn trong điều kiện ngập nước thường xuyên, do nhánh mọc xa phần gốc, trong khi đó đường kính thân chính lại nhỏ nên nhánh cấp 1 thường khẳng khiu và ngắn hơn (bảng 12)
5.2.4 Động thái ra lá của cây TNTG
Sau khi nảy mầm, cây TNTG bắt đầu hình thành 2 lá mầm Giai đoạn này kéo dài khoảng 3-5 ngày, đến 7 ngày sau mọc cây bắt đầu xuất hiện lá thật đầu tiên Sau mọc 14 ngày, cây ra lá thứ hai, 30 ngày ra lá thứ ba và 90 ngày cây ra
được 5 lá Tốc độ ra lá chậm dần và sau 90 ngày cây ra TB khoảng 5 cành lá Trên mỗi lá ban đầu thường hình thành 3-5 cặp lá kép lông chim, số cặp lá kép lông chim mọc từ các lá ra sau tăng dần và lá thứ 5 có (mọc sau 90 ngày) có thể có 5 cặp lá kép lông chim Tương tự như vậy, số cặp lá chét con trên mỗi lá kép lông chim cũng tăng dần từ lá thứ nhất (6 cặp) lên 18 cặp sau ở lá thứ 5 (bảng 13) Sau năm thứ nhất, số lá chính tiếp tục mọc ra theo sự tăng trưởng chiều cao cây Trung bình khi chiều cao tăng thêm 20-25 cm cây lại ra 1 lá mới Số lá chính trên thân
có thể đạt tối đa 25 lá
Khác với số lá chính, các chỉ tiêu về số cặp lá kép lông chim và lá chép có thể đạt tối đa sau khi cây đạt 2-3 năm tuổi Lúc này, số cặp lá kép lông chim ở khu vực lòng hồ phía Bắc có thể đạt trung bình là 7,8 cặp, số cặp lá chét con là 37,8, chiều dài lá chính là 16,3cm và chiều dài lá kép lông chim là 6,5 cm Trong điều kiện các vườn quốc gia ở phía Nam, các chỉ tiêu này cũng đạt xấp xỉ với các giá trị tương ứng là 9,0 cặp lá kép, 39,3 cặp lá chét con; dài lá chính là 17,0 cm và dài lá kép lông chim là 6,5 cm (bảng 16)
Bảng 13: Động thái ra lá của cây TNTG sau mọc
Số lá mọc sau nảy mầm Loại lá
7 ngày 14 ngày 30 ngày 60 ngày 90 ngày
5.2.5 Trọng lượng sinh khối ở một số độ tuổi khác nhau
Nhìn chung TLSK của cây TNTG phụ thuộc rất nhiều vào tuổi cây, diện tích che phủ, chiều cao cây và đường kính thân Tuy nhiên, đối với cây 1 năm tuổi tương đương với đường kính thân TB khoảng 1,05cm và chiều cao khoảng 130,2 cm thì TLSK tươi là 0,23kg/ cây và TLSK khô là 0,14kg/ cây Với cây 2
-3 năm tuổi đường kính TB xấp xỉ 2cm và chiều cao cây là 210,7 cm thì TLSK tươi đạt 0,37 kg/ cây và TLSK khô là 0,28/ câykg Đối với cây TNTG từ 4-5 tuổi
có đường kính TB khoảng 2,55 cm, chiều cao khoảng 269,3 cm thì TLSK tươi
đạt 0,5kg/ cây và TLSK khô là 0,34kg/ cây, còn cây trên 5 năm tuổi với chiều dài khoảng 323,5cm và đường kính thân xấp xỉ 3, 25cm thì TLSK tươi là 0,61kg / cây và TLSK khô là 0,48 kg/ cây (bảng 14) Qua theo dõi cũng cho thấy, với các cây có cùng độ tuổi và kích thước thì TLSK không có sự khác biệt giữa các khu vực nghiên cứu