1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ (mimosa pigral ) ở việt nam.

180 1,4K 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp phòng trừ cây Trinh nữ thân gỗ (Mimosa pigra) ở Việt Nam
Tác giả Nhóm tác giả
Trường học Viện Khoa Học Nông Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Khoa Học Các loại Cây Trồng và Nông nghiệp
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài độc lập cấp nhà nước
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 180
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu cụ thể - Có được báo cáo khoa học phân tích hiện trạng xâm lấn và thiệt hại đối với kinh tế, môi trường do cây TNTG gây ra ở các vùng sinh thái khác nhau; phân tích được các yế

Trang 1

Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn

Viện khoa học nông nghiệp việt nam

Báo cáo tổng kết đề tài độc lập cấp nhà nước

Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp

Trang 2

Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp phòng trừ cây

Trinh nữ thân gỗ (Mimosa pigra L.) ở việt nam

I Đặt vấn đề

Cây trinh nữ thân gỗ (TNTG) Mimosa pigra L còn được gọi là cây trinh

nữ nhọn, cây mắt mèo, cây xấu hổ hay cây mai dương, là loài thực vật ngoại lai

có nguồn gốc từ Trung Mỹ và Nam Mỹ (Lewin và Elias, 1981) Do có khả năng sinh trưởng, phát triển và phát tán ra quần thể rất lớn, nó được xếp vào loài cỏ dại nguy hiểm thứ 3 trên thế giới và nằm trong danh sách 100 loài sinh vật gây hại nguy hiểm nhất đối với hầu hết các Quốc gia đặc biệt là các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới Nhiều nước trên thế giới đặc biệt là các nước Châu Phi, Châu úc

và khu vực Đông Nam á đã gặp nhiều khó khăn và tốn kém trong việc đối phó với loài thực vật ngoại lai này Chỉ riêng ở phía Bắc của Châu úc, chi phí cho kiểm soát chúng trong năm 1996-1997 là 11,4 triệu đô la, và năm 1997-1998 là 16,6 triệu đô la (Walden et al 2000)

ở nước ta, cây TNTG đã xâm nhập từ lâu nhưng chỉ mới thực sự bắt đầu phát tán vào thập kỷ 60 Trong những năm gần đây, chúng đã phát triển khá nhanh

và có mặt ở hầu hết các địa phương trong cả nước Đặc biệt tại các vùng bán ngập thuộc đồng bằng sông Cửu Long, các khu vực lòng hồ thuỷ điện như Trị An, Thác

Bà, Hoà Bình v.v , chúng mọc dày tạo thành những vành đai rộng lớn và trở thành

đối tượng cỏ dại nguy hiểm khó phòng trừ, gây ảnh hưởng lớn cho sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng tới cảnh quan và môi trường Mặc dù vấn nạn về cây TNTG đã

được nhiều phương tiện thông tin đại chúng đăng tải nhưng cho đến nay vẫn chưa

có được giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn sự lây lan của chúng

Trước nguy cơ gia tăng mức độ xâm lấn và gây hại của cây TNTG ở các vùng bán ngập đặc biệt là vườn quốc gia như Tràm Chim, trong năm 2000, Trường Đại học Khoa Học Tự Nhiên TP Hồ Chí Minh và Trường Đại học Cần Thơ đã phối hợp với vườn Quốc gia Tràm Chim bắt đầu điều tra mức độ phát sinh, gây hại và đề xuất một số biện pháp phòng trừ cây TNTG Trong 2 năm

Trang 3

2001-2002, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã giao cho Viện Bảo vệ thực vật thực

hiện đề tài nghiên cứu: “Điều tra, đánh giá mức độ tác hại của cây TNTG ( Mimosa pigra) tại các vườn Quốc gia Tràm chim và Nam cát tiên và đề xuất các giải pháp nghiên cứu phòng trừ” Qua các kết quả nghiên cứu bước đầu có

thể khẳng định nguy cơ xâm lấn của cây TNTG đang ngày càng gia tăng ở vườn Quốc gia Tràm Chim và Nam Cát Tiên, vùng lòng Hồ Trị An, lưu vực sông La Ngà và có nguy cơ xâm lấn nhiều vùng đất canh tác thuộc đồng bằng sông Cửu Long cũng như các khu vực bán ngập khác Các biện pháp phòng trừ cây TNTG thủ công, cơ giới đều không mang lại hiệu quả cao, chi phí lớn và khó triển khai trên diện rộng Biện pháp hoá học tuy có hiệu quả cao, thực tiễn song cần được quan tâm đầy đủ đến các tác động tiêu cực của chúng đối với môi trường Đặc biệt các kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, không thể áp dụng một biện pháp phòng trừ đơn lẻ nào cho tất cả các vùng sinh thái mà cần có các giải pháp tổng hợp, đồng bộ và phù hợp với từng vùng sinh thái riêng biệt

Để bổ sung và hoàn chỉnh các kết quả nghiên cứu trên, đồng thời đưa ra

được quy trình phòng trừ tổng hợp cây TNTG cho từng vùng sinh thái cụ thể,

Bộ Khoa học & Công nghệ đã giao cho Viện Bảo vệ thực vật tiến hành nghiên

cứu đề tài: “Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp phòng trừ cây TNTG (Mimosa pigra L.) ở Việt Nam”

II Mục tiêu của đề tài

Mục tiêu chung

Đề xuất được các biện pháp tổng hợp nhằm ngăn chặn sự lây lan và kiểm

soát được sự phát triển của cây trinh nữ thân gỗ (Mimosa pigra) ở Việt nam

Mục tiêu cụ thể

- Có được báo cáo khoa học phân tích hiện trạng xâm lấn và thiệt hại đối với kinh tế, môi trường do cây TNTG gây ra ở các vùng sinh thái khác nhau; phân tích

được các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến quá trình phát sinh, phát triển của cây TNTG

để từ đó có cơ sở đưa ra các giải pháp phòng trừ phù hợp

- Đánh giá được hiệu quả kỹ thuật, kinh tế và tác động về mặt môi trường của từng biện pháp phòng trừ khi triển khai trên diện rộng để từ đó đề

Trang 4

xuất được các biện pháp ngăn chặn được sự lây lan và kiểm soát được sự phát triển của cây TNTG

- Xây dựng được các mô hình trình diễn phòng trừ tổng hợp cây TNTG

ở vườn Quốc gia Tràm Chim, vườn Cát Tiên, lưu vực sông La Ngà, lòng hồ Hoà Bình và lòng hồ Thác Bà

- Xây dựng được quy trình kỹ thuật phòng trừ tổng hợp cây TNTG đạt hiệu quả kinh tế, kỹ thuật và môi trường cao, đảm bảo ngăn chặn kịp thời và kiểm soát được nguy cơ xâm lấn của cây TNTG ở từng vùng địa lý, vùng sinh thái và các điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau

- Nâng cao được năng lực của các nhà nghiên cứu, quản lý và người dân trong việc kiểm soát sự xâm nhiễm và lây lan của cây TNTG ở các vùng sinh thái khác nhau

III Tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước

III.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về sinh học, sinh thái

và biện pháp phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ (TNTG), các kết quả nổi bật nhất

có thể tóm tắt như sau:

(1) Về đặc điểm sinh học: Cây trinh nữ thân gỗ (Mimosa pigra L.) thuộc họ Mimosaceae, lần đầu tiên được Linnaeus phân loại và mô tả vào năm

1759 như là một loài cây thân gỗ lâu năm, cao tới 5-6 m, có nhiều gai, nhiều

cành, rễ ăn sâu trong đất, rộng và xa tới 3,5 m tính từ gốc (Robert, 1982) Thân:

có màu xanh ở gốc nhưng khi già thì hoá gỗ, ban đầu có lớp lông mịn bao phủ

làm cho thân cây ráp, sau đó mọc nhiều gai con dài 5-10 cm Lá: Có hai lần lá

kép lông chim, khi chạm vào thì lá khép lại Lá dài 20-25 cm, màu xanh sáng, mỗi đốt lá có 10-15 cặp lá kép mọc đối xứng dài 5 cm Sống lá chét dài 3-12 cm,

có gai thẳng đứng, mảnh, ở giữa gốc của các cặp lá chét đôi khi có gai mọc lệch hoặc mọc chính giữa hai cặp lá Mỗi lá kép có rất nhiều cặp lá chét con, thuôn,

dài 3-8 mm, rộng 0,5-1,25 mm, mép lá có lông tơ Hoa: màu hồng, nhỏ, mọc

đều, nhiều hoa đơn hợp thành hoa đầu tự đường kính 1-2 cm Mỗi nách lá

thường có 2 hoa Đài nhỏ, xẻ không đều Quả: dài 3-8 cm có nhiều lông, chia

thành 10-20 khoang, mỗi khoang chứa một hạt, khi chín có màu nâu hay xanh

Trang 5

ôliu, thuôn dài 4-6 mm, rộng 2,2-2,6 mm Khi chín, các khoang tự tách ra khỏi quả và bay đi Một cây có thể sản sinh 9.000-220.000 hạt (Lonsdate, 1992), trung bình là 8.000 hạt/ tháng (Wanichanantakul & Chinawang, 1979) Quả khi chín thường không tách hạt ngay mà rụng thành từng đốt nằm trong vỏ quả Vỏ quả có nhiều lông nên nổi và trôi theo dòng nước đi rất xa Khi gặp điều kiện thuận lợi về nhiệt và ẩm độ, hạt tách ra khỏi vỏ quả và nảy mầm Hạt rất cứng, một số có thể nảy mầm ngay khi rụng, một số khác có thể nảy mầm sau 1-2 năm Nếu hạt bị nằm sâu trong đất có thể rơi vào tình trạng ngủ nghỉ tới hơn 20 năm Từ khi ra hoa đến khi quả chín khoảng 5 tuần

Cây TNTG có thể sinh sản bằng hạt nhưng cũng có thể mọc tái sinh từ các gốc sau khi bị chặt Trong điều kiện nhiệt độ ổn định, hạt trinh nữ có thể nảy mầm 2-3% ngay trong nước hay trên các vùng đất ẩm Nhờ có lớp vỏ cứng không thấm nước

mà quá trình ngủ nghỉ của hạt có thể kéo rất dài và hạt cũng có khả năng tồn tại rất lâu trong đất Phần lớn hạt nảy mầm trong điều kiện ẩm ướt, nhưng đôi khi chúng cũng có thể nảy mầm trong nước Tuy nhiên, việc duy trì ngập nước lâu dài sẽ làm giảm sức sống của hạt và làm cho chúng bị phân huỷ dần và mất khả năng nảy mầm Sau khi mọc, cây sinh trưởng rất nhanh, mọc nhiều nhánh và có thể ra hoa sau 4-12 tháng Sau 1 năm, đường kính thân có thể đạt tới 2,5 cm và sau hai năm đạt 7 cm Khả năng tái sinh của cây TNTG cũng rất cao, một cây mọc từ hạt có thể cao 2,51m

và tán lá đạt 6,3 m2 sau 12 tháng nhưng cây tái sinh từ gốc sau chặt có thể cao 2,6 m

và diện tích tán lá đạt 8 m2 (Parson và Cuthbertson, 1992)

(2) Đặc điểm sinh thái, phân bố, lây lan và tác hại: Cây TNTG có nguồn gốc

ở Trung và Nam Mỹ (Lewis & Elias, 1981), tại đó chúng phát triển thành vành đai kéo dài từ Mehico qua Trung Mỹ, Antilles, Columbia, Peru và Brazil tới phía bắc của Achentina (Lewis & Elias, 1981) Cây trinh nữ lần đầu tiên được du nhập vào các khu vực khác như một dạng cây cảnh hay cây che phủ đất, dần dần chúng đã phát tán theo dòng nước, xâm nhập vào hều hết các nước trên thế giới và trở thành đối tượng cỏ dại nguy hiểm ở các nước nhiệt đới Châu Phi, ấn Độ, Châu úc và khu vực Đông Nam á như miền Bắc Thái Lan, Philippine, Malaysia, Indonesia và Việt Nam Hiện nay, nó

được coi là loại cỏ dại nguy hiểm vào hàng thứ ba trên toàn thế giới Phần lớn cây này thường xâm lấn các vùng đất thấp, ngập nước theo mùa, quanh lòng hồ chứa nước, khu

Trang 6

có nguồn hạt tích luỹ đủ lớn, cây bắt đầu mọc lan rộng dần Sau đó, cây phát tán

và xâm nhiễm rất nặng ở vùng ngập nước thuộc lưu vực sông Mary và sông Alligator, tràn qua phía đông của sông Adelai Cùng với sự giao thoa trong hệ thống sông chằng chịt thuộc vùng thấp của bang Northern Territory, cây TNTG cũng bắt đầu phát tán và xâm nhiếm nặng ở các vùng đất bán ngập dọc theo sông Finniess và sông Daly, sau đó tràn qua phía tây nam của sông Adelai

Có thể nói trong thập kỷ 70 và 80, sự gia tăng về diện tích xâm nhiễm của cây TNTG xảy ra rất mặnh mẽ Có những vùng đất thuộc hạ lưu sông Adelai, trong năm 1978 chỉ lác đác có vài khóm TNTG mọc, nhưng chỉ ba năm sau (1981), cây đã che phủ kín cả một vùng rộng lớn (xem ảnh minh hoạ phần phụ lục)

Vào năm 1989, mặc dù đã được áp dụng các biện pháp phòng trừ nhưng cây TNTG đã xâm lấn trên diện tích là 80.000ha (tính theo diện tích đã bị che phủ hoàn toàn) Trên thực tế, diện tích các vùng đất có mặt của cây TN có thể lên tới hàng trăm nghìn km2(xem bản đồ phân bố của cây TNTG ở bang Northern Territory – phần phụ lục) Vào năm 1990, theo ảnh chụp từ trên không thì cây TNTG đã bao trùm trên diện tích 700km2 tính từ phía đông nam của Arnhemland

đến sông Phelp và chỉ còn cách vùng giáp gianh với bang Quensland chừng 100km

Vào năm 1947, Thái Lan đã nhập nội cây TNTG làm phân xanh và chống xói mòn đất nhưng nay đã trở thành cỏ dại nghiêm trọng ở Chiềng Mai, Pattaya, Hatyai Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp Thái Lan thì 23 trong số

74 tỉnh của Thái Lan đã bị nhiễm cây TNTG

Trang 7

ở Malaysia, cây TNTG bắt đầu xuất hiện ở bờ biển phía Đông của Kelantan vào năm 1982, chỉ trong vòng 1 năm sau nó đã lan sang các bang Penang, Johore và Selangor Hiện nay, cây TNTG đã xâm lấn vườn cọ dầu, các vùng đất nông nghiệp, đất trồng lúa ở Perlis và Kedah với diện tích khoảng 360.000 ha (Sivapragasam và CTV)

ở Indonesia, tối thiểu có 3.000 ha bị nhiễm cây TNTG Nó là mối đe doạ cho vùng phía Nam và phía Tây vùng hồ Rawa Pening Weedwatcher,1988 )

Theo các nhà nghiên cứu, cây TNTG có nhiều đặc điểm thích nghi và có lợi giúp chúng có thể nhanh chóng sinh trưởng, phát triển, lây lan và xâm nhiễm trên một vùng rộng lớn:

- Thứ nhất là: chúng có thể chịu đựng được môi trường yếm khí như những vùng đất thường xuyên ngập nước bằng cách mọc thêm rễ phụ ở phần sát với mặt nước (Miller et al, 1981)

- Thứ hai là: sau khi bị chặt, cây có thể nhanh chóng mọc tái sinh từ phần gốc sát mặt đất (Wani channatakul và Chinawong, 1979) Khi bị đốt, toàn

bộ lá có thể bị chết hay rụng nhưng có tới 90% số cây và 50% số hạt có thể tiếp tục mọc trở lại

- Cây con nhanh chóng đạt tới thời kỳ sinh trưởng sinh thực và có thể kết hạt ngay năm đầu tiên (Lonsdale et al, 1985) Mặt khác, trên vỏ quả có lớp lông dày đặc có thể giúp chúng bám vào cơ thể động vật, quần áo, hay trôi dạt theo dòng nước để phát tán đi xa

- Cây trinh nữ có thể ra nhiều hạt Mỗi cây có thể cho trung bình khoảng 220.000 hạt/ năm Thời gian tồn tại của hạt trong đất phụ thuộc vào độ sâu tầng

đất và thành phần cơ giới đất nhưng nhìn chung trong đất cát pha chúng có thể tồn tại được tới 23 năm (Pickering, 1992)

- Trong điều kiện thuận lợi, cây TNTG có thể sinh trưởng rất nhanh (1 cm/ ngày) và tốc độ xâm nhiễm có thể gấp đôi diện tích sau mỗi năm Cây cũng có thể chịu được điều kiện khô hạn

- Nhu cầu dinh dưỡng của cây TNTG rất thấp, nó có thể mọc ở mọi vùng đất do đó có độ dẻo sinh thái cao (Miller et al, 1983)

Trang 8

Sự giống nhau về khí hậu và thổ nhưỡng ở xứ bản địa với các nước nhập nội là yếu tố cơ bản giúp cho quá trình phát tán, lây lan và xâm nhiễm của cây TNTG ở nhiều nước trên thế giới (Ramakrisnan) Tại những vùng bị xâm lấn, loài thực vật ngoại lai này không chỉ gây tác hại nghiêm trọng đến kinh tế, xã hội mà còn gây nên tác động rất lớn về mặt sinh thái và môi trường

Trước hết, cây TNTG đã biến nhiều vùng đất canh tác thành đất hoang hoá, gây thiệt hại rất lớn đến đời sống kinh tế và xã hội của người dân địa phương ở úc, sự xâm lấn của cây TNTG đã cản trở người thổ dân gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với các vùng đất trống và nguồn nước; làm giảm các nguồn thực phẩm truyền thống sẵn có của người thổ dân như cá, rùa, chim trời Bên cạnh đó, cây TNTG cũng gây ra hàng loạt ảnh hưởng bất lợi cho người dân địa phương như ngăn cản quá trình giao thông và hoạt động canh tác, gây nhiễm độc nguồn nước sinh hoạt, ảnh hưởng đến dòng chảy nên ảnh hưởng đến các công trình thuỷ điện, giảm nguồn lợi từ các động vật thuỷ sinh như cá, tôm, cua (Mitchell & Gopal)

Thứ hai, chi phí cho công tác nghiên cứu và phòng trừ cây TNTG thường rất tốn kém Chỉ riêng ở phía Bắc của nước úc, chi phí cho nghiên cứu

và kiểm soát chúng trong năm 1996-1997 là 11,4 triệu đô la và năm 1997-1998

là 16,6 triệu đô la (Walden et al, 2000)

Thứ ba, tại những vùng bị xâm lấn, cây TNTG hầu như lấn át hoàn toàn hay làm giảm nghiêm trọng các quần xã thực vật bản địa, làm suy giảm quần xã động vật do thay đổi thảm thức ăn hay sự tấn công của bộ gai trên thân cây TNTG, từ đó đã làm thay đổi cơ bản hệ sinh thái bản địa, làm giảm đa dạng sinh học Cây TNTG cũng làm xáo trộn hệ sinh thái, tạo điều kiện cho nhiều loài thực vật ngoại lai khác xâm lấn, làm thay đổi chu trình sinh hoá, cấu trúc vật lý hay thành phần hoá học của đất ở bang Northern Territory– úc có ít nhất 80.000ha diện tích đồng cỏ tự nhiên của vùng đất ngập nước bị lấn át hoàn toàn bởi cây TNTG Đồng thời, sự xâm lấn của cây TNTG cũng phá vỡ sự bền vững về phạm vi và địa bàn cư trú của các loài vịt trời, ngỗng trời và nhiều loài chim nước khác; đa dạng sinh học của các vùng đất ngập nước ở úc cũng như

Trang 9

các quốc gia lân cận đang bị đe doạ nghiêm trọng; các loài thực vật quý hiếm

và các loài dễ bị tổn thương như cọ Ptychosperma bleeseri, rau mác Mononchoria hastata và một số loài hoa súng địa phương đang bị đe doạ và có

nguy cơ tiêu biến

Bên cạnh những ảnh hưởng tiêu cực, nếu được sử dụng một cách hợp lý thì cây TNTG cũng có những tác dụng nhất định như làm cây cảnh, cây phân xanh, cây phủ đất chống xói mòn, làm củi, làm thức ăn cho gia súc (trâu, dê v.v ), làm thuốc v.v Tuy nhiên, cho đến nay các nghiên cứu và kết quả ứng dụng cây TNTG vào mục đích kinh tế còn rất hạn chế (Miller, 2002)

(3) Các nghiên cứu về phòng trừ cây TNTG: cho đến nay, trên thế giới

đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ cây TNTG Chỉ trong vòng từ năm 1992 trở lại đây đã có 3 cuộc hội thảo Quốc tế chuyên bàn về vấn đề cây TNTG và các biện pháp phòng trừ chúng, song có thể khẳng

định rằng, không một biện pháp đơn lẻ nào có thể mang lại hiệu quả cao và triệt để trong việc phòng trừ cây TNTG Từ đó, nhiều biện pháp khác nhau đã

được khuyến cáo ứng dụng như biện pháp thủ công cơ giới như nhổ, chặt biện pháp đốt hay sử dụng thuốc trừ cỏ và biện pháp sinh học

* Biện pháp thủ công như cắt, nhổ thủ công bằng máy hay bằng tay được

áp dụng rất có hiệu quả Tuy nhiên, biện pháp nhổ bỏ chỉ có thể áp dụng được khi cây còn bé, mật độ chưa cao Ví dụ ở vườn Quốc gia Rakadu - Thái Lan người ta đã

áp dụng thành công biện pháp này để ngăn chặn sự xâm lấn của cây trinh nữ khi chúng còn mọc rải rác (Siriworakul & Schultz,1992) Biện pháp chặt đốn tuy có hiệu quả cao nhưng không triệt để vì cây có thể mọc tái sinh sau một thời gian ngắn Thậm chí, sau khi chặt, khả năng sinh trưởng và phát triển của cây còn tốt hơn cả khi mọc từ hạt Mặt khác, cả hai biện pháp này đều rất tốn kém vì cần nhiều nhân công lao động, do đó tính khả thi của 2 biện pháp này là rất thấp Khi cây trinh nữ lan tràn trên một diện tích rộng lớn

* Biện pháp đốt: thường chỉ cho hiệu quả cao với các cây còn nhỏ Đối với

cây trưởng thành, biện pháp này chỉ có tác dụng làm rụng bộ lá hay làm chết từng phần cành non, do vậy chúng thường chỉ được áp dụng sau khi cắt hay đã sử dụng thuốc trừ cỏ để làm tăng tỷ lệ chết của cây trinh nữ (Miller, 1990) Tuy nhiên, khi áp

Trang 10

dụng biện pháp này thường làm cho đặc tính ngủ nghỉ của hạt bị phá vỡ do đó kích thích cho hạt nảy mầm nhiều hơn và khả năng xâm nhiễm cũng trở nên cao hơn Bên cạnh đó cũng có thể xảy ra rủi ro cháy rừng khi triển khai trên diện rộng

* Biện pháp hoá học: đã được sử dụng trừ trinh nữ thân gỗ ở Mexico,

Costa-Rica, Australia và Thái Lan vào những năm 70 - 80 của thế kỷ 20 Cho

đến nay, nó được coi là biện pháp có hiệu quả phòng trừ cao, triệt để và kinh tế nhất, do đó nó được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới để phòng trừ cây TNTG Cùng với sự phát triển của nền công nghiệp hoá chất, người ta đã tìm ra nhiều loại thuốc ít độc, có hiệu quả cao và có thể ứng dụng bằng nhiều hình thức khác nhau

- Biện pháp đưa thuốc vào đất: Biện pháp này có thể được tiến hành thông qua việc đưa thuốc trực tiếp vào đất hay phun lên bề mặt tuỳ thuộc vào diện tích cần xử lý, tuổi cây hay khu vực bị xâm nhiễm Người ta đã tạo sẵn các dạng thuốc phù hợp cho việc áp dụng trong đất, tuy nhiên hiệu quả của nó phụ thuộc rất nhiều vào độ ẩm đất và lượng mưa để thuốc có thể xâm nhập được vào kết cấu của đất ưu điểm của biện pháp này là có thể cho hiệu quả cao vì thuốc được hấp thụ qua rễ, sau đó lưu dẫn vào thân nên

có thể diệt được toàn cây Mặt khác, các thuốc này cũng có thể kéo dài thời gian phát huy hiệu lực nên có thể diệt được các chồi tái sinh hay mầm non mọc tiếp tục từ hạt Các loại thuốc được sử dụng phổ biến để phun vào đất

bao gồm: Ethidincucron, Hexazinone và Tebuthiuron Bên cạnh đó, người

ta cũng có thể sử dụng một số thuốc để tưới vào gốc cắt tươi như Dicamba, Glyphosate hay Imazapyr

- Biện pháp phun thuốc lên lá hay tiêm trực tiếp vào cây: Biện pháp này được

sử dụng rộng rãi với nhiều loại thuốc tiếp xúc hay lưu dẫn như Dicamba, Fluroxypyr, Glyphosate, Pycloram+2,4D hay Hexazinone Đây là biện pháp có

hiệu quả cao, dễ ứng dụng hiện đang được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, người ta cũng thấy việc sử dụng các loại thuốc này có nhược điểm

là nó dễ bị mất hiệu lực trong các điều kiện bất thuận như mưa lớn, nhiệt và ẩm độ

cao v.v Khi phun vào sáng sớm, các thuốc tiếp xúc trừ cỏ lá rộng như Dicamba,

Trang 11

Fluroxypyr có thể cho hiệu quả trừ cây trinh nữ nhưng sau đó cây lại mọc lên từ hạt

vì các thuốc này không có tác dụng diệt hạt cũng như không có tác dụng kéo dài

Phun các thuốc nội hấp và lưu dẫn như Glyphosate, Hexazione, Triclopyr + Pycloram + 2,4D hay Metsulfuron Methyl v.v… với lượng cao vào mùa khô có thể cho hiệu quả cao và triệt để hơn Các thuốc tiếp xúc khác như Atrazin + 2,4D, Tebuthiuron phần lớn chỉ trừ được cây con Việc xử lý thuốc vào gốc sau khi đốn

hay phun vào vỏ thân ở sát gốc là một biện pháp có hiệu quả kinh tế cao Ví dụ có

thể sử dụng Dicamba, Glyphosate, Imazapyr để phun vào các gốc cây sau khi cắt hay dùng Dicamba, Hexazinone để tiêm vào cây, nhưng hiệu quả thường thấp và

không triệt để (Steve Wingrave, 2002)

Nhìn chung, biện pháp phun thuốc lên lá thường có tính khả thi cao, song trong các trường hợp cây trinh nữ xâm lấn dày đặc hoặc các cây mọc cao lâu năm, người ta phải dùng máy bay để phun thuốc nhưng cũng chỉ có tác dụng hạn chế chồi non, hoa và quả trinh nữ để hạn chế quá trình phát tán tiếp theo Hiện nay, ở úc việc dùng máy bay phun thuốc trừ cây trinh nữ trong các vườn Quốc gia và khu vực hoang hoá đã trở nên phổ

biến Các thuốc thường được sử dụng là Dicamba, Fluroxypyr, Metsulfuron Methyl (Parson, 1992)

ở phía Bắc nước úc, việc phun thuốc trừ cây TNTG thường được tiến hành vào đầu mùa mưa (tháng 11 đến tháng 12) khi cây con mới mọc hoặc các cây trưởng thành đang mọc tái sinh mạnh Nhờ có việc sử dụng liên tục thuốc hoá học trên diện rộng trong suốt thập kỷ 70 và 80 nên đã hạn chế đáng kể sự gia tăng về diện tích xâm nhiễm cây TNTG

Hiện nay có 5 loại thuốc hoá học đang được sử dụng để phun trừ cây TNTG

1 Starane: hoạt chất là Fluroxyper: đây là loại thuốc trừ cỏ chọn lọc, trừ được

cỏ lá rộng và cây thân bụi Thuốc có độ độc thấp (nhóm IV), sử dụng với lượng 3lit/

ha có pha thêm chất giữ ẩm Loại thuốc này hiện chưa đăng ký sử dụng ở nước ta

2 Banvel: hoạt chất là Dicamba, đây là thuốc trừ cỏ chọn lọc, trừ cỏ lá rộng trên nhiều loại cây trồng Thuốc thuộc nhóm độc II, được phun với lượng

Trang 12

5-6lit/ha Mặc dù Dicamba được khuyến cáo là có thể phun lên các vết cắt ngang thân nhưng hiện nay ở úc vẫn chủ yếu dùng để phun lên lá là chính Hoạt chất này cũng không được đăng ký sử dụng ở Việt Nam

3 Graslan (200g/ kg): Hoạt chất là Tebuthiuron: Là thuốc trừ cỏ chọn lọc, trừ cỏ lá rộng trên các cây trồng họ hoà thảo như mía, lúa mỳ v.v.Thuốc thuộc nhóm độc II, được sử dụng với lượng từ 5-10 kg/ ha ở nước ta, hoạt chất Tebuthiuron được đăng ký với tên thương mại là Tebusan để trừ cỏ cho mía nhưng ít được sử dụng

4 Brushoff: Hoạt chất là Metsulfuron Methyl: là thuốc trừ cỏ chọn lọc, trừ nhiều loài cỏ lá rộng trên các cây trồng họ hoà thảo như lúa, ngô v.v.Thuốc thuộc nhóm độc IV, được dùng với lượng 60g/ ha ở nước ta, Metsulfuron methyl được đăng ký sử dụng với tên thương mại là Ally 20DF để trừ cỏ trên lúa và một số cây trồng cạn

5 Tordon: là hỗn hợp giữa Picloram và 2,4D: là thuốc lưu dẫn mạnh, có thể trừ các cỏ lá rộng, cây thân bụi có bộ rễ sâu Không trừ cỏ hoà thảo Thuốc

có độ độc cao, thuộc nhóm độc I Cả hoạt chất Picloram và sản phẩm Tordon

không được đăng ký sử dụng ở Việt Nam

Tuy có những ưu điểm nhất định về hiệu quả kỹ thuật và kinh tế, song biện pháp hoá học cũng không tránh khỏi một số nhược điểm:

- Thứ nhất là: mặc dù các thuốc trừ cỏ được sử dụng là những thuốc chọn lọc cao nhưng nếu sử dụng liên tục có thể làm suy giảm số loài thực vật,

do đó suy giảm đa dạng sinh học ở các khu vực bảo tồn

- Tuy hầu hết các thuốc trừ cỏ đều rất ít độc đối với môi trường và động vật thuỷ sinh, song việc sử dụng rộng rãi trên diện tích lớn cũng có thể gây nên những ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường và sức khoẻ con người

Tuy nhiên, qua kết quả triển khai phòng trừ bằng thuốc hoá học ở úc cho thấy, mặc dù việc phòng trừ cây TNTG bằng thuốc hoá học được tiến hành trên một phạm vi khá lớn và tất cả khu vực phòng trừ đều nằm trong phạm vi vùng ngập nước, phần đa là vùng bảo tồn thiên nhiên hoang dã trong đó có rất nhiều loài chim trời và cá sinh sống, cho đến nay chưa có báo cáo nào về tác

Trang 13

động tiêu cực nghiêm trọng của thuốc hoá học đối với các loài động vật thuỷ sinh trong các khu bảo tồn ngập nước này kể cả những vùng được xử lý thuốc bằng máy bay trực thăng trên diện tích khá rộng Theo các nhà hoa học thì hầu hết các thuốc trừ cỏ đều rất ít độc với các loài động vật thuỷ sinh Trong khi đó, diện tích che phủ bề mặt của cây TNTG rất lớn, khả năng giữ thuốc trên bề mặt tán cây lớn nên lượng thuốc rơi xuống đất hầu như rất ít Mặc dù không có kết quả phân tích về dư lượng thuốc trong đất, nước và nghiên cứu chi tiết về tác

động của thuốc đối với các loài động vật thuỷ sinh, nhưng nhìn chung cho đến nay không có trường hợp nào ngộ độc xảy ra

* Biện pháp sinh học: đã được tiến hành ở úc, Thái Lan Người ta đã tiến

hành điều tra nguồn ký sinh thiên địch của cây trinh nữ thân gỗ tại vùng bản xứ của

nó như Brazil, Mexico, Venezuela, sau đó du nhập và nhân thả ở các vùng bị nhiễm cây trinh nữ Hiện nay ở úc đã nghiên cứu và nhân thả được 14 tác nhân sinh học

có khả năng ứng dụng để trừ cây TNTG, nhưng trong đó chỉ có 2 loài loài có khả

năng năng hạn chế tốt cây TNTG là sâu đục thân Carmenta mimosae được nhân thả

ở úc năm 1989, ở Thái Lan 1991; và sâu đục ngọn Neurostrota gunniell được thả ở

úc năm 1989 (Julien, 1992; Forno, 1991, ) Trong đó loài sâu đục thân Carmenta

mimosae đã được tổ chức CSIRO hỗ trợ để nhân thả ở Việt Nam từ 1995-1997 Hai loài mọt đục hạt trinh nữ là Acanthoscelides puniceus và A quadridentatus cũng

đã được nhân thả thành công ở úc và Thái Lan

Bên cạnh các loài côn trùng, hướng nghiên cứu sử dụng các loài nấm gây hại cho trinh nữ dưới dạng phòng trừ cổ điển và thuốc trừ cỏ sinh học cũng đang được quan tâm nghiên cứu và ứng dụng ở nhiều nước đặc biệt là úc và Thái Lan Cho đến nay, loài nấm có triển vọng nhất đã được xác định và ứng dụng thành công để phòng

trừ cây TNTG là Phloeospora mimosae pigrae Loài nấm này có thể phát triển nhanh

và hạn chế được khả năng phát triển của cây Tuy nhiên, nó chỉ có khả năng hạn chế phát triển của các cây non cao dưới 80 cm và không có khả năng diệt triệt để

Biện pháp phòng trừ sinh học được coi là một hướng đi quan trọng vì nó khắc phục được nhược điểm của các biện pháp thủ công và hoá học, đảm bảo

được tính bền vững và cân bằng sinh thái cao, vì vậy nó được coi là chiến lược

Trang 14

quan trọng trong thế kỷ 21 ở úc sau nhiều năm thả liên tục, các tác nhân sinh học đã có thể làm giảm tới 90% lượng hạt trong đất tại vùng ứng dụng Tại những vùng có mật độ cây bị sâu đục cao, khả năng cạnh tranh của cây TNTG với hệ thực vật tại vùng bị xâm lấn bị giảm đáng kể Đồng thời, các tác nhân sinh học cũng làm suy giảm khả năng phát triển của cây con

Tuy nhiên, việc ứng dụng biện pháp này cũng còn nhiều hạn chế:

- Phần đa các tác nhân sinh học thường có hiệu quả không cao và chỉ có tác dụng hạn chế phần non của cây và các cây con, không có khả năng tiêu diệt triệt để Đối với các loài sâu đục ngọn đôi khi còn kích thích cho cây mọc nhánh mới và phát triển mạnh hơn Phạm vi phát tán của các tác nhân cũng không rộng, trong khi đó các vùng lận cận thường xuyên có nguồn hạt từ các vùng ngập nước khác trôi dạt đến, do đó diện tích lây lan tuy có chậm hơn nhưng vẫn mở rộng

- Các tác nhân sinh học có thể bị tiêu diệt hoặc suy giảm quần thể trong những điều kiện bất thuận như lũ lụt, vì vậy việc bảo vệ và nhân quần thể của chúng cũng gặp khó khăn

- Chi phí cho biện pháp sinh học rất cao, do vậy khó triển khai trên diện rộng Để hình thành và duy trì được khu vực phòng trừ với diện tích trên 100ha, ở

úc đã phải có một phòng thí nghiệm duy trì các hoạt động thường xuyên để kiểm tra, nhân nuôi bổ sung kể từ năm 1984

Như vậy, các kết quả nghiên cứu ở nước ngoài đều cho thấy không một biện pháp nào có thể mang lại hiệu quả cao và triệt để đối với cây TNTG khi đã xâm nhiễm ở mức độ cao Vì vậy, hướng nghiên cứu và ứng dụng các biện pháp ngăn chặn sự xâm nhiễm ban đầu và phòng trừ sớm cây TNTG đang được quốc gia đặc biệt quan tâm và coi đây là một biện pháp rẻ tiền và hiệu quả nhất Các biện pháp được áp dụng để ngăn chặn

sự lây lan của cây TNTG bao gồm:

Để có thể can thiệp sớm cần tiến hành các hoạt động chủ yếu sau:

(1) Làm tốt công tác kiểm dịch nội địa và quốc tế : Kiểm dịch thực vật

được coi là một trong những biện pháp quan trọng để ngăn chặn và kiểm soát

sự lây lan của cây trinh nữ thân gỗ Việc tiến hành biện pháp kiểm dịch có thể

Trang 15

áp dụng đối với các quốc gia khác nhau nhưng cũng có thể áp dụng để ngăn chặn sự lây lan từ vùng dịch tới các vùng chưa bị cây trinh nữ xâm nhiễm Đặc biệt cần kiểm soát chặt chẽ sự giao lưu của con người tại vùng bị nhiễm cây trinh nữ ở các vườn Quốc gia để có biện pháp ngăn chặn kịp thời khi chúng có nguy cơ bùng phát số lượng (Schultz, 2002)

(2) Dự báo sớm sự phát tán và lây lan của cây TNTG: trên cơ sở duy trì

hoạt động điều tra thường xuyên cũng như có được hiểu biết đầy đủ về điều kiện, quy luật phát tán, lây lan của cây trinh nữ Việc dự báo sớm không chỉ dựa vào điều tra, phát hiện thường xuyên mà còn phải xác định và phân tích được diễn biến và mức độ phát sinh trong mối liên quan giữa cây trinh nữ với các yếu tố sinh thái như: nhiệt độ, ẩm độ, mực nước, hệ thực vật và các sinh vật có liên quan Trên cơ sở đó, phải đưa được dữ liệu vào máy tính để phân tích mối tương quan, từ đó cảnh báo

được các vùng có nguy cơ xâm nhiễm cao để có kế hoạch giám sát kịp thời

(3) Tăng cường giáo dục và nâng cao nhận thức cho người dân: Đây là nội

dung quan trọng giúp cho việc ngăn chặn sớm sự lây lan ở cấp Quốc gia vì hiệu quả ngăn ngừa cây trinh nữ phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức và sự tham gia chủ động của công chúng Mỗi người dân và cộng đồng cần được hiểu biết đầy đủ về tác hại

và khả năng lây lan của cây TNTG cũng như các biện pháp phòng trừ sớm khi chúng đang còn mọc rải rác (Miller, 2002) Cần tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về khả năng phát tán, các con đường lây lan, tác động của cây trinh nữ đến đời sống, kinh tế, xã hội và môi trường và những việc người dân có thể làm hoặc tham gia được vào chiến lược ngăn chặn sự lây lan của cây trinh nữ

(4) Quản lý các vùng mẫn cảm: Một số vùng sinh thái phù hợp nhất

như vùng trũng, thảm thực vật che phủ thưa thường dễ mẫn cảm hơn với cây TNTG, vì vậy chúng cần được quản lý tốt bằng cách điều khiển thảm thực vật

để đảm bảo khả năng cạnh tranh với cây TNTG cũng như phòng trừ sớm khi chúng còn chưa kịp xâm nhiễm ở mức cao

(5) Hạn chế sự di chuyển của nguồn hạt từ những vùng đã bị xâm nhiễm nặng ra bên ngoài: chủ động phòng trừ từ thượng nguồn các con sông

lớn ở các vùng đã bị nhiễm Kiểm soát chặt chẽ và chủ động ngăn chặn các con

đường lây lan và phát tán của cây trinh nữ thông qua những hoạt động của con

Trang 16

người như phát tán nguồn hạt qua các phương tiện giao thông, phân gia súc v.v

từ vùng bị nhiễm sang vùng không bị nhiễm

(6) Tận dụng mọi khả năng có thể để phủ kín mặt đất bằng các loài thực

vật thích hợp đặc biệt là các loài có khả năng che phủ mặt đất nhanh, cạnh tranh tốt với hạt cỏ trong thời kỳ nảy mầm và cây con như cỏ hoà thảo v.v

(7) Tăng cường huấn luyện cho các nhà quản lý, chuyên môn, khuyến nông

và nông dân về sinh học sinh thái; phương pháp điều tra xác định nguồn, khả năng lây lan và các vùng mẫn cảm; biện pháp phòng trừ và chiến lược giám sát lâu dài

(8) Can thiệp sớm bằng các biện pháp phù hợp như đào rễ và chôn lấp;

thu dọn và đốt quả, hạt; sử dụng hoá chất phun lên lá, gốc và phun lên đoạn thân sau chặt; nhân thả các tác nhân sinh học v.v

Việc tiến hành các biện pháp phù hợp để can thiệp sớm cây TNTG luôn mang lại hiệu quả cao và triệt để nhất Hầu hết các biện pháp phòng trừ đều có thể

được ứng dụng để ngăn chặn sự lan tràn của cây TNTG, song việc lựa chọn biện pháp và qui mô ứng dụng phụ thuộc vào tình trạng xâm lấn, đặc thù của vùng bị xâm lấn cũng như hiệu quả của biện pháp Các biện pháp thủ công, cơ giới, sinh học, sinh thái như thay đổi điều kiện sống có lợi cho cây sinh trưởng và phát tán hay trồng cây che phủ (Lonsdale et al, 1989, 1993) thường được ưu tiên áp dụng trước khi mật độ thấp và cây còn bé Khi đã có nguy cơ phát tán rộng lớn và gia tăng mật độ, cần can thiệp sớm bằng việc sử dụng các thuốc hoá học có tính chọn

lọc cao và ở lượng thấp (Miller et al, 1992)

Tóm lại: Do có khả năng sinh trưởng và thích nghi cao, cây TNTG

đang được coi là một đối tượng cỏ dại nguy hiểm của nhiều Quốc gia đặc biệt

là các vùng nhiệt đới, vì vậy trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu khá toàn diện về tác hại, sinh học, vật hậu v.v để tìm ra những biện pháp phòng trừ chúng một cách có hiệu quả Vấn đề đặt ra là cho đến nay vẫn không có một biện pháp đơn lẻ nào mang lại hiệu quả triệt để về mặt kỹ thuật, kinh tế và môi trường Các biện pháp phòng trừ thủ công, cơ giới hay sinh học đều rất tốn kém và hiệu quả phòng trừ không cao Biện pháp hoá học có thể mang lại hiệu quả cao, chi phí thấp do đó đã được nhiều nước trên thế giới ứng dụng Tuy nhiên, nếu không có sự quan tâm đầy đủ về giai đoạn sinh trưởng, nồng độ, liều

Trang 17

lượng, hình thức và công cụ phun rải đối với từng vùng sinh thái cụ thể thì không những không mang lại hiệu quả cao mà còn gây ra những tác động tiêu cực đối với môi trường và sức khoẻ con người Vì vậy, việc nghiên cứu biện pháp phòng trừ tổng hợp chúng đang được các các nước quan tâm và ứng dụng cho phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể của chính họ

III.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

ở nước ta, cây TNTG còn được gọi là cây TNTG nhọn, cây mắt mèo, cây xấu hổ, cây mai dương Tuy không có tài liệu nào công bố chính xác nhưng theo các nhà khoa học thì cây TNTG bắt đầu xâm nhập vào Việt Nam vào khoảng thập

kỷ 60 Do mức độ xâm nhiễm và gây hại đối với sản xuất nông, lâm nghiệp chưa lớn nên cho đến trước năm 2000, các công trình nghiên cứu về cây TNTG ở Việt Nam còn rất ít Hầu như chưa có công trình nào quan tâm nghiên cứu sinh học, sinh thái cũng như đánh giá tầm quan trọng kinh tế và biện pháp phòng trừ cây TNTG ở Việt Nam

Trong các năm 1995-1997, với sự tài trợ của Trung Tâm nghiên cứu Nông nghiệp quốc tế úc (ACIAR), Viện Bảo vệ thực vật đã hợp tác với tổ chức nghiên cứu khoa học công nghệ úc (CSIRO) tiến hành một số điều tra và nghiên cứu về cây TNTG

Theo kết quả nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật cho thấy cây TNTG có mặt ở hầu hết các tỉnh từ miền Núi đến Đồng Bằng ở miền Bắc, mức độ phổ biến

ít và phân tán ở các tỉnh Hà Nội, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên Bái, Hoà Bình, Hà Tây, Hải Dương, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Giang ở miền Trung, cây cũng phân bố rải rác Riêng 8 tỉnh Nam Trung Bộ có khoảng 680 ha bị nhiễm cây TNTG ở miền Nam, diện tích trinh nữ bị nhiễm nặng tập trung ở vùng lòng

hồ Trị An (khoảng 7.000 ha), lưu vực sông La Ngà (hàng trăm ha) và các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang Hàng năm, vào mùa lũ hạt trinh nữ trôi từ Campuchia, Lào sang vùng đồng bằng sông Cửu Long, khi nước rút, hạt nảy mầm và mọc khắp nơi

Cũng trong khuôn khổ của dự án này, Viện Bảo vệ thực vật đã tiến hành nghiên cứu biện pháp sinh học trừ cây TNTG Đã nhập nội 4 tác nhân sinh học

gồm một loài đục thân (Carmenta mimosae), hai loài mọt đục hạt

Trang 18

phép của các cơ quan chức năng, loài đục thân trinh nữ (Carmenta mimosae) đã

được thả thử tại nhiều điểm có trinh nữ thân gỗ như Sóc Sơn (Hà Nội), Đồng Mô (Hà Tây), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Quế Võ (Bắc Ninh), La Ngà (Đồng Nai) ở một

số nơi thả đã thấy hình thành quần thể sâu đục thân trinh nữ, có nơi tỷ lệ đục thân tới 50-80% (Nguyen Van Cam, Pham Van Lam et al, 1997)

Trong những năm gần đây, cây trinh nữ phát triển khá nhanh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Chúng mọc dày tạo thành những vành đai rộng lớn và trở thành đối tượng cỏ dại nguy hiểm khó phòng trừ, gây ảnh hưởng lớn cho sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng tới cảnh quan và môi trường

Theo báo cáo của Chi cục BVTV Đồng Tháp thì trước 1980, cây TNTG chỉ xuất hiện ở hai huyện Tân Hồng và Hồng Ngự Từ 1981 – 1985, cây xuất hiện rải rác

ở Tam Nông và Thanh Bình nhưng mới từ 1991 đến nay, cây mọc nhiều và xâm lấn nhiều vùng đất trống thuộc huyện Tam Nông

Tại vườn Quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp), là rừng tràm ngập nước, cây trinh nữ thân gỗ đã xâm nhiễm ở mức độ nghiêm trọng, tốc độ lây lan rất nhanh Trong năm 1999 chỉ có khoảng 150 ha bị nhiễm, đến tháng 5/ 2000 đã lên tới 490 ha, cuối 2001 tới gần 1.000 ha

Trước nguy cơ gia tăng mức độ xâm lấn và gây hại của cây TNTG, trong năm 2000, Trường Đại học Khoa Học Tự Nhiên TP Hồ Chí Minh và Trường Đại học Cần Thơ đã phối hợp với vườn Quốc gia Tràm Chim bắt đầu điều tra mức độ phát sinh, gây hại và đề xuất một số biện pháp phòng trừ cây TNTG Kết quả nghiên cứu cho thấy, cây TNTG phân bố rải rác ở hầu hết cả 5 khu A1, A2, A3, A4

và A5 của vườn Tràm Chim Trong vườn Tràm Chim, khu A2, A4 và A5 bị xâm lấn khá nặng, đặc biệt ở khu A5, cây TNTG mọc tập trung thành bãi, xen lẫn giữa các cây to cao (2-3 năm tuổi) với các cây mới mọc Diện tích bị xâm nhiễm lớn hơn diện tích các dải đất trống Độ che phủ khoảng hơn 60% Các cây mới phát tán

Trang 19

thường mọc ở những nơi nước cạn hơn, không bị che bóng, mọc ở các vùng đất trống, vì vậy diện tích bị xâm lấn tăng rất nhanh

Về tác hại của cây TNTG ở Tràm Chim: Phần lớn vườn Quốc gia Tràm

Chim là diện tích tràm ngập nước, diện tích khoảng trống còn lại là nơi sinh sống của nhiều loài cỏ dại có khả năng tồn tại trong điều kiện ngập nước thuộc các họ hoà thảo

(Poaceae) và cói lác (Cyperaceae) như sậy, cỏ lông, cỏ lác Cyperus sp cũng như

một số cỏ lá rộng như bèo cái, bèo tây, dừa nước v.v Đồng cỏ năng là bãi ăn nghỉ

của nhiều loài sinh vật quý hiếm trong đó có loài sếu đầu đỏ Grus antigone sharpii là

loài chim quý của Việt Nam và thế giới Từ khi có sự xâm lấn của cây TNTG, thảm

thực vật bản địa có sự thay đổi, đặc biệt là cỏ họ Cyperaceae Những nơi bị cây

TNTG xâm lấn hoàn toàn (100% diện tích che phủ) thì không có loài thực vật nào khác mọc được dưới gốc của nó ngoại trừ hai loài cây dây leo là cây hắc sửu

(Merreemia hederacea) và rau kìm (Aniseia martinicensis) Do thảm thực vật bị thay

đổi, số lượng chim quây tụ ở đây giảm hẳn (Nguyễn Văn Đúng và CTV, 2001) Kết quả thử nghiệm bước đầu về một số biện pháp cơ giới phòng trừ cây TNTG cũng cho thấy: các biện pháp như chặt, đốt, chặt kết hợp với đốt đều cho hiệu quả như nhau và chỉ làm giảm mật độ, sinh khối và diện tích che phủ ngay sau mỗi lần xử lý, không

có tác dụng diệt triệt để, sau đó cây lại mọc tái sinh mạnh hơn Nếu sau khi chặt có

điều kiện ngâm ngập lũ thì hiệu quả có thể kéo dài hơn, sau 4-5 tháng cây mới mọc tái sinh trở lại (nghĩa là sau 1 mùa nước ngập) Tuy các biện pháp không cần những công cụ hiện đại cũng như không đòi hỏi kỹ năng cao nhưng đều rất tốn kém do phải chi một lượng công lao động khá lớn Chi phí cho biện pháp chặt là thấp nhất, sau đó

đến biện pháp đốt và cao nhất là biện pháp chặt kết hợp với đốt

Trước thực trạng lây lan và xâm lấn mạnh mẽ của cây TNTG, trong 2 năm 2001-2002, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã giao cho Viện Bảo vệ thực vật

thực hiện đề tài nghiên cứu: Điều tra, đánh giá mức độ tác hại của cây TNTG ( Mimosa pigra) tại các vườn Quốc gia Tràm chim và Nam cát tiên và đề xuất các giải pháp nghiên cứu phòng trừ

Mục tiêu chủ yếu của đề tài là xác định được tình hình xâm nhiễm, khả năng gây hại, một số đặc điểm sinh học sinh thái chủ yếu của cây TNTG ở điều

Trang 20

kiện Việt Nam và thăm dò khả năng phòng trừ chúng bằng các biện pháp khác nhau Trên cơ sở đó đề xuất chiến lược nghiên cứu phòng trừ cây TNTG có tính

khả thi cao trong điều kiện của các vườn Quốc gia

Các nội dung nghiên cứu cơ bản bao gồm:

+ Điều tra tình hình phân bố, hiện trạng xâm lấn và mức độ gây hại

của cây TNTG tại vườn quốc gia Tràm Chim và Nam Cát Tiên

+ Tìm hiểu một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học cơ bản của cây TNTG ở điều kiện Việt Nam

+ Bước đầu tìm hiểu khả năng phòng trừ cây TNTG bằng các biện pháp thủ công, cơ giới, hoá học và sinh học phù hợp với điều kiện của các vườn Quốc Gia

Các kết quả nghiên cứu đã khẳng định

- Nguy cơ xâm lấn của cây TNTG đang ngày càng gia tăng ở vườn Quốc gia Tràm Chim và Nam Cát Tiên, vùng lòng Hồ Trị An, lưu vực sông La Ngà và nhiều nơi khác ở đồng bằng sông Cửu Long Riêng ở Tràm Chim, diện tích bị nhiễm cây TNTG cho đến nay đã xấp xỉ gần 2000 ha Tại những vùng bị nhiễm cao, mật độ có thể lên tới 7- 8 cây/ m2 và diện tích che phủ lên tới 100%

Tại vườn Quốc gia Nam Cát tiên, cây TNTG đã lây lan nhanh và hiện nay đã xâm lấn toàn bộ khoảng 50 ha diện tích mặt nước của Bầu chim là nơi

sinh sống của các loài thực vật họ cói lác Cyperaceae và hoà thảo Poaeae

Ngoài ra cây còn mọc rải rác khắp vùng đệm thuộc huyện Cát Lộc với diện tích hàng nghìn ha và vùng lòng hồ trị an khoảng gần 10.000ha Tại những vùng bị cây TNTG xâm lấn, hệ động thực vật bản địa bị suy giảm nghiêm trọng, ảnh hưởng tới

đa dạng sinh học của các vườn Quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên Sự gia tăng mật độ của cây TNTG cũng đang biến nhiều vùng đất canh tác thành đất hoang hoá (Phạm Văn Lầm, Nguyễn Hồng Sơn và CTV, 2002)

- Các biện pháp phòng trừ đơn lẻ đều không mang lại hiệu quả cao Các biện pháp thủ công như chặt, đốt, chặt kết hợp với đốt đều không cho hiệu quả triệt để Sau khi chặt hay chặt rồi đốt từ 2 tuần đến 1 tháng, các gốc cây đều có chồi mọc lại, cây mọc nhiều chồi, chồi to và phát triển mạnh hơn Sau khi mọc 1 tháng có chồi đã cao tới 1m Do đó mật độ cây mọc lại đạt xấp xỉ 50% mật độ cây trước xử lý Kết quả

Trang 21

cũng cho thấy, biện pháp đốt mà không chặt cho hiệu quả thấp nhất Đặc biệt quá trình đốt không chỉ không có khả năng hạn chế tái sinh và sinh trưởng của mầm mà

còn kích thích cho hạt nảy mầm mạnh hơn, chưa kể đến nguy cơ gây cháy rừng

Về chi phí: chi phí về công lao động cho biện pháp chặt + đốt là cao nhất

(130 công/ ha) Biện pháp đốt tuy không phải mất công chặt nhưng phải chi phí công dọn đường băng và canh phòng chống lửa lan khi đốt nên chi phí cũng khá cao (95 công/ ha) Biện pháp chặt tốn ít công nhất (60 công/ ha) Với giá trị công lao động là 30.000đ/ công, chi phí cho biện pháp chặt là 2.020.000 đ, biện pháp

đốt là 5.020.000 đ và biện pháp chặt kết hợp với đốt là 6.100.000đ, chưa tính công

cụ và bảo hộ lao động (Phạm Văn Lầm, Nguyễn Hồng Sơn và CTV)

Qua quá trình thực hiện đề tài, các tác giả cũng đã xác định được hai hoạt

chất trừ cỏ có hiệu lực cao đối với cây TNTG là Glyphosate và Metsulfuron Methyl Trong đó Glyphosate là thuốc huỷ diệt, khi sử dụng ở lượng tương đương

với lượng dùng trong sản xuất nông nghiệp thuốc có thể diệt triệt để trên 90% cây

1 năm tuổi, còn với cây 2 và 3 năm, phải tăng lượng dùng lên gấp 1,5 lần Sau khi dùng thuốc 18 tháng vẫn không có cây con mọc trở lên Tuy nhiên đây là loại thuốc huỷ diệt toàn bộ nên đã tiêu huỷ toàn bộ thảm thực vật, sau 6 -10 tháng mới khôi phục trở lại Viện cũng đã chọn được 1 loại thuốc chọn lọc chỉ trừ các loài cỏ lá rộng, không trừ cỏ hoà thảo và cói lác đó là Ally 20DF có khả năng trừ cây trinh nữ Khi phun vào giai đoạn cây đã già hiệu lực của thuốc rất thấp, nhưng khi phun ở nồng độ từ 0,022 đến 0,03% vào 20 ngày sau chặt cho hiệu quả rất cao đối với các mầm mới mọc tái sinh

Như vậy có thể sử dụng thuốc này kết hợp với biện pháp thủ công để tăng hiệu quả phòng trừ hay sử dụng để trừ cây con khi mới mọc Chi phí cho

việc dùng thuốc hoá học giảm rõ rệt so với khi áp dụng các biện pháp thủ công

Như vậy sau ba năm thực hiện, đề tài đã bước đầu xác định được:

+ Nguy cơ lan rộng và mức độ xâm lấn của cây TNTG tại vườn

quốc gia Tràm Chim và Cát Tiên

+ Một số đặc điểm sinh học, sinh thái cơ bản của cây TNTG

+ Xác định được hiệu quả của một số biện pháp phòng trừ như thủ công, cơ giới, sinh học và hoá học

Trang 22

(2) Tiếp tục mở rộng điều tra về thực trạng, đặc điểm xâm lấn và nguồn lây lan của cây TNTG ở các khu vực mẫn cảm khác trong cả nước như: lưu vực sông La Ngà, sông Mêkông, sông Đà, sông Chảy, Hoà Bình và Thác Bà để xác

định mối liên quan giữa các lưu vực sông lớn với các vườn Quốc gia hay vùng lòng hồ đồng thời đề xuất được các giải pháp ngăn chặn kịp thời trước khi chúng lan tràn sang các vùng khác hay lan tràn sang đất canh tác

(3) Nghiên cứu bổ sung một số đặc điểm sinh học, sinh thái quan trọng của cây TNTG như: ảnh hưởng của các yếu tố nhiệt, ẩm độ, đất đai đến khả năng nảy mầm, sinh trưởng và phát triển của cây; khả năng phát tán, sinh trưởng, phát triển của cây TNTG ở các điều kiện sinh thái khác nhau đặc biệt là so sánh giữa những vùng ngập nước với vùng khô cạn, vùng đất canh tác thường xuyên với vùng hoang hoá, các vùng đất khác nhau về thành phần cơ giới và dinh dưỡng v.v… Từ

đó đánh giá những yếu tố thuận lợi hay bất lợi cho sự lây lan, phát triển của cây trinh nữ thân gỗ để có hướng kiểm soát chúng

(4) Do hạn chế về thời gian và kinh phí, các kết quả nghiên cứu phòng trừ đều mới chỉ dừng lại ở quy mô ô nhỏ, chưa có đủ quá trình lặp lại về không gian và thời gian do đó chưa thể đánh giá được đầy đủ tác

động tiêu cực và tính khả thi của từng biện pháp đặc biệt là biện pháp sử dụng thuốc trừ cỏ khi triển khai trên diện rộng Vì vậy, cần tiến hành các thí nghiệm bổ sung, các trình diễn trên diện rộng để đánh giá đầy đủ về hiệu quả kỹ thuật, kinh tế, xã hội và sinh thái của từng biện pháp khi triển khai trên diện rộng Mặt khác, cũng cần xác định khả năng ứng dụng kết

Trang 23

hợp giữa các biện pháp với nhau để vừa đạt mục tiêu hạn chế sự gia tăng quần thể vừa ngăn chặn sự xâm nhiễm và lây lan tiếp tục của cây TNTG ở các vườn Quốc gia, các khu bảo tồn bị xâm nhiễm nặng

Tóm lại: Mặc dù mới xuất hiện ở Việt Nam trong vòng gần 40 năm,

song mức độ gia tăng quần thể, xâm lấn và gây hại của cây TNTG ở nước ta là không nhỏ Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, nếu không được ngăn chặn kịp thời, mức độ xâm lấn sẽ trở nên trầm trọng hơn và khi đó khó tìm ra giải pháp phòng trừ hiệu quả Trong khi đó, các công trình nghiên cứu về cây TNTG ở nước ta còn quá khiêm tốn so với các nước trên thế giới Một số đề tài nghiên cứu do Bộ Nông nghiệp và PTNT thực hiện tuy bước đầu đã đạt được những kết quả khả quan, tạo tiền đề quan trọng cho việc định hướng các nghiên cứu và ứng dụng tiếp theo để ngăn chặn sự xâm lấn của cây TNTG ở nước ta

Tuy nhiên, để có thể ứng dụng thành công các kết quả đó khi triển khai trên diện rộng cần có những nghiên cứu bổ sung để đánh giá toàn diện về hiệu quả kỹ thuật, kinh tế, xã hội cũng như những tác động về mặt môi trường có liên quan, đặc biệt là đánh giá tác động của thuốc trừ cỏ đến nguồn nước, đất đai, hệ vi sinh vật đất và các sinh vật có ích trong hệ sinh thái Bên cạnh đó cũng cần đề ra biện pháp phòng trừ tổng hợp để ngăn chặn một cách có hiệu quả và quản lý bền vững cây TNTG đối với từng vùng sinh thái cụ thể ở nước ta Trong khi cây TNTG vẫn tiếp tục phát triển

và có nguy cơ lan rộng không chỉ trong phạm vi các vườn Quốc gia, các khu vực hoang hoá mà còn lan sang cả các vùng đất sản xuất nông lâm nghiệp ở các tỉnh

đồng bằng sông Cửu Long, khu vực đông Nam bộ và các khu vực khác ở miền Trung và Bắc bộ, việc đặt vấn đề nghiên cứu các biện pháp phòng trừ cũng như kiểm soát sự phát triển và thiệt hại do cây TNTG gây ra là rất cần thiết

IV Địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu

IV.1 Địa điểm: Các thí nghiệm được tiến hành tại hồ Hoà Bình, lòng hồ Thác

Bà, lưu vực sông La Ngà, Vườn quốc gia Tràm Chim, Cát Tiên và một số vùng

đệm gần với các Vườn quốc gia trên

Trang 24

IV.2 Nội dung nghiên cứu

1 Điều tra bổ sung về hiện trạng xâm lấn, đặc điểm phân bố và tác hại của cây TNTG ở vườn Quốc gia Tràm Chim, Nam Cát Tiên và mở rộng phạm vi điều tra tại vườn Quốc gia U Minh thượng, U Minh hạ và một số vùng sinh thái mẫn cảm (bao gồm lưu vực các sông lớn như: sông Mê Kông, sông La Ngà, sông Đà, sông Chảy; các vùng lòng hồ như hồ Trị An, Hoà Bình, Thác Bà

và các vùng đất hoang hoá nằm trong vùng đệm của các vườn quốc gia hay tuyến bảo vệ của các con sông nói trên)

2 Xác định nguồn và cơ chế phát tán của cây TNTG cũng như tìm hiểu các yếu tố sinh thái có ảnh hưởng đến sự lây lan và phát triển của chúng ở từng vùng sinh thái nêu trên

3 Nghiên cứu bổ sung một số đặc điểm sinh học, sinh thái quan trọng của cây trinh nữ thân gỗ ở điều kiện Việt Nam như đặc tính ngủ nghỉ, nảy mầm và mức độ ảnh hưởng của một yếu tố sinh thái chính như nhiệt độ, ẩm độ đất, mực nước, loại đất, thành phần cơ giới đất, khả năng cạnh tranh của các loài cỏ dại đến khả năng nảy mầm, sinh trưởng và phát triển của cây TNTG

4 Đánh giá hiệu quả kỹ thuật, kinh tế và tác động môi trường của các biện pháp phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ như: thủ công cơ giới (chặt, nhổ,

đốt, chặt + đốt, chặt ngâm ngập lụt) sinh học (gieo các loài cỏ dại cạnh tranh có trong hệ sinh thái của các vườn Quốc gia hay trồng cây tràm úc để che bóng ở một số vùng lòng hồ), hoá học (sử dụng các thuốc trừ cỏ huỷ diệt và chọn lọc)

và thủ công kết hợp với hoá học tại vườn Quốc gia Tràm Chim, Cát Tiên, lưu vực sông La Ngà, lòng hồ Hoà Bình và Thác Bà

5 Xây dựng 5 mô hình trình diễn các biện pháp phòng trừ cây TNTG bao gồm: (1) các biện pháp đơn lẻ: chặt; nhổ; đốt; phun thuốc Roundup 48EC để huỷ diệt cây trưởng thành; phun Ally 20DF để diệt cây con mới mọc

và (2) các biện pháp phối hợp: chặt + đốt; chặt + phun thuốc trừ cỏ chọn lọc; chặt + phun thuốc trừ cỏ huỷ diệt; chặt sau đó ngâm ngập lũ; trồng cây cạnh tranh + phun thuốc trừ cỏ chọn lọc và trồng cây che bóng + phun thuốc trừ cỏ chọn lọc tại 2 vườn Quốc gia và 3 vùng lòng hồ hay lưu vực các sông lớn

Trang 25

IV.3 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp nghiên cứu và các kỹ thuật sử dụng:

(1) Phương pháp điều tra và đánh giá thực trạng xâm lấn của cây TNTG: Tiến hành điều tra trực tiếp trên thực địa kết hợp với phỏng vấn nông dân (PRA) ở các vườn Quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên và những vùng sinh thái trọng

điểm để nắm được diễn biến và diện tích xâm nhiễm hiện tại, đặc điểm phân bố và tác hại của cây TNTG cũng như những biện pháp mà nông dân đã sử dụng để kiểm soát chúng Việc điều tra cần được tiến hành vào trước và sau mỗi mùa mưa tại các vùng đại diện cho các vườn Quốc gia, các khu bảo tồn, lòng hồ và lưu vực các con sông lớn Ngoài ra có thể áp dụng phương pháp thu thập số liệu thứ cấp qua báo cáo của các địa phương và các vườn Quốc gia

(2) Nghiên cứu sinh học của cây TNTG: được tiến hành theo phương pháp nghiên cứu sinh học của thực vật nói chung và của cỏ dại nói riêng thông qua kỹ thuật quan sát và đo đếm các chỉ tiêu sinh vật học cơ bản như tốc độ tăng trưởng chiều cao, tốc độ ra lá, phân nhánh, diện tích che phủ, đường kính thân, khả năng sinh sản, đặc điểm ngủ nghỉ và sức sống của hạt trong đất v.v…Đặc biệt chú trọng đến phương pháp lấy phẫu diện để điều tra nguồn hạt trong đất, từ đó xác định đặc điểm và nguồn lây lan của cây TNTG

(3) Các nghiên cứu về sinh thái học được tiến hành thông qua đánh giá khả năng phát tán, sinh trưởng, phát triển của cây TNTG ở các vị trí có những đặc điểm sinh thái khác nhau đặc biệt là so sánh giữa những vùng ngập nước với vùng khô cạn, vùng đất canh tác thường xuyên với vùng hoang hoá, các vùng đất khác nhau về thành phần cơ giới và dinh dưỡng v.v… Từ đó đánh giá những yếu tố thuận lợi hay bất lợi cho sự lây lan, phát triển của cây trinh nữ thân gỗ để có hướng kiểm soát chúng

(4) Nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ cây TNTG được tiến hành thông qua các thí nghiệm diện rộng không nhắc lại với diện tích từ 2000 – 3.000m2 (tuỳ vào nội dung của từng thí nghiệm) để đủ cho việc đánh giá hiệu quả kỹ thuật, kinh

tế đặc biệt là tác động về mặt môi trường

* Các nghiên cứu cũng được tiến hành tại những vùng đại diện (vườn Quốc gia, đất hoang hoá, đất canh tác ven sông, đất canh tác trên cạn v.v ) các tuổi cây (cây con, cây 1, 2, 3 và 4 năm tuổi trở lên) và mức độ xâm nhiễm khác

Trang 26

đậu) và biện pháp hoá học (sử dụng các thuốc trừ cỏ chọn lọc và không chọn lọc)

Kỹ thuật tác động đối với từng biện pháp như sau:

(1) Biện pháp chặt: Chọn ô đại diện cho mức độ xâm nhiễm, sinh trưởng và

phát triển của cây TNTG tại vùng thí nghiệm Sau đó dùng dao sắc hoặc kéo

chuyên dụng chặt sát gốc cách mặt đất khoảng 5 – 10 cm Thu dọn thân cây

sau chặt và theo dõi khả năng mọc tái sinh của cây sau chặt 1 tháng, 2 tháng

(2) Biện pháp chặt + ngâm lũ: Trước khi lũ về khoảng 10 – 15 ngày tiến

hành chặt cây, phương pháp chặt tương tự như áp dụng với mô hình chặt Sau khi chặt xong thì ngâm ngập trong lũ

(3) Biện pháp đốt: Ttrước khi đốt phải tiến hành chặt cây TN để tạo đường băng

và tập trung phương tiện cũng như lực lượng phòng cháy Đồng thời phải tiến hành tưới nước ướt đậm xung quanh đường băng để tạo ẩm nhằm ngăn ngừa sự lây lan của lửa sang khu vực xung quanh Trong khi đốt phải sử dụng các máy bơm chuyên dụng liên tục bơm nước nhằm mục đích chống cháy lan ra khu vực xung quanh

Để tiến hành biện pháp đốt, phải phun xăng pha dầu hoả lên tán cây với lượng 600 - 800lit/ ha tuỳ từng khu vực cụ thể Sau đó châm lửa đốt Khi đốt chú

ý châm lửa ngược theo chiều gió

(4) Biện pháp chặt kết hợp với đốt: Tương tự như mô hình chặt, sau khi chặt

khoảng 15 – 20 cây đã khô thì gom lại thành từng đống nhỏ, phun thêm dầu và tiến hành đốt Trong khi đốt phải sử dụng các máy bơm chuyên dụng liên tục bơm nước nhằm mục đích chống cháy lan ra khu vực xung quanh

(5) Biện pháp nhổ cây con: Biện pháp này phải tiến hành ngay sau lũ rút, lúc

này đất còn ẩm và cây mới mọc khoảng 5 -10cm, nếu để cây cao trên 10cm mới nhổ, bề mặt đất khô cứng thì sẽ rất khó thực hiện, vì lúc này bộ rễ đã ăn sâu vào trong đất và gai ở phần thân cây đã cứng nên gây khó khăn trong quá trình nhổ

Trang 27

(6) Biện pháp phun thuốc Roundup 480SC trừ cây trinh nữ trưởng thành:

Mô hình này được tiến hành với những khu vực cây trinh nữ có chiều cao dưới 2,5m

và còn lối đi lại Trong trường hợp cây mọc dày cần chặt thành từng băng rộng 3 - 4

m và lối đi khoảng 1,5m Thuốc được phun vào lúc cây xanh tốt, bộ lá phát triển mạnh, thường sau khi lũ rút khoảng 2 – 3 tháng Khi phun thuốc cần phun uớt đều toàn bộ bề mặt trên của lá Lượng thuốc phun trong các thí nghiệm là 3,0; 4,5 và 6 lit/ ha Lượng nước phun là 600 và 800lit/ ha tuỳ theo kích thước cây

(7) Mô hình chặt + phun thuốc Ally 20DF: Dùng dao sắc hoặc kéo chuyên

dụng chặt sát gốc cây, cách mặt đất khoảng 5 – 10cm, gom xác cây lại thành từng

đống Sau khi chặt khoảng 25 – 35 ngày khi chiều cao mầm tái sinh đạt 10 – 45cm (TB khoảng 30cm) tiến hành phun thuốc ướt đều toàn bộ bề mặt trên của lá

(8) Biện pháp phun thuốc Ally 20DF trừ cây mới mọc: Khi cây mới mọc có

chiều cao từ 35 – 45cm tiến hành phun thuốc Phun thuốc ướt toàn bộ bề mặt trên của lá Lượng thuốc phun trong các thí nghiệm là 45; 60 và 90g/ ha Lượng nước phun là 400 và 600lit/ ha

(9) Biện pháp chặt + phun thuốc: Dùng dao sắc hoặc kéo chuyên dụng chặt sát

gốc cây, cách mặt đất khoảng 5 – 10cm, gom xác cây lại thành từng đống Sau khi chặt khoảng 35 – 55 ngày khi chiều cao mầm tái sinh đạt 25 thì phun thuốc Ally 20DF lượng 45g/ ha Trường hợp cây có đường kính thân to (trên 2cm), chờ cây mọc tái sinh cao khoảng 50cm, tiến hành phun thuốc Roundup lượng 3,0lit/ ha, lượng nước phun 400lit/ ha Phin ướt đều toàn bộ bề mặt trên của lá

(10) Biện pháp trồng cây cạnh tranh:

- Cây Tràm úc: được tiến hành tại lòng hồ Hoà Bình và Thác Bà Chọn

những vị trí cây trinh nữ mới bắt đầu xâm lấn với mật độ thấp (< 2cây/ m2) tiến hành trồng cây tràm úc với khoảng cách: hàng cách hàng: 1m; cây cách cây : 1,5m (khoảng 6.500 – 7.000cây/ ha) Cây tràm giống có chiều cao khoảng 50cm (35 – 60cm) Giai đoạn đầu cây tràm chưa có khả năng che phủ 100% diện tích nên mức

độ cạnh tranh của chúng đối cây trinh nữ mới mọc là không đáng kể Vìvậy, sau khi trồng tràm cần phải chăm sóc và có biện pháp phòng trừ cây trinh nữ mới mọc (khoảng 1 – 2 năm) cho đến khi cây tràm đã khép tán hoặc chúng đạt được một chiều cao nhất định đủ để cạnh tranh với sự phát triển của cây trinh nữ mới mọc

Trang 28

- Gieo cỏ cạnh tranh: Được tiến hành tại vườn quốc gia Tràm Chim và

Nam Cát Tiên Các loài cỏ dại được sử dụng là cỏ bản địa thuộc nhóm Hoà thảo, cói lác và cây điên điển Cỏ được gieo và trồng ngay sau khi nước lũ rút tại các vùng cây con mọc rải rác

- Canh tác cây trồng trên các vùng đất canh tác bán ngập: Được tiến hành tại Hoà Bình Các cây trồng được sử dụng bao gồm lúa, ngô và lạc Trước mùa lũ tiến hành chặt cây TNTG trưởng thành, sau đó ngâm ngập lũ Sau khi nước rút, dọn sạch xác cây và gieo các loài cây trồng trên Tiến hành các hoạt động chăm sóc kết hợp với phòng trừ cỏ dại để trừ cây trinh nữ cũng như các loài khác Trên lúa và ngô, phun thuốc trừ cỏ Ally 20DF sau khi trồng 25-30 ngày Trên lạc, tiến hành xói xáo và nhổbổ sung các cây trinh nữ mới mọc

* Các chỉ tiêu đánh giá:

- Hiệu quả kỹ thuật: % sinh khối giảm, tỷ lệ cây chết (%), thời gian tái sinh

và phục hồi quần thể

+ Đối với biện pháp xử lý cây mới mọc (chiều cao từ 12 – 45cm) bằng thuốc hoá học, hiệu quả của thuốc được tính bằng cách đo chiều dài cây chết sau phun 15, 30, 45, 60 và 90 ngày sau phun thuốc và hiệu quả diệt trừ hoàn toàn cây ở thời điểm 90ngày sau phun Đối với cây mới mọc chiều cao từ 4 – 12cm hiệu quả của thuốc được đánh giá bằng cách quan sát tỷ lệ cây chết (chiều dài cây chết/ chiều dài cây trước xử lý) sau phun thuốc 10, 20, 30 và 45ngày sau phun thuốc và hiệu quả diệt trừ hoàn toàn cây ở thời điểm khi cây chết hoàn toàn

+ Đối với biện pháp xử cây trưởng thành bằng thuốc hoá học, hiệu quả của thuốc được đánh giá bằng cách quan sát ở thời điểm 15 và 30 ngày sau phun ở thời điểm 45, 60 và 90 ngày sau phun thuốc được tính bằng cách

đo chiều dài cây chết và hiệu quả diệt trừ hoàn toàn cây ở thời điểm 115ngày sau phun

+ Đối với biện pháp chặt + thuốc hoá học, hiệu quả của thuốc được tính bằng cách đếm số mầm chết hoàn toàn sau phu 15, 30, 45, 60 và 90 ngày Hiệu quả diệt trừ phần gốc cây được tính bằng cách đếm số gốc chết sau phun thuốc 115ngày

Trang 29

+ Thực vật: các nhóm cỏ chính như cỏ hoà thảo, cói lác và lá rộng: Xác

định mật độ và diện tích che phủ của các loài cỏ dại có trong các công thức thí nghiệm trước và sau xử lý; thời gian mọc trở lại sau xử lý

++ Động vật: ảnh hưởng của thuốc hoá học đối với cá; TN trong phòng

và TN trong nhà lưới; cho dung dịch nước thuốc vào bô can và bể xi măng theo nồng độ đã xác định, mỗi nồng độ được lặp lại 3 lần Sau đó thả cá và ốc bươu vàng vào trong bô can và bể xi măng

Chỉ tiêu theo dõi: Số cá và ốc chết sau thả: 1,2,3,5 và 7 ngày +++ ảnh hưởng đến các loài côn trùng và sinh vật sống trên cây: Quan sát và ghi nhận thành phần và tần suất bắt gặp của các loài sinh vật

++++vi sinh vật: Lấy mẫu đất từ 5 điểm đại diện trong các ô TN phun thuốc

để phân tích số lượng ví sinh vật tổng số và một số nhóm chủ yếu khác như nấm

mốc, nấm men, xạ khuẩn v.v

Chỉ tiêu: Số lượng và thời gian khôi phục quần thể

+ đánh giá tồn lưu của thuốc trừ cỏ trong đất, nước

++ xác định thời gian tồn tại của thuốc trong đất: thông qua phân tích dư lượng thuốc trong đất và biện pháp sinh học

Biện pháp sinh học: Được sử dụng để phân tích dư lượng của hoạt chất Glyphosate do hiện nay các phòng TN trong nước chưa phân tích được Phun thuốc vào các ô thí nghiệm ở lượng thí nghiệm, sau đó tiến hành gieo hạt đã nảy mầm của các cây trồng mẫn cảm như đậu xanh, lạc, đậu tương, bí đỏ và ngô vào các thời điểm cần xác định dư lượng Đánh giá tỷ lệ nảy mầm và sinh trưởng

+++ xác định phạm vi tác động của thuốc xác định bán kính thẩm thấu

của thuốc ra các vùng lân cận: Tiến hành 2 công thức TN

Công thức 1: Tưới nước đủ ẩm thường xuyên cho cây trồng phát triển bình thường Công thức 2: Tưới đậm nước thường xuyên cho cây trồng

Trang 30

Không phun thuốc Phun thuốc Không phun thuốc

Quan sát triệu chứng bị ảnh hưởng của cây trồng ở thời điểm sau mọc

1, 2, 3, 5, 10, 15 và 20 ngày

Các kỹ thuật ứng dụng: bao gồm các kỹ thuật chọn điểm, thiết kế thí

nghiệm, quan sát và đánh giá kết quả, các kỹ thuật phân tích dư lượng hoá chất

và đo đếm vi sinh vật trong đất

(5) Phương pháp tuyên truyền và chuyển giao tiến bộ KHKT: Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các ấn phẩm, tờ rơi, bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành và các lớp tập huấn kỹ thuật cho cán bộ và nông dân

Bên cạnh phương pháp nghiên cứu thực địa thông qua các thí nghiệm phòng trừ, phương pháp tư vấn chuyên gia và phương pháp PRA cũng sẽ được áp dụng Sau mỗi đợt thí nghiệm sẽ tổ chức 1 cuộc hội nghị đánh giá kết quả và lấy ý kiến tư vấn của các nhà khoa học trước khi tiến hành các mô hình trình diễn Sau khi tiến hành xong mô hình sẽ tổ chức 1 hội thảo khoa học để lấy ý kiến của khoảng 40 nhà khoa học và nhà quản lý nhằm đánh giá tính khả thi và xác định phạm vi, quy mô và điều kiện ứng dụng của từng biện pháp cho từng vùng sinh thái cụ thể

V Kết quả nghiên cứu

V.1 Kết quả điều tra thực trạng, đặc điểm xâm nhiễm, nguồn gốc và con đường phát tán của cây TNTG

Tuy vấn nạn về cây TNTG hay còn gọi là cây Mai dương đã được nhiều

địa phương và nhiều phương tiện thông tin đại chúng cảnh báo nhưng hiện nay phản ứng của các địa phương trong việc điều tra, phát hiện cũng như đưa ra những giải pháp phòng trừ bước đầu còn hết sức chậm trễ và phần lớn vẫn còn trông chờ ở Trung ương Trừ các vườn quốc gia, hầu hết các địa phương đều không có được một con số thống kê nào về diện tích xâm nhiễm của cây TNTG Nguyên nhân có thể do cây TNTG thường mọc rải rác và phát tán chủ

Trang 31

định lượng chính xác diện tích xâm nhiễm thực tế được

V.1.1 Thực trạng xâm lấn của cây TNTG ở một số khu vực bị xâm nhiễm chủ yếu

V.1.1.1 Tại Vườn quốc gia Tràm Chim

Vườn quốc gia Tràm Chim là khu đất ngập nước theo mùa thuộc huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, nằm ở 10037’đến 10046’-vĩ Bắc, 105028’ đến105036’

kinh Đông, thuộc các xã Phú Đức, Phú Hiệp, Phú Thành, Tân Công Sính Đây là vùng sinh thái ngập nước đặc trưng của vùng đồng Tháp Mười Tràm Chim có diện tích 7.612ha với 5 khu được đánh số từ A1 đến A5. Theo báo cáo của Vườn này, cây TNTG đã xâm nhiễm rất nhanh: những năm 1984-1985 chỉ có một vài bụi trong Vườn Quốc gia, đến nay cây TNTG đã xâm nhiễm một diện tích khá lớn khoảng 2.900 ha Từ năm 1999 đến 2005 hàng năm diện tích bị cây TNTG xâm nhiễm cứ tăng lên với tỷ lệ gấp 1.5 lần (bảng 1)

Bảng 1 Tình hình xâm lấn của cây TNTG ở Tràm Chim

Thời gian Diện tích bị xâm lấn (ha) Ghi chú

Trang 32

Tại khu vực cây trưởng thành, mật độ cây TNTG trung bình là 4,3 cây/

m2 Nơi bị nhiễm nặng (khu A4) thì mật độ cây cao nhất đạt 12 cây/ m2 Diện tích có mật độ cao (12 cây/ m2) chiếm khoảng 15% Phần lớn diện tích bị nhiễm (trên 55%) có mật độ 4-5 cây/ m2, khoảng 25% diện tích bị nhiễm có mật độ 7-8 cây/m2 và diện tích bị nhiễm dưới 1 cây/ m2 dưới 5% (bảng 2) Tại những khu vực mới xâm nhiễm, mật độ cây rất cao ( > 20 cây/ m2 ) thậm chí có nơi mật độ cây con lên tới 115 cây/ m2 Vì vậy, nguy cơ bùng phát dịch rất lớn nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời

V.1.1.2 Tại vườn Quốc gia Cát Tiên

Vườn Quốc gia Cát Tiên rộng lớn với tổng diện tích 73.878 ha, được chia làm ba khu Cát Lộc, Tây Cát Tiên và Nam Cát Tiên Theo báo cáo của Vườn Quốc gia Cát Tiên, hiện nay cây TNTG có mặt ở hầu hết các điểm đất ngập nước trong vùng lõi của vườn với mức độ khác nhau, Bầu Chim, Bầu Sấu là những điểm

điển hình Cây TNTG phát triển mạnh ở Bầu Chim từ 1995-1999 và đên thời điểm năm 1999, chúng đã xâm nhiễm hầu như toàn bộ diện tích của Bầu Chim (50-60 ha) Tại Bầu Sấu cây TNTG cũng đã xâm nhiễm và phát triển rất mạnh

Từ 1999, được sự giúp đỡ của dự án bảo tồn, mỗi năm Vườn Quốc gia Cát Tiên phải chi khoảng trên 100 triệu đồng để chặt cây và nhổ cây TNTG ngay từ khi cây mới mọc Nhưng đến đầu mùa khô thì cây lại mọc trở lại và phát triển rất nhanh, chỉ sau 3 tháng có thể cao 60-70 cm Hàng năm trong Bầu Chim thường xuyên có cây con mọc thêm nên mật độ cây cũng tăng nhanh theo thời gian Vào thời điểm năm 2001, mật độ cây TNTG tại những vùng không được phòng trừ kịp thời vào khoảng 3-8 cây/ m2 (trung bình là 4,7 cây/

m2), diện tích che phủ khoảng 70% Tại những vùng được nhổ bỏ thường xuyên, cây con vẫn tiếp tục mọc trên toàn bộ diện tích bề mặt Bầu Chim Mật

độ cao nhất có chỗ lên tới trên 100 cây/ m2

ở vùng đệm, cây TNTG xâm nhiễm dọc theo sông Đồng Nai, dọc các suối trong vùng và ở cả các khu sản xuất nông nghiệp Khu vực tập trung nhiều nhất hiện nay là các cánh đồng lúa từ trung tâm huyện Cát Tiên đến các xã Gia Viễn, Phước Cát 1, Phước Cát 2 (tỉnh Lâm Đồng) và xã Đắc Lua (Tân Phú - Đồng Nai) Diện tích bị nhiễm cây TNTG ở vùng đệm khoảng 100-120 ha Ngoài ra,

Trang 33

Hiện nay, cây TNTG xâm lấn hầu như các vùng đất thuộc khu vực gò

đồi và dần lan sang các khu vực đất thấp hơn, nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời thì chỉ trong vài năm tới toàn bộ khu vực thuộc lưu vực sông La Ngà sẽ bị cây TNTG xâm nhiễm toàn bộ Ngoài ra, cây TNTG còn mọc rải rác

2 bên bờ mương, suối và nương rẫy của nông dân gây khó khăn cho hoạt động sản suất nông nghiệp cũng như nuôi trồng thuỷ sản của người dân

V.1.1.4 Tại lòng hồ Thác Bà

Lòng hồ Thác Bà thuộc địa phận của huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái Nơi đây, cây TNTG bắt đầu xuất hiện lác đác trên các đảo của khu vực lòng hồ Thác Bà và dọc theo hai bên bờ sông Chảy từ những năm 1970 Từ năm 1990 trở lại đây hiện trạng cây TNTG tiếp tục xâm lấn trên diện rộng Theo thống kê của ban quy hoạch lòng hồ Thác Bà thì có khoảng 2000 hòn đảo và có 99 lạch nước lớn chảy vào khu vực lòng hồ đã bị cây TNTG xâm lấn Đặc biệt là từ năm 1995, cây TNTG đã phát tán và xâm lấn nặng ở các vùng đất canh tác, gây khó khăn rất lớn cho sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi thuỷ sản cũng như nhiều ngành khác có liên quan

Trang 34

Đặc biệt là từ năm 1971 từ khi nhà máy thuỷ điện Thác Bà hoạt động lòng hồ Thác Bà trở thành khu vực chứa nước cho nhà máy hoạt động Sự gia tăng diện tích bị ngập nước và sự tích trữ nguồn nước như một lòng chảo tích luỹ nguồn hạt, đặc biệt trong môi trường bán ngập nước khả năng sinh sản và phát tán của hạt cây TNTG rất nhanh đó nguyên nhân dẫn tới diện tích bị cây TNTG xâm lấn tăng lên rất nhanh trong những năm vừa qua

Qua điều tra tại 25 xã xung quanh khu vực lòng hồ thì hầu hết các xã đều bị cây TNTG xâm lấn trong đó có 19 xã bị cây xâm lấn với mật độ cao Hiện đã có 1.039ha trong tổng số 1.454 ha đất canh tác thuộc khu vực lòng hồ (chiếm 71.46%) Nếu tính theo tổng diện tích đất canh tác của toàn bộ các xã (kể cả khu vực cao và khu vực lòng hồ) thì diện tích bị cây TNTG xâm lấn cũng đã xấp xỉ 7%

Qua điều tra 19 xã bị cây TNTG xâm lấn thì có 6 xã bị xâm lấn với mức

độ cao đáng báo động đó là:

- Yên thành bị xâm lấn 113 ha, Bảo ái bị xâm lấn 270 ha, Mông Sơn bị xâm lấn 250 ha

Trong đó có Mông Sơn; Bảo ái; Yên Thành ở tình trạng khó kiểm soát

được, còn 8 xã còn lại đó là: Thị Trấn Yên Bình; Tích Cốc; Phúc Ninh; Phú Thịnh; Đại Minh; Mỹ Gia; Thanh Hà tuy cây TNTG mới chỉ xuất hiện lác đác, nhưng nguy cơ bị xâm lấn mạnh trong những năm tới là rất cao Do đó chúng ta cần phải cảnh báo sớm để ngăn chặn khả năng xâm lấn của cây TNTG

Do kích thước đường kính thân cây bé nên mật độ cây TNTG ở Yên Bái khá cao Tại những vùng cây trưởng thành 2-3 năm tuổi, mật độ TB có thể đạt 11,3 cây/ m2, cao nhất có thể lên tới 26 cây/ m2 Những vùng mới bị xâm nhiễm, mật độ cây con có thể lên tới 270 cây/ m2

V.1.1.5 Tại lòng hồ Hoà Bình

Đây là một lòng hồ có diện tích rộng lớn thuộc các huyện Cao Phong; Đà Bắc; Mai Châu; Tân Lạc; Thị xã Hoà Bình Cũng như khu vực lòng hồ Thác Bà, cây TNTG xâm nhiễm ở hai khu vực chủ yếu là các đảo giữa lòng hồ và các vùng đất canh tác bán ngập nằm trong vành đai chứa nước trong mùa mưa Cây TNTG bắt đầu xuất hiện vào những năm 1995 –

1996, ban đầu chúng xâm lấn các gò đất cao thuộc lòng hồ và dọc hai bên

Trang 35

bờ sông Đà Vào mùa nước, nguồn hạt trôi dạt vào các thung lũng và các vùng đất bán ngập thuộc khu vực chứa nước của hồ Hoà Bình và xâm nhiễm trên diện tích khá rộng lớn Hiện tại, việc thống kê diện tích các

đảo bị xâm nhiễm gặp khó khăn vì rất khó xác định chiều rộng dải bị xâm nhiễm Tuy nhiên theo ước tính thì diện tích này có thể lên tới xấp xỉ 3000

ha Tại các vùng đất bán ngập, diện tích bị xâm nhiễm hoàn toàn là 200

ha Diện tích xâm nhiễm của TNTG bắt đầu tăng nhanh từ những năm

1990, nhưng khi mới bắt đầu bị xâm lấn, nông dân có thể áp dụng biện pháp chặt bỏ để duy trì hoạt động canh tác nên mức độ xâm nhiễm còn nhẹ Tuy nhiên, kể từ năm 1998 trở lại đây, diện tích bị xâm nhiễm ngày càng mở rộng với mật độ cao, vì vậy việc phòng trừ gặp rất nhiều khó khăn Đặc biệt kể từ năm 2002 đến nay, diện tích xâm lấn hàng năm đều tăng gấp 2-3 lần Mật độ cây cũng tăng nhanh chóng kể từ năm 1998 trở lại đây Cá biệt có vùng mật độ cây ban đầu chỉ vào khoảng 1-2 cây/ m2 nhưng nay đã bị che phủ hoàn toàn với mật độ từ 17-20 cây/ m2, thậm chí nhiều vùng cây con mới mọc có thể lên tới trên 150 cây/ m2

Do mọc trong vùng ngập nước nên cây TNTG thường phát triển nhanh

về chiều cao hơn là đường kính thân, vì vậy tại những vùng đã bị xâm nhiễm hoàn toàn trên 5 năm ở cả hai khu vực lòng hồ Thác Bà và Hoà Bình, chiều cao cây TNTG có thể lên đến trên 6m Đặc biệt ở nhiều khu vực thuận lợi, cây mọc thành tầng dày đặc gây khó khăn rất lớn cho công tác phòng trừ

Bảng 2 Mức độ nhiễm cây TNTG ở một số khu vực điều tra năm 2005

Diện tích nhiễm (ha) Mật độ (cây/ m 2 ) *

Địa điểm

Khu vực lòng hồ/

vùng lõi

Khu vực

đất canh tác bán ngập/

Trang 36

V 1.1.6 Tại các tỉnh khác thuộc khu vực đồng bằng sông Mê Kông

Đây là khu vực có nhiều điều kiện thuận lợi cho cây TNTG phát tán và xâm lấn vì vậy diện tích xâm nhiễm đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng Tuy nhiên, hiện nay khu vực đáng báo động đó là vùng Đồng Tháp Mười thuộc địa phận các tỉnh Long An, Tiền Giang và Đồng Tháp với diện tích xâm lấn tương ứng của mỗi tỉnh xấp xỉ là 850, 600 và 550ha Theo chi Cục Bảo Vệ Thực Vật

tỉnh Đồng Tháp trước năm 1980 cây TNTG chỉ có ở huyện Tân Hồng, Hồng Ngự

Từ năm 1981 đến 1985 cây TNTG xuất hiện rải rác ở Tam Nông, Thanh Bình Từ năm 1991 đến 2003 cây TNTG mọc nhiều ở huyện Tam Nông và khu vực đồng Tháp mười Sự xâm lấn của cây TNTG tại các khu vực này chủ yếu là các vùng

đất thấp ven lộ, dọc các mương hay lạch nước và các vùng đất bán ngập chưa được canh tác hoặc đã canh tác nhưng do điều kiện bất thuận nên bị bỏ hoang Tại các tỉnh khác như Vĩnh Long, Hậu Giang, An Giang hay Kiên Giang, sự phát tán và xâm nhiễm của cây TNTG còn ở mức độ nhẹ, mọc rải rác, chưa xuất hiện những vùng xâm lấn tập trung hay các vùng có nguy cơ tích luỹ quần thể lớn Tại vườn quốc gia U minh thượng, do diện tích trống không bị các thảm thực vật che phủ không lớn nên cây TNTG không có điều kiện phát tán và xâm nhiễm nhanh trên diện rộng Cho đến nay, diện tích xâm nhiễm ở mỗi vườn chỉ vào khoảng 250 ha

Đặc biệt, do được quan tâm phòng trừ thường xuyên nên các diện tích mới bị xâm nhiễm nhanh chóng được khống chế Hàng năm, cây TNTG vẫn tái mọc trở lại nhưng trên diện hẹp và được ngăn chặn, xử lý kịp thời

V.1.1.7 Tại một số tỉnh khác ở khu vực phía Bắc

Do đặc điểm phát tán của cây TNTG chủ yếu là nhờ nguồn nước (xem phân tích mục V.2) nên sự xâm nhiễm của chúng thường được hướng về các lưu vực sông lớn như sông Hồng, sông Mã, sông Đà, sông Chảy v.v Tuy nhiên qua thực tế điều tra cho thấy, cây TNTG ít mọc dọc theo các sông lớn mà phần lớn mọc dọc theo các con sông nhánh, các mương nội đồng đặc biệt sự xâm lấn tập trung thường xảy ra ở các bãi sông bán ngập hay các vùng đất nội đồng bán ngập có điều kiện canh tác khó khăn, do đó ít được quan tâm canh tác Tại các vùng đất cao, cây TNTG chỉ phát tán và xâm nhiễm rải rác theo từng đám nhỏ,

ít có nguy cơ xâm nhiễm trên diện rộng Vì vậy sự phát tán và xâm nhiễm của

Trang 37

cây TNTG ở một số tỉnh miền núi phía bắc thuộc thượng nguồn các sông lớn như Điện Biên, Sơn La, Lao Cai, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn hay Tuyên Quang còn rải rác và chưa thực sự đáng báo động, diện tích xâm nhiễm mỗi tỉnh chỉ vào khoảng 150 đến 300 ha Trong khi đó, các vùng đất bán ngập thuộc hạ nguồn các dòng sông lớn đang là các điểm nóng đáng báo động, tại một số địa phương, cây TNTG đã phát tán và gia tăng diện tích rất nhanh Đặc biệt tại Quảng Trị, nhiều vùng đất bán ngập dọc theo các đường lộ hay các mương nước ở vùng thấp thuộc các huyện Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng đã bị cây TNTG xâm lấn dày đặc, tạo thành những vùng tập trung với diện tích xấp xỉ 1000ha ở một số tỉnh khác như Huế, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Bắc Giang, cây

TNTG đã bắt đầu phát tán và mọc thành những dải tập trung với diện tích khá lớn

Bảng 3: Diện tích xâm nhiễm của cây TNTG tại một số tỉnh miền núi

phía Bắc và vùng đồng bằng sông Mê Kông

Địa phương

Diện tích nhiễm

(ha)

Ghi chú

Đồng Tháp 850

Phân bố chủ yếu ở huyện Tam Nông và vùng

đồng Tháp Mười DT này không bao gồm diện tích nhiễm của vườn quốc gia Tràm Chim

Long An 600 Phân bố chủ yếu vùng đồng Tháp Mười

Tiền Giang 550 Phân bố chủ yếu ở vùng đồng Tháp Mười

An Giang 250 Thường xuyên được tỉnh phát động phòng trừ

nên diện tích nhiễm đã được hạn chế đáng kể Kiên Giang 400

đường và ven sông nhỏ Tuyên Quang 300 Mọc chủ yếu ở các vùng đất ven sông và thung lũngPhú Thọ 350 Mọc chủ yếu ở các vùng đất ven sông và thung lũng Quảng Trị 1000

Cây phát tán trên diện rộng, đã hình thành các vùng tập trung (5-10ha) Mọc chủ yếu ở các vùng

đất bán ngập, đất xấu, điều kiện canh tác kém

Trang 38

V.1.2 Đặc điểm xâm nhiễm của cây TNTG ở một số vùng sinh thái chủ yếu

* Tại các Vườn quốc gia

Sự xâm nhiễm ban đầu của cây TNTG thường diễn ra ở các khu vực đất trống, không bị che bóng sau đó lan dần ra khu vực đồng cỏ ở những khu vực có cây tràm che kín bóng hoặc khu vực nước sâu như đầm sen thì cây TNTG hầu như không mọc được Tại các khu vực có điều kiện thuận lợi, sự xâm nhiễm ban đầu dọc theo các lạch nước, các khu vực cao hơn vì cây trinh nữ thường mọc ngay sau khi nước rút Vì vậy, tại những vùng mới bị xâm nhiễm, cây thường mọc thành băng rộng từ 20-40 m phân bố theo dòng nước Tuy nhiên, trong trường hợp bị xâm lấn nặng, cây có thể lan rộng và che phủ toàn bộ diện tích bề mặt

Tại vườn quốc gia Tràm Chim: Cây TNTG phân bố rải rác ở hầu hết cả

5 khu của Vườn Quốc gia Tràm Chim (A1, A2, A3, A4, A5) Cây thường mọc dọc theo các bờ kênh, dọc các bàu, đầm sen và các đường nước chảy Tất cả đê bao xung quanh khu vực vườn Quốc gia Tràm Chim đều bị cây TNTG xâm lấn

kể cả những con kinh nhỏ nằm sâu trong nội đồng như kinh Mười Nhẹ, kinh Bà Hồng, kinh nhỏ song song với kinh Phú Hiệp thuộc khu A1 Ven bờ các con kinh chống cháy trong nội đồng mới đào đến nay chỉ được khoảng một năm cũng bị cây TNTG xâm lấn, có nơi nó mọc vào sâu đến 400m (Khu A4) Khu

A4, A2 và A5 là những khu bị xâm lấn nặng nhất, tại các khu vực này cây TN mọc theo các đường nước hình vòng cung lấn sâu vào nội đồng đến 500-600m

Đặc biệt tại khu A4, diện tích và mức độ xâm nhiễm không ngừng gia tăng Trước năm 2000, cây còn mọc rải rác hoặc mọc theo băng nhưng hiện nay toàn

bộ 590 ha diện tích không trồng tràm của khu A4 bị xâm lấn dày đặc hoàn toàn Sự phân bố của cây không tập trung mà thường mọc rải rác và theo băng, mỗi băng rộng từ 20-40 m Giữa hai băng có những khoảng trống thường là những lạch nước Sự phân bố này có thể do ảnh hưởng của dòng chảy khi nước

lũ rút Nhưng theo thời gian, cây TNTG có thể mọc lấn sang các khoảng trống tạo thành những vùng bị nhiễm liền khoảnh rộng hơn Cho đến nay, chỉ còn khu C (khu Hành chính của Vườn Tràm Chim) là khu mới bị xâm nhiễm nên cây TNTG mọc dọc theo hai bên dòng nước theo như quy luật trên, các khu còn

Trang 39

lại trong Vườn Tràm Chim sự xâm nhiễm của cây TNTG không tuân theo quy luật đó nữa mà chúng xâm lấn hầu như toàn khu với tốc độ lây lan rất nhanh

* Tại lưu vực sông La Ngà: ban đầu cây xâm nhiễm chủ yếu ở

các vùng gò đồi cao cạnh các bãi sông, sau đó theo mực nước rút chúng xâm lấn dần tới sát mép nước sông tạo thành những băng dài với chiều rộng khoảng 20 - 30 m và chiều dài hàng trăm mét (từ sát khu dân cư tới mép sông) Nguồn hạt cũng được tích luỹ tại những khu vực cao, sau đó phát tán ra các khu vực thấp hơn cạnh mép sông Nhìn chung đây là khu vực thuận lợi cho cây phát tán và xâm nhiễm vì thảm thực vật che phủ hầu như không có Trong điều kiện mới bị xâm nhiễm nhẹ, nông dân có thể chặt cây trước khi mùa lũ về, sau khi lút thì tiến hành gieo trồng ngay các cây trồng ngắn ngày như lúa, ngô, rau và đậu các loại Tuy nhiên trong nhiều trường hợp bị xâm nhiễm nạng nông dân không thể tiếp tục canh tác

được, cây sinh trưởng và phát tán rất nhanh Đây là điều kiện thuận lợi cho việc tích luỹ nguồn hạt và xâm nhiễm tiếp tục của cây TNTG

* Tại các khu vực lòng hồ Thác Bà và Hoà Bình: Cây TNTG xâm

nhiễm nặng trên tất cả các đảo giữa lòng hồ và các khu vực đất canh tác bán ngập thuộc khu vực chứa nước cho các nhà máy thuỷ điện

Trên các khu vực đảo giữa hồ: Trong mùa ngập nước, hạt trinh nữ thường bám vào các thảm cỏ và mô đất ven theo các bình độ thấp của các hòn đảo Khi nước rút, hạt bắt đầu nảy mầm và sinh trưởng, phát triển Có thể nhận thấy rất rõ là khi nước dâng đến đâu, thì nguồn hạt tích tụ và phát tán đến đó Trong trường hợp bị ngập nước hoàn toàn, TNTG có thể xâm nhiễm và che phủ toàn bộ các hòn đảo thấp Tại lòng hồ Hoà Bình, có những bình độ bị ngập trong nước tới hàng vài chục mét nhưng cây TNTG vẫn tồn tại, ngay sau khi nước rút cây lại bắt đầu tái sinh ở các khu vực nước sâu, cây kết thành bè trôi nổi trên mặt nước

Tại các vùng canh tác bán ngập: đây thường là các khu vực lòng chảo bằng phẳng hay các khu vực đất canh tác dọc theo lạch nước thông với khu vực lòng hồ, vì vậy có điều kiện thuận lợi cho hạt trinh nữ phát tán và tích luỹ Sự xâm

Trang 40

lấn ban đầu thường xảy ra từ các khu vực đất công như ven đường đi, dọc theo bờ mương nước, bờ ruộng hay các ruộng đất hoang hoá, các ruộng có điều kiện canh tác đặc biệt khó khăn Sau khi có nguồn hạt tích luỹ đủ lớn, cây trinh nữ bắt đầu phát tán trên toàn bộ diện tích với mật độ thấp Trong trường hợp không được ngăn chặn kịp thời, cây sẽ nhanh chóng xâm nhiễm và lất át toàn bộ diện tích canh tác

Như vậy, qua các đặc điểm xâm nhiễm trên có thể thấy rõ ngoài những

điều kiện thuận lợi về mặt tự nhiên thì hoạt động của con người cũng là một

điều kiện quan trọng tác động đến quá trình phát tán, tích luỹ nguồn hạt và xâm lấn của cây TNTG Trong điều kiện không có hoạt động canh tác của con người hay không có sự quan tâm ngăn chặn sớm thì mức độ xâm nhiễm của cây TNTG

sẽ diễn ra nhanh chóng và ở mức độ cao hơn

* Tại các vùng đất công, đất hoang hoá và công trình giao thông:

đây là khu vực đáng báo động hiện nay Sự xâm nhiễm ban đầu của của cây TNTG thường xuất phát từ các vùng đất này Đặc biệt các dải đất hoang thuộc hành lang đường quốc lộ, dọc theo ven đường thường là vùng thấp, rất dễ bị cây trinh nữ xâm nhiễm Do có đủ điều kiện thuận lợi để cho cây tích luỹ nguồn hạt lại không có sự quản lý và kiểm soát của con người, mức độ xâm nhiễm ngày càng nặng Khi tích luỹ được một lượng hạt đủ lớn, cây trinh nữ bắt đầu lan rộng và phát tán sang các khu vực đất canh tác xung quanh

V.1.3 Nguồn xâm nhiễm ban đầu, con đường phát tán và các điều kiện tiên quyết để cây TNTG có thể xâm nhiễm

Cho đến nay có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc phát tán và hình thức xâm nhiễm của cây TNTG ở nước ta, tuy nhiên qua các kết quả

điều tra khảo sát về thực trạng và đặc điểm xâm nhiễm cho thấy hình thức phát tán ban đầu của cây TNTG chủ yếu vẫn là theo các dòng nước Vì vậy,

có thể khẳng định nguồn khởi phát ban đầu đều từ thượng nguồn các sông lớn đưa về Tuy nhiên, tại mỗi vùng sinh thái, mỗi vùng đất đặc thù khác nhau thì con đường phát tán, xâm nhiễm và tích luỹ quần thể của cây trinh nữ cũng khác nhau Qua điều tra và khảo sát cho thấy, có 4 con đường phát tán chủ yếu của cây TNTG tại các vùng sinh thái của nước ta bao gồm:

Ngày đăng: 14/05/2014, 21:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 14. Biến động chiều cao cây TNTG tại một số khu vực bị xâm nhiễm - Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp phòng trừ cây trinh nữ thân  gỗ (mimosa pigral ) ở việt nam.
Bảng 14. Biến động chiều cao cây TNTG tại một số khu vực bị xâm nhiễm (Trang 56)
Bảng 16: ảnh hưởng của chế độ nước tới chiều cao cây cây TNTG tại một - Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp phòng trừ cây trinh nữ thân  gỗ (mimosa pigral ) ở việt nam.
Bảng 16 ảnh hưởng của chế độ nước tới chiều cao cây cây TNTG tại một (Trang 57)
Bảng 17. Đ−ờng kính thân cây TNTG (cm) ở các tuổi cây và điều kiện - Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp phòng trừ cây trinh nữ thân  gỗ (mimosa pigral ) ở việt nam.
Bảng 17. Đ−ờng kính thân cây TNTG (cm) ở các tuổi cây và điều kiện (Trang 57)
Bảng 19: Động thái ra lá của cây TNTG sau mọc - Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp phòng trừ cây trinh nữ thân  gỗ (mimosa pigral ) ở việt nam.
Bảng 19 Động thái ra lá của cây TNTG sau mọc (Trang 59)
Bảng 22. Một số chỉ tiêu sinh tr−ởng khác của cây TNTG - Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp phòng trừ cây trinh nữ thân  gỗ (mimosa pigral ) ở việt nam.
Bảng 22. Một số chỉ tiêu sinh tr−ởng khác của cây TNTG (Trang 61)
Bảng 23: Một số chỉ tiêu sinh thực ở các vùng sinh thái khác nhau - Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp phòng trừ cây trinh nữ thân  gỗ (mimosa pigral ) ở việt nam.
Bảng 23 Một số chỉ tiêu sinh thực ở các vùng sinh thái khác nhau (Trang 62)
Bảng 28: Hiệu quả của biện pháp chặt + ngâm ngập lũ đối với cây trưởng thành - Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp phòng trừ cây trinh nữ thân  gỗ (mimosa pigral ) ở việt nam.
Bảng 28 Hiệu quả của biện pháp chặt + ngâm ngập lũ đối với cây trưởng thành (Trang 73)
Bảng 31. Chi phí để thực hiện biện pháp đốt cây TNTG tại các vùng sinh - Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp phòng trừ cây trinh nữ thân  gỗ (mimosa pigral ) ở việt nam.
Bảng 31. Chi phí để thực hiện biện pháp đốt cây TNTG tại các vùng sinh (Trang 81)
Bảng 32: Mức độ ảnh hưởng của biện pháp đốt đến một số loài thực vật - Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp phòng trừ cây trinh nữ thân  gỗ (mimosa pigral ) ở việt nam.
Bảng 32 Mức độ ảnh hưởng của biện pháp đốt đến một số loài thực vật (Trang 83)
Bảng 34. Chi phí để thực hiện biện pháp  chặt + đốt cây TNTG tại các vùng sinh - Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp phòng trừ cây trinh nữ thân  gỗ (mimosa pigral ) ở việt nam.
Bảng 34. Chi phí để thực hiện biện pháp chặt + đốt cây TNTG tại các vùng sinh (Trang 88)
Bảng 35: Hiệu quả của biện pháp nhổ cây mới mọc tại các điểm thí nghiệm – 2005 - Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp phòng trừ cây trinh nữ thân  gỗ (mimosa pigral ) ở việt nam.
Bảng 35 Hiệu quả của biện pháp nhổ cây mới mọc tại các điểm thí nghiệm – 2005 (Trang 91)
Bảng 37. Chi phí công lao động  để tiến hành biện pháp nhổ cây con tại các - Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp phòng trừ cây trinh nữ thân  gỗ (mimosa pigral ) ở việt nam.
Bảng 37. Chi phí công lao động để tiến hành biện pháp nhổ cây con tại các (Trang 95)
Bảng 46: Mức độ ảnh hưởng của thuốc Ally 20DF – lượng 90 g/ ha - Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp phòng trừ cây trinh nữ thân  gỗ (mimosa pigral ) ở việt nam.
Bảng 46 Mức độ ảnh hưởng của thuốc Ally 20DF – lượng 90 g/ ha (Trang 107)
Bảng 47: ảnh hưởng của Ally 20 DF tới sự biến động số lượng vi sinh vật tổng - Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp phòng trừ cây trinh nữ thân  gỗ (mimosa pigral ) ở việt nam.
Bảng 47 ảnh hưởng của Ally 20 DF tới sự biến động số lượng vi sinh vật tổng (Trang 108)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm