1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kết quả xây dựng mô hình phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ ở Việt Nam

44 904 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kết quả xây dựng mô hình phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ ở Việt Nam
Tác giả Nhóm tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Viện Bảo vệ Thực vật
Trường học Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Kỹ thuật bảo vệ thực vật
Thể loại Báo cáo tổng kết
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 318,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặt vấn đề Trong khuôn khổ thực hiện đề tài độc lập cấp nhà nước “Nghiên cứu các năm 2005, đề tài đã tiến hành các thí nghiệm để đánh giá được hiệu quả kỹ thuật, kinh tế và tác động môi

Trang 1

Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn

Viện khoa học nông nghiệp việt nam

Báo cáo tổng kết chuyên đề

Kết quả xây dựng mô hình phòng trừ

cây trinh nữ thân gỗ năm 2006

Thuộc đề tài độc lập cấp nhà nước Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ (mimosa pigra l.) ở việt nam

Trang 2

Bộ Nông nghiệp và PTNT Viện Khoa học nông nghiệp Việt nam

Viện Bảo vệ thực vật

Báo cáo

Kết quả xây dụng mô hình phòng trừ

cây trinh nữ thân gỗ mimosa pigra năm 2006

trừ cây Trinh nữ thân gỗ (Mimosa pigra L.) ở việt nam

Mã số: ĐTĐL – 2005/ 02 Thuộc chương trình: Đề tài độc lập cấp nhà nước

Hà Nội 10/ 2006

Trang 3

Kết quả xây dụng mô hình phòng trừ cây trinh

nữ thân gỗ mimosa pigra năm 2006

I Đặt vấn đề

Trong khuôn khổ thực hiện đề tài độc lập cấp nhà nước “Nghiên cứu các

năm 2005, đề tài đã tiến hành các thí nghiệm để đánh giá được hiệu quả kỹ thuật, kinh tế và tác động môi trường của các biện pháp phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ như:

• Biện pháp thủ công cơ giới (chặt, nhổ, đốt, chặt + đốt, chặt ngâm ngập lũ)

• Biện pháp sinh học (gieo các loài cỏ dại cạnh tranh có trong hệ sinh thái của các vườn Quốc gia hay trồng cây tràm úc để che bóng ở một

số vùng lòng hồ),

• Biện pháp hoá học (sử dụng các thuốc trừ cỏ huỷ diệt và chọn lọc)

• Biện pháp thủ công kết hợp với hoá học

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu đã đạt được trong năm 2005, trong năm

2006 đề tài đã tiến hành xây dựng 5 mô hình trình diễn tại 5 địa phương bao gồm vườn quốc gia Tràm Chim, vườn quốc gia Nam Cát Tiên, lưu vực sông

La Ngà, lòng hồ Hoà Bình và Thác Bà

Mục tiêu: Khẳng định được hiệu quả kỹ thuật, kinh tế và khả năng triển kha

trên diện rộng của các biện pháp phòng trừ cây TNTG để từ đó có cơ sở đề xuất quy trình phòng trừ tổng hợp cây TNTG phù hợp với từng vùng sinh thái khác nhau ở Việt Nam

II Địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu

II.1 Địa điểm: Các mô hình được tiến hành tại 5 địa điểm là: vườn Quốc gia

Tràm Chim, Nam Cát Tiên, lưu vực sông La Ngà, lòng hồ Hoà Bình và Thác Bà

II.2 Nội dung: Xây dựng 5 mô hình tại 5 địa phương với quy mô của mỗi mô

hình là 10 ha bao gồm 10 biện pháp khác nhau như: (1) chặt; (2) nhổ; (3)

đốt; (4) phun thuốc Roundup 48EC để huỷ diệt cây trưởng thành; (5) phun Ally 20DF để diệt cây con mới mọc; (6) chặt + đốt; (7) chặt + phun thuốc trừ

cỏ chọn lọc; (8) chặt + phun thuốc trừ cỏ huỷ diệt; (9) chặt sau đó ngâm ngập lũ; (10) trồng cây cạnh tranh + phun thuốc trừ cỏ

Trang 4

II 3 Phương pháp xây dựng mô hình: Mỗi mô hình bao gồm 10 biện pháp

khác nhau để so sánh hiệu quả kỹ thuật, kinh tế, ưu và nhược điểm khi triển khai trên diện rộng

Kỹ thuật tác động đối với từng mô hình như sau:

(1) Mô hình chặt: Chọn ô đại diện cho mức độ xâm nhiễm, sinh trưởng và

phát triển của cây TNTG tại vùng thí nghiệm Sau đó dùng dao sắc hoặc kéo

chuyên dụng chặt sát gốc cách mặt đất khoảng 5 – 10 cm Thu dọn thân cây

sau chặt và theo dõi khả năng mọc tái sinh của cây sau chặt 1 tháng, 2 tháng

(2) Mô hình chặt + ngâm lũ: Trước khi lũ về khoảng 10 – 15 ngày tiến hành

chặt cây, phương pháp chặt tương tự như áp dụng với mô hình chặt Sau khi chặt xong thì ngâm ngập trong lũ

(3) Mô hình đốt: Ttrước khi đốt phải tiến hành chặt cây TN để tạo đường băng và

tập trung phương tiện cũng như lực lượng phòng cháy Đồng thời phải tiến hành tưới nước ướt đậm xung quanh đường băng để tạo ẩm nhằm ngăn ngừa sự lây lan của lửa sang khu vực xung quanh Trong khi đốt phải sử dụng các máy bơm chuyên dụng liên tục bơm nước nhằm mục đích chống cháy lan ra khu vực xung quanh

Để tiến hành biện pháp đốt, phải phun xăng pha dầu hoả lên tán cây với lượng 600 - 800lit/ ha tuỳ từng khu vực cụ thể Sau đó châm lửa đốt Khi đốt chú

ý châm lửa ngược theo chiều gió

(4) Mô hình chặt kết hợp với đốt: Tương tự như mô hình chặt, sau khi chặt

khoảng 15 – 20 cây đã khô thì gom lại thành từng đống nhỏ, phun thêm dầu và tiến hành đốt Trong khi đốt phải sử dụng các máy bơm chuyên dụng liên tục bơm nước nhằm mục đích chống cháy lan ra khu vực xung quanh

(5) Mô hình nhổ cây con: Biện pháp này phải tiến hành ngay sau lũ rút, lúc này

đất còn ẩm và cây mới mọc khoảng 5 -10cm, nếu để cây cao trên 10cm mới nhổ,

bề mặt đất khô cứng thì sẽ rất khó thực hiện, vì lúc này bộ rễ đã ăn sâu vào trong

đất và gai ở phần thân cây đã cứng nên gây khó khăn trong quá trình nhổ

(6) Mô hình phun thuốc Roundup 480SC trừ cây trinh nữ trưởng thành:

Mô hình này được tiến hành với những khu vực cây trinh nữ có chiều cao dưới 2,5m và còn lối đi lại Trong trường hợp cây mọc dày cần chặt thành từng băng

Trang 5

rộng 3 - 4 m và lối đi khoảng 1,5m Thuốc được phun vào lúc cây xanh tốt, bộ lá phát triển mạnh, thường sau khi lũ rút khoảng 2 – 3 tháng Khi phun thuốc cần phun uớt đều toàn bộ bề mặt trên của lá

(7) Mô hình chặt + phun thuốc Ally 20DF: Dùng dao sắc hoặc kéo chuyên

dụng chặt sát gốc cây, cách mặt đất khoảng 5 – 10cm, gom xác cây lại thành từng

đống Sau khi chặt khoảng 25 – 35 ngày khi chiều cao mầm tái sinh đạt 10 – 45cm (TB khoảng 30cm) tiến hành phun thuốc ướt đều toàn bộ bề mặt trên của lá

(8) Mô hình chặt + phun thuốc Roundup 480SC: Dùng dao sắc hoặc kéo chuyên

dụng chặt sát gốc cây, cách mặt đất khoảng 5 – 10cm, gom xác cây lại thành từng

đống Sau khi chặt khoảng 35 – 55 ngày khi chiều cao mầm tái sinh đạt 25 – 65cm (TB khoảng 50cm) tiến hành phun thuốc ướt đều toàn bộ bề mặt trên của lá

(9) Mô hình Phun thuốc AllyDF trừ cây mới mọc: Khi cây mới mọc có

chiều cao từ 5 – 45cm tiến hành phun thuốc Phun thuốc ướt toàn bộ bề mặt trên của lá

(10) Mô hình trồng cây cạnh tranh:

- Cây Tràm úc: được tiến hành tại lòng hồ Hoà Bình và Thác Bà Chọn những vị trí cây trinh nữ mới bắt đầu xâm lấn với mật độ thấp (< 2cây/ m2) tiến hành trồng cây tràm úc với khoảng cách: hàng cách hàng: 1m; cây cách cây : 1,5m (khoảng 6.500 – 7.000cây/ ha) Cây tràm giống có chiều cao khoảng 50cm (35 – 60cm) Giai đoạn đầu cây tràm chưa có khả năng che phủ 100% diện tích nên mức

độ cạnh tranh của chúng đối cây trinh nữ mới mọc là không đáng kể Vì vậy, sau khi trồng tràm cần phải chăm sóc và có biện pháp phòng trừ cây trinh nữ mới mọc (khoảng 1 – 2 năm) cho đến khi cây tràm đã khép tán hoặc chúng đạt được một chiều cao nhất định đủ để cạnh tranh với sự phát triển của cây trinh nữ mới mọc

- Mô hình gieo cỏ cạnh tranh: Được tiến hành tại vườn quốc gia Tràm

Chim và Nam Cát Tiên Các loài cỏ dại được sử dụng là cỏ bản địa thuộc nhóm Hoà thảo, cói lác và cây điên điển Cỏ được gieo và trồng ngay sau khi nước lũ rút tại các vùng cây con mọc rải rác

- Mô hình canh tác cây trồng trên các vùng đất canh tác bán ngập: Được tiến hành tại Hoà Bình Các cây trồng được sử dụng bao gồm lúa, ngô và lạc

Trang 6

* Các chỉ tiêu đánh giá:

- Hiệu quả kỹ thuật: % sinh khối giảm, tỷ lệ cây chết (%), thời gian tái sinh

và phục hồi quần thể

+ Đối với biện pháp xử lý cây mới mọc (chiều cao từ 12 – 45cm) bằng thuốc hoá học, hiệu quả của thuốc được tính bằng cách đo chiều dài cây chết sau phun 15,

30, 45, 60 và 90 ngày sau phun thuốc và hiệu quả diệt trừ hoàn toàn cây ở thời điểm 90ngày sau phun Đối với cây mới mọc chiều cao từ 4 – 12cm hiệu quả của thuốc

được đánh giá bằng cách quan sát tỷ lệ cây chết (chiều dài cây chết/ chiều dài cây trước xử lý) sau phun thuốc 10, 20, 30 và 45ngày sau phun thuốc và hiệu quả diệt trừ hoàn toàn cây ở thời điểm khi cây chết hoàn toàn

+ Đối với biện pháp xử cây trưởng thành bằng thuốc hoá học, hiệu quả của thuốc được đánh giá bằng cách quan sát ở thời điểm 15 và 30 ngày sau phun ở thời

điểm 45, 60 và 90 ngày sau phun thuốc được tính bằng cách đo chiều dài cây chết và hiệu quả diệt trừ hoàn toàn cây ở thời điểm 115ngày sau phun

+ Đối với biện pháp chặt + thuốc hoá học, hiệu quả của thuốc được tính bằng cách đếm số mầm chết hoàn toàn sau phu 15, 30, 45, 60 và 90 ngày Hiệu quả diệt trừ phần gốc cây được tính bằng cách đếm số gốc chết sau phun thuốc 115ngày

- Hiệu quả kinh tế: Chi phí đối với từng biện pháp (công lao động, vật tư và các phụ phí khác)

III Kết quả xây dựng mô hình

III 1 Kết quả xây dựng mô hình chặt để phòng trừ cây TNTG

Kết quả xây dựng mô hình tại 5 điểm đều cho thấy, biện pháp này chỉ có hiệu quả làm giảm sinh khối của cây TNTG ngay sau chặt, tạo điều kiện cho

Trang 7

các biện pháp khác vì ngay sau chặt 15 ngày, hầu hết các gốc cây đều có khả năng tái sinh trở lại Sau chặt khoảng 2 tháng mầm tái sinh đã cao tới 1m và sau 3 – 4 tháng toàn bộ số cây bị chặt trước đó đã cao gần bằng các cây trước chặt, các cây mọc tái sinh đã ra hoa và kết quả

Sau khi chặt, do bộ tán phía trên bị giảm diện tích che phủ nên ở hầu hết các điểm trình diễn, cây con đã nhanh chóng mọc từ hạt, đặc biệt là ở các khu vực có mầm tái sinh mọc yếu hơn như khu vực lòng hồ phía Bắc Các cây con mọc rất nhanh, sau khi chặt khoảng 1 tháng, có thể che phủ toàn bộ bề mặt

Qua quan sát chúng tôi cũng thấy, tỷ lệ gốc có mầm mọc tái sinh cũng như khả năng phát triển của mầm sau mọc phụ thuộc rất nhiều vào kích thước cây trước khi chặt, do đó có liên quan đến mật độ cây ở vùng thí nghiệm ở các khu vực lòng hồ phía Bắc, do mật độ cây trinh nữ trước chặt thường cao hơn rõ rệt so với khu vực Vườn quốc gia và lưu vực sông La Ngà, do đó kích thước gốc cây bé hơn dẫn đến kích thước các mầm mọc tái sinh cũng bé hơn so với khu vực Vườn quốc gia và lưu vực sông La Ngà Tuy nhiên, do kích thước cây và diện tích che phủ thấp hơn, nên mật độ cây con mọc dưới tán cây ở khu vực lòng hồ phía Bắc cũng cao hơn rõ rệt so với Vườn quốc gia và khu vực sông La Ngà Sau khi chặt hết phần tán cây, các cây con mới mọc có cơ hội sinh trưởng và phát triển rất nhanh nên diện dích che phủ và trọng lượng sinh khối toàn ô thí nghiệm cũng cao hơn so với khu vực Vườn quốc gia và khu vực sông La Ngà (bảng 24) Sau chặt 2 tháng, do các mầm tái sinh phát triển mạnh, nên dù cho mật độ cây con ở các vườn quốc gia và lưu vực sông La Ngà có thấp so với khu vực lòng hồ phía Bắc nhưng trọng lượng sinh khối có xu hướng tăng cao hơn

Kết quả bảng 1a cũng cho thấy, hầu hết các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả

kỹ thuật như tỷ lệ gốc có mầm mọc tái sinh, số mầm mọc/ gốc, chiều cao mầm hay trọng lượng sinh khối cây trước và sau khi chặt ở các điểm nghiên cứu đều ít có sự sai khác giữa kết quả nghiên cứu với kết quả triển khai mô hình trên diện rộng

Trang 8

Bảng 1a Hiệu quả kỹ thuật của mô hình chặt để phòng trừ cây TNTG

tại các vùng sinh thái khác nhau

Chặt

Sau chặt 1 tháng

Sau chặt 2 tháng

Tại các khu vực lòng hồ phía Bắc

Mật độ cây trước xử lý (cây/ m2) và tỷ lệ gốc tái sinh

Trọng lượng sinh khối (TLSK) (gam/ m2) 3.737,1 1.286,8 1.585,5

Tại khu vực vườn quốc gia

Mật độ cây trước xử lý (cây/ m2) và tỷ lệ gốc tái sinh

Trọng lượng sinh khối (gam/ m2) 5.736,2 1.639,8 1.902,4

* Về chi phí: Tuy chi phí cho biện pháp chặt chủ yếu là phần chi công

lao động nhưng nhìn chung, chi phí là khá cao Mặt khác, chi phí về nhân công

lao động khi chặt cũng có sự biến động rất lớn, phụ thuộc vào nhiều yếu tố

như : mức độ xâm nhiễm của cây, giá công lao động ở các địa phương (do giá

công lao động khác nhau), các thời điểm triển khai phòng trừ và quy mô phòng

Trang 9

phí tăng lên rất cao Bên cạnh đó, chi phí công lao động cho 1ha cũng tuỳ thuộc vào

từng địa điểm thí nghiệm

Tuy nhiên nếu so sánh chi phí khi triển khai thí nghiệm trong năm 2005 với chi phí khi triển khai mô hình ứng dụng trên diện rộng trong năm 2006 ở bảng 1b có thể thấy rõ chi phí cho biện pháp chặt khi triển khai trên diện rộng tại tất cả các khu vực xâm lấn đều thấp hơn khi thực hiện trên quy mô thí nghiệm diện hẹp ở đây tuy không có sự sai khác về mặt kỹ thuật và phương pháp tiến hành nhưng có thể do sự sai khác về mặt bằng triển khai và tâm lý của người lao động

+ Thứ nhất là: Khi mới bắt tay vào công việc, người lao động chưa có kinh nghiệm đối phó với gai nhọn trên thân cây cũng như chưa tìm ra được cách chặt cây thế nào để mang lại hiệu quả cao nhất Sau một thời gian nhất

định, họ quen dần với công việc nên năng suất được nâng cao hơn

+ Thứ hai là: Khi thực hiện thí nghiệm với diện tích nhỏ, đa số lao

động đều cho rằng sẽ thực hiện công việc xong trong một thời gian ngắn, vì vậy họ còn có tư tưởng kéo dài thời gian Tuy nhiên, khi xây dựng mô hình trên quy mô lớn hơn, những người lao động lại có suy nghĩ khác, họ cho rằng khối lượng công việc lớn cần phải tập trung hơn chính vì vậy mà

số công lao động đã giảm đáng kể trên cùng một đơn vị diện tích khi xây dựng mô hình

+ Thứ ba là khi tiến hành chặt thí nghiệm, ban đầu người lao động phải chuẩn bị mặt bằng Thời gian này sẽ kéo dài hơn khi đã có khoảng trống để thao tác Vì vậy, khi triển khai trên diện rộng, chi phí chuẩn bị ban đầu được chia đều cho cả diện tích lớn, do đó chi phí công bình quân thấp hơn

Trang 10

Bảng 1b: Chi phí công lao động để thực hiện mô hình chặt

Chi phí công lao động ở các địa phương khác nhau (đồng/ ha) Mức độ

1.100.000 (22 công x 50.000đ/ công)

1.250.000 (25 công x 50.000đ/ công)

1.000.000 (20 công x 50.000đ/ công) Khu vực xâm

lấn TB

(3 - 5 cây/

m2)

1.200.000 (40 công x 30.000đ/ công)

1.500.000 (30 công x 50.000đ/ công)

1.600.000 (32 công x 50.000đ/ công)

1.400.000 (28 công x 50.000đ/ công)

Khu vực xâm

lấn nặng

(> 5 cây/ m2)

1.800.000 (60 công x 30.000đ/ công)

1.850.000 (37 công x 50.000đ/ công)

2.250.000 (45 công x 50.000đ/ công)

1.750.000 (35 công x 50.000đ/ công)

* Khả năng triển khai trên diện rộng và hướng ứng dụng biện pháp chặt:

Qua việc xây dựng mô hình phòng trừ trên diện rộng tại cả 5 địa phương cho thấy biện pháp chặt có ưu điểm nổi bật là đơn giản, dễ thực hiện, vì chỉ cần dùng dao là có thể thực hiện được Đặc biệt ở những vùng cây TNTG còn mọc rải rác, mọc theo băng với mật độ còn thưa, chưa phủ kín hoàn toàn mặt đất thì việc triển khai áp dụng trên diện rộng là có tính khả thi cao

Tuy nhiên, tại những vùng cây trinh nữ thân gỗ mọc rậm rạp, lâu năm, thân cây to, có nhiều gai thì việc áp dụng biện pháp chặt không chỉ tốn nhiều công hơn mà còn rất kho thực hiện

Bên cạnh đó, vì đa số cây TNTG mọc ở vùng bán ngập, do đó các biện pháp phòng trừ chỉ có thể tiến hành được trong mùa khô, vì vậy việc huy động nguồn nhân lực lao động cũng là yếu tố quan trọng khi triển khai biện pháp chặt Đối với những địa phương có nguồn nhân lực lao động dồi dào, chi phí lao động rẻ như các tỉnh miền Núi phía Bắc thì việc huy động nhân lực lao

động để triển khai biện pháp chặt là dễ dàng, có tính khả thi cao Nhưng đối với

Trang 11

các tỉnh phía Nam, đặc biệt là trong các thời gian nông dân bận thu hoạch lúa hay gieo sạ thì việc huy động nhân lực là rất khó khăn, chi phí cao, do đó rất khó triển khai trên diện rộng

Mặt khác, biện pháp chặt chỉ cho hiệu quả tức thời, làm giảm đáng

kể sinh khối ngay sau chặt Nhưng sau một thời gian ngắn cây lại mọc tái sinh hoặc có nhiều cây con mọc thêm, do đó biện pháp này phải tiến hành thường xuyên hàng năm, thậm chí là 2 lần trong năm Như vậy, nếu áp dụng một cách đơn lẻ thì mô hình chặt sẽ không có hiệu quả cao trong công tác phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ và rất tốn kém Nếu không có nguồn kinh phí hỗ trợ thường xuyên của nhà nước thì sẽ khó áp dụng bền vững trong thực tiễn

Vì những lý do trên, biện pháp chặt chỉ nên áp dụng trong những điều kiện sau :

• áp dụng ở những vùng có mức độ xâm nhiễm thấp

• Khuyến khích áp dụng rộng ở các vùng đất canh tác thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc khi cây mới bắt đầu xâm nhiễm để hạn chế sinh khối

III 2 Kết quả xây dựng mô hình chặt + Ngâm ngập lũ

Sau khi chặt cây TNTG, trong điều kiện ngập nước gốc cây có thể bị

thối hay gốc các cây con có thể bị bong trong mùa lũ, nhờ đó cây có thể bị chết Vì vậy chúng tôi đã bố trí mô hình tương tự như thí nghiệm chặt nhưng thời điểm chặt được tiến hành ngay trước khi nước lũ dâng lên Ngâm toàn bộ gốc cây trong suốt mùa lũ, sau đó tiến hành đánh giá hiệu quả của biện pháp thông qua tỷ lệ gốc bị chết sau ngâm lũ

* về hiệu quả kỹ thuật: Sau khi lũ rút khoảng 2 tháng, những gốc còn sống mọc mầm trở lại Biện pháp này chỉ có hiệu quả đối với những cây mới mọc và một

Trang 12

số cây trưởng thành có đường kính nhỏ hơn 1cm, điều này hoàn toàn phù hợp với những kết luận trước đây Đối với những cây trưởng thành có đường kính lớn hơn 1cm thì hiệu quả của biện pháp này không cao chỉ đạt khoảng 30 – 50% Tại 5

điểm tiến hành thí nghiệm cho thấy, hiệu quả diệt trừ cây Trinh nữ trưởng thành cao nhất cũng chỉ đạt 55,2% (tại Vườn quốc gia Tràm Chim), hiệu quả thấp nhất khi triển khai tại lưu vực sông La Ngà với hiệu quả là 30,4% Nguyên nhân có thể mô hình tại khu vực sông La Ngà được bố trí trên các gò đất cao, khô nên bộ rễ cây mọc sâu Mặt khác thời gian ngập nước ngắn hơn vì khu vực này chỉ bị ngập khi lũ

đạt đỉnh điểm và thời gian nước rút cũng sớm hơn vùng đất thấp (bảng 2a)

Bảng 2a: Hiệu quả của mô hình chặt + ngâm ngập lũ đối với cây trưởng thành

trước xử lý (cây/ m2)

Hiệu quả (%) sau

xử lý 6 tháng

do đó mầm mọc yếu và chậm hơn (bảng 2b)

Như vậy, tương tự như biện pháp chặt, hiệu quả của mô hình chặt và ngâm ngập lũ cũng chỉ có tác dụng chủ yếu là làm giảm tỷ lệ cây mọc lâu năm, tạo điều kiện thuận lợi và nâng cao hiệu quả của các biện pháp khác

Trang 13

Bảng 2b: Hiệu quả của biện pháp chặt + ngâm ngập lũ đối với cây trưởng thành

Đối chứng không chặt

Mô hình chặt + Ngâm lũ

Đối chứng không chặt

Mô hình chặt + Ngâm lũ

Đối chứng không chặt

* Về chi phí: Chi phí cho biện pháp chặt và ngâm ngập lũ hoàn toàn

tương tự như biện pháp chặt, do đó nó cũng có sự biến động rất lớn, phụ thuộc vào mức độ xâm nhiễm của cây, giá công lao động ở các địa phương (do giá công lao động khác nhau), các thời điểm triển khai phòng trừ và quy mô phòng trừ Đặc biệt, do biện pháp này chỉ có thể triển khai trong một khoảng thời gian rất ngắn trước mùa lũ, lúc này nông dân đang tập trung thu hoạch lúa để tránh

lũ nên việc huy động nhân công lao động rất khó khăn và giá công lao động cũng cao hơn nhiều so với thời điểm nhàn rỗi

* Khả năng triển khai trên diện rộng và hướng ứng dụng biện pháp chặt + ngâm ngập lũ:

Cũng tương tự như biện pháp chặt, biện pháp chặt + ngâm lũ có ưu điểm nổi bật là đơn giản, dễ thực hiện, vì chỉ cần dùng dao là có thể thực hiện được

Đặc biệt, ở những vùng cây TNTG còn mọc rải rác, mọc theo băng với mật độ còn thưa, chưa phủ kín hoàn toàn mặt đất thì việc triển khai áp dụng trên diện rộng là có tính khả thi cao Mặt khác, biện pháp này có thể làm thay đổi quần

Trang 14

thể TNTG từ quần thể mọc lâu năm sang quần thể trẻ, mọc bổ sung hàng năm,

do đó dễ dàng hơn cho việc áp dụng các biện pháp phòng trừ

Tuy nhiên, một khó khăn lớn nhất của biện pháp này khi triển khai trên diện rộng đó là phải được triển khai trong một thời điểm rất ngắn, ngay trước khi mùa lũ đến Qua quan sát một số mô hình triển khai của nông dân cho thấy, nếu khi tiến hành chặt quá sớm so với thời điểm lũ đến thì một số gốc TNTG

đã mọc tái sinh Thực tế trong điều kiện mùa mưa, thuận lợi cho cây mọc tái sinh thì chỉ từ 7-10 ngày sau chặt, các gốc TNTG đã có mầm mọc tái sinh Trong điều kiện ngập lũ, cácạymầm này sẽ vươn lên cùng với mực nước lũ, do

đó nó có thể giúp cho gốc cây bám chắc trong đất và cây hoàn toàn khoẻ mạnh như khi chưa bị chặt

Như vậy, việc triển khai trên diện rộng của biện pháp chặt + ngâm ngập

lũ có tính khả thi rất thấp vì:

+ Không thể xác định chính xác thời điểm ngập lũ để quyết định thời

điểm chặt

+ Rất khó huy động một lượng lớn nhân công lao động để tiến hành đồng loạt trên phạm vi rộng trong khoảng thời gian rất ngắn được Mặt khác, giá công lao

động vào thời điểm trước mùa lũ đến ở các tỉnh phía Nam cũng rất cao, do đó sẽ

đẩy chi phí cho biện pháp này lên rất cao, khó triển khai trên diện rộng đối với những vùng đất công hay vùng đất có giá trị canh tác thấp trong mùa khô

Vì những lý do trên, biện pháp chặt + ngâm ngập lũ chỉ có thể áp dụng trong những điều kiện sau:

• áp dụng rộng ở các vùng đất canh tác bán ngập thuộc các tỉnh miền Núi phía Bắc và lưu vực sông La Ngà khi cây mới xâm nhiễm 1-2 năm

• Kết hợp chặt chẽ với các biện pháp khác như sử dụng thuốc trừ cỏ

III 3 Kết quả xây dựng mô hình đốt để phòng trừ cây TNTG

Đây là mô hình khó thực hiện kể cả trong tổ chức thực hiện và hiệu quả diệt trừ cây trinh nữ Do các biện pháp trừ cây TNTG đều được áp dụng trong mùa khô nên để đảm bảo không xảy ra cháy rừng, trước khi đốt chúng tôi phải tiến hành chặt cây TN để tạo đường băng và tập trung phương tiện cũng như lực

Trang 15

lượng phòng cháy Đồng thời phải tiến hành tưới nước ướt đậm xung quanh đường băng để tạo ẩm nhằm ngăn ngừa sự lây lan của lửa sang khu vực xung quanh Trong khi đốt phải sử dụng các máy bơm chuyên dụng liên tục bơm nước nhằm mục đích chống cháy lan ra khu vực xung quanh

Để tiến hành mô hình đốt, chúng tôi phải phun xăng pha dầu hoả lên tán cây với lượng 600lit/ ha Mặc dù vậy qua đánh giá cho thấy, hiệu quả của biện pháp này cũng rất hạn chế và phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết, độ ẩm trong thân cây và dặc biệt là lớp thực vật bên dưới tán cây TNTG

* Về hiệu quả kỹ thuật: Qua đánh giá chung cho thấy, biện pháp này chỉ

thực sự mang lại hiệu quả tại các điểm phía Nam nơi có mùa khô riêng biệt, hoàn toàn không có mưa trong quá trình thí nghiệm, độ ẩm không khí thấp, thời tiết khô hanh, do đó độ ẩm trong cây thấp Tuy nhiên, cũng trong điều kiện mùa khô ở miền Nam nhưng tại những khu vực có thảm thực vật (phần đa là các loài

cỏ dại) và lớp xác thực vật bên dưới tán TNTG dày, khô, ví dụ tại các vườn quốc gia Tràm Chim và Cát Tiên thì biện pháp đốt mới thực sự cho hiệu quả cao Đối những khu vực này có thể đốt được 60-70% sinh khối của cây TNTG Nguyên nhân là do: nếu chỉ dựa vào sự hỗ trợ của dầu để đốt cây thì chủ yếu chỉ cháy

được phần ngọn và ngọn lửa cũng rất nhanh bị tắt Nhưng khi có thảm thực vật phía dưới dầy và khô, ngọn lửa sẽ bốc cháy từ gốc, cộng với sức nóng từ phía trên thì có thể làm cho toàn cây bị cháy, ngọn lửa cũng lâu tắt hơn nên có thể mang lại hiệu quả phòng trừ cao và triệt để cả phần gốc (bảng 3a)

Ngược lại với các tỉnh phía Nam, tỷ lệ cây TNTG bị cháy khi đốt ở các tỉnh phía Bắc đạt rất thấp, chỉ xấp xỉ 10% và hầu hết chỉ cháy được các cây tuổi 1, còn các cây 2-3 năm tuổi trở lên chỉ cháy xém phần lá phía trên Nguyên nhân là do thời gian bị ngập nước kéo dài (6 tháng) hàm lượng nước trong thân và lá cây TNTG còn rất cao, độ ẩm đất cũng lớn Trong khi đó, hầu hết các thảm thực vật phía dưới đều

bị chết, vì vậy khi tiến hành phun dầu để đốt thì lửa không cháy lan ra xung quanh

được, tỷ lệ cháy rất thấp Mặt khác, trong điều kiện mùa Xuân ở miền Bắc, nhiệt độ không cao và thường có mưa phùn xen kẽ, vì vậy độ ẩm trong thảm TNTG cũng rất cao, do đó khả năng cháy toàn bộ thảm TNTG cũng rất hạn chế (bảng 3a)

Trang 16

Tuy nhiên trong năm 2006, do mùa mưa ở các tỉnh phía Nam đến sớm, ngay trong tháng 3 đã có những trận mưa đầu tiên, vì vậy độ ẩm trong các rừng trinh nữ cũng rất cao, do đó tỷ lệ sinh khối cây bị cháy cũng đạt rất thấp, đặc biệt tỷ lệ cháy ở khu vực sông La Ngà không có sự chênh lệch lớn với các tỉnh phía Bắc (Bảng 3a)

Bảng 3a: Tỷ lệ sinh khối cây trinh nữ thân gỗ bị cháy khi áp dụng

biện pháp đốt ở các vùng sinh thái khác nhau

% sinh khối cây bị cháy

Địa điểm

30 ngày, phần thân cây còn sống ở tất cả các mô hình đều có mầm tái sinh

Có một điểm đặc biệt là những nơi có tỷ lệ cây cháy cao như vườn quốc gia thì số mầm tái sinh và chiều cao mầm tái sinh cũng cao hơn những nơi có tỷ

lệ cây cháy thấp (bảng 3b) Nguyên nhân có thể do khi đốt, những nơi có tỷ

lệ cháy cao đã ức chế mạnh sinh trưởng ngọn, do đó kích thích sự tái sinh của các chồi gốc Các mầm tái sinh từ sát gốc thường phát triển mạnh hơn Trong khi đó tại những điểm có tỷ lệ cây cháy thấp như lưu vực sông La Ngà hay khu vực lòng hồ phía Bắc, các mầm chủ yếu mọc tái sinh từ phần thân phía trên, do đó nguồn dinh dưỡng phải cung cấp cho cả phần thân cây còn sống và mầm tái sinh nên tốc độ tăng trưởng của mầm tái sinh chậm hơn

Đặc biệt, khi áp dụng biện pháp đốt đã tạo nên sự chênh lệch về nhiệt độ trên mặt đất và dưới mặt đất khá cao, kích thích cho hạt trinh nữ nảy mầm Do

đó, chỉ ngay sau khi đốt 1 tháng, mật độ cây con mọc lên ở tất cả các điểm tiến hành mô hình đều cao hơn rõ rệt so với trước đốt, thậm chí ở các khu vực lòng

hồ phía Bắc, mật độ cây con có thể lên tới 150 cây/ m2 (bảng 3b) Mặc dù trong

Trang 17

điều kiện bị cây trưởng thành và mầm tái sinh từ cây trưởng thành lấn át nhưng

những cây con mọc từ hạt vẫn có cơ hội phát triển mạnh tại những vị trí có sinh

khối trinh nữ bị cháy cao, diện tích che phủ giảm sau đốt

Trong quá trình xây dựng mô hình chúng tôi cũng nhận thấy, do điều kiện

triển khai ở từng điểm có khác nhau, nên hiệu quả của mô hình cũng khác nhau

Bảng 3b Hiệu quả của mô hình đốt để phòng trừ cây TNTG

tại các vùng sinh thái khác nhau

Chặt

Sau chặt 1 tháng

Sau chặt 2 tháng

Tại các khu vực lòng hồ phía Bắc

Mật độ cây trước xử lý (cây/ m2) và tỷ lệ gốc tái sinh

Trọng lượng sinh khối (TLSK) (gam/ m2) 4.275,6 3.413,3 4.286,4

Tại khu vực vườn quốc gia

Mật độ cây trước xử lý (cây/ m2) và tỷ lệ gốc tái sinh

Trọng lượng sinh khối (gam/ m2) 4.876,5 2.282,6 3.169,5

Trang 18

- Tại Hoà Bình: Mô hình đốt được tiến hành vào thời điểm sau lũ rút

2 tháng, lúc này cây phát triển xanh tốt trở lại sau mùa nước ngập, cây trinh nữ vẫn còn chứa một lượng nước rất lớn trong thân, phía dưới tán cây thảm thực vật rất thưa thớt và xanh tốt, mặt đất vẫn còn ẩm, Vì vậy, khi tiến hành phun dầu + xăng vào cây sau đó châm lửa đốt tỷ lệ cháy rất thấp chỉ đạt khoảng 10% Có thể thấy rằng, khi áp dụng biện pháp này tại lòng hồ thuỷ

điện Hoà Bình hiệu quả phòng trừ cây TNTG rất thấp (bảng 29) Ngoài ra, biện pháp này còn phải chi phí rất nhiều vì lượng dầu phun lên cây rất lớn

- Tại Yên Bái: Qua quá trình thực hiện cho thấy, tỷ lệ cây cháy rất thấp,

có nhiều chỗ cây không cháy Tại những chỗ có lớp thảm cỏ dầy và khô thì tỷ

lệ cây cháy cao hơn những chỗ không có thảm cỏ hoặc thảm cỏ tươi tốt Những

điểm cháy cao chủ yếu là những cây nhỏ hơn 1 năm tuổi, còn những cây lớn hơn 1 năm tuổi chỉ cháy táp một phần phía ngọn

Quan sát cũng cho thấy, sau khi đốt khoảng 1 tháng phần thân cây chưa

bị cháy đã nảy mầm và sau 2 tháng thì trên toàn mô hình cây trinh nữ phát triển tương đương với ô đối chứng

Như vậy, có thể thấy ở các khu vực lòng hồ phía Bắc, hiệu quả của mô hình

đốt là rất thấp, hơn nữa rất khó để thực hiện mô hình này vì cây trinh nữ tươi rất khó bắt lửa kể cả đã phun xăng dầu lên cây Mặt khác, tại những chỗ có tỷ lệ cây cháy cao lại kích thích cho hạt nảy mầm nhiều hơn Lượng xăng dầu còn dư sau khi đốt cũng gây ảnh xấu tới môi trường sinh thái

- Tại Tràm Chim: Quan sát mô hình thấy, mặc dù mô hình được thực hiện vào

giữa mùa khô và trước khi đốt chúng tôi đã tiến hành phun rất nhiều dầu nhưng cây TNTG hầu như không cháy Cũng vào thời gian này trong năm 2005, tại khu A4 khi tiến hành đốt tỷ lệ cây cháy tương đối cao vì có nhiều cỏ khô và lớp thảm thực vật dày

ở phía dưới cho nên tỷ lệ cây cháy cao Có thể giải thích hiện tượng này như sau: Khu A4 được bao bọc bởi hệ thống kinh rạch 4 xung quanh, những năm trước đây Ban quản lý Vườn quốc gia để nước lên xuống theo tự nhiên vì vậy, vào khoảng cuối tháng

3 thì toàn bộ khu này đất đã khô cứng và lớp thảm cỏ cũng chết khô Nhưng tháng 7 năm 2005 Ban quản lý Vườn đã cho đắp đập ngăn nước nhằm mục đích giữ độ ẩm cho toàn khu sau mùa lũ vì vậy, mặc dù mô hình được tiến hành vào tháng 4 nhưng độ ẩm

Trang 19

đất vẫn rất cao, hơn nữa trong vài chục năm trở lại đây mùa mưa thường bắt đầu rất muộn (cuối tháng 4) nhưng năm 2006 mùa mưa lại bắt đầu rất sớm (giữa tháng 3) chính vì vậy, toàn bộ thảm cỏ bên dưới tán cây mai dương rất xanh tốt cho nên mặc dù

đã tưới thêm dầu nhưng tiến hành đốt cả thảm cỏ và cây mai dương đều rất khó cháy

Có thể thấy rằng, hiệu quả phòng trừ cây TNTG bằng biện pháp đốt chỉ

có hiệu quả đối với những khu vực có lớp thảm thực vật dầy và khô ở phía dưới tán cây còn những chỗ không có hoặc lớp thảm thực vật ở phía dưới xanh tốt thì hiệu quả của biện pháp này là rất thấp

- Tại lưu vực sông La Ngà và Vườn quốc gia Cát Tiên : Hiệu quả mô hình

đạt thấp hơn tại Tràm Chim, nguyên nhân là do thảm thực vật dưới tán cây TNTG ở các khu vực này rất thưa, đặc biệt là lưu vực sông La Ngà Mặt khác trong năm

2006, mùa mưa đến sớm nên hiệu quả mô hình cũng thấp hơn các thí nghiệm tiến hành trong năm 2005

* Chi phí cho biện pháp đốt: Qua kết quả bảng 31 cho thấy, biện pháp

đốt không chỉ yêu cầu chi phí khá lớn để mua dầu hoả mà cũng yêu cầu một lượng công lao động khá lớn ở các khu vực lòng hồ phía Bắc và lưu vực sông La Ngà, do cây TN còn mọc thành dải nên công lao động phục vụ cho việc chia băng ngăn lửa và thao tác đốt là thấp hơn, chỉ cần 25 công/ ha Ngược lại, tại khu vực Vườn quốc gia Tràm Chim, số công lao động lên tới 50 công/ ha Tuy ở vườn Tràm Chim có được sự hỗ trợ của thảm cỏ nên chi phí dầu hoả thấp nhưng lại đòi hỏi nhiều công lao động nên chí phí cũng khá cao Nhìn chung, chi phí cho biện pháp này là cao nhất trong các biện pháp phòng trừ (bảng 3c)

* Về tác động môi trường của biện pháp đốt: Biện pháp đốt không chỉ

không mang lại hiệu quả cao về mặt kỹ thuật trong phòng trừ cây TNTG mà còn gây những tác động không nhỏ đến môi trường

- Trước hết, khi tiến hành đốt đã tiêu huỷ nghiêm trọng thảm thực vật sống dưới tán cây TNTG đặc biệt là tại những vị trí có tỷ lệ cháy cao, thời tiết hanh khô như các tỉnh phía Nam Tuy mức độ ảnh hưởng đến thảm thực vật của công thức đốt phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện của từng vùng sinh thái Trong

điều kiện của vườn Tràm Chim và Cát Tiên, do thời tiết hanh khô, thảm thực

Trang 20

vật khô nên mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng hơn phía Bắc, thời gian và mật độ cây mọc lại sau khi đốt cũng thấp hơn rõ rệt (bảng 3c) Tuy nhiên, trong điều kiện nào thì mức độ ảnh hưởng cũng khá nghiêm trọng

Bảng 3c Chi phí để thực hiện mô hình đốt cây TNTG tại các vùng sinh thái

khác nhau

Địa điểm triển

khai

Số lượng (Công)

Đơn giá

(đ/công)

Thành tiền (đ)

Số lượng (lit)

Đơn giá

(đ/ lit)

Thành tiền (đ)

Thành tiền (đ/ ha)

Khu vực lòng

hồ phía Bắc 24 30.000 720.000 600 7.500 4.500.000 5.220.00Vườn quốc gia

Tràm Chim 45 50.000 2.250.000 400 7.500 3.000.000 5.250.000Lưu vực sông

La Ngà và

Vườn Cát Tiên

25 50.000 1.250.000 600 7.500 4.500.000 5.750.000

* Khả năng triển khai trên diện rộng và hướng ứng dụng biện pháp

đốt: Qua phân tích về hiệu quả kỹ thuật, chi phí và tác động môi trường cũng

như thực tế triển khai các mô hình trên diện rộng cho thấy, biện pháp đốt rất khó triển khai trên diện rộng vì:

- Hiệu quả của biện pháp rất thấp kể cả hiệu quả lâu dài cũng như hiệu quả trước mắt để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành các biện pháp khác

- Chi phí một lượng lớn nhiên liệu, do đó chi phí quá cao Trong điều kiện triển khai trên quy mô rộng hàng trăm ha thì việc vận chuyển, bảo quản

nhiên liệu cũng là một trở ngại lớn

- Rất dễ xảy ra rủi ro vì khi triển khai trong rừng trinh nữ rậm rạp rất khó kiểm soát nguồn lửa, dễ lan lửa ra khu vực lân cận dẫn đến nguy hiểm cho các khu vực dân cư hay gây cháy rừng đặc biệt trong các Vườn quốc gia Nếu

đốt trong điều kiện trời mưa thì hiệu quả rất thấp nhưng nếu đốt trong điều kiện trời hanh khô thì nguy cơ cháy rừng càng cao

Trang 21

Vì những lý do trên, biện pháp đốt khó triển khai trên diện rộng, đặc biệt không khuyến khích áp dụng tại các Vườn quốc gia

III.4 Kết quả xây dựng mô hình chặt kết hợp với đốt

So với biện pháp đốt không chặt thì biện pháp này có ưu điểm là dễ triển khai hơn, hiệu quả trừ cây trưởng thành dường như triệt để do biện pháp đốt được thực hiện sau khi đã chặt toàn bộ cây, rải đều trên mặt đất mới tiến hành đốt Tuy nhiên, cũng tương tự như biện pháp đốt, biện pháp chặt kết hợp với đốt cũng có nhiều nhược điểm về mặt hiệu quả kỹ thuật, chi phí và tác động môi trường

* Về hiệu quả kỹ thuật: ở miền Nam vào mùa khô, sau chặt 15 ngày cây

TN hầu như đã khô Những nơi mật độ cây cao, lớp mùn dầy (do thảm thực vật chết tạo ra) thì khi đốt tỷ lệ cháy cao và đạt khoảng 80% Vì vậy, TLSK giảm

đáng kể Tại những khu vực mật độ cây thưa thớt, lớp mùn mỏng (do thảm thực vật chết tạo ra) thì tỷ lệ cây cháy trong điều kiện không gom cây lại mà để nguyên

tại chỗ sau chặt rất thấp kể cả khi phun dầu vào để đốt cũng chỉ đạt trên 50%

Tại các tỉnh miền Núi phía Bắc, vào thời kỳ tháng 3-4 độ ẩm không cao lại có mưa phùn nên khi tiến hành đốt sau chặt 1 tháng, tỷ lệ cây cháy cũng rất thấp mặc dù đã phun thêm rất nhiều dầu để đốt

Về khả năng tái sinh của mầm: Nhìn chung, sau khi đốt 15 ngày chưa thấy các mầm mọc lại từ gốc sau chặt, nhưng sau đốt một tháng đã có mầm mọc tái sinh Nhìn chung, hầu hết các gốc không bị cháy đều có mầm mọc tái sinh Tỷ lệ gốc có mầm mọc tái sinh cũng như khả năng sinh trưởng, phát triển của mầm tái sinh phụ thuộc vào từng điểm thí nghiệm hay nói cách khác là phụ thuộc vào tuổi cây, điều kiện thời tiết, khí hậu ở vùng thí nghiệm

- Tại vùng lòng hồ Hoà Bình và Thác Bà: Sau khi chặt được 20 ngày,

cây TNTG đã khô Lúc này tiến hành đốt Trong quá trình đốt nếu không gom cây lại thành từng đống thì tỷ lệ cây cháy rất thấp, khi gom lại sau đó đốt thì tỷ

lệ cháy cao hơn Tuy nhiên, chỉ những nơi có xác cây bao phủ thì gốc cây TNTG mới bị cháy Mặc dù vậy, tỷ lệ gốc bị cháy cũng không phải đạt 100%

mà chỉ một tỷ lệ gốc nhất định bị cháy Tại những điểm không có xác cây che phủ, mặc dù cũng có ngọn lửa do cháy dầu và các thảm cỏ nhưng tỷ lệ gốc bị

Trang 22

cháy rất thấp Vì vậy, tỷ lệ gốc bị cháy trung bình trong toàn ô chỉ đạt 20% Do

đó, sau 1 tháng đã có 40% số gốc mọc tái sinh, sau 2 tháng đã có xấp xỉ 80%

số gốc mọc tái sinh (bảng 4a)

Bảng 4a Hiệu quả của mô hình chặt + đốt để phòng trừ cây TNTG

tại các vùng sinh thái khác nhau

Chỉ tiêu

Trước Chặt

Sau chặt 1 tháng

Sau chặt 2 tháng

Tại các khu vực lòng hồ phía Bắc

Mật độ cây trước xử lý (cây/ m2) và tỷ lệ gốc tái sinh

Trọng lượng sinh khối (TLSK) (gam/ m2) 3.550,6 1.542,5 2.193,2

Tại khu vực vườn quốc gia

Mật độ cây trước xử lý (cây/ m2) và tỷ lệ gốc tái sinh

Trong điều kiện không thu gom cây trưởng thành sau chặt mà để dải

khắp mặt đất thì tỷ lệ cháy của thân cây sau chặt và gốc cũng rất thấp

Ngày đăng: 14/05/2014, 21:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1a.  Hiệu quả kỹ thuật của mô hình chặt để phòng trừ cây TNTG - Kết quả xây dựng mô hình phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ ở Việt Nam
Bảng 1a. Hiệu quả kỹ thuật của mô hình chặt để phòng trừ cây TNTG (Trang 8)
Bảng 1b: Chi phí công lao động để thực hiện mô hình chặt - Kết quả xây dựng mô hình phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ ở Việt Nam
Bảng 1b Chi phí công lao động để thực hiện mô hình chặt (Trang 10)
Bảng 2b: Hiệu quả của biện pháp chặt + ngâm ngập lũ đối với cây trưởng thành - Kết quả xây dựng mô hình phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ ở Việt Nam
Bảng 2b Hiệu quả của biện pháp chặt + ngâm ngập lũ đối với cây trưởng thành (Trang 13)
Bảng 3a: Tỷ lệ sinh khối cây trinh nữ thân gỗ bị cháy khi áp dụng - Kết quả xây dựng mô hình phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ ở Việt Nam
Bảng 3a Tỷ lệ sinh khối cây trinh nữ thân gỗ bị cháy khi áp dụng (Trang 16)
Bảng 3b.  Hiệu quả của mô hình đốt để phòng trừ cây TNTG - Kết quả xây dựng mô hình phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ ở Việt Nam
Bảng 3b. Hiệu quả của mô hình đốt để phòng trừ cây TNTG (Trang 17)
Bảng 3c. Chi phí để thực hiện mô hình đốt cây TNTG tại các vùng sinh thái - Kết quả xây dựng mô hình phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ ở Việt Nam
Bảng 3c. Chi phí để thực hiện mô hình đốt cây TNTG tại các vùng sinh thái (Trang 20)
Bảng 4a.  Hiệu quả của mô hình chặt + đốt để phòng  trừ cây TNTG - Kết quả xây dựng mô hình phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ ở Việt Nam
Bảng 4a. Hiệu quả của mô hình chặt + đốt để phòng trừ cây TNTG (Trang 22)
Bảng  5a: Hiệu quả mô hình áp dụng  biện pháp nhổ cây mới mọc - Kết quả xây dựng mô hình phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ ở Việt Nam
ng 5a: Hiệu quả mô hình áp dụng biện pháp nhổ cây mới mọc (Trang 28)
Bảng 6a: Hiệu quả mô hình trừ cây  TNTG tr−ởng bằng  thuốc trừ cỏ Roundup - Kết quả xây dựng mô hình phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ ở Việt Nam
Bảng 6a Hiệu quả mô hình trừ cây TNTG tr−ởng bằng thuốc trừ cỏ Roundup (Trang 31)
Bảng 6b . Chi phí cho mô hình trừ cây TN tr−ởng thành bằng Glyphosate - Kết quả xây dựng mô hình phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ ở Việt Nam
Bảng 6b Chi phí cho mô hình trừ cây TN tr−ởng thành bằng Glyphosate (Trang 31)
Bảng 7a.  Hiệu quả của mô  hình trừ cây trinh nữ mới mọc bằng thuốc  ALLY  20DF sau phun 90 ngày - Kết quả xây dựng mô hình phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ ở Việt Nam
Bảng 7a. Hiệu quả của mô hình trừ cây trinh nữ mới mọc bằng thuốc ALLY 20DF sau phun 90 ngày (Trang 33)
Bảng 7b . Chi phí cho mô hình trừ cây TN mới mọc bằng thuốc Ally 20DF - Kết quả xây dựng mô hình phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ ở Việt Nam
Bảng 7b Chi phí cho mô hình trừ cây TN mới mọc bằng thuốc Ally 20DF (Trang 34)
Bảng 9a: Hiệu quả mô hình chặt + phun thuốc trừ cỏ ALLY 20DF  Hiệu quả diệt trừ của thuốc (%) sau  xử lý 90 ngày tại các điểm thí nghiệm Công thức  Thời điểm - Kết quả xây dựng mô hình phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ ở Việt Nam
Bảng 9a Hiệu quả mô hình chặt + phun thuốc trừ cỏ ALLY 20DF Hiệu quả diệt trừ của thuốc (%) sau xử lý 90 ngày tại các điểm thí nghiệm Công thức Thời điểm (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w