Tác giả nghiên cứu vấn đề này dựa trên quan điểm kế thừa, tiếp thu có chọn lọc các vấn đề về lý luận, các quy định pháp luật, tiếp tục sửa đổi, bãi bỏ quy định chưa phù hợp hoặc bổ sung
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ TUYẾT HÀ
TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG
THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 62 38 01 07
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM KIM ANH
HÀ NỘI – 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Lê Thị Tuyết Hà
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 8
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại 8
1.2 Cơ sở lý thuyết, giả thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu của luận án 32
Kết luận chương 1 35
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI 37
2.1 Vi phạm hợp đồng thương mại 37
2.2 Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại 47
2.3 Biện pháp trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại 56
2.4 Phân định trường hợp không chịu trách nhiệm do không thể thực hiện hợp đồng và miễn, giảm trách nhiệm 69
Kết luận chương 2 77
Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 79
3.1 Quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại theo Luật Thương mại 79
3.2 Thực tiễn áp dụng trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại tại Việt Nam 94
Kết luận chương 3 112
Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI 113
4.1 Những yêu cầu nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại 113
Trang 44.2 Định hướng cơ bản hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trách nhiệm pháp lý do vi
phạm hợp đồng thương mại 117
4.3 Giải pháp hoàn thiện về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại theo LTM năm 2005 123
Kết luận chương 4 147
KẾT LUẬN 148
CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
ADBPKCTT: Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
APEC: Diễn đàn hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương
ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEM: Hội nghị Á- Âu
BLDS: Bộ luật Dân sự
BLHH: Bộ luật Hàng hải Việt Nam
BLTTDS: Bộ luật Tố tụng Dân sự
BTTH: Bồi thường thiệt hại
CƯV: Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980 DNTN: Doanh nghiệp tư nhân
HĐTM: Hợp đồng thương mại
KDTMPT: Kinh doanh thương mại phúc thẩm
KDTMST: Kinh doanh thương mại sơ thẩm
LDN: Luật Doanh nghiệp
LHKDDVN: Luật Hàng không dân dụng Việt Nam
LTM 1997: Luật Thương mại năm 1997
LTM 2005: Luật Thương mại năm 2005
NĐ: Nghị định
PICC: Bộ nguyên tắc châu Âu về hợp đồng thương mại quốc tế bản 2010 PLHĐKT: Pháp lệnh hợp đồng kinh tế
SKBKK: Sự kiện bất khả kháng
TAND: Tòa án nhân dân
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
TPP: Hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương
TPHCM: Thành phố Hồ Chí Minh
UBTVQH: Ủy ban thường vụ Quốc hội
UCC: Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa kỳ
VKSNDTC: Viện kiểm sát Nhân dân tối cao
WTO: Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi vi phạm hợp đồng nhằm bảo đảm trật tự và tạo sự công bằng giữa các chủ thể trong quan hệ hợp đồng là yêu cầu cần thiết trong việc thiết lập và xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh nhằm thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển theo xu hướng hội nhập quốc tế Trong những năm vừa qua, vi phạm hợp đồng thương mại có xu hướng gia tăng nhanh chóng, đặc biệt xuất hiện những hành vi vi phạm mang tính chất phức tạp, nghiêm trọng và vi phạm những hợp đồng có giá trị kinh tế cao Chẳng hạn, theo số liệu thống kê những vụ vi phạm hợp đồng do tòa án Việt Nam thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm trong 8 năm, từ năm 2006 (kể từ khi LTM 2005 có hiệu lực) đến năm 2014, cụ thể, từ năm 2006 đến 2011 (5 năm) là 38077 vụ việc, nhưng
từ năm 2012 đến năm 2014 (3 năm) là 48524 vụ việc [207, tr.19] Qua đây tác giả nhận thấy rằng, số vụ vi phạm HĐTM trong ba năm gần đây tăng lên đáng kể so với những năm trước Điều đó chứng tỏ rằng, một phần nguyên nhân là do việc nhận thức, quy định và thực thi về chế độ trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM chưa hợp lý và đây có thể xem là một trong những tác nhân gây ra tình trạng vi phạm HĐTM nghiêm trọng trong giai đoạn hiện nay
Để ngăn chặn hành vi vi phạm HĐTM, chúng ta có thể thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như đề cao đạo đức trong kinh doanh, nâng cao ý thức pháp luật, tuyên truyền phổ biến pháp luật cho các chủ thể kinh doanh Trong đó, xác định và áp dụng đúng trách nhiệm pháp lý trong thương mại (chế tài thương mại) là biện pháp pháp luật đặc biệt, góp phần trong việc ngăn chặn hiệu quả các hành vi vi phạm.Vì vậy, trong các văn bản pháp luật về thương mại như PLHĐKT, LTM
1997, nhà nước luôn có những quy định khá cụ thể về chế định trách nhiệm pháp lý
do vi phạm HĐTM Hiện nay, quy định về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM (chế tài thương mại) tiếp tục được khẳng định trong LTM 2005 Tuy nhiên, một số quy định về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM vẫn còn bộc lộ một số bất cập gây khó khăn trong công tác áp dụng pháp luật và giải quyết tranh chấp có liên quan Các hành vi vi phạm hợp đồng, căn cứ áp dụng trách nhiệm, các biện pháp trách nhiệm, các trường hợp miễn trừ trách nhiệm vẫn là các vấn đề còn tranh cãi trong giới luật học, đặc biệt là cách thức áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý
Trang 72
cho từng hành vi vi phạm HĐTM Những vấn đề này cần phải tiếp tục được làm rõ
và đề xuất giải pháp pháp lý nhằm khắc phục, hoàn thiện
So sánh LTM 2005 của Việt Nam với PICC, CƯV và văn bản pháp luật quy định về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng của một số quốc gia (Mỹ, Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản, Anh, Nga, …) còn nhiều điểm chưa tương đồng Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu rộng như hiện nay đòi hỏi phải cần sửa đổi, bãi bỏ một số quy định chưa phù hợp và ban hành những quy định mới về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mang tính thích ứng cao theo xu hướng tiếp thu
có chọn lọc những điểm tiến bộ của các văn bản pháp luật của quốc tế
Về lý luận, có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, phân tích về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng, đặc biệt là trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM Trong số các công trình nghiên cứu về vấn đề này, các tác giả đã có một số ý kiến tương đồng về mặt lý luận, về các quy định pháp luật, tuy nhiên còn một số nội dung về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM vẫn chưa thống nhất quan điểm với nhau Ngoài ra, việc quy định và áp dụng trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM cho các thương nhân phải xác định ở mức độ khác biệt so với việc áp dụng trách nhiệm do một cá nhân bình thường (không phải là thương nhân) vi phạm hợp đồng dân sự Theo đó, luật pháp hiện hành quy định chưa hoàn toàn nhất quán
về hai hoạt động này
Từ những lý do trên tác giả lựa chọn đề tài “Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại ở Việt Nam hiện nay ” làm luận án tiến sỹ luật học
2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM tại Việt Nam, đối chiếu với quy định về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng của một số quốc gia trên thế giới, PICC và CƯV Tác giả nghiên cứu vấn đề này dựa trên quan điểm kế thừa, tiếp thu có chọn lọc các vấn đề về lý luận, các quy định pháp luật, tiếp tục sửa đổi, bãi bỏ quy định chưa phù hợp hoặc bổ sung những nội dung mới hoàn thiện hơn, từ
đó nhằm áp dụng biện pháp trách nhiệm phù hợp khi có hành vi vi phạm hoặc giảm thiểu tình trạng vi phạm HĐTM, các chủ thể ký kết nhiều HĐTM và các hợp đồng này được thực hiện tốt, ít có vi phạm, không dẫn đến kết quả phải hủy hợp đồng hoặc giảm thiểu tình trạng xảy ra tranh chấp hợp đồng giữa các chủ thể hợp đồng
Trang 83
Tác giả hy vọng góp phần làm phong phú thêm về cơ sở lý luận, hoàn thiện các quy định pháp luật, thực tiễn thực thi về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng HĐTM Cụ thể là làm sáng tỏ và hoàn thiện hơn về vi phạm hợp đồng thương mại, các căn cứ áp dụng trách nhiệm, các biện pháp trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, các trường hợp miễn, giảm trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
2.2 Nhiệm vụ đề tài
Đề tài có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề sau đây:
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM như sau: Khái niệm và đặc điểm về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM, các loại vi phạm HĐTM; Làm rõ căn cứ xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; Các biện pháp trách nhiệm pháp lý; Các hình thức miễn trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng
Nghiên cứu thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM ở Việt Nam, cụ thể nghiên cứu về mối quan hệ giữa LTM 2005 và các văn bản pháp luật có liên quan, những nội dung chồng chéo, mâu thuẫn, bất cập của quy định trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM, đánh giá thực trạng quy định về trách nhiệm hợp đồng Từ đó, tác giả đưa ra định hướng sửa đổi,
bổ sung những quy định của các văn bản pháp luật về trách nhiệm HĐTM của Việt Nam Hơn nữa, tác giả cũng phân tích thực tiễn giải quyết tranh chấp về vi phạm HĐTM thông qua các bản án được cơ quan có thẩm quyền giải quyết tại Việt Nam Bên cạnh đó, tác giả còn đánh giá sự phù hợp giữa quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật
Đề tài tiếp tục nghiên cứu một số nhận thức trong lý luận và đề xuất những kiến nghị, giải pháp pháp lý cụ thể cho việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM, cụ thể là: các tư liệu có liên quan đến trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM; vấn đề lý luận về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại; các quy định pháp luật của Việt Nam về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại, nghiên cứu các giải pháp để hoàn thiện trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu còn có các văn kiện của Đảng và Nhà nước liên
Trang 94
quan đến trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại; các báo cáo tổng kết của TANDTC; Thực tiễn giải quyết các vụ tranh chấp do vi phạm hợp đồng thương mại của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt nội dung: Tác giả tập trung nghiên cứu quy định trách nhiệm pháp lý
do vi phạm HĐTM trong LTM hiện hành, theo đó, (i) Nghiên cứu trách nhiệm pháp
lý do vi phạm HĐTM (bao gồm hợp đồng kinh doanh – thương mại) trên nền tảng quy định về hợp đồng dân sự, không nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng lao động, (ii) đề tài nghiên cứu các loại trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM khi hợp đồng được ký kết một cách hợp pháp, có hiệu lực ràng buộc các bên chủ thể trong hợp đồng, còn những vấn đề trách nhiệm do hành vi vi phạm về tiền HĐTM, trách nhiệm khi HĐTM bị vô hiệu không thuộc phạm vi nghiên cứu trong tác giả này Măc dù, tác giả nghiên cứu về trách nhiệm do vi phạm HĐTM được quy định trong LTM hiện hành nhưng không có nghĩa là không nghiên cứu so sánh đối chiếu những vấn đề này trong BLDS 2005 và BLDS 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan
Về không gian: Tác giả tập trung nghiên cứu thực trạng giải quyết tranh chấp
về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM (kinh doanh – thương mại) do các cơ quan xét xử tại một số tỉnh, thành phố lớn tại Việt Nam như TP.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Cần Thơ Cụ thể, những bản án ở hai cấp sơ thẩm, phúc thẩm của tòa án cấp quận, huyện và cấp thành phố, thành phố trực thuộc trung ương
Về mặt thời gian: Tác giả nghiên cứu những bản án được tòa án căn cứ vào
những quy định của LTM 2005 để xử lý, là phân tích những bản án được cơ quan
có thẩm quyền xét xử từ năm 2006 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, tác giả tập trung sử dụng một số phương pháp chủ yếu: phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, phương pháp so sánh giữa các công trình nghiên cứu những nội dung có liên quan đến vấn đề trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM Các phương pháp này được sử dụng rải rác trong nhiều chương khác nhau của luận
án như phân tích làm rõ các loại trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM, phân tích, đánh giá tính phù hợp giữa quy định pháp luật hiện hành với thực tiễn áp dụng pháp
Trang 105
luật Cụ thể, chương 1, sử dụng phương pháp thu thập, tổng hợp, phân loại từng nhóm tài liệu nhằm sơ lược những nội dung mà các công trình có liên quan đến đề tài để phân tích, đánh giá nội dung mà các công trình này đã nghiên cứu Từ đó nêu
ra những nội dung mà đề tài tiếp tục nghiên cứu Tiếp theo, trong chương 2, tác giả
sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp lý luận theo từng nhóm nội dung để nghiên cứu sâu sắc hơn Tổng hợp để tạo ra một hệ thống lý luận mang tính đầy đủ
và lô gích hơn Bên cạnh đó, có sử dụng phương pháp so sánh giữa các quan điểm
lý luận khác nhau có liên quan đến đề tài Hơn nữa, luận án còn sử dụng phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý luận theo từng nhóm quan điểm khác nhau nhằm làm phong phú thêm sự hiểu biết về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM đầy đủ hơn Trong chương này, tác giả cũng sử dụng phương pháp lịch sử để nghiên cứu nguồn gốc hình thành những quy định về nội dung của đề tài từ đó rút ra sự phát triển trong quy định của trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM Với chương 3, sử dụng phương pháp thu thập, thống kê, phân loại và hệ thống hóa các bản án theo từng nhóm loại trách nhiệm Theo đó, luận án còn sử dụng phương pháp phân tích,
so sánh giữa quy định pháp luật và thực tiễn giải quyết vụ án Chương 4, tác giả sử dụng phương pháp đánh giá, kiểm nghiệm thực tiễn và giả thuyết dự đoán về quy định trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại để tiếp tục chứng minh những giải pháp là phù hợp với thực tiễn trong tương lai
Ngoài ra, luận án còn được nghiên cứu trên cơ sở xem xét, so sánh tính phổ biến của pháp luật và thông lệ quốc tế về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM với các quy định của pháp luật Việt Nam trong điều kiện kinh tế hội nhập như hiện nay Tác giả cũng kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn trong việc nghiên cứu
và giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra
5 Những đóng góp mới về mặt khoa học của đề tài
Kết quả nghiên cứu được thể hiện trong luận án có một số điểm mới sau đây:
Một là, tác giả phân tích và làm rõ về khái niệm về vi phạm HĐTM, đặc điểm
riêng của vi phạm HĐTM, tiếp tục phân tích sâu hơn về những loại vi phạm như vi phạm nghiêm trọng, vi phạm trước thời hạn, vi phạm hợp đồng do bên thứ ba vi phạm Tác giả xác định lỗi cố ý của bên vi phạm là căn cứ để khẳng định có hành vi
vi phạm nghiêm trọng hợp đồng Hơn nữa, tác giả xác định bổ sung thông báo, khiếu nại trong thương mại, thời hiệu khởi kiện là căn cứ để xác định trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM
Trang 116
Hai là, dựa trên các nghiên cứu trước đây, tác giả xây dựng khái niệm trách
nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM (trên cơ sở khái niệm trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng), phân tích những đặc điểm riêng của nhiệm trách nhiệm pháp lý do
vi phạm HĐTM
Ba là, trong mỗi chương, tác giả đều chỉ ra những điểm bất cập, thiếu sót của
pháp luật hiện hành và của thực tiễn áp dụng và từ đó để đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật đối với các quy định về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại, hoàn thiện các quy định về căn cứ xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, các biện pháp trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thương mại như buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, phạt vi phạm, BTTH, hủy hợp đồng Hoàn thiện các trường hợp miễn, giảm trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thương mại Phân biệt trường hợp miễn giảm trách nhiệm với không phải chịu trách nhiệm do không thể thực hiện được hợp đồng
Bốn là, phân tích thực tiễn áp dụng các quy định về trách nhiệm pháp lý do vi
phạm hợp đồng thương mại Từ thực tiễn pháp luật, thực thi pháp luật về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM tác giả phân tích nhận thức pháp luật của các chủ thể áp dụng, chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật có liên quan Tìm hiểu và phân tích kinh nghiệm xây dựng và áp dụng pháp luật về nội dung pháp luật tương ứng theo công ước quốc tế, một số nước trên thế giới để tiếp thu những điểm phù hợp nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM trong LTM năm 2005
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Đề tài nghiên cứu có hệ thống các vấn đề pháp lý liên quan tới trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM, đưa ra định hướng và đề xuất các kiến nghị cụ thể mà kết quả có thể làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng và hoàn thiện chế định về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM của Việt Nam Nghiên cứu này của đề tài góp phần tăng cường hiệu quả trong việc điều chỉnh chế định về trách nhiệm pháp
lý do vi phạm HĐTM trong giai đoạn tự do hóa hoạt động kinh doanh trong xu hướng hội nhập với khu vực và thế giới
Tác giả tiếp tục nghiên cứu về những nội dung về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM trong giai đoạn hiện này nhằm góp phần hoàn thiện chế định trách nhiệm hợp đồng, đảm bảo cho trật tự kinh doanh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, nhằm tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật Hơn nữa, việc nghiên cứu
Trang 127
những nội dung này nhằm giảm thiểu tình trạng vi phạm hợp đồng, ngăn chặn hoạt động kinh doanh bất hợp pháp, nâng cao nhận thức tự tìm hiểu và tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp, tôn trọng mục đích, vai trò tốt đẹp của hợp đồng, tránh các rủi ro, nhằm góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướng tích cực
Kết quả nghiên cứu đề tài cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, cho việc học tập, giảng dạy và áp dụng pháp luật
7 Kết cấu của Luận án
Luận án bao gồm phần mở đầu, nội dung luận án bao gồm 4 chương, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo
Trang 138
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại
Vấn đề về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM là chế định quan trọng trong hệ thống các quy phạm pháp luật về thương mại, từ trước đến hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận, quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng đối với những vấn đề có liên quan đến lĩnh vực này Vì vậy, trước khi nghiên cứu chế định này, tác giả cần tổng quan những công trình đã nghiên cứu có liên quan nhằm (i) tránh trường hợp trùng lặp những nội dung đã được một số công trình nghiên cứu và đặc biệt những nội dung có liên quan đến đề tài đã được các tác giả nghiên cứu mang tính thống nhất, phù hợp và hoàn thiện, (ii) với những điểm mà các công trình trước đó đã đạt được, đề tài sẽ kế thừa nhằm làm cơ sở lý luận, thực tiễn hữu ích cho hoạt động nghiên cứu, (iii) tổng quan giúp cho việc nghiên cứu đề tài thuận lợi và hoàn thiện hơn Trong phạm vi tìm hiểu, tác giả thống kê và đánh giá một số công trình liên quan đến đề tài theo hai nhóm chính là khái quát những công trình nghiên cứu trong nước và những công trình nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước
Trách nhiệm pháp lý do vi phạm pháp luật nói chung và trách nhiệm pháp lý
do vi phạm đồng thương mại nói riêng là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều công trình khoa học khác nhau ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu này đề cập đến các khía cạnh khác nhau về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng nói chung và HĐTM nói riêng Sắp xếp theo nội dung vấn đề nghiên cứu của đề tài, tác giả có thể chỉ ra các nhóm công trình khoa học sau đây:
- Nhóm công trình nghiên cứu về vi phạm hợp đồng, các loại vi phạm hợp
đồng:
Trong quyển sách chuyên khảo của Nguyễn Ngọc Khánh [93], ông đã nghiên
cứu về khái niệm, đặc điểm, bản chất hợp đồng, giao kết, thực hiện, sửa đổi, hủy bỏ hợp đồng và trách nhiệm hợp đồng, trong đó công trình đã đề cập đến khái niệm vi phạm hợp đồng, các loại vi phạm hợp đồng được quy định trong các văn bản pháp luật giữa các quốc gia như Cộng hòa Liên Bang Đức, Pháp, Anh –Mỹ, CƯV 1980,
Trang 149
Việt Nam Hơn nữa, ông có phân tích thực trạng áp dụng các quy định pháp luật (qua việc phân tích một số bản án trong và ngoài nước) Từ đó, ông cho thấy rằng quy định của Việt Nam về khái niệm vi phạm hợp đồng, các loại vi phạm hợp đồng của Việt Nam khá tương đồng với quy định của các quốc gia này Tuy nhiên, công trình này đưa ra một số giải pháp là pháp luật hợp đồng của Việt Nam nên quy định
rõ ràng hơn về vi phạm trước thời hạn Đề tài sẽ kế thừa khái niệm về vi phạm hợp đồng từ những cụm thuật ngữ của các quốc gia cũng như quy định hiện hành của Việt Nam mà ông đã trình bày, tuy nhiên tác giả tiếp tục phát triển thêm khái niệm
về vi phạm hợp đồng theo hướng mang tính khái quát hơn Bên cạnh đó, tác giả còn
kế thừa loại vi phạm trước thời hạn mà công trình này đã nêu ra trong phần giải pháp hoàn thiện pháp luật
Trong phạm vi nghiên cứu về nội dung này, quyển sách chuyên khảo của Đỗ Văn Đại [58] đã nghiên cứu về lý luận, thực trạng pháp luật, thực trạng áp dụng pháp luật (phân tích một số bản án tại Việt Nam), giải pháp hoàn thiện pháp luật về
vi phạm hợp đồng, các loại vi phạm hợp đồng Cụ thể, ông đã không sử dụng thuật
ngữ vi phạm hợp đồng mà sử dụng thuật ngữ “không thực hiện đúng hợp đồng”; tuy nhiên ông Đại không hoàn toàn bác bỏ mà vẫn sử dụng thuật ngữ “vi phạm hợp đồng” trong một số trường hợp Tác giả sẽ kế thừa thuật ngữ không thực hiện đúng hợp đồng của Đỗ Văn Đại nhưng tiếp tục phát triển và sử dụng thuật ngữ “không thực hiện đúng hợp đồng” trong trường hợp một bên không chịu trách nhiệm do
không thực hiện đúng hợp đồng khi có xảy ra SKBKK hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Ngoài ra, ông cho rằng thuật ngữ vi phạm cơ bản là mơ
hồ, dịch ra từ thuật ngữ “Fundamental breach” của CƯV không có tính khả thi khi
áp dụng quy định này vào thực tiễn nên cần thay thế bằng thuật ngữ vi phạm nghiêm trọng Hơn nữa, ông cũng cho rằng cần xác định rõ trong các văn bản luật hợp đồng đối với vi phạm trước thời hạn Qua đây, tác giả sẽ kế thừa những nghiên cứu này tuy nhiên sẽ phát triển bổ sung về căn cứ xác định loại vi phạm nghiêm trọng, vi phạm trước thời hạn để tránh trường hợp khó áp dụng tương xứng giữa hành vi vi phạm và loại trách nhiệm và tránh hành vi vi phạm ngược từ chủ thể bị vi phạm
Trong phạm vi các nghiên cứu được đăng trong các tạp chí khoa học chuyên
ngành, Đỗ Văn Đại có bài viết “vi phạm cơ bản hợp đồng”[55]; Võ Sỹ Mạnh có bài viết “vi phạm cơ bản hợp đồng trong pháp luật Việt Nam: Một số bất cập và định
Trang 1510
hướng hoàn thiện” [135] Các bài viết cho rằng sử dụng thuật ngữ vi phạm cơ bản
và đưa ra khái niệm về vi phạm cơ bản như trong LTM 2005 là khó áp dụng vào thực tiễn, nên sử dụng thuật ngữ vi phạm nghiêm trọng hoặc căn cứ vào thực trạng xét xử (án lệ) để xác định như thế nào là vi phạm nghiêm trọng Cũng tương đồng với hai tác giả trên về việc nêu và phân tích một số loại vi phạm hợp đồng, Dương
Anh Sơn có bài viết “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với vi phạm hợp đồng khi chưa đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ”[139] Trong
bài viết này, ông Sơn đã nghiên cứu về khái niệm, căn cứ xác định, tính rủi ro khi xác định vi phạm trước thời hạn, phân tích một số bản án được tòa án Việt Nam xét
xử về những trường hợp tương tự vi phạm trước thời hạn Với công trình này, đề tài
sẽ kế thừa và chứng minh bổ sung một số trường hợp áp dụng vào trong thực tiễn về
vi phạm trước thời hạn trong LTM hiện hành
Tóm lại, qua tham khảo các công trình nghiên cứu trên về nội dung liên quan đến vi phạm hợp đồng, đa số các công trình nghiên cứu khái niệm, đặc điểm vi phạm hợp đồng, HĐTM theo hướng liệt kê như không thực hiện, thực hiện không đúng, chậm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, một số khác đưa ra cụm từ không thực hiện đúng hợp đồng để chỉ đến khái niệm vi phạm hợp đồng Những quan điểm này chính là cơ sở cơ bản để tác giả kế thừa và sẽ tiếp tục nghiên cứu bổ sung để đưa ra khái niệm vi phạm hợp đồng mang tính khái quát hoàn thiện hơn Về các loại vi phạm hợp đồng, các công trình nghiên cứu các loại vi phạm hợp đồng khác nhau, trong đó có một số công trình nghiên cứu về vi phạm cơ bản hợp đồng, vi phạm không cơ bản hợp đồng Một số tác giả nghiên cứu về vi phạm nghiêm trọng hợp đồng, vi phạm trước thời hạn thực hiện hợp đồng Đây có thể được xem là những nền tảng để xây dựng thành lý luận và hoàn thiện các quy định pháp LTM Việt Nam
về vi phạm hợp đồng, các loại vi phạm HĐTM Từ đó, tác giả sẽ tham khảo chọn lọc sử dụng nhằm hệ thống một cách có khoa học những vấn đề về lý luận, thực trạng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp LTM Việt Nam
- Nhóm công trình nghiên cứu về các căn cứ xác định trách nhiệm do vi phạm
HĐTM:
Ở cấp độ là giáo trình giảng dạy tại các trường đại học, quyển “Giáo trình luật
Dân sự VN”[211]; “Giáo trình pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”[53] đã đề cập đến vấn đề cơ bản nhất về khái niệm, đặc điểm của căn cứ
hành vi vi phạm hợp đồng, có lỗi, thiệt hại, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi
Trang 1611
phạm và thiệt hại xảy ra Trong đó, hai công trình này nghiên cứu cụ thể về yếu tố lỗi để xác định trách nhiệm hợp đồng là căn cứ bắt buộc Hơn nữa, hai giáo trình này căn cứ quy định của BLDS 2005 để phân tích bốn căn cứ xác định trách nhiệm
do vi phạm hợp đồng Bên cạnh đó, trong phạm vi nội dung này, Nguyễn Văn
Luyện, Lê Thị Bích Thọ, Dương Anh Sơn trong cuốn “Giáo trình luật HĐTM quốc tế”[122]; Phan Huy Hồng với “Giáo trình pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch vụ” [214] Các công trình này đề cập đến ba căn cứ xác định trách nhiệm do vi
phạm hợp đồng như hành vi vi phạm, thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa hành
vi vi phạm và thiệt hại xảy ra, lỗi không là căn cứ bắt buộc để xác định trách nhiệm
do vi phạm HĐTM; riêng công trình thứ hai xác định từng loại căn cứ cho từng biện pháp trách nhiệm, trong đó có nghiên cứu căn cứ thông báo cho một số loại loại trách nhiệm như tạm ngừng, đình chỉ và hủy hợp đồng Tác giả sẽ tiếp tục kế thừa những quan điểm này về các căn cứ xác định trách nhiệm, tuy nhiên sẽ phân tích thêm về căn cứ thông báo trong từng loại trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM
Trong quyển sách chuyên khảo “Chế định hợp đồng trong BLDS Việt Nam”[93], tác giả của công trình này đã phân tích các căn cứ xác định trách nhiệm
do vi phạm hợp đồng như căn cứ về hành vi vi phạm, thiệt hại, lỗi, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại theo quy định về luật hợp đồng, LTM… của một số quốc gia như Đức, Pháp, Anh-Mỹ, CƯV và quy định theo BLDS 2005 của Việt Nam Ông Khánh cho rằng lỗi vẫn là căn cứ để xác định trách nhiệm ngoài
ba căn cứ nêu trên, nhưng cần phải xem xét lỗi theo sự mẫn cán, tận tâm của một chủ thể mà không phải là thái độ chủ quan của một người trước một sự việc
Trong phạm vi nội dung nghiên cứu này còn có công trình “Áp dụng trách nhiệm hợp đồng trong kinh doanh”[46] Đây là quyển sách chuyên khảo nêu bốn
căn cứ xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng kinh doanh, thương mại nhưng tùy thuộc vào từng loại loại trách nhiệm mà xác định từng nhóm căn cứ Tuy nhiên
bà Dung còn cho rằng mức độ lỗi không là căn cứ để xác định mức tiền phạt hoặc BTTH mà chỉ là căn cứ để xác định trách nhiệm, nghĩa là không phân biệt mức độ lỗi cố ý hay vô ý trong khi áp dụng biện pháp trách nhiệm, mức độ tăng nặng hay giảm nhẹ trách nhiệm
Trong nhóm nghiên cứu liên quan đến các căn cứ xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, còn có một số bài viết đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành
như bài viết về “Khái niệm lỗi trong trách nhiệm dân sự”[2] Bài viết “Nguyên tắc
Trang 1712
lỗi trong pháp LTM Việt Nam” [84] Các công trình khoa học này nghiên cứu
chuyên sâu về căn cứ lỗi như khái niệm, đặc điểm, các loại lỗi Tác giả Phạm Kim Anh có cách tiếp cận mới về yếu tố lỗi, đó là xác định lỗi không nên phụ thuộc vào trạng thái chủ quan của người vi phạm mà phải xem xét theo sự cần mẫn của một chủ thể đối với một công việc phải làm Tác giả kế thừa về cách tiếp cận căn cứ lỗi được hiểu theo quan điểm này Hơn nữa, tác giả tiếp tục nghiên cứu lỗi không phải
là căn cứ xác định bắt buộc trong khi xác định trách nhiệm do vi phạm HĐTM nhưng vẫn xem xét lỗi cố ý, ác ý đối với việc kết luận về hành vi vi phạm nghiêm trọng của một chủ thể
Trong luận án tiến sĩ của Trương Văn Dũng “Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và vấn đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam” [50],
công trình đã nghiên cứu nhiều nội dung liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, vi phạm hợp đồng, căn cứ xác định trách nhiệm, các loại trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Trong đó, công trình này còn phân tích
về các căn cứ xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo bốn căn cứ được quy định trong LTM 1997, đó là có thiệt hại xảy ra, có hành
vi vi phạm hợp đồng, có lỗi, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra và ông cho rằng lỗi vẫn là căn cứ bắt buộc khi xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Bên cạnh đó, ông còn cho rằng căn cứ hành vi vi phạm và yếu tố lỗi được áp dụng cho tất cả các biện pháp trách nhiệm, còn căn cứ có thiệt hại, mối quan hệ nhân quả chỉ áp dụng cho hình thức BTTH Tác giả tiếp thu những căn cứ mà các công trình trên đã nghiên cứu, tiếp tục nghiên cứu lỗi không là căn cứ bắt buộc để xác định trách nhiệm nhưng lỗi cố ý là căn cứ
để xác định loại vi phạm nghiêm trọng trong HĐTM
Qua thống kê và tham khảo những công trình nghiên cứu liên quan đến các căn cứ xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong nước, tác giả nhận thấy rằng một số tác giả nghiên cứu những nội dung liên quan đến hợp đồng dân sự sẽ phân tích bốn căn cứ xác định trách nhiệm như hành vi vi phạm, lỗi, thiệt hại, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại, trong đó yếu tố lỗi được tiếp cận như một căn cứ để xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng Một số công trình nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM phân tích theo ba căn
cứ xác định trách nhiệm và căn cứ lỗi không được xem là căn cứ để xác định trách nhiệm Tuy nhiên, căn cứ thông báo đã được thêm vào nhóm căn cứ để xác định
Trang 1813
trách nhiệm do vi phạm HĐTM Đây có thể được xem là những nền tảng rất cơ bản
để tác giả tiếp tục nghiên cứu nhằm hoàn thiện về lý luận, thực trạng pháp luật, thực trạng áp dụng pháp luật về các căn cứ xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong LTM hiện hành của Việt Nam
- Nhóm công trình nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng,
các biện pháp trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại:
Với những công trình nghiên cứu ở cấp độ giáo trình, tác giả đã tiếp cận được những quyển “Giáo trình luật Dân sự VN”[211]; “Giáo trình pháp luật về hợp đồng
và BTTH ngoài hợp đồng”[213] Các công trình này nghiên cứu một cách có hệ
thống mang tính cơ bản về quan hệ dân sự, hợp đồng dân sự, trong đó có nghiên cứu về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và các loại trách nhiệm do vi phạm hợp đồng dân sự Cụ thể, các công trình này sử dụng thuật ngữ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng nhưng không đưa ra khái niệm về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng dân
sự Bên cạnh đó, các tác giả này đã phân tích các biện pháp trách nhiệm được quy định trong BLDS 2005 như BTTH, phạt vi phạm, hoãn thực hiện hợp đồng, đơn phương chấm dứt hợp đồng, hủy hợp đồng, còn loại trách nhiệm buộc tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng như buộc giao hàng, buộc thanh toán, buộc nhận hàng hóa… được phân tích riêng lẻ trong từng loại hợp đồng Với những nội dung mà hai công trình này đã nghiên cứu, tác giả sẽ kế thừa để phân tích so sánh với quy định trong LTM hiện hành
Bên cạnh các giáo trình nêu trên, Nguyễn Văn Luyện, Lê Thị Bích Thọ,
Dương Anh Sơn có quyển “Giáo trình luật hợp đồng quốc tế”[122]; Trường Đại học Luật TP.HCM, “Giáo trình pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch vụ”
[213] Các tác giả phân tích một cách cơ bản các nội dung liên quan đến hoạt động thương mại, các loại HĐTM, vi phạm hợp đồng, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, các loại trách nhiệm theo quy định của LTM hiện hành Tuy nhiên, các công trình không sử dụng thuật ngữ trách nhiệm mà sử dụng thuật ngữ chế tài trong thương mại Cụ thể phân tích chức năng, đặc điểm của chế tài trong hoạt động thương mại
và phân tích các biện pháp chế tài tương ứng với quy định trong LTM 2005 là buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, BTTH, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy hợp đồng Đây là cơ sở mà tác giả kế thừa để xây dựng một hệ thống lý luận hoàn thiện về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM Tuy nhiên, tác giả sẽ nghiên cứu tiếp tục việc sử dụng thuật ngữ trách nhiệm pháp
Trang 1914
lý do vi phạm HĐTM, bổ sung khái niệm trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng nhưng vẫn sử dụng thuật ngữ chế tài bên cạnh thuật ngữ trách nhiệm trong một số trường hợp nhất định Ngoài ra, tác giả sẽ tiếp tục phân tích thực trạng pháp luật, thực trạng áp dụng pháp luật để hoàn thiện những quy định chưa phù hợp về các loại trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM của LTM 2005
Trong cùng nội dung này, quyển sách tham khảo của Nguyễn Thị Dung [46]
đã nghiên cứu về các đặc điểm trách nhiệm do vi phạm hợp đồng kinh doanh, thương mại, các biện pháp trách nhiệm như buộc thực hiện hợp đồng, BTTH, phạt
vi phạm và hủy hợp đồng, những loại trách nhiệm này tương ứng với quy định trong LTM 1997 Bên cạnh đó, tác giả còn tham khảo quyển sách chuyên khảo của Nguyễn Ngọc Khánh [93] Công trình này cũng nghiên cứu về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng dân sự và nghiên cứu so sánh theo các quy định của các văn bản pháp luật về các loại trách nhiệm do vi phạm hợp đồng giữa các nước trên thế giới thông qua biện pháp trách nhiệm như BTTH, phạt vi phạm Ngoài ra, ông còn trình bày một số bản án về cách áp dụng trách nhiệm BTTH, phạt vi phạm của các quốc gia như Đức, Nga, Pháp, Anh-Mỹ và Việt Nam Tiếp theo, trong quyển sách chuyên khảo của tác giả Đỗ Văn Đại [58], công trình này nghiên cứu các biện pháp xử lý khi có hành vi không thực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm có thể sử dụng nhiều biện pháp như buộc thực hiện đúng hợp đồng, BTTH, phạt vi phạm, hoãn thực hiện hợp đồng, đơn phương chấm dứt hợp đồng, hủy hợp đồng Ngoài ra, ông còn phân tích thêm biện pháp yêu cầu giảm giá, cầm giữ tài sản, thay thế việc thực hiện của bên có nghĩa vụ, trả lãi chậm thanh toán Bên cạnh đó, tác giả còn đề cập đến nội dung là bên có nghĩa vụ có thể sử dụng biện pháp miễn trách nhiệm do SKBKK, do quyết định của nhà nước, do bên có quyền có lỗi, giảm mức bồi thường do bên có quyền không hạn chế tổn thất Thêm vào đó, ông Đại còn cho rằng nếu có sự thỏa thuận của các bên và nếu có xảy ra việc không thực hiện đúng hợp đồng thì bên có quyền có thể sử dụng phạt vi phạm hợp đồng, lãi chậm trả do thỏa thuận, thỏa thuận tăng trách nhiệm BTTH và bên có nghĩa vụ có quyền sử dụng biện pháp miễn trách nhiệm BTTH, giảm trách nhiệm bồi thường Hơn nữa, ông có phân tích một số bản
án và bình luận cách áp dụng pháp luật của từng tòa án theo mỗi biện pháp xử lý
Đây là cách tiếp cận mới của công trình này trong việc sử dụng thuật ngữ “biện pháp xử lý” thay cho thuật ngữ “chế tài” hay “trách nhiệm” và phân tích thêm
những biện pháp xử lý như giảm giá, cầm giữ tài sản, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ
Trang 2015
thay thế Những nội dung mà Đỗ Văn Đại đã nêu trong công trình này sẽ là cơ sở nền tảng để tác giả kế thừa các biện pháp xử lý như giảm giá, cầm giữ tài sản, thay thế việc thực hiện của bên có nghĩa vụ để tiếp tục nghiên cứu trong quan hệ thương mại, nhưng thay thế việc thực hiện của bên có nghĩa vụ được nghiên cứu vào biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng và bên bị vi phạm áp dụng cho bên vi phạm khi bên này có hành vi vi phạm hợp đồng Ngoài ra, tác giả sẽ kế thừa quan điểm bỏ biện pháp đình chỉ thực hiện hợp đồng, tuy nhiên tác giả không nghiên cứu theo hướng sử dụng biện pháp đơn phương chấm dứt hợp đồng như công trình đã nêu mà
chỉ xem xét hủy hợp đồng toàn bộ hoặc một phần hợp đồng
Liên quan đến các loại trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng, tác giả còn tiếp cận được các bài viết được đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành như bài viết của Nguyễn Thị Khế [94]; Nguyễn Thị Hằng Nga [129]; Dương Anh Sơn -Lê Thị Bích Thọ [140]; Đỗ Văn Đại [56] Các công trình này chủ yếu nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm, điều kiện áp dụng, mức độ phạt của biện pháp trách nhiệm phạt vi phạm Các tác giả này cho rằng nên quy định hình thức phạt vi phạm trong BLDS hoặc LTM hiện hành nhưng không cần giới hạn mức phạt mà cho các bên tự thỏa thuận trong hợp đồng Bên cạnh đó, về các biện pháp trách nhiệm làm chấm
dứt hợp đồng tác giả Đỗ Văn Đại trong bài viết “Vấn đề hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng
do vi phạm”[54] Ông còn cho rằng cần bỏ biện pháp đình chỉ thực hiện hợp đồng
Tác giả sẽ kế thừa quan điểm này và tiếp tục chứng minh biện pháp này không có
tính khả thi trong thực tiễn áp dụng xử lý vi pham HĐTM
Ngoài ra, liên quan đến biện pháp trách nhiệm phạt lãi suất do chậm thanh
toán còn có các bài viết “Về cách tính lãi suất trong hợp đồng vay tài sản”[9]; các
tác giả Trần Văn Biên [14]; Đặng Văn Dũng [49]; Đỗ Văn Đại, [57]; Châu Thị Điệp [66]; Lê Thu Hà [77]; Nguyễn Quang Lộc [97]; Hoàng Minh Tâm [142] Nhóm công trình này nghiên cứu về khái niệm lãi suất, lãi suất nợ quá hạn, các loại lãi suất, lãi suất trong hợp đồng vay, lãi suất do chậm thanh toán trong HĐTM, cách tính lãi suất, so sánh giữa quy định về lãi suất được quy định trong BLDS 2005 và quy định về lãi suất trong LTM 2005 Tác giả kế thừa những phân tích liên quan đến quy định về lãi suất nợ quá hạn do vi phạm thời hạn thanh toán trong HĐTM Tiếp tục phân tích những vụ tranh chấp do vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong thực
tế để đưa ra quy định phù hợp trong LTM 2005 và thực tiễn áp dụng, tránh tình
trạng vi phạm nghĩa vụ thanh toán ngày càng tăng cao như hiện nay
Trang 2116
Bên cạnh đó, tác giả tiến sĩ của Trương Văn Dũng [50] đã phân tích các biện pháp trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế như buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt hợp đồng, BTTH, hủy hợp đồng tương tự quy định trong LTM 1997 Ngoài ra ông cũng phân tích và bình luận một số bản án có liên quan đến thực trạng áp dụng các biện pháp trách nhiệm này
Đối với luận văn thạc sĩ còn có tác giả Nguyễn Phú Cường[45]; Lê Thị Diễm Phương[136] Các công trình này nghiên cứu chủ yếu hai biện pháp chế tài là phạt
vi phạm và BTTH theo quy định trong LTM 2005 và thực tiễn giải quyết tranh chấp khi áp dụng các biện pháp chế tài này, nghiên cứu từng biện pháp về khái niệm, đặc điểm, điều kiện áp dụng các biện pháp Các tác giả này đã nêu ra các phương thức áp dụng tại một số tòa án để cho thấy sự phù hợp hoặc chưa phù hợp trong quy định cũng như thực tiễn áp dụng Tác giả sẽ kế thừa quan điểm về những cách tiếp cận này nhưng sẽ nghiên cứu tiếp việc không quy định phạt vi phạm là biện pháp được pháp luật quy định do các bên tự thỏa thuận như một nội dung trong hợp đồng, tuy nhiên nội dung này không bị mất hiệu lực khi một bên vi phạm hợp đồng
Ở cùng cấp độ này, luận văn thạc sĩ luật học, tác giả Đỗ Văn Đạt [65]; Nguyễn Thị Việt Hà [78] đã phân tích về khái niệm, điều kiện áp dụng, hậu quả pháp lý của các loại trách nhiệm làm chấm dứt việc thực hiện hợp đồng được quy định trong LTM 2005 Ngoài ra, trong nhóm luận văn thạc sĩ còn có công trình của Vũ Hoàng Linh [95] Ông chủ yếu phân tích khái niệm, đặc điểm, các hình thức trả lãi chậm thanh toán, trong đó có phân tích nhiều bản án liên quan đến biện pháp trách nhiệm này và đưa ra giải pháp về cách quy định cho việc áp dụng lãi suất này đó là không nên quy định như hiện nay mà cần tăng mức lãi suất cao hơn nhằm giảm bớt hành vi
vi phạm này
Qua việc tham khảo các công trình liên quan đến trách nhiệm, các biện pháp trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM đối với các công trình nghiên cứu trong nước, tác giả nhận thấy rằng có ba nhóm công trình nghiên cứu như nhóm sử dụng thuật ngữ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, nhóm sử dụng thuật ngữ chế tài nhưng hai nhóm này chủ yếu phân tích các hình thức chế tài quy định trong các văn bản pháp luật như BLDS hoặc LTM Việt Nam qua từng thời kỳ Riêng nhóm công trình
sử dụng thuật ngữ các biện pháp xử lý cho hai bên trong quan hệ hợp đồng khi có hành vi không thực hiện đúng hợp đồng xảy ra Đây là nhóm công trình có cách tiếp
Trang 2217
cận và phân tích tương tự theo cách quy định trong các văn bản pháp luật về hợp đồng của một số nước trên thế giới hoặc quy định trong CƯV hay PICC Đây chính
là cơ sở lý luận mới bổ sung vào hệ thống lý luận về chế định trách nhiệm pháp lý
do vi phạm HĐTM và là công trình góp phần vào việc nghiên cứu hoàn thiện các
quy định về chế định này trong BLDS hoặc LTM hiện hành của Việt Nam
- Các công trình nghiên cứu về các trường hợp miễn, giảm trách nhiệm do vi
phạm hợp đồng:
Trong các quyển giáo trình có nghiên cứu những nội dung về các trường hợp
miễn, giảm trách nhiệm thì có thể kể đến“Giáo trình luật Dân sự VN” [211]; “Giáo trình pháp luật về hợp đồng và BTTH ngoài hợp đồng” [53]; “Giáo trình luật HĐTM quốc tế” [122]; “Giáo trình pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch vụ”[213] Nhóm công trình này nghiên cứu một cách cơ bản nhất các trường hợp
miễn trách nhiệm quy định trong BLDS 2005 và LTM 2005 như miễn trách nhiệm
do các bên thỏa thuận, do SKBKK, do quyết định của nhà nước, do lỗi của bên bị vi phạm Tuy nhiên, công trình [122] nghiên cứu trường hợp các bên không được thỏa thuận những nội dung miễn trách nhiệm nếu thỏa thuận đó đi ngược lại với mục đích của hợp đồng Tác giả sẽ kế thừa những nghiên cứu này và tiếp tục nghiên cứu các trường hợp giảm trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
Trong các công trình nghiên cứu ở dạng là sách tham khảo về các trường hợp
miễn, giảm trách nhiệm do vi phạm hợp đồng có quyển “Áp dụng trách nhiệm hợp đồng trong kinh doanh”[46], bà Dung đã nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm, các
trường hợp cụ thể về hai trường hợp miễn trách nhiệm là SKBKK, do các bên thỏa thuận về miễn trách nhiệm Trong cùng nội dung này, tác giả Nguyễn Ngọc Khánh
có quyển sách “Chế định hợp đồng trong BLDS Việt Nam”[93] Ông đã nghiên cứu
so sánh trường hợp miễn trách nhiệm do SKBKK của một số quốc gia trên thế giới, CƯV và đặc biệt công trình phân tích một trường hợp theo BLDS của Nga là miễn trách nhiệm do khó khăn đặc biệt về kinh tế Tác giả sẽ kế thừa trường hợp này nhưng sẽ tiếp tục nghiên cứu theo hướng hoàn cảnh khó khăn về kinh tế là một trường hợp kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ do có sự thỏa thuận lại nội dung hợp đồng
Quyển sách chuyên khảo “Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam”[58] đã nghiên cứu các trường hợp miễn trách
nhiệm theo hướng bên có nghĩa vụ được quyền sử dụng khi có hành vi không thực
Trang 2318
hiện đúng hợp đồng như miễn trách nhiệm khi có SKBKK, do quyết định cơ quan nhà nước có thẩm quyền, do bên có quyền có lỗi, giảm mức bồi thường do bên có quyền không hạn chế tổn thất, miễn hoặc giảm trách nhiệm do có thỏa thuận Tác giả kế thừa các trường hợp mà công trình này nghiên cứu như miễn hoặc giảm trách nhiệm nhưng sẽ phát triển theo hướng tiếp cận là khi bên vi phạm có hành vi vi phạm với bên bị vi phạm Song song đó, tác giả sẽ tiếp cận các trường hợp không chịu trách nhiệm do không thực hiện đúng hợp đồng theo luật định mà không phải
do bên bị vi phạm quyết định
Đối với tác giả tiến sĩ, tác giả còn tham khảo quyển “Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và vấn đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam”[50]; luận văn thạc sĩ “ Điều kiện hạn chế, miễn trừ trách nhiệm pháp luật HĐTM Việt Nam”[71] Hai công trình này đều nghiên cứu các trường hợp miễn trách nhiệm
được quy định trong LTM 2005 về lý luận, quy định của LTM 2005, thực trạng áp dụng và giải pháp hoàn thiện về các trường hợp miễn trách nhiệm Riêng công trình của Trương Văn Dũng, ông đã nghiên cứu căn cứ do bên thứ ba có quan hệ với một bên của hợp đồng gặp bất khả kháng; đặc biệt, ông còn phân tích trường hợp miễn trách nhiệm do hoàn cảnh khó khăn Tác giả sẽ kế thừa các căn cứ miễn trách nhiệm này, đặc biệt là căn cứ miễn trách nhiệm khi gặp hoàn cảnh khó khăn và căn cứ do bên thứ ba có quan hệ với một bên của hợp đồng gặp bất khả kháng Tuy nhiên, tác giả sẽ tiếp tục tiếp cận theo hướng không chịu trách nhiệm mà không phải là miễn trách nhiệm
Với nội dung này, còn có một số bài viết đăng trên các tạp chí khoa học
chuyên ngành như “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn đối với điều khoản bất khả kháng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”[17] “Góp ý dự thảo BLDS (sửa đổi) về điều khoản miễn trừ trách nhiệm và hạn chế quyền lợi trong hợp đồng”[130] Các công trình nêu trên đã nghiên cứu về các trường hợp miễn trách
nhiệm theo quy định trong LTM 2005 và BLDS 2005 Đặc biệt, ông Lê Nết đưa ra trường hợp các bên có được quyền thỏa thuận căn cứ miễn trừ trách nhiệm nhưng thỏa thuận này không đi ngược lại với mục đích hợp đồng Đây là điểm mới góp phần vào hoàn thiện quy định về điều kiện quy định về trường hợp thỏa thuận căn
cứ miễn trách nhiệm Tác giả sẽ kế thừa quan điểm này tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ quy định của pháp luật vào với thực tiễn áp dụng
Trang 2419
Khảo sát những công trình về miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, tác giả nhận thấy rằng, tất cả các công trình nghiên cứu về nội dung này gần như đều có quan điểm gần giống nhau về các trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng Riêng Đỗ Văn Đại cho rằng phải bổ sung vào căn cứ này trường hợp giảm trách nhiệm và hơn nữa đây là các trường hợp miễn trách nhiệm do không thực hiện đúng hợp đồng mà bên có nghĩa vụ có thể sử dụng Ngoài ra, ông cho rằng hoàn cảnh khó khăn về kinh tế là căn cứ giảm trách nhiệm, đó là bên có nghĩa vụ được kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ để thỏa thuận lại nội dung hợp đồng; trong khi
đó tác giả Trương Văn Dũng cho rằng là trường hợp miễn trách nhiệm Đây là những cơ sở nền tảng mang tính mới trong các công trình này, tác giả sẽ kế thừa và tiếp tục nghiên cứu theo hướng là các trường hợp không chịu trách nhiệm do không thực hiện đúng hợp đồng do luật định và các trường hợp miễn, giảm trách nhiệm do bên bị vi phạm quyết định do có hành vi vi phạm của bên vi phạm
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu nước ngoài
- Nhóm công trình nghiên cứu về vi phạm hợp đồng, các loại vi phạm hợp
“Lý thuyết trách nhiệm do vi phạm hợp đồng của Trung Quốc”[127], là sách
chuyên khảo của Vương Lợi Minh có nội dung chính liên quan đến vi phạm nghĩa
vụ hợp đồng Ông cho rằng vi phạm hợp đồng là việc không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng đã cam kết ngoài những lý do chính đáng Hơn nữa ông nêu rất nhiều loại vi phạm như vi phạm cơ bản, vi phạm không cơ bản, vi phạm trước thời hạn, vi phạm
Trang 2520
sau thời hạn thực hiện hợp đồng, vi phạm do các bên trong hợp đồng vi phạm, vi phạm do bên ngoài hợp đồng vi phạm, các bên trong hợp đồng cùng vi phạm Theo ông, tương ứng với mỗi nghĩa vụ thì sẽ có một loại vi phạm nếu có một bên không thực hiện theo đúng cam kết trong hợp đồng Tác giả sẽ kế thừa những nghiên cứu
về các loại vi phạm nhưng khái quát chúng theo từng loại cụ thể mà không nghiên cứu nhiều loại vi phạm như tác giả này để thuận lợi hơn khi áp dụng từng biện pháp trách nhiệm tương ứng cho từng loại vi phạm hợp đồng
Trong cuốn “Law in commerce” (Luật thương mại”) [251], công trình đã
nghiên cứu về hành vi không thực hiện hợp đồng được chia ra thành hai trường hợp
đó là vi phạm hợp đồng và không vi phạm hợp đồng Theo ông, hình thức không thực hiện bị xem là vi phạm hợp đồng là hành vi không thực hiện hợp đồng do lỗi của bên vi phạm, cụ thể trong hình thức này còn chia thành không thực hiện được
dù thiện chí thực hiện nhưng không có khả năng thực hiện và không thực hiện dù có khả năng nhưng cố ý không thực hiện do không có thiện chí thực hiện Theo đó, trường hợp không thực hiện dù có khả năng nhưng cố ý không thực hiện do không
có thiện chí, trung thực này sẽ bị xem là vi phạm hợp đồng tương tự vi phạm các điều khoản chủ yếu của hợp đồng và bị áp dụng biện pháp trách nhiệm làm chấm dứt quan hệ hợp đồng và BTTH; Riêng trường hợp không thực hiện hợp đồng dù có thiện chí thực hiện nhưng không còn khả năng để thực hiện thì loại vi phạm này được xem như là vi phạm các điều khoản thứ yếu của hợp đồng thì có thể bị áp dụng BTTH mà không làm chấm dứt hợp đồng Bên cạnh đó, ông còn đề cập đến việc không thực hiện hợp đồng nhưng không do lỗi của các bên trong hợp đồng thì
sẽ không gọi là vi phạm hợp đồng Thêm vào đó, tác giả công trình này còn nghiên cứu các căn cứ xác định vi phạm hợp đồng, các loại vi phạm bao gồm vi pham thực
tế hợp đồng, vi phạm trước thời hạn thực hiện hợp đồng
Tác giả John D.Calamari and Joseph M Perillo trong quyển sách chuyên khảo
“The law of contracts[232], (luật pháp về hợp đồng) nghiên cứu về vi phạm hợp
đồng và không thực hiện hợp đồng khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng Theo
đó, tác giả chia trường hợp không thực hiện nghĩa vụ trong tương lại ra làm hai hành vi là không có khả năng thực hiện hợp đồng trong tương lai và không thiện chí thực hiện các điểu khoản chính yếu của hợp đồng Ngoài ra, ông còn nghiên cứu khái niệm, đặc điểm, lịch sử hình thành và phân tích thực trạng áp dụng của loại vi phạm trước thời hạn, hơn nữa ông còn nghiên cứu trường hợp một bên không thực
Trang 2621
hiện hợp đồng nhưng thể hiện sự thiện chí vì khi rơi vào một hoàn cảnh cụ thể thì bất kỳ ai cũng đều hành xử như vậy và bên này sẳn sàng chịu áp dụng biện pháp trách nhiệm tương ứng Bên cạnh đó, công trình còn xem xét trường hợp không thực hiện hợp đồng tương tự trường hợp một bên trong hợp đồng bị phá sản Đặc biệt, tác giả này còn nghiên cứu chuyên sâu về giảm thiệt hại do xác định trường hợp không thực hiện hợp đồng khi chưa đến hạn thực hiện hợp đồng, tuy nhiên việc
áp dụng trách nhiệm cho hành vi không thực hiện hợp đồng khi chưa đến hạn thực hiện hợp đồng sẽ có thể dẫn đến nhiều rủi ro cho bên áp dụng
Trong nội dung này, tác giả còn tiếp cận được quyển sách của Daniel J.Bussel
“Liability for concurrent breach of contract”[228], (Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng) đồng thời Công trình này nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm,
nguyên nhân xảy ra hành vi vi phạm song phương Hơn nữa, còn tiếp cận căn cứ, thời điểm vi phạm để xác định loại vi phạm, đây là yếu tố xác định loại vi phạm này Bên cạnh đó, ông còn phân tích một số bản án để bình luận về việc xử lý khi có hành vi vi phạm này xảy ra Tác giả sẽ kế thừa nghiên cứu về vi phạm song phương trong chương 2 và hoàn thiện trong chương 4 của luận án, tiếp tục phân tích trong chương 3 về thực trạng áp dụng về vi phạm này
Trong quyển sách “The architecture of Euopean Codes and contract law” (cấu trúc các Bộ luật của châu Âu và Luật hợp đồng” của nhóm tác giả Pauline Rémy –
Corlay, Stefan Grundmann, Martin Schauer, Bea Verschaegen, Edited by Stefan Grundmann, Martin Schauer, 1990 -1992, Kluwer law International, các tác giả đề cập một cách cơ bản nhất về khái niệm vi phạm hợp đồng, các loại vi phạm hợp đồng được quy định trong pháp luật hợp đồng châu Âu, BLDS Pháp, Luật hợp đồng, BLDS Đức, BLDS Úc và BLDS Hà Lan Trong đó, tác giả Pauline Rémy –Corlay cho rằng nên quy định một khái niệm vi phạm hợp đồng chính thức trong pháp luật hợp đồng châu Âu
“Commercial law” là quyển sách của Roy Goode [242] mà tác giả tiếp cận
được, ông đã nghiên cứu về từng hành vi vi phạm hợp đồng như không giao hàng hóa, giao chậm hàng hóa, giao hàng không đúng, giao hàng kém chất lượng… chi tiết cho hành vi vi phạm hợp đồng Bên cạnh đó, ông còn nghiên cứu về vi phạm trước thời hạn thực hiện hợp đồng, vi phạm điều khoản thứ yếu (breach of warranty) Cũng tương tự hình thức nghiên cứu về vi phạm hợp đồng và các loại vi phạm hợp đồng còn có tác giả Mitsuru Claire Chino, Noboru Kashiwagi and Ayako
Trang 27Tác giả khảo sát các công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến nội dung
về vi phạm hợp đồng, các loại vi phạm hợp đồng cho thấy các tác giả này đã đưa ra khái niệm về vi phạm hợp đồng rất đơn giản, chưa xây dựng khái niệm này một cách cụ thể Các công trình chủ yếu liệt kê từng hành vi cụ thể cho khái niệm này Bên cạnh đó, về các loại vi phạm mà các tác giả đề cập đến chủ yếu là hành vi không thực hiện hợp đồng, vi phạm trước thời hạn Hơn nữa, Một số tác giả khác đề cập đến loại vi phạm các điều khoản chủ yếu và vi phạm các điều khoản thứ yếu trong hợp đồng để xác định trách nhiệm hợp đồng Đặc biệt, một số công trình còn nghiên cứu vi phạm do các bên trong hợp đồng đều vi phạm, vi phạm do bên thứ ba (ngoài hợp đồng) vi phạm Tác giả sẽ kế thừa những nội dung này để tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện về quy định trong khái niệm, các loại vi phạm HĐTM tại Việt Nam
- Nhóm công trình nghiên cứu về căn cứ áp dụng trách nhiệm pháp lý do vi
phạm hợp đồng:
Trong quyển sách chuyên khảo “Civil remedies in Malaysia” (Các biện pháp
xử lý do vi phạm NVDS của Mã- lai-xi-a)[241], công trình này đã nghiên cứu về các
căn cứ như hành vi vi phạm, thiệt hại, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm
và thiệt hại, căn cứ lỗi, căn cứ thông báo, khiếu nại, tuy nhiên, ông nghiên cứu từng loại hành vi vi phạm được áp dụng cho từng biện pháp trách nhiệm và nghiên cứu căn cứ thiệt hại, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại áp dụng đối với hình thức BTTH Ngoài ra, tác giả này cho rằng yếu tố lỗi không là căn cứ
để áp dụng trách nhiệm, tuy nhiên ông nhận thấy rằng khi áp dụng những biện pháp
xử lý mang tính công bằng tòa án vẫn xem xét lỗi của các bên khi vi phạm hợp đồng Bên cạnh đó, ông còn phân tích căn cứ thông báo bằng miệng hoặc bằng văn bản là bắt buộc vì nghĩa vụ hợp đồng không tự động chấm dứt giữa các chủ thể mặc
dù bên bị vi phạm áp dụng bất kỳ biện pháp trách nhiệm nào cho bên vi phạm
“Japanese Business Law”, (Luật Kinh doanh của Nhật) [245] mà tác giả tiếp
cận được, công trình có nêu một số căn cứ về vi phạm hợp đồng, thiệt hại, mối quan
hệ nhân quả giữa vi phạm và thiệt hại, lỗi, trong đó lỗi vẫn không là căn cứ bắt buộc
Trang 2823
khi xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng Ngoài ra, tác giả này còn phân tích hai căn cứ thông báo và căn cứ khiếu nại như những căn cứ bắt buộc khi bên bị vi phạm áp dụng các loại trách nhiệm cho bên vi phạm Hơn nữa, đối với căn cứ khiếu nại, ông cho rằng việc bên bị vi phạm có được xác nhận là có xâm phạm đến quyền
và lợi ích của mình hay không là phụ thuộc vào sự quan tâm đến việc bên này có quan tâm đến việc khiếu nại đúng quy định hay không Trong hoạt động nghiên cứu chuyên sâu căn cứ khiếu nại để xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng còn có
công trình “Commercial law” là quyển sách chuyên khảo của Roy Goode [242] (
“Luật Thương mại”), trong quyển sách này, ông còn cho rằng nếu khi có hành vi vi
phạm hợp đồng xảy ra, trong thời gian đã thỏa thuận hoặc luật pháp có quy định mà bên bị vi phạm không khiếu nại thì sau đó hành vi yêu cầu áp dụng loại trách nhiệm pháp lý của bên bị vi phạm cho bên vi phạm hoàn toàn không có hiệu lực
Tác giả Brendan Sweeney and Jenifer O Reilly có quyển sách chuyên khảo
“Law in commerce”[251] (Luật Thương mại”) đã trình bày bốn căn cứ xác định
trách nhiệm do vi phạm hợp đồng như vi phạm hợp đồng, thiệt hại, có lỗi, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại Tuy nhiên, ông không phân tích chung bốn căn cứ này để xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mà đề cập riêng lẻ từng loại căn cứ cho mỗi loại trách nhiệm Đặc biệt, ông xác định yếu tố lỗi
là căn cứ để xem xét biện pháp trách nhiệm hủy hợp đồng, hơn nữa căn cứ có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại được ông phân tích rõ ở việc xác định trách nhiệm BTTH và bên cạnh đó, ông còn phân tích một số bản án để chứng minh về thiệt hại gián tiếp thì không được xem xét theo nguyên tắc Hadley v Baxendale Ngược lại với tác giả Brendan Sweeney and Jenifer O Reilly, tác giả
Nigel Savage and Robert Bradgate với quyển sách chuyên khảo “Business law” (“Luật Kinh doanh”) cho rằng yếu tố lỗi không là căn cứ để áp dụng trách nhiệm
pháp lý do vi phạm hợp đồng, cụ thể là biện pháp trách nhiệm hủy hợp đồng Ông cho rằng, ngay cả khi bên vi phạm không có lỗi cũng sẽ phải chịu trách nhiệm trừ những lý do chính đáng
Trong quyển sách “The architecture of Euopean Codes and contract law” (cấu trúc các Bộ luật của châu Âu và luật hợp đồng” của các tác giả Pauline Rémy – Corlay trong chương “Structural elements of the French Civil Code” (những nội dung của BLDS Pháp), tác giả Stefan Grundmann có chương “Structural elements
in the contract law parts of the German Civil Code” (một số nội dung của luật hợp
Trang 2924
đồng trong BLDS Đức) Các tác giả nghiên cứu dựa trên quy định về căn cứ xác
định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng của các BLDS pháp, BLDS Đức, Luật hợp đồng của châu Âu để phân tích Trong khi đó, các bộ luật này đều để cập đến bốn yếu tố xác định trách nhiệm nêu trên như có hành vi vi phạm, có thiệt hại, có mối quan hệ nhân quả, có lỗi, đặc biệt yếu tố lỗi vẫn là yếu tố quyết định khi vi phạm hợp đồng dân sự nhưng trong quan hệ thương mại thì yếu tố này không là căn cứ quyết định để xác định trách nhiệm
Qua tổng quan cho thấy, các tác giả nước ngoài không nghiên cứu tập trung các căn cứ xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thành một mục trong công trình của mình mà chỉ đề cập rải rác từng loại căn cứ khi phân tích từng biện pháp trách nhiệm Bên cạnh đó, vấn đề về lỗi vẫn còn nhiều bàn cãi khi xác định là căn
cứ để áp dụng trách nhiệm mà chưa có sự thống nhất trong quan điểm giữa các tác giả Riêng, căn cứ thông báo và căn cứ khiếu nại được phân tích cụ thể trong nhiều công trình có liên quan Đây là vấn đề quan trọng mà tác giả kế thừa để tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện trong quy định về căn cứ xác định trách nhiệm của LTM Việt Nam
- Nhóm công trình nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng,
các biện pháp trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng:
Quyển sách chuyên khảo của ông Cheong May Fong, 2007 “Civil remedies in
Malaysia” (Các biện pháp xử lý do vi phạm nghĩa vụ dân sự của Mã- lai-xi-a)[241],
ông nghiên cứu về biện pháp xử lý do vi phạm hợp đồng, các biện pháp trách nhiệm
áp dụng cho bên vi phạm như hủy hợp đồng, BTTH, buộc thực hiện toàn bộ hợp đồng, lệnh của tòa án, trả lại những gì đã nhận, các biện pháp công bằng mà tòa án
áp dụng Và trong mỗi biện pháp trách nhiệm ngoài việc phân tích các vấn đề lý luận như khái niệm, đặc điểm, căn cứ áp dụng, hậu quả của từng biện pháp trách nhiệm thì ông còn bình luận các luật thực định (Đạo luật về hợp đồng 1950 của Ma-lai-xi-a, Luật Bán hàng 1957, Luật Thi hành nghĩa vụ 1950), ngoài ra còn bình luận một số bản án để chứng minh sự phù hợp giữa quy định và thực tiễn áp dụng Trong công trình này, tác giả sẽ kế thừa các vấn đề lý luận về xác định duy nhất một biện pháp làm chấm dứt hợp đồng đó là hủy hợp đồng có hồi tố và không hồi tố và bãi
bỏ biện pháp đình chỉ thực hiện hợp đồng như quy định trong LTM hiện hành Đặc biệt kế thừa các biện pháp xử lý như lệnh cấm hoặc buộc thực hiện một công việc của tòa án và đưa vào là các biện pháp trách nhiệm do vi phạm hợp đồng Hơn nữa,
Trang 30Phương pháp nghiên cứu này tương tự công trình nghiên cứu “Các biện pháp xử lý do không thực hiện đúng hợp đồng” của tác giả Đỗ Văn Đại Tuy nhiên, ông nghiên cứu
chủ yếu về biện pháp BTTH và phân tích cụ thể từng hành vi mà hai bên sẽ phải sử dụng để xử lý khi có hành vi vi phạm hợp đồng; ví dụ như bên mua có quyền yêu cầu BTTH nếu có do hành vi không giao hàng, giao thiếu hàng, buộc thi hành toàn bộ hợp đồng; bên bán được hủy bán hàng hóa nếu có vi phạm từ phía bên mua, yêu cầu trả lại hàng hóa, nghiên cứu tăng giá bán, BTTH do không thực hiện hợp đồng, ngừng giao hàng Và trong một số biện pháp trách nhiệm đề tài của tác giả này cũng có phân tích một số vụ án cụ thể để chứng minh những quy định phù hợp và chưa phù hợp với thực tiễn áp dụng
Trong quyển sách chuyên khảo “Charlesworth’s Business law” (Luật kinh doanh của Carlesworth), Sixteenth Edition by Paul Dobson, London sweet and
Maxwell, 1997, tại chương 9 của công trình, công trình có đề cập đến các biện pháp
xử lý do vi phạm hợp đồng như BTTH, thỏa thuận lại nội dung hợp đồng (quantum meruit), buộc thi hành toàn bộ hợp đồng, lệnh cấm hoặc buộc của tòa án Trong đó, đối với biện pháp BTTH, ông nêu về biện pháp bồi thường ấn định (liquidated damages) và phạt vi phạm (penalties), theo đó bồi thường ấn định là khoản tiền mà các bên thỏa thuận thống nhất trong hợp đồng, còn phạt vi phạm là những thiệt hại phải được bồi thường theo tổn thất thực tế Quan điểm này dường như đi ngược lại với cách hiểu về BTTH, phạt vi phạm của Việt Nam Tuy nhiên, quan điểm này đã góp phần làm phong phú hơn về mặt lý luận khi nghiên cứu về vấn đề này
Trang 31Trong quyển sách chuyên khảo “Law in commerce” (Luật thương mại”)[251]
mà tác giả tiếp cận được, tác giả này đã nghiên cứu về biện pháp hủy hợp đồng, giảm giá, BTTH, buộc thi hành toàn bộ hợp đồng, lệnh cấm và buộc thực hiện công việc, trả lại những gì đã nhận, trong đó tác giả này cho rằng lệnh cấm và buộc thực hiện công việc, trả lại những gì đã nhận mà tòa án cưỡng chế là những biện pháp trách nhiệm mà bên vi phạm phải thực hiện
“The law of contracts”[232], (luật pháp về hợp đồng) của John D.Calamari
and Joseph M Perillo là quyển sách chuyên khảo nghiên cứu hai loại trách nhiệm
về BTTH và trả lại những gì đã nhận, trong đó ông nêu khái niệm, các loại bồi thường, căn cứ và giá trị bồi thường và phân tích các bản án áp dụng biện pháp trách nhiệm này để giải thích cho các quy định Ngoài ra, ông cho rằng trả lại những
gì đã nhận mà tòa án cưỡng chế thi hành sau khi đã có phán quyết từ tòa án vẫn là một biện pháp trách nhiệm pháp lý mà bên vi phạm phải thi hành
Tóm lại, qua khảo sát các công trình nước ngoài có đề cập đến những nội dung có liên quan đến trách nhiệm pháp lý và các biện pháp trách nhiệm pháp lý, tác giả nhận định rằng: Các công trình ít đề cập đến việc phân tích khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mà chỉ phân tích chức năng của loại trách nhiệm này Hơn nữa, các công trình chủ yếu nghiên cứu về biện pháp BTTH, cụ thể nghiên cứu về các hình thức, mức độ, cách tính toán để bồi thường, tuy nhiên, điều đáng lưu ý là, đa số các công trình này đều cho rằng những biện pháp cưỡng chế từ tòa án trong quá trình giải quyết vụ án hoặc sau khi bản án có hiệu lực cũng là những biện pháp trách nhiệm trong loại trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng Thêm vào đó, qua mỗi biện pháp trách nhiệm các công trình đều phân tích các bản án để chứng minh thực trạng áp dụng pháp luật Đây chính là những nội dung mang tính nền tảng mà tác giả sẽ kế thừa
và tiếp tục nghiên cứu trong đề tài này
Trang 32khái niệm, đặc điểm của hành vi không thực hiện hợp đồng và hai trường hợp miễn trách nhiệm đó là SKBKK và hoàn cảnh khó khăn Đặc biệt, tác giả này cho rằng hành vi không thực hiện hợp đồng này của bên có nghĩa vụ thực hiện nhưng bên này hoàn toàn không có lỗi và nguyên tắc thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết không được đề cao trong trường hợp không thực hiện hợp đồng này Bên cạnh đó, đề tài còn so sánh hai trường hợp miễn trừ trách nhiêm này giữa CƯV, PICC, BLDS Pháp
và nêu những bản án được các trọng tài xét xử để so sánh những quy định về các trường hợp miễn trách nhiệm này với thực tế áp dụng Một điều chú ý của công
trình này là ông sử dụng thuật ngữ “không thực hiện hợp đồng” mà không sử dụng
thuật ngữ vi phạm hợp đồng trong các trường hợp miễn trách nhiệm
Trong chương 13 của quyển sách chuyên khảo “The law of contracts”, third edition, 1987, west publishing Co.St Paul, Minn, (luật pháp về hợp đồng) của
John D.Calamari and Joseph M Perillo đã nghiên cứu về những trường hợp không thể thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện, phá sản trong kinh doanh và rủi
ro bị thiệt hại Các tác giả cho rằng một bên bị phá sản, chết hoặc tai nạn hoặc hợp đồng bị rơi vào trường hợp bất khả kháng hay hoàn cảnh khó khăn thì những trường hợp này các bên không ai có lỗi vì vậy bên có nghĩa vụ sẽ không phải chịu trách nhiệm hợp đồng
Tác giả Christopher Osakwe có quyển sách chuyên khảo về “Modern Russian Law of Contracts: A Functional Analysis”, (Luật hợp đồng hiện hành của Nga: phân tích một số chức năng) [247] mà tác giả tiếp cận được, trong tác phẩm này,
ông đề cập đến trường hợp không thực hiện được hợp đồng do trở ngại khách quan,
do SKBKK, do quyết định của nhà nước, do bị phá sản hoặc chết và hoàn cảnh kinh
tế khó khăn Theo đó, khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hợp đồng trong những trường hợp này thì không bị xem là có lỗi nên không phải chịu trách nhiệm
Trang 3328
Tác giả đã tiếp cận và tổng quan những công trình có liên quan đến nội dung này của các tác giả nước ngoài cho thấy, các tác giả chủ yếu nghiên cứu hai trường hợp miễn trách nhiệm cho bên có nghĩa vụ khi bên này không thực hiện hợp đồng
đó là có SKBKK và hoàn cảnh khó khăn Ngoài ra, còn cho rằng những trường hợp phá sản, chết hoặc tai nạn cũng là những trường hợp khi một bên không thực hiện hợp đồng thì cũng sẽ không chịu trách nhiệm Đây là những lý luận cơ bản làm nền tảng cho tác giả kế thừa và tiếp tục phân tích để hoàn thiện các quy định của pháp LTM về trường hợp một hoặc các bên trong hợp đồng không phải chịu trách nhiệm trong trường hợp không thể thực hiện hợp đồng
1.1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại
- Đánh giá công trình trong và ngoài nước nghiên cứu về các nhóm nội dung liên quan đến luận án
Qua nghiên cứu các tài liệu, công trình có liên quan đến đề tài nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM từ trước đến nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới mà nghiên cứu sinh tiếp cận được, tác giả xin đưa ra một vài đánh giá như sau
Thứ nhất, đối với các công trình nghiên cứu về nội dung vi phạm hợp đồng,
các loại vi phạm hợp đồng: Đa số các công trình có quan điểm thống nhất với nhau
về khái niệm vi phạm hợp đồng là việc không thực hiện hợp đồng ngoài những lý
do chính đáng (không thực hiện hợp đồng được hiểu là thực hiện không đúng hợp
đồng, chậm thực hiện hợp đồng,…) Hơn nữa, các tác giả còn có quan điểm cho
rằng không nên dùng thuật ngữ “vi phạm hợp đồng” khi hợp đồng không thực hiện
được, nó sẽ không mang tính bao quát tất cả các trường hợp Vì vậy, thuật ngữ
“không thực hiện đúng hợp đồng” có thể thay thế cho thuật ngữ vi phạm hợp đồng
nhưng quan điểm này vẫn chưa được thống nhất cao trong một số tác giả Với việc phân biệt các loại vi phạm hợp đồng, một số tác giả thống nhất chia thành vi phạm
cơ bản, vi phạm không cơ bản, vi phạm trước thời hạn, một số tác giả khác chia thành vi phạm nghiêm trọng, không nghiêm trọng, vi phạm trước thời hạn Nhóm tác giả khác chia thành các loại vi phạm hợp đồng trên và bên cạnh đó còn phân tích thêm vi phạm do các bên đều vi phạm và vi phạm do bên thứ ba vi phạm Vì vậy, về nội dung phân loại vi phạm hợp đồng, các công trình trong và ngoài nước vẫn còn tranh cãi mà chưa thống nhất cao trong việc phân loại về vi phạm hợp đồng
Trang 3429
Thứ hai, các nghiên cứu đã thống nhất các căn cứ áp dụng trách nhiệm do vi
phạm hợp đồng là có hành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại xảy ra, có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi vi phạm gây ra thiệt hại đó Hơn nữa, còn có quan điểm cho rằng cần có căn cứ lỗi khi xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng Ngoài ra, trong một số công trình nghiên cứu còn cho rằng nên xác định căn
cứ thông báo và khiếu nại là căn cứ xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng Vì vậy, về các căn cứ để xác định trách nhiệm do vi phạm HĐTM các tác giả trong các công trình trong và ngoài nước vẫn chưa có sự thống nhất hoàn toàn với nhau
Thứ ba, các tác giả có nhiều quan điểm khác nhau về việc sử dụng thuật ngữ
nào giữa các thuật ngữ chế tài, trách nhiệm pháp lý, biện pháp xử lý do vi phạm HĐTM Các loại trách nhiệm do vi phạm HĐTM vẫn còn có nhiều quan điểm khác nhau số lượng biện pháp trách nhiệm, cách áp dụng các biện pháp trách nhiệm cho chủ thể Trong đó, có quan điểm cho rằng các loại trách nhiệm chỉ áp dụng cho bên
vi phạm, có quan điểm cho rằng áp dụng cho bên có quyền và cả bên có nghĩa vụ Ngoài ra, một số tác giả cho rằng các loại trách nhiệm do vi phạm hợp đồng chỉ do tòa án, trọng tài áp dụng, nhưng một số thì còn cho rằng ngay cả khi bên bị vi phạm
áp dụng cho bên vi phạm chưa có sự cưỡng chế của tòa án Hơn nữa, một số tác giả còn cho rằng những biện pháp sử dụng để cưỡng chế thi hành sau khi có bản án (thi hành án) cũng là các biện pháp trách nhiệm mà bên vi phạm phải gánh chịu Như vậy, về việc sử dụng thuật ngữ, các biện pháp trách nhiệm, giới hạn để xác định số lượng về biện pháp trách nhiệm vẫn chưa được các tác giả trong và ngoài nước hoàn toàn thống nhất với nhau
Thứ tư, đối với chế định về miễn trách nhiệm do vi phạm HĐTM, đa số các
tác giả thống nhất các căn cứ miễn trách nhiệm như SKBKK, do quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, do thỏa thuận, do bên bị vi phạm có lỗi, do bên thứ
ba vi phạm do SKBKK Ngoài ra, một số tác giả còn xác định căn cứ hoàn cảnh khó khăn và còn có quan điểm của một số tác giả bổ sung các trường hợp giảm trách nhiệm do vi phạm hợp đồng Như vậy, về căn cứ miễn trách nhiệm thì có sự thống nhất mang tính tương đối nhưng tiếp tục bổ sung một số trường hợp hoàn cảnh khó khăn và giảm trách nhiệm
- Những vấn đề đặt ra nghiên cứu trong luận án
Thông qua việc tổng quan, kế thừa những công trình trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu những vấn đề sau:
Trang 35- Về căn cứ phát sinh trách nhiệm do vi phạm HĐTM: tác giả phân tích rõ có bao nhiêu căn cứ để xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng Bên cạnh đó, tác giả sẽ phân tích mỗi căn cứ cụ thể để xác định từng biện pháp trách nhiệm tương ứng Ngoài ra, tác giả sẽ kiến nghị loại bỏ một số căn cứ không cần thiết và bổ sung thêm một số căn cứ mới khi áp dụng trách nhiệm và bổ sung yếu tố lỗi cố ý, ác ý là căn cứ để xác định vi phạm nghiêm trọng hợp đồng Đặc biệt, tác giả sẽ bổ sung việc thông báo về vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và việc khiếu nại là căn cứ để xác định trách nhiệm pháp lý đối với bên vi phạm
- Tác giả kế thừa những đặc điểm, chức năng về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng, đề tài tiếp tục bổ sung thêm những đặc điểm mới về trách nhiệm do
vi phạm HĐTM Ngoài ra, tác giả sẽ nghiên cứu thêm về chức năng của việc áp dụng trách nhiệm do vi phạm HĐTM Tiếp theo, trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu về loại trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, tác giả bổ sung một số biện pháp mới như cầm giữ tài sản, giảm giá và cần mở rộng thêm biện pháp trách nhiệm như những biện pháp áp dụng khẩn cấp tạm thời, lệnh cấm hoặc buộc phải thực hiện, ngay cả những biện pháp cưỡng chế thi hành án Tất cả những biện pháp này đều là trách nhiệm do hành vi vi phạm hợp đồng mà bên vi phạm phải chịu Trong những trường hợp như vậy, tác giả cho rằng trách nhiệm phải được hiểu là công việc mà bên có nghĩa vụ phải thực hiện từ khi có yêu cầu của bên bị vi phạm cho đến khi thực hiện xong phần trách nhiệm, tức là phải có kết quả cuối cùng là bên có quyền phải nhận được những lợi ích hợp pháp mà đã và đang bị bên vi phạm xâm phạm (không phải dừng ở bản án có hiệu lực) Ngoài ra, mối quan hệ giữa các biện pháp trách nhiệm vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, cần tiếp tục nghiên cứu sâu
để thống nhất trong nhận thức cũng như việc áp dụng Hậu quả pháp lý khi áp dụng những biện pháp trách nhiệm vẫn chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống, tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu những vấn đề này Tác giả nhận thấy rằng cần nghiên cứu đưa vào LTM hiện hành những biện pháp trách nhiệm mới tránh trường hợp các bên
tự thỏa thuận với nhau gây ra việc sử dụng hoặc áp dụng tùy tiện khi chấm dứt hợp
Trang 3631
đồng đồng thời phân tích lợi ích và nghĩa vụ của người thứ ba (ngoài hợp đồng) khi
áp dụng trách nhiệm cho bên vi phạm
- Về miễn trách nhiệm do vi phạm HĐTM, trên cơ sở kế thừa những công trình đã nghiên cứu, tác giả tiếp cận theo hướng các bên không chịu trách nhiệm do không thực hiện được hợp đồng do pháp luật quy định theo các trường hợp được LTM hiện hành quy định Tuy nhiên, tác giả sẽ bổ sung vào các căn cứ các bên trong hợp đồng không phải chịu trách nhiệm do bên thứ ba có quan hệ với một bên trong hợp đồng gặp SKBKK, do hết thời hiệu khởi kiện Tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu các trường hợp các bên được thỏa thuận lại quyền và nghĩa vụ hợp đồng khi gặp những gặp hoàn cảnh khó khăn hoặc trở ngại khách quan Hơn nữa, tác giả sẽ xác định lại các trường hợp miễn, giảm trách nhiệm do bên bị vi phạm quyết định Ngoài các nội dung cần tiếp tục nghiên cứu như đã nêu, dựa trên nền tảng của các công trình nghiên cứu trước đây về thực trạng áp dụng các quy định về trách nhiệm do vi phạm HĐTM, tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu một số các bản án có liên quan để chứng minh các quy định trong LTM hiện hành, phương pháp, cách thức áp dụng pháp luật của cơ quan tòa án có những điểm phù hợp và chưa phù hợp với thực tiễn Thêm vào đó, quá trình điều chỉnh pháp luật về trách nhiệm do vi phạm HĐTM qua các giai đoạn lịch sử của nhà nước Việt Nam cũng sẽ được tác giả xem xét ở mức độ cần thiết để giúp cho việc nghiên cứu thực trạng các quy định pháp luật hiện hành toàn diện Trên cơ sở nhận thức lý luận cũng như đánh giá thực trạng pháp luật về trách nhiệm do vi phạm HĐTM, tác giả có nhiệm vụ đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm do vi phạm HĐTM Bên cạnh việc đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật, tác giả cần kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về trách nhiệm do vi phạm HĐTM - đó chính
là những bảo đảm pháp lý cho việc áp dụng các biện pháp trách nhiệm do vi phạm HĐTM
Theo thống kê, tổng hợp và đánh giá tình hình những công trình đã nghiên cứu
về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM trong giai đoạn vừa qua đã cơ bản giải quyết được tình trạng vi phạm hợp đồng, đảm bảo sự công bằng khi áp dụng trách nhiệm do vi phạm HĐTM Tuy nhiên, về lý luận, luật thực định, thực thi pháp luật, nhận thức pháp luật về nội dung này vẫn còn nhiều vướng mắc khi áp dụng vào thực tế trong điều kiện, hoàn cảnh hội nhập hiện nay vì việc này chưa được giải
Trang 3732
quyết thấu đáo tại Việt Nam Vì vậy, xu hướng trong tương lai, chế độ về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM là đề tài mà được các nhà nghiên cứu đề cập đến Tóm lại, thông qua việc đánh giá tổng quát tình hình nghiên cứu liên quan đến
đề tài luận án, tác giả nhận thấy từ năm 2005 đến nay ở nước ta chưa có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu toàn diện vấn đề lý luận và điều chỉnh pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng về trách nhiệm do vi phạm HĐTM Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm do vi phạm HĐTM theo hướng tiếp cận mới là cần thiết
1.2 Cơ sở lý thuyết, giả thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu của luận án 1.2.1 Cơ sở lý thuyết của luận án
Luận án được tác giả nghiên cứu trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, cụ thể là học thuyết về trách nhiệm cá nhân, quan điểm của Hồ Chí Minh về trách
nhiệm “Trách nhiệm là điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình”
[10, tr.7], lý thuyết về bảo đảm, bảo vệ quyền con người, dựa vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về lý thuyết trách nhiệm cá nhân
Trên cơ sở lý luận về Nhà nước và pháp luật như lý thuyết về trách nhiệm, trách nhiệm pháp lý do vi phạm pháp luật để phân tích các đặc điểm của trách nhiệm do vi phạm HĐTM Lý thuyết về các căn cứ để xác định trách nhiệm pháp lý
do vi phạm pháp luật để phân tích các căn cứ phát sinh trách nhiệm do vi phạm HĐTM Lý thuyết về miễn trách nhiệm pháp luật để phân tích về các trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm HĐTM Hơn nữa, tác giả còn dựa vào lý luận về vi phạm pháp luật để phân tích các đặc điểm của vi phạm HĐTM, về các dấu hiệu của hành vi vi phạm pháp luật để giải thích về các yếu tố cấu thành vi phạm HĐTM Ngoài ra, căn cứ vào quan điểm của Jean-Jacques Rousseau, lý thuyết về bảo
vệ quyền con người trong đó có quyền tự do kinh doanh [86], theo đó, ở đâu có phát
sinh quyền thì đồng thời sẽ phải có nghĩa vụ, khi nghĩa vụ không được thực hiện đúng mức thì phải được pháp luật bảo vệ bằng biện pháp hữu hiệu, đó là trách nhiệm pháp lý Xuất phát từ lý luận về nhà nước và pháp luật của một số quốc gia trên thế giới như Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc về trách nhiệm do vi phạm HĐTM (liabilities for breach contract) để áp dụng làm cơ sở giải thích, phân tích xuyên suốt toàn bộ luận án
Trang 3833
1.2.2 Giả thuyết nghiên cứu của luận án
Việc quy định các nội dung về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM, cụ thể về vi phạm HĐTM, các loại vi phạm HĐTM, các căn cứ xác định trách nhiệm,các biện pháp trách nhiệm (chế tài trong thương mại), các trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm HĐTM trong LTM năm 2005 và các văn bản pháp luật có liên quan chưa hoàn toàn phù hợp là một trong những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp HĐTM, vi phạm HĐTM giữa các chủ thể ngày càng nhiều, phứt tạp hơn như hiện nay
Áp dụng đúng các biện pháp trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM từ trong quy định pháp luật thực định và thực tiễn thực thi pháp luật thực sự ngăn chặn việc
vi phạm hợp đồng thương mại, giảm thiểu vấn đề hủy HĐTM, tránh trường hợp áp dụng sai lệch biện pháp trách nhiệm pháp lý, giảm tình trạng kéo dài vụ việc tranh chấp, không gây tốn nhiều chi phí cho các chủ thể hợp đồng, nhà nước và xã hội Giải pháp điều chỉnh nhận thức đúng quan điểm lý luận, hiểu đúng cách áp dụng pháp luật từ các chủ thể hợp đồng, chủ thể thực thi pháp luật về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM (theo những kiến nghị trong luận án về quy định pháp luật, về thực trạng áp dụng, về nhận thức pháp luật) sẽ làm cho các chủ thể hợp đồng ký kết ngày càng nhiều hợp đồng, ít vi phạm góp phần xây dựng quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng ngày càng hoàn thiện hơn so với thực tiễn, kích thích nền kinh tế phát triển theo hướng bền vững hơn
1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu của luận án
2 Vi phạm HĐTM được hiểu như thế nào? Hành vi nào bị xem là vi phạm HĐTM?
Có bao nhiêu loại vi phạm HĐTM? Những loại vi phạm HĐTM có những đặc điểm
gì khác biệt so với vi phạm hợp đồng khác ?
3 Trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM là gì? Bản chất của trách nhiệm pháp lý
do vi phạm HĐTM là gì? Mục đích của việc áp dụng trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM là gì? Trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM có đặc trưng nào?
4 Cơ sở pháp lý để truy cứu trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM được xác định như thế nào? Có bao nhiêu căn cứ được áp dụng để xác định trách nhiệm pháp lý khi vi phạm HĐTM?
5 Có bao nhiêu biện pháp trách nhiệm pháp lý được áp dụng do vi phạm HĐTM? Tác động của từng loại trách nhiệm pháp lý có phải là cách thức giải quyết dứt điểm
Trang 3934
hành vi vi phạm HĐTM hay không? Hiệu quả của từng biện pháp trách nhiệm pháp
lý có tác động đến tình hình vi phạm HĐTM ở Việt Nam như thế nào?
6 Trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM được pháp luật Việt Nam quy định như thế nào? Việc quy định về nội dung này có phù hợp với thực tiễn áp dụng hoặc phù hợp với quy định trong thông lệ quốc tế hay không?
7 Việc quy định về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM trong LTM hiện hành phù hợp với thực tiễn áp dụng có khác biệt so với việc quy định chưa phù hợp trong hoạt động giảm thiểu tình trạng vi phạm hợp đồng hoặc áp dụng đúng trách nhiệm khi xảy ra vi phạm Mối quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể sẽ tốt hơn, hợp đồng sẽ được thực hiện nhiều hơn, hợp đồng sẽ không bị hủy nếu quy định pháp luật về nội dung này phù hợp hơn không?
8 Miễn trách nhiệm do vi phạm HĐTM được hiểu như thế nào? Miễn trách nhiệm khác với không phải chịu trách nhiệm pháp lý như thế nào? Những căn cứ để xác định miễn trách nhiệm do vi phạm HĐTM là những căn cứ nào?
9 Thực trạng áp dụng trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM khi xử lý vi phạm HĐTM ở Việt Nam diễn ra như thế nào? Hướng xét xử có đảm bảo tính công bằng khi áp dụng trách nhiệm đối với các chủ thể hay không? Các biện pháp trách nhiệm
áp dụng cho các chủ thể hợp đồng có chính xác, phù hợp mang tính thuyết phục cao hay không? Từ đó, áp dụng giải pháp từ việc hoàn thiện pháp luật, thực thi pháp luật theo kiến nghị liệu có giảm thiểu việc áp dụng chưa chính xác trách nhiệm cho các chủ thể hợp đồng, ít có vi phạm hợp đồng như khi chưa có kiến nghị hay không?
10 Giải pháp nào để giảm thiểu tình hình vi phạm HĐTM? Giải pháp nào để hoàn thiện cơ sở pháp lý về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM? Giải pháp nào để khôi phục lại chính xác tình trạng thiệt hại của bên bị vi phạm và ngăn ngừa những hành vi vi phạm mới?
11 Nhận thức đúng quy định của pháp luật khi thực hiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM sẽ giảm hành vi vi phạm hợp đồng so với nhận thức chưa đúng của các chủ thể hợp đồng không? Nhận thức đúng pháp luật về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng khi áp dụng trách nhiệm của các cơ quan áp dụng pháp luật liệu có tạo sự công bằng khi áp dụng các biện pháp trách nhiệm cho các chủ thể vi phạm hợp đồng hay không?
Trang 4035
Kết luận chương 1
1 Các công trình nghiên cứu ở trong nước có liên quan đến vấn đề về trách nhiệm
do vi phạm HĐTM đã giải quyết được một số khía cạnh về lý luận, thực trạng, giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật Nhưng vẫn còn nhiều nội dung có quan điểm chưa thống nhất cụ thể về các hình thức vi phạm HĐTM, căn cứ áp dụng trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, các biện pháp trách nhiệm pháp lý, các trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm HĐTM trong giai đoạn hiện nay
2 Đối với các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài, các công trình nghiên cứu này, chủ yếu nghiên cứu về lý luận, thực trạng pháp luật và giải pháp hoàn thiện pháp luật ở mỗi quốc gia khác nhau Tuy vậy, những công trình nghiên cứu này có những quan điểm tiến bộ, phù hợp với hoàn cảnh quốc tế trong điều kiện hiện nay mà đề tài cần phải cân nhắc, học hỏi áp dụng vào quy định của pháp luật Việt Nam nhằm khắc phục những điểm chưa phù hợp theo quy định của
xu hướng thế giới như mở rộng các hình thức vi phạm hợp đồng, bổ sung các biện pháp trách nhiệm do vi phạm hợp đồng như các lệnh cấm, hạn chế quyền từ tòa án, các trường hợp miễn trách nhiệm do gặp phải hoàn cảnh khó khăn (hardship), hành
vi không thực hiện hợp đồng có liên quan đến bên thứ ba, các căn cứ xác định trách nhiệm pháp lý
3 Từ những công trình khoa học trong và ngoài nước mà tác giả đã tiếp cận được, tác giả sẽ kế thừa những lý luận, thực trạng áp dụng về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng, các hình thức vi phạm, các căn cứ áp dụng trách nhiệm pháp lý do
vi phạm hợp đồng, các biện pháp áp dụng trách nhiệm pháp lý, các trường hợp miễn trách nhiệm Theo đó, tác giả tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn về lý luận, thực trạng pháp luật để đưa ra những giải pháp hoàn thiện về đặc điểm của vi phạm hợp đồng, các hình thức vi phạm HĐTM, căn cứ thông báo, khiếu nại khi áp dụng trách nhiệm, bổ sung biện pháp trách nhiệm vào trong nhóm trách nhiệm do vi phạm HĐTM, phân biệt miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng với không chịu trách nhiệm do không có vi phạm hợp đồng, thêm các trường hợp miễn trách nhiệm
do vi phạm hợp đồng, cần xem xét yếu tố lỗi cố ý khi có thỏa thuận miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng