BÀI THU HOẠCH MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN TÊN BÀI THU HOẠCH CƠ CẤU LẠI NỀN KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG MỞ ĐẦU Sau hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong phát triển kinh tế xã hội nói chung và tăng trưởng kinh tế nói riêng. Tăng trưởng kinh tế được duy trì liên tục, ở mức tương đối cao trong hơn một thập kỷ. Đại hội XII của Đảng khi đánh giá kết quả lãnh đạo thực hiện đường lối phát triển kinh tế nhất là về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế trong 5 năm 20112015, bên cạnh những mặt đạt được như là mô hình tăng trưởng đã có sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực, hiệu quả đầu tư xã hội đầu tư công được cải thiện, công nghiệp hóa, hiện đại hóa tiếp tục được đẩy mạnh, đạt được một số thành quả…Tuy nhiên, vẫn còn những mặt hạn chế, yếu kém như sau: Kinh tế chủ yếu phát triển theo chiều rộng, tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố về vốn, tài nguyên, lao động trình độ thấp, chưa dựa nhiều vào tri thức, khoa học và công nghệ, lao động có kỹ năng. Năng suất chưa được cải thiện, thấp hơn nhiều so với một số nước trong khu vực. Nợ xấu giảm dần nhưng còn ở mức cao, nợ công tăng nhanh. Thực hiện CNH, HĐH còn chậm, chưa gắn với phát triển kinh tế tri thức, chất lượng nguồn nhân lực thấp. Nguyên nhân nhận thức về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa đầy đủ; chưa có sự đột phá về thể chế, chưa xử lý tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xây dựng con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Chưa chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết và tận dụng thời cơ để hội nhập quốc tế có hiệu quả. Xuất phát từ nhận thức trên, tôi chọn đề tài “Cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hiện nay” để làm bài thu hoạch hết môn Kinh tế phát triển.
Trang 1TÊN BÀI THU HOẠCH
CƠ CẤU LẠI NỀN KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 2NỘI DUNG 2
1 Mô hình tăng trưởng kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế 2
1.1 Mô hình tăng trưởng kinh tế 2
1.1.1 Khái niệm 2
1.1.2 Phân loại 2
1.2 Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế 3
2 Cơ cấu lại nền kinh tế 3
2.1 Nội dung cơ cấu lại nền kinh tế 3
2.2 Nhiệm vụ trọng tâm trong tái cơ cấu nền kinh tế 4
2.3 Các mục tiêu cơ cấu lại nền kinh tế 4
3 Đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 5
3.1 Những mặt đạt được 5
3.2 Những mặt hạn chế 9
4 Một số giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh tăng tưởng và cơ cấu lại nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay 11
KẾT LUẬN 13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 3MỞ ĐẦU
Sau hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung và tăng trưởng kinh tế nói riêng Tăng trưởng kinh tế được duy trì liên tục, ở mức tương đối cao trong hơn một thập kỷ Đại hội XII của Đảng khi đánh giá kết quả lãnh đạo thực hiện đường lối phát triển kinh tế nhất là về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế trong 5 năm 2011-2015, bên cạnh những mặt đạt được như là mô hình tăng trưởng đã có sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực, hiệu quả đầu tư xã hội đầu tư công được cải thiện, công nghiệp hóa, hiện đại hóa tiếp tục được đẩy mạnh, đạt được một số thành quả…Tuy nhiên, vẫn còn những mặt hạn chế, yếu kém như sau: Kinh tế chủ yếu phát triển theo chiều rộng, tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố về vốn, tài nguyên, lao động trình độ thấp, chưa dựa nhiều vào tri thức, khoa học và công nghệ, lao động có kỹ năng Năng suất chưa được cải thiện, thấp hơn nhiều so với một số nước trong khu vực Nợ xấu giảm dần nhưng còn ở mức cao, nợ công tăng nhanh Thực hiện CNH, HĐH còn chậm, chưa gắn với phát triển kinh tế tri thức, chất lượng nguồn nhân lực thấp Nguyên nhân nhận thức về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế
và công nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa đầy đủ; chưa có sự đột phá về thể chế, chưa xử lý tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xây dựng con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu Chưa chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết và tận dụng thời cơ để hội nhập quốc tế có hiệu quả
Xuất phát từ nhận thức trên, tôi chọn đề tài “Cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hiện nay” để làm bài thu
hoạch hết môn Kinh tế phát triển
Trang 4NỘI DUNG
1 Mô hình tăng trưởng kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế
1.1 Mô hình tăng trưởng kinh tế
1.1.1 Khái niệm
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thực tế tổng giá trị sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Thường được biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị (tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng thu nhập quốc dân (GNI))
Mô hình tăng trưởng kinh tế là kiểu tổ chức hoạt động kinh tế của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định, trong đó cách thức phân bổ các nguồn lực tăng trưởng và cơ chế duy trì động lực tăng trưởng là những nội dung chủ yếu nhất tạo nên nét đặc trưng của mỗi mô hình
1.1.2 Phân loại
- Mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng
Mô hình tăng trưởng theo chiều rộng là tăng trưởng kinh tế dựa trên cơ sở gia tăng các yếu tố đầu vào như vốn, lao động, tài nguyên mà không kèm theo tiến bộ công nghệ Tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng Ưu điểm: Con đường đơn giản nhất để mở rộng sản xuất, nhanh chóng khai thác nguồn tự nhiên, thu hẹp nạn thất nghiệp hạn chế: các nguồn lực vốn, lao động, tài nguyên là có hạn, nếu áp dụng mô hình tăng trưởng này kéo dài dẫn đến trì trệ, cạn kiệt nguồn tài nguyên, ô nhiễm môi trường và về lâu dài sẽ dẫn đến tình trạng nhịp độ tăng năng suất lao động xã hội thấp, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, chất lượng của từng sản phẩm nói riêng và cả nền sản xuất nói chung ngày càng kém đi, tới 1 thời điểm nào đó sẽ xuất hiện bế tắc xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân sẽ trở nên kém phát triển
- Mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu
Đặc trưng của mô hình tăng trưởng chủ yếu theo chiều sâu là: Tăng trưởng kinh tế dựa chủ yếu vào tăng năng suất lao động được đào tạo, có tay nghề cao, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ Mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều
Trang 5sâu là dựa vào khoa học và công nghệ hiện đại, nâng cao hiệu quả, chất lượng của tăng trưởng, như: nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng năng suất lao động, nâng cao sự đóng góp của nhân tố năng suất tổng hợp (TFP), hướng hoạt động của nền kinh tế vào các ngành, lĩnh vực có giá trị gia tăng cao, giảm chi phí sản xuất, chủ động sản xuất và xuất khẩu hàng hóa có hàm lượng công nghệ cao, trên cơ sở khai thác triệt để các lợi thế của đất nước Tăng trưởng theo chiều sâu không chỉ nâng cao chất lượng, hiệu quả nền kinh tế, mà còn gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, cải thiện phúc lợi xã hội.)
- Mô hình kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng và tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu vừa chú ý tới số lượng các yếu tố tăng trưởng, nhưng
quan trọng hơn là vừa chú trọng nâng cao chất lượng và phối hợp giữa chúng trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, làm cho yếu tố TFP đóng góp ngày càng lớn hơn vào tăng trưởng chung của nền kinh tế
1.2 Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế
Giai đoạn 1991-2010, mô hình tăng trưởng theo chiều rộng dần dần bộc lộ những mặt hạn chế của nó và không đáp ứng kịp với thực tiễn đòi hỏi của nền kinh tế Chính vì thế cần đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế Chủ trương đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế được đề ra từ Đại hội XI của Đảng Đại hội XI chủ trương: "Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững"
Đại hội XII tiếp tục khẳng định và nhấn mạnh: “Mô hình tăng trưởng kinh
tế trong thời gian tới kết hợp có hiệu quả phát triển chiều rộng với chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu, nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế”
2 Cơ cấu lại nền kinh tế
2.1 Nội dung cơ cấu lại nền kinh tế
Nội dung trọng tâm 1: Phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân trong nước
và thu hút hợp lý đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 6Nội dung trọng tâm 2: Tái cơ cấu khu vực kinh tế nhà nước, tái cơ cấu
doanh nghiệp nhà nước, tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu ngân sách nhà nước
và khu vực dịch vụ, sự nghiệp công lập
Nội dung trọng tâm 3: Tái cơ cấu lại thị trường tài chính trọng tâm là tái cơ
cấu các tổ chức tín dụng và thị trường chứng khoán
Nội dung trọng tâm 4: Hiện đại hóa công tác quy hoạch, cơ cấu ngành, và
vùng kinh tế theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, gắn với đẩy mạnh hội nhập quốc tế
Nội dung trọng tâm 5: Tái cơ cấu thị trường các nhân tố sản xuất quan
trọng, bao gồm thị trường quyền sử dụng đất, thị trường lao động và thị trường khoa học công nghệ
2.2 Nhiệm vụ trọng tâm trong tái cơ cấu nền kinh tế
- Tập trung hoàn thành cơ cấu lại ba trọng tâm gồm cơ cấu lại đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức tín dụng
- Cơ cấu lại ngân sách nhà nước, khu vực công
- Phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân trong nước và thu hút hợp lý đầu
tư trực tiếp nước ngoài
- Hiện đại hóa công tác quy hoạch, cơ cấu ngành và vùng kinh tế theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, gắn với đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế
- Hình thành đồng bộ và phát triển các loại thị trường, gồm thị trường tài chính, thị trường quyền sử dụng đất, thị trường lao động và thị trường khoa học công nghệ
2.3 Các mục tiêu cơ cấu lại nền kinh tế.
- Giảm dần tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước, đến năm 2020 xuống dưới 3,5% GDP Quy mô nợ công hằng năm giai đoạn 2016-2020 không quá 65% GDP, nợ chính phủ không quá 54% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP Nâng cao chất lượng thể chế quản lý đầu tư công đạt mức chất
Trang 7lượng tiếp cận 04 nước ASEAN phát triển nhất (ASEAN-4) Tỉ trọng đầu tư nhà nước khoảng 31-34% tổng đầu tư xã hội
- Hằng năm có 30-35% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo Tốc
độ tăng năng suất lao động bình quân hàng năm trên 5,5%, tốc độ tăng năng suất nội ngành đóng góp hơn 60% vào tăng năng suất lao động năm 2020 Đến năm
2020 tỷ trọng lao động qua đào tạo từ 3 tháng trở lên có chứng chỉ đạt khoảng 25%, tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm xuống dưới 40%
- Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016-2020 khoảng 30-35% Thu hẹp khoảng cách năng lực cạnh tranh quốc gia với ASEAN-4
- Đến năm 2020, giảm tỷ lệ nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng xuống mức dưới 3% Phấn đấu giảm lãi suất cho vay trung bình trong nước có tính cạnh tranh so với mức lãi suất cho vay trung bình trong nhóm ASEAN-4 Nâng cao quy mô và hiệu quả của thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu chính phủ, thị trường trái phiếu doanh nghiệp Đến năm 2020, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt khoảng 70% GDP, dư nợ thị trường trái phiếu đạt 30% GDP
- Thoái toàn bộ vốn nhà nước tại các doanh nghiệp thuộc các ngành không cần Nhà nước sở hữu trên 50% vốn, thoái vốn nhà nước xuống mức sàn quy định đối với các ngành mà Nhà nước sắp xếp, cơ cấu lại vốn đầu tư Đến năm
2020, có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp; 15.000 hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp hoạt động có hiệu quả
3 Đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh
tế ở Việt Nam
3.1 Những mặt đạt được
Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế xã hội Với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 6,7%, Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng kém phát triển, vươn lên trở thành
Trang 8nước có thu nhập trung bình thấp (GDP bình quân đầu người ước đạt 2.400 USD năm 2017) Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch phù hợp với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các ngành công nghiệp và dịch vụ đã chiếm gần 80% tỷ trọng GDP vào năm 2010 Các lĩnh vực kinh tế đối ngoại như xuất khẩu, thu hút FDI, xuất khẩu lao động, du lịch… được chú trọng phát triển và có đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GDP
Mô hình tăng trưởng theo chiều rộng kể từ khi đổi mới đến nay đã tạo ra những bước tiến đáng kể đối với kinh tế Việt Nam Việc thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế là cần thiết và đã mang lại những kết quả tích cực Tuy nhiên, quá trình tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đang gặp phải không
ít khó khăn, thách thức Để tiếp tục ổn định vĩ mô và lấy lại đà tăng trưởng, tạo nền tảng chuyển đổi thành công mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, cần có những giải pháp mang tính đột phá, căn cơ chiến lược và dài hạn
Bối cảnh, điều kiện thực tiễn phát triển kinh tế của thế giới những năm gần đây cho thấy, mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sẽ khó có thể duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn Chỉ khi có sự gia tăng về năng suất mới nâng cao được tốc độ cũng như chất lượng tăng trưởng bền vững, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế
Nhận thức được những tồn tại trên, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã đặt ra yêu cầu “Chuyển đồi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững”
Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh chủ trương tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Thực tế đang và sẽ ghi nhận động lực tăng trưởng kinh tế từ vốn đầu
tư, sự cải thiện môi trường kinh doanh, tự do hóa đầu tư, tham gia chuỗi liên kết
và cung ứng sâu và vững chắc hơn, tuân thủ các chuẩn mực và thông lệ thế giới,
Trang 9phát triển kinh tế biển, Trong thời gian tới, quá trình tái cơ cấu, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam cần tiến hành theo hướng: Kết hợp có hiệu quả phát triển chiều rộng với chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu, nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học -công nghệ; nâng cao năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực; phát huy lợi thế so sánh và chủ động hội nhập quốc tế; giải quyết hài hòa giữa mục tiêu trước mắt và lâu dài, giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển văn hóa, tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Triển khai tái cơ cấu đồng bộ, tổng thể nền kinh tế, các ngành, các lĩnh vực, sản phẩm, thị trường và các yếu tố sản xuất; tập trung tái cơ cấu đầu tư công, hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính; các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước và ngân sách nhà nước; kiểm soát nợ xấu, nợ công sở hữu chéo; Phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ và tạo giá trị gia tăng cao, bảo đảm chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm; Phát triển công nghiệp chế tạo, chế biến, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sạch, công nghiệp năng lượng, cơ khí, điện tử, hóa chất, công nghiệp xây dựng, xây lắp, công nghiệp quốc phòng, an ninh; phát triển khu vực dịch vụ theo hướng hiện đại, đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn các khu vực sản xuất và cao hơn tốc độ tăng trưởng của cả nền kinh tế, ưu tiên một số ngành dịch vụ có lợi thế,
có hàm lượng tri thức và công nghệ cao; Phát triển mạnh kinh tế biển và các vùng kinh tế động lực, một số đặc khu kinh tế và ưu tiên tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế vùng cao, vùng sâu, vùng xa và địa bàn khó khăn, dân tộc thiểu số
Việc thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế là cần thiết và đã mang lại những kết quả tích cực:
Thứ nhất, mô hình tăng trưởng từ chủ yếu theo chiều rộng đã bước đầu có
sự chuyển biến sang kết hợp giữa chiều rộng và chiều sâu, chú ý hơn đến chất
Trang 10lượng tăng trưởng Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư được cải thiện, hệ số gia tăng vốn đầu ra (ICOR) giảm từ 6,96 (giai đoạn 2006-2010) xuống khoảng 6,5 (giai đoạn 2011-2015) Lực lượng sản xuất đã có nhiều tiến bộ cả về số lượng và chất lượng Những nỗ lực cải cách đã cải thiện được một số chỉ số chất lượng tăng trưởng, đưa nền kinh tế có xu hướng phát triển theo chiều sâu Tốc độ tăng năng suất lao động giai đoạn 2011-2015 ở mức trung bình 4,3%, cao hơn so với 3,4% giai đoạn 2006-2010; đóng góp năng suất của các nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng kinh tế được nâng từ mức 4,28% (giai đoạn 2006-2010) lên 28,94% (giai đoạn 2011-2015)
Thứ hai, trong gần 30 năm qua (1986-2015), nền kinh tế Việt Nam đã tăng
trưởng liên tục với tốc độ khá ấn tượng và rất đáng tự hào GDP bình quân giai đoạn 1986-2015 là 6,6%; cao hơn một số nước trong khu vực như Malaysia là 6%, Thái Lan là 5,3%, Hàn Quốc là 6,1% Sau 26 năm (1989-2015), quy mô GDP của Việt Nam tăng 30,4 lần
Thứ ba, nền tảng kinh tế vĩ mô được củng cố, nhiều chính sách, giải pháp
ổn định kinh tế vĩ mô được thực hiện và đã cơ bản lấy lại niềm tin cho thị trường, đảm bảo môi trường kinh doanh ổn định, tạo tiền đề cần thiết để đổi mới
mô hình tăng trưởng Lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được đảm bảo
Thứ tư, tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế bước đầu đã thu được kết quả và tác
động tích cực đến đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế Việc thực hiện triển khai 3 đột phá chiến lược đã mang lại những kết quả bước đầu, tạo điều kiện thuận lợi hơn để tiến hành đổi mới mô hình tăng trưởng Trong đó, quá trình tái cơ cấu các ngành đã và đang được triển khai thực hiện, góp phần hình thành cơ cấu ngành hợp lý, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành
Thứ năm, công nghiệp hóa, hiện đại hóa tiếp tục được đẩy mạnh và đã đạt
một số kết quả nhất định Tỷ trọng công nghiệp chế tạo, chế biến trong GDP