1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thu hoạch, giới trong lđql bình đẳng giới trong quản lý ở nước ta, thực trạng và giải pháp góp phần cải thiện bình đẳng giới

13 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bình đẳng giới trong quản lý ở nước ta, thực trạng và giải pháp góp phần cải thiện bình đẳng giới
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn - Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý nhà nước và phát triển xã hội
Thể loại Bài thu hoạch
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 33,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦUVấn đề bình đẳng giới đã và đang trở thành mối quan tâm chung của hầu hết mọi quốc gia trên thế giới. Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao bình đẳng giới, Đảng và Nhà nước ta đã xác định đây là một trong những mục tiêu quan trọng trong chương trình phát triển của nước nhà.Sinh thời Hồ Chủ tịch đã từng căn dặn: Đảng và Chính phủ phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cân nhắc và giúp đỡ sao cho ngày càng nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc, kể cả công việc lãnh đạo. Hiện nay Việt Nam là một trong những nước được Liên hợp quốc đánh giá cao trong việc nỗ lực rút ngắn khoảng khách bình đẳng giới trong giáo dục, việc làm, kinh tế, chăm sóc sức khoẻ sinh sản kế hoạch hoá gia đình. Một trong những lĩnh vực đáng chú ý hơn đó là vấn đề giới trong lãnh đạo quản lý. Ðảng và Nhà nước ta luôn khẳng định: Nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế xã hội là một yêu cầu quan trọng để thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng, trí tuệ và nâng cao địa vị của phụ nữ. Phụ nữ tham gia quản lý nhà nước là một bảo đảm để các vấn đề giới được phản ánh trong quá trình ra quyết định, là sự khẳng định về năng lực, trí tuệ của mình. Tuy nhiên, kết quả đó chỉ là bước đầu, nó chưa thực sự mang tính bền vững và đang đặt ra nhiều vấn đề cần lời giải đáp. Qua thực tế cho thấy, công tác quy hoạch cán bộ nữ chưa được các cấp ủy đảng chú trọng đúng mức, bản thân cán bộ nữ chưa phát huy hết vị trí, vai trò trong công tác quản lí, còn mang tính thụ động; nhận thức về giới còn hạn chế. Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn nêu trên, tôi lựa chọn vấn đề viết thu hoạch về: Bình đẳng giới trong quản lý ở nước ta Thực trạng và giải pháp góp phần cải thiện bình đẳng giới.

Trang 1

BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG QUẢN LÝ Ở NƯỚC TA, THỰC TRẠNG

VÀ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN CẢI THIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Vấn đề bình đẳng giới đã và đang trở thành mối quan tâm chung của hầu hết mọi quốc gia trên thế giới Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao bình đẳng giới, Đảng và Nhà nước ta đã xác định đây là một trong những mục tiêu quan trọng trong chương trình phát triển của nước nhà

Sinh thời Hồ Chủ tịch đã từng căn dặn: "Đảng và Chính phủ phải có

kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cân nhắc và giúp đỡ sao cho ngày càng nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc, kể cả công việc lãnh đạo" Hiện nay Việt Nam là một trong những nước được Liên hợp quốc đánh giá cao trong việc nỗ lực rút ngắn khoảng khách bình đẳng giới trong giáo dục, việc làm, kinh tế, chăm sóc sức khoẻ sinh sản/ kế hoạch hoá gia đình Một trong những lĩnh vực đáng chú ý hơn đó là vấn đề giới trong lãnh đạo quản lý Ðảng và Nhà nước ta luôn khẳng định: Nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội là một yêu cầu quan trọng để thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng, trí tuệ và nâng cao địa vị của phụ nữ Phụ nữ tham gia quản lý nhà nước là một bảo đảm để các vấn đề giới được phản ánh trong quá trình ra quyết định,

là sự khẳng định về năng lực, trí tuệ của mình Tuy nhiên, kết quả đó chỉ là bước đầu, nó chưa thực sự mang tính bền vững và đang đặt ra nhiều vấn đề cần lời giải đáp Qua thực tế cho thấy, công tác quy hoạch cán bộ nữ chưa được các cấp ủy đảng chú trọng đúng mức, bản thân cán bộ nữ chưa phát huy hết vị trí, vai trò trong công tác quản lí, còn mang tính thụ động; nhận thức về giới còn hạn chế Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn nêu trên, tôi lựa chọn vấn đề viết thu hoạch về: Bình đẳng giới trong quản lý ở nước ta -Thực trạng và giải pháp góp phần cải thiện bình đẳng giới

Trang 3

NỘI DUNG

1 CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1 Một số khái niệm

- Giới: Là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa

nam giới và phụ nữ Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và có thể thay đổi được

 - Giới tính:  Là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ.

Giới tính là những đặc điểm đồng nhất mà khi chúng ta sinh ra đã có và không thể thay đổi được

- Quan hệ giới: Là các mối quan hệ xã hội giữa phụ nữ và nam giới,

đặc biệt là cách thức phân chia quyền lực giữa nam và nữ

- Vai trò giới: Là những hoạt động khác nhau mà xã hội mong muốn

phụ nữ và nam giới thực hiện

- Phân công lao động trên cơ sở giới: Là sự phân công việc và trách

nhiệm khác nhau giữa phụ nữ và nam giới

- Bình đẳng giới: Là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm

giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới

Phụ nữ và nam giới có vị thế bình đẳng như nhau và cùng có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện các nguyện vọng của mình; có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực xã hội và thành quả phát triển; được bình đẳng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình

- Quản lí được hiểu là quá trình tác động liên tục, có tổ chức, có kế

hoạch, có hướng đích của chủ thể lên đối tượng theo một quy trình nhất định nhằm đạt hiệu quả tối ưu so với yêu cầu đặt ra

Trang 4

1.2 Vai trò của phụ nữ trong quản lí.

Số phụ nữ tham gia quản lý nhà nước hiện nay đã tăng nhiều so với trước đây nhưng tỷ trọng lại có xu hướng giảm Bên cạnh đó, phụ nữ chủ yếu đảm nhiệm cấp phó Ðảng và Nhà nước ta luôn quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội và trong quản lý nhà nước Chỉ thị 37/CT-T.Ư ngày

16-5-1994 khẳng định: "Nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nước, quản

lý kinh tế - xã hội là một yêu cầu quan trọng để thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng, trí tuệ và nâng cao địa

vị của phụ nữ" Phụ nữ tham gia quản lý nhà nước là một bảo đảm để các vấn

đề giới được phản ánh trong quá trình ra quyết định, là sự khẳng định về năng lực, trí tuệ của mình

Sự gia tăng số lượng nữ tham gia quản lý nhà nước chứng tỏ chất lượng, trình độ cán bộ lãnh đạo của nữ giới ngày càng nâng cao Mặt bằng học vấn này đã giúp phụ nữ tham gia ngày càng tốt hơn công tác quản lý nhà nước Theo đánh giá của Văn phòng Quốc Hội, việc tham gia xây dựng pháp luật và chính sách, đóng góp ý kiến cho công tác quản lý nhà nước và tọa đàm với cử tri của các nữ đại biểu Quốc Hội ngày càng có chất lượng Vì vậy, các chị càng thêm tự tin, trình bày ý kiến đại diện cho người dân và cho chính giới nữ trong các kỳ họp của Quốc Hội

Hiện nay, số cán bộ công chức (CBCC) nữ tham gia công tác quản lý nhà nước trong hệ thống chính quyền các cấp nhiều hơn so với trước nhưng chưa tương xứng lực lượng lao động và năng lực đóng góp của phụ nữ Trong thực tế, phụ nữ Việt Nam đang có mặt ở hầu hết cơ quan quản lý hành chính, sự nghiệp và doanh nghiệp Mặc dù Ðảng, Nhà nước đã có chủ trương

cụ thể, chính sách rõ ràng, song tỷ lệ nữ CBCC tham gia quản lý nhà nước còn ít Tỷ lệ nữ CBCC là lãnh đạo trong các cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành và các cơ quan nghiên cứu khoa học lại càng thấp Hơn nữa, nữ lãnh đạo thường chỉ liên quan các lĩnh vực xã hội Rất hiếm nữ CBCC làm lãnh

Trang 5

đạo trong lĩnh vực quản lý kinh tế, kế hoạch, nghiên cứu khoa học Sự khác biệt này đã hạn chế ảnh hưởng của phụ nữ trong nhiều lĩnh vực công tác So với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, số lượng nữ ở các cương vị quản

lý nhà nước chưa tương xứng vai trò, vị trí và những đóng góp của họ trong các hoạt động phát triển Có thể nói, đội ngũ cán bộ nữ giảm sút không chỉ ở các cơ quan dân cử mà còn ở các bộ, ngành và cơ quan chính quyền Sự thiếu hụt cán bộ nữ trên một số lĩnh vực quan trọng làm cho việc hoạch định kế hoạch, chính sách không có tiếng nói đại diện của phụ nữ, dẫn đến thực hiện bình đẳng giới chưa đạt kết quả mong muốn

Cán bộ nữ đã ít, lại bị hạn chế bởi tuổi về hưu và tuổi đề bạt Hiện nay,

cơ cấu tuổi của cán bộ nữ khá cao, hầu hết cán bộ nữ làm quản lý đều ở tuổi trên dưới 50, trong khi nhiều nữ thanh niên hiện nay ngại làm chính trị, chỉ thích làm chuyên môn Trong khi tỷ lệ cán bộ nữ vốn đã thấp, thì lãnh đạo là

nữ chủ yếu đảm nhiệm cấp phó giúp cho trưởng (nam) Ở những vị trí này, phụ nữ không có thực quyền, quan niệm trọng nam, khinh nữ vẫn còn phổ biến và coi phụ nữ chỉ là "giúp việc" cho nam giới Còn có hiện tượng xem xét, cất nhắc chị em vào các vị trí lãnh đạo diễn ra khó khăn hơn so với nam giới Trong một cơ quan, phụ nữ thường bị nhìn nhận xét nét hơn, cơ quan chủ quản chưa nhận thấy ở chị em một cách đầy đủ những điểm mạnh nổi bật

về chuyên môn, uy tín

2 THỰC TRẠNG BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG QUẢN LÍ Ở VIỆT NAM

2.1.Thực trạng về bình đẳng giới trong quản lí ở Việt Nam

Nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành các chủ trương, chính sách về bình đẳng giới để phụ nữ Việt Nam có cơ hội phát huy tài năng của mình và tham gia những vị trí lãnh đạo chủ chốt các cơ quan Đảng, Nhà nước, chính quyền các địa phương, các đơn vị, doanh nghiệp… Hàng loạt văn bản pháp luật được ban hành nhằm nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội và

Trang 6

thực hiện bình đẳng giới như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới Đặc biệt, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đã quy định rõ phụ nữ có quyền bầu cử, ứng cử, cũng như các cơ chế để đảm bảo phụ nữ được thực hiện những quyền đó

Ngoài việc tham gia vào bộ máy cơ quan Nhà nước, phụ nữ Việt Nam còn tham gia vào các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức nghề nghiệp và đặc biệt tham gia vào hầu hết các ngành nghề, công việc, kể cả những lĩnh vực trước đây chỉ dành cho nam giới Với hơn 50% tỷ trọng lao động trong sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, đội ngũ cán bộ nữ khoa học, phụ nữ nông dân đã đóng góp rất lớn vào thành tựu sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Sự đóng góp của đội ngũ lao động nữ trên lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vụ cũng là động lực để phát triển kinh tế Nhiều chị đã phấn đấu vươn lên, giữ những cương vị chủ chốt trong hoạt động quản trị doanh nghiệp Ngày càng có nhiều tập thể và cá nhân khoa học

nữ có công trình nghiên cứu được nhận giải thưởng VIFOTEC của Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam, Giải thưởng Kovalevskaia Nhiều nhà khoa học nữ đã lập ra các hội nghề nghiệp, câu lạc bộ, trung tâm nghiên cứu, tư vấn, phát huy trí tuệ, tài năng của mình đóng góp vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước

Tuy nhiên, bất bình đẳng giới ở Việt Nam vẫn tồn tại trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và là rào cản đối với sự phát triển của phụ nữ Để phụ

nữ ngày càng khẳng định vị thế của mình trong gia đình và xã hội, nhất là vai trò trong quản lý lãnh đạo, các cấp uỷ Đảng từ Trung ương đến cơ sở, cần nhìn nhận, đánh giá đúng vị trí và tài năng của phụ nữ cũng như sự đóng góp của họ để đưa vị thế xã hội của người phụ nữ Việt Nam lên một tầm cao mới

Trang 7

2.2 Nguyên nhân của thực trạng.

Có khá nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng phụ nữ ít tham gia quản lí,

và dưới đây là một số nguyên nhân cơ bản:

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, giữa phụ nữ và nam giới không có sự khác biệt về mặt xã hội, mà chỉ có sự khác biệt về mặt sinh học Tuy nhiên, trong thực tế, cho đến bây giờ các định kiến giới vẫn còn tồn tại và có thể gặp ở nhiều nhóm xã hội: cả phụ nữ và nam giới, cả trong cán bộ lãnh đạo - những người có vai trò quyết định đối với việc hoạch định và thực hiện chính sách đối với phụ nữ và người dân

Vậy thế nào là định kiến giới? Các định kiến giới là một tập hợp các

đặc điểm mà một nhóm người, một cộng đồng cụ thể nào đó gán cho là thuộc tính của nam giới hay phụ nữ Các quan niệm này thường sai lệch và hạn chế những điều mà một cá nhân có thể làm Ví dụ: một số định kiến coi phụ nữ là phụ thuộc, yếu đuối, thụ động, dịu dàng và thứ yếu Một số định kiến coi nam giới là độc lập, mạnh mẽ, có năng lực, quan trọng hơn và là người ra quyết định tốt hơn Trong thực tế, những đặc điểm tính cách này không chỉ của riêng nam giới hay phụ nữ, mà cả nam giới và phụ nữ đều có thể mang những đặc điểm này Tuy nhiên, những đặc tính đó lại thường bị gán cho nam hay nữ dưới góc độ phê phán và làm cho họ bị thiệt thòi xét theo một khía cạnh nào

đó Ví dụ, người ta hay cho rằng: phụ nữ không đủ mạnh để làm lãnh đạo, hay nam giới không có khả năng chăm sóc con cái Chính định kiến đó đã hạn chế phụ nữ hoặc nam giới tham gia vào những công việc mà họ có khả năng hoàn thành một cách dễ dàng Các định kiến giới hiện nay không chỉ gây bất lợi cho phụ nữ mà ngay cả nam giới cũng bị bất lợi

Một trong những định kiến giới biểu hiện khá rõ là gắn phụ nữ với vai trò gia đình, coi việc nội trợ, chăm sóc gia đình, nuôi dạy con cái là của phụ

nữ Đáng chú ý là, hiện nay nhiều người đang cổ suý cho tư tưởng đưa phụ nữ quay trở về với gia đình Từ suy nghĩ đó nhiều phụ nữ đã bị hạn chế trên con

Trang 8

đường học tập, lao động, phấn đấu và vươn lên trong sự nghiệp, giảm khả năng đóng góp nhiều hơn về sức lực và trí tuệ cho xã hội

Nhìn bề ngoài của cuộc sống hầu như thấy rằng phụ nữ đã được “lên ngôi”, họ được bình đẳng lắm rồi Trong tư tưởng của nam giới, với tư cách là người chồng, có lẽ cũng khá nhiều người ủng hộ vợ tham gia hoạt động xã hội Nhưng không ít nam giới cho phép vợ “thoải mái” tham gia công việc xã hội nhưng vẫn phải làm tốt việc nhà Đàn ông Việt Nam có định kiến giới gì đâu! Nhưng vấn đề là họ muốn vợ của họ vừa là người xuất sắc ở cơ quan, vừa là người bà, người mẹ chăm chỉ trong gia đình Trong tình hình hiện nay,

do yêu cầu công việc, nhiều phụ nữ phải đầu tư nhiều thời gian mới nâng cao được chuyên môn, nghiệp vụ Nếu chỉ cần có thêm một ít thời gian trong ngày công việc của họ sẽ tốt hơn, có thể đem lại rất nhiều lợi ích cho nhiều người Nếu vừa làm tốt bổn phận trong gia đình vừa làm tốt công việc xã hội thì như vậy, nhiều phụ nữ phải gánh vác gấp đôi trách nhiệm, bởi họ không những làm việc để kiếm thu nhập, mà còn là người chủ yếu đảm đương các vai trò làm mẹ, làm vợ trong gia đình Nếu xét tương quan thời gian lao động trong một ngày giữa phụ nữ và nam giới cho thấy, thời gian lao động của phụ nữ nhiều hơn, bởi họ phải làm các công việc gia đình nhiều hơn (thời gian làm việc trung bình của phụ nữ là 13 giờ/ngày trong khi của nam giới chỉ khoảng

9 giờ) Do vậy, phụ nữ ít có thời gian để học tập, nghỉ ngơi, giải trí và tham gia hoạt động xã hội so với nam giới

Gánh nặng công việc gia đình đã làm cho nhiều phụ nữ không thể vươn

xa trong sự nghiệp Chúng ta đều biết ở thời kỳ CNH – HĐH và hội nhập kinh

tế quốc tế, cũng như nam giới, phụ nữ cần phải có kiến thức chiều sâu, trình

độ ngoại ngữ, tin học, sự nhạy bén và lăn lộn thực tế cuộc sống Trong khi

đó, công việc gia đình vẫn là trách nhiệm nặng nề của người phụ nữ Và cũng chính vì vậy mà hậu quả là nhiều người phụ nữ giỏi giang, được học hành tử

Trang 9

tế đã phải nhường bước cho chồng và lui về chăm sóc gia đình, để giữ tròn hạnh phúc

Vì những lý do gia đình mà nhiều phụ nữ chấp nhận tụt hậu, hoặc phấn đấu có chừng mực, chỉ ở mức độ hoàn thành công việc Đó cũng là lý do cùng được đào tạo như nhau mà nam giới phát triển tốt hơn, có vị trí cao hơn, được học hành đào tạo chuyên môn cao hơn Đó cũng là nguyên nhân tụt hậu của giới

nữ trong giáo dục, đào tạo, trong khoa học, công nghệ và cả trong lãnh đạo và quản lý

Tại không ít tổ chức, cơ quan, một số phụ nữ không được đề bạt làm lãnh đạo (ngay cả khi người phụ nữ này có trình độ và kinh nghiệm phù hợp) bởi mọi người vẫn cho rằng, chỉ có nam giới mới nên làm việc “đại sự”, phụ

nữ thì chỉ nên làm việc công việc nhẹ nhàng để có thời gian dành cho gia đình Tư tưởng này không chỉ ở người dân, mà cả trong lãnh đạo, và đặc biệt ngay cả trong một bộ phận phụ nữ cũng có định kiến với giới nữ của mình Ngoài hiện tượng níu kéo áo nhau ở một số phụ nữ, thì vấn đề ở đây vẫn là do định kiến giới, coi nam giới ở vị trí lãnh đạo tốt hơn là phụ nữ nên trong các

kỳ bầu cử, những người gạt phụ nữ khỏi danh sách bầu cử có khi không phải

là nam, mà lại là nữ

Không ủng hộ phụ nữ làm công tác xã hội là một trong những nguyên nhân dẫn tới tỷ lệ phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý còn thấp, chưa tương xứng với năng lực và sự phát triển của lực lượng lao động nữ Phụ nữ chiếm tỷ lệ không thua kém trong nhiều ngành nghề và học tập trong các trường, lớp đào tạo (đại học 47,23%; cao đẳng 50,01%), nhưng số nữ tham gia lãnh đạo, quản

lý đạt tỷ lệ thấp

3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP

Một là, nâng cao nhận thức về bình đẳng giới cho người dân, cộng

đồng và xã hội thông qua công tác tuyên truyền về giới góp phần thay đổi

Trang 10

nhận thức về giới Từ nhận thức giới được thay đổi thông qua hình tượng giới, hành vi giới sẽ thay đổi dần theo hướng tiến bộ bình đẳng nam nữ

Hai là, để có thể phát huy được vai trò và khả năng của phụ nữ, các

dịch vụ xã hội dành cho gia đình cần được phát triển một cách rộng rãi và phù hợp với thu nhập để phụ nữ dễ dàng được tiếp cận Tạo điều kiện cho phụ nữ đầu tư sản xuất, kinh doanh, cải thiện thu nhập, có tiếng nói trong gia đình và

từ đó ít lệ thuộc hơn vào người chồng Khắc phục về cơ bản tình trạng bất bình đẳng trong một số lĩnh vực như: quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở, các phúc lợi xã hội, chế độ bảo hiểm …

Ba là, phụ nữ cần được giảm bớt gánh nặng gia đình Muốn vậy, không

chỉ chia sẻ, nam giới cần phải tham gia vào công việc gia đình cùng với phụ nữ

Bốn là,  lãnh đạo ở những cơ quan, đơn vị có nhiều phụ nữ cần được nâng cao nhận thức giới để từ đó có được công bằng giới trong tuyển dụng, đào tạo, đề bạt Đặc biệt, trên phạm vi toàn xã hội, cần tạo điều kiện để người phụ nữ có thời gian làm công việc gia đình, không nên coi phụ nữ cũng như nam giới trong việc phân công, đòi hỏi, yêu cầu mà không tính đến việc người phụ nữ phải thực hiện thiên chức làm mẹ

Năm là, đối với bản thân phụ nữ, cũng cần có sự kết hợp hài hòa chức

năng xã hội và gia đình Bởi đây là nét đặc trưng của phụ nữ nước ta Là phụ

nữ thường phải có gia đình, phải sinh con và nuôi dạy con Đối với phụ nữ, dung hòa giữa gia đình và công việc xã hội là điều không mấy dễ dàng Tuy nhiên đã có nhiều phụ nữ biết cách giải quyết tốt hai chức năng này và đã trở thành người mẹ hiền, vợ đảm, lại là nhà quản lý giỏi, nhà khoa học thành đạt

Các giải pháp trên đây tưởng chừng không khó lắm khi thực hiện, nhưng thực sự đây là cả một vấn đề đòi hỏi phải có sự thống nhất cao trong tư tưởng và hành động của các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo, quản lý, của người dân, đặc biệt của cả nam và nữ Bởi vì, như Bác Hồ đã từng nói, trọng

Ngày đăng: 18/04/2023, 10:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6- Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII) về“Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước
1- Giáo trình cao cấp lý luận chính trị, NXB lý luận chính trị, Hà Nội - 2017 Khác
2- Tập bài giảng: PGS.TS Lê Thị Thục, TS Lương Thu Hiền, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu giới và lãnh đạo nữ; TS Phùng Thị An Na, Bình đẳng giới trong lãnh đạo quản lý, những vấn đề đặt ra và giải pháp Khác
3- Nghị quyết 11-NQ/TW, ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Khác
4- Luật số 73/2006/QH 11 của Quốc hội về bình đẳng giới Khác
5- Một số Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, NXB. Chính trị quốc gia Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w