1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển các dịch vụ hậu cần vật tư cho sản xuất ở nhà máy nhôm Đông Anh.DOC

55 790 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Các Dịch Vụ Hậu Cần Vật Tư Cho Sản Xuất Ở Nhà Máy Nhôm Đông Anh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Logistics
Thể loại Đề Tài Tốt Nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 336 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển các dịch vụ hậu cần vật tư cho sản xuất ở nhà máy nhôm Đông Anh

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2

4 Kết cấu đề tài gồm 3 chương 2

CHƯƠNG I: Tổng quan về dịch vụ logistics trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh 3

I Bản chất, đặc điểm của các dịch vụ logistics trong doanh nghiệp 3

1 Khái niệm 3

2 Bản chất 4

3 Đặc điểm 9

II Nội dung yêu cầu và các loại dịch vụ logistic trong doanh nghiệp sản xuất 11

1 Nội dung yêu cầu của dịch vụ Logistics trong doanh nghiệp sản xuât 11

2 Các loại dịch vụ logistic trong doanh nghiệp sản xuất: 14

III Hệ thống chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của Logistics trong doanh nghiệp 16

1 Các chỉ tiêu đánh giá dịch vụ Logistics 16

2 Phương pháp đánh giá bao gồm 16

3 Các bước xây dựng chỉ tiêu đánh giá 16

IV Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của dịch vụ logistic ở các doanh nghiệp: 19

Trang 2

CHƯƠNG II: Thực trạng phát triển các dịch vụ Logistics ở nước ta hiện nay( lấy nhà máy nhôm Đông Anh làm ví dụ) 23

I Quá trình phát triển dịch vụ logistics nói chung và dịch vụ logistics ở các doanh nghiệp nước ta hiện nay 23

1 Quá trình hình thành và phát triển của nhà máy nhôm Đông Anh 23

2 Quá trình phát triển dịch vụ Logistics nói chung 25

3 Thực trạng chung về dịch vụ Logistics của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam 27

II Phân tích tình hình phát triển dịch vụ Logistics ở các doanh nghiệp ( Lấy nhà máy nhôm đông Anh làm ví dụ) 32

1 Xu hướng phát triển chung của dịch vụ Logistics 41

2 Xu hướng phát triển dịch vụ Logistics trong hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp 43

3 Triển vọng cho hoạt động DV Logistics của các doanh nghiệp VN 44

II Mục tiêu phát triển của dịch vụ Logistics ở các doanh nghiệp nói chung và ở nhà máy nhôm Đông Anh nói riêng 44

Trang 3

III Giải pháp phát triển dịch vụ Logistics trong các doanh nghiệp và ở

nhà máy nhôm Đông Anh 45

1 Đối với cung ứng Billet 46

2 Đối với quản lý tồn kho và quản lý kho hàng, mặt bằng 46

3 Công tác cung ứng vật tư đột xuất 46

4 Tăng cường nhận thức về logistics 46

5 Xây dựng chiến lược kế hoạch phát triển dịch vụ logistics 47

6 Giải pháp hoàn thiện chính sách xúc tiến , khuyêch trương 47

7 Giải pháp chăm sóc phục vụ khách hàng và quản lý khách hàng 48

8 Hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị 48

9 Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực 49

10 Ứng dụng công nghệ thông tin 49

IV Điều kiện tiền đề để phát triển dịch vụ Logistics 50

KẾT LUẬN 51

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài.

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là từ sau khi ViệtNam gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc Tế WTO, nền kinh tế Việt Nam cónhiều chuyển biến đáng kể Các loại hình kinh doanh dịch vụ mới xuất hiệnngày càng nhiều và ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh

tế Việt Nam nói riêng và kinh tế thế giới nói chung Trong đó kinh doanh dịch

vụ Logistics là một ví dụ điển hình Sự liên kết về kinh tế ngày càng thể hiệnchặt chẽ, mỗi quốc gia là một mắt xích quan trọng trong hệ thống kinh tế, mộtphần được thể hiện rõ trong hoạt động Logistics Đây là lĩnh vực kinh doanhhết sứ mới mẻ đối với các doanh nghiệp Việt Nam Do vậy, tham gia vàochuỗi giá trị toàn cầu trong hệ thống chuỗi cung ứng dịch vụ Logistics, ViệtNam còn những đóng góp rất nhỏ Việc nghiên cứu, ứng dụng và phát triểncác hoạt động trong hệ thống cung ứng dịch vụ này là rất quan trọng khôngchỉ đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics nói riêng mà của

cả nhà nước nói chung Đây cũng chính là lý do em chọn đề tài

“Phát triển các dịch vụ hậu cần vật tư cho sản xuất ở

nhà máy nhôm Đông Anh”

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài.

Tìm hiểu thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh dịch

vụ Logistics để chúng ta có thể có một cái nhìn tổng quan về hoạt động nàytrong các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam và so sánh vớicác doanh nghiệp cùng kinh doanh Logistics trong chuỗi cung ứng toàn cầu

Trên cơ sở tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt độngcủa các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics trong chuỗi cung ứng giá

Trang 5

trị hoạt động này, em đưa ra ví dụ về dịch vụ Logistics vật tư của nhà máyNhôm Đông Anh.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.

Tất cả các doanh nghiệp có hoạt động liên quan đến chuỗi dịch vụLogistics trên địa bàn Vệt Nam nói chung, và dịch vụ Logistics vật tư của nhàmáy nhôm Đông Anh nói riêng

4 Kết cấu đề tài gồm 3 chương.

Chương 1 Tổng quan về dịch vụ Logistics trong doanh nghiệp sản xuất.

Chuơng 2 Thực trạng phát triển dịch vụ Logistics ở nước ta hiện nay( Lấy nhà máy nhôm Đông Anh làm ví dụ).

Chương3 Biện pháp phát triển dịch vụ Logistics ở các doanh nghiệp.

Em xin trân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của GS TS Đặng Đình

Đào đã giúp em hoàn thành nghiên cứu đề tài này

Trang 6

CHƯƠNG I:

Tổng quan về dịch vụ logistics trong doanh nghiệp

sản xuất kinh doanh

I Bản chất, đặc điểm của các dịch vụ logistics trong doanh nghiệp

1 Khái niệm

Logistics là một trong những số ít thuật ngữ khó dịch nhất, giống như

từ “Marketing”, từ tiếng Anh sang tiếng Việt và thậm chí cả những ngôn ngữkhác Bởi vì bao hàm nghĩa của từ này quá rộng nên không một từ đơn ngữnào có thể truyền tải được hết ý nghĩa của nó Nhưng rất nhiều công ty giaonhận vận tải lại được đăng ký là ví dụ như AB Logistics như vậy vô tình công

ty này có thể đựợc hiểu là nhà cung cấp dịch vụ logistics, mà không biếtlogistics là gì?

Một số định nghĩa Logistics là hậu cần, số khác lại định nghĩa là nhàcung ứng các dịch vụ kho bãi và giao nhận hàng hoá và chúng ta thấy rằngđây giống như là một cái áo thời trang mà công ty giao nhận vận tải hàng hoánào cũng muốn có để tăng thêm sức mạnh cho mình

Vậy Logistics là gì?

Có rất nhiều về khái niệm này:

Logistics đựợc hiểu là quá trình hoạch định, thực hiện và kiểm soát sựlưu thông và tích chữ một cách hiệu quả tối ưu các loại hàng hoá, nguyên vậtliệu,thành phẩm và bán thành phẩn, dịch vụ và thông tin đi kèm từ điển khởiđầu đến điểm kết thúc nhằm mục đích tuân theo các yêu cầu của khách hàng

Logistics có thể đựợc định nghĩa là việ quản lý dòng chu chuyển và lưukho nguyên vật liệu, quá trình sản xuất, thành phẩm và sử lý các thông tin liên

Trang 7

quan từ nơi xuất xử đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của kháchhàng.hiểu một cách rộng hơn nó còn bao gồm cả việc thu hồi và sử lý rácthải(Nguồn: UNESCAP….)

Logistics là quá trình xây dựng kế hoạch, cung cấp và quản lý việc chuchuyển và lưu kho có hiệu quả hàng hoá, dịch vụ và các thông tin liên quan

từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ vì mục tiên đáp ứng nhu cầu của khách hàng

Một trong những vấn đề quan trong đối với nhà sản xuất là làm thế nào

để bán hàng hoá, dịch vụ tới tay ngời tiêu dùng với giá thành thấp nhất nhằmtăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm Giá bán của hàng hoá đến tay ngườitiêu dùng phải đảm bảo tối thiểu bù đắp các chi phí:

C4: Chi phí cơ hội vốn cho hàng tồn trữ

C5: Chi phí bảo quản hàng hoá

Trang 8

Chúng ta nhận thấy, C1 phụ thuộc vào công nghệ sản xuất Vì vậymuốn hạ giá thành xuất xởng của sản phẩm, ngời ta tập trung vào việc cải tiếncông nghệ, bao gồm hợp ý hoá dây truyền sản xuất nhằm nâng cao năng suấtcủa máy móc, thiết bị, lao động, sử dụng hợp lý nguyên vật liệu, năng lựợng.Đây là vấn đề quan trong mà mọi nhà sản xuất phải tính đến chi phí hoạt độngmarketing C2 thường được nhà sản xuất ấn định nào đó và có thể kiểm soát

dễ dàng

Chi phí vận tải C3 chiếm một tỷ trọng khá lớn, một phần ba cho đến haiphần ba chi phí lưu thông phân phối Mặc dù ngành vận tải đã có những cốgắng giảm chi phí vận tải bằng những giải pháp công nghệ nh vận tải hànghoá bằng container, đóng mới các phương tiện, thiết bị có sức chở lớn, tổchức vận tải đa phương thức nhưng chi phí vận tải vẫn không ngừng tăng lên

do giá nhiên liệu ngày một leo thang Điều này buộc các nhà sản xuất áp dụngnhiều biện pháp góp phần giảm chi phí vận tải Một trong những giải pháp đó

là tăng khả năng so dụng các thiết bị, công cụ và phương tiên vận tải bằngcách thiết kế các sản phẩm, đóng gói bao bì hàng hoá nhằm tăng tỷ trọng chấtxếp của hàng hoá (cargo density)

Chi phí cơ hội vốn C4 là suất sinh lời tối thiểu mà công ty kiếm đượckhi vốn không đầu tư cho hàng hoá tồn trữ mà cho hoạt động khác Để đơngiản, ta giả thiết rằng mức sinh lời tối thiểu của vốn là mức lãi suất phải trảkhi vay vốn của một tổ chức tài chính, cho nên C4 được xác định nh sau:

C4 = (qikv)t {(1 + r)t – 1} (2)

Trong đó:

- Qi: số lượng sản phẩm cho một lần gửi hàng đi

- kv: định mức vốn cho một đơn vị sản phẩm Mức vốn này phụ thuộcvào công nghệ sản xuất

- t = 1÷ m : số đơn vị thời gian chịu lãi suất hàng năm của hàng tồn trữ

Trang 9

(tháng hoặc năm)

- r: mức lãi suất phải trả cho vốn vay

Qua công thức (2) ta thấy C4 phụ thuộc vào thị trường vốn (r), côngnghệ sản xuất (kv), và khối lượng vật t, sản phẩm tồn trữ Nếu r cố định và kv

cố định thì C4 tỷ lệ thuận với qi, tức là khi qi nhỏ bao nhiêu lần thì C4 nhỏbấy nhiêu lần và ngược lại

Trước đây, khi thị trờng tiêu thụ còn bị hạn chế, số lượng sản phẩm sảnxuất còn ít, mức lãi vay còn thấp, nên các nhà sản xuất ít quan tâm đến chi phínày Ngày nay khi thị trờng tiêu thụ được mở rộng, số lượng sản phẩm nhiềulần, mức lãi suất vay cao thì chi phí này chiếm một phần đáng kể trong tổngchi phí liên quan đến hàng tồn trữ Điều này buộc các nhà sản xuất phải cógiải pháp thích hợp để giảm chi phí này Và giải pháp đó chính là giảm khốilượng cho một lượt sản xuất và giao hàng (qi) xuống

Chi phí bảo quản hàng hoá C5 bao gồm chi phí thuê kho bãi, bảo quảnhàng hoá, đa hàng hóa ra vào kho, hàng bị hư hỏng, bảo hiểm cho hàng hoá

C5 = qi.Tbq.glk + qi.k.g + Cbh (3)

Trong đó:

- Tbq: thời gian bảo quản trong kho của lô hàng qi

- glk: chi phí trung bình cho một đơn vị hàng hóa lưu kho một ngày

- k: tỷ lệ tổn thất, hư hỏng hàng lưu kho

- g: giá trị của đơn vị hàng lưu kho

- Cbh: chi phí bảo hiểm cho lô hàng lưu kho

Theo công thức (3) ta thấy chi phí C5 có quan hệ với qi, nếu qi nhỏ,thời gian tồn trữ t nhỏ dẫn đến chi phí này nhỏ và ngựợc lại

Qua đây, chúng ta thấy để giảm giá thành hàng hoá cần phải tổ chức tốt

và kiểm soát chặt chẽ chi phí vận tải cũng như những chi phí liên quan đến ợng hàng tồn trữ (chi phí cơ hội vốn của hàng tồn trữ và chi phí bảo quản)

Trang 10

l-Đây là những thành phần cơ bản của logistic Vậy ta có:

Clog = C3 + C4 + C5 (4)

Và công thức (1) có thể viết lại nh sau:

G = C1 + C2 + Clog (5)

Chúng ta thấy rằng, khi giảm qi thì n số lần lưu thông sẽ tăng lên vì

khối lượng lưu thông Q trong một khoảng thời gian T nào đó được tính:

Q = Σ qi (6)

Như vậy thay vì lưu thông một lần với khối lượng Q, ta giao hàng làm

n lần Ta có tổng chi phí logistics khi lưu thông khối lượng hàng Q trong thờigian T như sau

có nghĩa là chi phí vận tải sẽ tăng lên

- Vì giao hàng nhiều đợt nên vấn đề kiểm soát hàng hoá, vật tư trong

l-ưu thông phải chặt chẽ hơn, đòi hỏi phải có một hệ thống thông tin nhanhchóng, chính xác Chính vì vậy mà bất kỳ một hệ thống logistics nào cũngphải có một hệ thống thông tin song hành để kiểm soát kịp thời dòng dịchchuyển của hàng hoá

Qua những phân tích ở trên, chúng ta thấy mấu chốt ở đây là khối ợng hàng cung ứng qi cần phải là bao nhiêu để làm giảm Clog = C3 + C4 +C5 Đây chính là quan điểm xương sống của logistics hay chính là bản chấtcủa logistic

lư-Vì vậy ta có thể nói rằng nền kinh tế của Nhật Bản thành công xuấtphát từ nhiều nguyên nhân, trong đó không thể thiếu đến nguyên nhân quan

Trang 11

trọng đó là quan điểm của Nhật Bản về vấn đề tồn trữ, theo các nhà kinh tếcũng như các nhà kinh doanh Nhật Bản thì “Không có dự trữ là tốt nhất”.Quan điểm này được hiểu theo hai nghĩa: Không có dự trữ là tốt nhất vàkhông vốn là tốt nhất Hai nghĩa trên có chung một bản chất kinh tế vì tiềnvốn dới dạng hiện vật chính là vật tư, sản phẩm Quan điểm này của Nhật Bảnđược sự ủng hộ mạnh mẽ và ngày càng được các nước Châu Âu và Mỹ chấpnhận

Ở Việt nam hiện nay thực trang dịch vu logistic vẫn còn khá mới mẻ.Phần lớn các dịch vụ logistic được thực hiện ở các công ty giao nhận Cùngvới quá trình hội nhập, logistic và dịch vụ logistic đã theo chân những nhàđầu tư nước ngoài đến Việt nam Thời gian gần đây trong lĩnh vực này đã cónhững bước phát triển đáng được ghi nhận

Theo hiệp hội giao nhận kho vận Việt nam (VIFFAS) cho đến nay ởViệt nam có khoảng 600 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cung cấp cácdịch vụ logistic Xét về mức độ phát triển có thể chia các công ty giao nhậnViệt nam thành 4 cấp độ sau:

- Cấp độ 1: Các đại lý giao nhận truyền thông: Là các đại lý giao nhậnchỉ thuần tuý cung cấp các dịch vụ do khách hàng yêu cầu Thông thường cácdịch vụ đó là: Vận chuyển hàng hoá bằng đường bộ, thay mặt chủ hàng làmthủ tục hải quan, làm các chứng từ, lưu kho bãi, giao nhận, ở cấp độ này gần80% các công ty giao nhận Việt nam phải thuê lại kho và dịch vụ vẩn tải

- Cấp độ 2: Các đại lý giao nhận đóng vai trò người gom hàng và cấpvận đơn hàng, nguyên tắc hoạt động của những người này là phải có đại lýđộc quyền tại các cảng lớn để thực hiện việc đóng hàng hoặc rút hàng xuấtnhập khẩu Hiện nay, khoảng 10% các tổ chức giao nhận Việt nam có khảnăng cung cấp dịch vụ gom hàng tại CFS của chính họ hoặc do họ thuê củanhà thầu Những người này sử dụng vận đơn nhà nh những vận đơn của hãng

Trang 12

tàu nhưng chỉ có một số mua bảo hiểm trách nhiệm giao nhận vận tải.

- Cấp độ 3: Đại lý giao nhận đóng vai trò là nhà vận tải đa phơng thức.Trong vai trò này, một số công ty đã phối hợp với công ty nớc ngoài tại cáccảng dỡ hàng bằng một hợp đồng phụ để tự động thu xếp vận tải hàng hoá tớiđiểm cuối cùng theo vận đơn Tính đến nay có hơn 50% các đại lý giao nhận

ở Việt nam hoạt động

- Cấp độ 4: Đại lý giao nhận trở thành nhà cung cấp dịch vụ logistics:Đây là kết quả tất yếu của nền kinh tế hội nhập, các tập đoàn logistics trên thếgiới đã có văn phòng đại diện tại Việt nam và thời gian qua hoạt động rất hiệuquả trong lĩnh vực logistics như: Kuehne và Nagel, Schenker, Bikart và cũng

có liên doanh hoạt động trong lĩnh vực này như: Fist Logistics Developmentcompany Ngoài ra thì ở Việt nam cũng có một số công ty hoạt đông tronglĩnh vực này tương đối lớn như: vietrans, viconship, vinatrans còn đầu là cáccông ty TNHH cũng hoạt động trong lĩnh vực này nhưng vẫn còn mang tínhchất vừa và nhỏ, hoạt động chia cắt, tản mạn, manh mún

+ Logistic sinh tồn có liên quan tới các nhu cầu cơ bản của cuộc sống,

nó xuất phát từ bản năng sinh tồn của con ngời, đáp ứng các nhu cầu thiết yếucủa con ngời: cần gì, cần bao nhiêu, khi nào cần và cần ở đâu Logistic sinhtồn là bản chất và nền tảng của hoạt động logistic nói chung

+Logistics hoạt động là bước phát triển mới của logistic sinh tồn và gắnvới toàn bộ quá trình và hệ thống sản xuất các sản phẩm của doanh nghiệp.Logistic hoạt động liên quan tới quá trình vận động và lu kho của nguyên liệu

Trang 13

đầu vào vào trong, đi qua và đi ra khỏi doanh ngiệp, thậm nhập vào các kênhphân phối trớc khi đến tay ngời tiêu dùng cuối cùng.

- Logistics hệ thống giúp ích cho việc duy trì hệ thống hoạt động Cácyếu tố của logistics hệ thống bao gồm các máy moc thiết bị nhà xởng,logistics sinh tồn, hoạt động và hệ thống có mối liên hệ chặt chẽ,tạo cơ sởhình thành hệ thống logistics hoàn chỉnh

- Logistiscs hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp : Logistics hỗ trợtoàn bộ quá trình họat động của doanh nghiệp, ngay cả khi sản phẩm đã rakhỏi dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp và đến tay ngời tiêu dùng Mộtdoanh nghiệp có thể kết hợp bất cứ yếu tố nào của logistics với nhau hay tất

cả các yếu tố logistics tuỳ theo yêu cầu của doanh nghiệp mình Logistics còn

hỗ trợ hoạt động của doanh nghiệp thông qua quản lý di chuyển và lu trữnguyên vật liệu đi vào doanh nghiệp và bán thành phẩm di chuyển trongdoanh nghiệp và bán thành phẩm di chuyển trong doanh nghiệp

- Logistics là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vẩn tải giaonhân, vận tảigiao nhận gắn liền và nằm trong logistics Cùng với quá trìnhphát triển của mình, logistics đã làm đa dạng hoá khái niệm vẩn tải giao nhậntruyền thống Từ chỗ chỉ thay mặt khách hàng để thự hiện các khâu rời rạc

nh thuê tàu, lưu cước, chuẩn bị hàng, đóng gói hang, tái chế, làm thủ tục hảiquan,cho tới cung cấp dịch vụ trọn gói từ kho đến kho (Door to Door) Từ chỗđóng vai trò địa lý, ngời đợc uỷ thác trở thành một chủ thể chính trong hoạtđộng vẩn tải giao nhận với khách hàng, chịu trách nhiệm trước các nguồn luậtđiều chỉnh Ngày nay, để có thể thực hiện nghiệp vụ của mình, ngời giao nhậnphải quản lý một hệ thống đồng bộ từ giao nhận đến vận tải, cung ứng nguyênvật liệu phục vụ cho sản xuất kinh doanh, bảo quản hàng hoá trong kho, phânphối hàng hoá đúng nơi, đúng lúc, sử dụng thông tin điện tử để theo dõi, kiểmtra.Như vậy, ngời giao nhận vận tải trở thành cung cấp dịch vụ logistics

Trang 14

- Logistics là sự phát triển hoàn thiện dịch vụ vận tải đa phơng thức:Trước đây, hàng hoá đi theo hình thức hàng lẻ từ nước xuất khẩu sang nướcnhập khẩu và trải qua nhiều phương tiện vẩn tải khác nhau, vì vậy xác suất rủi

ro mất mát đối với hàng hoá là rất cao,và người gửi hàng phải kí nhiều hợpđồng với nhiều người vận tải khác nhau mà trách nhiệm của họ chỉ giới hạntrong chặng đường hay dịch vụ mà họ đảm nhiệm Tới những năm 60-70 củathế kỷ XX, cách mạng containner trong ngành vận tải đã bảo đảm an toàn và

độ tin cậy trong vận chuyể hàng hoá, là tiền đề và cơ sơ cho sự ra đời và pháttriển vận tải đa phương thức Khi vận tải đa phương thức ra đời, chủ hàng chỉphải ký một hợp đồng duy nhất với người kinh doanh vẩn tải đa phươngthức(MTO-Multimodal Transport Operator) MTO sẽ chịu trách nhiệm tổ trứcthự hiện toàn bộ việc vận chuyển hàng hoá từ khi nhận hàng cho tới khi giaohàng bằng một chứng từ vận tải duy nhất cho dù anh ta ko phải là ngườichuyên chở thực tế Như vậy MTO ở đây chính là người cung cấp dịch vụLogistics

II Nội dung yêu cầu và các loại dịch vụ logistic trong doanh nghiệp sản xuất

1 Nội dung yêu cầu của dịch vụ Logistics trong doanh nghiệp sản xuât

Giữa những người mua hàng và công ty Logistics sau khi đạt được thoảthuận về dịch vụ được cung cấp, bên cung cấp dịch vụ sẽ xây dựng lên quytrình Logistics trong đó thể hiện rõ mọi yêu cầu về dịch vụ của người muahàng mà theo đó công ty Logistics có bổn phận phải thực hiện đúng Quytrình này thường có tên là quy trình Logistics hiện hành hay quy trình khaithác tiêu chuẩn Quy trình Logistics bao gồm các bước sau:

Booking: Theo hợp đồng thương mại kí kết với khách hàng về đơn

hàng cụ thể, chủ hàng sẽ gửi chi tiết số đơn hàng theo mẫu booking quy định

Trang 15

cho công ty Logistics bao gồm số PO, số loại hàng, số chiếc, số khối….Những chi tiết yêu cầu này thay đổi tuỳ theo khách hàng, được quy định trongquy trình Logistics Ngoài ra trong mẫu booking cần có những thông tin quantrọng khác như tên người gửi hàng người nhận hàng số L/C … Sau khi nhậnbooking từ chủ hàng, người phụ trách khách hàng của công ty Logistics sẽkiểm tra những chi tiết này trên hệ thống giữ liệu mà đã được khách hàng cậpnhật Ngoài ra quy trình cũng quy định thời gian chủ hàng gửi booking chocông ty Logistics, chủ hàng không được tuỳ tiện gửi booking theo tình hìnhhàng hoá.

Giao hàng : Hàng sau khi được booking sẽ được xuất theo hai dạng là

hàng lẻ hoặc container Đối với hàng lẻ, chủ hàng phảigiao hàng trước thờigian cut-off time của công ty Logistics Tại kho, mã số hàng hoá phảI đượcquét mã vạch, việc quét mã vạch này được công ty Logistics thực hiện khinhận hàng và đóng hàng vao container Dữ liệu trên sẽ được cập nhật trên hệthống của công ty Logistics Một số trường hợp hàng hoá phải có thư cam kết

từ phía chủ hàng Vd hàng nguy hiểm hàng chất lỏng… Việc thực hiện thủ tụchải quan hàng xuất tại kho sẽ do chủ hàng thực hiện nhưng chủ yếu vẫn làcông ty Logistics làm thay cho chủ hàng, như vậy sẽ thuận tiện và nhanhchóng hơn Khi nhận đủ hàng từ chủ hàng, công ty Logistic sẽ đòng hàng vàocontainer theo kế hoạch đóng hàng và hạ bãi

Chứng từ : Sau khi giao hàng vào kho của công ty Logistics hoặc hạ

bãI container chủ hàng sẽ cung cấp chi tiết lô hàng cho công ty Logistics đểlàm vận đơn đường biển chứng nhận nhận hàng Dựa trên chi tiết cung cấpkết hợp với chi tiết thực nhận trong kho, nhân viên chứng từ công ty Logistics

sẽ cập nhật vào hệ thống và in ra chứng từ đã nêu cho chủ hàng Hầu hết cáccông ty Logistics đảm nhận luôn công việc phân loại, kiểm tra và gửi toàn bộchứng từ của lô hàng cho khách hàng Như vậy khi chủ hàng lấy B/L, SWB

Trang 16

hay FCR gốc, chủ hàng cần phải nộp chứng từ gốc cần thiết cho cong tyLogistics như ( commercial invoice Packing list, certificate of origin…)

Sau khi hoàn thành việc cập nhật lô hàng vào hệ thống, công tyLogistics sẽ gửi thông báo hàng xuất cho khách hàng( shipping Avdice) baogồm những thông tin cơ bản về lô hàng ( PO, số container, ngày tàu chạy…)

Đa số công các công ty cung cấp dịch vụ Logistics tại Việt Nam đềuhoạt động theo nội dung yêu cầu của quy trình Logistics đã nêu trên quy trìnhnày bao hàm những dịch vụ được cung cấp như quản lý đơn hàng, gom hàng,quản lý chứng từ, dịch vụ tại kho…Những thực ra đây mới là khâu cơ bảntrong chuỗi Logistics Việt Nam đa và đang làm được

Những người cung cấp Logistics chào khách hàng toàn bộ công việccủa chuỗi cung ứng bao gồm:

- Về kho: kho không thuộc người khách nữa, mà do người cung cấpLogistics cung cấp và quản lý, có hệ thống máy tính tinh vi điều hành, chỉ cóhàng hoá trong kho là thuộc về khách hàng

- Về vận tải và phân phối: người cung cấp Logistics chịu trách nhiệm

về mọi chuyển động hàng hoá trong chuỗi cung ứng Nhiệm vụ này có thể kýhợp đồng phụ với người chuyên chở thực sự, hoặc do người cung cấpLogistics dùng phương tiện của mình thực hiện, có thể những phương tiện đó

có trang bị hệ thống thông tin nội bộ

- Về kiểm kê tồn kho: người cung cấp logistics điều hành và thườngxuyên giữ mức tồn kho hợp lý,căn cứ vào những tin báo nhận từ mọi chặngtrong chuỗi cung ứng

- đặt hàng: người cung ứng Logistics chịu trách nhiệm đặt nhữngnguyên liệu và thành phần lắp ráp khi cần

- Những dịch vụ tăng giá trị: bao gồm những dịch vụ hoàn tất sản xuất,đóng gói, dán nhãn, lập hoá đơn, quảng cáo, tài chính, dịch vụ Logistics

Trang 17

ngược chiều, đối với khách hàng công nghiệp, những dịch vụ này được yêucầu nhiều.

2 Các loại dịch vụ logistic trong doanh nghiệp sản xuất:

- Dịch vụ giao nhận : Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận thựcchất là kinh doanh dịch vụ chuyển hàng từ người chủ hàng ( người sản xuất,nhà buôn) đến tay người nhận hàng ( nhà phân phối, nhà sản xuất khác) Dịch

vụ này bao gồm cá dịch vụ thu gom, chia tách, giao và nhận hàng hoá

- Dịch vụ kho bãi: Kho bãi nơi cất giữ nguyên vật liệu, bán thànhphẩm, thành phẩm, hàng hoá trong suốt quá trình lưu chuyển từ điểm đầu đếnđiểm cuối của dây truyền cung ứng, đồng thời cung cấp những thông tin vềtình trạng và điều kiện lưu giữ và vị trí của các hàng hoá bị lưu kho Hiện naydịch vụ kho ngoại quan đang ngày càng chứng tỏ ưu thế của mình trong giảmchi phí, đặc biệt là rút ngắn thời gian vận chuyển hàng

- Dịch vụ dự trữ hàng hoá: là dịch vụ quan trọng để đảm bảo hàng hoáluôn săn sàng phục vụ yêu cầu của người tiêu dùng một cách hợp lý Có bahình thức dự trữ là dự trữ các yếu tố đầu vào để sản xuất sản phẩm, dự trữ sảnphẩm và dự trữ nguồn tài chính cần thiết để có sản phẩm Hoạt động dự trữhàng hoá cần được tiến hành ở 3 cấp độ dự trữ Nhà nước, Doanh nghiệp vàngười tiêu dùng

- Dịch vụ cấp tin: cùng với sự phát triển mạnh mẽ của SX và CNTT,dây chuyền cung ứng ngày càng lớn Các chuyên gia của ESCAP cho rằng :việc quản trị dây chuyền cung ứng là tổng hợp những hoạt động của nhiều tổchức trong dây chuyền và phả hồi trở lại những thông tin cần thiết, kịp thờibằng cách sử dụng mạng lưới CNTT và truyền thông hiện đại

- Dịch vụ khách hàng: Là những hoạt động cụ thể của công ty nhằmgiải quyêt tốt các đơn đặt hàng Những hoạt động chủ yếu là lập bộ chứng từ,làm thủ tục hải quan, giải quyết những khiếu nại (nếu có)

Trang 18

- Dịch vụ phân phối : Mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp phânphối la phục vụ tối đa cho sản xuất( tiêu thụ sản phẩm cho DNSX), tổ chức tốtđầu ra ( cung cấp hàng hoá, dịch vụ phục vụ cho đời sống), có đội ngũ cácnhà phân phối chuyên nghiệp để cạnh tranh và cùng hợp tác trong điều kiệnhội nhập Việt nam đang xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ phân phố trênmột thị trường giàu tiềm năng với trên 80 triệu người tiêu dùng Tuy chưa cónhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực phân phối, chưa có khả năng chuyênnghiệp, tính liên kết và hợp tác chưa cao và phải tiến hành phân phối trongđiều kiên cạnh tranh nhưng với những thuận lợi trong việc tiếp cận với nhữngdịch vụ phân phối, văn minh, hiện đại chắc chắn dịch vụ phân phối trên thịtrường nội địa VN sẽ phát triển mạnh Đây là một khâu quan trọng thúc đẩydịch vụ Logistics thương mại nội địa và XK phát triển trong thời gian tới.

Các loại dịch vụ logistics chủ yếu bao gồm :

a) Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container.b) Dịch vị kho bãi và lưu giữ hàng hoá, bao gồm cả hoạt động kinhdoanh kho bãi container và kho sử lý nguyên liệu, thiết bị

c)Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tịc hảiquan và lập kế hoạch bốc rỡ hàng hoá

d)Dịch vụ bổ trở khác, bao gồm các hoạt động tiếp nhận, lu kho vàquản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hoá trong suốt cảchuỗi logistics Hoạt động sử lý lạ hàng hoá bị khách hàng trả lại, hàng hoátồn kho, hàng hoá quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hoá đó.Hoạt độngcho thuê và thuê mua cotainer

Trang 19

III Hệ thống chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của Logistics trong doanh nghiệp.

1 Các chỉ tiêu đánh giá dịch vụ Logistics.

- Chất lượng của dịch vu Gồm có :

Đặc tính của dịch vụ, thiết kế tuổi thọ, khả năng sửa chữa bảo dưỡng, độ tincậy

- Năng lực của nhà cung cấp gồm có năng lực sản xuất, năng lực kỹthuật quản lý, điều kiện sản xuất, quan hệ với công nhân

- Tình hình của nhà cung cấp như: giá cả, tình hình tài chính

- Các đặc tính kỳ vọng của sản phẩm

- Uy tín của nhà cung cấp gồm có dao hàng đúng thời hạn, lịch sử củanhà cung cấp và chế độ bảo hành

2 Phương pháp đánh giá bao gồm

- Sơ loại dựa trên những tiêu chuẩn dễ nhận biết

- Xác định trọng số cho từng chỉ tiêu

- Cụ thể hóa từng chỉ tiêu và xác định trọng số cho các chỉ tiêu con

- Xác định thang điểm cho mỗi chỉ tiêu con

- Cho điểm từng chỉ tiêu cho từng nhà cung câp

- Tính điểm tổng cộng và lựa chọn.

3 Các bước xây dựng chỉ tiêu đánh giá.

Bước 1: Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá

Thông thường để đánh giá dịch vụ Logistics, người ta căn cứ vào cácchỉ tiêu sau đây:

- Chất lượng

- Năng lực của nhà cung cấp

- Tình hình tài chính của nhà cung cấp

Trang 20

- Các đặc tính kỳ vọng của sản phẩm.

- Uy tín của nhà cung cấp

Bước 2: Xác định trọng số cho các chỉ tiêu.

Mức độ quan trọng của các chỉ tiêu đối với doanh nghiệp là không nhưnhau Ví dụ như nhằm mục tiêu có được sản phẩm có chất lượng tốt nhất thìchỉ tiêu về chất lượng nguyên vật liệu, linh kiện hay chi tiết phải được đặt lênhàng đầu và người ta có thể không quan tâm lắm đến giá cả của chúng Dovậy khi đánh giá hiệu quả của dịch vụ Logistics, người đánh giá cần gắn mức

độ quan trọng cho các chỉ tiêu thông qua các trọng số của chúng

Bước 3: Cụ thể hoá từng chỉ tiêu và xácđịnh trọng số cho các chỉ

Và cũng giống như ở bước 2, ở bước này người đánh giá cũng cần xácđịnh trọng số cho từng chỉ tiêu đó

Bước 4: Xác định thang điểm cho mỗi chỉ tiêu con.

Vì lý do mức độ quan trọng của các chỉ tiêu khác nhau là khác nhau,

vì vậy thang điểm dùng để đánh giá dịch vụ Logistics theo từng chỉ tiêu

Trang 21

cũng không cần phải như nhau

Việc đánh giá học lực của học sinh trong các trường phổ thông người ta

sử dụng thang điểm 10, điểm lẻ là ½ Nhưng khi chấm điểm thi học sinh giỏicấp tỉnh hay cấp quốc gia phải sử dụng tới thang điểm 20, điểm lẻ có khixuống tới ¼, vì lúc này người ta yêu cầu độ chính xác phải lớn hơn thì mới cóthể đánh giá được chính xác Và ở kỳ thi quốc tế người ta phải sử dụng thangđiểm lên tới 40 Vì vậy nếu trong hệ thống các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quảdịch vụ Logistics, nếu chỉ tiêu nào càng quan trọng thì thang điểm cho nócàng phải lớn

Bước 5: Sơ loại dựa trên các tiêu chuẩn dễ nhận biết.

Sau khi đã xây dựng xong hệ thống các chỉ tiêu đánh giá, người ta tiếnhành đánh giá dịch vụ Logistics Tuy nhiên có thể sẽ xuất hiện một vài dịch

vụ Logistics có chất lượng yếu kém, "phạm quy" ngay từ đầu, và việc pháthiện ra các dịch vụ “phạm quy” đó là hết sức dễ dàng Vì vậy trước khi tiếnhành đánh giá người ta thường thực hiện qua bước sơ loại Trong việc tuyểndụng nhân viên ở các doanh nghiệp, bước này chính là bước kiểm tra và loạiứng cử viên trên hồ sơ

Bước 6: Cho điểm đánh giá về mức độ hiệu quả các dịch vụ Logistics của các nhà cung cấp theo từng chỉ tiêu.

Sau khi đã thực hiện qua bước sơ loại, tất cả các nhà cung cấp đã quađược vòng 1 sẽ được đánh giá và chấm điểm dựa trên các chỉ tiêu, các thangđiểm mà người đánh giá đã xây dựng được ở các bước trước Trong quá trìnhđánh giá, một số các chỉ tiêu định lượng có thể được đánh giá một cách kháchính xác, ngược lại một số các chỉ tiêu có tính định tính thì lại phụ thuộcnhiều vào chủ quan của người đánh giá

Bước 7: Tính điểm tổng cộng và lựa chọn.

Trang 22

Đây là bước cuối cùng trong việc đánh giá và lựa chọn nhà cung cấp Người ta tính điểm tổng cộng bằng cách lấy điểm của từng chỉ tiêunhân với trọng số tương ứng rồi cộng lại Kết quả ra bao nhiêu sẽ là số điểmcủa nhà cung cấp đó Cuối cùng người ta chọn nhà cung cấp là người có tổngđiểm cao nhất

IV Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của dịch vụ logistic ở các doanh nghiệp:

- Mức độ mở cửa của nền kinh tế : Là một trong những tiêu chí hàng

đầu để đánh giá năng lực cạnh tranh của một quốc gia Mức độ mở cửa nềnkinh tế chính là chỉ số giữa tổng giá trị ngoại thương (XK, NK) so với tổnggiá trị GDP của cả nước

Mức độ mở cửa của nền kinh tế được thể hiện ở chính sách thuếquan, các hàng rào phi thuế quan, chính sách tỷ giá Một quốc gia có mức độ

nở cửa nền kinh tế cao nghĩa là nước đó có giá trị hàng hoá và dịch vụ XNKlớn, có chính sách đối ngoại mở cửa thông thoáng, có chính sách thuế XNKhợp lý, hạn chế các biện pháp phi thế để bảo hộ sản xuất trong nước

Như vậy với sự gia tăng nhanh của giá trị hàng hoá XNK và GDP, nhucần về việc cung cấp các dịch vụ logistics thương mại như vận tảI,giao nhậnkho bãI …sẽ ngày càng lớn Hơn thế nữa, xu hướng tự do hoá thương mạikhu vực và toàn cầu đặt ra cho sự phát triển dịch vụ Logistics có tính chấtquốc tế cao Phạm vi hoạt động của các dịch vụ Logistics thương mại khôngchỉ trong phạm vi quốc gia hoặc giữa các quốc gia với nhau mà nó được mởrộng trong phạm vi nhiều nước mang tính chất toàn cầu theo dòng lưu chuyểnhàng hoá vad DV giữa các nước, các khu vực trên thế giới

- Thể chế, chính sách : Là các quy định của các quốc gia nhằm điều

chỉnh hoạt động của một ngành, một lĩnh vực nào đó trong nền kinh tế, đượcquy định rõ ràng, minh bạch dế hiểu, dễ áp dụng nhằm tạo cho các doanh

Trang 23

nghiệp tham gia vào lĩnh vưc hoạt động được lợi nhuận và bình đẳng.

Khi chính sách kinh tế mở cửa, khối lượng và giá trị hàng hoá được đưavào lưu thông lớn, dẫn đến yêu cầu về dịch vụ Logistics phục vụ cho lưuchuyển hàng hoá (XNK) đề được tăng cả về số lượng và chất lượng.Vì vậy,các chính sách phát triển dịch vụ Logistics luôn phảI phù hợp và nhằm phục

vụ cho chính sách phát triển kinh tế của đất nước và dựa trên các chỉ tiêu vềphát triển KTXH, chính sách phát triển XNK, chính sách lưu thông hàng hoátrong nước mới thực sự là nhân tố phục vụ, thúc đẩy, kiểm soát và hỗ trợ chodòng chảy của hàng hoá ở cả trong và ngoài nước

- Cơ sở hạ tầng: Bao gồm hệ thống đường sá, bến bãI, sân bay Bến

cảng,mạng trực viễn thông, hệ thống cấp điện nước…phục vụ cho việc lưuchuyển hàng hoá từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng Đây là yếu tố không thểthiếu được trong quá trình lưu chuyển hàng hoá

- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cung ứng và kinh doanh

dịch vụ Logistics : Dòng lưu chuyển hàng hoá có phạm vi toàn cầu, sản xuất

trong một nước nhưng có thể phục vụ người tiêu dùng trên toàn thế giới, đòihỏi dịch vụ Logistics cũng phải được mở rộng và khả năng và phạm vi phụcvụ.Hiện nay, vận tải đa phương thức cùng với sự đa dạng hoá các hình thứcgiao nhận hiện đại( giao hàng bằng container, giao nhận tại nhà ), việc sửdụng các phương tiện xếp dỡ, kiểm đếm và các thông tin hiện đại khác đã làmcho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics ngày càng phát triển vàhoạt động có hiểu quả Vì vậy, các doanh nghiệp phảI không ngừng mở rộngquy mô, công nghệ hiện đại và phảI có chiến lược kinh doanh rõ ràng mớithắng thế trong cạnh tranh

- Khả năng ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật :

Do sản xuất xã hội không ngừng phát triển, khối lượng hàng hoá ngàycàng lớn với loại hình dịch vụ ngày càng đa dạng, các doanh nghiệp cần phảI

Trang 24

có một hệ thống theo dõi hàng hoá hiện đại và phảI được tổ chức một cáchkhoa học Mặt khác, quy mô kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng lớn để

có thể đảm nhận tất cả các khâu trong kinh doanh dịch vụ Logistics Vìvậy,các doanh nghiệp đó phảI đầu tư vào các trang thiết bị hiện đại như cácphương tiện xếp dỡ kiểm đếm, truyền tin.Trong việc ứng dụng các thành tựuKHKT thì việc ứng dụng CNTT là hết sức quan trọng, giup doanh nghiệpkinh doanh dịch vụ Logistics có thể tập hợp, xử lý và trao đổi thông tin trongquá trình chu chuyển hàng hoá và chứng từ một cách dễ dàng, thuận lợi

- Khả năng tài chính : Là yếu tố hết sức quan trọng, có vai trò quyết

định đến việc doanh nghiệp đó có khả năng đưa hàng hoá từ nơi sản xuất đếnnơi tiêu dùng cuối cùng qua các khâu vận tải, lưu kho, phân phối một cách antoàn và kịp thời hạn hay không Nó thể hiện một phần uy tín của doanhnghiệp đó trên thị trường kinh doanh dịch vụ Logistics toàn cầu.Khả năng tàichính thông qua số lượng và các phương tiện vận tải, hệ thống kho bãi, mức

độ hiệnđại của trang thiết bị vận tải, hệ thống kho bãi và phương tiện thôngtin

- Yếu tố nguồn nhân lực : Nguồn nhân lực đóng vai trò rất quan trọng

trong việc đạt hiểu quả kinh doanh cao.Do đó yêu cầu đối với đội ngũ cán bộtrong các DNKD dịch vụ Logistics là tinh thông nghiệp vụ, giỏi ngoại ngữ,nắm được các quy định cơ bản của pháp luật có liên quan, có khả năng ứng

xử với các biến động của kinh tế thị trường,đặc biệt phải có tinh thần học hỏicao vì sự đa dạng của các hoạt động kinh doanh dịch vụ Logistics Đây là yếu

tố quan trọng hơn cả trong việc thực hiện mục đích cuối cùng của Doanhnghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics là thoả mãn khách hàng và lợi nhuận

Theo đánh giá của các chuyên gia, dịch vụ logistics chưa phát triển làdo:

- Đồng vốn và nhân lực ít ỏi nên việc xây dựng bộ máy doanh nghiệp

Trang 25

quá đơn giản

- Tính chuyên sâu gần như không có, hầu hết các doanh nghiệp việtnam chưa đặt văn phòng đại diện tại nước ngoài trong khi xu thế hiện nay làlogistics toàn cầu

- Về nguồn nhân lực, chúng ta chưa có một trường nào chuyên đào tạo

về logistics.kiến thức mà những nhân viên làm việc tại doanh nghiệp logisticshiện nay có đựợc là từ nước ngoài, một phần nhỏ từ các đại học chuyên ngànhtrong nước với kiến thức thiếu cập nhật

- Các doanh nghiệp logistics hoạt động rời rạc, thiếu hợp tác hỗ trợ lẫnnhau, thâm chí cạnh tranh thiếu lành mạnh

Trang 26

CHƯƠNG II:

Thực trạng phát triển các dịch vụ Logistics ở nước ta

hiện nay( lấy nhà máy nhôm Đông Anh làm ví dụ)

I Quá trình phát triển dịch vụ logistics nói chung và dịch vụ logistics ở các doanh nghiệp nước ta hiện nay.

1 Quá trình hình thành và phát triển của nhà máy nhôm Đông Anh

Là đơn vị trực thuộc công ty cơ khi Đông Anh

Được thành lập theo quyết định số 482/QĐ/TCT –HĐQT Ngày 02tháng 08 năm 2004 của tổng công ty Xây Dựng và Phát Triển Hạ tầngLICOGI Số đăng kí kinh doanh là: 0116000339 do Sở kế hoạch đầu tư thànhphố Hà nội cấp ngày 01 tháng 09 năm 2004

Quy mô nhà máy:

- Quy mô nhân lực : Tổng số cán bộ nhân viên của nhà máy là 320người Trong đó có

+ 85 người lao động gián tiếp

+ 235 người lao động trực tiếp

+ Khoảng 30% người lao động trong nhà máy có trình độ đại học

+ Khoảng 55% người lao động trong nhà máy có trình độ cao đẳng.+Khoảng 10% người lao động trong nhà máy có trình độ trung cấp + Khoảng 5% người lao động trong nhà máy là lao động phổ thông Đội ngũ cán bộ trẻ, nhiệt tình, năng động, có trình độ, trong đó có nhiều

kỹ sư được đào tạo tại các nước có nền công nghiệp tiên tiến, sản xuất nhômvới trình độ cao như hàn Quốc, Italia, Đài loan…

- Quy mô đầu tư: Nhà máy được xây dựng khép kín trên khuôn viên

Trang 27

với tổng diện tích 28000 m2

Địa điểm: tại Khối 2A, thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, Hà Nội Tổng mức vốn đầu tư cho thiết bị và nhà xưởng là 170.000.000.000VNĐ

- Quy sản xuất: Với 3 phân xưởng sản xuất và một xưởng gia công kếtcấu được trang bị hệ thống dây chuyền thiết bị hiện đại đồng bộ gồm :

+ Phân xưởng dùn ép thanh nhôm định hình chất lượng cao

+ Phân xưởng anode xử lý và trang trí bề mặt thanh nhôm bằng phươngpháp sơn tĩnh điện và phủ film

Với hệ thống thiết bị hiện đại và đồng bộ, được bố trí khoa học, dảmbảo cho nhà máy vận hành đạt công suất 10.000 tấn/năm

- Thiết bị thí nghiệm và kiểm tra chất lượng sản phẩm Nhà máy đã đầu

tư mới các trang thiết bị thí nghiệm hiện đại để kiểm soát chất lượng sảnphẩm

Sau mỗi công đoạn sản xuất, tất cả các bán thành phẩm đều được kiểmsoát bằng hệ thống các thiết bị kiểm tra như:

+ Máy phân tích thành phần của sản phẩm của Thuỵ Sỹ

+ Máy kiểm tra khuyết tật đầu vào và đầu ra của sản phẩm của Hoa Kỳ.+ Máy thự độ bền kéo, thử độ bền uốn, Máy đo độ cứng bề mặt, Máyxác định chiều dày của lớp phủ bề mặt, Máy thử độ mất màu của Italia

Mạng Lưới Hoạt Động:

Ngày đăng: 04/09/2012, 14:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Tình hình cung ứng vật tư của nhà máy: tình hình cung ứng billet ( billet là vật liệu chính làm ra những thanh Nhôm). - Phát triển các dịch vụ hậu cần vật tư cho sản xuất ở  nhà máy nhôm Đông Anh.DOC
nh hình cung ứng vật tư của nhà máy: tình hình cung ứng billet ( billet là vật liệu chính làm ra những thanh Nhôm) (Trang 36)
Số liệu tình hình sử dụng kho bãi của nhà máy nhôm Đông Anh - Phát triển các dịch vụ hậu cần vật tư cho sản xuất ở  nhà máy nhôm Đông Anh.DOC
li ệu tình hình sử dụng kho bãi của nhà máy nhôm Đông Anh (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w