MỤC LỤC Trang Phần I Phương pháp luận tính chuyển một số chỉ tiêu thuộc thống kê Tài khoản quốc gia từ giá thực tế về giá so sánh năm gốc và từ một năm gốc sang một năm gốc khác 6 1
Trang 1Bộ kế hoạch và đầu tư
Viện khoa học thống kê
Báo cáo tổng kết đề tài cấp bộ
Nghiên cứu năm gốc so sánh 1994
sang năm 2005 của một số chỉ tiêu
trong thống kê tài khoản quốc gia
Chủ nhiệm đề tài: ks bùi bá cường
6668
20/11/2007
hà nội - 2007
Trang 2MỤC LỤC Trang
Phần I Phương pháp luận tính chuyển một số chỉ tiêu
thuộc thống kê Tài khoản quốc gia từ giá
thực tế về giá so sánh năm gốc và từ một năm gốc sang một năm gốc khác
6
1 Những nhõn tố ảnh hưởng đến chuyển đổi cỏc chỉ tiờu kinh tế
thuộc Tài khoản quốc gia giữa cỏc năm gốc với nhau
6
2 Lý luận chung để chuyển đổi giỏ năm gốc và chuyển giỏ thực tế về
giỏ so sỏnh
9
3 Phương phỏp tớnh chuyển GDP từ giỏ thực tế về giỏ so sỏnh 12
3.1 Giới thiệu về bảng nguồn và sử dụng (S.U.T) 12
Phần II Thực trạng về việc chuyển đổi năm gốc so
sánh và tính theo giá so sánh đối với một số chỉ tiêu trong thống kê tài khoản quốc gia
17
I Sơ lược về bảng giỏ cố định và chọn cỏc năm gốc so sỏnh đối với
một số chỉ tiờu trong thống kờ Tài khoản quốc gia 17
II Thực trạng tớnh cỏc chỉ tiờu kinh tế tổng hợp của hệ thống tài
khoản quốc gia theo giỏ so sỏnh năm 1994
20
1 Tớnh chỉ tiờu giỏ trị sản xuất theo giỏ so sỏnh 20
III Ưu, nhược điểm của việc tớnh cỏc chỉ tiờu kinh tế tổng hợp thuộc
hệ thống tài khoản quốc gia hiện nay
24
1 Đối với khối ỏp dụng bảng giỏ cố định 1994 24
Phần III Đề xuất các phương pháp tính các chỉ tiêu tài
khoản quốc gia từ giá thực tế về giá so sánh
28
I Sử dụng bảng nguồn và sử dụng để tớnh cỏc chỉ tiờu tài khoản quốc
gia về giỏ so sỏnh
28
1 Những vấn đề cơ bản khi sử dụng bảng SUT để tớnh chuyển cỏc
chỉ tiờu tài khoản quốc gia về giỏ so sỏnh
28
2 Tớnh toỏn thử nghiệm về năm gốc 2000 qua bảng SUT của năm
2005
42
3 Một vài nhận xột trong tớnh toỏn thử nghiệm qua sử dụng SUT 47
II Áp dụng phương phỏp giảm phỏt riờng rẽ cho từng ngành, từng
hoạt động và một số chỉ tiờu chủ yếu 47
Trang 3Lêi nãi ®Çu
Để tổng hợp các sản phẩm vật chất và dịch vụ khác nhau trong nền kinh tế thành các chỉ tiêu thuộc thống kê tài khoản quốc gia (TKQG) nói riêng, các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô nói chung cần phải dùng cùng một thước đo, đó là thước đo giá trị Thước đo giá trị được biểu hiện bằng một lượng tiền (tệ), song “giá trị” này lại thay đổi theo thời gian do có sự biến động của giá cả Vì vậy, giá so sánh của một năm chọn làm gốc được dùng để loại trừ ảnh hưởng của sự thay đổi về giá đối với các chỉ tiêu giá trị theo thời gian Giá so sánh là giá thực tế bình quân của năm chọn làm gốc, nhằm nghiên cứu sự thay đổi thuần về khối lượng và loại trừ sự biến động của yếu tố giá Các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp của những thời kỳ khác nhau (có thể được tính theo tháng, quí hoặc năm) sẽ được tính theo giá của một năm gốc nào đó Trên thế giới có ba phương pháp để tính chuyển các chỉ tiêu này từ giá thực tế của năm báo cáo về giá của năm gốc, đó là:
- Phương pháp đánh giá trực tiếp từ lượng và giá theo từng loại sản phẩm của năm gốc (ở Việt Nam thường gọi là phương pháp áp dụng bảng giá cố định)
- Phương pháp giảm phát
- Phương pháp ngoại suy khối lượng
Hiện nay, Tổng cục Thống kê đang dùng “Bảng giá cố định 1994”để tính các chỉ tiêu giá trị sản xuất của các ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản; công nghiệp khai thác mỏ; công nghiệp chế biến và sản xuất, phân phối điện, nước, ga Các ngành kinh tế cấp I còn lại dùng “phương pháp giảm phát”
Việc áp dụng phương pháp nào để tính chuyển các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, nhất là chỉ tiêu giá trị sản xuất từ giá thực tế về giá so sánh của một năm gốc nào
đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố, song quan trọng nhất là phụ thuộc vào sự phát triển của công tác thống kê nói chung, công tác thống kê sản xuất, thống kê giá và thống
kê TKQG nói riêng Hiện nay trên thế giới hầu hết các nước đều áp dụng “phương pháp giảm phát” Ở Việt Nam trước những năm 1990 công tác thống kê giá cả
Trang 4chưa phát triển đầy đủ, nhất là chưa xây dựng được một hệ thống chỉ số giá hoàn chỉnh để áp dụng phương pháp giảm phát, nên vẫn coi việc áp dụng bảng giá cố định là phương pháp chủ yếu Song từ cuối thập niên 1990 đến nay, thống kê giá
và chỉ số giá của nước ta đã từng bước được củng cố, hoàn thiện tạo tiền đề cho việc áp dụng phương pháp giảm phát để tính chuyển các chỉ tiêu giá trị từ giá thực
tế về giá so sánh
Đối với các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp của một thời kỳ nhất định, đã được tính theo giá của một năm gốc nào đó, song khi nhận thấy cơ cấu kinh tế có nhiều biến động so với năm được chọn làm gốc, thì phải chuyển đổi năm gốc so sánh Năm được chọn làm năm gốc để thay một năm gốc nào đó thường là năm có nền kinh tế phát triển ổn định Từ khi ngành thống kê ra đời đến nay đã có 6 lần thay đổi năm gốc, đó là các năm 1958, 1961, 1970, 1982, 1989 và 1994 Sau gần 50 năm, với 6 lần thay đổi năm gốc so sánh bằng áp dụng các bảng giá cố định là chủ yếu để tính toán các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp (phục vụ cho đánh giá tốc độ phát triển theo ngành, thành phần, loại hình kinh tế và của cả nền kinh tế); phương pháp dùng bảng giá cố định đã hoàn thành vai trò lịch sử của mình, nhất là đã có những đóng góp to lớn trong việc quản lý, điều hành nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
Để nghiên cứu và phân tích kinh tế vĩ mô nền kinh tế thị trường, có sự quản
lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nếu vẫn tiếp tục dùng bảng giá
cố định như một phương pháp duy nhất để tính chuyển các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp về giá so sánh của năm gốc (cho dù năm gốc là năm 1994 hay một năm nào đó gần đây, ví dụ năm 2005) là không còn phù hợp; nhất là trong bối cảnh công tác thống kê giá và chỉ số giá của nước ta đã đáp ứng cho áp dụng phương pháp giảm phát để biên soạn một số chỉ tiêu của hệ thống TKQG
Do tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu, năm 2006 Lãnh đạo Tổng cục và Viện khoa học Thống kê quyết định giao cho vụ Hệ thống TKQG triển khai đề tài
khoa học cấp tổng cục “Nghiên cứu đổi năm gốc so sánh 1994 sang năm gốc so sánh 2005 của một số chỉ tiêu thuộc thống kê tài khoản quốc gia” do cử nhân
Bùi Bá Cường làm chủ nhiệm, cử nhân Nguyễn Thị Mai Hạnh làm thư ký cùng với
sự tham gia của nhiều lãnh đạo, chuyên viên của Vụ Hệ thống TKQG, Vụ Thống
kê Thương mại - Dịch vụ và Giá cả, Vụ Thống kê Công nghiệp và Xây dựng, Vụ Thống kê Nông, Lâm nghiệp và Thuỷ sản
Trang 5Mục tiêu của đề tài: Nghiên cứu, rà soát phương pháp và nguồn thông tin
để tính chuyển các chỉ tiêu giá trị sản xuất, chi phí trung gian, giá trị tăng thêm của các ngành kinh tế từ giá thực tế sang giá so sánh năm gốc (năm gốc 1994 và 2005); tính chỉ tiêu GDP của cả nước theo phương pháp sản xuất và phương pháp sử dụng cuối cùng theo giá so sánh năm 2005 Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, xây dựng phương pháp chuyển đổi năm gốc so sánh từ năm 1994 sang năm 2005
Với mục tiêu trên, ban chủ nhiệm đã tập trung vào nghiên cứu các nội dung chính sau :
1 Nghiên cứu phương pháp luận tính chỉ tiêu GDP theo phương pháp sản xuất
và phương pháp sử dụng cuối cùng, theo giá năm gốc 2005
2 Đánh giá thực trạng về phương pháp tính một số chỉ tiêu chủ yếu của tài khoản quốc gia theo giá năm gốc 1994 Rà soát nguồn thông tin, công cụ và các điều kiện để tính chuyển chỉ tiêu GDP theo năm gốc 2005 phù hợp với thông lệ Quốc tế và thực tế của Việt Nam
3 Tính thử nghiệm chỉ tiêu GDP của năm 2004 và năm 2005 về giá năm gốc năm 2000 bằng phương pháp giảm phát và bảng nguồn và sử dụng (SUT)
Sau một năm nghiên cứu, đề tài đã triển khai và hoàn thành 12 chuyên đề, 1 báo cáo tổng hợp và 1 báo cáo tóm tắt (danh mục sản phẩm đạt được trang 76-77) Nội dung và kết quả nghiên cứu đề tài được trình bày theo các phần sau:
Phần I : Phương pháp luận tính chuyển một số chỉ tiêu thuộc thống kê TKQG
từ giá thực tế về giá so sánh năm gốc và từ một năm gốc sang một năm gốc khác
Phần II : Thực trạng tính các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp theo giá so sánh thuộc
thống kê TKQG hiện nay ở Việt Nam
Phần III : Đề xuất các phương pháp tính các chỉ tiêu tài khoản quốc gia từ giá
thực tế về giá so sánh
Kết luận và kiến nghị
Đề tài khoa học này được kế thừa các kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp tổng cục “ Nghiên cứu vận dụng hệ thống chỉ số giá thay cho bảng giá cố định” do tiến sĩ Lê Mạnh Hùng làm chủ nhiệm, đã tham khảo nhiều tài liệu trong
và ngoài nước liên quan đến tính chuyển các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp từ giá thực tế
về giá so sánh năm gốc
Trang 6Các thành viên tham gia :
Bùi Bá Cường Cử nhân, Vụ trưởng Vụ Hệ thống TKQG, Chủ nhiệm đề tài Nguyễn Thị Mai Hạnh Cử nhân, chuyên viên Vụ Hệ thống TKQG, Thư ký đề tài Nguyễn Văn Minh Cử nhân, Phó Vụ trưởng vụ Hệ thống TKQG
Hoàng Phương Tần Cử nhân, chuyên viên chính Vụ Hệ thống TKQG
Lưu Văn Vĩnh Cử nhân, Phó vụ trưởng vụ TK Nông, lâm nghiệp và Thuỷ
sản Nguyễn Sinh Cúc PGS Tiến sĩ, Nguyên vụ trưởng Vụ TK Nông, lâm nghiệp
và Thuỷ sản
Vũ Văn Tuấn Cử nhân, Vụ trưởng Vụ TK Công nghiệp và Xây dựng
Phạm Đình Thuý Cử nhân, Phó Vụ trưởng Vụ TK Công nghiệp và Xây dựng Nguyễn Văn Nông Cử nhân, chuyên viên cao cấp, phó Vụ trưởng Vụ Hệ thống
TKQG Nguyễn Văn Đoàn Thạc sĩ, Phó Vụ trưởng Vụ Thương mại - Dịch vụ và Giá cả Nguyễn Đức Thắng Cử nhân, Phó vụ trưởng Vụ Thương mại - Dịch vụ và Giá
cả Phạm Đình Hàn Cử nhân, chuyên viên chính Vụ Hệ thống TKQG
Nguyễn Kim Anh Cử nhân, chuyên viên chính Vụ Hệ thống TKQG
Bùi Trinh Cử nhân, chuyên viên Vụ Hệ thống TKQG
Nguyễn Thị Hương Cử nhân, chuyên viên Vụ Hệ thống TKQG
Trang 7PhÇn I : Ph−¬ng ph¸p luËn tÝnh chuyÓn mét sè chØ tiªu thuéc thèng kª TKQG tõ gi¸ thùc tÕ vÒ gi¸ so s¸nh n¨m gèc
vµ tõ mét n¨m gèc sang mét n¨m gèc kh¸c
Hiện nay, chỉ tiêu GDP và tốc độ tăng trưởng GDP được Tổng cục Thống kê tính toán và công bố theo quý và năm Đây là một trong những chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng và hết sức nhạy cảm, ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà lãnh đạo cũng như các tổ chức và cá nhân trong nước và quốc tế, đặc biệt trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới hiện nay Vì vậy, không ngừng nâng cao chất lượng tính toán các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp nói chung và chỉ tiêu GDP nói riêng đã và đang được đặt ra như là một nhiệm vụ hàng đầu trong thời gian tới của toàn ngành Thống kê
1 Những nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi các chỉ tiêu kinh tế thuộc TKQG giữa các năm gốc với nhau
Để so sánh các chỉ tiêu giá trị giữa các năm gốc với nhau, cần phải quan tâm và giải quyết các vấn đề giữa các năm gốc sau :
- Biến động về ngành kinh tế, ngành sản phẩm và loại hình kinh tế
- Thay đổi về phương pháp tính và nguồn số liệu để tính các chỉ tiêu giá trị
- Biến động về giá cả và biên soạn chỉ số giá
a Biến động về ngành kinh tế, ngành sản phẩm và loại hình kinh tế
Biến động về ngành kinh tế, ngành sản phẩm và loại hình kinh tế là những thay đổi liên quan đến thay đổi các bảng phân ngành kinh tế, phân ngành sản phẩm và loại hình kinh tế, qua việc ban hành mới các bảng phân loại trong công tác thống
kê như bảng phân ngành kinh tế (thí dụ bảng VSIC 1993 và VSIC 2007), ngành sản phẩm; liên quan đến qui định mới về loại hình/ thành phần kinh tế; qua việc
mở rộng, thu hẹp ngành kinh tế, ngành sản phẩm, loại hình kinh tế Về cơ bản có hai kiểu biến động, đó là :
- Những thay đổi bên trong nội bộ một ngành, một loại hình kinh tế: loại thay đổi này chỉ liên quan đến một ngành, một loại hình kinh tế; phụ thuộc vào việc tính chỉ tiêu giá trị theo ngành kinh tế cấp nào (cấp 1, 2, 3…), loại hình kinh tế nào (kinh tế Nhà nước, kinh tế ngoài Nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư
Trang 8nước ngoài)? Về nguyên tắc chỉ tiêu giá trị (thí dụ chỉ tiêu giá trị sản xuất theo ngành sản phẩm, ngành kinh tế, loại hình kinh tế phải được tách chi tiết
ở mức tối đa, tối thiểu là theo ngành kinh tế cấp 3)
- Những thay đổi không chỉ ảnh hưởng trong nội bộ một ngành, một loại hình kinh tế mà còn liên quan tới một ngành, loại hình kinh tế khác, tức là những thay đổi này dẫn tới “làm tăng” đối với ngành “nhận”, “làm giảm” đối với ngành “cho”, đối với từng chỉ tiêu giá trị của cả ngành “nhận” và “cho” (thí
dụ việc tính chỉ tiêu giá trị sản xuất từ VSIC 1993 sang VSIC 2007)
b Thay đổi phương pháp đánh giá các chỉ tiêu giá trị cụ thể, tức là thay đổi phương pháp hạch toán, phương pháp tính đi liền với thay đổi với đơn vị thu thập
số liệu
Giá thực tế là giá dùng trong giao dịch của năm báo cáo Giá thực tế phản ánh giá trị trên thị trường của hàng hoá, dịch vụ, tài sản chu chuyển từ quá trình sản xuất, lưu thông phân phối tới sử dụng cuối cùng đồng thời với sự vận động của tiền
tệ, tài chính và thanh toán Qua đó có nhận thức khách quan về cơ cấu kinh tế, mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành trong sản xuất, phân phối thu nhập, giữa kết quả sản xuất với phần huy động được vào ngân sách … trong từng năm
Giá so sánh là giá thực tế của năm được chọn làm gốc Dùng giá so sánh để nghiên cứu thay đổi thuần về khối lượng và loại trừ sự biến động của yếu tố giá, các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp của những năm khác được tính theo giá của năm gốc Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, năm được chọn làm gốc để tính giá so sánh có thể
là năm trước hoặc sau năm báo cáo Trong thực tế thường chọn năm trước là năm đầu của thời kỳ kế hoạch
Đối với các chỉ tiêu tính theo giá thực tế khi thay đổi nguyên tắc tính các chỉ tiêu giá trị (thí dụ chỉ tiêu giá trị sản xuất của một ngành kinh tế, một sản phẩm cụ thể giữa các năm được chọn làm năm gốc so sánh) sẽ cho tốc độ tăng trưởng hoặc
cơ cấu ngành sản phẩm khác nhau, thể hiện ở các thay đổi:
+ Tính chỉ tiêu giá trị sản xuất theo giá nào: giá cơ bản, giá sản xuất hay giá sử dụng cuối cùng?
+ Thông tin để tính giá trị sản xuất từ tiêu thụ sản phẩm (doanh thu tiêu thụ), theo chi phí tạo ra sản phẩm (theo tổng số và cấu thành các loại chi phí để tạo ra sản phẩm) hay tính trực tiếp từ khối lượng sản xuất nhân ( x ) với đơn giá bình
Trang 9quân của sản phẩm hay tính từ phân tích luồng sản phẩm (lập bảng cân đối sản phẩm) ?
+ Tính giá trị sản xuất theo đơn vị cơ sở, theo doanh nghiệp hay theo một ngành kinh tế sẽ gắn với đơn vị thu thập số liệu Nếu đơn vị thu thập số liệu là đơn vị
cơ sở, giá trị sản xuất chỉ tính cho kết quả cuối cùng của đơn vị cơ sở sẽ cho giá trị sản xuất “sạch” Nếu đơn vị thu thập số liệu là doanh nghiệp (đơn vị/ tổ chức hạch toán độc lập), giá trị sản xuất chỉ tính kết quả cuối cùng của doanh nghiệp tức là không tính giá trị sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất để sử dụng ngay trong nội bộ doanh nghiệp Nếu đơn vị thu thập số liệu là ngành kinh tế thì giá trị sản xuất không được tính trùng phần giá trị được sử dụng lẫn nhau trong nội
bộ ngành (sẽ cho “giá trị sản xuất chưa sạch”)
+ Tính giá trị sản xuất theo nguyên tắc “chuyển giao quyền sở hữu” hay nguyên tắc “thực thanh, thực chi” Nguyên tắc này phản ánh sự khác nhau về thời điểm hạch toán của thống kê giá trị sản xuất với thời điểm hạch toán trong kế toán tài chính Tính giá trị sản xuất cho loại sản phẩm hàng hoá (có bán trên thị trường) hay sản phẩm phi thị trường ?
Đối với các chỉ tiêu tính theo giá so sánh :
Có ba phương pháp tính giá trị sản xuất theo giá so sánh, đó là :
+ Phương pháp giảm phát
+ Phương pháp chỉ số khối lượng
+ Phương pháp xác định giá trị trực tiếp từ giá và lượng của từng loại sản phẩm
Áp dụng phương pháp khác nhau sẽ cho kết quả khác nhau
c Biến động về giá cả và thay đổi phương pháp biên soạn hệ thống chỉ số giá
Sự biến động về giá cả và áp dụng phương pháp tính chỉ số giá phụ thuộc vào : + Mức độ chi tiết, đầy đủ trong lập danh mục khối lượng và đơn giá của từng nhóm sản phẩm giữa các năm gốc
+ Áp dụng phương pháp (công thức) để tính chỉ số giá giữa các năm gốc
+ Mức độ chi tiết và phạm vi trong xây dựng quyền số dùng để tính chỉ số giá giữa các năm gốc
Trang 10+ Thay đổi chất lượng sản phẩm sản xuất trong từng thời kỳ áp dụng năm gốc phản ánh qua khối lượng sản phẩm của từng thời kỳ được đề cập và được xử lý đến đâu ?
+ Mức độ chi tiết, đầy đủ của hệ thống chỉ số giá: PPI, CPI, chỉ số giá đầu vào, chỉ số giá xuất nhập khẩu, …?
Để có thể so sánh chuỗi số liệu giá trị theo thời gian về cùng một năm gốc, cần hạn chế hoặc loại bỏ những ảnh hưởng của những nhân tố đã nêu ở trên Nếu chọn năm 2005 là năm gốc mới thì dãy số liệu của các năm gốc trước năm gốc
- Áp dụng cùng một phương pháp để loại trừ sự biến động về giá cả
2 Lý luận chung để chuyển đổi giá năm gốc và chuyển giá thực tế về giá
so sánh
Căn cứ để chuyển đổi năm gốc so sánh xét về mặt kinh tế, do có sự thay đổi
nhiều về cơ cấu kinh tế của năm hiện hành so với năm được chọn làm gốc Theo thời gian, do phát triển kinh tế, các sản phẩm sản xuất ra, do yêu cầu của sử dụng luôn biến động, giá cả các sản phẩm của năm hiện hành quá chênh lệch so với giá cả của năm gốc, cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành kinh tế, của các sản phẩm dùng làm quyền số để tính chỉ số giá của năm được chọn làm gốc có nhiều biến động, năm hiện hành càng xa với năm gốc đã chọn nếu tiếp tục dùng năm gốc sẽ không phản ánh đúng thực chất phát triển của nền kinh tế Đối với một đất nước, khi công tác kế hoạch hoá có vai trò cực kỳ quan trọng để hoạch định chính sách trong điều hành và quản lý nền kinh tế thì năm được chọn làm gốc để thay cho năm gốc cũ thường là năm có nền kinh tế ổn định và là năm đầu của một kỳ kế hoạch trung và dài hạn
Nếu nền kinh tế phát triển ổn định, thông thường khoảng 10 đến 15 năm sẽ thay đổi năm gốc so sánh Song đối với một đất nước đang phát triển và nhất là đất
Trang 11nước chuyển đổi (từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường), thông thường 5 đến 10 năm phải thay đổi năm gốc so sánh
Thực ra vấn đề chuyển đổi năm gốc và chuyển giá thực tế về giá so sánh là hai vấn đề tuy hai mà là một, hai vấn đề này có mối quan hệ hữu cơ với nhau; tuy nhiên hai vấn đề này cũng có những ý niệm riêng như sau:
2.1 Chuyển đổi giá năm gốc
Khi nói đến giá là nói đến giá của sản phẩm, như vậy ý niệm về giá tương ứng với giá trị sản xuất; điều này rất quan trọng khi tính toán giá của một nhóm sản phẩm, vì khi tính giá theo nhóm sản phẩm phải cần đến giá trị sản xuất để làm quyền số, do đó khi đề cập đến giá của một nhóm mặt hàng nào đó có nghĩa đã là giá bình quân gia quyền theo giá của các mặt hàng chi tiết hơn, khi các nhóm sản phẩm càng được gộp lớn thì giá của nhóm sản phẩm gộp càng xa với giá của hàng hoá chi tiết trong đó
Tương tự như vậy, chỉ số giá là chỉ số giá của sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm, chỉ số giá có thể là chỉ số giá của năm sau so với năm trước hoặc của một năm so với một năm cố định nào đó (thường được gọi là năm gốc), có thể dễ dàng nhận thấy chỉ số giá của một năm nào đó so với năm gốc là chỉ số giá bình quân của nhiều hoặc rất nhiều loại hàng hoá khác nhau nằm trong nhóm sản phẩm đang được khảo sát về giá Trong một nền kinh tế, đặc biệt đối với những nước đang phát triển các sản phẩm luôn luôn thay đổi, một số sản phẩm mới xuất hiện và một
số sản phẩm khác mất đi, nên năm khảo sát mà quá xa năm gốc sẽ không thể tính được chỉ số giá của năm khảo sát so với năm gốc do quyền số các mặt hàng (mới
xuất hiện hoặc mất đi) thay đổi; đấy là lý do chủ yếu dẫn đến việc phải thay đổi năm gốc
2.2 Chuyển giá thực tế về giá so sánh
Vậy tại sao lại phải quay về giá năm gốc? Điều này có ý nghĩa gì? Tăng trưởng kinh tế là một nhân tố quyết định sự phát triển của mọi quốc gia Đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu ưu tiên Khi nói đến tốc độ tăng trưởng kinh tế thì có rất nhiều yếu tố đánh giá
sự tăng trưởng, thông thường ở Việt Nam thường nói đến tốc độ tăng trưởng của giá trị sản xuất và Tổng sản phẩm trong nước (GDP) Để tính được tốc độ tăng trưởng của giá trị sản xuất (GO) và GDP cần phải tính được GO và GDP theo giá
Trang 12so sánh - điều này có nghĩa cần loại trừ biến động của yếu tố giá cả qua các năm
Qua đó có thể nhận thấy việc chọn năm gốc là rất quan trọng
Như đã nói ở trên ý niệm về giá hoặc chỉ số giá là cho sản phẩm, hoặc nhóm sản phẩm (hay còn gọi là ngành sản phẩm), ý niệm này tương thích với chỉ tiêu giá trị sản xuất (GO) theo ngành sản phẩm, việc tính chuyển chỉ tiêu GDP về giá năm gốc (GDP theo giá so sánh) cần phải được tiến hành qua những tính toán trung gian và phương pháp cơ bản được cả thế giới áp dụng là sử dụng bảng I/O (Input – Output Table) hoặc bảng Nguồn và sử dụng (Supply and Use tables – S.U.T) của năm gốc để tính chuyển GDP của các năm sau đó về năm có bảng S.U.T (phương
pháp tính chuyển sẽ đề cập trong mục 3) Như vậy một vấn đề rất quan trọng là năm gốc phải là năm có bảng S.U.T hoặc bảng I/O
Giá trị sản xuất của ngành sản phẩm nào đó theo giá thực tế chia cho chỉ số giá của nhóm ngành tương ứng là giá trị sản xuất của ngành sản phẩm đó theo giá
so sánh năm gốc vì vậy một vấn đề rất quan trọng cần xác định giá của giá trị sản xuất theo giá nào? Giá trị sản xuất có thể xác định theo 3 loại giá, giá sử dụng cuối cùng bao gồm giá trị sản phẩm theo giá cơ bản, thuế sản phẩm và phí lưu thông (phí vận tải và phí thương mại); giá người sản xuất bao gồm giá trị sản phẩm theo giá cơ bản, thuế sản phẩm; giá cơ bản không bao gồm thuế sản phẩm và phí lưu thông Như vậy cần xác định giá gì của giá trị sản xuất để áp dụng các chỉ số giá tương ứng?
Hệ số giữa chỉ tiêu GDP của năm nào đó theo giá thực tế và giá so sánh được gọi là hệ số thay đổi giá GDP (GDP deflactor), Tổng cục Thống kê quen gọi là
“chỉ số giảm phát GDP”
Hiện nay ở Việt Nam, chỉ tiêu GDP được tính theo hai phương pháp: phương pháp sản xuất và phương pháp sử dụng cuối cùng Theo phương pháp sản xuất GDP được tính bằng tổng giá trị tăng thêm của các ngành kinh tế cộng với thuế nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ Giá trị tăng thêm của mỗi ngành kinh tế được xác định bằng hiệu số giá trị sản xuất của các ngành trừ đi chi phí trung gian được sử dụng trong chính các ngành đó Như vậy, theo phương pháp sản xuất để tính được GDP theo giá so sánh của toàn bộ nền kinh tế cần tính được giá trị tăng thêm theo giá so sánh của từng ngành kinh tế hay cần tính được giá trị sản xuất và chi phí trung gian theo giá so sánh trong từng ngành kinh tế Việc tính toán này được thực
hiện một cách khoa học trong mối quan hệ tổng thể về cung, cầu hàng hóa và
Trang 13các ảnh hưởng của sự tác động kinh tế liên ngành dựa trên những điều kiện nhất định Điều kiện quan trọng để thực hiện được phương pháp xác định chỉ tiêu
GDP theo giá so sánh trong mối quan hệ liên ngành này là cần phải có bảng Nguồn
và Sử dụng (bảng S.U.T) và một hệ thống chỉ số giá tương ứng Chỉ tiêu GDP theo giá so sánh được ước tính dựa vào bảng SUT cho phép phản ánh đúng đắn tốc độ tăng trưởng không chỉ cho toàn bộ nền kinh tế mà còn cho thấy những đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của từng ngành kinh tế cụ thể Đồng thời, cùng với việc sử dụng bảng SUT và hệ thống chỉ số giá phù hợp có thể kiểm tra, đánh giá được kết quả tính toán chỉ tiêu GDP theo phương pháp sản xuất qua việc so sánh kết quả tính toán chỉ tiêu này theo phương pháp sử dụng cuối cùng (hoặc phương pháp thu nhập)
3 Phương pháp tính chuyển GDP từ giá thực tế về giá so sánh
3.1 Giới thiệu về bảng nguồn và sử dụng (S.U.T)
Giá trị tăng thêm
Bảng nguồn và sử dụng trong SNA 1993 được đưa thêm ý niệm về giá như giá trị sản xuất trong bảng nguồn là giá cơ bản và trong bảng sử dụng là giá người mua
- Bảng nguồn, theo dòng mô tả chi tiết nguồn sản phẩm do sản xuất trong
nước và nhập khẩu tạo nên, theo cột mô tả các sản phẩm được sản xuất ra trong mỗi ngành Do đó tổng giá trị các loại sản phẩm được sản xuất ra trong một ngành cho biết sản lượng sản xuất ra của ngành đó trong một thời kỳ nhất định, giá trị sản xuất này có thể là một hoặc nhiều nhóm sản phẩm
- Bảng sử dụng mô tả chi tiết luồng sản phẩm được sử dụng trong quá trình
sản xuất theo ngành kinh tế như: cho tiêu dùng trung gian, cho tích luỹ tài sản, cho
Trang 14tiêu dùng cuối cùng và cho xuất khẩu (theo dòng) Bảng sử dụng cũng mô tả tài khoản sản xuất và tài khoản tạo thu nhập (theo cột)
Trong bảng nguồn và sử dụng, ngành sản phẩm được phân theo phân loại ngành sản phẩm (central product classification - CPC) và ngành kinh tế được phân loại theo phân ngành kinh tế chuẩn của Liên hợp quốc (International standard of industrial classification - ISIC)
Tuỳ theo mục đích và yêu cầu cũng như kinh phí để tổ chức thu thập thông tin và tiến hành lập bảng nguồn và sử dụng, mức độ đơn giản hay chi tiết của các chỉ tiêu trong bảng, số lượng ngành sản phẩm và ngành kinh tế sẽ được quyết định cho phù hợp Ví dụ, sản lượng sản phẩm sản xuất trong nước được phân theo ngành kinh tế hoặc theo các nhóm như sản phẩm vật chất, dịch vụ thị trường, dịch
Nhập khẩu (giá cif)
Tổng nguồn (giá cơ bản)
Thuế sản phẩm
Phí lưu thông
Tổng nguồn theo giá SDCC
Trang 15- i=1,n : là số ngành sản phẩm
- j=1,m : là số ngành kinh tế
- Xij là lượng sản phẩm i do ngành kinh tế j sản xuất ra
- Xác định các phần tử Xij từ biểu điều tra kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị điều tra Sau khi đã làm đầy ma trận Xij, nếu gọi Ai là các phần tử của cột tổng nguồn từ sản xuất hoặc tổng sản phẩm loại i được sản xuất ra trong nước và Gj là các phần tử của dòng tổng giá trị sản xuất theo giá cơ bản, hoặc giá trị sản xuất của ngành kinh tế j, ta có:
G
`
1 (2) Như vậy tổng giá trị của từng sản phẩm được sản xuất ra trong nước và tổng giá trị sản xuất của từng ngành kinh tế (theo giá cơ bản) được tính theo công thức (1) và (2)
- Từ kết quả điều tra về hàng hoá nhập khẩu xác định được các phần tử của cột B
- Các phần tử của cột C “Tổng nguồn theo giá cơ bản” sẽ được tính toán theo công thức sau:
Ci = Ai + Bi (i=1,n)
- Thuế sản phẩm ở cột D hàm ý bao gồm thuế đối với sản phẩm trong nước
và thuế nhập khẩu Số liệu này thu thập từ Vụ Chính sách Thuế - Bộ Tài chính
- Số liệu về phí lưu thông ở cột E lấy từ tổng hợp và xử lý kết quả điều tra
- Tổng nguồn theo giá sử dụng cuối cùng bao gồm cả phí lưu thông và thuế hàng hoá nên các giá trị của cột tổng nguồn theo giá sử dụng cuối cùng được tính theo công thức:
Fi = Ci + Di + Ei (i=1,n) Như vậy ta đã tính toán được toàn bộ các chỉ tiêu cơ bản của bảng nguồn theo công thức và qui trình như trên
Trang 16sx
TDCC TLTS
Xuất khẩu (giá Fob)
Tổng nguồn theo giá SDCC
- Xij xác định được từ việc xử lý kết quả biểu điều tra “kết quả sản xuất” và
biểu “chi phí sản xuất” của ngành kinh tế
- Tổng giá trị sản phẩm dùng cho sản xuất (Hi) được xác định theo
H
1
Các phần tử của cột I,K được xác định từ xử lý kết quả điều tra tiêu dùng và
xuất khẩu chi tiết theo từng sản phẩm
Trang 17Cột G phản ánh tích lũy của các loại sản phẩm sản xuất ra trong năm và thường được coi là phần để kiểm tra sự cân đối giữa nguồn và sử dụng sản phẩm
Các giá trị Ki ở cột K là giá trị xuất khẩu của các sản phẩm và được tính theo giá Fob
Các giá trị Li ở cột L là tổng sử dụng sản phẩm theo giá sử dụng cuối cùng Sau khi bảng nguồn và bảng sử dụng đã được lập ta luôn có mối quan hệ sau: Ei = Li
Quá trình tính toán giá trị sản xuất, chi phí trung gian và giá trị tăng thêm theo ngành kinh tế thường được tiến hành cùng nhau vì giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ như các khâu của một quá trình sản xuất trong một ngành kinh tế Hơn nữa, nguồn thông tin để tính các chỉ tiêu đó của các hoạt động sản xuất là giống nhau và còn được dùng để kiểm tra giữa các chỉ tiêu
3.2 Các ứng dụng của bảng nguồn và sử dụng
a Ứng dụng để lập bảng IO: Bảng nguồn và sử dụng được ứng dụng như một bước trung gian trong quá trình lập bảng IO
b Một ứng dụng rất quan trọng trong việc lập bảng nguồn và sử dụng đó là
để cân đối và xác minh lại các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như GDP (theo 3 loại giá), tiêu dùng, tích luỹ và xuất, nhập khẩu Một trong những chỉ tiêu này được ước tính không chính xác sẽ dẫn đến rất khó khăn trong cân đối nguồn và sử dụng (cân đối SUT)
c Tỷ lệ giá trị tăng thêm so với giá trị sản xuất của các ngành có thể được sử dụng để ước tính giá trị tăng thêm hàng năm và hàng quí và từ đó tính được GDP
d Ứng dụng để tính chuyển giá trị sản xuất theo ngành kinh tế về giá trị sản xuất theo ngành sản phẩm Giá trị sản xuất thông thường được các vụ chuyên ngành tính là theo ngành kinh tế, do đó việc sử dụng bảng nguồn để tính chuyển giá trị sản xuất từ ngành kinh tế sang ngành sản phẩm là rất hữu ích cho việc tính chuyển đổi giá
e Ứng dụng trong việc tính chuyển GDP về giá so sánh: ứng dụng này được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng
Bốn ứng dụng sau của bảng SUT sẽ được đề cập chi tiết hơn trong phần III của đề tài này
Trang 18
Phần II : Thực trạng về việc chuyển đổi năm gốc so sánh và tính theo giá so sánh đối với một số chỉ tiêu trong thống kê tài khoản quốc gia
I Sơ lược về bảng giỏ cố định và chọn cỏc năm gốc so sỏnh đối với một số chỉ tiờu trong thống kờ TKQG
1 Năm gốc so sỏnh và bảng giỏ cố định
Từ khi thành lập ngành Thống kờ đến nay, ở Việt Nam đó ỏp dụng hai phương phỏp hạch toỏn kinh tế quốc gia để phản ỏnh quỏ trỡnh tỏi sản xuất xó hội, đú là hệ thống bảng kinh tế quốc dõn (Material Product System – MPS) và Hệ thống tài khoản quốc gia (System of National Accounts – SNA) và đó 6 lần thay đổi năm gốc so sỏnh đối với một số chỉ tiờu kinh tế tổng hợp của hai phương phỏp kể trờn,
đú là cỏc năm gốc 1958, 1961, 1970, 1982, 1989 và 1994 Cả hai phương phỏp hạch toỏn kinh tế quốc gia đều đo lường cỏc chỉ tiờu kinh tế tổng hợp theo giỏ thực
tế và giỏ so sỏnh Theo giỏ thực tế, cỏc chỉ tiờu phản ỏnh quỏ trỡnh sản xuất, kết quả sản xuất, quỏ trỡnh hỡnh thành thu nhập, phõn phối thu nhập, sử dụng thu nhập theo cỏc giai đoạn/ thời kỳ khỏc nhau bao gồm cả yếu tố lượng và giỏ cả Theo giỏ so sỏnh, cỏc chỉ tiờu này được đo lường dưới dạng giỏ trị của năm được chọn làm năm gốc, mụ tả riờng về tăng (trưởng) hay suy (giảm) khối lượng sản phẩm sản xuất qua cỏc giai đoạn/ thời kỳ
Những năm được chọn làm năm gốc để so sỏnh chủ yếu căn cứ vào yờu cầu quản lý, vào quan điểm hoạch định chớnh sỏch của Chớnh phủ, song thường là năm
cú nền kinh tế phỏt triển ổn định, là năm “bản lề’’ của một thời kỳ phỏt triển kinh
tế của đất nước Đối với một đất nước quản lý, điều hành nền kinh tế theo kế hoạch (5 năm, 10 năm hay 20 năm) như nước ta thỡ năm được chọn làm năm gốc so sỏnh thường là năm đầu của một kỳ kế hoạch Cho đến năm 1994, năm được chọn làm gốc để so sỏnh trong cụng tỏc thống kờ Việt Nam là năm lập được bảng giỏ cố định Bảng giỏ cố định đầu tiờn của Việt Nam là bảng giỏ cố định 1958, bảng giỏ
cố định hiện nay đang cũn ỏp dụng là bảng giỏ cố định 1994 Cỏc chỉ tiờu kinh tế tổng hợp thuộc MPS và SNA tớnh theo giỏ so sỏnh chủ yếu bằng “phương phỏp xỏc định trực tiếp từ giỏ và lượng của từng loại sản phẩm”, tức là chỉ tiờu giỏ trị sản xuất theo giỏ so sỏnh được tớnh bằng cỏch lấy khối lượng sản phẩm của năm cần tớnh nhõn ( x ) với đơn giỏ sản phẩm của năm gốc Đõy cũng là căn cứ cơ bản để
Trang 19lập bảng giá cố định (tổng giá trị theo giá cố định của sản phẩm vật chất hoặc dịch
vụ nào đó bằng số lượng của chúng trong một thời kỳ nhất định nhân ( x ) với giá
cả của chúng trong năm gốc được “cố định” lại để so sánh) Muốn áp dụng phương pháp này cần phải có số lượng sản phẩm vật chất và dịch vụ của thời kỳ nghiên cứu và giá cả của năm gốc có trong bảng giá cố định của năm gốc Nguyên tắc xác định giá cố định là :
+ Xác định giá cố định của một hàng hoá hoặc dịch vụ phải căn cứ vào giá tiêu thụ phổ biến của các cơ sở sản xuất kinh doanh, đó là giá bán buôn không phải
là bán lẻ Đối với các sản phẩm hàng hoá nếu không có giá bán buôn thì lấy giá mua, bán thoả thuận của các cơ sở kinh doanh (người mua) và người sản xuất (người bán) Đối với các hoạt động dịch vụ có thanh toán (dưới mọi hình thức) giữa bên hưởng thụ và bên sản xuất dịch vụ, lấy giá tiêu thụ phổ biến Đối với một
số hoạt động dịch vụ như giáo dục, y tế, văn hoá, thông tin, … sẽ xác định mức giá bằng số tiền chi phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm dịch vụ
+ Giá bình quân theo không gian : Trong bảng giá cố định, mỗi danh điểm sản phẩm có qui cách, phẩm chất giống nhau, dù sản xuất ở các vùng khác nhau, với công nghệ khác nhau hoặc do các thành phần kinh tế khác nhau, cũng chỉ có một mức giá, đó là giá bình quân gia quyền các mức giá cá biệt của danh điểm đó
+ Giá bình quân và giá riêng biệt : đối với loại sản phẩm có nhiều qui cách, chủng loại khác nhau và đã xây dựng mức giá cụ thể cho từng qui cách, chủng loại thì cũng phải xây dựng mức giá bình quân cho toàn bộ sản phẩm đó Mức giá bình quân dùng để tính giá cố định của toàn bộ sản phẩm chỉ biết số lượng chung của toàn bộ sản phẩm mà không biết số lượng của từng qui cách, chủng loại sản phẩm
2 Bảng giá cố định năm 1994
Cho đến năm 1994, trong vòng 50 năm, công tác thống kê giá cả ở Việt Nam chưa phát triển để có thể áp dụng phương pháp chỉ số giá, vì vậy chỉ tiêu giá trị sản xuất của các ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp và một số hoạt động dịch vụ vẫn áp dụng phương pháp xác định theo đơn giá cố định Việt Nam
đã lập được 6 bảng giá cố định của các năm 1958, 1961, 1970, 1982, 1989, bảng giá cố định 1994 là bảng giá cố định cuối cùng dùng để tính chuyển chỉ tiêu giá trị sản xuất bằng phương pháp xác định trực tiếp
Trang 20Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này, xin được giới thiệu tóm tắt về bảng giá cố định năm 1994
Bảng giá cố định 1994 được ban hành theo Quyết định số 56/TCTK – TH ngày 02/ 7/ 1994 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê thay thế bảng giá cố định 1989
Bảng giá cố định năm 1994 áp dụng thống nhất trong toàn quốc từ Trung ương đến các đơn vị cơ sở, để tính toán các chỉ tiêu tổng hợp và làm căn cứ xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cho thời kỳ 1996-2000
Bảng giá cố định năm 1994 được xây dựng trên cơ sở giá kinh doanh phổ biến của các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ trong thời kỳ 6 tháng đầu năm 1994
và có xem xét dự báo sự biến động trong cả năm 1994 Trong bảng giá cố định, mỗi danh điểm sản phẩm có qui cách, phẩm chất giống nhau dù sản xuất ở các vùng khác nhau, với công nghệ khác nhau cũng chỉ có một mức giá Đối với loại sản phẩm có nhiều qui cách, chủng loại khác nhau và đã xây dựng mức giá cụ thể riêng biệt cho từng qui cách, chủng loại thì xây dựng mức giá bình quân cho loại sản phẩm đó
Bảng giá cố định năm 1994 gồm 8500 danh điểm hàng hoá, dịch vụ thuộc
các ngành nông lâm nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp, xây dựng, khách sạn nhà hàng, vận tải, bưu điện, y tế, văn hoá (so với bảng giá cố định năm 1989 đã thêm các ngành, xây dựng, khách sạn nhà hàng, y tế, văn hoá) Căn cứ vào
kinh nghiệm lập các bảng giá cố định trước và khả năng xác định danh mục sản phẩm, khối lượng sản phẩm và thu thập mức giá, Tổng cục Thống kê quyết định danh mục các ngành kinh tế cấp 2 phải xây dựng giá cố định 1994 (theo phụ lục A
‘’phân công thu thập thông tin theo ngành kinh tế quốc dân của bảng giá cố định
1994 ‘’) Mỗi danh điểm trong bảng giá cố định 1994 được mã hoá bằng 7 chữ số (4 chữ số đầu phản ánh đến ngành cấp 4 ; 3 chữ số sau phản ánh thứ tự sản phẩm trong một ngành cấp 4)
Trong bảng giá cố định 1994, mỗi qui cách, chủng loại sản phẩm có cùng một chất lượng chỉ có một vị trí duy nhất trong bảng giá, không phân biệt sản xuất
ở đâu, bằng công nghệ gì Sản phẩm được phân loại theo chức năng sản xuất, kinh doanh của ngành kinh tế trong VSIC 1993 ; trong mỗi ngành, sản phẩm vật chất và dịch vụ được phân loại theo thứ tự ưu tiên : công dụng, qui trình công nghệ , nguồn gốc nguyên vật liệu
Trang 21Do tính chất của năm bản lề giữa hai kỳ kế hoạch 5 năm nên khi so sánh tốc
độ tăng trưởng thời kỳ 1991- 1995 vẫn sử dụng theo giá cố định năm 1989 Các chỉ tiêu giá trị của năm 1995 tính theo giá cố định năm 1994 và năm 1989 Các chỉ tiêu giá trị năm 1996 trở đi dùng giá cố định năm 1994 làm căn cứ tính toán các chỉ tiêu
và xác định mức tăng trưởng
II Thực trạng tính các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp của hệ thống tài khoản quốc gia theo giá so sánh năm 1994
1 Tính chỉ tiêu giá trị sản xuất theo giá so sánh
Hiện nay khi tính chỉ tiêu giá trị sản xuất theo giá so sánh của từng ngành kinh
tế (cấp 1 hoặc cấp 2) được chia làm hai khối:
a Khối áp dụng bảng giá cố định:
Mặc dù bảng giá cố định năm 1994 không chỉ lập cho các sản phẩm nông, lâm nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp mà còn lập cho các sản phẩm của ngành xây dựng, khách sạn nhà hàng, vận tải, bưu điện và y tế Song trong thực tế bảng giá cố định năm 1994 chỉ được áp dụng để tính chỉ tiêu giá trị sản xuất các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến, sản xuất điện,
ga và cung cấp nước bằng “phương pháp xác định giá trị trực tiếp từ giá và lượng của từng loại sản phẩm”
GOt,o = ∑ qti poi
Trong đó : GO t,o = Giá trị sản xuất của năm t theo giá năm gốc
Poi = Giá năm gốc của nhóm sản phẩm i
qti = Khối lượng của nhóm sản phẩm i của năm t
b Khối áp dụng chỉ số giá
Phương pháp giảm phát dùng để tính giá trị sản xuất theo giá so sánh riêng rẽ cho từng ngành (ngành xây dựng và 14 ngành dịch vụ còn lại) bằng cách lấy giá trị sản xuất theo giá thực tế của năm cần tính chia cho chỉ số giá phù hợp (chỉ số giá sản xuất – PPI, chỉ số giá tiêu dùng – CPI, chỉ số giá bán vật tư, chỉ số giá xuất, nhập khẩu):
GOt,o = GO tt / Itp,o
Trong đó:
Trang 22GOt,o = Giá trị sản xuất năm t theo giá so sánh
GO tt = Giá trị sản xuất năm t theo giá thực tế
I tp,o = Chỉ số giá của năm t so với năm gốc
2 Tính chỉ tiêu GDP theo giá so sánh
Chỉ tiêu Tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá thực tế và giá so sánh đều được tính theo hai phương pháp: phương pháp sản xuất và phương pháp sử dụng
IC i : Chi phÝ trung gian ngµnh i
Từ công thức trên, có 2 phương pháp tính chuyển Giá trị tăng thêm của các ngành về giá so sánh : phương pháp giảm phát 1 lần (giảm phát đơn) và phương pháp giảm phát 2 lần (giảm phát kép)
Trang 23- Giảm phát 1 lần có các bước sau :
• Tính Giá trị sản xuất theo giá so sánh
• Chi phí trung gian theo giá so sánh được tính bằng Giá trị sản
xuất giá so sánh nhân với (X) tỷ lệ Chi phí trung gian/ Giá trị
sản xuất theo giá thực tế
• Giá trị tăng thêm theo giá so sánh được tính bằng công thức (2)
- Giảm phát 2 lần có các bước sau :
• Tính Giá trị sản xuất theo giá so sánh
• Tính Chi phí trung gian theo giá so sánh
• Giá trị tăng thêm theo giá so sánh được tính bằng công thức (2)
Việc áp dụng phương pháp giảm phát 1 lần hay phương pháp giảm phát 2 lần phụ thuộc vào nguồn thông tin để tính cho từng ngành cụ thể Các bước được tiến hành theo trình tự sau:
- Tính chuyển Giá trị sản xuất theo giá thực tế về giá so sánh
• Phương pháp 1: áp dụng cho các ngành sản xuất đã tính được giá bán của người sản xuất
Giá trị sản xuất năm báo
Giá trị sản xuất năm báo cáo theo giá thực tế
Chỉ số giá bán của người sản xuất năm báo cáo
so với năm gốc
• Phương pháp 2: áp dụng cho các ngành sản xuất chỉ có chỉ số tiêu dùng như ngành Quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng,
Giá trị sản xuất năm báo
Giá trị sản xuất năm báo cáo theo giá thực tế
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm báo cáo
so với năm gốc
- Tính chuyển Chi phí trung gian theo giá thực tế về giá so sánh
Chi phí trung gian
năm báo cáo theo
Trang 24- Tính chuyển Giá trị tăng thêm theo giá thực tế về giá so sánh
Giá trị tăng thêm
năm báo cáo theo
- Tính chuyển Thuế nhập khẩu theo giá thực tế về giá so sánh qua 2 bước:
Dùng chỉ số giá nhập khẩu tính chuyển trị giá hàng nhập khẩu theo giá thực
Thuế nhập khẩu năm báo cáo theo
giá thực tế Trị giá hàng nhập khẩu theo giá
và nhà nước)
+
Tích luỹ tài sản (cố định
và lưu động) +
Xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ -
Nhập khẩu hàng hoá
Tiêu dùng cuối cùng theo giá thực tế
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm báo cáo so với năm gốc
Tiêu dùng cuối cùng theo giá thực tế được tính theo các nhóm hàng chi tiết; chỉ số giá tiêu dùng cũng được tính cho các nhóm hàng tương ứng
Tích luỹ tài sản
Tích luỹ tài sản theo giá thực tế Chỉ số giá sản xuất tài sản bình quân năm báo cáo so với năm gốc
Trang 25Tích luỹ tài sản theo giá thực tế được tính chi tiết theo các loại tài sản như tài sản cố định, tài sản lưu động; chỉ số giá cũng được tính cho các loại tài sản tương ứng
Tổng trị giá xuất khẩu
theo giá so sánh
=
Tổng trị giá xuất khẩu năm báo cáo tính bằng USD Chỉ số giá xuất khẩu theo USD
X
Tỷ giá hối đoái giữa đồng Việt Nam và USD năm gốc
và:
Tổng trị giá nhập
Tổng trị giá nhập khẩu năm báo cáo tính bằng USD
Tỷ giá hối đoái giữa đồng Việt Nam và USD năm gốc
Tổng trị giá xuất khẩu tính theo USD được tính chi tiết theo các nhóm hàng hoá
và dịch vụ, chỉ số giá cũng được tính cho các nhóm tương ứng
III Ưu, nhược điểm của việc tính các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp thuộc hệ thống tài khoản quốc gia hiện nay :
1 Đối với khối áp dụng bảng giá cố định 1994
a Ưu điểm
- Bảng giá cố định là “cẩm nang” của phương pháp xác định giá trị trực tiếp
từ lượng và giá cho từng loại sản phẩm Khối lượng nhóm sản phẩm của năm hiện hành, đơn giá của từng nhóm sản phẩm tương ứng của năm gốc càng nhiều, càng chi tiết thì chất lượng của kết quả tính toán càng cao Phương pháp này phù hợp với nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung (hầu hết các sản phẩm được sản xuất hay tiêu dùng đều thực hiện theo kế hoạch của Nhà nước), phù hợp với phương pháp đánh giá kết quả sản xuất xã hội của MPS
- Phương pháp xác định giá trị qua bảng giá cố định dễ áp dụng và cho ý nghĩa trực quan rõ ràng Trong bảng giá cố định năm 1994 không chỉ có đơn giá cho các sản phẩm thuộc các ngành nông, lâm nghiệp, công nghiệp mà còn đơn giá
cố định cho các sản phẩm khá chi tiết của ngành xây dựng (mã số 45); khách sạn, nhà hàng (mã số 55); vận tải đường bộ, đường ống (mã số 60); vận tải đường thuỷ (mã số 61); vận tải hàng không (mã số 62); các hoạt động phụ trợ cho vận tải (mã
Trang 26(mã số 63); bưu chính, viễn thông (mã số 64); y tế và hoạt động cứu trợ xã hội (mã
số 65), song rất đáng tiếc đã không được áp dụng trong thực tế
b Nhược điểm
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động sản xuất ngày càng đa dạng và năng động, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của người tiêu dùng Dùng bảng giá cố định
để tính các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết như sau:
- Nhiều sản phẩm mới xuất hiện không có tên trong bảng giá cố định (trong thực tế áp dụng bảng giá cố định, tuy ngành Thống Kê đã có điều chỉnh và bổ sung thêm giá của một số loại sản phẩm, song do việc bổ sung không kịp thời nên nhiều
cơ sở, cơ quan đã dùng giá thực tế tính cho các sản phẩm mới và dẫn tới bảng giá
cố định năm 1994 không còn đúng nghĩa là một bảng giá cố định)
- Trong xu thế cạnh tranh, các đơn vị sản xuất luôn áp dụng thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã làm cho chất lượng sản phẩm không ngừng được nâng cao nhưng giá bán một số sản phẩm lại có xu hướng giảm Nếu dùng giá trong bảng giá cố định để đánh giá kết quả sản xuất sẽ bị sai lệch về tốc
độ tăng trưởng ngành kinh tế, ngành sản phẩm
- Bảng giá cố định chủ yếu lập cho các sản phẩm thuộc các ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản và một số sản phẩm công nghiệp Đối với các sản phẩm xây dựng
và dịch vụ do rất khó xác định và thống kê được khối lượng nên dù có xây dựng đơn giá các loại sản phẩm xây dựng hoặc dịch vụ cũng khó áp dụng được phương pháp này
- Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá nhiều thành phần, hàng hoá phong phú, đa dạng, sự phân chia sản phẩm càng chi tiết thì việc lập bảng giá cố định mới càng trở nên phức tạp khó khăn và không có tính khả thi, đồng thời để lập bảng giá
cố định rất tốn kém cả về nhân lực và kinh phí, do vậy bảng giá cố định 1994 càng kéo dài càng không phù hợp với thực tiễn
- Trong nền kinh tế thị trường, số lượng cơ sở sản xuất (thí dụ: doanh nghiệp) ngày càng phát triển và đầy biến động, bản thân các cơ sở này không có nhu cầu tính giá trị sản xuất theo giá cố định vì vậy việc yêu cầu các cơ sở tính giá trị sản xuất theo bảng giá cố định là không thực tế và không khả thi, cùng với việc tinh giảm chế độ báo cáo đối với đơn vị sản xuất, ngành Thống Kê không thể tiếp tục yêu cầu đơn vị này tính và gửi báo cáo về giá trị sản xuất theo giá cố định của đơn vị cho mình
Trang 27- Theo qui định, tổ chức thống kê Bộ, ngành có vai trò rất quan trọng trong việc lập và sử dụng các bảng giá cố định, song do tổ chức thống kê của Bộ, ngành quá yếu nên đã không đảm đương được nhiệm vụ này, nhất là chỉ đạo các doanh nghiệp do Bộ, ngành quản lý tính và báo cáo giá trị sản xuất theo giá cố định cho Tổng cục Thống kê
- Để đảm bảo thời gian ban hành bảng giá cố định 1994 nên đã qui định thời
kỳ thu thập mức giá lập giá cố định là 6 tháng đầu năm 1994 là giá bình quân năm
1994 (tất nhiên khi đưa ra mức giá cố định phải dự báo sự biến động của giá cả từng sản phẩm cho cả năm1994 để mức giá đưa ra phản ánh xu hướng mức bình quân cả năm1994) Với qui trình như vậy, giá trị sản xuất theo giá thực tế và giá cố định ngành nông nghiệp của năm 1994 không bằng nhau, điều này trái với nguyên tắc “ giá cố định là giá thực tế bình quân năm được chọn làm gốc” (xem phụ lục trang 73-74)
2 Đối với khối áp dụng chỉ số giá
Để áp dụng phương pháp giảm phát cần :
- Hoàn thiện thống kê sản xuất, giá trị sản xuất phải tính chi tiết theo ngành sản phẩm ở mức độ tối đa Song hàng năm, ngành Thống kê chỉ tính được giá trị sản xuất theo giá thực tế của các ngành Nông, Lâm nghiệp theo ngành cấp 3; ngành Thuỷ sản và Công nghiệp theo ngành cấp 2; các ngành Xây dựng và Dịch vụ còn lại chủ yếu tính được theo ngành cấp 1 Giữa các vụ trong Tổng cục cũng chưa
có sự thống nhất về các nguyên tắc chung trong tính chỉ tiêu giá trị sản xuất theo giá thực tế, thí dụ giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp tính theo giá sản xuất hay giá cơ bản, đối với nguyên vật liệu của người đặt hàng mang gia công, chế biến tính vào giá trị của sản xuất của người đem gia công, chế biến (bên A) hay người gia công, chế biến (bên B), nhất là trường hợp người đem gia công là người nước ngoài (đơn vị không thường trú)? Chưa chấp hành tốt các qui định về hình thái sản phẩm trong phân ngành kinh tế (thí dụ sản phẩm cao su mủ khô đóng bánh
có địa phương tính vào ngành nông nghiệp, có địa phương tính vào ngành công nghiệp) Giá trị sản xuất của một số ngành còn tính chưa đầy đủ, thường thấp so với thực tế như các ngành xây dựng, vận tải … Việc duy trì, sử dụng quá lâu hệ số chi phí trung gian của năm điều tra cơ bản (khối địa phương sử dụng hệ số chi phí trung gian của năm 1996, tính GDP cho cả nước sử dụng hệ số chi phí trung gian của năm 2000), trong thực tế hàng năm hệ số này có nhiều biến động (bình quân
Trang 28mỗi năm tăng trên 1%), dẫn đến GDP/VA theo giá thực tế có thể tính cao hơn so với thực tế ? Đồng thời để áp dụng phương pháp giảm phát kép, chi phí trung gian cũng chưa phân tổ chi tiết ra các yếu tố theo yêu cầu
- Hoàn thiện thống kê giá và chỉ số giá: Chỉ số giá phải phù hợp, tương ứng với nhóm ngành sản phẩm của giá trị sản xuất và phải tính theo giá cơ bản, khi biên soạn phải bao gồm cả yếu tố thay đổi về chất lượng sản phẩm sản xuất ra của nền kinh tế Trong vòng 10 năm lại đây, công tác thống kê về giá cả và biên soạn
hệ thống chỉ số giá ngày càng được củng cố, hoàn thiện và mở rộng Song cho đến nay vẫn chưa tính được chỉ số giá sản xuất của các ngành Xây dựng, Kinh doanh bất động sản, Tài chính, Ngân hàng, Bảo hiểm, Dịch vụ văn hoá, Y tế, Giáo dục Chưa tính được chỉ số tiền lương để loại trừ yếu tố “tăng giá sức lao động”, Chỉ số giá bán nguyên, nhiên vật liệu (chỉ số giá đầu vào, còn quen gọi là chỉ số giá vật tư) và chỉ số giá xuất, nhập khẩu chưa đáp ứng cho giảm phát chỉ tiêu chi phí trung gian và xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ Từ hạn chế của hệ thống chỉ số giá, dẫn đến thống kê TKQG thường dùng phương pháp giảm phát một lần đối với chỉ tiêu giá trị tăng thêm Tuy vậy áp dụng phương pháp giảm phát có các ưu điểm sau:
+ Thông tin về giá của sản phẩm vật chất và dịch vụ thu thập được thường đầy đủ và có tính đại diện hơn so với thông tin về số lượng sản phẩm được sản xuất ra
+ Tính chỉ số giá thường cố định rổ hàng hoá và dịch vụ trong một thời kỳ nhất định (thường là 5 năm), nên chất lượng của hàng hoá và dịch vụ trong rổ hàng
ít thay đổi giữa hai thời kỳ và thường bao gồm cả sản phẩm mới, các ngành sản xuất mới xuất hiện hoặc dễ dàng chỉnh lý yếu tố thay đổi về chất lượng sản phẩm
Trang 29Phần III : đề xuất Các phương pháp tính các chỉ tiêu tài khoản quốc gia từ giá thực tế về giá so sánh
I Sử dụng bảng nguồn và sử dụng để tớnh cỏc chỉ tiờu tài khoản quốc gia về giỏ so sỏnh
1 Những vấn đề cơ bản khi sử dụng bảng SUT để tớnh chuyển cỏc chỉ tiờu tài khoản quốc gia về giỏ so sỏnh
Trong bảng nguồn và sử dụng mối quan hệ cơ bản trong nền kinh tế được được thể hiện rất rừ nột Mối quan hệ đú là:
(Giỏ trị sản xuất sản phẩm trong nước + Thuế trừ trợ cấp sản xuất của sản phẩm) + Nhập khẩu = Tiờu dựng trung gian + Tớch lũy tài sản + Tiờu dựng cuối cựng + Xuất khẩu
Hoặc cú thể được viết lại là:
(Giỏ trị sản xuất sản phẩm trong nước - Tiờu dựng trung gian ) + Thuế trừ trợ cấp sản xuất của sản phẩm = Tớch lũy tài sản + Tiờu dựng cuối cựng + (Xuất khẩu - Nhập khẩu)
Như vậy, vế bờn trỏi sẽ thể hiện bờn sản xuất và phớa bờn phải sẽ thể hiện bờn sử dụng sản phẩm trong nền kinh tế và cả hai vế là hai phương phỏp cựng được
sử dụng để đỏnh giỏ chỉ tiờu GDP theo giỏ thực tế và giỏ so sỏnh
Để đỏnh giỏ chỉ tiờu GDP theo giỏ so sỏnh, Tài khoản quốc gia sử dụng bảng SUT và hệ thống chỉ số giỏ theo cỏc phương phỏp sau:
a Phương phỏp giảm phỏt hai lần
Phương phỏp giảm phỏt hai lần trỡnh bày dưới đõy ỏp dụng trong trường hợp
cú sẵn bảng nguồn và sử dụng của năm hiện hành và khả năng phõn chia bảng sử dụng theo giỏ sử dụng thành bốn thành phần: Giỏ trị cơ bản (phần này được chia thành sản phẩm sản xuất trong nước và nhập khẩu), phớ vận tải và thương mại và thuế trừ trợ cấp sản phẩm Mỗi thành phần được giảm phỏt độc lập bằng chỉ số giỏ của chỳng hoặc hệ số của năm cơ bản (năm được chọn làm năm gốc để so sỏnh)
Phương phỏp giảm phỏt này yờu cầu cú:
- Bảng nguồn và sử dụng của năm chuẩn hoặc năm cơ bản
Trang 30- Bảng nguồn và sử dụng năm hiện hành theo giá thực tế
- Chỉ số giá cơ bản cho các loại hàng hoá
- Chỉ số giá nhập khẩu
a.1/ Chuyển bảng sử dụng về giá cơ bản
Bảng 3 (trang 38) là bảng sử dụng theo giá cơ bản là kết quả của sự phân chia mọi luồng giao dịch của hàng hoá theo giá sử dụng, ví dụ U11 ở bảng 2 được chia thành 4 thành phần: thành phần sản phẩm trong nước theo giá cơ bản (UB11), thành phần nhập khẩu c.i.f (M11), phí thương mại (TM11) và thuế sản phẩm (TX11),
U11 = UB11 + M11+ TM11 + TX11
Như vậy, dọc theo mỗi dòng của bảng 3, tổng sử dụng của mọi sản phẩm trong nước theo giá cơ bản (VD: UB1) phải bằng tổng sản phẩm sản xuất trong nước ( X1 = X11+ X12+X13 của bảng 1)
Áp tỷ lệ cho phí thương mại
Thông thường không có sẵn tỷ lệ phí thương mại bán buôn, thương mại bán
lẻ và thuế sản phẩm cho mỗi loại hàng hoá sử dụng Phương pháp chung là giả sử rằng những tỷ lệ này như nhau cho mỗi loại hàng hoá sử dụng dù chúng là hàng hoá, dịch vụ trong nước hay nhập khẩu Như vậy, với những thông tin có sẵn ở bảng nguồn (bảng 1- trang 36), tỷ lệ phí thương mại cho hàng hoá 1 bằng TM1/SP1; tỷ lệ thuế sản phẩm 1 bằng TX1/SP1 Với giả định ở trên có thể thấy:
TM11/U11 = TM12/U12 = TM13/U13 = TMHC1/HC1 = TMK1/K1 = TM1/SP1 và
TX11/U11 = TX12/U12 = TX13/U13 = TXHC1/ HC1 = TXK1/K1 = TX1/SP1
Điều tra thương mại và dịch vụ sẽ cung cấp tỷ lệ phí thương mại bán buôn
và bán lẻ Tỷ lệ này càng chi tiết theo loại hàng hoá càng làm tăng độ chính xác của phương pháp Như vậy, nếu có thể, nên áp dụng ở mức chi tiết nhất
Phân chia bảng sử dụng thành hàng hoá trong nước và nhập khẩu
Việc phân chia sử dụng thành hàng hoá trong nước và nhập khẩu quan trọng cho mục đích giảm phát vì giá của hàng hoá trong nước và nhập khẩu có thể thay
Trang 31đổi khác nhau, và như vậy sẽ ảnh hưởng khác nhau tới giá trị thực tế của giá trị tăng thêm Việc phân chia sử dụng thành hàng hoá trong nước và nhập khẩu yêu cầu ước tính phần nhập khẩu cho mỗi yếu tố sử dụng trong bảng sử dụng Vì đã biết tổng nhập khẩu cho mỗi hàng hoá, việc phân chia chỉ còn là vấn đề đơn giản của việc phân phối tổng này cho các yếu tố sử dụng Việc phân phối một hàng hoá nhập khẩu có thể dựa trên thông tin điều tra có sẵn, phương pháp chuyên gia và giả định tính tỷ lệ:
- Thông tin điều tra về phần nhập khẩu (hoặc tỷ lệ): Điều tra ngành công
nghiệp có thể cung cấp phần nhập khẩu sử dụng làm đầu vào theo các ngành Thông tin này phải được phân tích cùng với thông tin cung cấp bởi kiến thức chuyên gia
- Kiến thức chuyên gia: Sử dụng thông tin điều tra không đủ để làm đầy ma
trận nhập khẩu ở bảng 3, cần phải vận dụng kiến thức chuyên gia Sử dụng thông tin từ thống kê nhập khẩu ở mức phân loại rất chi tiết sẽ giúp nhận dạng một hàng hoá nhập khẩu là bổ sung và nhập khẩu hoàn toàn Ví dụ lúa mì, bột mì không được sản xuất ở Việt Nam nên phải được nhập khẩu hoàn toàn Cũng có thể sử dụng kiến thức chuyên gia để biết nhập khẩu hàng hoá sử dụng cho tiêu dùng trung gian, tiêu dùng cuối cùng hay tích luỹ tài sản Ví dụ, nhập khẩu máy móc chắc chắn sẽ được phân vào tích luỹ tài sản và nhập khẩu xe máy có thể được phân vào chi tiêu dùng cuối cùng hộ gia đình Ở mức chi tiết cũng có thể đoán được sản phẩm nhập khẩu nào được sử dụng cho ngành nào
- Giả định tính tỷ lệ: Sau khi sử dụng đầy đủ những thông tin có sẵn như đã
thảo luận ở trên, phần nhập khẩu còn lại của một hàng hoá có thể được phân phối theo tỷ lệ Nếu phần còn lại lớn, có thể phân phối phần còn lại theo người sử dụng thích hợp (mỗi yếu tố của dòng ở bảng sử dụng tương ứng với hàng hoá đó).Trong trường hợp có vấn đề không chắc chắn về tiêu dùng hàng hoá nhập khẩu của người
sử dụng thì không phân phối cho thành phần đó và một vài yếu tố cũng không cần phân phối thêm nếu đã chắc chắn về tiêu dùng hàng hoá nhập khẩu của chúng Tiêu chuẩn để phân phối là phần đóng góp về sử dụng của người sử dụng đặc thù trong nhóm được phân phối Ví dụ ở bảng 2 (trang 37) nếu toàn bộ nhập khẩu hàng hoá được phân bổ tỷ lệ cho tất cả người sử dụng, khi đó U11/U1, U12/U1, …, HC1/U1 và K1/U1 sẽ được sử dụng như các tỷ lệ tương ứng ngành hàng hoá, ngành dịch vụ thị trường,…, chi tiêu cuối cùng hộ gia đình và tích luỹ tài sản
Trang 32Ngay cả khi không có thông tin điều tra và kiến thức chuyên gia, giả định tỷ lệ sẽ hữu ích hơn nếu được cung cấp ở mức phân loại hàng hoá chi tiết thay cho mức gộp
a.2/ Giảm phát theo loại sản phẩm
Phương pháp giảm phát được áp dụng cho bảng SUT thay đổi theo loại sản phẩm Với mục đích biểu hiện, sản phẩm được phân thành 3 nhóm: Hàng hoá, dịch
vụ thị trường và dịch vụ phi thị trường khác
Hàng hoá và dịch vụ thị trường thông thường được xử lý như nhau vì có thể
có được những thông tin về giá đơn vị của chúng, trừ một vài dịch vụ thị trường không dễ dàng hoặc thậm chí không thể xác định khối lượng và như vậy không thể xác định giá đơn vị Giá của dịch vụ phi thị trường khác không sẵn có bởi vì dịch
vụ phi thị trường khác theo như định nghĩa là không có để bán
Sau đây là những bước giảm phát cơ bản:
Thứ nhất, giảm phát hàng hoá và dịch vụ thị trường ở bảng nguồn theo giá
cơ bản để nhận được giá trị sản xuất ngành kinh tế theo giá so sánh và chỉ số giá giá trị sản xuất ngành kinh tế ngầm định
Thứ hai, tính chỉ số giá cho dịch vụ phi thị trường khác dựa trên chi phí sản xuất dùng ở bảng sử dụng theo giá cơ bản
Thứ ba, giảm phát tiêu dùng trung gian và tiêu dùng cuối cùng ở bảng sử dụng, dùng chỉ số giá cơ bản, chỉ số giá nhập khẩu và chỉ số giá cho dịch vụ phi thị trường đã tính ở bước hai
Thứ tư, Giảm phát giá trị tăng thêm gộp theo giá cơ bản bằng chênh lệch giữa giá trị sản xuất ngành kinh tế ở giá so sánh và tiêu dùng trung gian theo giá so sánh
Thứ năm, Giảm phát thuế sản phẩm bằng Tổng nguồn sản phẩm theo giá cơ
bản (Bảng 1) x (nhân) tỷ lệ thuế năm cơ bản, áp tỷ lệ khác nhau cho hàng hoá nhập
khẩu và hàng hoá trong nước
Thứ sáu, tính được GDP theo giá so sánh = (bằng) tổng giá trị tăng thêm gộp thực tế theo giá cơ bản và thuế sản phẩm thực tế (GDP theo giá so sánh cũng
có thể tính được bằng tổng các thành phần của nhu cầu cuối cùng theo giá so sánh)
Trang 33Dưới đây là việc trình bày chi tiết hơn về hàng hoá, dịch vụ thị trường, dịch
vụ phi thị trường khác và thuế sản phẩm, giá trị tăng thêm theo giá cơ bản được giảm phát thế nào theo các bước trên:
Giảm phát hàng hoá
Hàng hoá sản xuất trong nước cần được giảm phát trước tiên theo chỉ số giá
cơ bản ở bảng nguồn (bảng 1) qua các dòng từ cột 1 – 3 Áp dụng chỉ số giá cơ bản cũng được thực hiện cho tất cả sản phẩm sử dụng ở bảng sử dụng (bảng 3) Ở đây,
rõ ràng được giả định rằng giá ảnh hưởng như nhau đến tất cả người sử dụng về mặt chi phí sản xuất và ảnh hưởng khác nhau đối với người sử dụng từ thay đổi phí thương mại và thuế sản phẩm
Giảm phát giá hàng hoá bán ở giá khác nhau tới những người sử dụng khác nhau
Đối với một vài sản phẩm như sản phẩm năng lượng bao gồm điện, ga, xăng dầu được khu vực nhà nước sản xuất và cung cấp nhưng bán với những giá khác nhau cho những người sử dụng khác nhau ngay cả khi không có phí thương mại, việc sử dụng cùng chỉ số giá ở bảng sử dụng cho tất cả người sử dụng là không logic Nên áp dụng chỉ số giá khác nhau cho những người sử dụng khác nhau, nhưng như vậy sẽ không có khả năng tính được cùng một chỉ số giá ngầm định cho
cả bảng nguồn và bảng sử dụng Đây là một vấn đề được nhiều người biết đến trong giảm phát giá Vấn đề đặt ra là sản lượng sản xuất có thể giảm trong khi giá trị sản xuất sử dụng theo giá so sánh có thể tăng và ngược lại Ở tình huống này chỉ
số giá áp dụng ở bảng nguồn phản ánh chi phí sản xuất và chỉ số giá áp dụng cho bảng sử dụng là chỉ số giá người sử dụng Ở một số nước chỉ số giá ngầm định tính được từ bảng sử dụng được áp dụng cho bảng nguồn để “làm hài hoà” hai bảng, nhưng trong trường hợp này, chỉ số về lượng ở bảng nguồn hoặc bảng sử dụng sẽ không phản ánh chỉ số khối lượng thực tế
Giảm phát hàng hoá nhập khẩu
Hàng hoá nhập khẩu sử dụng cho tiêu dùng trung gian và tiêu dùng cuối
cùng được giảm phát theo chỉ số giá nhập khẩu
Giảm phát dịch vụ thị trường
Dịch vụ thị trường được sản xuất để bán, như vậy dường như có tồn tại một khối lượng dịch vụ bán và đơn giá của chúng Trên thực tế không dễ dàng xác định
Trang 34khối lượng của dịch vụ và thống kê thu thập đơn giá của những dịch vụ này Thông thường có ba phương pháp lựa chọn mà thống kê lựa chọn để giải quyết vấn đề
này Lựa chọn thứ nhất là sử dụng một vài đại diện cho chỉ số giá đơn vị Ví dụ,
rất nhiều giá trị sản xuất dịch vụ đơn giản được giảm phát theo chỉ số giá tiêu dùng chung hoặc chỉ số giá riêng trong chỉ số giá tiêu dùng thích hợp với giá trị sản xuất
dịch vụ giảm phát Lựa chọn thứ hai là xây dựng chỉ số giá cho các ngành dịch vụ
trên cơ sở chi phí sản xuất của chúng Phương pháp này tương tự phương pháp sử dụng để giảm phát dịch vụ phi thị trường khác sẽ được trình bày sau Khi chỉ số giá được xây dựng từ chi phí sản xuất, giá trị thặng dư được lờ đi, có nghĩa là giá trị này sẽ tự được giảm phát bằng chỉ số giá của chúng khi giá trị sản xuất cũng được
giảm phát Lựa chọn thứ ba là trước tiên thu được chỉ số khối lượng và ngoại suy
giá trị năm cơ bản từ chỉ số khối lượng này Ví dụ Số bệnh nhân có thể được sử dụng như đại diện cho chỉ số về lượng của giá trị sản xuất của bệnh viện Theo phương pháp cuối cùng chỉ số giá thu được hoàn toàn dựa vào giá trị sản xuất theo giá của năm hiện hành và năm cơ bản
Giảm phát phí thương mại
Phí thương mại thông thường được chia thành phí thương mại bán buôn và phí thương mại bán lẻ, là giá trị sản xuất của ngành thương nghiệp Nên xây dựng chỉ số giá và chỉ số khối lượng để giảm phát Nhưng điều này hầu như không thể
Sự thay đổi về tỷ lệ của phí thương mại qua việc mua bán được giả định đo lường
sự thay đổi về chỉ số giá của phí thương mại mặc dù thay đổi về tỷ lệ này cũng có thể bao gồm cả thay đổi về công nghệ Để tính được phí thương mại theo giá so sánh, tỷ lệ phí thương mại của năm cơ bản được áp cho sử dụng hàng hoá theo giá
cơ bản được chỉ ra ở bảng 3, cần chú ý rằng tỷ lệ sử dụng ở đây là tỷ lệ theo giá cơ bản được tính từ bảng 3 của năm cơ bản, nghĩa là chúng bằng với TM1/ UB1 (UB1
là tổng sử dụng hàng hoá theo giá cơ bản) Tỷ lệ này khác với tỷ lệ được sử dụng
để tính phí thương mại theo giá thực tế, TM1/SP1 ở bảng nguồn 1
Trang 35Phí dịch vụ thẳng thông thường ngoại suy từ năm cơ bản bằng một chỉ số về lượng của giao dịch Có thể tính chỉ số về lượng bằng tổng của tiền gửi và tiền nợ của khu vực tài chính giảm phát bằng chỉ số giá sử dụng cuối cùng của chúng
Đối với vận tải hành khách, chỉ số giá của phí vận tải thông thường sử dụng
để giảm phát giá trị sản xuất theo giá thực tế Đối với vận tải hàng hoá, chỉ số về lượng dựa trên tấn –kilomet thông thường được sử dụng để ngoại suy giá trị sản xuất thực tế từ năm cơ bản và một trong những kết quả thu được là chỉ số giá ngầm định
Tỷ lệ khách sạn, nhà trọ có thể được sử dụng để giảm phát giá trị sản xuất của dịch vụ khách sạn, nhà trọ theo loại khách sạn và nhà trọ
Giá trị sản xuất của dịch vụ nhà hàng có thể được giảm phát bằng chỉ số giá đầu vào hoặc chỉ số giá tiêu dùng
Đối với bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm thân thể, không dễ dàng khi giảm phát giá trị sản xuất của những ngành này bằng cách giảm phát những thành phần
sử dụng để tính chúng Chúng được giảm phát hoặc bằng chỉ số giá tiêu dùng chung hoặc chỉ số riêng theo loại lợi ích
Dịch vụ kinh doanh như kế toán, dịch vụ pháp luật, xử lý dữ liệu, dịch vụ kiến trúc, dịch vụ quảng cáo, dịch vụ cho thuê máy móc thiết bị … nói chung được giảm phát bằng giá đầu vào và tỷ lệ tiền lương Để đo lường giá trị sản xuất thực của dịch vụ pháp luật, có thể xây dựng chỉ số khối lượng Chỉ số khối lượng dựa trên số phiên toà và vụ kiện, chuyển nhượng tài sản, cầm cố Một vài dịch vụ pháp luật có thể được giảm phát bằng chỉ số tỷ lệ giờ làm việc của luật sư
Dịch vụ cho thuê được giảm phát bằng chỉ số tiền thuê Dịch vụ nhà ở tự có
có thể được giảm phát hoặc theo chỉ số tiền thuê hoặc theo chi phí dựa trên giá trị sản xuất của dịch vụ được ước tính
Giảm phát của dịch vụ giáo dục và dịch vụ y tế có thể thu được từ: thứ nhất ngoại suy giá trị sản xuất thực tế của năm cơ bản bằng chỉ số khối lượng tương ứng bằng số học sinh hoặc bệnh nhân Dịch vụ giáo dục và y tế công phục vụ cộng đồng nói chung có thể được giảm phát bằng chỉ số giá tiêu dùng chung Nhưng nói chung hầu hết các nước tính chỉ số khối lượng dựa trên số người tham gia công việc hoặc số giờ làm việc của người làm công trong vùng
Trang 36Giảm phát dịch vụ phi thị trường khác
Dịch vụ phi thị trường được giảm phát bằng chỉ số giá xây dựng từ chi phí sản xuất với giả định thặng dư sản xuất bằng không Cấu trúc chi phí của bảng sử dụng theo giá cơ bản sẽ được dùng cho mục đích này Như có thể xem từ cột 3 bảng 3, chỉ số giá cho cột này là chỉ số giá được tính theo quyền số của tất cả các yếu tố trong cột bao gồm cả các thành phần của giá trị tăng thêm gộp theo giá cơ bản
Giảm phát thuế sản phẩm
Có thể tính chỉ số giảm phát thuế xấp xỉ bằng cách nhân thay đổi tỷ lệ thuế với thay đổi giá của sản phẩm bị đánh thuế nếu thuế sản phẩm là VAT được thu bằng phần trăm của giá trị Cách tốt hơn để tính được chỉ số trên là cân bằng chỉ số
về lượng của thuế và của sản phẩm chịu thuế
Tuy nhiên phương pháp này tỷ mỉ và tốn thời gian Có thể sử dụng một phương pháp tắt, có nghĩa là thuế sản phẩm của năm thực tế được tính bằng cách
áp tỷ lệ thuế bình quân TX/SB của năm cơ bản (bảng nguồn - bảng 1) từ cả hai nguồn hàng hoá và dịch vụ trong nước và nhập khẩu theo giá cơ bản (bảng 3) Thuế sản phẩm cần được chia thành: thuế nhập khẩu chỉ áp dụng cho hàng nhập khẩu và thuế sản phẩm khác được áp dụng cho cả sản phẩm trong nước và nhập khẩu Theo TKQG, thuế sản phẩm hoặc đánh trực tiếp vào hàng hoá trước khi bán hoặc trên doanh thu và được phân loại lại theo nhóm hàng như ở bảng 1 Trợ cấp sản xuất được tính tương tự
Tính giá trị tăng thêm theo giá so sánh
Giá trị tăng thêm
Tổng giá trị tăng thêm giá
cơ bản theo giá so sánh +
Thuế trừ trợ cấp sản phẩm theo giá so sánh
Trang 37DÞch vô phi thÞ tr−êng kh¸c
NhËp khÈu theo gi¸ cif (tæng fob)
§iÒu chØnh cif/fob
Tæng nguån s¶n phÈm theo gi¸
c¬ b¶n
PhÝ th−¬ng m¹i vµ vËn t¶i
ThuÕ trõ trî cÊp s¶n phÈm
Tæng nguån s¶n phÈm theo gi¸ sö dông
ChØ sè gi¸
I3=X13=X23
=X33
Trang 38Bảng 2 Bảng sử dụng theo giá sử dụng
Tiêu dùng trung gian của các ngành
Hàng hoá
Dịch vụ thị trường
D.vụ phi thị trường khác
Xuất khẩu (Fob)
Chi tiêu cuối cùng của hộ gia đình
Chi tiêu cuối cùng của nhà nước
Tích luỹ tài sản
Tổng sử dụng sản phẩm
Hàng hoá U11 U12 U13 E1 HC1 K1 U1=(1+.+7) Dịch vụ thị trường U21 U22 U23 E2 HC2 K2 U2=(1+.+7) Sản phẩm
Dịch vụ phi thị trường khác HC3 GC U2=(1+.+7)
Giá trị tăng thêm theo giá cơ bản V1 V2 V3
Thu nhập của người lao động W1 W2 W3
Thuế sản xuất khác OT1 OT2 OT3
Khấu hao tài sản cố định CC1 CC2 CC3
Thặng dư sản xuất/Thu nhập hỗn hợp gộp OS1 OS2
Tổng giá trị sản xuất ngành kinh tế theo giá cơ bản I1 I2 I3
* Để giảm cỡ của bảng, tiêu dùng của hộ gia đình gộp cả tiêu dùng cuối cùng của đơn vị thể chế vô vị lợi phục vụ hộ gia đình
** Tích luỹ tài sản gồm cả tích lũy tài sản cố định, thay đổi tồn kho và tăng trừ giảm tài sản quý hiếm
Trang 39Bảng 3 Bảng sử dụng theo giá cơ bản
Tiêu dùng trung gian theo ngành
kinh tế Hàng
hoá
Dịch vụ thị trường
Dịch vụ phi
TT khác
Xuất khẩu f.o.b
Chi TDCC
hộ gia đình
Chi TDCC của Nhà nước
Tích luỹ tài sản
Tổng sử dụng sản phẩm Giảm phát
Sản phẩm
trong nước
Chỉ số giá
nhập khẩu
Phí TM và
Phí thương mại năm cơ bản
Tổng GTSX ngành kinh tế theo giá
Trang 40b Phương pháp giảm phát tắt trong tài khoản quốc gia
Phương pháp giảm phát tắt sử dụng các loại chỉ số giá như chỉ số giá PPI,
CPI, xuất khẩu, nhập khẩu, tích luỹ tài sản và thay đổi tồn kho Phương pháp này tránh việc chia bảng sử dụng thành 4 thành phần như phương pháp trên và tận dụng tất cả các chỉ số giá
Phương pháp này dựa trên (1) Việc tính được tổng nguồn và theo đó là tổng
sử dụng theo giá so sánh, (2) Giảm phát chi tiêu cuối cùng để tính được GDP theo giá so sánh theo phương pháp sử dụng cuối cùng, (3) Tính được tiêu dùng trung gian theo giá so sánh là hiệu số giữa (1) và (2) và chỉ số giá ngầm định theo sản phẩm cho tiêu dùng trung gian, và (4) Sử dụng chỉ số giá ngầm định để tính được tiêu dùng trung gian theo ngành kinh tế theo giá so sánh, giá trị tăng thêm theo ngành kinh tế và cuối cùng là GDP theo phương pháp sản xuất
Tính GDP theo giá so sánh bằng phương pháp sản xuất và phương pháp sử dụng, lần lượt qua các bước như sau:
Bước 1: Tính được tổng nguồn giá sử dụng theo giá so sánh
Tổng nguồn theo giá CB
Phí VT
và TN
Thuế trừ trợ cấp sp
Tổng nguồn theo giá SD
(1) (2) (3) (4) (5) (6)
1* Sản phẩm sản xuất trong nước giá cơ bản theo giá so sánh: Giảm phát sản phẩm sản xuất trong nước giá cơ bản theo giá hiện hành bằng chỉ số giá sản xuất
2* Nhập khẩu: Giảm phát nhập khẩu bằng chỉ số giá nhập khẩu