1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xây dựng danh mục dịch vụ trong thương mai quốc tế của việt nam

54 511 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu xây dựng danh mục dịch vụ trong thương mại quốc tế của Việt Nam
Tác giả Trần Thị Hằng
Trường học Viện Khoa Học Thống Kê - Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư
Chuyên ngành Thương mại Quốc tế
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài cấp cơ sở
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của đề tài là xây dựng Danh mục dịch vụ trong thương mại quốc tế của Việt Nam trên cơ sở áp dụng các danh mục chuẩn quốc tế, thực tế phân loại và hoạt động kinh doanh của Việt N

Trang 1

Bộ kế hoạch và đầu tư

Viện khoa học thống kê

Báo cáo tổng kết đề tài cấp cơ sở

Nghiên cứu xây dựng danh mục dịch vụ trongthương mại quốc tế của việt nam

Chủ nhiệm đề tài: ks trần thị hằng

6667

20/11/2007

hà nội - 2007

Trang 2

Lời nói đầu

Những năm gần đây, sự phát triển của hoạt động dịch vụ ở nước ta là khá nhanh, phù hợp với xu hướng chung của thế giới Trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO, hoạt động dịch vụ nói chung và thương mại quốc tế về dịch

vụ nói riêng được Chính phủ xác định là những lĩnh vực mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước những năm tới đây Thực hiện mục tiêu này đòi hỏi các cấp các ngành phải có sự hiểu biết sâu, đánh giá thống nhất về nội dung, phạm vi các lĩnh vực dịch vụ xét trên mọi khía cạnh: quản lý nhà nước, đầu

tư kinh doanh và thực hiện cam kết quốc tế Nói cách khác, việc thống nhất một danh mục dịch vụ trong thương mại quốc tế là hết sức cần thiết, đặc biệt trong điều kiện hiện nay chúng ta chưa có một danh mục riêng biệt đáp ứng các yêu cầu này

Đề tài “Nghiên cứu xây dựng Danh mục dịch vụ trong thương mại quốc tế của Việt Nam” được thực hiện nhằm hướng đến mục tiêu này Đây là đề tài mang tính ứng dụng Mục tiêu của đề tài là xây dựng Danh mục dịch vụ trong thương mại quốc tế của Việt Nam trên cơ sở áp dụng các danh mục chuẩn quốc tế, thực tế phân loại và hoạt động kinh doanh của Việt Nam, nhằm sử dụng thống nhất cho nhiều mục đích

Đề tài đã tiến hành đánh giá nhu cầu sử dụng danh mục, thực trạng phân loại dịch vụ của Việt Nam, nghiên cứu cơ sở lý thuyết và thực tiễn về danh mục dịch

vụ trong thương mại quốc tế Từ đó đề tài đã đề xuất cấu trúc của Danh mục dịch

vụ trong thương mại quốc tế của Việt Nam, các bảng mã tương thích có liên quan

và khuyến nghị về việc hoàn thiện, ban hành, áp dụng danh mục

Trên cơ sở các chuẩn mực quốc tế và thực tiễn Việt Nam, đề tài đã kiến nghị cấu trúc của Danh mục gồm tập hợp 690 các sản phẩm dịch vụ được phân theo 11 ngành dịch vụ Hệ thống mã số của danh mục được thiết kế chi tiết đến 5 chữ số

Đề tài cũng đề xuất hai bảng mã tương thích giữa Danh mục này với Phân loại dịch vụ trong khuôn khổ WTO (Hiệp định GATS) theo 2 chiều tương thích Nội dung cơ bản của 11 ngành dịch vụ cũng được đề xuất trong khuôn khổ của đề tài này Để Danh mục có thể được áp dụng một cách dễ dàng và thống nhất cho các đối tượng sử dụng, đề tài cũng đưa ra kiến nghị về việc tiếp tục hoàn thiện phần giải thích chi tiết cho 690 các sản phẩm dịch vụ, các vấn đề khác liên quan đến

Trang 3

việc ban hành và áp dụng danh mục vào thực tiễn quản lý và thống kê của nước

ta Tuy nhiên vì thời gian có hạn và nhằm đáp ứng trước hết cho các yêu cầu của Chính phủ, phạm vi nghiên cứu của đề tài chưa đi sâu vào việc đề xuất danh mục

áp dụng cho hoạt động thống kê các công ty con (FATS), chi nhánh doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (nghiên cứu này được thực hiện trong chuyên đề số

6 thuộc khuôn khổ của đề tài)

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã tranh thủ ý kiến của nhiều chuyên gia thuộc các Bộ, ngành trong nước, chuyên gia nước ngoài thông qua các cuộc hội thảo, tiếp xúc, trao đổi ý kiến trực tiếp hoặc bằng văn bản góp ý Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các ý kiến tham gia

Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ được tiếp tục hoàn thiện để trình Chính phủ ban hành, đưa Danh mục vào áp dụng trong những năm tới đây

Trang 4

PHẦN I

CƠ SỞ Lí THUYẾT CHO VIỆC XÂY DỰNG DANH MỤC

Trong hai thập kỷ gần đây, cựng với sự phát triển mạnh của khu vực dịch vụ trong toàn bộ nền kinh tế thế giới cũng như xu hướng tự do hoá toàn cầu về thương mại,

đặc biệt đối với lĩnh vực dịch vụ Ngoài các danh mục chuẩn quốc tế phản ánh tổng thể nền kinh tế thế giới, danh mục dịch vụ được quan tâm trên nhiều giác độ, bởi nhiều tổ chức quốc tế dựa trên các nhu cầu sử dụng khác nhau Trong bối cảnh đó, một số danh mục đã ra đời, đáp ứng các yêu cầu sử dụng và hiện tại các danh mục này đang được sử dụng ở phạm vi quốc tế Trong khuôn khổ đề tài này, việc xây dựng Danh mục dịch vụ trong thương mại quốc tế của Việt Nam sử dụng các hướng dẫn chuẩn mực quốc tế về phương pháp thống kê và các danh mục có liên quan dưới đây như là các cơ sở l ý thuyết quan trọng cho việc xây dựng danh mục

1 Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) và Phân loại dịch vụ GNS/W/120

Năm 1991, nhằm đáp ứng yêu cầu đàm phán trong khuôn khổ Tổ chức thương mại thế giới (WTO) về dịch vụ, với kết quả nghiên cứu của nhóm cố vấn các nước thành viên, Ban Thư ký hiệp định GATS đã đưa ra bản ghi nhớ về Phân loại dịch

vụ được gọi tắt là GNS/W/120 Phân loại này đưa ra các nhóm và phân nhóm dịch

vụ có liên quan đến các qui chế dịch vụ của quốc gia để các nước đưa ra cam kết

mở cửa, thâm nhập thị trường theo 4 phương thức cung cấp dịch vụ Vì thế, GNS/W120 có thể được xem như là danh mục đàm phán hơn là danh mục thống

kê Để trợ giúp cho việc mô tả rõ ràng đối với mỗi phân nhóm, GNS/W/120 sử dụng mã số trong phiên bản tạm thời Danh mục sản phẩm chủ yếu, gọi tắt là

PCPC (Liên hợp quốc ban hành 1989)

Phân loại GNS/W/120 của GATS bao gồm 12 nhóm dịch vụ chính:

1 Dịch vụ kinh doanh;

2 Dịch vụ bưu chính viễn thông;

Trang 5

3 Dịch vụ xây dựng và kỹ thuật xây dựng;

4 Dịch vụ phân phối;

5 Dịch vụ giáo dục;

6 Dịch vụ môi trường;

7 Dịch vụ tài chính;

8 Dịch vụ y tế và xã hội;

9 Dịch vụ du lịch và liên quan đến du lịch;

10 Dịch vụ giải trí, văn hoá và thể thao;

11 Dịch vụ vận tải;

12 Các dịch vụ khác chưa được nêu ở trên

Phân loại dịch vụ GNS/W/120 có sự tương thích với các danh mục phân loại như EBOPS, CPC 1.0 và ISIC Rev.3

2 Phân loại dịch vụ mở rộng trong cán cân thanh toán (EBOPS):

Năm 1996, nhằm hỗ trợ hài hoà giữa mục tiêu thống kê và đàm phán trong khuôn khổ GATS, tổ chức OECD và Eurostat - có sự tư vấn của IMF - đã xây dựng một Danh mục dịch vụ trong giao dịch quốc tế giữa đơn vị thường trú và

đơn vị không thường trú Danh mục này chi tiết hơn phân loại dịch vụ được nêu trong Cẩm nang về Cán cân thanh toán quốc tế, xuất bản lần thứ 5 (gọi tắt

là BPM5) cho các quốc gia thành viên sử dụng bằng cách chi tiết hoá thêm một số hạng mục dịch vụ trong 11 ngành dịch vụ theo BPM5:

Trang 6

10 Văn hóa, giải trí, cá nhân

11 Dịch vụ Chính phủ, chưa phân loại vào đâu

EBOPS cũng bao gồm phần mở rộng nhằm cung cấp các thông tin liên quan tới yêu cầu của GATS cũng như rất hữu ích cho các nước trong quá trình thu thập số liệu, phân tích, đánh giá chất lượng thông tin Phần mở rộng này không chỉ giới hạn trong các giao dịch dịch vụ mà còn hàm chứa các thông tin thêm về các giao dịch sẽ được ghi lại (ví dụ phần chi tiết thêm cho dịch vụ du lịch)

So sánh giữa EBOPS và GNS/W/120, có thể thấy rõ: ngoài sự khác biệt về mục đích sử dụng, còn có nhiều sự khác biệt về nội dung tổng thể, mức độ chi tiết, phạm vi như sau:

- Về tổng thể: EBOPS gồm 11 ngành trong khi GATS gồm 12 ngành do trong GNS/W/120, dịch vụ bảo hiểm và tài chớnh được tỏch thành hai

- Về mức độ chi tiết:: toàn bộ 11 ngành dịch vụ theo EBOPS đều chưa đỏp ứng được mức độ chi tiết theo GATS

- Về phạm vi: cú 2 khoản mục dịch vụ mà EBOPS đề cập rộng hơn GATS là: trị giỏ hàng húa mà khỏch du lịch mua khi ra nước ngoài và dịch vụ Chớnh phủ (khụng mang tớnh chất thương mại)

3 Phân loại sản phẩm trung tâm, phiên bản 1.0 (gọi tắt là CPC 1.0)

Phân loại sản phẩm CPC 1.0 là một phần quan trọng trong toàn bộ hệ thống phân loại chuẩn quốc tế các hoạt động kinh tế và sản phẩm (gồm hàng hoá và dịch vụ) Đây là danh mục chuẩn cho tất cả các loại sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, kết quả đầu ra của một hoạt động kinh tế Đối với dịch vụ, CPC 1.0 là cách phân loại quốc tế đầu tiên bao quát tất cả các loại đầu ra của nhiều ngành khác nhau, và nó có thể sử dụng cho nhiều mục đích phân tích số liệu thống kê, nhiều đối tượng sử dụng Ví dụ, CPC phiên bản tạm thời (PCPC)

được sử dụng để chi tiết hoá các loại dịch vụ được dùng trong các cuộc đàm phán của Vòng đàm phán Uruguay liên quan tới GATS Đồng thời, PCPC cũng

được sử dụng để mô tả các ngành dịch vụ trong cán cân thanh toán theo BPM5 Tuy PCPC hiện vẫn được sử dụng làm danh mục nền cho GATS nhưng

Trang 7

vì được xây dựng từ năm 1989, danh mục này đã khá lạc hậu, không phản ánh

đúng sự phát triển của nền kinh tế thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ trong khi đó CPC 1.0 đã phản ánh được phần cơ bản những thay đổi của nền kinh tế thế giới những năm gần đây Vì vậy CPC 1.0 sẽ là bản hướng dẫn để chi tiết hoá việc phân loại trong thương mại dịch vụ quốc tế, phù hợp với khuyến nghị của cuốn Cẩm nang thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ

4 Phân loại chuẩn các hoạt động kinh tế, bản sửa lần 4 (ISIC 4)

ISIC 4 là phân loại chuẩn các hoạt động kinh tế Cùng với chương trình thống nhất các phân loại quốc tế của Liên hợp quốc, các phân loại theo ISIC, bản sửa lần 4 (ban hành 2006) cũng liên quan tới các phân loại theo CPC 1.0 và

sẽ liên quan chặt chẽ hơn với CPC 2.0 sẽ được ban hành trong năm 2007 Một bảng mã tương thích sẽ chỉ ra mối liên hệ giữa khía cạnh hoạt động sản xuất dịch vụ và sản phẩm đầu ra của chúng

5 Cẩm nang thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ” (Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế phối hợp ban hành năm 2002)

Nhằm hỗ trợ các nước xây dựng và hài hoà hệ thống thống kê thương mại dịch

vụ quốc tế, 6 tổ chức quốc tế gồm Liên hợp quốc (UN), ủy ban châu Âu (EC), Qũy tiền tệ quốc tế (IMF), Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), Hội nghị về thương mại và phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD) và Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã phối hợp biên soạn và ban hành lần đầu tiên cuốn Cẩm nang Thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ nhằm khuyến nghị phương pháp luận thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ, các danh mục phân loại ngành dịch vụ trong Cán cân thanh toán, sản phẩm dịch vụ trong đàm phán GATS theo WTO Đây là tài liệu quan trọng, là cơ sở cho việc thực hiện hài hoà quốc tế vì cẩm nang đề xuất mối tương thích giữa phân loại EBOPS và GATS

được thực hiện trên cơ sở cầu nối là Danh mục CPC 1.0

Trang 8

2010, chỉ thị 49/2004/CT-TTg ngày 24/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ xác định cần đặt cao vị trí và vai trò của khu vực dịch vụ; xem ngành dịch vụ là một trong những ngành mũi nhọn để phát triển kinh tế đất nước với các mục tiêu sau:

- Tập trung phát triển các lĩnh vực dịch vụ có tiềm năng như du lịch, bảo hiểm, vận tải hàng không, vận tải biển, kho bãi, chuyển tải, tài chính, ngân hàng, kiểm toán, bưu chính viễn thông, xây dựng, xuất khẩu lao động

- Khuyến khích phát triển dịch vụ mới có sức cạnh tranh cao;

- Đạt tốc độ tăng trưởng dịch vụ giai đoạn 2006 - 2010 cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế; đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu ngành và nội ngành dịch vụ, tăng dần tỷ trọng dịch vụ trong GDP của cả nước, tiến tới đạt khoảng 45% vào năm 2010

Xét trong bối cảnh Việt Nam vừa trở thành thành viên của WTO, các mục tiêu này

được coi là khá hiện thực Nói cách khác, thương mại quốc tế về dịch vụ sẽ là một nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng khu vực dịch vụ nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung

Với thương mại quốc tế về dịch vụ, tuy tăng trưởng không cao và liên tục như mức tăng trưởng của thương mại quốc tế về hàng hóa - mức lưu chuyển bình quân 17,2% thời kỳ 1996 – 2000 và 18,2% thời kỳ 2001 - 2005 nhưng xuất nhập khẩu dịch vụ cũng đạt mức 12,1% tăng trưởng bình quân năm thời kỳ 2000 – 2005

Trang 9

Tăng trưởng xuất nhập khẩu dịch vụ những năm tới đây được kỳ vọng ở mức độ bình quân 15% và sẽ là một trong những động lực chính của tăng trưởng kinh tế trong chiến lược phát triển chung của đất nước

Để đạt mục tiêu trên, Chính phủ đã và đang nghiên cứu, hoạch định chính sách phát triển, thu hút đầu tư, mở cửa thị trường trong nước và tiếp cận thị trường nước ngoài Chính phủ cũng đưa ra định hướng xây dựng chiến lược, chính sách đầu tư cho các lĩnh vực dịch vụ chủ yếu nhằm thống nhất thực hiện ở các cấp các ngành,

từ trung ương đến địa phương Trong bối cảnh đó, nội dung, phạm vi của các ngành, các sản phẩm dịch vụ rất cần được hiểu một cách cụ thể, chi tiết và thống nhất Nói cách khác, một danh mục thống nhất về dịch vụ là rất cần thiết và nên

được coi là công cụ đắc lực trong quá trình đưa kế hoạch, chính sách của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn kinh tế xã hội của đất nước vì nó đáp ứng được các nhu cầu sử dụng cơ bản sau đây:

- Phục vụ yêu cầu kế hoạch hoá, quản lý nhà nướcà

- Đầu tư phát triển dịch vụ và thương mại quốc tế về dịch vụ

- Thống kê xuất nhập khẩu dịch vụ trong cán cân thanh toán quốc tế và thương mại quốc tế về dịch vụ trong đàm phán dịch vụ

- Xác định rõ các sản phẩm dịch vụ trong từng ngành dịch vụ

2 Thực trạng phân loại dịch vụ trong thương mại quốc tế của Việt Nam

Công tác phân loại nói chung và phân loại dịch vụ ở Việt Nam nhìn chung được Tổng cục Thống kê thực hiện trên cơ sở các danh mục chuẩn quốc tế kết hợp với một số điều chỉnh cho thích hợp với điều kiện của Việt Nam Điều này được thể hiện thông qua việc xây dựng và ban hành các danh mục sau:

• Hệ thống ngành kinh tế quốc dân: được ban hành năm 1993 theo Nghị định 75/CP ngày 27/10/1993 của Chính phủ và Quyết định 143TCTK/PPCĐ ngày 22/12/1993 của Tổng cục Trưởng Tổng cục Thống kê Theo hệ thống này, các ngành dịch vụ bao gồm 14 ngành cấp 1

Hệ thống phân ngành này (VSIC) được xây dựng dựa trên ISIC 3 cả về mặt

Trang 10

cho việc tính toán, công bố các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như GDP, giá trị sản lượng các ngàng công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, thương mại Những năm gần đây khi hệ thống đăng ký doanh nghiệp và công tác điều tra phát triển, danh mục này được sử dụng ngày càng rộng rãi, đòi hỏi sự cập nhật bổ sung cho phù hợp với thực tiễn các hoạt động kinh tế của đất nước ở phạm

vi quốc tế, tháng 3 năm 2006, Liên hợp quốc chính thức thông qua và ban hành phiên bản mới ISIC 4 Phiên bản này cũng đã được Tổng cục Thống kê

sử dụng cho việc sửa đổi VSIC, dự kiến trình Chính phủ ban hành vào năm

2007

• Danh mục sản phẩm chủ yếu (VCPC) do Tổng cục Thống kê ban hành năm

1998, được xây dựng dựa trên PCPC (Liên Hợp quốc) và hầu như không có

sự điều chỉnh nào Tuy nhiên vì nhiều lý do, danh mục này còn ít được sử dụng trong thực tiễn thống kê Việt Nam cũng như các mục tiêu khác

• Phân loại dịch vụ trong xuất nhập khẩu: xuất nhập khẩu dịch vụ do Ngân hàng Nhà nước thực hiện trong khuôn khổ cán cân thanh toán quốc tế và

được công bố hàng qúy, năm Trong tổng số 11 ngành dịch vụ, số liệu hiện tại chỉ chi tiết được 5 loại gồm: vận tải, du lịch, bưu chính viễn thông, bảo hiểm, tài chính và dịch vụ Chính phủ, không có chi tiết hơn về các sản phẩm dịch vụ Trong khuôn khổ đàm phán gia nhập WTO, các bộ/ngành của Việt Nam sử dụng phân loại GNS/W/120 để xây dựng, tính toán và đưa ra cam kết mở cửa thị trường cho từng lĩnh vực dịch vụ theo các phương thức cung cấp

Nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước, Chính phủ cũng ban hành một số văn bản có liên quan đến phân loại dịch vụ và nội dung của các phân loại Ví dụ:

- Trong lĩnh vực hàng hải, các dịch vụ hàng hải được qui định trong Nghị định

số 10/2001/CP-NĐ của Chính phủ ngày 19/3/2001 về kinh doanh dịch vụ hàng hải với 9 loại dịch vụ và nội dung chi tiết của từng loại

- Dịch vụ bưu chính viễn thông và nội dung chi tiết của các sản phẩm dịch vụ

được qui định trong Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông ngày 7/6/2002

Trang 11

- Các văn bản khác của Nhà nước, Chính phủ, Bộ ngành có liên quan đến nội dung phân loại dịch vụ: vận tải hàng không, bảo hiểm, ngân hàng

Có thể thấy, hiện tại chúng ta chưa có một danh mục thống nhất và đầy đủ về dịch vụ trong thương mại quốc tế mà đang được qui định một cách phân tán, riêng biệt cho từng ngành dịch vụ trong các văn bản khác nhau Vì vậy nội dung toàn bộ các ngành dịch vụ cũng như từng ngành dịch vụ được các cấp, các ngành hiểu không thống nhất và có sự lẫn lộn về mục tiêu sử dụng của mỗi cách phân loại Thực tế này tất yếu dẫn đến việc các doanh nghiệp, các nhà thống kê, các nhà quản lý , nghiên cứu cũng không có được tiếng nói chung khi đề cập đến tổng thể các ngành dịch vụ hoặc từng lĩnh vực dịch vụ Thực tế này đòi hỏi rất cấp thiết việc nghiên cứu xây dựng một Danh mục dịch vụ trong thương mại quốc tế, được

sử dụng cho nhiều mục tiêu, ở nhiều cấp, ngành quản lý

Những năm gần đõy, thực tế phỏt triển cỏc hoạt động dịch vụ và sản phẩm dịch

vụ trong thương mại quốc tế cũng như yờu cầu kế hoạch húa, quản lý, hội nhập quốc tế, nghiờn cứu đầu tư kinh doanh đang đũi hỏi việc xõy dựng một danh mục dịch vụ trong thương mại quốc tế nhằm thống nhất sử dụng cho nhiều mục đớch Vấn đề này cũng được nờu ra trong chỉ thị 49/2004/CT-TTg ngày 24/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ liên quan tới nhiệm vụ của Tổng cục Thống kê: khẩn trương xây dựng để trình Chính phủ ban hành Danh mục dịch vụ trong thương mại quốc

tế của Việt Nam

Trang 12

Theo tiêu chí này, các sản phẩm dịch vụ có cùng tính chất, đặc điểm, là sản phẩm của cùng một ngành dịch vụ sẽ được xếp vào một phân nhóm có cùng mã

số

Trong một số trường hợp, một sản phẩm dịch vụ được tạo ra bởi các ngành khác nhau sẽ được xếp vào các mã số khác nhau căn cứ vào gốc ngành tạo ra chúng

Nguyên tắc phân loại chi tiết dịch vụ du lịch dựa trên khía cạnh nhu cầu, cụ thể

là dựa vào tiêu chí tính chất các khoản mục chi tiêu của khách du lịch

Trong phần II về cơ sở l ý thuyết cho việc xây dựng danh mục ở trên đã đề cập

đến 2 danh mục: EBOPS và GNS/W/120 là những danh mục có liên quan trực tiếp đến thương mại quốc tế về dịch vụ, với vai trò là các “danh mục chủ” hiện

được sử dụng khá rộng rãi bởi các cơ quan thống kê và các nhà đàm phán ở

Trang 13

đây câu hỏi đặt ra là: cấu trúc Danh mục dịch vụ trong thương mại quốc tế của Việt Nam nên được xây dựng dựa trên “danh mục chủ nào”

Xem xét sự khác biệt giữa EBOPS và GNS/W/120 (nêu ở trên), có thể thấy nên

sử dụng danh mục EBOPS vì những lý do dưới đây:

- Thực hiện khuyến nghị của Cẩm nang được 6 tổ chức quốc tế nhất trớ thụng qua, theo đú EBOPS được khuyến nghị sử dụng từng bước cho cụng tỏc thống kờ tuỳ thuộc điều kiện thực tế mỗi nước EBOPS cũng được cỏc nước ASEAN thống nhất lựa chọn làm danh mục thống kờ dịch

vụ trong thương mại quốc tế của khu vực

- EBOPS được sử dụng cho mục tiờu thống kờ và cú thể hài hũa được với GNS/W/120

- EBOPS cú phạm vi rộng hơn GATS: đề cập cả cỏc giao dịch khụng mang tớnh chất thương mại (vớ dụ: dịch vụ Chớnh phủ)

- EBOPS đỏp ứng được phần lớn yờu cầu về 4 phương thức cung cấp trong GATS, như được chỉ ra ở bảng dưới đõy

So với GATS STT Loại dịch vụ theo BPM5 Phạm vi độ chi tiết P.thức

7 Dịch vụ máy tính và thông tin V X 1,4

8 Giấy phép và bản quyền sở hữu V X 1

9 Dịch vụ kinh doanh khác V X 1,4

10 Dịch vụ cá nhân, văn hoá, giải trí V X 1,4

11 Dịch vụ chính phủ X

Ghi chú: (V) - đáp ứng yêu cầu, (X) – không đáp ứng hoặc đáp ứng một phần Phương thức cung cấp: (1) Cung cấp qua biên giới, (2) Tiêu dùng ở nước ngoài, (3) Hiện diện thương mại, (4) Hiện diện thể nhân

Trang 14

Trong khi đó, GNS/W/120 với mục tiêu sử dụng cho các nhà đàm phán, chỉ những dịch vụ mang tính chất thương mại mới được đưa vào phân loại và vì vậy trong nhiều trường hợp nó không đáp ứng được mục tiêu thống kê

Danh mục dịch vụ trong thương mại quốc tế của Việt Nam gồm tập hợp các sản phẩm dịch vụ được phân theo 11 ngành dịch vụ (trừ dịch vụ du lịch) trong thương mại quốc tế, được mã số chi tiết đến 5 chữ số với mô tả ngành/sản phẩm dịch vụ như sau:

- Mã cấp 1: chỉ loại hoặc ngành dịch vụ, bao gồm 11 loại/ngành dịch vụ được mã từ 1 – 11 theo đúng trật tự trong bảng phân loại dịch vụ của Cán cân thanh toán quốc tế (BPM5):

10 Dịch vụ phục vụ cá nhân, văn hóa, giải trí khác

11 Dịch vụ Chính phủ, chưa phân loại ở đâu

- Mã cấp 2, 3 và 4: được ngăn cách với mã cấp 1 bởi dấu (.), thể hiện phân ngành, tiểu phân ngành hoặc tiểu mục dịch vụ với 39 phân ngành cấp 2, 104 phân ngành cấp 3 và 436 tiểu mục dịch vụ cấp 4

- Mã cấp 5: là các sản phẩm dịch vụ của từng ngành, gồm 690 sản phẩm

2.2 Các ngành dịch vụ đặc thù

Trong 11 ngành dịch vụ, có 2 ngành mà việc phân loại không tuân theo nguyên tăc chung đó là dịch vụ du lịch và dịch vụ xây dựng Điều này xuất phát từ những

đặc thù dưới đây:

Trang 15

• Dịch vụ du lịch: theo qui định về nội dung, phạm vi thống kê xuất nhập

khẩu dịch vụ du lịch, dịch vụ này được hình thành từ sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của rất nhiều ngành sản xuất, được tiêu dùng bởi khách quốc tế khi

họ đến Việt Nam (xuất khẩu) và người Việt Nam ra nước ngoài tiêu dùng tại nước ngoài (nhập khẩu) Chính vì vậy mà không xác định được mối liên hệ

giữa du lịch với các sản phẩm tương ứng trong CPC 1.0 cũng như

GNS/W/120 Hơn nữa như phần trên đã đề cập, tiêu dùng hàng hóa trong dịch vụ du lịch không thuộc mối quan tâm của GATS Tuy nhiên để hình thành tổng thể chung của danh mục dịch vụ, vẫn cần nêu ra các sản phẩm của những ngành chủ yếu đóng góp vào việc tạo ra giá trị xuất, nhập khẩu dịch vụ du lịch Chính vì vậy, dịch vụ du lịch trong danh mục này trước hết

được phân chia theo mục đích du lịch của khách (mã cấp 2 và 3) theo EBOPS, sau đó chi tiết theo cơ cấu chi tiêu của khách du lịch (mã cấp 5) Vì vậy trong 582 sản phẩm dịch vụ cấp 5 bao gồm dịch vụ du lịch được phân loại theo khía cạnh tiêu dùng dịch vụ của từng loại khách du lịch quốc

tế chia theo mục đích du lịch

• Dịch vụ xây dựng: ở mã số cấp 2 dịch vụ xây dựng được tách riêng thành

hai phân nhóm lớn: “Xây dựng ở nước ngoài” và “Xây dựng ở trong nước” theo EBOPS Từ mã số cấp 3 đến cấp 5, tên các sản phẩm dịch vụ xây dựng được chi tiết giống nhau cho cả 2 loại Trong Danh mục sản phẩm CPC bao gồm 2 nhóm sản phẩm ngành xây dựng:

- Nhóm 1 (xây dựng) là các sản phẩm vật chất của hoạt động xây dựng gồm nhà ở, cầu, đường, nhà làm việc ,

- Nhóm 2 (dịch vụ xây dựng) là các sản phẩm dịch vụ xây dựng, một phần đầu vào của sản phẩm nhóm 1

Tuy nhiên mục tiêu của cán cân thanh toán và đàm phán thương mại chỉ đề cập đến các sản phẩm dịch vụ thuộc nhóm 2 và phần này được chi tiết trong cấu trúc danh mục

2.3 Nội dung cơ bản của 11 ngành dịch vụ

Trang 16

• Dịch vụ vận tải

Bao gồm: các hoạt động chuyên chở hành khách, hàng hoá, thuê hoặc cho thuê phương tiện vận tải có kèm theo người điều khiển và nhân viên, các dịch vụ hỗ trợ và dịch vụ liên quan đến vận tải khác; các dịch vụ bưu chính (nhận-trả, vận chuyển và giao thư từ, báo, tạp chí, tờ rơi, các ấn phẩm in khác, bưu kiện, bưu phẩm, kể cả đại lý bưu điện và dịch vụ cho thuê hộp thư thực hiện qua hệ thống bưu chính) và chuyển phát (các hoạt động nhận, vận chuyển thư, bưu phẩm, bưu kiện theo yêu cầu của khách hàng, do các doanh nghiệp chuyển phát thực hiện)

Loại trừ:

- Dịch vụ bảo hiểm vận tải hàng hoá (được tính vào dịch vụ bảo hiểm);

- Hoạt động sửa chữa các thiết bị thuộc hệ thống đường sắt, bến cảng, sân bay

(được tính vào dịch vụ xây dựng);

- Thuê/cho thuê phương tiện vận tải không kèm người điều khiển và nhân viên

(được tính vào dịch vụ cho thuê hoạt động thuộc dịch vụ kinh doanh)

Dịch vụ vận tải được chia theo các phương thức:

- Vận tải đường biển: bao gồm tất cả các dịch vụ vận tải bằng đường biển

- Vận tải hàng không: bao gồm tất cả các dịch vụ vận tải bằng đường hàng không,

kể cả vận tải hành khách quốc tế

- Vận tải đường sắt: bao gồm các hoạt động vận tải bằng tàu hoả

- Vận tải đường bộ: bao gồm hoạt động vận tải hàng hoá quốc tế bằng xe tải, vận chuyển hành khách quốc tế bằng xe chở khách

- Vận tải đường thuỷ nội địa: liên quan đến vận tải quốc tế bằng đường sông, kênh

đào và hồ; kể cả vận tải bằng đường thuỷ nằm trong một quốc gia và đường thuỷ nằm tại hai hoặc nhiều quốc gia

- Vận tải đường ống: bao gồm các hoạt động vận tải hàng hoá quốc tế bằng đường ống, kể cả phí dịch vụ truyền tải điện năng khi quá trình sản xuất và phân phối tách rời nhau Loại trừ: cung cấp điện, cung cấp xăng dầu và các sản phẩm liên quan, nước và các hàng hoá khác qua đường ống; các dịch vụ phân phối điện,

nước, khí đốt và các sản phẩm xăng dầu khác (được tính vào dịch vụ kinh doanh khác)

- Các dịch vụ hỗ trợ vận tải: bao gồm tất cả các loại hình dịch vụ vận tải không thể phân vào một ngành dịch vụ vận tải nào đã nêu ở trên

Trang 17

Dịch vụ du lịch

Bao gồm chủ yếu là các dịch vụ và hàng hóa do khách du lịch, hoặc nhân danh khách du lịch mua hoặc được cung cấp (không phải là quà, tặng phẩm) để sử dụng cho công việc và cho nhu cầu cá nhân

Theo định nghĩa của Tổ chức du lịch thế giới, khách du lịch bao gồm: những người đi nghỉ mát, tham gia vào các hoạt động giải trí và văn hoá, đi thăm bạn bè

và người thân, đi hành hương, đi học tập và chữa bệnh, những người đi ra nước ngoài để công tác, hội họp

Bao gồm dịch vụ bưu chính, chuyển phát và dịch vụ viễn thông

- Dịch vụ viễn thông bao gồm: truyền tải âm thanh, hình ảnh hoặc các dạng thông tin khác qua điện thoại, telex, điện báo, cáp truyền thanh truyền hình, vệ tinh, thư điện tử, fax kể cả dịch vụ mạng kinh doanh, hội nghị qua điện thoại,

và dịch vụ hỗ trợ Loại trừ: giá trị của thông tin được truyền tải

- Ngoài ra, các dịch vụ viễn thông còn bao gồm điện thoại di động, dịch vụ đường internet và dịch vụ kết nối trực tuyến, kể cả cung cấp kết nối vào internet Loại trừ:

- Dịch vụ lắp đặt thiết bị mạng viễn thông (được tính vào dịch vụ xây dựng);

- Dịch vụ cơ sở dữ liệu cũng như các dịch vụ máy tính có liên quan để kết nối và

sử dụng các dữ liệu do máy chủ cơ sở dữ liệu cung cấp (được tính vào dịch vụ máy tính và thông tin)

Dịch vụ xây dựng

Trong thương mại quốc tế, dịch vụ xây dựng được chia ra hai loại:

- Dịch vụ xây dựng thực hiện ở nước ngoài: bao gồm các công việc do người lao

động của một đơn vị thường trú tiến hành tại những địa điểm nằm ngoài lãnh thổ quốc gia của đơn vị đó

Trang 18

- Dịch vụ xây dựng thực hiện ở trong nước (tại Việt Nam): bao gồm dịch vụ xây dựng do đơn vị xây dựng không thường trú cung cấp cho đơn vị thường trú của quốc gia thực hiện thống kê và hàng hóa, dịch vụ do đơn vị xây dựng không thường trú này mua tại quốc gia thực hiện thống kê

Chi phí cho hàng hoá và dịch vụ tại quốc gia sở tại bao gồm chi phí của các đơn vị xây dựng chi cho các hạng mục được cung cấp ở địa phương cũng như chi phí tại quốc gia sở tại của đơn vị xây dựng chi cho hàng hoá và dịch vụ được nhập khẩu vào quốc gia sở tại (hàng hoá và dịch vụ, được sử dụng tại công trường xây dựng)

Các dịch vụ xây dựng bao gồm các loại hàng hoá và dịch vụ tạo thành một phần không thể tách rời của các hợp đồng xây dựng, bao gồm cả công việc dọn dẹp mặt bằng, xây dựng nhà ở, nhà làm việc, xây dựng các công trình kỹ thuật dân dụng, lắp đặt, lắp ráp máy móc cũng như các dịch vụ xây dựng khác như dịch vụ cho thuê các thiết bị xây dựng hoặc các thiết bị tháo dỡ có người điều khiển, dọn dẹp, làm vệ sinh bề mặt công trình Dịch vụ sửa chữa xây dựng cũng được tính vào dịch vụ xây dựng

• Dịch vụ bảo hiểm

Dịch vụ bảo hiểm được chia thành 5 loại:

- Bảo hiểm nhân thọ và quỹ hưu trí

- Bảo hiểm vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu

- Bảo hiểm trực tiếp: bảo hiểm y tế, tai nạn, bảo hiểm tàu thủy, máy bay và phương tiện vận tải khác, bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm du lịch

- Tái bảo hiểm :

- Dịch vụ phụ trợ cho bảo hiểm: các dịch vụ liên quan đến hoạt động bảo hiểm

và quỹ hưu trí Trong đó bao gồm: hoa hồng cho đại lý bảo hiểm, dịch vụ đại lý

và môi giới bảo hiểm, dịch vụ tư vấn bảo hiểm và lương hưu, dịch vụ định giá

và điều chỉnh, dịch vụ thống kê bảo hiểm, dịch vụ quản lý cứu hộ, dịch vụ điều chỉnh và theo dõi các khoản bồi thường và dịch vụ phục hồi

• Dịch vụ tài chính

Trang 19

Bao gồm: các dịch vụ trung gian tài chính và dịch vụ trợ giúp trung gian tài chính, liên quan tới các giao dịch công cụ tài chính cũng như các dịch vụ khác về tài chính như: dịch vụ tư vấn, giám hộ, quản lý tài sản

Loại trừ: các dịch vụ tương tự nhưng do các đơn vị bảo hiểm nhân thọ và các quỹ

lương hưu cung cấp (đưa vào dịch vụ bảo hiểm nhân thọ và quỹ lương hưu) và các

loại hình bảo hiểm khác được thực hiện giữa đơn vị thường trú và đơn vị không thường trú

Dịch vụ tài chính (trừ dịch vụ trung gian tài chính được tính gián tiếp - gọi tắt là FISIM) bao gồm:

- Các khoản hoa hồng và phí tính trực tiếp và gián tiếp liên quan tới các giao dịch tài chính như:

+ Nhận và gửi tiền đặt cọc, kể cả các dịch vụ cho vay cầm cố và không cầm

cố cho các mục đích kinh doanh và cá nhân;

+ Thư tín dụng, chấp nhận của ngân hàng, các dòng tín dụng và các công

cụ tương tự khác;

+ Cho thuê tài chính;

+ Thu mua nợ khó đòi;

+ Các giao dịch tài chính phái sinh;

+ Bảo lãnh phát hành, phát hành riêng, môi giới và mua chứng khoán, kể cả hoa hồng liên quan tới thanh toán cho thu nhập từ chứng khoán;

+ Chuyển các khoản thanh toán

- Dịch vụ tư vấn tài chính;

- Dịch vụ giám hộ các tài sản tài chính hoặc vàng bạc;

- Dịch vụ quản lý tài sản tài chính;

- Dịch vụ sáp nhập và mua lại;

- Dịch vụ tài chính doanh nghiệp và vốn liên doanh;

- Dịch vụ thẻ tín dụng và cấp các loại tín dụng khác;

- Lợi nhuận từ các giao dịch ngoại hối;

- Quản lý thị trường tài chính;

Trang 20

- Khoản phí liên quan tới số d− mở trong khuôn khổ các thoả thuận dự phòng hoặc mở rộng với IMF

- Các dịch vụ bảo hiểm khác;

- Dịch vụ t− vấn phi tài chính do các ngân hàng cung cấp (ví dụ nh− dịch vụ t−

vấn quản lý, (đ−ợc đ−a vào dịch vụ t− vấn kinh doanh, quản lý và quan hệ công cộng);

- Lãi, lỗ kinh doanh chứng khoán và phái sinh tài chính;

Liên quan đến Dịch vụ trung gian tài chính đ−ợc tính gián tiếp (FISIM), cần thống

kê riêng khoản mục này để có thể phục vụ mục tiêu thống kê dịch vụ tài chính theo 2 loại: Dịch vụ tài chính bao gồm FISIM và Dịch vụ tài chính không bao gồm FISIM

• Dịch vụ máy tính và thông tin

o Dịch vụ máy tính: bao gồm các dịch vụ liên quan tới phần cứng và phần mềm và dịch vụ xử lý dữ liệu, trong đó, bao gồm các dịch vụ t− vấn, phần cứng và phần mềm; dịch vụ bảo hành và sửa chữa máy vi tính và các thiết bị ngoại vi; dịch vụ khắc phục sự cố máy tính, t− vấn trợ giúp k ỹ thuật về quản lý

hệ thống máy tính; phân tích, thiết kế và lập trình cho các hệ thống đ−a vào

sử dụng (kể cả xây dựng và thiết kế trang web), và các t− vấn kỹ thuật liên quan tới phần mềm; phát triển, sản xuất, cung cấp tài liệu các phần mềm, kể cả hệ thống điều hành theo đơn đặt hàng; bảo d−ỡng hệ thống và các dịch vụ

hỗ trợ khác, ví dụ đào tạo, tập huấn đ−ợc tính trọn gói theo hợp đồng t− vấn; dịch vụ xử lý dữ liệu ví dụ nh− nhập dữ liệu, lập bảng và xử lý trên cơ sở chia

xẻ thời gian; dịch vụ cho thuê trang web (cung cấp không gian máy chủ trên Internet cho các trang web của khách hàng chủ); quản trị hệ thống máy tính

Trang 21

Loại trừ: cung cấp phần mềm thông dụng (được phân loại là hàng hoá); dịch

vụ đào tạo về máy tính chung chung (được tính vào dịch vụ cá nhân, văn hoá,

và giải trí khác)

o Dịch vụ thông tấn: bao gồm việc cung cấp tin tức, ảnh, và các bài viết trên các phương tiện thông tin, truyền thông

o Các dịch vụ cung cấp thông tin khác bao gồm các dịch vụ cơ sở dữ liệu

như hình thành cơ sở dữ liệu, lưu trữ dữ liệu, phổ biến dữ liệu và cơ sở dữ liệu (kể cả niên giám điện thoại và danh sách địa chỉ nhận thông tin thường xuyên), kể cả trực tuyến và thông qua truyền thanh, truyền hình, và in ấn; các cổng tìm kiếm trang web (dịch vụ công cụ tìm kiếm giúp tìm kiếm các địa chỉ internet cho các khách hàng đánh vào những từ khoá yêu cầu) Trong đó cũng bao gồm các dịch vụ đặt báo và tạp chí trực tiếp, số lượng nhỏ hoặc qua

đường bưu điện, điện tử hoặc các phương tiện khác

Phí bản quyền, cấp phép

o Nhượng quyền thương mại và các quyền tương tự: bao gồm việc thu/chi

các khoản phí giữa đơn vị thường trú và không thường trú về nhượng quyền thương mại và các quyền tương tự để được sử dụng thương hiệu đã đăng ký

o Phí bản quyền và cấp phép khác: bao gồm việc thu/chi giữa đơn vị thường trú và không thường trú về phí để được phép sử dụng các tài sản vô hình, phi sản xuất, phi tài chính và quyền đăng ký độc quyền (bằng phát minh sáng chế, quyền sở hữu, các quy trình và thiết kế công nghiệp) cùng với việc sử dụng, thông qua thỏa thuận cấp bằng, các sản phẩm nguyên bản hoặc nguyên mẫu (ví dụ như bản viết tay, các chương trình máy tính, các tác phẩm quay phim và ghi âm)

Loại trừ:

- Mua hoặc bán hoàn toàn tài sản hoặc các quyền như trên (theo BPM5, nội dung này được ghi lại trong mục giao dịch tài khoản vốn, không phải là dịch vụ)

Trang 22

- Quyền phân phối các sản phẩm nghe nhìn trong một thời gian hạn định

hoặc tại một khu vực giới hạn (được tính vào dịch vụ nghe nhìn và các dịch

vụ liên quan)

• Các dịch vụ kinh doanh khác

o Kinh doanh hàng chuyển khẩu: dịch vụ được thực hiện khi đơn vị thường

trú của Việt Nam mua hàng từ đơn vị không thường trú và sau đó bán lại cho

đơn vị không thường trú của nước thứ ba, hàng hoá không đi vào hoặc rời khỏi Việt Nam Khoản chênh lệch giữa giá trị của hàng hoá khi mua và khi bán chính là giá trị của dịch vụ kinh doanh hàng chuyển khẩu

o Các dịch vụ khác liên quan tới thương mại: bao gồm dịch vụ môi giới, đại

l ý hưởng hoa hồng về giao dịch hàng hoá, dịch vụ giữa đơn vị thường trú và không thường trú, kể cả dịch vụ tổ chức bán đấu giá tàu, thuyền, máy bay và các hàng hóa khác

Loại trừ: phí nhượng quyền thương mại (được tính vào nhượng quyền thương mại và các quyền tương tự), môi giới dịch vụ tài chính (được tính vào dịch vụ tài chính), dịch vụ hỗ trợ vận tải (được tính vào các nội dung tương ứng của dịch

- Dịch vụ thuê/cho thuê tàu thuyền và máy bay kèm tổ lái và nhân viên phục

vụ (được tính vào dịch vụ vận tải)

- Dịch vụ cho khách nước ngoài thuê xe cộ (thuộc dịch vụ du lịch)

Trang 23

o Dịch vụ pháp lý: bao gồm các dịch vụ tư vấn và đại diện pháp luật theo bất

kỳ một thủ tục pháp lý, tố tụng, và thủ tục theo luật định, dịch vụ dự thảo các tài liệu và công cụ pháp lý; tư vấn về cấp giấy chứng nhận; và dịch vụ giao

kèo và hoà giải

o Dịch vụ kế toán, kiểm toán, sổ cái và tư vấn thuế: bao gồm việc ghi chép

các giao dịch thương mại cho các cơ sở kinh doanh và các đối tượng khác; dịch vụ kiểm tra sổ sách kế toán và các bảng báo cáo tài chính; lập kế hoạch

và tư vấn thuế, chuẩn bị các tài liệu thuế

o Dịch vụ tư vấn kinh doanh, tư vấn quản lý và quan hệ công cộng bao gồm các dịch vụ tư vấn, hướng dẫn và hỗ trợ hoạt động cho các cơ sở kinh doanh về chính sách và chiến lược kinh doanh, lập kế hoạch kinh doanh nói chung, xây dựng bộ máy cơ cấu và kiểm soát tổ chức Trong đó có các dịch

vụ tư vấn kiểm toán quản lý; quản lý thị trường, quản lý nguồn nhân lực, quản

lý sản xuất và quản lý dự án; dịch vụ tư vấn, hướng dẫn và vận hành liên quan tới việc cải thiện hình ảnh đối với khách hàng và các mối quan hệ của

khách hàng với công chúng

o Dịch vụ quảng cáo, nghiên cứu thị trường và thăm dò dư luận: bao gồm

việc thiết kế, sáng tác, và tiếp thị các quảng cáo do các đại lý quảng cáo đảm nhiệm; các công việc liên quan tới truyền thông như mua và bán các không gian quảng cáo; dịch vụ triển lãm do các hội chợ thương mại cung cấp; xúc tiến sản phẩm ở nước ngoài; nghiên cứu thị trường; tiếp thị từ xa; thu thập ý

kiến công chúng về nhiều vấn đề khác nhau

o Dịch vụ nghiên cứu và phát triển bao gồm những loại dịch vụ được giao dịch giữa đơn vị thường trú và không thường trú và liên quan tới việc nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, phát triển thử nghiệm các sản phẩm và quy trình mới Nhìn chung, những hoạt động này thuộc các lĩnh vực khoa học vật lý, xã hội và nhân văn, kể cả việc phát triển các hệ thống vận hành những tiến bộ về công nghệ, các dịch vụ nghiên cứu thương mại liên quan tới điện

tử, dược phẩm và công nghệ sinh học Loại trừ: các dịch vụ nghiên cứu và tư

vấn kỹ thuật (thuộc dịch vụ tư vấn kinh doanh, tư vấn quản lý và quan hệ

công cộng)

Trang 24

o Dịch vụ Kiến trúc, kỹ sư và các dịch vụ kỹ thuật khác bao gồm các giao dịch giữa đơn vị thường trú và không thường trú liên quan tới việc thiết kế kiến trúc các dự án đô thị và các dự án phát triển khác; quy hoạch, thiết kế dự án

và giám sát các dự án xây dựng đập, cầu, sân bay, và các dự án theo phương thức chìa khoá trao tay, v.v…; dịch vụ khảo sát; nghiên cứu bản đồ địa chất; thử nghiệm và cấp giấy chứng nhận sản phẩm; và dịch vụ thanh tra kỹ thuật

Loại trừ: kỹ thuật hầm mỏ (thuộc dịch vụ khai thác mỏ)

o Dịch vụ xử lý chất thải và chống ô nhiễm bao gồm việc xử lý các chất thải

phóng xạ và các loại chất thải khác; bóc gỡ đất bị ô nhiễm; dọn dẹp nơi bị ô nhiễm kể cả sự cố tràn dầu; khôi phục các hầm mỏ; dịch vụ chống ô nhiễm

và vệ sinh khác Đồng thời cũng bao gồm tất cả các dịch vụ khác liên quan

tới việc làm sạch, khôi phục môi trường

o Các dịch vụ hỗ trợ trong nông nghiệp, khai thác mỏ và các dịch vụ hỗ

trợ sản xuất, gia công chế biến khác bao gồm:

- Các dịch vụ hỗ trợ cho nông nghiệp như cung cấp máy móc trong nông nghiệp kèm theo người vận hành; thu hoạch, xử lý cây trồng, quản lý dịch hại, nuôi dưỡng và chăm sóc súc vật, dịch vụ nhân giống Ngoài ra còn bao gồm cả các dịch vụ săn bắn, đặt bẫy, lâm nghiệp và khai thác gỗ, và ngư nghiệp

- Dịch vụ hỗ trợ khai thác mỏ được cung cấp tại các mỏ khai thác dầu mỏ, khí đốt, khoáng chất, bao gồm khoan, xây dựng giàn khoan, dịch vụ sửa chữa và tháo dỡ, thấm cácbon cho vỏ bọc của các giếng khai thác dầu và khí đốt, kể cả các dịch vụ tương tự như thăm dò và khai thác khoáng chất cũng như kỹ thuật hầm mỏ và khảo sát địa chất

- Dịch vụ hỗ trợ sản xuất, gia công chế biến khác bao gồm gia công, chế biến hoặc các công việc liên quan tới hàng hoá được nhập khẩu mà không thay đổi chủ sở hữu, được gia công chế biến mà không tái xuất khẩu sang quốc gia nơi mà hàng hoá được chuyển tới (thay vào đó là bán trong nước hoặc bán sang một nước thứ ba) hoặc ngược lại

o Các dịch vụ kinh doanh khác bao gồm các giao dịch dịch vụ giữa đơn vị

thường trú và không thường trú, ví dụ như thu xếp các dịch vụ nhân sự, an

Trang 25

ninh và điều tra, dịch vụ biên dịch và phiên dịch, dịch vụ nhiếp ảnh, làm sạch toà nhà, dịch vụ bất động sản cung cấp cho các cơ sở kinh doanh và các dịch vụ kinh doanh khác chưa được phân loại vào đâu Bao gồm cả các dịch vụ phân phối điện năng, nước, khí đốt và các sản phẩm dầu mỏ khi các sản phẩm này được tách biệt ra khỏi dịch vụ truyền tải (bao gồm trong

dịch vụ vận tải đường ống và truyền tải điện năng)

o Dịch vụ giữa các doanh nghiệp liên quan, chưa được phân loại vào

đâu bao gồm các dịch vụ không được phân vào bất kỳ một ngành dịch vụ

nào khác Phân nhóm này cũng bao gồm các giao dịch giữa các công ty mẹ với các chi nhánh/công ty con/công ty thành viên

• Dịch vụ cá nhân, văn hoá và giải trí

Phần này bao gồm hai nội dung chính: dịch vụ nghe nhìn và dịch vụ liên quan, các dịch vụ cá nhân, văn hoá và giải trí khác

o Dịch vụ nghe nhìn và dịch vụ liên quan bao gồm các dịch vụ liên quan

tới việc sản xuất phim ảnh (bằng phim hoặc băng video), các chương trình truyền thanh và truyền hình (phát sóng trực tiếp hoặc trên băng tần), ghi âm nhạc giữa đơn vị thường trú và không thường trú, mua bán bản quyền phân phối cho giới truyền thông một số lượng hạn chế các lần trình chiếu tại những địa điểm cụ thể; và tiếp cận với các kênh truyền hình mã hóa (ví dụ như dịch vụ truyền hình cáp)

Loại trừ:

- Mua bán phim ảnh, các chương trình truyền hình và truyền thanh, nhạc đã

ghi âm, các tác phẩm âm nhạc và các bản nhạc (được tính vào hàng hóa)

- Mua bán các quyền để biên tập hình ảnh phim và các chương trình truyền

hình (được đưa vào hạng mục bổ sung trong các giao dịch nghe nhìn)

o Dịch vụ cá nhân, văn hoá và giải trí khác bao gồm các dịch vụ liên quan tới viện bảo tàng, thư viện, kho lưu trữ tài liệu, các hoạt động văn hóa, thể thao và giải trí khác Có hai nội dung được xác định riêng rẽ, ngoài mức độ chi tiết như đề xuất của BPM5, để phục vụ cho mục đích của GATS, đó là:

dịch vụ giáo dục và dịch vụ y tế

Trang 26

- Dịch vụ giáo dục: bao gồm các dịch vụ được cung cấp giữa đơn vị thường

trú và không thường trú liên quan tới giáo dục, ví dụ như các khoá học hàm thụ và học qua truyền hình hoặc Internet, cũng như các khoá học có giáo viên – những người cung cấp dịch vụ trực tiếp tại nước có sinh viên theo

học

- Dịch vụ y tế: bao gồm các dịch vụ do các bác sĩ, y tá, các nhân viên y tế

cung cấp, cũng như các dịch vụ phòng thí nghiệm và các dịch vụ tương tự, hoặc từ xa hoặc tại chỗ Loại trừ: các chi phí của khách du lịch chi cho giáo

dục và sức khoẻ (thuộc dịch vụ du lịch)

Các dịch vụ của chính phủ, chưa được phân loại vào đâu

Bao gồm tất cả các giao dịch (về hàng hoá và dịch vụ) của các đại sứ quán, lãnh

sự quán, đơn vị quân sự với đơn vị thường trú Việt Nam (xuất khẩu) và các giao dịch tương tự của các đại sứ quán, lãnh sự quán, đơn vị quân sự của Việt Nam ở nước ngoài với thường trú của nước chủ nhà (nhập khẩu)

Loại trừ: các giao dịch với thường trú của các quốc gia chủ nhà của các đại sứ quán, lãnh sự quán, đơn vị quân sự và cơ quan quốc phòng, các giao dịch với kho

quân nhu, trạm bán hàng cho quân đội với các sứ quán và lãnh sự quán này Dịch vụ này được chia thành các loại dịch vụ mà các sứ quán và lãnh sự quán giao dịch, và các dịch vụ mà các đơn vị, cơ quan quân sự và tất cả những đối

tượng khác giao dịch

Hầu hết các giao dịch trong lĩnh vực dịch vụ này của EBOPS không có trong

GATS Đặc biệt, GATS loại trừ:

- Hàng hoá cung cấp cho hoặc do các đại sứ quán, lãnh sự quán, đơn vị quân

sự, v.v…cung cấp vì GATS chỉ áp dụng đối với các giao dịch dịch vụ mang tớnh chất thương mại

- Các dịch vụ do các đại sứ quán, lãnh sự quán, đơn vị quân sự, v.v… cung cấp vì các dịch vụ này được cung cấp trong phạm vi trách nhiệm của chính phủ

- Các cơ quan chính phủ của các quốc gia khác (kể cả quốc gia sở tại) cung cấp dịch vụ cho các đại sứ quán, lãnh sự quán, đơn vị quân sự, v.v…

Trang 27

II Các bảng mã số tương thích

1 Mục tiêu của việc xây dựng các bảng mã số tương thích

Quá trình xây dựng các danh mục chuẩn quốc tế và danh mục quốc gia về nhiều lĩnh vực đã cho thấy không thể thiếu một nội dung quan trọng là thiết lập các mối quan hệ tương thích của chúng với ít nhất là một danh mục khác Điều này xuất phát từ một thực tế là một hiện tượng kinh tế, xã hội vốn được nhìn nhận trên nhiều giác độ Phân loại dịch vụ trong thương mại quốc tế cũng như vậy khi nó được sử dụng cho nhiều mục đích: quản lý nhà nước, hội nhập quốc tế, đầu tư, kinh doanh và thống kê…

Thiết lập mối quan hệ tương thích giữa các danh mục thực chất là thiết lập sự đồng nhất cho cùng các nội dung hoặc cho các nội dung có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó một số cách phân chia giữa các các danh mục khác nhau có thể là tương tự

Việc xây dựng danh mục dịch vụ trong thương mại quốc tế hướng đến nhiều mục tiêu và vì vậy cũng đòi hỏi phải chỉ ra được những mối quan hệ tương thích nào cần được thiết lập một khi danh mục được đưa vào sử dụng Với mỗi danh mục, đối tượng, tiêu chí và nguyên tắc phân loại là vấn đề cốt lõi, cụ thể với danh mục dịch vụ trong thương mại quốc tế, đối tượng phân loại là các sản phẩm dịch vụ, tiêu chí phân loại là tính chất của các sản phẩm dịch vụ theo ngành tạo ra chúng

Vậy tại sao việc xây dựng và ban hành một danh mục luôn cần đến việc thiết lập các mối quan hệ tương thích với các danh mục có liên quan và cụ thể trong trường hợp của danh mục dịch vụ trong thương mại quốc tế thì lý do cụ thể là gì ?

- Cần đảm bảo rằng danh mục này được dựa trên một danh mục chuẩn quốc tế nhằm sử dụng những thành quả nghiên cứu của nhiều chuyên gia

Ngày đăng: 14/05/2014, 18:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w