1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xác định nội dung thông tin và hoàn thiện công tác cung cấp thông tin thống kê nước ngoài cho các đối tượng sử dụng trong nước

87 419 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu xác định nội dung thông tin và hoàn thiện công tác cung cấp thông tin thống kê nước ngoài cho các đối tượng sử dụng trong nước
Tác giả Cử Nhân Nguyễn Văn Phẩm, Cử Nhân Bùi Ngọc Tân
Trường học Tổng cục Thống kê
Chuyên ngành Thống kê
Thể loại Đề tài cấp cơ sở
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 423,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhu cầu thông tin thống kê nước ngoài của các đối 2- Một số nội dung đã đáp ứng trong thời gian qua về số 3- Nội dung thông tin thống kê nước ngoài cần được phổ Phần thứ hai: Hoàn thiệ

Trang 1

Tổng cục Thống kê

Báo cáo tổng hợp Kết quả nghiên cứu khoa học

Đề tài cấp cơ sở

Đề tài: “Nghiên cứu xác định nội dung thông tin và hoàn thiện công tác cung cấp thông tin thống kê nước ngoài cho các đối tượng sử dụng trong nước”

Đơn vị chủ trì:

Vụ Hợp tác quốc tế

Chủ nhiệm:

Cử nhân Nguyễn Văn Phẩm, Phó Vụ trưởng

Trang 2

Mục lục

Nội dung Trang

Phần thứ nhất: thực trạng hoạt động cung cấp

thông tin thống kê nước ngoài và nội dung cần

phổ biến trong thời gian tới ở TCTK 9

1- Thực tế nhu cầu thông tin thống kê nước ngoài và một

1.2 Nhu cầu của các doanh nghiệp, các cơ sở đào tạo,

1.3 Nhu cầu thông tin thống kê nước ngoài của các đối

2- Một số nội dung đã đáp ứng trong thời gian qua về số

3- Nội dung thông tin thống kê nước ngoài cần được phổ

Phần thứ hai: Hoàn thiện công tác cung cấp

thông tin thống kê nước ngoài, Đề xuất giải

1- Mục đích của công tác biên soạn, phổ biến số liệu nước

ngoài cho các đối tượng sử dụng trong nước 30

2- Một số kinh nghiệm cụ thể của cơ quan thống kê các

Trang 3

4- Cơ sở pháp lý và tính đặc thù của công tác TKNN 34

5- Quan điểm về cách thức tổ chức phổ biến thông tin

6- Hình thức và Công cụ phổ biến thông tin 38

7- Nguồn thông tin thống kê nước ngoài 39

8- Vấn đề chính sách phổ biến số liệu TKNN 40

Các nhà đầu tư, sản xuất kinh doanh, đào tạo, nghiên

cứu, các cơ quan báo chí tuyên truyền và những người

Nội dung phổ biến thông tin thống kê nước ngoài trong

Niên giám thống kê của một số nước trên thế giới 57

Niên giám thống kê Việt Nam của TCTK 60

Trang 4

Nghiên cứu xác định nội dung thông tin và hoàn thiện công tác cung cấp thông tin thống kê nước ngoài cho các đối tượng sử dụng trong nước

Phần mở đầu I- Đặt vấn đề nghiên cứu

Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế, Hợp tác quốc tế (HTQT) là một lĩnh vực hoạt động không những không thể thiếu được, mà ngày càng trở nên vô cùng quan trọng của Nhà nước cũng như của mỗi Bộ, ngành, mỗi cơ quan, đơn vị, cộng đồng trong đó có ngành thống kê nước ta

Hợp tác và chủ động hội nhập quốc tế của ngành thống kê nước ta được thể hiện không những trong lĩnh vực quan hệ quốc tế, mà còn cả trong công tác thống kê nước ngoài Điều này được ghi nhận rõ trong Nghị định

số 101/2003/NĐ-CP ngày 03 tháng 9 năm 2003 của Chính phủ cho phép Tổng cục Thống kê (TCTK) thành lập Vụ HTQT – một Vụ chuyên môn trực thuộc Tổng cục với chức năng làm công tác HTQT như đề xuất, xây dựng, triển khai các văn bản về HTQT của TCTK, làm đầu mối về quan

hệ và hội nhập thống kê quốc tế, quản lý các dự án có yếu tố nước ngoài, thực hiện các thủ tục đối ngoại…, và chức năng phổ biến số liệu thống kê Việt Nam (VN) cho quốc tế, cũng như phổ biến thông tin thống kê nước ngoài cho các đối tượng sử dụng trong nước Quyết định số 639/QĐ-

định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và chế độ làm việc của Vụ HTQT đã thể hiện điều này và nêu cụ thể các chức năng và nhiệm vụ trên

Tại điểm đ) về tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thống kê thuộc mục 4 về các giải pháp thực hiện trong Quyết định số 141/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Định hướng phát triển thống kê Việt nam đến năm 2010, đã ghi: “Chủ động hợp tác với các tổ chức Liên hợp quốc, các tổ chức thống kê quốc tế và các quốc gia nhằm mục đích tiếp cận nhanh chóng với các công nghệ, nghiệp vụ tiên tiến, hiện đại, các chuẩn mực quốc tế, trao đổi kinh nghiệm, tranh thủ sự giúp đỡ về kỹ thuật

và tài chính Đẩy mạnh sự trao đổi trong việc khai thác thông tin thống kê quốc tế nhằm thu nhập số liệu thống kê quốc tế phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu và điều hành trong nước, đảm bảo cung cấp số liệu cho các sản phẩm thống kê quốc tế.”

Với xu thế hội nhập quốc tế đang ăn sâu vào mỗi quốc gia, quan hệ quốc

tế đang được mở rộng sang tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, kể cả khía cạnh chính trị, quân sự, … Việc làm ăn, đầu tư, buôn bán từ nước

Trang 5

nọ sang nước kia ngày càng nhiều, nhu cầu thông tin thống kê nước ngoài của các đối tượng sử dụng ngày càng phát triển không những cả về chiều rộng mà còn về chiều sâu, vừa ngày càng chi tiết với chất lượng cao hơn,

đòi hỏi ngành thống kê phải có các biện pháp đáp ứng

Những năm vừa qua, tuy đã đạt được một số thành tích đáng kể, song việc

đáp ứng thông tin thống kê nước ngoài cho người dùng tin trong nước vẫn còn nhiều hạn chế Các ấn phẩm thống kê nước ta có số liệu thống kê quốc tế còn chưa nhiều, mặc dù nguồn thống kê quốc tế khá phong phú, chúng vẫn chưa được phổ biến rộng rãi trong nước tới người sử dụng,

Xuất phát từ tình hình đó, công tác phổ biến thống kê nước ngoài cần phải

được chấn chỉnh và làm tốt hơn nữa Muốn vậy, cần phải tiến hành nghiên cứu tìm kiếm các biện pháp có tính khoa học chặt chẽ phù hợp với hoàn cảnh cụ thể nước ta, nhu cầu thông tin thống kê nước ngoài của các đối tượng sử dụng ở nước ta, cũng như tìm hiểu kinh nghiệm của cơ quan thống kê các nước trong khu vực và trên thế giới về vấn đề cung cấp thông tin thống kê quốc tế cho các đối tượng sử dụng trong nước của họ

Để làm được điều mong muốn ấy, đề tài nghiên cứu khoa học này được thực hiện theo hai khía cạnh có liên quan mật thiết với nhau:

1 Khía cạnh thứ nhất, nghiên cứu xác định nội dung thông tin thống kê nước ngoài phục vụ các đối tượng sử dụng trong nước;

2 Khía cạnh thứ hai, nghiên cứu hoàn thiện công tác cung cấp thông tin thống kê nước ngoài;

Đây là một đề tài, hay nói đúng hơn, là những vấn đề mang ít tính kỹ thuật hay học thuật tựa như các đề tài xây dựng hệ thống chỉ tiêu, hay nghiên cứu các phương pháp luận tính toán và phân tích Do vậy, các bước nghiên cứu được tiến hành qua một số việc sau đây:

♦ Đối với vấn đề xác định nội dung thông tin, đề tài đã điểm qua nhu cầu thông tin thống kê nước ngoài của các đối tượng sử dụng:

- Nhu cầu của Lãnh đạo Đảng và Nhà nước các cấp;

- Nhu cầu của các doanh nghiệp, các cơ sở đào tạo, nghiên cứu và các đối tượng khác ngoài ngành thống kê;

- Nhu cầu thông tin thống kê nước ngoài của các đối tượng sử dụng là những đơn vị ngay trong nội bộ cơ quan TCTK;

Trang 6

Sau đó xem xét thực tế những nội dung thông tin nước ngoài đã đáp ứng

được như thế nào cho các đối tượng sử dụng thông qua một số kết quả cụ thể mà TCTK đã đạt được từ trước tới nay (Niên giám Thống kê, các ấn phẩm chuyên sâu)

♦ Đối với khía cạnh hoàn thiện công tác đáp ứng thông tin thống kê nước ngoài, vì đây là vấn đề lâu nay chưa có ai nghiên cứu, nên đề tài đã thực hiện các việc:

- Xác định rõ mục đích của công tác biên soạn, phổ biến số liệu nước ngoài cho các đối tượng sử dụng trong nước;

- Nghiên cứu kinh nghiệm cụ thể trong lĩnh vực này của một số cơ quan thống kê các nước khu vực và thế giới thông qua các ý kiến chuyên gia quốc tế và Niên giám Thống kê nước ngoài;

- Phân loại các đối tượng sử dụng số liệu nước ngoài và nhu cầu nội dung thông tin của họ;

- Xem xét cơ sở pháp lý của công tác đáp ứng số liệu thống kê nước ngoài cho các đối tượng dùng tin trong nước, khẳng định đây cũng là hoạt động thống kê theo tiêu chuẩn và định nghĩa nêu ra trong Luật thống kê, cũng như chức năng nhiệm vụ đề ra trong các văn bản pháp quy của Nhà nước;

- Tiến hành nghiên cứu những nét đặc thù của công tác cung cấp thông tin thống kê nước ngoài cho các đối tượng sử dụng trong nước xem nó khác với việc cung cấp thông tin thống kê Việt Nam như thế nào ở TCTK, qua

đó mới có thể đưa ra được phương án tốt nhất phù hợp với điều kiện thực

tế hiện nay để đẩy mạnh công tác này;

- Điểm qua một số quan điểm về cách thức tổ chức phổ biến thông tin thống kê nước ngoài;

- Xem xét các hình thức và công cụ phổ biến thông tin;

- Nghiên cứu tìm kiếm các nguồn thông tin thống kê nước ngoài;

- Phân tích chính sách phổ biến thông tin thống kê nói chung và số liệu thống kê nước ngoài nói riêng;

- Cuối cùng điểm qua một số yêu cầu về nhân lực trong công tác thống kê nước ngoài

Trang 7

♦ Rút ra các kết luận sau quá trình nghiên cứu và đưa ra các kiến nghị trên cơ sở thực tiễn nhu cầu, nội dung, cách tổ chức đáp ứng số liệu nước ngoài của TCTK, đề ra các giải pháp phù hợp với Luật thống kê, với cơ cấu tổ chức của ngành Thống kê, sao cho kết quả tốt nhất theo

đúng chức năng nhiệm vụ trong lĩnh vực HTQT, góp phần vào quá trình chủ động hội nhập theo đường lối phát triển đất nước hiện nay

II- Quá trình nghiên cứu

Với vấn đề được đặt ra như trên, TCTK, Viện Khoa học Thống kê đã cho phép Vụ HTQT chủ trì nghiên cứu đề tài khoa học này, với sự hợp tác hữu hiệu của các Vụ chuyên ngành thông qua trao đổi, phỏng vấn, tìm hiểu các tài liệu liên quan tới quá trình đáp ứng yêu cầu số liệu thống kê nước ngoài đối với các đơn vị đó để đánh giá hiện trạng nội dung và cách thức phổ biến thông tin thống kê nước ngoài cho các đối tượng sử dụng trong nước của Tổng cục

Quá trình nghiên cứu kinh nghiệm đáp ứng số liệu nước ngoài cho các đối tượng trong nước ở cơ quan thống kê quốc gia các nước khác được thực hiện thông qua nghiên cứu các ấn phẩm nước ngoài gửi đến TCTK, đối chiếu so sánh giữa VN và các nước, ngoài ra còn tranh thủ trao đổi vấn đề này với các chuyên gia nước ngoài đến công tác tại TCTK, hay các đợt đi công tác, hội thảo tại nước ngoài của các thành viên nghiên cứu đề tài

Việc phân loại đối tượng trong nước có nhu cầu sử dụng thông tin thống

kê nước ngoài được dựa vào thực tiễn và kinh nghiệm các năm vừa qua ở TCTK, các công văn, thư từ, các bức điện, điện thoại, Fax, e-mail gửi về TCTK qua các kênh khác nhau từ các cơ quan, tổ chức và các nhà doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu ở trong nước, kể cả thường xuyên lẫn đột xuất, cả yêu cầu nhiều lần hay chỉ một lần

Thực trạng về nội dung thông tin được nghiên cứu thông qua các chỉ tiêu thống kê nước ngoài mà các đối tượng trong nước sử dụng yêu cầu TCTK cung cấp từ các nguồn dữ liệu mà chúng ta có thể tiếp cận được, kể cả những thông tin có sẵn cũng như những thông tin phải tính toán biên soạn lại Việc nghiên cứu, đánh giá, tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến tình trạng còn chưa tốt trong việc cung cấp thông tin thống kê nước ngoài cho các đối tượng trong nước được xem xét trên các giác độ:

*/ Nắm bắt nhu cầu thông tin;

*/ Nội dung thông tin (vì có những yêu cầu mà không thể nào đáp ứng

được, ví dụ số liệu về giá thành sản phẩm của các nước );

Trang 8

*/ Nguồn thông tin thống kê nước ngoài;

*/ Cơ chế phổ biến thông tin thống kê nước ngoài hiện nay ở TCTK

Thực trạng về nguồn thông tin được xem xét trên giác độ khả năng mà chúng ta có khả năng tiếp cận được thông qua tất cả các hình thức có thể

Thực trạng về quan điểm phổ biến thông tin thống kê nước ngoài cho các

đối tượng trong nước sử dụng cũng được đề cập qua phân tích những ý kiến, quan điểm của các cán bộ thống kê Tổng cục, có nêu những điểm mạnh, yếu của từng quan điểm

Sau khi nghiên cứu, phân tích những vấn đề đã nêu, đề tài đề xuất các giải pháp xác định nội dung thông tin và hoàn thiện việc cung cấp thông tin thống kê nước ngoài cho các đối tượng sử dụng trong nước nhằm nâng cao hiệu quả HTQT của TCTK

Cuối cùng là kết luận vấn đề đã nghiên cứu và kiến nghị với cơ quan TCTK thực hiện

Báo cáo tổng hợp được viết theo trình tự các nội dung trên, dựa vào 5 Báo cáo chuyên đề được thực hiện trong khuôn khổ của Đề tài nghiên cứu này:

- Chuyên đề 1: Nghiên cứu nhu cầu thông tin thống kê nước ngoài đặt ra trong bối cảnh mới của nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay;

- Chuyên đề 2: Nghiên cứu đánh giá thực trạng của việc đáp ứng thông tin thống kê nước ngoài cho các đối tượng sử dụng trong nước hiện nay, xác

Cuối Báo cáo Tổng hợp có liệt kê danh sách các cán bộ nghiên cứu, một

số tài liệu chủ yếu được dùng tham khảo trong quá trình nghiên cứu và Phụ lục một số nội dung minh hoạ cho các kết quả nghiên cứu

Trang 9

Phần thứ nhất

thực trạng hoạt động cung cấp thông tin thống kê nước ngoài và nội dung cần phổ

biến trong thời gian tới ở TCTK

Thực ra vấn đề cung cấp thông tin TKNN cho các đối tượng sử dụng đã

được thực hiện từ lâu Nhưng bối cảnh của thời kinh tế kế hoạch tập trung trước đây với ngày nay, khi đất nước ta xây dựng nền kinh tế thị trường

định hướng Xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước đã khác Yêu cầu về số liệu TKNN từ phía các cơ quan và tổ chức, các doanh nghiệp, người dân trong nước ngày càng nhiều và đa dạng Các đối tượng sử dụng thông tin TKNN ở Việt Nam cũng ngày càng phong phú

1- Thực tế nhu cầu thông tin thống kê nước ngoài và một số nhận xét, đánh giá

1.1 Nhu cầu của Lãnh đạo Đảng và Nhà nước các cấp

Trong bối cảnh của một nền kinh tế mở cửa, nhất là khi đất nước ta mới

đặt chân vào Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), các cơ quan Đảng, Nhà nước cần có những cơ sở số liệu, nắm bắt tình hình kinh tế - xã hội của các quốc gia, để chủ động hội nhập trong lĩnh vực quản lý của mình với thế giới bên ngoài, làm căn cứ lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước sao cho trong thời gian ngắn nhất có thể bắt kịp được nhịp

độ phát triển chung, lựa chọn các đối tác xứng đáng, đưa ra các quyết sách phù hợp trong đàm phán, thoả thuận, hợp tác để cùng có lợi

Cho tới nay, hiếm khi chúng ta lại gặp được những ai bày tỏ nhu cầu của mình về số liệu TKNN, trừ nhân dịp kỷ niệm 60 năm thành lập ngành Thống kê Việt Nam và TCTK đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh, tạp chí Con số và Sự kiện số 4-2006, tại trang 23, khi trả lời phỏng vấn, Thứ trưởng thường trực Bộ Công nghiệp nêu rõ nhu cầu cần: "… tăng cường HTQT trong lĩnh vực thống kê, chủ động hợp tác với các tổ chức Liên hợp quốc (LHQ), các tổ chức thống kê quốc tế và các quốc gia nhằm mục đích tiếp cận nhanh chóng với các công nghệ, nghiệp vụ tiên tiến, hiện đại, các chuẩn mực quốc tế, trao đổi kinh nghiệm, tranh thủ sự giúp đỡ về kỹ thuật

và tài chính Đẩy mạnh sự trao đổi trong việc khai thác thông tin thống kê quốc tế nhằm thu thập số liệu số liệu thống kê quốc tế phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu và điều hành trong nước, đảm bảo cung cấp số liệu cho các sản phẩm thống kê quốc tế"

Trang 10

1.2 Nhu cầu của các doanh nghiệp, các cơ sở đào tạo, nghiên cứu và các đối tượng khác

Thực tế cho tới nay, ở TCTK, ngành thống kê rất hiếm khi, thậm chí có thể nói là chưa nắm bắt hết được mức độ nhu cầu số liệu thống kê nước ngoài của các doanh nghiệp, chưa thấy các doanh nghiệp thể hiện nhu cầu của mình, có lẽ do các doanh nhân Việt Nam ra làm ăn nước ngoài chưa nhiều, hoặc có thể họ tự kiếm tìm trực tiếp từ các nguồn quốc tế khác nhau, nhất là trong giai đoạn hiện nay, các phương tiện thông tin điện tử,

ví dụ internet, ngày càng phát triển và hiện đại, và cũng có thể là các doanh nghiệp, doanh nhân có nhu cầu nhưng chưa biết đề đạt với ai, với cơ quan nào, mặc dù không dười một lần các phương tiện thông tin đại chúng đã nêu vấn đề này ra, rằng các doanh nghiệp nước ta rất thiếu thông tin về các nước khác

Các cơ sở nghiên cứu và đào tạo thì lại có nhu cầu TKNN rất lớn để phục

vụ các công trình đồ án, so sánh quốc tế, giảng dạy, minh hoạ các chủ đề, bài giảng tại các giảng đường, các viện nghiên cứu, các cơ sở khoa học,

đặc biệt là đội ngũ sinh viên khi thực hiện các đề tài khoa học, chuyên đề học tập, đề án tốt nghiệp, v.v

Qua thực tế các ấn phẩm Niên giám thống kê với chương Thống kê nước ngoài, các quyển sách được biên soạn chuyên về TKNN, như "Số liệu kinh tế - xã hội các nước trên thế giới", "Tư liệu kinh tế các nước ASEAN", … được phát hành nhiều lần với số lượng nhiều bản mỗi đợt

đều tiêu thụ hết trong khoảng thời gian ngắn, cho thấy có thể kết luận rằng nhu cầu TKNN ở nước ta khá cao Những số liệu ấy có thể giúp người sử dụng là các doanh nghiệp có thông tin nắm được tình hình các quốc gia và khu vực bên ngoài, để tiến hành lập các kế hoạch, phương án phát triển sản xuất, tìm kiếm bạn hàng và đối tác thực hiện các hoạt động thuộc nghiệp vụ sản xuất kinh doanh, thu được nhiều lợi nhất với chi phí thấp nhất, đạt được tốc độ phát triển nhanh nhất với điều kiện thực tế hiện

có của mình

Đối với các đối tượng sử dụng thông tin TKNN khác, qua số lượng ấn phẩm phát hành được tương đối lớn, có thể thấy tác dụng thiết thực của việc phổ biến số liệu nước ngoài ở đất nước ta Nguồn số liệu đa dạng và phong phú này đã đem bức tranh kinh tế - xã hội của thế giới đến với quảng đại quần chúng người dân, để họ hiểu thêm bức tranh kinh tế - xã hội của các dân tộc, các quốc gia hay các vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới, để từ đó có thể đối chiếu, so sánh, thấy được vị thế của dân tộc mình trong cộng đồng quốc tế, nhận ra những lĩnh vực đáng tự hào, những lĩnh vực cần phải phấn đấu nhiều hơn nữa để đuổi kịp các nước tiên tiến

Trang 11

hơn Đây cũng là một hình thức, biện pháp nâng cao dân trí, giúp người dùng tin hiểu thêm thế giới bên ngoài

Bưu điện các cấp, kể cả cấp Trung ương lẫn cấp Bưu điện tỉnh, thành phố,

đều cần có thông tin thống kê nước ngoài để trả lời cho khách hàng của Dịch vụ Hỏi - Đáp …

1.3 Nhu cầu thông tin thống kê nước ngoài của các đối tượng sử dụng ngay trong nội bộ cơ quan TCTK

Tại Quyết định số 639/QĐ-TCTK ngày 15-9-2004 của Tổng cục trưởng TCTK về Quy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và chế độ làm việc của

Vụ HTQT có ghi nhiệm vụ 10: Thực hiện công tác thống kê nước ngoài, bao gồm: "… a) Khai thác số liệu thống kê nước ngoài để biên soạn và cung cấp cho Vụ Thống kê tổng hợp, các đơn vị khác trong ngành và các

đối tượng khác theo quy định của TCTK và của pháp luật; …"

Như vậy, các đơn vị trong Tổng cục là những đối tượng sử dụng thông tin TKNN trước tiên và thường xuyên nhất phục vụ cho các hoạt động thuộc chức năng nhiệm vụ của mình ở từng đơn vị

Trước hết, Vụ Thống kê tổng hợp cần số liệu TKNN để đưa vào Niên giám hàng năm, kể cả Niên giám đầy đủ và tóm tắt, đưa vào các báo cáo phân tích định kỳ tình hình kinh tế xã - hội trình Chính phủ và gửi các cơ quan chức năng khác (tháng, quý, 6 tháng, cả năm, 2-3-5-10 năm, …)

Vụ Hệ thống tài khoản quốc gia cần thông tin TKNN phục vụ các báo cáo phân tích tổng hợp của Vụ, để so sánh các chỉ tiêu tương ứng của nước ta với một số nước khu vực và thế giới Có lần các cơ quan Nhà nước yêu cầu Vụ phải giải trình số liệu và phương pháp tính, thì số liệu TKNN lại

được sử dụng làm đối chứng, căn cứ để thuyết phục và làm rõ những hoài nghi của người dùng tin về các số liệu thống kê của nước ta

Các Vụ chuyên ngành khác cần số liệu các nước để đối chiếu, so sánh quốc tế trong các báo cáo phân tích, các công trình nghiên cứu khoa học, làm cơ sở tham khảo để đưa ra các giải pháp và kết luận thích hợp Nhiều

đơn vị còn có những nhu cầu về phương pháp luận, kinh nghiệm điều tra, mẫu ấn phẩm để tham khảo, ví dụ Vụ Tổng hợp những năm trước đây đã cần có mẫu Niên giám của một số cơ quan thống kê quốc gia các nước để cải tiến Niên giám thống kê của Việt Nam; Vụ Phương pháp Chế độ Thống kê cần một số kinh nghiệm trong các phân tổ, trong việc xây dựng chế độ báo cáo, điều tra thống kê; Tạp chí Con số và Sự kiện cần thông tin cho các ấn phẩm thường xuyên …

Trang 12

Thực tế cho thấy, những nhận xét về nhu cầu nêu trên hoàn toàn chỉ xuất phát từ kinh nghiệm thực tế làm lâu năm của các cán bộ TKNN, việc đáp ứng các nhu cầu xuất phát từ những sáng kiến cá nhân hay tập thể mà không theo một quy định hay văn bản nào cả, rồi như "luật bất thành văn", cứ năm sau lại làm theo năm trước với những "cải tiến" mà không

có một cơ sở nào xác nhận ngoài việc các thông tin, ấn phấm được gửi đi rồi khuất bóng phản hồi Thậm chí có những thông tin đem ra phổ biến còn bị ngăn chặn bởi những ý kiến chủ quan, thiếu căn cứ chính đáng, ví

dụ đã có lúc tồn tại quan điểm cho rằng những số liệu mà TCTK không thu thập được thì không nên đưa vào niên giám, ví dụ Chỉ số phát triển con người HDI, Chỉ số nghèo khổ tổng hợp HPI, Chỉ số phát triển liên quan đến giới GDI, Tỷ giá hối đoái, …

Các yêu cầu thông tin TKNN đến từ các cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước thường "đột xuất", đến trực tiếp tới Lãnh đạo Tổng cục, rồi lại chuyển xuống cho Vụ HTQT thực hiện, và có nhiều yêu cầu những thông tin còn tỏ ra "trái khoáy", bất cập, vừa không được quốc tế công bố, vừa không có khả năng thu thập, cập nhật, ví dụ chưa hết năm 2005 đã yêu cầu số liệu quốc tế năm 2005, mà lại yêu cầu số liệu chính thức; hay như yêu cầu số liệu về giá thành sản phẩm trong công nghiệp (gần như một vấn đề phi lý) Với các nước theo kinh tế thị trường tự do, mỗi sản phẩm

đều có nhiều công ty sản xuất, nên cùng một sản phẩm nhưng ở các công

ty khác nhau thì giá thành rất khác nhau Vả lại, giá thành sản phẩm là một trong những thông tin nhậy cảm mà các công ty thường "bảo mật" vì

đó là một trong những yếu tố cạnh tranh Do đó những nhu cầu như vậy thường không được đáp ứng, chẳng thấy cơ quan thống kê quốc gia nào lại thu thập và công bố số liệu đó cả

Một vấn đề nữa thường nảy sinh trong nhu cầu của người sử dụng thông tin TKNN là các số liệu phải được tổng hợp sẵn theo ý đồ của người sử dụng, ví dụ tổng hợp theo ASEAN, APEC, OPEC, OECD, …

Trong các tài liệu “Điều tra biến động dân số và kế hoạch hoá gia đình 1.4 - Những kết quả chủ yếu” hàng năm của Vụ Thống kê Dân số - Lao

động đều có viện dẫn các số liệu TKNN, như mức sinh và mức chết …, để phục vụ cho phân tích, so sánh các chỉ tiêu tương tự của Việt Nam với một số quốc gia lân cận

Tài liệu “Số liệu Dân số, Gia đình và Trẻ em” của Uỷ ban Dân số, Gia

đình và Trẻ em” do Trung tâm thông tin biên soạn cũng đưa hẳn một chương cuối cùng “Số liệu cơ bản các nước ASEAN” để người sử dụng các thông tin thống kê về dân số, gia đình và trẻ em có căn cứ tham khảo,

đối chiếu và so sánh

Trang 13

Niên giám Y tế của Bộ Y tế, do Phòng Thống kê Y tế và Tin học của Bộ này cũng dành hẳn phần cuối cùng của Niên giám cho việc trình bày các

số liệu thống kê nước ngoài, cụ thể là của một số nước châu á, để phục vụ cho nhu cầu so sánh, tham khảo của người dùng tin

2- Một số nội dung đ∙ đáp ứng trong thời gian qua về

Trước hết phải kể tới Niên giám Thống kê (đầy đủ và tóm tắt) Nếu như những năm trước đây, nội dung các chỉ tiêu thống kê nước ngoài đã được

đưa vào Niên giám còn sơ sài, số lượng không nhiều và khối lượng không lớn, thì ngày nay bức tranh đã hoàn toàn khác Số lượng chỉ tiêu nhiều hơn, phong phú hơn Vả lại, nhu cầu TKNN thời bao cấp không cao, ít ai

đòi hỏi, vì có quan điểm lúc đó cho rằng số liệu của chế độ tư bản chỉ để phục vụ cho Chủ nghĩa tư bản, và không cần thiết cho chúng ta Nếu muốn thì cũng không thể so sánh được vì hệ thống kinh tế chính trị của chúng ta theo MPS (Hệ thống các Bảng cân đối kinh tế quốc dân) Thực tế hiện nay, Niên giám Thống kê của TCTK đã phổ biến được khá nhiều số liệu nước ngoài (các quốc gia, vùng lãnh thổ và toàn thế giới) với các chỉ tiêu kinh tế – xã hội khá phong phú và đa dạng

Có ý kiến cho rằng các chỉ tiêu của các nước mà TCTK chưa tính được thì không đưa vào các ấn phẩm công bố Song lại lưu hành rất nhiều ý kiến cho rằng những chỉ tiêu đó rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay, nếu TCTK không công bố thì các cơ quan Đảng và Nhà nước vẫn lấy số liệu

mà các tổ chức quốc tế đã tính ra để đưa vào phân tích chính sách, lập kế hoạch, kể cả để xây dựng chiến lược phát triển, như Chiến lược phát triển Dân số - Gia đình đến 2010 đã sử dụng HDI làm chỉ tiêu phấn đấu, …

Qua đó có thể thấy rằng TCTK cần mau chóng đưa vào kế hoạch tính toán một số những chỉ tiêu quan trọng mà thế giới hay sử dụng để đánh giá, so sánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội các quốc gia, và đồng thời các cơ quan Đảng và Nhà nước ta vẫn thường sử dụng các con số đó để hoạch

định chính sách, chiến lược phát triển

Trang 14

Từ những năm giữa thập niên 1980, TCTK đã đưa thêm phần TKNN vào Niên giám thống kê của mình để phổ biến cho người sử dụng, tuy rằng số chỉ tiêu và nội dung thông tin ít, chủ yếu chỉ tập trung vào dân số, diện tích của các nước và các châu lục trên thế giới, sau đó bổ sung thêm các chỉ tiêu về nhân khẩu học, vì đây là những chỉ tiêu thông dụng trên tất cả các ấn phẩm của các tổ chức quốc tế, dễ tìm kiếm và cũng dễ so sánh quốc tế, còn các chỉ tiêu giá trị khác, thì dù có muốn cũng khó có thể so sánh được vì không tương thích với hệ thống MPS của ta

Nội dung thông tin thống kê nước ngoài trong Niên giám thống kê giữa những năm của thập niên 1980 thường là như sau:

Đầu những năm thập niên 1990, trong Niên giám Thống kê có đưa thêm thông tin của một số quốc gia khu vực châu á - Thái Bình Dương, và đến cuối thập niên này thì có thêm các quốc gia thuốc Hiệp hội các nước

Đông Nam á (ASEAN) Nội dung công bố cũng phong phú, đa dạng, có tính so sánh quốc tế cao hơn

Lần đầu tiên Tổng cục xuất bản Niên giám tóm tắt năm 2000 có chương

Số liệu thống kê nước ngoài, với nội dung thông tin cô đọng nhằm phục

vụ nhanh cho các đối tượng dùng tin Đó là:

- Diện tích, dân số và GNP của thế giới và các châu lục;

- Xuất nhập khẩu của thế giới và các châu lục;

- Dân số giữa năm của một số nước châu á (ASEAN và lân cận);

- Lực lượng lao động của một số nước (ASEAN và các nước lân cận);

Trang 15

- GDP theo giá thực tế và giá so sánh của một số nước (ASEAN và các nước lân cận);

- Tốc độ tăng trưởng GDP của một số nước (ASEAN và lân cận);

- Tỷ giá hối đoái của một số nước (ASEAN và các nước lân cận);

Sang lần xuất bản năm 2005, không còn chương Số liệu thống kê nước ngoài nữa, mà nội dung các chỉ tiêu được lồng ghép vào các phần của số liệu trong nước Một số nội dung thông tin được bổ sung thêm là:

- Tỷ lệ thất nghiệp của một số nước (ASEAN và các nước lân cận);

- Cơ cấu GDP theo giá thực tế của một số nước (ASEAN và lân cận);

- Xếp hạng một số nông sản chủ yếu của các nước ASEAN;

- CPI của một số nước (ASEAN và các nước lân cận);

- Xuất khẩu bình quân đầu người của một số nước (ASEAN và lân cận);

- Tỷ lệ xuất khẩu so với GDP của một số nước (ASEAN và lân cận);

2.1.2 Các tài liệu chuyên thống kê nước ngoài

Ngoài Niên giám hàng năm, còn phải kể tới các ấn phẩm chuyên sâu khác Những năm đầu thập niên 1970, TCTK đã ấn hành Tập san "Thông tin thống kê nước ngoài" mỗi quí một lần, do Phòng Thống kê nước ngoài biên soạn đáp ứng nhu cầu của người dùng tin trong nước Song nội dung thông tin chủ yếu chỉ đề cập tới các vấn đề phương pháp luận, ít thấy số liệu Mà nếu có, thì chủ yếu cũng chỉ liên quan đến thống kê của các nước thuộc khối SEV (Hội đồng tương trợ kinh tế)

Kể từ khi Viện Nghiên cứu khoa học thống kê được thành lập, Phòng Thống kê nước ngoài được chuyển từ vị trí trực thuộc Tổng cục để trở thành một Phòng của Viện khoa học thống kê Viện khoa học thống kê cho ra đời cũng với định kỳ mỗi quý một lần Tập san "Thông tin khoa học thống kê", và Tập san "Thông tin thống kê nước ngoài" chấm dứt tồn tại

để chuyển thành một phần chuyên mục trong Tập san của Viện có tên mới chứa nội dung thông tin thống kê nước ngoài, nhưng chủ yếu vẫn là các vấn đề lý thuyết và phương pháp luận thống kê trên cơ sở kinh nghiệm nước ngoài, đặc biệt là các nước khối SEV

Năm 1989, Viện Khoa học thống kê chủ biên xuất bản cuốn sách "Số liệu kinh tế - xã hội các nước châu á - Thái Bình Dương" Đây là cuốn sách

đầu tiên của Tổng cục phổ biến số liệu TKNN, nhằm góp phần vào công cuộc đổi mới và phục vụ ba chương trình kinh tế lớn của Đảng; trong đó

đặc biệt là đổi mới cơ cấu kinh tế, hợp tác liên doanh liên kết kinh tế và

mở rộng quan hệ đối ngoại trong lĩnh vực kinh tế giữa nước ta với các nước Nội dung thông tin trong cuốn sách này là số liệu về các chỉ tiêu thống kê kinh tế - xã hội của thế giới, các châu lục, các nước phát triển,

Trang 16

các nước đang phát triển, khu vực ESCAP, hầu hết các nước thuộc châu

á, kể cả Việt Nam, vào thời kỳ 1975 - 1987 (có giới thiệu tóm tắt cách tính các chỉ tiêu) Số liệu của các nước đều dựa vào các cuốn Niên giám thống kê của LHQ, số liệu của Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc

tế (IMF), số liệu của các tổ chức khác như FAO, UNFPA, UNESCO và một số nguồn tài liệu khác của các nước Xã hội chủ nghĩa như Liên Xô, Cộng hoà dân chủ Đức, Mông Cổ, … Số liệu của Việt Nam, Mông Cổ, Cu-ba đều đã được biên soạn và tính toán lại cho thống nhất với nội dung chỉ tiêu của các nước khác, đảm bảo tính so sánh quốc tế

Cuốn số liệu thống kê nước ngoài đầu tiên này được phổ biến rộng rãi đến các đối tượng sử dụng và được đánh giá là phong phú, sắp xếp có hệ thống, phản ánh nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, làm cơ sở cho nhiều người hiểu thêm thế giới, giúp cho các nhà nghiên cứu, các tổ chức có hợp tác với nước ngoài có được thông tin, mặc

dù độ chính xác trong số liệu của một số quốc gia và tổ chức quốc tế lúc

đó còn hạn chế, nhiều khi chỉ là số liệu ước tính

Nội dung thông tin thông kê của ấn phẩm số liệu đầu tiên này bao gồm:

- Một số chỉ tiêu tổng hợp của thế giới và ESCAP:

* GDP và GDP bình quân đầu người theo đô la Mỹ;

* Tốc độ tăng trưởng (GDP và GDP bình quân đầu người);

* Chỉ số phát triển sản lượng các khu vực nông nghiệp, công nghiệp;

* Sản lượng ngành năng lượng;

* Tổng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu;

- Dân số - lao động:

* Dân số: mật độ dân số, tỷ lệ nam-nữ, tỷ lệ thành thị-nông thôn; dân số phân theo nhóm tuổi;

* Nhân khẩu học: tỷ lệ sinh, chết, tăng tự nhiên, tuổi thọ bình quân;

* Lao động phân theo ngành kinh tế quốc dân;

- Các chỉ tiêu tổng hợp tài chính - ngân hàng:

* Tổng sản phẩm quốc gia (GNP, GNP bình quân đầu người và Chỉ số phát triển GNP);

* Tổng sản phẩm trong nước GDP (cơ cấu theo ngành, cơ cấu sử dụng);

* Thu chi của Chính phủ (thu, chi, thu thuế, chênh lệch thu-chi);

* Tiền và lãi suất ngân hàng (tỷ lệ phát triển tiền tệ và trái phiếu, tỷ lệ lạm phát, lãi suất tiền gửi và tiền vay ngân hàng);

* Nợ nước ngoài (tổng số và tỷ lệ trên GNP);

* Chỉ số giá tiêu dùng CPI;

* Tỷ giá hối đoái

- Công nghiệp

* Giá trị sản lượng công nghiệp (chỉ số; bình quân đầu người);

Trang 17

+ Khai thác mỏ khác (sản lượng một số quặng kim loại);

+ Sản phẩm luyện kim, chế tạo (gang, thép, máy thu hình, ô tô, …) + Vật liệu xây dựng (xi măng, phân bón, gỗ xẻ, …)

+ Sản phẩm chế biến (giấy, vải, đường mật)

- Nông nghiệp

* Diện tích đất (đất nông nghiệp, đất được tưới tiêu);

* Sử dụng phân hoá học

* Sử dụng máy kéo

* Giá trị sản lượng nông nghiệp (chỉ số phát triển, bình quân đầu người);

* Sản lượng và năng suất một số cây trồng chính;

* Sản lượng một số nông sản vật nuôi chính;

* Cân đối sử dụng lúa mì, lúa nước, lúa mạch, ngô;

* Giá một số nông sản chính (thị trường các nước, bình quân thế giới);

- Giao thông vận tải

* Độ dài các loại đường giao thông và số lượng từng phương tiện vận tải;

* Kết quả hoạt động vận tải hành khách và hàng hoá theo phương tiện;

* Số lượng máy điện thoại, thu thanh, ti vi (tổng số và tính trên 1000 dân);

Tiếp theo tiếng vang và công dụng của cuốn số liệu nước ngoài đầu tiên, tháng 4 năm 1991, Phòng TKNN và HTQT của Tổng cục lại biên soạn và cho xuất bản tiếp cuốn "Những chỉ tiêu chủ yếu các nước châu á - Thái Bình Dương", trong đó cập nhật mới thêm nhiều số liệu, sửa chữa những khiếm khuyết và bổ sung thêm nội dung, số liệu có tính so sánh quốc tế cao hơn, đáp ứng nhu cầu thông tin TKNN đang ngày một nhiều hơn Lần này, ngoài các chỉ tiêu và số liệu tổng hợp chung, cuốn sách còn đưa ra số liệu riêng cho một số nước khu vực, trong đó có Đông Nam á và các quốc gia, lãnh thổ lân cận Một số chỉ tiêu lúc đó còn tỏ ra xa lạ với nền thống

Trang 18

kê nước nhà đều đã được giải thích cặn kẽ Và đây cũng là dịp để các nhà thống kê Việt Nam có cơ hội tiếp cận với hệ thống chỉ tiêu thống kê thế giới Cuốn sách nói chung đã được đánh giá là có tính hội nhập cao, đặc biệt vào lúc TCTK đang tiến hành thử nghiệm áp dụng Hệ thống Tài khoản quốc gia (SNA) của LHQ vào Việt Nam theo Dự án VIE-88/032 do Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tài trợ

Phần I: Số liệu các nước châu á - Thái Bình Dương và toàn thế giới Phần chỉ tiêu tổng hợp chung vẫn giữ một số nội dung như lần xuất bản trước,

nhưng có thêm chỉ tiêu vốn trợ giúp cho các nước đang phát triển (ODA)

Phần II: Số liệu khu vực Đây chính là phần gộp các nội dung mà quyển sách trước đã tách ra riêng biệt Về cơ bản, các chỉ tiêu vẫn như trước, nhưng bổ sung thêm:

- Tiết kiệm trong nước;

- Chỉ số sản lượng của một số ngành công nghiệp cấp II;

- Cơ cấu nhập khẩu theo SITC;

- Cân đối tài khoản vãng lai;

- Chỉ số giá bán buôn, chỉ số giảm phát GDP

- Thời gian ân hạn nợ nước ngoài;

- Các chi tiết của nợ nước ngoài và cho vay phát triển;

- Tiền cho vay của ADB đối với các nước đang phát triển

Nhưng cuốn sách này không cập nhật được các chỉ tiêu dân số và nhân khẩu học (là những chỉ tiêu mà nguồn số liệu của nước ta rất bị thiếu):

* Dân số theo nhóm tuổi

* Các tỷ lệ sinh, chết, tuổi thọ bình quân …

Phần III: Số liệu từng nước Đây là phần mới được bổ sung thêm so với quyển số liệu lần đầu Các nước có số liệu được phổ biến trong tập sách này là: áp-ga-ni-xtan, Băng-la-đét, Bu-tan, Trung Quốc, ĐKHC Hồng Kông (TQ), ấn Độ, In-đô-nê-xi-a, Hàn Quốc, Lào, Ma-lai-xi-a, Mi-an-

ma, Nê-pan, Pa-ki-xtan, Pa-pua Niu Ghi-nê, Phi-lip-pin, Xin-ga-po, Xri Lan-ca, Đài Loan, Thái Lan, Việt Nam Hầu hết là các nước thuộc ASEAN và lân cận

Nội dung các thông tin thông kê của riêng từng nước được lấy từ tài liệu công bố của ADB "Các chỉ tiêu chủ yếu của ADB"

Tháng 2 - 1996, chỉ nửa năm sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ bảy của ASEAN (7-1995), TCTK đã giao cho Vụ Tổng hợp và Thông tin chủ trì biên soạn cuốn "Tư liệu kinh tế bảy nước thành viên ASEAN", nhằm kịp thời đáp ứng nhu cầu cấp thiết về thông tin thống kê các nước ASEAN của người dùng tin lúc đó

Trang 19

Nội dung thông tin trong cuốn sách này khá phong phú, ngoài việc cung cấp nhiều tư liệu quý chuyên về tổ chức và hoạt động của ASEAN còn có

số liệu thống kê từng nước Cuốn sách giới thiệu khái quát về ASEAN: quá trình hình thành và phát triển, cơ cấu tổ chức, nguyên tắc hoạt động chính, vấn đề hợp tác kinh tế, hợp tác chuyên ngành, hợp tác với khu vực tư nhân trong khuôn khổ ASEAN Tài liệu này được phổ biến kịp thời,

được đánh giá là có tính nhậy bén phục vụ cho đông đảo các đối tượng sử dụng với nhiều nội dung thông tin mà trước đó ít người được tiếp cận:

- Phần I: Khái quát về ASEAN

- Phần II: Chân dung kinh tế bảy nước thành viên (cụ thể là Bru-nây;

In-đô-nê-xi-a; Ma-lai-xi-a; Phi-líp-pin; Thái Lan; Việt Nam; Xin-ga-po)

Đối với mỗi nước đều có sự trình bày riêng rẽ 2 mảng nội dung thông tin:

* Mảng thứ nhất được trình bày bằng lời văn giới thiệu các đặc điểm về tự nhiên và khí hậu; dân số và tài nguyên; lịch sử đất nước; tình hình kinh tế tổng quan và thế mạnh về các ngành kinh tế then chốt

* Mảng thứ hai là các bảng biểu thống kê được trình bày theo chuỗi thời gian để người sử dụng có thể theo dõi xu thế phát triển cũng như sự biến

động qua các năm Nội dung các bảng biểu gồm:

1 Một số chỉ tiêu kinh tế – xã hội chủ yếu: dân số chia theo thành nông thôn; IMR; tuổi thọ bình quân; tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế của lực lượng lao động; tỷ lệ người lớn biết chữ; lượng báo chí lưu hành; số máy ti-vi; số máy điện thoại; số bác sỹ; số giường bệnh; tiêu dùng năng lượng; cung cấp ca-lo đầu người một ngày; cung cấp prôtít đầu người một ngày (các chỉ tiêu sau được tính bình quân 1000 dân)

thị-2 Dân số và lao động: dân số; lực lượng lao động; tỷ lệ thất nghiệp

3 Lao động có việc làm phân theo ngành kinh tế quốc dân

4 GNP và thu nhập thuần tuý từ nước ngoài: giá thực tế và giá so sánh

5 GDP và sử dụng GDP, cơ cấu sử dụng GDP: giá thực tế và giá so sánh

6 GDP phân theo ngành ISIC: giá thực tế và giá so sánh

7 Cân đối thu chi ngân sách của Chính phủ: thu, chi, bội thu, bội chi, các biện pháp xử lý (vay trong nước, vay nước ngoài, dùng quỹ phát hành)

8 Thu thường xuyên ngân sách của chính phủ (thuế, ngoài thuế)

9 Chi thường xuyên ngân sách của chính phủ theo ngành chức năng

10 Lãi suất tiền gửi (loại tiết kiệm, 6 tháng, 12 tháng)

11 Cân đối tài khoản vãng lai (cán cân thương mại, thu khác, chuyển nhượng không hoàn lại, tỷ lệ so với GNP, tỷ giá hối đoái bình quân)

12 Dự trữ quốc tế (tổng số, chia ra vàng và hiện vật, ngoại tệ, dự trữ tại IMF, quyền rút đặc biệt)

13 Nợ nước ngoài (tổng số, chia ra dài hạn, ngắn hạn, có bảo lãnh của Nhà nước, không có bảo lãnh)

14 Vốn đầu tư (tổng đầu tư trong nước, tích luỹ quốc gia)

Trang 20

15 Chỉ số giá (CPI, PPI, Chỉ số giảm phát GDP, chỉ số giá lương thực)

16 Nông nghiệp: đất đai, lao động, đất rừng, đất được tưới tiêu, sử dụng phân bón, sử dụng máy kéo

17 Năng suất, sản lượng một số cây trồng chủ yếu

18 Đàn gia súc, gia cầm phân theo vật nuôi

19 Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu

20 Cân đối năng lượng (dầu, khí đốt, điện năng)

21 Ngoại thương: xuất, nhập khẩu, chênh lệch xuất nhập khẩu, khu vực xuất-nhập khẩu chính, xuất, nhập khẩu phân theo SITC

22 Mặt hàng xuất khẩu chính (phân theo mặt hàng)

23 Giao thông vận tải: chiều dài đường giao thông, số lượng phương tiện vận tải, khối lượng vận chuyển và luân chuyển (chia theo các loại hình giao thông vận tải)

24 Bưu điện: số máy điện thoại: tổng số và tính trên 1000 dân

25 Du lịch quốc tế: chia ra số khách quốc tế vào (phân theo châu lục) và người trong nước đi du lịch nước ngoài, doanh thu du lịch

26 Giáo dục-y tế-văn hoá:

- Số trường, học sinh phân theo các cấp học và bình quân 1000 dân;

- Số giường bệnh, bác sỹ (tổng số và tính trên 1000 dân);

- Số tờ, bản báo, ti vi, máy thu thanh (tổng số và tính trên 1000 dân);

27 Dự báo một số chỉ tiêu kinh tế đến năm 2000

Tháng 10 năm 1998, TCTK (Vụ Tổng hợp và Thông tin chủ trì biên soạn)

đã cho ra mắt độc giả tài liệu “Số liệu kinh tế – xã hội các đô thị lớn của Việt Nam và thế giới” Đây là tài liệu có thể nói là duy nhất tính cho đến thời điểm này cung cấp một số thông tin cơ bản về các đô thị lớn ở nước

ta và trên thế giới

Tài liệu được trình bày theo quốc gia từng châu lục, thông tin được cung cấp là những thông tin cơ bản nhất Xét theo thời điểm, thì đây là tài liệu

có ý nghĩa lớn trong bối cảnh chúng ta mới chỉ vừa thoát ra khỏi cơ chế

đóng kín, mới bắt đầu hé mở cánh cửa với thế giới bên ngoài, nên mọi thông tin về thế giới phong phú và đa dạng lúc đó đều là mới mẻ đối với người dùng tin ở nước ta Nội dung tài liệu gồm một số thông tin chủ yếu của các đô thị lớn trên thế giới:

- Điều kiện tự nhiên: Khí hậu (nhiệt độ trung bình, lượng mưa trung bình), diện tích, dân số (dân số theo giới tính), mật độ dân số;

- Thống kê nhân khẩu học: sinh, tử, tăng tự nhiên, IMR, tình trạng hôn nhân (số vụ kết hôn, số vụ ly hôn);

- Giáo dục các cấp: mẫu giáo, phổ thông, đại học (số trường, lớp, giáo viên, học sinh);

- Đào tạo công nhân kỹ thuật (số trường, lớp, giáo viên, học sinh);

- Đào tạo giáo viên (số trường, lớp, giáo viên, học sinh);

Trang 21

- Cơ sở trường chuyên, trường đặc biệt (số trường, lớp, giáo viên, học sinh);

Để đảm bảo tính so sánh quốc tế của các chỉ tiêu kinh tế các quốc gia khác nhau, phục vụ cho việc tổng hợp theo cả khối, việc biên soạn cố gắng đảm bảo nội dung các chỉ tiêu của các quốc gia có cùng một phạm

vi, phương pháp tính, đơn vị tính giống nhau Nếu như có những khác biệt không thể khắc phục được, thì ngay sau chỉ tiêu hoặc cuối mỗi biểu đều

có các chú thích tương ứng Đối với các chỉ tiêu giá trị, nếu không dùng nguyên tệ, thì việc chuyển sang USD đều được thực hiện theo tỷ giá hối

đoái chính thức bình quân năm Nhằm tạo điều kiện thuận tiện trong việc dùng tin, một số chỉ tiêu được tổng hợp số liệu cho cả khối

ấn phẩm "Tư liệu kinh tế các nước thành viên ASEAN" được Vụ Tổng hợp và Thông tin biên soạn tháng 12-2003 đã tạo dấu ấn cho người dùng tin rằng cứ 2 năm sẽ có một bộ số liệu mới được cập nhật và bổ sung Lần xuất bản này có các nội dung mới với bố cục theo ba phần lớn: phần chung, phần xếp hạng và phần các nước thành viên; thứ tự các nước thành viên được sắp xếp thống nhất theo vần chữ cái, riêng Đông Ti-mo mới là quan sát viên nên xếp ở vị trí sau cùng Một số chỉ tiêu của các nước thành viên ASEAN được tính chuyển ra USD đều theo tỷ giá hối đoái của

đồng tiền mỗi nền kinh tế so với USD Nguồn số liệu để biên soạn tài liệu này trước hết dựa vào Niên giám Thống kê của mỗi nước Qua đó thấy nội dung thông tin của tập tài liệu đã được cải tiến nhiều, nhất là phần xếp hạng các quốc gia, tính tỷ trọng của từng quốc gia theo những tiêu thức thống kê khác nhau, tạo thuận lợi cho người sử dụng thấy được vị thế của nước mình và từng nước khác trong khu vực

Ngoài ra, TCTK còn biên soạn cuốn sách "Số liệu kinh tế xã hội các nước

và vùng lãnh thổ trên thế giới" nhằm đem đến cho người sử dụng bức tranh kinh tế - xã hội của tất cả các nước và lãnh thổ, các châu lục trên thế giới Cuốn sách bao gồm những số liệu cơ bản, có hệ thống, phản ánh

Trang 22

điều kiện tự nhiên, diễn biến kinh tế - xã hội của các nước và lãnh thổ với

4 phần chính: (1) Một số chỉ tiêu kinh tế- xã hội tổng hợp; (2) Nông, lâm nghiệp và thủy sản; (3) Công nghiệp; (4) Kinh tế đối ngoại So với lần xuất bản năm 2002, nội dung cuốn sách xuất bản năm 2006 được chỉnh

lý, hoàn thiện và bổ sung thêm nhiều chỉ tiêu kinh tế vĩ mô được tổng hợp theo các châu lục, khu vực, các nhóm quốc gia trên thế giới, đặc biệt nhóm APEC (Diễn đàn Kinh tế châu á - Thái Bình Dương) mà đang được nhiều người quan tâm, phục vụ thiết thực cho năm APEC của Việt Nam

và các đối tượng quan tâm tới Diễn đàn này trước thềm Hội nghị Thượng

đỉnh APEC tổ chức tại nước ta Mặt khác, nội dung cuốn sách cũng đã chú ý cập nhật những thông tin để hình thành dãy số liệu từ năm 1985 đến năm 2004 Cuốn sách này được nhiều người sử dụng

Nhìn lại suốt cả một quá trình, có thể thấy nội dung thông tin TKNN cung cấp thiếu nhất quán, nhiều khi tuỳ thuộc vào một số ý kiến chủ quan Qua tìm hiểu quá trình làm Niên giám và biên soạn số liệu của một số chuyên viên của Vụ Tổng hợp cũng như Phòng TKNN và HTQT trước đây, đã tồn tại quan điểm cho rằng những gì thống kê Việt Nam không có, hoặc TCTK không công bố, thì thông tin tương ứng của nước ngoài cũng không

đưa vào Niên giám, không đưa vào sách, để khỏi bị đánh giá là “ta” kém cỏi hơn các nước, hay e ngại người dùng tin sẽ đưa ra những yêu cầu mà TCTK chưa thể đáp ứng được

2.1.3 Trang web

Mạng LAN GSO-Net của TCTK đã được đưa vào hoạt động từ cuối những năm 90 của thập kỷ trước, song để có được một trang web tương đối hoàn chỉnh như hiện nay thì mới chỉ được khai thác từ năm 2005 Trong chuyên mục “Số liệu thống kê” của trang web này tuy có mục “Thống kê nước ngoài”, nhưng nội dung, nói một cách khách quan, chưa phải đã là phong phú Hiện trong mục này mới có:

- Diện tích, dân số của một số nước và lãnh thổ trên thế giới;

- GDP theo giá thực tế của một số nước và lãnh thổ trên thế giới;

Trang 23

2.1.4 Các tài liệu khác

Ngoài các công cụ phổ biến thông tin nêu trên có chứa số liệu nước ngoài, còn các ấn phẩm khác của TCTK, dù trực tiếp hay gián tiếp, một mặt sử dụng số liệu TKNN, mặt khác lại cũng tham gia vào việc phổ biến TKNN,

ví dụ tạp chí "Con số và sự kiện", tập san "Thông tin khoa học thống kê",

tờ tin "Thông tin tư liệu thống kê" (sử dụng nội bộ), … vẫn thường đăng bài về kinh tế thế giới, trong đó tác giả sử dụng số liệu nước ngoài để phân tích các vấn đề thời sự của kinh tế nước ngoài, thì vô hình trung khi nghiên cứu, người đọc đã có được cơ hội tiếp cận với TKNN Ngay như quyển sổ lịch tết hàng năm của Tạp chí "Con số và sự kiện" có hẳn một phần số liệu từng nước ASEAN, và đó cũng là những nội dung TKNN

được phổ biến cho người sử dụng Nội dung thông tin cụ thể về TKNN của loại ấn phẩm này bao gồm:

- Diện tích;

- Dân số;

- GDP bình quân đầu người;

- Tốc độ tăng GDP;

- Chỉ số phát triển con người HDI;

- Thứ hạng HDI của từng nước trên thế giới

Và có giải thích rõ cách tính, nguồn số liệu cùng một số thông tin bổ ích khác như Thủ đô, ngày Quốc khánh

3 Nội dung thông tin thống kê nước ngoài cần được phổ biến trong thời gian tới

Khi nền kinh tế nước ta càng ngày càng mở rộng cửa để hội nhập với quốc

tế, việc cung cấp TKNN ngày càng được chú trọng, nội dung các thông tin đem phổ biến ngày càng thêm phong phú và đa dạng hơn

Những năm trước đây, thời bao cấp và kế hoạch hoá tập trung, nội dung TKNN trong niên giám còn ít và sơ sài, do nhu cầu không cao, còn có sự phân biệt giữa "thống kê tư bản" và "thống kê xã hội chủ nghĩa" Ngày nay, do nhu cầu ngày càng phát triển, năng lực thống kê qua năm tháng của toàn ngành đã có những tiến bộ vượt bậc, nhiều chỉ tiêu đã được nghiên cứu, tính toán, cả về phương pháp luận soạn thảo lẫn phương pháp thu thập, đều đã và đang theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, việc cung cấp số liệu nước ngoài đạt được những kết quả khả quan với tính so sánh quốc tế đang ngày càng được cải thiện

Qua thực tế đáp ứng số liệu TKNN đã nêu ở phần trên, thấy các chỉ tiêu

đưa ra qua các năm còn thiếu phần ổn định, thiếu tính nhất quán, cho nên cần ổn định nội dung cung cấp

Trang 24

Đề tài nghiên cứu này đề xuất nội dung thông tin TKNN cần được phổ biến một cách ổn định cho tới năm 2010 như sau:

3.1 Niên giám Thống kê:

3.1.1 Niên giám đầy đủ

- Diện tích, dân số và mật độ dân số

- Tỷ lệ sinh, tỷ lệ chết, tỷ lệ tăng tự nhiên và tuổi thọ bình quân

- Tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá thực tế của thế giới

- Tỷ lệ GDP của mỗi nhóm nước so với tổng sản phẩm của thế giới

- GDP theo giá thực tế

- Tốc độ tăng GDP

- GDP theo giá thực tế bình quân đầu người

- GDP theo sức mua tương đương (PPP) bình quân đầu người

- Tỷ trọng của ba khu vực kinh tế trong GDP theo giá thực tế

- Tỷ trọng tiêu dùng cuối cùng trong GDP theo giá thực tế

- Tỷ trọng tích luỹ tài sản trong GDP theo giá thực tế

- Tỷ lệ thu nhập quốc gia (GNI) so với GDP theo giá thực tế

- Tổng dự trữ quốc tế

- Xuất khẩu và nhập khẩu

- Xuất khẩu bình quân đầu người

- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

- Tỷ trọng thu nhập của các nhóm dân cư chiếm trong tổng thu nhập

- Hệ số bất bình đẳng trong thu nhập

- Chỉ số phát triển liên quan đến giới

- Chỉ số vai trò của phụ nữ

- Chỉ số phát triển con người

- Một số chỉ tiêu kinh tế – xã hội của các nước thuộc khối ASEAN và một

số nước trong khu vực (Bru-nây; Căm-pu-chia; In-đô-nê-xi-a; Lào; lai-xi-a; Mi-an-ma; Phi-lip-pin; Thái Lan; Xin-ga-po; Trung Quốc; Hàn Quốc; ấn Độ)

Ma-3.1.2 Niên giám tóm tắt

Để đáp ứng nhanh thông tin cho người sử dụng, nội dung số liệu nước ngoài đưa vào Niên giám tóm tắt cần là những chỉ tiêu chủ yếu và có tính tổng hợp trên tầm vĩ mô nhất của kinh tế các nước trong khu vực và lân cận, nên nội dung đó phải được đưa vào một Chương chuyên TKNN như những năm trước đây, và bao gồm:

- GDP;

- GDP bình quân đầu người;

- Tốc độ tăng trưởng;

- Dân số;

Trang 25

- Tỷ giá hối đoái;

Thông thường người dùng tin, nhất là các nhà lãnh đạo và hoạch định chính sách có nhu cầu cao về các thông tin có tầm vĩ mô, và thứ bậc xếp hạng như trên, mà nguồn thông tin để biên soạn hiện nay khá phong phú,

có thể thực hiện được ngay từ đầu năm kịp đưa vào Niên giám tóm tắt

3.2 ấn phẩm chuyên Thống kê nước ngoài

- Đàn gia súc, gia cầm và sản lượng chăn nuôi;

- Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chính (điện, gỗ, giấy, …);

- Giao thông vận tải: vân chuyển và luân chuyển hành khách và hàng hoá;

- Số lượng phương tiện vận tải theo hình thức vận tải;

- Tổng chiều dài đường bay;

- Số lượng điện thoại, máy Fax, mobiles (tổng số và bình quân 1000 dân);

- Trị giá xuất nhập khẩu;

- Chi đi du lịch ra nước ngoài;

- Doanh thu du lịch nước ngoài;

Phần I: Một số chỉ tiêu kinh tế – xã hội tổng hợp

Trang 26

PhÇn II: N«ng, l©m nghiÖp vµ thuû s¶n

Trang 27

2.11 Diện tích khoai lang

Phần IV: Kinh tế đối ngoại

4.1 Xuất khẩu và nhập khẩu

Ngoài những nội dung hiện có, nên đưa toàn bộ nội dung Chương Thống

kê nước ngoài của Niên giám thống kê vào chuyên mục "Thống kê nước ngoài" của mục "Số liệu thống kê" trong trang web Điều đó nghĩa là ngoài những chỉ tiêu đã có hiện nay trên mạng đã nêu, cần đưa thêm các

Trang 28

chỉ tiêu mà đã được phổ biến sẵn trong Niên giám, phân theo các quốc gia

và lãnh thổ, đó là:

- Tỷ lệ sinh, tỷ lệ chết, tỷ lệ tăng tự nhiên và tuổi thọ bình quân

- Tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá thực tế của thế giới

- Tỷ lệ GDP của mỗi nhóm nước so với tổng sản phẩm của thế giới

- Tỷ trọng của ba khu vực kinh tế trong GDP theo giá thực tế

- Tỷ trọng tiêu dùng cuối cùng trong GDP theo giá thực tế

- Tỷ trọng tích luỹ tài sản trong GDP theo giá thực tế

- Tỷ lệ thu nhập quốc gia (GNI) so với GDP theo giá thực tế

- Tổng dự trữ quốc tế của các nước và vùng lãnh thổ

- Xuất khẩu và nhập khẩu của các nước và vùng lãnh thổ

- Xuất khẩu bình quân đầu người của các nước và vùng lãnh thổ

- Chỉ số giá tiêu dùng CPI của các nước và vùng lãnh thổ

- Tỷ trọng thu nhập của các nhóm dân cư chiếm trong tổng thu nhập

- Hệ số bất bình đẳng trong thu nhập của các nước và vùng lãnh thổ

- Chỉ số phát triển liên quan đến giới của các nước và vùng lãnh thổ

- Chỉ số vai trò của phụ nữ của các nước và vùng lãnh thổ

- Chỉ số phát triển con người của các nước và vùng lãnh thổ

Ngoài ra, nội dung các chỉ tiêu trong các tài liệu chuyên TKNN đã nêu trên cũng cần đưa vào mục này trên mạng để tiện cho người sử dụng truy cập và tìm kiếm

2.3.4 Các tài liệu khác

Phần trên đã trình bày thực trạng của các tài liệu khác cũng tham gia phổ biến TKNN trong một khuôn khổ nhất định Trong thời gian tới (trước mắt có thể là đến năm 2010) nên duy trì các hình thức này, nhưng nên tăng thêm tính ổn định, ví dụ tạp chí "Con số và sự kiện" nên mỗi số dành một phần nhỏ (có thể nửa trang) để phổ biến chuyên số liệu nước ngoài theo chủ đề và lĩnh vực được dự kiến trước, ví dụ tháng này về GDP, tháng khác về dân số, tháng sau nữa về tỷ lệ thất nghiệp, về FDI, v.v

2.3.5 Các Phụ san Thống kê nước ngoài đột xuất

Hình thức phổ biến TKNN này từ trước tới nay chưa có Thông thường hàng năm đều có các đợt kỷ niệm (ví dụ năm 2007 kỷ niệm 40 năm thành lập ASEAN), hay các sự kiện quốc tế quan trọng (ví dụ năm 2006 là năm Việt Nam đăng cai Hội nghị Thượng đỉnh APEC – Việt nam APEC 2006), hoặc có những chủ đề kinh tế quốc tế mà nhiều người quan tâm (ví

dụ các chủ đề về FDI, Hội nhập, ), thì TCTK cần cho ra các ấn phẩm thông tin thích hợp nhằm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng một cách sốt dẻo nhất, thiết thực nhất

Trang 29

Phần thứ hai

Hoàn thiện công tác cung cấp thông tin thống kê nước ngoài, Đề xuất giải pháp

Phần trên đã nghiên cứu, phân tích và trình bày những nhu cầu, nội dung

cụ thể và một số kết quả đạt được trong hoạt động phổ biến thông tin TKNN cho các đối tượng sử dụng trong nước từ trước tới nay, nhất là những năm vừa qua ở TCTK, và đã đi tới kết luận rằng công tác này còn nhiều hạn chế Đồng thời đề tài cũng đề xuất đước nội dung thông tin TKNN cần được phổ biến ổn định cho tới năm 2010

Để khắc phục được những hạn chế trong công tác đáp ứng TKNN, cần tiến hành nghiên cứu hoàn thiện công tác này Đây là một vấn đề mang ít tính kỹ thuật, không giống như những vấn đề xây dựng hệ thống chỉ tiêu hay nghiên cứu phương pháp luận tính toán; đồng thời vấn đề đáp ứng thông tin TKNN cũng là lần đầu tiên được nghiên cứu tới, nên trước hết cần dựng lại toàn bộ "bức tranh" về phổ biển số liệu TKNN ở TCTK từ trước tới nay (điều này đã được thực hiện ở phần trên) Trên cơ sở bức tranh đó, việc hoàn thiện được đề cập tới theo các khía cạnh:

- Phải nhận rõ mục đích của phổ biến thông tin TKNN;

- Phải tìm hiểu kinh nghiệm phổ biến thông tin thống kê nước ngoài của một số cơ quan thống kê quốc gia trên thế giới;

- Cần phân loại các đối tượng sử dụng số liệu nước ngoài và nhu cầu nội dung thông tin của họ;

- Cần bám sát vào cơ sở pháp lý của hoạt động thống kê nước ngoài;

- Phải hiểu rõ tính đặc thù của phổ biến thống kê nước ngoài so với phổ biến thông tin thống kê trong nưóc;

- Cần khẳng định quan điểm và cách thức tổ chức phổ biến thông tin thống kê nước ngoài;

- Xem xét các hình thức và công cụ phổ biến thông tin;

- Nghiên cứu tìm kiếm các nguồn thông tin thống kê nước ngoài;

- Phân tích chính sách phổ biến thông tin thống kê nói chung và số liệu thống kê nước ngoài nói riêng;

Trang 30

- Cuối cùng khẳng định một số yêu cầu về nhân lực trong công tác thống

1) Giúp các doanh nghiệp có thông tin về tình hình các quốc gia và khu vực bên ngoài, tham khảo khi lập các kế hoạch, phương án phát triển sản xuất cho mình, nhất là khi nước ta đang trên ngưỡng cửa bước vào WTO, các doanh nghiệp cần nâng cao khả năng cạnh tranh, tìm kiếm thị trường, tìm kiếm bạn hàng và đối tác thực hiện các hoạt động thuộc nghiệp vụ sản xuất kinh doanh, thu được nhiều lợi nhất với chi phí thấp nhất, đạt được tốc độ phát triển nhanh nhất với điều kiện thực tế hiện có của mình

2) Giúp các cơ quan Đảng, Chính phủ, Nhà nước có được cơ sở số liệu, nắm bắt được tình hình kinh tế - xã hội và xu thế phát triển chung của các quốc gia trên thế giới, để chủ động hội nhập trong lĩnh vực quản lý của từng Bộ ngành với thế giới bên ngoài, làm căn cứ tham khảo trong việc lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Bộ ngành, của đất nước nói chung, sao cho trong thời gian ngắn nhất có thể bắt kịp được với nhịp độ phát triển chung của thế giới, lựa chọn các đối tác xứng đáng, đưa ra các quyết sách phù hợp trong đàm phán, thoả thuận, hợp tác cùng có lợi

3) Giúp các nhà nghiên cứu, các cơ sở đào tạo có được các thông tin thống

kê cần thiết về thế giới bên ngoài để thực hiện việc đào tạo các thế hệ mới, nâng cao nguồn nhân lực cho đất nước, nghiên cứu các công trình có ích cho xã hội trong bối cảnh có sự cạnh tranh gắt gao

4) Giúp quảng đại quần chúng nhân dân có thông tin để hiểu thêm bức tranh kinh tế - xã hội của các dân tộc, các quốc gia hay các vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới, từ đó có thể đối chiếu, so sánh, thấy được vị thế của dân tộc mình trong cộng đồng quốc tế, nhận ra những lĩnh vực đáng

tự hào, những lĩnh vực cần phải phấn đấu đuổi kịp các nước tiên tiến hơn

Đây cũng là một hình thức, biện pháp nâng cao dân trí, giúp người dùng tin hiểu thêm thế giới bên ngoài

5) Giúp các đơn vị trong nội bộ ngành thống kê (trước hết là các đơn vị trong TCTK, sau là các Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung

Trang 31

ương) có được thông tin TKNN để thực hiện các chức năng phân tích, so sánh số liệu các chỉ tiêu của đơn vị mình thu thập, tổng hợp và phân tích với các chỉ tiêu tương ứng của các nước trên thế giới, trước hết là các nước trong khu vực, cũng như số trung bình của thế giới, châu lục, khu vực và một số nhóm nước

6) Phổ biến thông tin TKNN cũng là hình thức hỗ trợ cho các cơ quan thống kê các nước trong việc quảng bá hình ảnh đất nước họ tới nước ta,

để từ đó cơ quan thống kê các nước cũng tăng cường phổ biến thông tin thống kê nước ta, tức là hình ảnh đất nước Việt Nam tới người dân nước

họ, một cách gián tiếp tăng cường tình hữu nghị giữa các dân tộc thực hiện nghĩa vụ hợp tác giữa các cơ quan thống kê quốc gia

2- Một số kinh nghiệm cụ thể của cơ quan thống kê các nước khu vực và thế giới

Do không có điều kiện khảo sát kinh nghiệm thực tế ở nước ngoài, các bài học tham khảo chỉ có thể được thực hiện thông qua các cuộc trao đổi, tìm hiểu khi nói chuyện với các chuyên gia, cố vấn các dự án sang công tác hay dự các hội thảo quốc tế ở nước ta mà chính các thành viên nghiên cứu

đề tài này có dịp tiếp cận, kể cả các cuộc trao đổi tìm hiểu của cán bộ TCTK tham dự hội thảo tổ chức ở các nước khác

Kết quả tìm hiểu cho thấy ý kiến các chuyên gia tập trung vào một số

điểm sau đây:

- Nội dung các chỉ tiêu TKNN trước hết phải xuất phát từ nhu cầu của

đông đảo người sử dụng, mà thường là các chỉ tiêu có tính chất tổng hợp cao trên phạm vi toàn bộ quốc gia, ít khi đi vào chi tiết (trừ những trường hợp theo đơn đặt hàng của những đối tượng có nhu cầu);

- Số liệu nước ngoài được phổ biến là những chỉ tiêu được nhiều người dùng tin quan tâm nhất, dễ kiếm tìm, thu thập và dễ so sánh quốc tế;

- Đối với các nhu cầu cá biệt mang tính chất chi tiết hoặc có độ chuyên môn sâu thì người sử dụng (khách hàng có yêu cầu) phải trả tiền phí dịch

vụ cho cơ quan thống kê, vì cơ quan này phải bỏ công thu thập và biên soạn, tổng hợp;

- Việc phổ biến thông tin TKNN thường đi liền và kèm theo với phổ biến thông tin thống kê quốc gia, đại đa số các nước đều để riêng thành một chương "Thống kê nước ngoài", hay "Thống kê quốc tế", hay chương

"Thống kê so sánh quốc tế" tại phần cuối cùng của Niên giám thống kê

Trang 32

hàng năm Mục đích là để người dùng tin dễ dàng so sánh số liệu trong nước với số liệu nước ngoài mà họ quan tâm;

- Những số liệu nước ngoài phần lớn thuộc các chỉ tiêu mà cơ quan thống

kê quốc gia thu thập được ở nước mình và công bố hàng năm (khi tìm hiểu niên giám thống kê của một số nước, số lượng chỉ tiêu thống kê quốc gia mà các nước có nền thống kê phát triển đưa vào Niên giám thường khá phong phú, đầy đủ, bao quát hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội phát sinh trong cuộc sống)

- Nguồn số liệu chủ yếu để biên soạn TKNN ở các quốc gia là từ cơ sở dữ liệu của cơ quan thống kê LHQ và các tổ chức quốc tế có uy tín

Ngoài ra, một hình thức tìm hiểu kinh nghiệm nước ngoài hữu hiệu khác

là thông qua các ấn phẩm của nước ngoài, trước hết là Niên giám thống kê của các quốc gia trên thế giới được gửi tới nước ta, hoặc các công văn trao

đổi của các cơ quan thống kê các nước khi họ yêu cầu TCTK nước ta cung cấp số liệu để phổ biến cho người dùng tin nước họ (kinh nghiệm và bài học này chúng ta cũng cần quán triệt để thu thập các thông tin cần thiết phổ biến cho các đối tượng dùng tin trong nước, mà qua theo dõi nhiều năm thì cách thức này hầu như chưa được ngành thống kê nước ta thực hiện Trong khi đó cơ quan thống kê quốc gia các nước như Ma-lai-xi-a, Trung Quốc, Nhật Bản là những cơ quan thường xuyên gửi công văn yêu cầu số liệu thống kê Việt Nam để phổ biến cho người dùng tin nước họ)

Nghiên cứu nội dung TKNN trong Niên giám thống kê các nước mà TCTK nhận được hàng năm, thấy:

(8 chỉ tiêu tập trung vào tổng số dân, mật độ dân số, tỷ lệ tăng, sinh, chết, ); Giáo dục (1 chỉ tiêu tỷ lệ dân số biết chữ); Lao động (2 chỉ tiêu là tỷ lệ thất nghiệp và lực lượng lao động); Tranh chấp lao động (3 chỉ tiêu gồm số cuộc và số người đình công, số ngày bị ngừng sản xuất do đình công); Y tế (4 chỉ tiêu liên quan tới bác sỹ, bệnh viện, tỷ

lệ trẻ em chết dưới 1 tuổi IMR); Giao thông liên lạc (5 chỉ tiêu liên quan tới thuê bao máy điện thoại, chiều dài đường bộ, số lượng xe có

động cơ, ); giá cả (1 chỉ tiêu chỉ số giá tiêu dùng CPI); thu nhập (1 chỉ tiêu về GDP bình quân đầu người)

– xã hội của Trung Quốc với các nước khác”: Dân số và lãnh thổ (4 chỉ tiêu về dân số, diện tích, mật độ dân số, tốc độ tăng dân số); Lao

động (1 chỉ tiêu tỷ trọng lao động trong các ngành kinh tế quốc dân); Tài khoản quốc gia (2 chỉ tiêu là GDP và tốc độ tăng trưởng); Kinh tế ngành (2 chỉ tiêu là chỉ số sản xuất công và nông nghiệp); Xếp hạng

Trang 33

(2 chỉ tiêu là thứ bậc các nông sản và sản phẩm công nghiệp chính của Trung Quốc so với các nước trên thế giới); Ngoại thương (2 chỉ tiêu là kim ngạch xuất, nhập khẩu); Cán cân thanh toán (1 chỉ tiêu)

tích, dân số (10 chỉ tiêu về dân số, diện tích, mật độ dân số và tỷ trọng diện tích, dân số so với thế giới, các thành phố lớn trên thế giới, tỷ lệ sinh, sử dụng đất, ); Kinh tế ngành (8 chỉ tiêu liên quan tới nông nghiệp, công nghiệp, năng lượng, tiêu thụ năng lượng); Ngoại thương (6 chỉ tiêu về xuất, nhập khẩu, tài khoản hiện hành, cán cân thanh toán, ); Vận tải (3 chỉ tiêu về phương tiện vận tải); Chỉ số giá tiêu dùng CPI; ODA; chi phí quân sự; tỷ giá hối đoái; tỷ lệ thất nghiệp

So với Niên giám thống kê Việt Nam, trong đó chương “Số liệu thống kê nước ngoài” có 25 chỉ tiêu liên quan tới diện tích, dân số, mật độ dân số,

tỷ lệ sinh, chết, tuổi thọ bình quân, các chỉ tiêu về GDP và GDP bình quân

đầu người, cơ cấu GDP theo khu vực kinh tế và tiêu dùng, GNI, HDI, GDI, GEM, thì thấy, số lượng chỉ tiêu không ít, tương đương với các nước khác, song phạm vi lĩnh vực chủ yếu nghiêng về các chỉ tiêu kinh tế

và GDP nhiều hơn Niên giám nước ta còn đưa thêm số liệu riêng của từng quốc gia ASEAN

3- Phân loại nhu cầu

Nhu cầu thông tin thống kê nước ngoài có thể chia thành loại thường xuyên (định kỳ) và đột xuất

Nhu cầu thường xuyên có thể tạm coi gồm các thông tin được nêu trong chương Thống kê nước ngoài của Niên giám thống kê hàng năm, cả Niên giám đầy đủ và Niên giám tóm tắt, hoặc là các ấn phẩm thống kê nước ngoài được biên soạn và in ấn định kỳ

Nhu cầu không thường xuyên (đột xuất) có thể được kể thông qua những

đòi hỏi đột xuất của các cơ quan Đảng, Chính phủ và Nhà nước, của các

đoàn thể, cá nhân, doanh nghiệp, các cơ sở giáo dục đào tạo, nghiên cứu, học sinh … mà đã nêu ở trên

Thường nhu cầu những thông tin có trong các ấn phẩm chúng ta khó nắm bắt, vì đã có sẵn nên không biết được những ai yêu cầu Do vậy nhu cầu

đột xuất thường xảy ra đối với nội dung những thông tin chưa đem phổ biến, và nhu cầu này là khá lớn

Cho nên, việc nắm bắt nhu cầu từ trước là rất quan trọng để có thể có thời gian tìm kiếm, thu thập và soạn thảo

Trang 34

4- Cơ sở pháp lý và tính đặc thù của công tác TKNN

Ngày 17 – 6 - 2003, tại kỳ họp thứ 13 khoá XI, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật thống kê (Luật số 04/2003/QH11) với lời dẫn nêu rõ mục đích của Luật là "Để nâng cao hiệu quả công tác thống kê, bảo đảm thông tin thống kê trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời phục vụ các cơ quan nhà nước trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân khác"

Để hoàn thiện công tác đáp ứng số liệu nước ngoài, theo các văn bản luật, cần khẳng định công tác TKNN cũng là hoạt động thống kê theo nghĩa

mà Điều 3 của Luật thống kê về giải thích từ ngữ đã ghi rõ: “1 Hoạt động thống kê là điều tra, báo cáo, tổng hợp, phân tích và công bố các thông tin phản ánh bản chất và tính quy luật của các hiện tượng kinh tế-xã hội ”, thì chính soạn thảo số liệu nước ngoài cũng bao trùm lên các hoạt động

đó, nhưng trong công tác TKNN có những nét đặc thù

Mặc dù trong một số văn bản pháp quy, những khía cạnh liên quan tới công tác TKNN hầu như còn mờ nhạt, song Nghị định số 101/2003/NĐ-

CP ngày 03 tháng 9 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của TCTK, Điều 2 đã ghi TCTK có nhiệm vụ: “ 13 Biên soạn và xuất bản niên giám thống kê, các sản

phẩm thống kê khác của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và số

liệu thống kê của nước ngoài; thực hiện so sánh quốc tế về thống kê .”

Trên cơ sở các văn bản đó, TCTK đã thành lập Vụ HTQT theo Quyết định

số 639/QĐ-TCTK của Tổng cục trưởng quy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và chế độ làm việc là:

“Điều 1 (vị trí chức năng): giúp Tổng cục trưởng quản lý, chỉ đạo và tổ chức thực hiện HTQT và thống kê nước ngoài trong phạm vi toàn ngành.”

“Điều 2 (nhiệm vụ): Thực hiện công tác thống kê nước ngoài, bao gồm: a- Khai thác số liệu thống kê nước ngoài để biên soạn và cung cấp cho Vụ Thống kê tổng hợp, các đơn vị khác trong ngành và các đối tượng khác theo quy định của TCTK và của pháp luật;

b- Phổ biến thông tin thống kê Việt Nam cho quốc tế;

c- Thường xuyên thu thập và phổ biến thông tin về hoạt động thống kê quốc tế và kinh nghiệm của các nước trong hoạt động thống kê;

d- Tham gia với các đơn vị Tổng cục về hoạt động so sánh quốc tế.”

Qua các văn bản pháp quy như trên, có thể khẳng định công tác TKNN cũng là hoạt động thống kê với đầy đủ các khâu: thu thập, tổng hợp, phân tích, bảo quản và công bố, song trong mỗi khâu đều có những nét đặc thù

Trang 35

Khâu thu thập trong công tác TKNN khác với thu thập thông tin tại các

đơn vị thống kê chuyên ngành ở chỗ không có chế độ báo cáo, điều tra,

mà phải dựa vào các nguồn thông tin sẵn có của các nước hay các tổ chức quốc tế công bố

Khâu xử lý số liệu nước ngoài gồm các hoạt động thông qua sử dụng các phương pháp thống kê truyền thống như tại các Vụ chuyên ngành, nhưng không có công đoạn thẩm tra số liệu như được thực hiện trong nước, mà mặc nhiên phải tin tưởng và chấp nhận số liệu của thế giới và các nước

Khâu phân tích đối với số liệu nước ngoài từ trước tới nay tại TCTK vẫn chưa thực hiện được nhiều, trừ một số bài báo công bố trên các tạp chí, chưa có công trình nghiên cứu phân tích nào chuyên sâu về tình hình kinh

tế thế giới thông qua con số TKNN Đây cũng là vấn đề cần tăng cường

và đẩy mạnh đối với công tác TKNN

Khâu công bố đã được trình bày ở các phần trên (thông qua Niên giám và các ấn phẩm chuyên, trang web và một số ấn phẩm khác)

Số liệu TKNN cũng được thu thập, xử lý, biên soạn để công bố cho người

sử dụng theo chức năng nhiệm vụ của TCTK, và do đó cũng nhất thiết phải tuân thủ các nguyên tắc chung của số liệu đã ghi nhận trong các văn bản pháp quy, tức là bảo đảm tính trung thực, khách quan, chính xác, đầy

đủ, kịp thời (Điều 4 của Luật thống kê)

Trước hết, muốn đảm bảo tính chính xác, trung thực, khách quan đối với TKNN, thì bên cạnh số liệu công bố phải nêu rõ nguồn, phương pháp xử

lý tổng hợp, cách thức tính toán ước lượng số liệu Đó cũng là hình thức thể hiện sự minh bạch của thông tin thống kê, để người sử dụng nếu cần

có thể xác minh, thẩm tra lại

Muốn đảm bảo tính chất kịp thời, thì phải thu thập số liệu của các nước, vùng lãnh thổ hay các tổ chức quốc tế ngay sau khi chúng xuất hiện trên các phương tiện phổ biến thông tin của họ Khi đó, giá trị thông tin mới

được đề cao, không bị lạc hậu

Bản thân số liệu nước ngoài cũng có những đặc điểm riêng Thông tin TKNN, cũng như thống kê trong nước, đều là sản phẩm của hoạt động thống kê với mục đích làm căn cứ phục vụ cho hoạch định kế hoạch, chiến lược phát triển, phương án sản xuất kinh doanh, lưu trữ làm tư liệu

và hồ sơ, phác hoạ bức ảnh bằng con số về tình hình kinh tế - xã hội của

đất nước để các thế hệ tương lai hiểu rõ lịch sử phát triển, phục vụ cho các công trình nghiên cứu lâu dài

Trang 36

Song quá trình hoạt động để làm ra thông tin thống kê nước ngoài để phổ biến cho người sử dụng trong nước có nhiều đặc thù khác với quá trình sản xuất ra thông tin thống kê trong nước

Trước hết, sự khác biệt thể hiện trong khuôn khổ địa lý của thông tin Thông tin TKNN phản ánh các hiện tượng kinh tế - xã hội xảy ra ở nước ngoài, nằm ngoài phạm vi lãnh thổ hành chính đất nước ta

Thứ hai, thông tin TKNN do các cơ quan thống kê, hay ngoài thống kê, của nước ngoài tiến hành thu thập ban đầu trên phạm vi lãnh thổ của mình

và đã được xử lý, tổng hợp theo những phương pháp luận nhất định, có thể nhất quán, hay không nhất quán, với các tiêu chuẩn quốc tế

Thứ ba, trong quá trình thu thập thông tin TKNN không có một chế độ báo cáo thống kê nào được thiết lập (trên thực tế cũng không thể thiết lập

được) giữa các quốc gia độc lập với nhau, trừ các thiết chế quốc tế có những quy định bắt buộc đối với các quốc gia thành viên, ví dụ IMF, WB, ADB, ASEAN, UNESCAP, UNSD, … Điều này khác với việc thu thập thông tin thống kê trong nước là các thông tin phần lớn đều có chế độ báo cáo do các cơ quan có thẩm quyền Nhà nước quy định, hoặc có thể thực hiện điều tra thống kê theo kế hoạch, mà người trả lời, người cung cấp thông tin ban đầu đều phải thực hiện theo nghĩa vụ công dân hay trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp …

Thứ tư, nguồn thông tin chủ yếu lấy từ các ấn phẩm do quốc tế (nước ngoài, các tổ chức, cơ quan trên thế giới) công bố thông qua các ấn phẩm, hay trang website điện tử trên internet Các thông tin này khi được phổ biến cho các đối tượng sử dụng trong nước, có khi giữ nguyên nếu thấy mọi khía cạnh liên quan tới yêu cầu và chất lượng thông tin đã đảm bảo phù hợp với nhu cầu của người sử dụng, nhưng phần lớn đều phải được chế biến, xử lý lại, vì phạm vi phương pháp luận tính toán, đơn vị đo chưa thống nhất, hoặc nếu nhu cầu của các đối tượng sử dụng cần phải được xử

lý lại thông tin, ví dụ tổng hợp theo các nhóm nước, khối nước, hay tính toán các chỉ tiêu dẫn xuất mà vốn dĩ thông tin ban đầu thu thập được từ các nguồn quốc tế không có sẵn

Thứ năm, các thông tin thống kê trong nước dẫu sao cũng đã có lịch sử 60 năm được sản xuất và công bố cùng với sự hình thành của nền thống kê Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đã theo một nền nếp và khuôn khổ nhất định

dù có thay đổi theo thời gian tương ứng với từng thời kỳ và giai đoạn lịch

sử của đất nước Nhưng thông tin TKNN mới chỉ được quan tâm tới trong một số năm gần đây, chưa có được một nền nếp, quy củ Một cách khách quan có thể nói việc sản xuất và phổ biến TKNN ở nước ta vẫn chỉ theo kiểu tuỳ hứng, thất thường, còn chưa nhận được sự quan tâm đúng tầm với

Trang 37

bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách

và như vậy thì họ có thể cấp, mà cũng có thể không cấp vì nhiều lý do, không có tính chất ràng buộc

Khách quan mà nói, từ xưa tới nay, rất hiếm dịp chúng ta làm công văn xin số liệu nước ngoài, trừ một lần Tổng cục gửi công văn xin Niên giám Thống kê của Bru-nây do Vụ trưởng Vụ Tổng hợp và Thông tin được thừa lệnh ký vào năm 1997, trong khi nước ngoài họ vẫn gửi công văn xin số liệu của nước ta đều đặn Thực ra bản thân chúng ta chưa xác định rõ và

cụ thể xin cái gì, xin để làm gì

5- Quan điểm về cách thức tổ chức phổ biến thông tin thống kê nước ngoài

Thực trạng về cách thức phổ biến số liệu thống kê nước ngoài của TCTK hiện nay cho thấy, tuy đã có những tiến bộ đáng kể, song vẫn thiếu tính

hệ thống, làm hạn chế kết quả cả về tính nhất quán cũng như tính kịp thời

Phần này đề cập tới quan điểm tổ chức cung cấp: tập trung; phân cấp hay kết hợp các hình thức ấy

Quan điểm tập trung ở đây được hiểu theo nghĩa là một đơn vị đứng ra thực hiện toàn bộ các công đoạn thu thập, xử lý, lưu trữ và công bố thông tin thống kê nước ngoài (tựa như Vụ HTQT hiện nay) Ưu điểm của cách thức tổ chức như thế này là tập trung được toàn bộ các khâu hoạt động, dễ phân công công việc, dễ theo dõi quản lý, dẫn tới hiệu quả công tác cao,

dù cho số lượng biên chế không nhiều Nhược điểm của cách tổ chức tập trung là đòi hỏi nhân viên (với số lượng hạn chế) phải có trình độ toàn diện về các mặt chuyên môn và ngoại ngữ, để vừa tiếp cận được với các nguồn thông tin nước ngoài bằng tiếng Anh, vừa hấp thụ ngay được các nội dung thông tin đa dạng theo tất cả các khía cạnh và lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội của thế giới kinh tế thị trường hiện nay thể hiện

Trang 38

trong các con số thống kê (mà các đơn vị chuyên ngành ở Tổng cục không nhất thiết phải có điều kiện này)

Quan điểm phân cấp có nghĩa là để các đơn vị trong Tổng cục có nghĩa vụ thu thập, xử lý và tổng hợp số liệu nước ngoài theo chuyên ngành của đơn

vị mình Nhược điểm của cách này là làm cồng kềnh thêm bộ máy đơn vị,

mà cuối cùng vẫn phải cung cấp số liệu liên quan cho một đầu mối có chức năng tổng hợp chung tất cả các lĩnh vực Như vậy, quan điểm này không có khả năng thực thi

Quan điểm hỗn hợp có nghĩa là kết hợp giữa quan điểm tập trung và quan

điểm phân cấp Ví dụ giao nhiệm vụ cho một đơn vị làm đầu mối nắm bắt nhu cầu thông tin (ví dụ Vụ Tổng hợp hay Trung tâm tư liệu), rồi chuyển những nhu cầu ấy về cho Vụ HTQT thực hiện thu thập, xử lý và tổng hợp, kết quả được gửi trả lại cho đơn vị đầu mối phổ biến Cách thức này cũng giống như quan điểm phân cấp chỉ làm rối thêm luồng thông tin từ đơn vị

nọ sang đơn vị kia, nên không hiệu quả

Tóm lại, so sánh ba quan điểm, việc Vụ HTQT thực hiện toàn bộ công tác HTQT và TKNN (kết hợp cả cung cấp thông tin thống kê Việt Nam cho nước ngoài, và cung cấp số liệu nước ngoài cho người sử dụng trong nước) như hiện nay là tối ưu và hiệu quả hơn cả

6- Hình thức và Công cụ phổ biến thông tin

Trước đây, khi khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin còn ở trình độ phát triển chưa cao ở đất nước ta, chủ yếu công cụ phổ biến thông tin vẫn chỉ là hình thức thông qua ấn phẩm, công văn giấy tờ Hình thức phổ biến

và trao đổi này thường chậm, mất nhiều thời gian, độ tin cậy đôi khi bị hạn chế do các công đoạn nhập tin cơ học từ văn bản này vào văn bản khác, do những sai sót chủ quan và vô tình nhưng thường gặp

Ngày nay, với sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin, các hình thức truyền tin và các vật mang tin điện tử đã phát triển rất mạnh và đạt nhiều thành tựu Việc phổ biến thông tin thống kê bằng biện pháp điện tử đã trở nên thiết thực Các hình thức và vật mang tin điện tử thông dụng hiện nay vẫn là thư điện tử (e-mail), đĩa từ cứng (CD-ROM), đĩa từ mềm (Floppy disk), … Song các tài liệu in ấn vẫn chưa bị mất đi vì trong đó còn bao hàm nhiều ý nghĩa và tính pháp qui cao, dùng trong lưu trữ và truyền bá

Những năm trước đây, do hạn chế về kỹ thuật, công nghệ, trình độ, ngoại ngữ, v.v , các hình thức phổ biến thông tin thống kê nói chung, trong đó

có thông tin TKNN nói riêng, còn thô sơ, hạn chế, đơn điệu

Trang 39

Về mặt khách quan, lúc đó quan điểm chính trị về thông tin thống kê nói chung, TKNN nói riêng, của nền kinh tế đóng cửa đang còn ngự trị trong nhiều đường lối, chính sách Trình độ khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, bưu chính viễn thông, truyền tin … trên thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng còn lạc hậu, chưa phát triển

Về mặt chủ quan, trình độ hiểu biết về thống kê quốc tế của chúng ta chưa

được như ngày nay, nhiều khái niệm, nội dung các chỉ tiêu thống kê "tư bản" chúng ta còn chưa hiểu hết Nền tảng chủ yếu của thống kê kinh tế tổng hợp là Hệ thống Tài khoản quốc gia của LHQ (SNA) tới năm 1993 mới bắt đầu được áp dụng, và cái buổi ban đầu cũng vẫn còn nhiều ý kiến hoài nghi về công dụng và khả năng ứng dụng, thực hiện ở đất nước ta

Trình độ ngoại ngữ, trước hết là trình độ tiếng Anh, của người làm TKNN còn nhiều hạn chế, nên chưa có khả năng đi sâu tìm hiểu và nắm bắt hết

được các thông tin TKNN ngoài được phổ biến rộng rãi trên thế giới

Trong bối cảnh đó, công cụ phổ biến TKNN của Tổng cục tỏ ra nghèo nàn, chủ yếu vẫn chỉ là công văn, giấy tờ, tài liệu in ấn, sách báo

Về vấn đề in sách, có quan điểm cho rằng thời đại ngày nay, với sự phát triển vũ bão của công nghệ thông tin điện tử và viễn thông, tồn tại rất nhiều các trang websites, người ta sẽ lấy thông tin nước ngoài từ Internet,

mà không cần in sách Rõ ràng đây là một quan điểm còn phải xem xét, chưa thể chấp nhận được Theo lối suy nghĩ ấy, thì có lẽ TCTK cũng không cần in Niên giám thống kê hàng năm, mà chỉ cần tung lên mạng internet là đủ !!! Đâu phải ai cũng tiếp cận được tới internet; đâu phải nơi nào, bất cứ thời điểm nào, tại vị trí nào cũng truy cập được internet; đâu phải người nào cũng đủ trình độ ngoại ngữ để đọc và hiểu hết các vấn đề thống kê trên internet Vả lại, số liệu nước ngoài của TCTK đã được chế biến theo khẩu vị của người sử dụng, được thu thập từ nhiều nguồn để rồi tổng hợp theo yêu cầu của người dùng số liệu, như tổng hợp theo các nhóm nước, xếp hạng,

7- nguồn thông tin thống kê nước ngoài

Nguồn chủ yếu làm cơ sở cho chúng ta soạn thảo số liệu TKNN là các ấn phẩm mà chúng ta vẫn nhận được Như vậy, nguồn thông tin phụ thuộc vào vấn đề các ấn phẩm đó có nhận được đều đặn hay không Nhiều ấn phẩm trước đây TCTK vẫn thường xuyên nhận theo định kỳ, ví dụ hàng tháng đều nhận được International Financial Statistics của IMF, nhưng đã hơn một năm nay chúng ta không nhận được Các Niên giám Thống kê của LHQ, FAO, ILO, … cũng không thấy gửi về đều kỳ như trước

Trang 40

Một nguồn mà không thể nào bỏ qua được hiện nay, đó là các mạng Internet của các cơ quan thống kê quốc tế và các quốc gia Điều khó khăn

là các mạng này không đủ số liệu như trong ấn phẩm, không được tổng hợp sẵn, và điều quan trọng nhất cản trở chúng ta là sự đòi hỏi kinh phí từ phía người cấp tin, mà theo cơ chế của Việt Nam, đây là vấn đề không

đơn giản khi đề cập

Một khó khăn không nhỏ khi truy cập tới các nguồn tư liệu là các nguồn khác nhau lại đưa ra các số liệu khác nhau, đòi hỏi người soạn thảo phải biết chọn lọc, xử lý để đưa ra một con số hợp lý, nhất quán

Một khó khăn nữa vẫn xảy ra có tính muôn thuở là tính chất kịp thời của

số liệu nước ngoài Số liệu các nước khi đã đưa lên mạng của các tổ chức quốc tế thì thường chậm 2-3 năm, mà yêu cầu của người dùng tin lại muốn số liệu của năm hiện hành, nên chẳng mấy khi đáp ứng nổi

Còn một nguồn khác nữa có thể được hình thành thông qua trao đổi công văn với cơ quan thống kê các quốc gia đề nghị cung cấp số liệu Đây là cách thức tạo nguồn thông tin với độ tin cậy cao nhất, nhưng nhược điểm

là không phải khi nào cũng có sự phản hồi, hoặc sự phản hồi không kịp thời như mong muốn Biện pháp này TCTK vẫn chưa thực hiện được Lý

do có nhiều, song cơ bản nhất vẫn là yêu cầu người ta cung cấp cái gì thì chúng ta vẫn chưa xác định được rõ Vậy có thể nói rằng xác định nhu cầu thông tin vẫn phải là khâu cốt yếu hàng đầu trong công tác cung cấp số liệu thống kê nước ngoài cho các đối tượng sử dụng trong nước

8- Vấn đề chính sách phổ biến số liệu thống kê nước ngoài

Chính sách phổ biến thông tin thống kê nói chung, trong đó có phần số liệu TKNN nói riêng, ở TCTK cho tới nay vẫn là một trong những vấn đề bức xúc nhất, đặc biệt trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Thiếu một chính sách rõ ràng, minh bạch thì mọi hoạt động đều khó có thể đi vào khuôn phép và ổn định Chính sách phổ biến thông tin thống kê, trong đó có TKNN sẽ là nền tảng cho các hoạt

động thu thập, biên soạn và phổ biến có nền nếp, đạt hiệu quả cao

Trên thực tế ở TCTK, một chính sách như vậy chưa có, mặc dù đã được

Vụ Thống kê Tổng hợp soạn thảo với sự tài trợ một phần của các Dự án khác nhau của UNFPA, SIDA, ADETEF, mà cũng chỉ đạt được bản Dự thảo với 5 lần sửa đổi, trong đó phần TKNN hầu như rất mờ nhạt, nhưng vẫn chưa đi tới công bố

Nói đúng hơn, đã có một Quyết định số 136/TCTK-TH của Tổng cục Trưởng TCTK ngày 16-5-2000 quy định về việc ban hành quy chế cung

Ngày đăng: 14/05/2014, 18:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w