1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu nội dung và phương pháp tính chỉ tiêu giá trị sản xuất, chi phí trung gian, giá trị tăng thêm của các tổ chức hoạt động không vì lợi ở việt nam

60 1K 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu nội dung và phương pháp tính chỉ tiêu giá trị sản xuất, chi phí trung gian, giá trị tăng thêm của các tổ chức hoạt động không vì lợi ở Việt Nam
Tác giả CN. Nguyễn Văn Nông, CN. Hoàng Trung Đông
Trường học Học viện Tài chính
Chuyên ngành Kế toán và kiểm toán
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nghiên cứu được tiến hành bởi dự án Hopkins của trường đại hoc John Hopkins về khu vực không vị lợi ở một số nước châu Á đã chỉ rõ rằng các tổ chức này đã thực sự đóng một vai trò

Trang 1

TONG CUC THONG Hé

BAO CAO TONG HOP

KET QUA NGHIEN CUU KHOA HOC

DE TAI CAP CG SG

| pé TAL “NGHIEN CUU NOI DUNG VA PHUGNG

| PHAP TINH CHi TIEU GIA TRI SAN XUAT, CHI

| CÁC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG KHÔNG VÌ LỢI Ở

Đơn vị chủ trì: Vụ Hệ Thống Tài khoản

Quốc gia

Chủ nhiệm: CN Nguyễn Văn Nông

Thư ký: CN Hoàng Trung Đông

HÀ NỘI, NĂM 2006

Trang 2

PHAN I NHUNG VAN DE CO BAN VE DINH NGHIA, NOI DUNG, PHAM a

VI, HINH THUC HOAT DONG VA NHUNG PHAN TO CHINH CUA CÁC

DON VI HOAT DONG KHONG VÌ LOI

1 Định nghĩa và nội dung của đơn vị và khu vực không vì lợi 7

2 Đặc tính, mục đích và loại hình hoạt động của các đơn vị không vì lợi 10

3 Phân loại các đơn vị không vị lợi

PHAN II NOI DUNG, PHAM VI VA PHUONG PHAP TINH GIA TRI SAN I8

XUAT, CHI PHI TRUNG GIAN, GIA TRI TANG THEM CUA CAC BON VI

HOẠT ĐỘNG KHÔNG VÌ LỢI THUỘC CÁC NHÓM NGÀNH KINH TẾ Ở

VIỆT NAM

I Hoạt động không vi lợi thuộc nhóm ngành giáo dục, đào tạo và 18

nghiên cứu khoa học công nghệ

A Đơn vị và phạm vị hoạt động của các đơn vị không vì lợi thuộc 19 nhóm ngành giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học công nghệ

B Nội dung, phương pháp tính giá trị sản xuât, chi phí trung gian và giá 19 trị tăng thêm

HH Hoạt động không vi lợi thuộc ngành văn hoá, thê thao, vui chơi giải 26 trí

A Đơn vị và phạm vi hoạt động không vì lợi trong lĩnh vực văn hoá thể

thao, vui chơi giải trí

B Nội dung, phương pháp tính Giá trị sản xuất, chi phi trung gian và 27 giả trị tăng thêm của hoạt động văn hoá thê thao, vui chơi giải trí không

vì lợi

HI Hoạt động không vì lợi trong lĩnh vực Y tê, cứu trợ xã hội, vệ sinh 33

và môi trường

A Đơn vị và phạm vi hoạt động không vì lợi trong lĩnh vực y tê, cứu 33

trợ xã hội, vệ sinh môi trường không vị lợi

B Nội dung, phương pháp tính Giá trị sản xuất, chi phí trung gian và 34 gia tri tăng thêm của y tê, cứu trợ xã hội, vệ sinh môi trường không vĩ

Trang 3

IV Hoạt động của các đơn vị không vì lợi của các nhóm ngành trong

lĩnh vực dịch vụ nhà ở, dịch vụ pháp lý - chính sách, hiệp hội và các tô

chức tôn giáo

“40

A Đơn vị và phạm vi hoạt động của các đơn vị thuộc nhóm nganh linh

vực dịch vụ nha 6, dich vu pha lý - chính sách, hiệp hội và các đơn vị tô

chức tôn giáo

40

B Nội dung, phương pháp tính giá trị san xuat,chi phi trung gian và giá

trị tăng thêm của các đơn vị hoạt động không vì lợi địch vụ nhà ở, pháp

lý, chính sách, hiệp hội và các tô chức tôn giáo

43

HIEN AP DUNG TINH NHUNG CHỈ TIÊU TỎNG HỢP CUA CÁC HOẠT

ĐỘNG KHÔNG VÌ LỢI Ở VIỆT NAM

45

I Kết luận

II Một số kiến nghị hong triển khai áp đụng tính các chỉ tiêu Tổng hợp

Trang 4

LOI MO DAU

Ngày nay, cùng với sự vận động mạnh mẽ của quá trình phat triển kinh tế, các hoạt động kinh tế cũng trở lên đa dạng hơn và đi cùng với nó là sự xuất hiện của các loại đơn vị sản xuất kinh doanh Có một thực tế, phần lớn các đơn vị hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường đều lấy mục tiêu lợi nhuận làm động lực kinh doanh của họ Tuy nhiên, không phải tất cả các đơn vị hoạt động sản XUẤT, kinh doanh đều hoạt động vì mục đích lợi nhuận, có những đơn vị kết quả hoạt động kinh doanh có thể đem lại lợi nhuận nhưng lợi nhuận đó không được đem

chia cho các thành viên của đơn vị Hơn thế nữa, cũng có những đơn vị sản xuất kinh doanh mà kết quả hoạt động của chúng hoàn toàn không mang lại lợi nhuận cho đơn vị, chúng được thành lập ra để phục vụ lợi ích chung của một nhóm người hay một cộng đồng dân cư trong xã hội

Trong lĩnh vực tài khoản quốc gia, các đơn vị ở trên được gọi là các đơn vị không vị lợi Như chúng ta đã biết, trên thế giới, cụ thể là ở các quốc gia đang phát triển thuộc châu Á, châu Mỹ và châu Phi, ngày càng xuất hiện nhiều các đơn

vị không vị lợi hoạt động, chúng được hình thành và hoạt động dưới rất nhiều

hình thức, ví dụ: tổ chức từ thiện, các tô chức cứu trợ, các tô chức phi chính phủ các hiệp hội nghề nghiệp, các tô chúc tôn giao, tín ngưỡng VV

Giá trị tăng thêm của KV NPLso với GDP của 7 quốc gia phát triển

Trang 5

nghèo, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường Những nghiên cứu được tiến

hành bởi dự án Hopkins (của trường đại hoc John Hopkins) về khu vực không vị

lợi ở một số nước châu Á đã chỉ rõ rằng các tổ chức này đã thực sự đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của các quốc gia được nghiên cứu.Vì vậy khu vực không vị lợi thực sự ngày càng thu hút việc nghiên cứu chuyên sâu của các nhà kinh tế,các cơ quan thống kê lập tài khoản quốc gia do vậy đã có nhiều nước

trên thế giới tiến hành lập tài khoản vệ tỉnh cho khu vực không vị lợi, hầu hết các

nước thuộc khu vực châu Á Thái Bình Dương đều đã và đang nghiên cứu hoặc

thực hiện thống kê các chỉ tiêu có liên quan đến khu vực không vì lợi, trong đó

có 7 nước đã tiễn hành lập tài khoản vệ tỉnh của khu vực này

Ở Việt Nam công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm luôn đứng vào hàng các nền kinh tế có tốc độ phát triển cao trong khu vực và trên thế giới Mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội trong những năm tới là: Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, ôn định và nâng cao đời sống của nhân dân Chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, cơ cầu lao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nâng cao rõ

rệt tính hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Mở rộng kinh tế đối ngoại

Những mục tiêu trên, hàng năm, trong kế hoạch trung và dài hạn đều được nhìn nhận, đánh giá thông qua số liệu hệ thông tài khoản quốc gia Việt Nam mới

áp dụng hệ thống tài khoản quốc gia từ năm 1993, trong hơn mười ba năm qua

công tác thống kê tài khoản quốc gia đã từng bước hoàn thiện và phát triển Các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp của hệ thống tài khoản quốc gia đã thực sự là căn cứ

quan trọng để chính phủ đánh giá, phân tích thực trạng và xu hướng phát triển kinh tế của đất nước, đã thu hút được sự quan tâm của các nhà quản lý, hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô, của giới doanh nghiệp, của các nhà đầu tư nước ngoài và của các tổ chức quốc tế Tuy nhiên chỉ với hơn 13 năm vận dụng hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) vào Việt nam thay cho Hệ thống bảng cân đối kinh tế quốc dân (Material Product System- MPS), đồng thời đứng trước những

đòi hỏi ngày càng nhiều hơn về số lượng những chỉ tiêu, bảng biểu, tài khoản,

chất lượng số liệu và thời kỳ cung cấp số liệu của chính phủ và những đối tượng

dùng tin khác, thì công tác thống kê tải khoản quốc gia còn bộc lộ nhiều mặt hạn

chế cần được khắc phục

Hơn nữa Việt nam cũng không nắm ngoài xu hướng chung của khu vực và thê giới, thực tê trong những năm qua các tô chức, đơn vị các hoạt động không vì lợi ngày càng phát triên trên nhiêu lĩnh vực, giáo dục đào tạo, y tê sức khoẻ văn

Trang 6

hoá thể thao và vui chơi giải trí, bảo vệ môi trường, xoá đói giảm nghèo, các tô chức hoạt động xã hôi như: từ thiện, cứu hộ khắc phục hậu quả thảm hại thiên tai, bệnh dịch, nạn nhân chất độc màu da cam, các hoạt động tôn giáo và tín ngưỡng

Tuy nhiên thực tế hiện nay số liệu thống kê cũng như công tác nghiên cứu

cụ thể về các tổ chức và hoạt động của khu vực không vì lợi còn rất sơ sài chưa

có cơ sở thông tin tông hợp đầy đủ được bố trí một cách logíc, khoa học theo một

mô hình tổng quát phản ánh đầy đủ, toàn điện và chi tiết hoá về quá trình phát

triển thông qua kết quả hoạt động của các đơn vị không vị lợi trong mối quan hệ

chặt chẽ giữa các ngành, các lĩnh vực, cũng như toàn bộ nền kinh tế-xã hội.Nó

không thể giúp cho các nhà kinh tế vĩ mô cũng như các nhà làm chính sách đánh

giá đúng thực trạng của khu vực kinh tế không vị lợi nói riêng và các khu vực khác trong toàn nên kinh tê Việt Nam nói chung và từ đó dẫn đến việc so sánh

với quốc tế cũng gặp rất nhiều khó khăn

Chính vì vậy, với mục đích góp phần đi sâu nghiên cứu những vấn đề liên

quan đến các đơn vị không vì lợi ở Việt nam, để /ởi bước đầu tập trung nghiên cứu về “ nhũng khát niệm, nội dung và phương pháp tính chỉ tiêu giá trị sản xuất, chi phí trung gian, giá trị tăng thêm của các tổ chức và các đơn vị hoạt động không vì lợi”

Đây là đề tài cấp cơ sở, được thực hiện trong 12 tháng với 5 chuyên đề nghiên cứu khoa học của các tác giả:

1 Nguyễn Văn Minh - CN, Phó Vụ trưởng Vụ Hệ thông TKQG

2 Nguyễn Văn Nông - Chuyên viên cao cấp, Phó Vụ trưởng Vụ Hệ thống TKQG

3 Phạm Đình Hàn - CN, Chuyên viên chính Vụ Hệ thống TKQG

4 Hoàng Trung Đông: CN, Chuyên viên Vụ Hệ thông TKQG

5 Không Đỗ Quỳnh Anh - CN, Chuyên viên Vụ Hệ thống TKQG

Và nhiều ý kiến tham gia đóng góp của các đồng chí: Bùi Bá Cường - CN,

Vụ trưởng vụ Hệ thống TRQG; Trịnh Quang Vượng - CN, Phó Vụ trưởng Vụ Hệ thống TKQG, Hoàng Phương Tan - CN, Chuyên viên chính Vụ Hệ thống TKQG, Phạm Quốc Ấn - CN, chuyên viên chính Vụ Hệ thống TKQG Cùng với sự nỗ lực chủ trì phôi hợp tích cực nghiên cứu của Ban chủ nhiệm đề tài và sự hỗ trợ

Trang 7

nhiệt tình của Viện Khoa học Thống kê, đề tài đã hoàn thành chương trình nghiên

cứu theo đúng mục tiêu đã đề ra Kết quả nghiên cứu của để tài gồm 3 phân:

Phần I: Những vẫn đề cơ bản về định nghĩa, nội dung, phạm vi, hình thức

hoạt động và những phân tô chính của các đơn vị hoạt động không vì lợi

Phân II: Nội dung và phương pháp tính giá trị sản xuất, chỉ phí trung gian,

giá trị tăng thêm của các đơn vị hoạt động không vì lợi thuộc các ngành kinh tế ở

Việt nam

Phần II: Kết luận, kiến nghị và những giải pháp thực hiện áp dụng tính

những chỉ tiêu tổng hợp của các hoạt động không vì lợi ở Việt nam

Trang 8

PHAN I |

NHUNG VAN DE CO BAN VE DINH NGHIA, NOI DUNG, PHAM VI, HINH THỨC

HOAT DONG VA NHUNG PHAN TO CHINH CUA CAC BON VI HOAT DONG

KHONG VI LOI

I BINH NGHIA VA NOI DUNG CUA BON VI VA KHU VUC KHONG VÌ LỢI

Trước khi đi vào nghiên cứu định nghĩa của đơn vị không vị lợi, chung ta

cần phân biệt các loại hình đơn vị kinh tế của SNA 93 nhằm hiểu rõ cách phân tô các đơn vị kinh tế của SNA 93 SNA 93 phân biệt 2 loại hình đơn vị kinh tế, đó là:

- Các đơn vị cơ sở kinh tế (Establishments), các đơn vị này có thể là các

doanh nghiệp, hoặc chỉ là một phân của doanh nghiệp, chúng tiễn hành các hoạt

động sản xuất đơn lẻ, nhìn chưng đóng tại một địa điểm cụ thể

- Loại thứ hai là các đơn vị thể chế (Institutional units): đây là các đơn vị

với quyền hạn của mình, chúng có thể sở hữu hàng hóa, tài sản, tiễn hành các

khoản vay nợ cũng như có quyền tiễn hành các hoạt động kinh tế và các giao dịch

trao đôi với các đơn vị thể chế khác Đơn vị thể chế có thể bao gồm một hoặc nhiều cở sở kinh tế Trong SNA 93, có nhiêu loại đơn vị thể chế, chúng bao gồm:

đơn vị thê chế phi tài chính, đơn vị thể chế tài chính, đơn vị thể chế chính phủ, đơn vị thể chế hộ gia đình và các đơn vị thể chế không vị lợi Các đơn vị thể chế lại được nhóm thành các khu vực thể chế trong tài khoản quốc gia

Tương tự như vậy, các đơn vị không vị lợi cũng được nhóm thành một khu

vực thê chê không vì lợi Chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu về đơn vị không vị lợi

và khu vực thê chế không vị lợi này

1 Đơn vị không vì lợt:

Các đơn vị không vị lợi là các pháp nhân hay thực thể xã hội, chúng được thành lập nhằm tiến hành sản xuất hàng hoá hay dịch vụ, nhưng với địa vị của mình chúng không được phép trở thành một nguồn thu nhập, lợi nhuận hay các thu nhập tài chính khác cho các đơn vị thành lập, kiểm soát và tài trợ chúng

Trong thực tế, các hoạt động sản xuất do các đơn vị không vị lợi tiễn hành có thể

lễ hoặc lãi (thu được lợi nhuận), tuy nhiên bất kỳ khoản lãi tạo ra đều không thể

trở thành sở hữu của các đơn vị thê chế khác

Các đơn vị không vị lợi, khi đã được xác định, thì chúng sẽ được phân biệt

với 3 loại đơn vị thể chế khác trong SNA 93, đó là: Các đơn vị doanh nghiệp (bao

Trang 9

gồm doanh nghiệp thể chế tài chính và doanh nghiệp thể chế phi tai chính), các

đơn vị thể chế chính phủ và các đơn vị thể chế hộ gia đình, cụ thể: -

(a) Các doanh nghiệp khác với các đơn vị không vị lợi ở điểm: chúng được thành lập nhằm tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh mang tính thị

trường, có khả năng mang lại lợi nhuận cho người sở hữu chúng

(b) Các đơn vị thể chế chính phủ khác với các đơn vị không vị lợi ở điểm sau:

chúng thuộc loại đơn vị được thành lập có tính pháp lý nhằm phục vụ cho các mục đích chính trị, chúng có quyền về lập pháp hoặc hành pháp đối với

các đơn vị thể chế khác trong một phạm vi nhất định, đơn vị thể chế chính

phủ còn bao gồm cả các đơn vị có quyền thành lập các quỹ thông qua việc

thu thuế hoặc dưới hình thức đóng góp bắt buộc khác từ các đơn vị thể chế

khác

(c) Đơn vị thể chế hộ gia đình khác với các đơn vị không vị lợi ở điểm: đây là

một nhóm người cùng có chung điều kiện sinh hoạt, họ có thể đóng góp

một phần hoặc toàn bộ thu nhập, của cảI của họ vào quỹ chung của g1a đình, những người này cùng nhau sử dụng các loại hàng hoá dịch vụ cụ thể, chủ yếu đó là nhà ở, lương thực thực phẩm

2 Khu vực không vì lợt:

Thực tế là, trong SNA 93 không tách riêng một khu vực cho các đơn vị không vị lợi, nó chỉ đưa ra một khu vực thể chế riêng, đó là khu vực thê chế không vị lợi phục vụ hộ gia đình (NPISH§s), tuy nhiên, khu vực này chỉ bao gồm một phân các đơn vị không vị lợi phi thị trường Điều này sẽ gây ra

những khó khăn nhất định trong việc nghiên cứu, tính toán về các hoạt động

của các đơn vị không vị lợi Chính vì lý do đó, thống kê liên hiệp quốc đã đưa

ra kiến nghị nhóm tất cả các đơn vị không vị lợi thành một khu vực riêng với tên gọi “khu vực không vị lợi” Thêm vào đó, thống kê liên hiệp quốc cũng đã

đưa ra một số tiêu chí mới nhằm xác định các đơn vị có thể xếp vào khu vực

không vị lợi, các tiêu chí này dựa trên các ý kiến tống hợp của nhiều chuyên

gia trên thế giới với một mục đích làm rõ ràng hơn trong việc xác định các

đơn vị không vị lợi so với các kiến nghị đã nêu trong SNA 93

Khu vực không vị lợi bao gồm các đơn vị thoả mãn:

(a) Đó là các tổ chức

Trang 10

(b) Khong vì mục đích lợi nhuận và không phân phối lại lợi nhuận (nếu có) cho chủ sở hữu |

(c) Có sự tách biệt về mặt thể chế đối với chính phủ

(d)Là các đơn vị vô vị lợi độc lập

(e) Hoạt động dưới hình thức tự nguyện

Cu the:

a/ Các tô chức ở đây được hiểu là các đơn vị thể chế thực sự, thể chế nghĩa là

đơn vị “có cơ cấu tổ chức nội bộ, có mục tiêu hoạt động cụ thể, riêng biệt, có phạm vi hoạt động riêng với đây đủ ý nghĩa là một tổ chức và có tư cách luật pháp

trong việc sát nhập, giải thể Không bao gồm ở đây mội nhóm hoặc tập hợp một

số người mang tính chất tạm thời và không có một cơ cấu tổ chức thực sự” Đặc biệt, ở đây bao gồm cả các tổ chức không chính thức, tức là các tổ chức không thật sự đầy đủ tư cách pháp nhân tuy nhiên chúng lại có cơ cấu tổ chức nội bộ và mang tính bền vững Điều này hoàn toàn phù hợp với định nghĩa của SNA 93 về

đơn vị không vị lợi: “Phần lớn các đơn vị không vị lợi là các thực thể được thành lập theo luật, sự tổn tại của chúng được thừa nhận là độc lập với các nhóm người, các công ty hay các cơ quan do chính phủ thành lập, cung cấp tài chính và quản lý chúng” Các đơn vị này có thể được thành lập mang khuôn mẫu của các hiệp hội,

tổ chức hay công ty “Mục đích hoạt động của các đơn vị không vị lợi thường

được chỉ rõ trong các quy chế, điều lệ ngay khi chúng được thành lập” Thêm vào

đó, một đơn vị không vị lợi cũng có thể là một thực thể không chính thức, không

chính thức ở đây được hiểu sự tồn tại của đơn vị đó được xã hội thừa nhận tuy nhiên nó lại không có một tư cách pháp lý nào

b/ Không vì mục đích lợi nhuận được hiểu là các đơn vị không vị lợi là những tổ

chức có hoạt động, mục đích chính không vì lợi nhuận, đù là trực tiếp hay gián tiếp, không vì các mục đích thương mại hay mục đích lợi nhuận Các đơn vị

không vị lợi này có thể kiếm được giá trị thặng dư trong quá trình hoạt động của

nó, tuy nhiên, tất cả các khoản thặng dư này đều được tái đầu tư vào các hoạt

động của đơn vị, chứ không phân bổ cho các tổ chức, người sở hữu, thành viên,

người sáng lập hay hội đồng quản lý của đơn vị Điều này phù hợp với định nghĩa của SNA 93 về đơn vị không vị lợi, và đã được chỉ ra trong thực tế, các hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị không vị lợi có thể đem lại lợi nhuận hoặc bị thua

lỗ, tuy nhiên trong trường hợp thu được lợi nhuận thì lợi nhuận đó không thể được

sử dụng cho một đối tượng thể chế khác Ngoài ra, SNA 93 còn đưa ra một điểm

cần lưu ý khác: “Thuật ngữ “đơn vị không vị lợi” bất nguồn từ thực tế là các

Trang 11

thành viên không được phép kiếm lợi nhuận về tài chính thông qua các hoạt động

của don vi, và cũng không được sở hữu bất cứ giá trị thặng dư nào nếu nảy sinh trong quá trình hoạt động của đơn vị Điều này không ngụ ý rằng một đơn vị không vị lợi không thể có giá trị thặng dư trong quá trình hoạt động” Với quan

điểm đó, một đơn vị không vị lợi có thể kiếm được lợi nhuận từ hoạt động của

mình, nhưng nó không phân phối lại lợi nhuận đó cho chủ sở hữu của nó, điều này khác với các đơn vị không vị lợi thuộc các doanh nghiệp kinh doanh vì mục

đích lợi nhuận (chú ý rằng: nếu lợi nhuận có được của một đơn vị không vị lợi

nào đó được đem phân phối cho một đơn vị không vị lợi khác, thì đơn vị đầu tiên vẫn được coi như một đơn vị không vị lợi vì khoản lợi nhuận đó vẫn thuộc về khu vực không vị lợi và được sử dụng cho các mục đích từ thiện hay mục đích không

Khi một đơn vị có mức lương hoặc mức thù lao cho các thành viên của nó

vượt trội so với mức thu nhập bình quân thì đây có thể coi như là doanh nghiệp

kinh doanh vì mục đích lợi nhuận Luật của các quốc gia thường dẫn đến việc không công nhận một đơn vị là không vị lợi nếu như nó có các đặc tính trên, tuy

nhiên việc thực hiện luật nhiều khi không thật sự hiệu quả

c/ Su tách biệt về mặt thể chế đối với chính phủ, điều này có nghĩa là các tổ chức này không phải là các cơ quan chính phủ, nó không có trách nhiệm thực hiện các chức năng của cơ quan chính phủ Tổ chức này có thể nhận được những

hỗ trợ quan trọng từ phía chính phủ, và ban điều hành của nó có thể có người của chính phủ, tuy nhiên, nó có quyền tự chủ cả về hoạt động sản xuất cũng như sử dụng nguồn tài chính của mình do vậy các hoạt động của nó không nhất thiết phải

tuân theo các qui định về tài chính của chính phủ “Điểm quan trọng mấu chốt ở đây là tổ chức này có định chế riêng tách biệt so với chính phủ, có nghĩa là nó không phải là một công cụ của đơn vị nhà nước, bất cứ ở mức độ quốc gia hay cấp

tỉnh, do vậy nó không thực hiện các chức năng của một cơ quan nhà nước” Điều

đó có thể được hiểu là đơn vị này có thể thực hiện một số chức năng, nhiệm vụ

mà được uỷ thác bởi nhà nước hoặc nhà chức trách, nhưng nó không được phép tự mình thực hiện các chức năng này nếu không được uỷ quyền Ví dụ, một hiệp hội thương mại có thể được trao thẩm quyền nhằm thiết lập ra hay củng cố các tiêu

chuẩn về chất lượng của sản phẩm công nghiệp, tuy nhiên thẩm quyền đó rất có

thể bị tước bỏ nếu như nó bị lạm dụng hay không còn cần thiết nữa Với những trường hợp khác, một đơn vị không vị lợi có thể được trao quyền nhằm phân bổ

những trợ cấp, tài trợ hoặc các hợp đồng của chính phủ tới các hộ gia đình hay

10

Trang 12

các tổ chức khác, tuy nhiên việc làm này phải nằm trong một khuôn khổ các quy định chặt chẽ do chính phủ đề ra Trong những trường hợp như vậy, đơn vị thể chế

đó vẫn được coI là một đơn vị không vị lợi

đi Độc láp được hiểu là các đơn vị có khả năng tự chủ về các hoạt động của mình

và nó không chịu ảnh hưởng từ bất cứ một đơn vị nào khác Có thể nói, thực ra

không có một tổ chức nào là hoàn toàn độc lập Tuy nhiên, để có thể được xem

như là một đơn vị độc lập thì đơn vị đó phải có sự tự chủ trong quản lý cũng như trong việc tiến hành các hoạt động quan trọng của mình, ngoài ra nó phải được

quyền tự chủ điều hành về các quy chế nội bộ và thực sự có sự độc lập với đầy đủ

ý nghĩa của nó Điều cần nhấn mạnh ở đây là không phải quan tâm đến nguồn

gốc của đơn vị như: ai đã thành lập ra nó, nó được chính phủ cho phép hoạt động

ra sao hay là nguồn thu nhập chính của nó là gì .mà cần quan tâm đến khả năng

tự chủ và cơ cấu của đơn vị đó, cụ thể:

- Có phải đơn vị đó thực sự chịu trách nhiệm về vận mệnh của chính mình

hay không? nó có thể tự giải tán, tự thành lập hoặc tự thay đổi nhiệm vụ hay cơ

cấu của mình mà không cần có sự cho phép từ bất cứ một đơn vị nào khác ngoài

cơ quan đăng kiểm khi nó đăng ký thành lập? Nếu thoả mãn các yêu cầu trên, nó

là đơn vị không vị lợi

- Nếu trong ban qủan lý của nó có đại điện của chính phủ hay của công ty nào đó, những đại diện này có thực hiện quyền phủ quyết, những đại diện này tham gia trên phương diện là người của chính phủ hay chỉ mang tư cách cá nhân?

và nếu các đại diện này hoạt động trên phương diện là người của chính phủ, công

ty và họ có quyền phủ quyết thì đơn vị đó không được coi là một đơn vị độc lập Chính vì vậy, việc xuất hiện của các đại diện của chính phủ cũng như của công ty _ trong ban quản lý của một đơn vị không vi lợi không ảnh hưởng đến quyết định

của đơn vị Câu hỏi đặt ra là mức độ trách nhiệm các đại diện của chính phủ nắm

.giữ bao nhiêu và mức độ tự chủ của đơn vị là bao nhiêu? Điều này có nghĩa là nếu một cơ sở của một doanh nghiệp mà do công ty mẹ của nó hoàn toàn quản lý thì trường hợp này cần loại ra, không được coi là một đơn vị độc lập Tuy nhiên, nếu một cơ sở của một doanh nghiệp chủ động trong mọi hoạt động của mình và không chịu sự giám sát hàng ngày của doanh nghiệp mẹ thì nó có thể được coi là đơn vị độc lập

- Liệu chính phủ hay doanh nghiệp có chỉ định ban giám đốc điều hành cho đơn vị hay không? Hoặc nếu ban giám đốc của đơn vị là người của chính phủ hay của công ty? Nếu đúng, thì đơn vị không được coi là đơn vị không vị lợi

11

Trang 13

Tất nhiên, việc phân loại đơn vị độc lập cần được áp dụng than trọng va

không nên loại bỏ các đơn vị không vị lợi ở các nước có cơ cấu chế độ dân chủ

thấp vì ở đó chính phủ có thể giải tán các tổ chức nếu như tổ chức đó có khuynh

hướng đi ngược lại với chính phủ

e/ Hoạt động dưới hình thức tự nguyện là các đơn vị mà yêu cầu về tư cách hội

viên, yêu cầu về thời gian và đóng góp về kinh phí không bị bắt buộc do luật pháp hoặc yêu cầu phải có quyền công dân Như đã nói ở trên, các tổ chức không vị lợi

có thể thực hiện các chức năng cụ thể nhằm giúp cho thành viên của nó có đủ tư

cách để tiến hành hoạt động nghề nghiệp (ví dụ : hội luật sư có thể cấp các chứng

chỉ giúp cho các luật sư của hội có thể hành nghề luật), miễn là đó không phải là việc cấp chứng nhận quyền công dân vì điều này phải do luật pháp quy định, khi

đó các tổ chức đó vẫn được coi là đơn vị có hình thức tự nguyện Ngược lại, các tổ chức mà ở đó tư cách thành viên, sự gia nhập tổ chức hay việc ủng hộ tổ chức

phải tuân theo qui định của pháp luật hay do yêu cầu về thân nhân (ví dụ như:

phải là nguời của gia tộc nào đó hay của bè phái nào đó thì mới được gia nhập tổ chức) thì các tổ chức loại này không nằm trong khu vực không vị lợi

Lưu ý, “Khu vực vô vị lợi” như xác định ở trên bao gồm tất cả các đơn vi thoả mãn 5 đặc tính đã nêu, tuy nhiên, 5 yếu tố trên chỉ là các tiêu chí mà thống

kê liên hiệp quốc muốn làm rõ hơn trong việc xác định một đơn vị là đơn vị không vị lợi Đề có thê xây dựng được một khu vực không vị lợi đây đủ thì cần phải đưa thêm vào đây các đơn vị không vị lợi theo như kiến nghi cua SNA 93,

cụ thể: bao gồm các đơn vị không vị lợi là các nhà sản xuất thị trường, có nghĩa là

các đơn vị này có thể bán sản phẩm là các hàng hoá và dịch vụ ra thị trường với

giá thu lời Các đơn vị loại này có thể tìm thấy trong khu vực phi tài chính hay khu vực tài chính trong SNA 93, tuỳ vào các hoạt động chính của chúng là gì Ngoài ra, còn bao gồm các đơn vị trong khu vực chính phủ như trong SNA 93, đó

là các đơn vị độc lập và tách riêng ra từ chính phủ, thậm chí họ được tài trợ chủ yếu từ chính phủ có đại diện của chính phủ trong ban giám đốc của đơn vị Cuối

cùng, các đơn vị không vị lợi nhận được phần lớn đóng góp từ các hộ gia đình, các đơn vị này có thể tìm thấy trong khu vực hộ gia đình hay khu vực không vị lợi phục vụ hộ gia đình trong SNA 93 cũng được xếp vào khu vực không vị lợi

II ĐẶC TÍNH, MỤC ĐÍCH VÀ LOẠI HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC ĐƠN VỊ KHÔNG VÌ LỢI

12

Trang 14

I Cac dac tính cơ bản của đơn vị không vì lợi:

- Phần lớn được thành lập theo luật mà sự tổn tại của chúng là độc lập với các đối tượng (người, doanh nghiệp hoặc chính phủ), quản lý và cung cấp tài

chính cho chúng Đặc biệt ở các nước đang phát triển, nhiều đơn vị không vị lợi được xã hội, cộng đồng thành lập do vậy chúng không có tư cách pháp nhân và được tạo ra với mục đích cung cấp các sản phẩm, dịch vụ phi thị trường cho đối

tượng dân cư, hộ gia đình

- Nhiều đơn vị không vị lợi được quản lý bởi một tổ chức mà trong tổ chức này các thành viên của nó là hoàn toàn bình đẳng

- Các thành viên trong tổ chức không được phép sử dụng những lợi nhuận

do các đơn vị không vị lợi có được, những lợi nhuận đó được giữ lại tại đơn vị đê phục vụ cho các hoạt động của đơn vị trong tương lai

- Khái niệm “không vị lợi” bắt nguồn từ qui định (3) ở trên, tuy nhiên điều

đó không ngụ ý rằng các đơn vị không vị lợi không thể kiếm được lợi nhuận từ các hoạt động của mình

2 Mục đích và các loại hình hoạt động của các đơn vị không vì lợi

2.1 Mục đích thành lập:

- Một số đơn vị không vì lợi được thành lập để cung cấp các dịch vụ vì lợi

ích của cá nhân các đơn vị thành viên hay của đơn vị quản lý hoặc cấp kinh phí

cho chúng (đơn vị chủ quản, có thể là doanh nghiệp)

- Một số đơn vị không vì lợi được thành lập vì mục đích từ thiện, nhân đạo nhằm cung cấp sản phẩm vật chất hay dịch vụ cho các hộ gia đình gặp khó khăn

trong cuộc sống

- Hay một số được thành lập để cung cấp dịch vụ giáo dục hoặc y tế không

thu tiền

- Một số đơn vị không vì lợi được thành lập để bảo vệ ích lợi của tập thể

trong kinh doanh hay trong chính trị V.V

Hầu hết các đơn vị không vị lợi có tư cách pháp nhân Các đơn vị này được quản lý bởi một hiệp hội mà hội viên của nó thường có quyên bình đẳng như

nhau Không có cỗ đông, quyền quản lý được trao cho một nhóm người Các đơn

vị không vì lợi có thể tạo ra thặng dư hay lợi nhuận từ hoạt động sản xuất của minh

13

Trang 15

2.2 Loại hình hoạt động của các đơn vị không vì lợi

Trong tài khoản quốc gia 93, các đơn vị không vị lợi được phân loại theo như sơ

đô dưới đây:

trong KV tài chính động trong KV trong KV chính phủ

- Đơn vị không vị lợi có tính chất thị trường

- Đơn vị không vị lợi phi thị trường

a Đơn vị không vị lợi có tính chất thị trường:

Các đơn vị không vị lợi thuộc nhóm này bán hâu hết hoặc tất cả sản lượng của mình cho người tiêu dùng với giá có ý nghĩa kinh tế, tức là, với giá dự tính là

có ảnh hưởng đáng kê cả về số lượng được cung lẫn số lượng được cầu., có thể

lãi hoặc bị lỗ Song về nguyên tắc, giá trị thặng dư (khoản lãi) được giữ lại làm

vốn của đơn vị, không được phân chia cho những người điều hành đơn vị như các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khác Ở hấu hết các nước, các ví dụ về các đơn

vị không vị lợi thị trường là các bệnh viện và các trường tư Các đơn vị này được

14

Trang 16

kiểm soát bởi các doanh nghiệp được coi là các nhà sản xuất thị trường Lệ phí

mà họ thu từ các thành viên của mình được coi như tiên thanh toán cho các dịch

vụ được thực hiện Đơn vị không vị lợi có tính chất thị trường gồm hai loại sau: a.l Đơn vì không vị lợi có tính thị trường liên quan tới sản xuất

Các đơn vị không vị lợi có tính thị trường liên quan tới sản xuất là các đơn vị

có sản phẩm sản xuất được đem bán trên thị trường, theo giá thị trường để nhằm

thu được giá trị thăng dư Tuy nhiên, đo tính chất không vì lợi, giá trị thăng dư sẽ

được giữ lại chứ không phân chia cho các thành viên của đơn vị Nguồn vốn chủ yếu để các đơn vị này chủ yếu là do khách hàng ch: trả (tiền học phí, tiền viện phí, tiền vé xem biểu diễn nghệ thuật ), ngoài ra do chức năng hoạt động, đơn

vị cũng có thể huy động các nguồn vốn bổ xung từ các nhà tài trợ khác Don vị

không vị lợi liên quan tới sản xuất có tính thị trường thường gặp trong thực tế là các đơn vị hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế

a.2 Đơn vì không vị lợi có tính thị tường phục vụ kinh doanh

Các đơn vị này do các hiệp hội kinh doanh thành lập với mục đích phát triển và bảo vệ lợi ích kinh doanh như: các hiệp hội thuỷ sản, hiệp hội mía đường,

trung tâm nghiên cứu và phát triển Hoạt động của các đơn vị này phục vụ lợi

ích của các thành viên trong hiệp hội và lợi ích của đơn vị chủ quản, đó là các đơn

vị quản lý và cung cấp tài chính cho hiệp hội Hoạt động của các đơn vị không vị lợi có tính thị trường phục vụ kinh doanh thường liên quan đến những hoạt động như: quảng bá sản phẩm; vận động chính trị cho nhóm kinh doanh; tư vấn cho các

thành viên Nguồn vốn chủ yếu để hoạt động của các đơn vị không vị lợi có

tính thị trường phục vụ kinh doanh là do đóng góp, hội phí từ các đơn vị thành viên và từ đơn vị chủ quản

b Đơn vị không vị lợi phi thị trường:

Phần lớn các đơn vị không vị lợi ở các quốc gia là các đơn vị không vị lợi

phi thị trường Kết quả sản xuất của các đơn vị này được cung cấp miễn phí, hay được bán với giá bằng hoặc thấp hơn giá thành sản xuất Do vậy, nguồn kinh phí

chủ yếu để hoạt động của các đơn vị này là do các thành viên của đơn vị đóng góp, do các khoản biếu tặng, tài trợ từ bên ngoài Đơn vị không vị loi phi thi

trường gồm hai loại sau:

b.I Đơn vị không vị lợi phi thị trường do Nhà nước quản lý và cấp kinh phí:

15

Trang 17

Là những thực thể do Chính Phủ thành lập một cách hop pháp và tồn tại độc lập tách biệt với chính phủ Hoạt động của các đơn vị không vị lợi này chủ yếu trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp như phòng thương mại, hoặc liên quan tới việc thiết lập, duy trì chuẩn mực chất lượng trong một số lĩnh vực như: y tế, bảo vệ môi trường, giáo

| dục, kế toán, tài chính cho cả doanh nghiệp (người sản xuất) và hộ gia đình

(người tiêu dùng) Nguồn kinh phí cho các đơn vị hoạt động chủ yếu lấy từ ngân

b.2 Đơn vi không vị lợi phì thị trường phục vụ trực tiếp hộ gia đình (Khu vực

thể chế không vị lợi phục vụ hộ gia đình-NPISH§$):

Khu vực Không vì lợi phục vụ hộ gia đình chỉ bao gồm các đơn vị thể chế

không vì lợi nhuận; có những đặc trưng sau:

+ Mục đích và phương thức hoạt động chủ yếu: Không mang tính chất kinh doanh; sản phẩm sản xuất ra cung cấp cho không các hộ gia đình sử dụng trong

+ Lĩnh vực hoạt động: bao gồm các ngành sản xuất thuộc các thành phần

kinh tế khác nhau (không kể ngành quản lý Nhà nước)

+ Nguồn vến chủ yếu: Từ đóng góp, ủng hộ, viện trợ không hoàn lại

+ Sản phẩm chủ yếu sản xuất ra: Sản phẩm vật chất và dịch vụ phi thị

+ Mục đích sử dụng sản phẩm: Cho tiêu dùng cuối cùng cho hộ gia đình

Khu vực thể chế không vì lợi phục vụ hộ gia đình bao gồm tất cả các đơn

vị thể chế thường trú không vì lợi phi thị trường (trừ những đơn vị chịu sự quản lý

và kinh phí do Chính phủ cấp)

Khu vực không vì lợi phục vụ hộ gia đình phi lợi nhuận được phân thành 2 nhóm chính như sau:

Nhóm thứ nhất: Các đơn vị không vị lợi phục vụ hội viên

Bao gồm các tổ chức, hiệp hội được thành lập từ các đơn vị thành viên cung cấp sản phẩm vật chất và dịch vụ gắn với lợi ích của từng thành viên Các dịch vụ này cung cấp miễn phí và được tổ chức sản xuất dựa trên nguồn tài chính đóng

góp thường xuyên hoặc tiền hội phí của các hội viên Các đơn vị, tổ chức được

xếp trong nhóm này là : Hiệp hội người tiêu dùng, các tổ chức tôn giáo, tín

ngưỡng, các câu lạc bộ văn hoá, thể dục thể thao, vui chơi giải trí Nhóm này không bao gồm các đơn vị sản xuất mà nguồn tài chính hoạt động do ngân sách

Nhà nước cung cấp

16

Trang 18

Nhóm thứ hai: Các đơn vị không vị lợi làm công tác từ thiện

Bao gồm các tổ chức hiệp hội từ thiện, cứu trợ được thành lập với mục đích nhân đạo; không phục vụ lợi ích cá nhân của các thành viên trong tổ chức hiệp

hội Các tổ chức không vì lợi nhuận này cung cấp sản phẩm vật chất và dịch vụ cho các hộ gia đình gặp hoàn cảnh khó khăn do thiên tai, bão lụt, đói nghèo

Nguồn tài chính và hàng hoá cứu trợ của các tổ chức này dựa vào sự đóng góp,

viện trợ của các tổ chức, doanh nghiệp, của Chính phủ và của các cá nhân dân cư trong và ngoài nước

Theo hệ thống tài khoản quốc gia, khu vực thể chế không vì lợi phục vụ hộ gia đình có thể phân thành các loại như sau:

- Các tổ chức xã hội như trại nuôi dạy trẻ mồ côi, trẻ khuyết tật, trung tâm chăm sóc người già không nơi nương tựa,

- Các tổ chức dạy học, dạy nghề miễn phí

- Các tổ chức, hiệp hội vui chơi giải trí, thể thao văn hoá và xã hội miến

phí

- Các tổ chức tôn giáo như nhà chùa, nhà thờ,

- Các tổ chức giúp đỡ nhân đạo

- Các tổ chức nhân đạo, từ thiện khác (cung cấp ăn, ở miễn phí

II PHẦN LOẠI CÁC DON VI KHONG VỊ LỢI

3.1 Phan loai theo khu vực:

SNA 93 nhóm các đơn vị thể chế theo các khu vực kinh tế dựa vào các đặc

điểm của các giao dịch kinh tế mà các đơn vị thể chế tiến hành, mục đích hoại động của chúng, và dựa vào loại hình đơn vị quản lý, cung cấp tài chính cho 'chúng SNÑA 93 gộp các đơn vị thể chế thành 5 khu vực thể chế: khu vực thể ché

phi tài chính, khu vực thê chế tài chính, khu vực thể chế chính phủ, khu vực thể

chế hộ gia đình và khu vực thể chế không vì lợi phục vụ hộ gia đình Trong tài

khoản quốc gia 93, các đơn vị không vị lợi xuất hiện trong tất cả các khu vực thê chế, cụ thê như sau:

17

Trang 19

Cac khu vuc thé ché

Loai don vi thé | KVTC KVTC |KVTC |KVTC |KVTC không chế phi tài | tài chính | chính hộ gia vị lợi phục vụ

thể chế hộ gia đình Tuy nhiên, các đơn vị không vị lợi lại được phân vào đủ cả 5 khu vực thể chế, trong đó chỉ duy nhất có một khu vực thể chế mang tên gọi

“không vị lợi' đó là khu vực thể chế không vị lợi phục vụ hộ gia đình (NPISHs), lý

do chính đó là để thể hiện sự khác biệt của khu vực này so với các khu vực khác thông qua các giao dịch kinh tế mà nó tiến hành, như bảng trên

(a) Một số đơn vị không vị lợi, ví dụ như các trường học, bệnh viện, các

nguồn thu chủ yếu từ việc bán các dịch vụ phi tài chính và do vậy các đơn vị này được xếp vào khu vực thể chế phi tài chính trong SNA 93

(b) Một số đơn vị không vị lợi khác, ví dụ như các tổ chức kinh doanh tài

chính tín dụng nhỏ, có các hoạt động chính là các giao dịch tài chính, những đơn

vị này được xếp vào khu vực thể chế tài chính trong SNA 93

(c) Một số đơn vị không vị lợi khác thì lại nhận được tài trợ chủ yếu từ

chính phủ và cũng chịu sự quản lý của chính phủ thì những đơn vị này được xếp vào khu vực thể chế chính phủ trong SNA 93

(d) Những đơn vị không vị lợi tuy không có đủ tư cách pháp lý và thu nhập của họ chủ yếu do họ nhận được từ đóng góp tự nguyện Theo uỷ ban châu âu, những đơn vị này được xếp vào khu vực hộ gia đình

18

Trang 20

(e) Cuối cùng, các đơn vị không vị lợi nhận được sự đống góp, ủng hộ từ

các hộ gia đình, và các đơn vị này không do chính phủ cung cấp tài chính và cũng không chịu sự quản lý của chính phủ, thì sẽ được xếp vào khu vực thể chế không

vị lợi phục vụ hộ gia đình trong SNA 93

Mặc dù việc phân loại các khu vực thể chế trong SNA 93 tạo nhiều thuận lợi cho các mục đích phân tích, tuy nhiên, nó vẫn gây ra không ít các khó khăn để

có thể đánh giá một cái nhìn toàn diện về các don vị không vị lợi Việc đánh giá

này ngày càng trở nên cấp thiết do việc phát triển mạnh mẽ của các hoạt động của các đơn vị không vị lợi trên toàn thế gidt., hơn nữa, để thuận lợi cho VIỆC SO sánh quốc tế cũng như cho các mục đích nghiên cứu chính sách kinh tế, thống kê liên hiệp quốc kiến nghị biên soạn 1 khu vực riêng cho các đơn vị không vị lợi và dựa vào đó để xây dựng tài khoản vệ tình cho các đơn vị này Tài khoản vệ tinh này sẽ có cấu trúc tương tự như hệ thống các tài khoản trong SNA 93, nó sẽ phản ánh toàn bộ các giao dịch trong nội bộ khu vực không vị lợi và giữa khu vực không vị lợi với các khu vực thể chế khác trong nền kinh tế

Dé dat được mục đích trên, khu vực không vị lợi sẽ được xây dựng dựa trên bảng mô phỏng sau đây:

KV không vị

3.2 Phân theo hình thức hoạt động:

Các đơn vị không vị lợi có thể xuất hiện đưới rất nhiều hình thức khác nhau

như là các đơn vị có tư cách pháp nhân hay là đưới dạng các tổ chức được xã

19

Trang 21

hội thừa nhận Các ví dụ ở dưới đây sẽ đề cập tới một số loại hình phố biến nhất về các đơn vị không vị lợi:

a Các đơn vị cung cấp dịch vụ không vị lơi: các bệnh viện, các học viện dao tạo, các trường học, các trung tâm cung câp dịch vụ xã hội, các tổ chức về bảo vệ môi trường

Các tô chức trợ giúp quôc tê: Thúc đây phát triên kinh tê hay xoá đói giảm nghèo ở các khu vực kém phát triên trên thê giới

Các tổ chức văn hoá nghệ thuật: bao gồm các bảo tàng, các trung tâm biểu diễn nghệ thuật, các ban nhạc, các hội văn học, lịch sử .vv

Các câu lạc bộ thê thao: bao gồm các câu lạc bộ thể thao nghiệp dư, đào tạo thể thao, trung tâm thê hình, dưỡng sinh vv

Các nhóm tư vân luật: mục đích bảo vệ quyền công dân và các quyên lợi khác, hoặc tư vân về các lợi ích xã hội, lợi ích chính trị cho một nhóm cộng đông dân cư nảo đó

Các tô chức cứu trợ: là các tô chức có tài sản riêng, họ dựa vào những lợi

nhuận có được từ tài sản đó đề hỗ trợ hay tự tiên hành các dự án, chương

trình của riêng mình

Các hiệp hội dân cư: đó là các hiệp hội mà các thành viên có thê giúp đỡ,

tư vần cho nhau hay cho một nhóm dân cư cụ thê nào đó

Các đảng phái chính trị: các đảng này nhắm giúp đỡ các ứng cử viên có thê

có vị trí trong các cơ quan chính trị

Các câu lạc bộ xã hội: Bao gôm các câu lạc bộ du lịch được thành lập nhăm cung câp các dịch vụ và các cơ hội vui chơi giải trí cho các thành viên của câu lạc bộ

Các nghiệp đoàn, các hiệp hội doanh nghiệp: các tổ chức này được thành lập nhăm thúc day va bảo vệ lợi ích của người lao động, của doanh nghiệp Các tô chức tôn giáo: ví dụ như phật giáo, thiên chúa giáo vv các tổ chức

này được thành lập nhăm phục vụ, quản lý các dịch vụ về tôn giáo, tín ngưỡng

Trên đây là một số hình thức cụ thê về các đơn vị không vị lợi, tuy nhiên

đề có thể xác định một đơn vị có phải là không vị lợi hay không, người ta phải căn cứ vào rât nhiêu tiêu chí như đã nêu ở trên Tuỳ thuộc vào tình hình thực tế ở

20

Trang 22

mỗi quốc gia, những loại hình trên có thể xuất hiện hay không Tuy nhiên, thống

kê liên hiệp quốc vẫn cố găng đưa ra một số loại hình cơ bản với mục đích làm ví

dụ minh hoa về các đơn vị không vị lợi xuất hiện phố biến ở các nước đã được nghiên cứu

21

Trang 23

PHAN II

NOI DUNG, PHAM VI VA PHUONG PHAP TINH GIA TRI SAN XUAT,

CHI PHI TRUNG GIAN, GIA TRI TANG THEM CUA CAC DON VI

HOAT ĐỘNG KHÔNG VÌ LỢI THUỘC CÁC NHÓM NGÀNH KINH TẾ

vụ đem lại lợi ích cho một nhóm người, cho doanh nghiệp hoặc các tổ chức quản

lý trực tiếp và cung cấp tài chính cho chúng hoặc vì mục đích từ thiện, phúc lợi Hoạt động mang tính độc lập, tự nguyện không phụ thuộc vảo sự chi phối của bất

cứ đơn vị nào khác; tách biệt về mặt thể chế với Chính phủ (nghĩa là không thực hiện chức năng quản lý nhà nước) Những hàng hoá va dich vụ do các đơn vị giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học cung cấp miễn phí hoặc với mức thấp hơn so với mức giá thị trường cho các đối tượng cần cung cấp và trợ giúp Tuy nhiên các đơn vị không vì lợi này có thể kiếm được giá trị thặng dư trong quá trình hoạt động của nó, nhưng tất cả nhữung thặng dư này đều được đâu tư vào hoạt động của đơn vị, không được phân chỉa cho các tổ chức, người sở hữu, người sáng lập,

các thành viên, hội đồng hay ban quản lý của đơn vị

2 Phạm vi hoạt động giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học công nghệ mang tính chất không vì lợi được thực hiện trong các lĩnh vực: nhà trẻ và giáo dục mầm non; giáo dục tiểu học, giáo dục trung học, giáo dục và đào tạo trung học chuyên nghiệp, cao đẳng đại học và sau đại học, bổ túc văn hoa; hoạt

'động nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu phát triển và thử

nghiệm

3 Hoạt động giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học công nghệ thuộc khu vực không vì lợi mang tính chất phi thị trường và thị trường (tuy nhiên phần dịch vụ mang tính thị trường thường nhỏ)

4 Giá trị sản xuất, chỉ phí trung gian và giá trị tăng thêm của hoạt động g1áo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học công nghệ được tính theo hai loại giá: giá thực tế và giá so sánh

22

Trang 24

B Nội dung, phương pháp tính giá trị sản xuất, chỉ phí trung gian và giá trị tắng thêm

1 Theo giá thực tế

1.1 Giá trị sản xuất

- Hoạt động nhà trẻ và giáo dục mâm non; giáo dục tiểu học; giáo dục trung học; giáo dục và đảo tạo trung học chuyên nghiệp, cao đăng, đại học và sau đại học; bô túc văn hoá, giáo dục và đào tạo khác không vì mục đích lợi nhuận

- Hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ không vì lợi

- Giá trị (đầu vào) lao động tình nguyện phục vụ cho hoạt động hoạt động giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học công nghệ

Do đặc thù và tính chất khác nhau về điều kiện và nhiệm vụ hoạt động của các đơn vị hoạt động giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học công nghệ thuộc khu vực không vì lợi nên giá trị sản xuất được tính theo các phương pháp sau:

a Đối với hoạt động hoạt động giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học công

nghệ thuộc khu vực không vì lợi mang tính chất thị trường

Doanh thu tiêu thụ thuần hoặc đoanh thu tiêu

Giá trị sản xuất (theo giá đ

( ° Il thụ sản phẩm dịch vụ hoạt động giáo dục, dao

co ban hay gia san xuat

& tạo và nghiên cứu khoa học công nghệ trong

kỳ

b Đối với hoạt động giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học công nghệ thuộc khu vực không vì lợi mang tính chất phi thị trường được dựa trên chi phí cho hoạt động sản xuất trong kỳ của đơn vị để tính:

= Tổng chi phí thường xuyên cho hoạt động của đơn vị

Chi phí sửa chữa lớn tài sản cỗ định phục vụ cho hoạt động của

- (trừ)

Gia trị sản xuât

Các khoản chỉ chuyển nhượng thường xuyên (nhưu: phúc lợi tập

và đơn vị khác và dân cư v.v

+ Phan hao mòn TSCPĐ trong năm của đơn vị

(cộng)

23

Trang 25

c Đối với phân giá trị công lao động tình nguyện (không phải trả công lao động) cho hoạt động giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học:

Ở nhiều ngành các đơn vị không vì lợi sử dụng lao động có trả lương và

lao động tình nguyện không trả lương, thông thường sử dụng lao động tình

nguyện không trả lương có xu hướng tăng lên, nhiều loại hình hoạt động, nhiều đơn vị sử dụng một lượng lớn lao động tỉnh nguyện Tuy nhiên phương pháp tính, phạm vi thu thập thông tin va chất lượng về lao động và công việc tình nguyện còn hạn chế so với việc có trả lương Đối với những loại sản phẩm hàng hoá và địch vụ do các đơn vị không vì lợi tạo ra mang tính thị trường thì việc đo lường kết quả đầu ra như giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm vv mang tính đât đủ hơn có nghĩa là có trả lương hay không trả lương (lao động tình nguyện) đều được thể hiện trong giá trị sản phẩm hàng hoá và dịch vụ Nhưng đối với những sản phẩm hàng hoá và dịch vụ các đơn vị không vị lợi, không mang tính thị trường lại gặp khó khăn, nhất là lao động tình nguyện không trả lương chưa được thể hiện trong chi phí hoạt động sản xuất của đơn vị vv.Do đó chưa đánh gia

đúng kết quả dịch vụ đã được tạo ra, vì vậy theo quốn số tay về các đơn vị không

vì lợi trong Tài khoản quốc gia của thống kế liên Hợp Quốc và trường đại hoc Jóhn Hopkins đã đưa ra khuyến nghị giá trị dịch vụ từ kết quả lao động tình nguyện được đánh giá bằng giá trị ngày công( hay giờ công) lao động tình

nguyện.)

Mức lương hoặc thù lao lao động bình quân

lao động công lao động tỉnh nguyện trong sa „ 4 TS La

tình nguyện kỳ (chia theo từng bậc học, câp da bậc h fnh › loại hình hoạt đô

cua bac hoc, cap hoc va loai hi a trong ky học, loại hình hoạt động) mm Pine Wass —_

trong kỳ

d Tổng Giá trị sản xuất của hoạt động giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học

không vì lợi = (bằng) phần giá trị sản xuất của các đơn vị không vì lợi mang tính

chất thị trường + (cộng) phần Giá trị sản xuất của các đơn vị không vì lợi mang

tính chất phi thị trường + (cộng) phần giá trị công lao động tình nguyện (không

phải trả công) phục vụ cho hoạt động hoạt động giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học

1.2 Chỉ phí trung gian

24

Trang 26

Chi phí trung gian của hoạt động giáo dục, đảo tạo và nghiên cứu khoa học

không vì lợi bao gồm chi phí vật chất và chí phí dịch vụ phục vụ cho hoạt động

thường xuyên trong kỳ của các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực hoạt động giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học không vi lợi

a Đối với những trường hợp hoạt động giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học thực hiện chế độ hạch toán thu chi đầy đủ, chỉ phí trung gian trong kỳ bao gồm các yếu tố sau:

i Chi phí vật chất gồm:

- Chi thanh toán tiền điện nước

- Chi tiền nhiên liệu

- Chi vật tư, văn phòng phẩm

- Chi mua phim ảnh, sách, báo (tạp chí, thư viện v.v phục vụ cho hoạt động sản xuất của đơn vị

- Chi mua trang thiết bị, dụng cụ chuyên đùng không phải tài sản cỗ định

- Chi mua đồ dùng, dụng cụ bảo hộ lao động

- Các chi phí vật chất khác phục vụ cho hoạt động thường xuyên của đơn

VỊ

ii Chi phi dịch vụ:

- Chi thanh toán tiền vệ sinh, môi trường và các địch vụ liên quan đến vệ sinh môi trường và dịch vụ công cộng

- Chi cước phí điện thoại, trong và ngoài nước, cước phí bưu chính, fax, thuê bao kênh vệ tình, truyền hình, quảng cao, internet, website v.v

- Chi phí hội nghị, tập huấn nghiệp vụ v.v (không kể tiền bồi dưỡng

- giảng viên, báo cáo viên)

- Chi công tác phí (không kế tiền phụ cấp công tác phí)

- Chi cho đoàn ra và đoàn vào (không kẻ: tiền ăn, tiền tiêu vặt và phụ cấp công tác phí)

- Chi sửa chữa thường xuyên TSCĐ

- Chi thanh toán hợp đồng với bên ngoài về thuê điều tra, khảo sát, thăm

đò dư luận, chi nghiệp vụ chuyên môn, chỉ kỷ niệm những ngày lễ lớn v.v

25

Trang 27

b Đối với những đơn vị giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học không vì lợi chưa

thực hiện chế độ hạch toán thu chi day da

¬- , Giá trị sản xuât của các Tỉ lệ chị phí

` ` ` đơn vị hoạt động giáo trung gian so với hoạt động giáo dục, đảo tạo và i ` " peg ‘

: VÀ kaa cứu khoa học không vi lợi của các don vi

To ax gn J chua thuc hién ché dé diéu tra mau toán thu chỉ đây đủ trong kỳ „ `

hạch toán thu chi trong kỳ trong ky

1.3 Giá trị tăng thêm

Giá trị tăng thêm của hoạt động hoạt động giáo dục, đảo tạo và nghiên cứu khoa học không vì lợi là phần còn lại của Giá trị sản xuất sau khi đã trừ chi phí

trung gian Cấu thành của giá trị tăng thêm cũng bao gồm: Thu của người lao động, khấu hao TSCĐ, thuế sản xuất và giá trị thặng dư Tuy nhiên, thuế sản xuất của hoạt động không vì lợi thường không có hoặc rất nhỏ Có hai phương pháp được vận dụng để tính giá trị tăng thêm của loại hình hoạt động này như sau:

¡ Theo phương pháp sản xuất

Giá trị tăng thêm = Giá trị sản xuất - Chỉ phí trung gian

1 Theo phương pháp thu nhập

Giá trị tăng thêm bằng tổng các yếu tổ sau:

- Thu của người lao động

- Khấu hao TSCĐ (số trích khấu hao TSCĐ trong năm)

- Thuế sản xuất (nếu có)

- Giá trị thặng dư (nếu có) Giá trị ngày công lao động tình nguyện (chưa được tính trong phân giá trị thặng dư và phân thu của người lao động)

26

Trang 28

giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học bình quân trong năm cân nghiên cứu so với năm gốc so sánh theo phương pháp sau

2.1 Giá trị sản xuat

CƠ) to(hoạt động giáo GO, wap)

Trong đĩ:

+ GOt(epy: Gia tri sản xuất của hoạt động giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học khơng vì lợi năm cần nghiên cứu t, tính theo giá năm gốc so sánh to

+ GÕ:yepy: CHá trị sản xuất của hoạt động giáo dục, đào tạo và nghiên cứu

khoa học khơng vì lợi của năm cần nghiên cứu t theo giá thực tế năm t

Tope to(DvGD): Chi số gia sản xuất cho hoạt động dịch vụ giáo dục đào tạo của năm can nghiên cứu t so với năm gốc so sánh to Trong thực tế hiện nay chưa cĩ chỉ số giá tương thích cho từng loại hoạt động để áp dụng theo cách tính trên, ta

cĩ thể sử dụng phương pháp ngoại suy khối lượng để tính Giá trị sản xuất của hoạt động giáo dục đào tạo theo cách sau:

Giá trị sản xuất của hoạt động

theo giả so sánh

Trong đĩ:

SỐ lượng học sinh, sinh viên, học viên thuộc khu vực khơng

vì lợi của năm cân nghiên cứu t

Sơ lượng học sinh, sinh viên, học viên thuộc khu vực khơng

VÌ lợi của năm gốc so sánh to

(Lưu ý: chỉ số khối lượng (Iqt,to) cĩ thể tính riêng cho từng cấp học, bậc học như: mầm non, tiêu học, trung học cơ sở, trung học phố thơng, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng đại học và trên đại học)

2.2 Chỉ phí trung gian

Chị phí trung gian theo giá so sánh năm to của hoạt động giáo dục đào tạo

được tính theo cơng thức sau: |

27

Trang 29

ICtt(ed) LC(to(GD

+I vt, to: chi s6 gid chỉ phí đầu vào cho hoạt động giáo dục đào tạo, hoặc chỉ

số giá tiêu dùng nhóm vật tư, nhiên liệu trong thiết bị, động lực, dịch vụ cho giáo dục đào tạo bình quân năm cần nghiên cứu t so với năm gốc to

2.3 Giá trị tăng thêm

Gia tri tăng thêm của hoạt động giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học

không vì lợi theo giá so sánh năm gốc được tính như sau:

Theo phương pháp giảm phát kép:

Trang 30

Il HOAT DONG KHONG Vi LỢI THUỘC NGÀNH VĂN HOÁ, THE THAO, VUI CHƠI GIẢI TRÍ

A Đơn vị và phạm vi hoạt động

1 Đơn vị không vì lợi trong lĩnh vực văn hoá, thể thao, vui chơi giải trí là

các thực thể có tư cách pháp nhân hay được xã hội thừa nhận, nhất là các tổ chức đơn vị văn hoá, nghệ thuật, trung tâm biểu diễn nghệ thuật, các trung tâm hoặc các ban hoà nhạc, các tô chức văn hoá, lịch sử và các bảo tàng, nghệ thuật, lịch

sử, chiến tích; các câu lạc bộ thê thao nghiệp dư, đào tạo thể thao, thâm mỹ và các trung tâm thi đấu và các hoạt động văn hoá và giải trí khác Những đơn vị này được thành lập nhằm mục đích hoạt động không vì lợi nhuận, cung cấp các địch vụ đem lại lợi ích cho một nhóm người, cho doanh nghiệp hoặc tổ chức quản

lý trực tiếp vả cung cấp tài chính cho chúng hoặc vỉ mục đích từ thiện, phúc lợi, hoạt động mang tính chất độc lập không phụ thuộc vào sự chi phối bởi bất cứ đơn

vị nảo khác; tách biệt về mặt thể chế với Chính phủ (nghĩa là không thực hiện các chức năng quản lý nhà nước) Những hàng hoá và dịch vụ do các đơn vị văn văn hoá, thể thao, vui chơi giải trí cung cấp miễn phí hoặc với mức thấp hơn so với mức giá thị trường cho các đối tượng cần cung cấp và trợ giúp Tuy nhiên các đơn vị không vì lợi về văn hoá, vui chơi giải trí có thể thu được giá trị thặng dư trong quá trình hoạt động của nó, nhưng tất cả những phần thặng dư này đều được đầu tư vào hoạt động của đơn vị, không được phân chia cho các tổ chức, người sở hữu, người sáng lập, các thành viên trong đơn vị hoặc hội đông hay ban quản lý của đơn vỊ

2 Phạm vi hoạt động văn hoá, thê thao, vui chơi giải trí mang tính chất không vì lợi được thực hiện trong các lĩnh vực sau:

- Hoạt động điện ảnh, phát thanh, truyền hình, hoạt động nghệ thuật sân khẩu, âm nhạc và nghệ thuật

- Hoạt động thông tân;

- Hoạt động thư viện, lưu trữ, bảo tảng, bảo tôn tự nhiên, nhân tạo, công viên và các hoạt động văn hoá khác;

- Hoạt động thê thao và vui chơi giải trí khác

3 Sản phẩm dịch vụ của hoạt động văn hoá, thể thao, vui chơi giải trí

không vì lợi mang tính chất phi thị trường và thị trường, tuy nhiên phần mang

tính chất phi thị trường là chủ yếu

29

Ngày đăng: 14/05/2014, 18:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Tai liéu hoi thao NPI- Du an Johns Hopkins.( Bangkok Thai land nam 2004, 2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tai liéu hoi thao NPI- Du an Johns Hopkins
Nhà XB: Bangkok Thai land
Năm: 2004, 2005
1. System of National Accounts 1993 (SNA 1993) Khác
2. Số tay về các đơn vi không vị lợi trong lĩnh vực tài khoản quốc gia ( United Nations New York, 2003) Khác
4. Xác định đơn vị không vị lợi ở Newzealand Khác
6. Phương pháp biên soạn hệ thống tài khoản quốc gia Viét nam ( NXB Thống kê 2003) Khác
7. Biên soạn tài khoản vệ tỉnh khu vực Không vị lợi của Australia 2004 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w