1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khả năng tính toán chỉ tiêu GDP xanh ở việt nam

99 740 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu khả năng tính toán chỉ tiêu GDP xanh ở Việt Nam
Tác giả Đinh Thị Thúy Phương
Trường học Viện Khoa Học Thống Kê, Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư
Chuyên ngành Kinh Tế & Quản Lý
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài cấp cơ sở
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi vậy các nhà kinh tế học đã không dừng lại ở việc đánh giá tăng trưởng sản xuất bằng việc tạo ra khối lượng tổng sản phẩm trong nước GDP đơn thuần, mà cần phải đánh giá bằng chỉ tiêu

Trang 1

Bộ kế hoạch và đầu tư

Viện khoa học thống kê

Báo cáo tổng kết đề tài cấp cơ sở

Nghiên cứu khả năng tính toán

chỉ tiêu GDP xanh ở việt nam

Chủ nhiệm đề tài: ks đinh thị thúy phương

6664

20/11/2007

hà nội - 2007

Trang 2

Phần 1 một số vấn đề về chỉ tiêu GDP và sự cần thiết tính

chỉ tiêu GDP xanh ở Việt Nam

3

1 Cơ sở lý luận chỉ tiêu GDP và thực tế áp dụng chỉ tiêu GDP ở Việt Nam 3

2 Sự cần thiết tính chỉ tiêu GDP xanh ở Việt Nam 5

Phần 2 Những vấn đề lý luận chung về phương pháp tính

chỉ tiêu GDP xanh

9

2.1 Phương pháp tính GDP trong hệ thống tài khoản quốc gia 10

2.3 Một số điểm khác biệt giữa tính GDP trong SNA và trong SEEA 15

Trang 3

3 Điều kiện và khả năng đảm bảo tính khả thi để tính chỉ tiêu GDP xanh 42

3.2 Đòi hỏi khách quan tính chỉ tiêu GDP xanh ở Việt Nam trong tương lai 42 3.3 Điều kiện và khả năng tính chi phí chi tiêu dùng tài nguyên và mất mát về môi

trường do các hoạt động kinh tê gây ra

43

3.4 Nâng cao năng lực trình độ cán bộ thực hiện tính GDP xanh 46 3.5 Đầu tư tài chính và thời gian để tiến hành tính chỉ tiêu GDP xanh 46

4.1 Xác định nguồn thông tin và tổ chức thu thập thông tin chủ yếu phục vụ tính chi

phí chi tiêu dùng tài nguyên

48

4.2 Xác định nguồn thông tin và tổ chức thu thập thông tin chủ yếu phục vụ tính mất

mát, thiệt hại về môi trường do các hoạt động kinh tế gây ra

49

5 Thử nghiệm xác định các nguồn thông tin để tính chi phí khắc phục hậu quả

môi trường xấu đi do sản xuất Công nghiệp gây ra

51

5.1 Các nguồn thông tin để tính VA ban đầu theo phương pháp sản xuất 51 5.2 Tính thử nghiệm giá trị tăng thêm xanh của ngành công nghiệp: 56

Phụ lục

Trang 4

Đặt vấn đề

Tăng trưởng kinh tế bền vững là sự kết hợp giữa: Kinh tế, xã hội và môi trường

và đang trở thành xu thế phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Những nghiên

cứu gần đây đều cho thấy tăng trưởng kinh tế có liên quan đến ô nhiễm môi trường

và sử dụng tài nguyên Yếu tố tài nguyên và môi trường chính là một trong những

tiêu chí đánh giá chất lượng tăng trưởng

Hiện nay trước thực trạng các quốc gia đang tìm mọi biện pháp phát triển

nhanh nền kinh tế của mình để tạo ra đời sống xã hội không ngừng nâng lên Nhưng

thực tế bên cạnh sự giầu có của mỗi quốc gia tăng lên, thì toàn cầu, trong đó có cả

các nước giầu, các nước đang phát triển và các nước nghèo đều phải gánh chịu hậu

quả xấu về môi trường thiên nhiên, sức khoẻ và bệnh tật do phát triển sản xuất bằng

mọi giá gây ra Bởi vậy các nhà kinh tế học đã không dừng lại ở việc đánh giá tăng

trưởng sản xuất bằng việc tạo ra khối lượng tổng sản phẩm trong nước (GDP) đơn

thuần, mà cần phải đánh giá bằng chỉ tiêu chất lượng hơn đó là chỉ tiêu GDP phần

còn lại sau khi GDP đã trừ đi chi phí tiêu dùng tài nguyên và mất mát về môi trường

do các hoạt động kinh tế gây ra, gọi đó là chỉ tiêu GDP xanh

Trong thực tế, để tính toán được chỉ tiêu GDP xanh là hết sức khó khăn, mặc

dù Liên Hợp quốc đã đưa ra phương pháp tính chỉ tiêu GDP xanh và trong thực tế đã

có một số nước bước đầu đã có những nghiên cứu cơ bản tính toán thử nghiệm chỉ

tiêu GDP xanh như Trung Quốc, Nhật Bản và Indonexia

ở Việt Nam có một số nhà nghiên cứu và cơ quan cũng đã quan tâm đến chỉ

tiêu GDP xanh Tuy nhiên đứng trên giác độ thống kê, tính toán chỉ tiêu GDP xanh,

nguồn thu thập thông tin để phục vụ tính phần chi phí tiêu dùng tài nguyên và mất

mát về môi trường do các hoạt động kinh tế gây ra như thế nào ? thì chưa được đề

cập đến, do vậy đây là lý do tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu khả năng tính toán

chỉ tiêu GDP xanh ở Việt Nam” để nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đề xuất phương pháp tính chỉ tiêu GDP xanh ở Việt Nam và các điều kiện để

triển khai ứng dụng trong thực tế, trên cơ sở vận dụng cách tính của Thống kê Liên

hợp Quốc và tham khảo kinh nghiệm tính chỉ tiêu GDP xanh ở một số nước

Trang 5

Nội dung nghiên cứu

- Thực trạng tính chỉ tiêu GDP hiện nay ở Việt Nam;

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và phương pháp luận tính chỉ tiêu GDP xanh;

- Nghiên cứu kinh nghiệm tính chỉ tiêu GDP xanh Nhật Bản và Trung Quốc;

- Nghiên cứu và đề xuất một số điều kiện chủ yếu phục vụ tính chỉ tiêu GDP xanh ở Việt Nam;

- Nghiên cứu nguồn thông tin và tính thử nghiệm chỉ tiêu giá trị tăng thêm (VA) xanh trong ngành Công nghiệp ở Việt Nam

Sau một năm nghiên cứu với sự phối hợp và giúp đỡ của một số Anh (Chị) Vụ

Hệ thống Tài khoản Quốc gia, Vụ Thống kê Công nghiệp và xây dựng và một số cán

bộ nghiên cứu của Viện Khoa học Thống kê, đề tài đã hoàn thành năm báo cáo chuyên đề khoa học1 Dựa vào kết quả nghiên cứu của các chuyên đề khoa học, Ban chủ nhiệm đề tài đã tổng hợp và hệ thống hoá lại thành báo cáo tổng hợp và báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu Bám sát mục tiêu và nội dung nghiên cứu đề tài đưa ra, ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, kết cấu đề tài gồm 3 phần:

Phần I Thực tế áp dụng chỉ tiêu GDP và sự cần thiết tính chỉ tiêu GDP xanh ở Việt

Nam

Phần II Những vấn đề lý luận chung về phương pháp tính chỉ tiêu GDP xanh và kinh nghiệm tính chỉ tiêu GDP xanh ở Nhật Bản và Trung Quốc

Phần III Đề xuất khả năng tính chỉ tiêu GDP xanh ở Việt Nam

Nghiên cứu khả năng tính toán chỉ tiêu GDP xanh ở Việt Nam là một vấn đề mới và hết sức khó khăn, mặc dù Thống kê Liên Hợp quốc đã đưa ra phương pháp tính, nhưng nhiên để vận dụng tính GDP xanh cụ thể ở từng nước còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, do vậy trong phạm vi một đề tài khoa học cấp cơ sở và thời gian một năm, chắc chắn kết quả nghiên cứu đề tài sẽ chưa thể hoàn thiện Ban chủ nhiệm đề tài rất mong nhận được ý kiến góp ý để chúng tôi hoàn thiện kết quả đề tài hơn

1 Danh mục các chuyên đề khoa học của đề tài trang 61

Trang 6

Phần I một số vấn đề về chỉ tiêu GDP và

Sự cần thiết tính chỉ tiêu GDP xanh ở Việt Nam

1 Cơ sở lý luận chỉ tiêu GDP và thực tế áp dụng chỉ tiêu GDP ở Việt Nam

1.1 Khái niệm GDP

GDP là một chỉ tiêu quan trọng, phản ánh kết quả sản xuất của nền kinh tế

của một nước trong một thời kỳ nhất định trong hệ thống tài khoản quốc gia (SNA)

SNA đã hình thành về cơ bản từ năm 1953, đây là kết quả nỗ lực của các nhà kinh tế

và các nhà thống kê sau 300 năm nghiên cứu Dưới sự chủ trì của Liên Hợp quốc, hệ

thống này đã có hai lần hoàn thiện quan trọng vào năm 1968 và năm 1993 nhằm

giải quyết một số thiếu sót về mặt kỹ thuật Ngày nay, nó vẫn là chuẩn mực thống

nhất để đánh giá trình độ phát triển kinh tế của một đất nước

Theo SNA, GDP là giá trị hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được tạo ra của nền

kinh tế, trong một khoảng thời gian nhất định thường là một năm Thuật ngữ “hàng

hoá cuối cùng” được hiểu theo nghĩa rộng đó là không tính giá trị hàng hoá và dịch

vụ sử dụng ở các khâu trung gian trong quá trình sản xuất ra sản phẩm

1.2 Phương pháp tính chỉ tiêu GDP

Theo SNA 1993, có 3 cách tính GDP, gồm: phương pháp sản xuất, phương

pháp thu nhập và phương pháp sử dụng

- Phương pháp sản xuất: GDP bằng (=) tổng giá trị tăng thêm (VA) của các

ngành kinh tế cộng (+) với thuế nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ

- Phương pháp thu nhập: GDP bằng (=) tổng thu nhập tạo nên từ các yếu tố

tham gia vào quá trình sản xuất, gồm 4 yếu tố: Thu nhập của người lao động từ sản

xuất (bằng tiền và bằng hiện vật); khấu hao tài sản cố định dùng trong sản xuất; thuế

sản xuất và thặng dư sản xuất

- Phương pháp tiêu dùng: GDP bằng (=) tổng chi tiêu dùng cuối cùng (của

Chính Phủ và của dân cư); tích luỹ tài sản (cố định, lưu động và quý hiếm) và chênh

lệch xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ

Trang 7

Trong thực tế ở Việt Nam hiện nay, với 3 phương pháp trên, tính GDP theo phương pháp sản xuất được áp dụng là chủ yếu Các phương pháp còn lại thường dùng để tham khảo, hoặc nếu có tính toán cũng chỉ mang tính chất bổ sung

1.3 Đặc điểm và thực tế áp dụng chỉ tiêu GDP ở Việt Nam

- Xuất phát từ phương pháp tính chỉ tiêu GDP hiện nay ở Việt Nam là theo phương pháp sản xuất, ngoài phần thuế nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ, GDP sẽ phụ thuộc vào kết quả VA trong phạm vi từng ngành kinh tế

- Trong thực tế sự thay đổi VA của các ngành kinh tế sẽ không phụ thuộc vào việc thay đổi tổ chức sản xuất, và thay đổi tư liệu sản xuất nhưng nó sẽ phụ thuộc vào sự thay đổi chi phí trung gian Với phương châm khuyến khích thực hiện tiết kiệm chi phí trung gian trong quá trình sản xuất sẽ dẫn đến tăng VA và VA sẽ phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất của các ngành kinh tế

Do có đặc điểm nêu trên, chỉ tiêu GDP của Việt Nam đã chính thức trở thành một chỉ tiêu trọng tâm trong hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động sản xuất, như:

+ Đánh giá tốc độ tăng trưởng kinh tế;

+ Đánh giá mức sống dân cư (GDP bình quân đầu người);

+ Nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế;

+ Tính toán nhiều chỉ tiêu kinh tế tổng hợp như chỉ số HDI; Hệ số ICOR, TFP

và một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp khác

Song, tấm huy chương nào cũng có mặt trái của nó, việc tăng VA trong phạm

vi từng ngành kinh tế hay tăng GDP trong toàn nền kinh tế sẽ có thể mang lại một số hiệu ứng phụ chủ yếu không mong muốn với các lợi ích - cái gọi là “phí tổn”, đó là:

(1) Do khuyến khích tiết kiệm chi phí trung gian trong hoạt động của các ngành kinh tế sẽ dẫn đến việc du nhập và sử dụng những máy móc, thiết bị và công nghệ lạc hậu phục vụ cho hoạt động sản xuất sẽ gây ô nhiễm môi trường, đồng thời vấn đề ô nhiềm môi trường hiện nay chưa được các ngành kinh tế quan tâm

Trang 8

(2) Đóng góp trong cơ cấu GDP chiếm tỷ trọng lớn là những ngành kinh tế có khai thác và sử dụng nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên vào quá trình sản xuất, do vậy nếu không sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên sẽ dẫn đến nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên trong tương lai

Như vậy, trong thực tế chỉ tiêu GDP trong toàn nền kinh tế, chưa tính đến các yếu tố môi trường và sinh thái, không thể phác hoạ được bức tranh thực tế và sâu sắc nền kinh tế của một nước, và quan trọng hơn chỉ tiêu GDP chưa chỉ ra được mối liên quan giữa ô nhiễm môi trường, suy giảm sinh thái và việc tăng GDP Qua đó nền kinh tế chỉ có thể nhìn thấy mức tăng trưởng kinh tế ở bề nổi mà không thấy (hay khấu trừ) được những thiệt hại “ngầm” do các hoạt động sản xuất gây ra Như vậy, vừa không đánh giá được đúng phí tổn phải chịu trong hiện tại, vừa không thể tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên môi trường cũng như không thể đánh giá mức độ ô nhiễm và quy trách nhiệm bồi hoàn thiệt hại theo nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” Những thiệt hại không tính được về tài nguyên và môi trường này không những gây ra những thiệt hại cho nền kinh tế hiện tại mà gây ra “gánh nặng” cho những thế hệ tương lai

Để đánh giá sự phát triển kinh tế của đất nước, bên cạnh chỉ tiêu GDP nên bổ sung thêm chỉ tiêu GDP xanh, chỉ tiêu GDP xanh không những phản ánh sự phát triển kinh tế mà còn cho biết sự phát triển kinh tế có bền vững hay không ? Đây là vấn đề được nhiều nước trên thế giới quan tâm và tính chỉ tiêu GDP xanh là cần thiết

2 Sự cần thiết tính chỉ tiêu GDP xanh ở Việt Nam

Theo các nhà kinh tế môi trường và nhiều tổ chức quốc tế2, SNA với hệ thống các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp như GDP, GNI; v.v và các tài khoản và các bảng cân

đối đang được sử dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới chưa phản ánh đầy đủ những chi phí xã hội của các hoạt động kinh tế Cụ thể là SNA chưa thể hiện đầy đủ những chi phí liên quan tới bảo vệ môi trường cũng như chưa phản ánh hết được sự xuống cấp, suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên do các hoạt động kinh tế, sinh

2 Ví dụ như: Salah Serafy và Ernst Lutz, 1989; Cooray N.S, 2001; Bartelmus P và Tongeren J., 1994; IUCN, 1989; UNEP, 2000

Trang 9

hoạt của con người gây ra Ví dụ như các tài khoản của SNA truyền thống không thể hiện riêng biệt các khoản chi để bảo vệ môi trường hoặc giảm bớt sự xuống cấp của môi trường; môi trường cung cấp cho con người nhiều loại sản phẩm, trong đó có nhiều loại sản phẩm tuy có giá trị nhưng không được trao đổi, mua bán trên thị trường nên giá trị của chúng không được biểu thị trong giá sản phẩm được đem bán trên thị trường1; môi trường cũng cung cấp nhiều loại dịch vụ cho đời sống của con người, nhưng loại dịch vụ này không được tính vào SNA; SNA truyền thống thường tính phần khấu hao tài sản cố định (máy móc, thiết bị) vào tài khoản khấu hao, trong khi đó phần dự trữ tài nguyên bị mất đi do bị khai thác và sử dụng trong quá trình sản xuất lại được tính vào tài khoản thu nhập

Do những nhược điểm của SNA truyền thống, nhiều nước trên thế giới đã thống nhất quan điểm cần nghiên cứu để hoàn thiện thêm hệ thống hạch toán quốc gia hiện hành theo hướng đưa thêm tài khoản môi trường vào SNA truyền thống Theo đó phương pháp hạch toán kinh tế gắn với môi trường đã xuất hiện, bổ sung cho việc tính toán các chỉ tiêu kinh tế thuần tuý, đặc biệt là chỉ tiêu GDP hiện nay

đang được sử dụng Do đó, chỉ tiêu GDP xanh được nhiều nước trên thế giới quan tâm

Ngày nay các nhà kinh tế học ngày càng quan tâm tới vấn đề môi trường và

sự phát triển, và ý tưởng “phát triển bền vững” cuối cùng đã xuất hiện Mục tiêu của

phát triển bền vững là “đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại

đến các nhu cầu và sự phát triển của các thế hệ tương lai Một con đường phát triển

được xem là bền vững nếu và chỉ khi toàn bộ vốn không thay đổi hay tăng qua theo thời gian”2 Tổng vốn của một quốc gia được xác định bao gồm như sau:

- Vốn sản xuất (máy móc, đường xá, nhà máy, v.v )

- Vốn con người (kiến thức, kinh nghiệm, chuyên môn, v.v )

- Vốn môi trường (rừng, chất lượng đất trồng, chất lượng không khí, v.v )

1 Ví dụ như: Các cơ sở sản xuất, kinh doanh ở Việt Nam sử dụng nguồn nước ngầm trong quá trình sản xuất không phải trả chi phí về sử dụng nước như các nguồn nguyên liệu đầu vào khác, nên giá của sản phẩm không bao gồm chi phí để sử dụng nguồn nước ngầm hoặc nếu có thì chi phí là rất ít

2 Bài 13: Môi trường và phát triển; Munir Mahmud – Webside kinhtehoc.com.

Trang 10

Do vậy chỉ tiêu GDP xanh được sử dụng như một chỉ tiêu để đánh giá sự phát triển bền vững, do đã tính đầy đủ các chi phí về vốn sản xuất, vốn con người và vốn môi trường

Việt Nam đã từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới, việc tham gia vào các tổ chức trong khu vực và quốc tế thông qua ký kết các cam kết với những tổ chức trong khu vực và quốc tế đòi hỏi Việt Nam phải đẩy mạnh hơn nữa quá trình cải cách

và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế - xã hội sao cho phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế, trong đó có các chuẩn mực về hạch toán kinh tế và hạch toán môi trường Đồng thời, quá trình hội nhập cũng đòi hỏi các thông tin về môi trường cần

được phát triển mạnh và được truyền tải hơn nữa tới mọi đối tượng có liên quan, như các nhà sản xuất kinh doanh, các cơ quan quản lý kinh tế, v.v Điều này cũng có nghĩa là chi phí cho những hoạt động liên quan tới bảo vệ môi trường sẽ ngày một tăng lên, gây sức ép buộc cho việc phải áp dụng hạch toán môi trường Việt Nam đã hình thành hệ thống SNA tương đối phù hợp với thông lệ quốc tế, tuy nhiên hệ thống hạch toán môi trường vẫn chưa được thực hiện Đây cũng là một thách thức mà Việt Nam phải vượt qua cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhưng cũng là một cơ hội để thúc đẩy sớm áp dụng hạch toán môi trường và gắn kết hạch toán môi trường trong hệ thống tài khoản quốc gia ở Việt Nam

Trong thời gian qua nền kinh tế Việt Nam cùng với sự tăng trưởng cao và tương đối ổn định thì vấn đề ô nhiễm môi trường đang được đặt ra như một thách thức lớn trong chiến lược phát triển bền vững Xét về cơ cấu và tốc độ tăng trưởng của một số ngành kinh tế trong những năm gần đây cho thấy, các ngành công nghiệp gây ô nhiễm và các ngành sử dụng tài nguyên thiên nhiên luôn giữ vị trí quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của cả nước và đóng góp đáng kể vào tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế1 Mặt khác tốc độ tăng trưởng của các ngành Công nghiệp có tiềm năng gây ô nhiễm luôn đạt ở mức cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng trung bình của cả nước Đặc biệt trình độ công nghệ ở Việt Nam còn thấp, chỉ đạt mức trung bình so với các nước trên thế giới, đồng thời công tác quản lý

ô nhiễm môi trường nhìn chung còn nhiều bất cập thì cơ cấu kinh tế nói trên cho thấy

1

Các ngành Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thuỷ sản, Công nghiệp khai thác, Công nghiệp chế biến, khí

đốt, xây dựng những ngành được coi là sử dụng nhiều nhất nguồn tài nguyên và đóng góp chủ yếu vào tổng lượng chất thải từ các hoạt động sản xuất

Trang 11

ở Việt Nam phải đối mặt với những thách thức to lớn về tình trạng cạn kiệt nguồn tài nguyên, gia tăng ô nhiễm và xuống cấp môi trường cùng với quá trình phát triển kinh

tế trong thời gian qua và trong tương lai

Vì vậy sự cần thiết phải lượng hoá được những tác động của các hoạt động kinh tế - xã hội đến môi trường thiên nhiên đã được đặt ra như một nhiệm vụ cần

được ưu tiên trong thời gian tới Nhận thức được điều này, Đảng và Nhà nước đã đề

ra Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 nhằm duy trì lâu dài một tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, ổn định và bền vững

Không nằm ngoài xu hướng chung của thế giới, tình hình suy giảm tài nguyên

và ô nhiễm môi trường của Việt Nam đang ngày càng nghiêm trọng Việt Nam là một trong những nước nghèo, đang phát triển, xuất khẩu chủ yếu là của các ngành khai thác nguyên liệu thô nên nguồn tài nguyên của Việt Nam ngày càng bị cạn kiệt Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta tăng trưởng khá nhanh, kèm theo đó

là nguồn tài nguyên bị suy giảm nhanh chóng và môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng Tuy công nghiệp nước ta chưa thực sự phát triển, nên lượng khí thải công nghiệp thấp hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới, nhưng môi trường nước ta lại bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trầm trọng vì chưa có điều kiện xử lý chất thải và cải tạo tốt môi trường Điều này có thể thấy rất rõ ở một số tỉnh, thành phố

đông dân cư, đặc biệt là các thành phố lớn, các trung tâm kinh tế của cả nước như thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh v.v…

Trước thực trạng này, các chuyên gia kinh tế và môi trường ở Việt Nam đã lên tiếng và cho rằng cần phải tính toán các chi phí phục hồi môi trường vào GDP thì mới phản ánh đúng được thực trạng phát triển của nền kinh tế Nói cách khác, phát triển

kinh tế phải tính đến bảo vệ môi trường mới là phát triển bền vững

Trang 12

Phần II Những vấn đề lý luận chung về phương pháp tính chỉ tiêu GDP xanh

1 Khái niệm GDP xanh

GDP xanh là phần còn lại của GDP thuần sau khi đã khấu trừ chi phí về tiêu dùng tài nguyên và mất mát về môi trường do các hoạt động kinh tế Cụ thể là:

đất nước trên cả ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường Chỉ tiêu này không những

phản ánh tăng trưởng về số lượng mà còn phản ánh cả chất lượng tăng trưởng, đây

là điều quan tâm của mọi quốc gia trên thế giới

Việc xác định chỉ tiêu GDP xanh hiểu theo nghĩa rộng chính là “hạch toán chi phí môi trường” hay còn gọi là “hạch toán xanh” Cho dù được gọi theo thuật ngữ nào thì về thực chất đây là việc tính đúng, tính đủ các chi phí liên quan tới hoạt động bảo

vệ môi trường vào giá thành sản phẩm ở cấp độ doanh nghiệp hay đó là việc thay

đổi cách thể hiện trong tài khoản quốc gia, theo đó người ta bổ sung thêm vai trò của môi trường vào kết quả hoạt động nói chung của nền kinh tế Nói cách khác, trước kia trong hàm sản xuất Cob Douglas truyền thống thường bao gồm các yếu tố vốn, lao động, công nghệ, thì hiện nay cần bổ sung thêm cả yếu tố môi trường như một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất

Việc đưa ra chỉ tiêu GDP xanh đồng nghĩa với việc cần đưa ra kèm theo nó một hệ thống lý thuyết và khung nội dung cơ bản để đánh giá mối quan hệ nói chung giữa kinh tế và môi trường Đây là một nhiệm vụ rất quan trọng và cấp bách cho sự phát triển bền vững, cho việc đánh giá chất lượng tăng trưởng, thông qua hiệu quả sử

Trang 13

dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hoàn thiện chỉ tiêu GDP truyền thống, giúp phản ánh được một cách toàn diện mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường và bảo vệ đời sống của con người

Chỉ tiêu GDP xanh chính thức được giới thiệu vào năm 1993 trong Dự thảo hướng dẫn nhan đề “Gắn kết hạch toán môi trường và hạch toán kinh tế” do Liên Hợp Quốc xây dựng nhằm đưa ra một hệ thống gắn kết môi trường và kinh tế, gọi tắt

là SEEA1 Kể từ khi được hình thành đến nay, phương pháp luận để xây dựng SEEA

đã được điều chỉnh và hoàn thiện dần2 Trên thực tế, hệ thống này đã đề xuất những phương pháp có thể áp dụng để gắn kết môi trường với kinh tế trong một khuôn khổ thống kê thống nhất, nhưng còn đang trong thời kỳ được các nước áp dụng với mục tiêu thử nghiệm Lý do dẫn đến thực trạng này là tuy các nhà kinh tế và môi trường

đều đã đi đến thống nhất về quan điểm cũng như về cách tiếp cận đối với nội dung của SEEA, song vẫn còn những điểm chưa thống nhất về phương pháp tính toán các chỉ tiêu và các tài khoản tính toán liên quan đến môi trường vì còn nhiều khó khăn trong việc thu thập số liệu và áp dụng tính toán

2 Phương pháp tính chỉ tiêu GDP xanh

Việc tính toán chỉ tiêu GDP xanh hay nói cụ thể hơn là hạch toán môi trường trong tài khoản quốc gia, đây chính là bước hoàn thiện tài khoản quốc gia của Liên Hợp Quốc, do vậy phương pháp tính chỉ tiêu GDP xanh được xem xét trên cơ sở của phương pháp tính chỉ tiêu GDP trong hệ thống tài khoản quốc gia Theo thống kê Liên hợp quốc, tính chỉ tiêu GDP xanh có thể xuất phát từ bảng I/O hoặc theo cách hạch toán môi trường (trong bảng SEEA)

2.1 Phương pháp tính GDP trong Hệ thống Tài khoản Quốc gia

Hệ thống tài khoản quốc gia được trình bày dưới dạng những bảng cân đối hoặc những tài khoản nhằm phản ánh điều kiện sản xuất, kết quả sản xuất tổng hợp, quá trình sử dụng kết quả sản xuất đó cho các nhu cầu như tiêu dùng cho sản xuất,

Trang 14

tiêu dùng cuối cùng cho đời sống sinh hoạt dân cư và xã hội trong một khoảng thời gian (thường là một năm) Một trong những chỉ tiêu kinh tế vĩ mô thông dụng trong hệ thống tài khoản quốc gia được dùng trong so sánh quốc tế hiện nay là chỉ tiêu GDP

Trong Hệ thống tài khoản quốc gia, các tài khoản chủ yếu được tính/hạch toán dựa theo đẳng thức sau1:

* Đẳng thức về nguồn - sử dụng, được thể hiện như sau:

O + M = IC + C + CF + X Trong đó: O : Giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ sản xuất ra;

M : Nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ;

IC : Tiêu dùng trung gian;

C : Tiêu dùng cuối cùng;

CF : Tổng tích luỹ tài sản;

X : Xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ

* Đẳng thức về gia tăng đối với một ngành kinh tế, được thể hiện như sau:

NVAi = Oi - IIi - CCi Trong đó: NVAi : Giá trị gia tăng thuần ngành i;

Oi : Giá trị sản phẩm vật chất, dịch vụ ngành i sản xuất ra;

IIi : Chi phí trung gian của ngành i;

CCi : Tiêu dùng tài sản cố định của ngành i;

* Đẳng thức về sản phẩm trong nước, được thể hiện như sau:

GDP = C + CF + (X - M) Trong đó: GDP : Tổng sản phẩm trong nước;

Trang 15

CF : Tổng tích luỹ tài sản;

M : Nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ;

X : Xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ

2.2 Phương pháp tính GDP xanh trong SEEA 1

Mô hình SEEA mở rộng và bổ sung các tài khoản nguồn lực tự nhiên theo luồng và khối với đơn vị tính là giá trị và các tài khoản sản xuất và tài sản Bằng việc tính các chi phí do suy giảm (cả về mặt trữ lượng và giá trị) các nguồn tự nhiên không

sản xuất được do các hoạt động kinh tế gây ra, SEEA cho phép tính được tổng sản phẩm quốc nội thuần (GNP) được điều chỉnh có yếu tố môi trường (Enviromental adjusted net Domestic Products – EDP), hay nói cách khác chính là GDP xanh (Green GDP),

Trong SEEA, các đẳng thức nói trên được điều chỉnh tương ứng, gắn với chi phí do những tổn thất và do sự xuống cấp môi trường mà các hoạt động kinh tế - xã hội gây ra Theo đó, đẳng thức nguồn và sử dụng được điều chỉnh bằng việc dựa vào

đó đại lượng IC - vừa là chi phí môi trường, nhưng đồng thời cũng chính là sự tổn thất

và sự xuống cấp môi trường do hoạt động kinh tế gây ra Còn hai chỉ tiêu: VA và GDP sẽ được điều chỉnh tương ứng thành các chỉ tiêu VA có tính tới môi trường (EVA) và GDP có tính tới môi trường (EDP) hoặc GDP xanh

ứng với ba đẳng thức trên, tính toán/hạch toán gộp môi trường vào các tài khoản kinh tế tương ứng với hệ thống SEEA được biểu thị như sau:

* Đẳng thức về nguồn - sử dụng, được thể hiện như sau:

O + M = (IC + ECc) + C + (CF - ECt) + X

Trong đó: O : Giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ sản xuất ra;

M : Nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ;

IC : Tiêu dùng trung gian; ECc: Chi phí môi trường;

1

Nguồn: UNEP, “Integrated Environmental and Economic Accounting: An Operation Manual”,

Handbook for National Accounting, United Nations, 2000, tr 39

Trang 16

C : Tiêu dùng cuối cùng;

CF: Tổng tích luỹ tài sản; ECt: Giá trị tổn thất và xuống cấp tài nguyên môi trường

X : Xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ

* Đẳng thức về giá trị gia tăng (có tính đến yếu tố môi trường) đối với một ngành kinh tế, được thể hiện như sau:

EVAi = Oi - IIi - CCi - ECi = NVAi - ECi

Trong đó: EVAi : Giá trị gia tăng thuần có yếu tố môi trường của ngành i;

Oi : Giá trị sản phẩm vật chất, dịch vụ ngành i sản xuất ra;

IIi : Chi phí trung gian của ngành i;

CCi : Tiêu dùng tài sản cố định của ngành i;

ECi : Chi phí do tổn thất và xuống cấp môi trường của ngành i gây ra NVAi Giá trị gia tăng thuần của ngành i

* Đẳng thức về sản phẩm trong nước có tính đến yếu tố môi trường, được thể hiện như sau:

M X EC CC CF C EC NDP EC

EVA

Trong đó:

EDP : Tổng sản phẩm trong nước thuần có yếu tố môi trường hay GDP xanh;

EVA i : Tổng VA thuần có yếu tố môi trường

ECh : Chi phí xử lý ô nhiễm môi trường do tiêu dùng cuối cùng của hộ gia

Trang 17

CC : Tiêu dùng tài sản (Khấu hao tài sản)

Trong SEEA, các tài khoản liên quan tới môi trường được gắn kết với tài khoản kinh tế như trình bày trong 3 đẳng thức trên Theo đó đã có hai khoản được bổ sung vào SNA truyền thống dưới dạng hiện vật và giá trị, đó là:

Thứ nhất, đó là sự tiêu hao tài sản môi trường do hoạt động kinh tế gây ra, thể

hiện ở “tiêu dùng vốn tài nguyên thiên nhiên”, bao gồm các loại tài nguyên như nước,

đất, rừng, v.v Đây là những loại tài sản thường không được thể hiện trong tài sản kinh tế của SNA;

Thứ hai, đó là những chi phí môi trường mà các ngành kinh tế và hộ gia đình

đã chi trả cho việc sử dụng các tài sản môi trường trong quá trình sản xuất, làm cho các tài sản đó cạn kiệt, xuống cấp Những khoản chi phí này thể hiện ở “chi phí môi trường của ngành kinh tế (ECi )” và “chi phí môi trường của hộ gia đình (ECh )” Trên cơ sở hai khoản mục đó, một số chỉ tiêu kinh tế được điều chỉnh lại như: “tổng tích luỹ tài sản (CF)” được chuyển thành “Tổng tích luỹ tài sản có gắn với môi trường (ECF)”;

“Giá trị gia tăng thuần (NVA)” được chuyển thành “Giá trị gia tăng thuần có tính tới môi trường (EVA)”; và “Tổng sản phẩm trong nước thuần (GDP)” chuyển thành “Tổng sản phẩm trong nước thuần có tính tới môi trường (GDP xanh)”

Xuất phát từ phương pháp hạch toán GDP xanh trong SEEA, phương pháp tính chỉ tiêu GDP xanh được thực hiện theo ba phương pháp:

Phương pháp sản xuất: GDP xanh bằng (=) Tổng giá trị gia tăng thuần có tính

đến yếu tố môi trường của các ngành kinh tế trừ (-) chi phí xử lý ô nhiễm môi trường

do tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình gây ra

Phương pháp thu nhập: GDP xanh bằng (=) Tổng sản phẩm trong nước thuần

(NDP) trừ (-) chi phí bảo vệ môi trường và giá trị tổn thất, xuống cấp tài nguyên môi trường NDP tính được bằng GDP trừ (-) khấu hao tài sản

Phương pháp tiêu dùng: GDP xanh bằng (=) Tiêu dùng cuối cùng cộng (+) tích luỹ tài sản, trừ (-) khấu hao tài sản, trừ (-) chi phí bảo vệ môi trường và giá trị tổn thất, xuống cấp tài nguyên môi trường, cộng (+) chênh lệch xuất khẩu và nhập khẩu

hàng hoá, dịch vụ

Trang 18

2.3 Một số điểm khác biệt giữa tính GDP trong SNA và SEEA

Thông qua phương pháp tính toán/hạch toán GDP trong SNA và tính toán/hạch toán GDP trong SEEA, đề tài thấy có một số vấn đề khác biệt như sau:

- Tính toán/hạch toán GDP trong SNA chưa thể hiện đầy đủ những chi phí liên quan tới bảo vệ môi trường cũng như chưa phản ánh hết sự xuống cấp, suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên do các hoạt động kinh tế - đời sống của con người gây

ra (theo Salah Serafy và Ernst Lutz, 1989 tr 24) Một trong những nhược điểm của hạch toán GDP trong SNA truyền thống đó là: Chưa thể hiện đầy đủ các khoản chi phí có liên quan tới bảo vệ môi trường và suy thoái tài nguyên, cụ thể như sau:

Thứ nhất, trong các tài khoản của SNA truyền thống không thể hiện riêng biệt

các khoản chi để bảo vệ môi trường hoặc để giảm bớt sự xuống cấp của môi trường

Ví dụ: Những chi phí mà nhà máy phải bỏ ra để mua thiết bị kiểm soát hoặc xử lý ô nhiễm; chi phí mà người sử dụng phải bỏ ra để mua thiết bị lọc khí thải lắp vào xe ô tô; chi phí phải bỏ ra để phục hồi lại những tài sản đã mất đi do lũ lụt gây ra1, cho

đến nay đều được hạch toán gộp chung lại với những khoản chi khác trong hệ thống

kế toán doanh nghiệp hoặc được hạch toán vào tài khoản thu nhập của quốc gia2 Song vấn đề ở chỗ những chi phí này không được hạch toán riêng biệt để từ đó, những chủ thể đã gây ra tác động tới môi trường có thể thấy được mức độ chi phí mà

họ phải bỏ ra để bù đắp tổn hại cho môi trường như thế nào ? Chính vì vậy, các chi phí này dường như không tác động tới hành vi thân thiện với môi trường của các nhà sản xuất cũng như của những nhà hoạch định chính sách (vì đã bị ẩn lẫn với các khoản mục chi khác)

Thứ hai, môi trường cung cấp cho con người nhiều loại sản phẩm, trong đó có

nhiều loại sản phẩm tuy có giá trị, nhưng lại không được trao đổi mua bán trên thị trường hoặc chỉ được mua với giá thấp (ví dụ như nguồn tài nguyên nước, v.v ), do vậy nhiều trường hợp, giá trị của những loại sản phẩm đó không được biểu thị trong giá sản phầm (do bị bỏ qua) hoặc không thể tách riêng biệt từ giá của sản phẩm

Trang 19

Thứ ba, trong thực tế môi trường cung cấp nhiều loại dịch vụ cho đời sống con

người (như rừng có tác dụng bảo vệ lưu vực sông, điều hoà khí hậu; hệ sinh thái có tác dụng lọc chất ô nhiễm trong nước và không khí, v.v ) Tuy nhiên những loại dịch

vụ này không được tính trong SNA, mà cụ thể là giá trị sản phẩm dịch vụ phục vụ cho tiêu dùng cuối cùng của dân cư Một trong những lý do của sự bỏ qua này là trong nhiều trường hợp, người ta không thể định giá các sản phẩm và dịch vụ của môi trường bằng giá thị trường

Thứ tư, GDP trong SNA tính cả phần khấu hao tài sản cố định (máy móc, thiết

bị) vào tài khoản khấu hao Trong khi đó, phần trữ lượng tài nguyên bị mất đi do bị khai thác và do được sử dụng trong quá trình sản xuất lại được tính vào tài khoản thu nhập Theo các nhà môi trường, nguồn tài nguyên cũng phải được coi là một loại tài sản Do đó, sự suy giảm trữ lượng nguồn tài nguyên trong quá trình sản xuất cũng phải được tính vào tài khoản khấu hao giống như các tài sản cố định khác

- Tính toán/Hạch toán GDP trong SEEA (hay GDP xanh) về cơ bản dựa trên

sự hạch toán GDP trong SNA, tuy nhiên hạch toán GDP trong SEEA đã trừ phần khấu hao tài sản cố định đồng thời có sự bổ sung thêm những thông tin về tài sản môi trường dưới dạng hiện vật và giá trị, về quá trình sử dụng tài sản đó vào sản xuất, tiêu dùng của hộ dân cư và xã hội, hay nói một cách khác hạch toán GDP trong SEEA (hay GDP xanh) đã thể hiện khá đầy đủ những chi phí liên quan tới bảo vệ môi trường cũng như phản ánh sự xuống cấp, suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên do các hoạt động kinh tế - đời sống của con người gây ra

Tuy nhiên để tính toán đầy đủ bằng giá trị các tài khoản môi trường và việc

ước tính chỉ tiêu GDP xanh không chỉ phụ thuộc vào giá trị các tài sản được sản xuất

ra mà còn phụ thuộc vào giá trị của các tài sản tự nhiên không do sản xuất tạo ra Liên hợp quốc đã giới thiệu ba phương pháp định giá môi trường trong hệ thống SEEA1 đó là: Định giá nguồn tài nguyên theo giá thị trường; Định giá việc bảo vệ,

phục hồi tài sản môi trường; Định giá dịch vụ môi trường theo phương pháp ngẫu nhiên

Một số phương pháp định giá tài sản môi trường

1 Handbook on “Intergrated Environmental and Economic Accounting - An Operational Manual”, 2000

Trang 20

2.3.1 Định giá nguồn tài nguyên thiên nhiên theo giá thị trường

Phương pháp định giá nguồn tài nguyên theo giá thị trường được sử dụng để tính mức khấu hao tài nguyên Qua đó có thể tính được những thay đổi về giá trị của nguồn tài nguyên đã được ghi trong mục “sự thay đổi về lượng khác” trong tài khoản tài sản của SNA Sự thay đổi này bao gồm: khấu hao tài nguyên; sự cạn kiệt nguồn tài nguyên do khai thác và sự xuống cấp chất lượng tài nguyên do ô nhiễm môi trường gây ra (được tính bằng giá thị trường của trữ lượng tài nguyên đó) Trong SEEA, giá thị trường của khấu hao tài nguyên, sự cạn kiệt và sự xuống cấp chất lượng tài nguyên được chuyển từ tài khoản mục “sự thay đổi về lượng khác” trong tài khoản Tài sản sang tài khoản Sản xuất

Trên thực tế, có thể sử dụng giá thị trường để xác định giá trị của nguồn tài nguyên Trong trường hợp như vậy, có thể áp dụng một số phương pháp tính sau:

Tính giá trị hiện tại thuần (net present value - NPV) của trữ lượng tài nguyên:

Bằng cách lấy giá thị trường của hàng hoá, dịch vụ (dự kiến) mà nguồn tài nguyên có

thể cung cấp, trừ (-) chi phí (dự kiến) phải bỏ ra để khai thác nguồn tài nguyên đó sẽ

được phần thu hồi tịnh, rồi từ đó chuyển thành giá hiện tại bằng cách sử dụng tỷ lệ chiết khấu

Tuy nhiên khó khăn của việc áp dụng phương pháp này là khó có thể tính giá hiện tại của trữ lượng tài nguyên nào đó, nếu như tài nguyên này do nhiều ngành kinh tế khác nhau đồng thời cùng khai thác sử dụng Trong trường hợp như vậy đòi hỏi phải có thông tin về chi phí và khai thác tài nguyên của mỗi ngành kinh tế Để có

được thông tin chi tiết như vậy là rất phức tạp Hơn nữa việc áp dụng tỷ lệ chiết khấu

là bao nhiêu để tính NPV của trữ lượng nguồn tài nguyên cũng là một vấn đề đang còn tranh cãi Nếu áp dụng các tỷ lệ chiết khấu khác nhau thì sẽ cho kết quả giá trị hiện hành của các tài nguyên khác nhau

sút giá trị của tài nguyên do bị xuống cấp theo thời gian Đơn giá tịnh của một đơn vị

tài nguyên được tính bằng giá thị trường thực tế của nó trừ (-) chi phí khai thác một

đơn vị tài nguyên Giá trị của nguồn tài nguyên sau đó được tính bằng khối lượng của nguồn tài nguyên nhân (x) với đơn giá một đơn vị tài nguyên

Trang 21

- Xác định tương đối giá trị xuống cấp, cạn kiệt nguồn tài nguyên, được

tính đơn giản bằng hiệu giá trị của trữ lượng tài nguyên (theo cách tính trình bày ở

trên) vào đầu kỳ trừ (-) giá trị trữ lượng tài nguyên vào cuối kỳ xem xét Ngoài ra, có

thể thay thế cách tính này qua cách tính tổng thu nhập nhận được từ việc khai thác nguồn tài nguyên trong thời kỳ xem xét

2.3.2 Định giá việc bảo vệ, phục hồi tài sản môi trường

Phương pháp tính giá trị tài nguyên môi trường bằng giá trị thị trường nêu trên chỉ được áp dụng đối với những loại tài nguyên có thể tính được giá trị kinh tế của nó Nói cách khác, nó chỉ được áp dụng đối với những loại tài nguyên có thể giao dịch

được trên thị trường (như các loại khoáng sản, một số loại đất đai, v.v ) trong khi đó

đối với một số loại tài nguyên khác (chẳng hạn như nước, không khí, đất hoang, đa dạng sinh học, v.v ) thì không thể áp dụng cách tính trực tiếp giá trị của chúng theo giá thị trường vì những tài nguyên này ít được đem ra thị trường mua bán Để tính

được sự thay đổi về giá trị của những loại tài nguyên môi trường này, người ta có thể

sử dụng cách tính chi phí để duy trì, bảo toàn nguồn tài nguyên thay thế cho cách tính dựa vào giá thị trường nói trên

Chi phí để bảo vệ, phục hồi tài nguyên môi trường là chi phí lẽ ra phải bỏ ra trong một thời kỳ nhất định để tránh sự xuống cấp hay tránh những tác động tiêu cực

có thể xảy ra cho môi trường do hoạt động kinh tế gây ra Giá trị tổn thất về môi trường do các hoạt động kinh tế gây ra, nó không chỉ xảy ra trong hiện tại (trong thời

kỳ xem xét) mà nó còn có khả năng ảnh hưởng đến tương lai Nói cách khác, đây là tổng thể của những tổn thất về khả năng cung ứng của môi trường do các hoạt động kinh tế hiện tại có thể gây ra (vào thời điểm hiện tại hay trong tương lai) Với cách tiếp cận như vậy thì giá trị kinh tế của những tổn thất môi trường đã xảy ra trong giai

đoạn hiện tại mới chỉ phản ánh một phần các tác động của môi trường đến đời sống kinh tế - xã hội trong hiện tại mà chưa phản ánh khả năng ảnh hưởng đến tương lai Trong trường hợp các hoạt động kinh tế không gây tác động xấu tới chất lượng môi trường thì chi phí duy tu, bảo toàn chất lượng môi trường được coi như bằng 0 Ví

dụ như: Tốc độ khai thác rừng và nguồn hải sản bằng hoặc nhỏ hơn tốc độ tái tạo tự

nhiên của các loại tài nguyên đó; hay nguồn nước tự nhiên đủ thoả mãn nhu cầu của

Trang 22

hoạt động kinh tế, sinh hoạt mà không làm xấu đi chất lượng nước; hay môi trường tự nhiên có đủ khả năng hấp thụ lượng chất ô nhiễm thải ra từ hoạt động kinh tế, sinh hoạt, v.v

Chi phí bảo vệ, phục hồi chất lượng môi trường cũng đã phần nào được tính và

đưa vào “tổng tích luỹ tài sản” (CF) là một bộ phận hợp thành GDP theo phương pháp sử dụng cuối cùng trong SNA truyền thống Tuy nhiên, trong hệ thống SEEA

đã khuyến nghị nên loại ra từ GDP hay tổng VA những chi phí mà các khu vực kinh

tế phải bỏ ra để duy trì và bảo đảm chất lượng môi trường theo tiêu chuẩn quy định

2.3.3 Định giá dịch vụ môi trường theo phương pháp ngẫu nhiên

Định giá dịch vụ môi trường theo phương pháp ngẫu nhiên liên quan tới việc

đưa ra các tình huống giả định để hỏi một nhóm đối tượng có liên quan xem họ sẵn sàng chi trả bao nhiêu tiền để được hưởng thụ một loại dịch vụ môi trường nào đó Trong một số trường hợp khác, các đối tượng có liên quan được hỏi xem họ sẵn sàng chi trả bao nhiêu tiền bồi thường để chấp nhận không hưởng thụ dịch vụ môi trường Phương pháp này được thực hiện dưới dạng các cuộc phỏng vấn trực tiếp các đối tượng có liên quan hay trả lời của họ qua các phiếu hỏi

Trong SEEA, định giá theo phương pháp ngẫu nhiên thường được áp dụng khi phải xác định giá trị của các dịch vụ môi trường hay mức độ thiệt hại, tổn thất đối với môi trường Chẳng hạn, để tính mức độ tổn hại của sự cố môi trường nào đó, người ta

sử dụng phương pháp ngẫu nhiên để xác định không chỉ những tổn thất về kinh tế

mà cả những tổn thất về sức khoẻ của những người được hỏi Trong trường hợp này câu hỏi sẽ đặt ra là “Bạn chấp nhận bao nhiêu tiền để bù đắp những tổn hại về vật chất và sức khoẻ do sự cố môi trường gây ra?”, tiếp đó sẽ đưa ra một số mức kinh phí và hình thức thanh toán được đưa ra để người được hỏi lựa chọn sao cho phù hợp với sự đánh giá của cá nhân được phỏng vấn

Nhìn chung phương pháp ngẫu nhiên rất khó đo được một cách chính xác giá trị thực của dịch vụ môi trường cũng như về mức độ tổn hại (theo giá trị) đối với môi trường Đặc biệt, rất khó có thể đảm bảo độ chính xác của phương pháp khi được sử dụng để xác định giá trị của các tổn hại môi trường có thể xảy ra trong tương lai

Trang 23

Trên thực tế, việc áp dụng các phương pháp nêu trên để xác định giá trị tài

nguyên và mức độ tổn hại của môi trường do các hoạt động kinh tế - xã hội gây ra là

không hề đơn giản, giá trị các sản phẩm và lao động có thể xác định được khi đưa ra

thị trường và giá trị của chúng được phản ánh qua giá thị trường Nhưng còn yếu tố

môi trường thì sẽ phản ánh như thế nào? vì khi nó không đưa vào thị trường Do vậy

theo một số chuyên gia kinh tế đã khuyến nghị nên thay Chi phí tiêu dùng tài nguyên

và mất mát về môi trường do các hoạt động kinh tế bằng chi phí của những hoạt

động chống ô nhiễm Chi phí môi trường hay chi phí của những hoạt động chống ô

nhiễm của một dự án cụ thể là chỉ tiêu có thể ước tính được theo giá thị trường hay

chi phí thực tế một dự án đã chi ra để chống ô nhiễm môi trường

3 Phương pháp tính GDP xanh xuất phát từ mô hình I/O mở rộng

Mô hình I/O được mở rộng và sử dụng các công cụ để phân tích các vấn đề ô

nhiễm môi trường Xuất phát từ mô hình I/O rút gọn được thể hiện đó là quan hệ của

các số lớn phản ánh các quan hệ giữa các ngành trong nền kinh tế của quá trình sản

xuất và sử dụng sản phẩm trong nước và sản phẩm nhập khẩu theo một hệ thống

hàm tuyến tính Hàm này thể hiện mối quan hệ về công nghệ sản xuất và sử dụng

sản phẩm trong một thời kỳ nhất định Mô hình I/O sẽ thể hiện một cách khái quát

cấu trúc bởi các ngành theo cột và được coi là các ngành sản xuất; các ngành theo

dòng được coi là các ngành sử dụng (theo sơ đồ số 1)

Sơ đồ số 1 Mô hình I/O

Các ngành sản xuất Sử dụng cuối

cùng (Final demand - FD)

Tổng sử dụng (Gross output)

Trang 24

- Ô1 Tiêu dùng trung gian: Thể hiện chi phí trung gian của các ngành, bao

gồm các ngành sản xuất ra sản phẩm vật chất và các ngành sản xuất ra sản phẩm dịch vụ; phần tử aij của ma trận A thể hiện ở Ô1 phản ánh ngành j sử dụng sản phẩm

i làm chi phí trung gian trong quá trình sản xuất ra sản phẩm j

- Ô2 Sử dụng cuối cùng: Thể hiện những sản phẩm vật chất và sản phẩm

dịch vụ được sử dụng cho nhu cầu cuối cùng, bao gồm được sử dụng cho: tiêu dùng cuối cùng, tích luỹ tài sản, xuất khẩu và nhập khẩu

- Ô3 Tổng giá trị tăng thêm: Bao gồm các khoản thu nhập của người lao

động; thuế sản xuất; thặng dư sản xuất và khấu hao tài sản cố định

Quan hệ hàm số cơ bản của mô hình I/O có dạng:

AX + Y = X (1) Hoặc X = (I - A)1 Y

Trong đó: A là hệ số chi phí trung gian trực tiếp;

X là véc tơ giá trị sản xuất;

Y là véc tơ sử dụng cuối cùng

Tuy nhiên theo sơ đồ số 1 (Mô hình I/O) đơn giản chưa thấy thể hiện rõ nét sự thay đổi tổng sử dụng (GO) của mỗi ngành sản phẩm hay tổng chi phí của mỗi ngành sản xuất sẽ ảnh hưởng như thế nào đến vấn đề môi trường Do vậy để xác

định mức độ ảnh hưởng đến môi trường do các hoạt động sản xuất gây ra bằng cách thông qua sự mở rộng của mô hình I/O hay nói cách khác xác định tính GDP xanh thông qua mô hình I/O mở rộng

Trong mô hình I/O mở rộng thừa nhận có 2 loại hình hoạt động, đó là:

(1) Tất cả các hoạt động kinh tế

(2) Hoạt động chống chất thải gây ô nhiễm môi trường (gồm chất thải đầu vào và chất thải đầu ra) của các hoạt động kinh tế

GDP xanh = GDP - Chi phí của những hoạt động chống ô nhiễm

Trang 25

Mô hình I/O mở rộng dựa trên cơ sở n ngành (loại trừ các hoạt động chống lại chất thải gây ô nhiễm môi trường); m là số loại chất thải gây ô nhiễm môi trường,

được xác định theo các véc tơ và ma trận như sau:

A1 : là hệ số chi phí trung gian trực tiếp ma trận cấp (n x n) của n ngành kinh tế, các chi phí sản xuất từ các hoạt động kinh tế (đo lường bằng đơn vị tiền tệ)

so với đơn vị giá trị sản xuất của các hoạt động kinh tế

X1 : là véc tơ giá trị sản xuất cấp (n x 1) của các hoạt động kinh tế, (đo lường bằng đơn vị tiền tệ)

Y1 : là véc tơ sử dụng sản phẩm cuối cùng cấp (n x 1) từ các hoạt động kinh

tế, (đo lường bằng đơn vị tiền tệ)

Xg : là véc tơ giá trị sản xuất cấp (m x 1) của các hoạt động chống lại chất thải gây ô nhiễm môi trường do các ngành kinh tế tạo ra, (đo lường bằng đơn vị vật chất)

g1 : là ma trận hệ số các chất thải gây ô nhiễm môi trường trực tiếp từ các hoạt động kinh tế, ma trận cấp (m x n), với m là số loại chất thải gây ô nhiễm môi trường và n là số ngành sản phẩm được nghiên cứu trong mô hình, phần tử của ma trận phản ánh khối lượng chất thải (đơn vị tính là vật chất) trên 1 đơn vị sản phẩm (đơn vị tính là tiền tệ) được tạo ra trong quá trình sản xuất ra sản phẩm đó;

g2 : là ma trận hệ số các chất thải gây ô nhiễm môi trường trực tiếp từ các hoạt động chống lại chất thải gây ô nhiễm môi trường, ma trận cấp (m x n), m là số loại chất thải gây ô nhiễm môi trường, phần tử của ma trận phản ánh khối lượng chất thải gây ô nhiễm môi trường (đơn vị tính vật chất) trên 1 đơn vị khối lượng chất thải gây ô nhiễm môi trường được xử lý (đơn vị tính là vật chất) được tạo ra trong từ các hoạt động chống lại chất thải gây ô nhiễm;

g3 : là ma trận hệ số các chất thải trực tiếp gây ô nhiễm môi trường từ tiêu dùng cuối cùng hộ gia đình, ma trận cấp (m x n), m là số loại các chất thải gây ô nhiễm môi trường (đơn vị tính vật chất), phần tử của ma trận phản ánh khi hộ gia

đình tiêu dùng sản phẩm j thì sẽ tạo ra chất thải loại i

H: là ma trận hệ số chi phí trung gian trực tiếp của các hoạt động chống lại chất thải gây ô nhiễm môi trường, ma trận cấp (n x m), phần tử của ma trận thể hiện hoạt động chống lại chất thải loại j thì cần phải sử dụng sản phẩm i làm chi phí trung gian

Yg : là véc tơ thể hiện các chất thải gây ô nhiễm môi trường không được xử

lý, cấp của véc tơ là (1 x m)

Xác định các véc tơ của chất thải gây ô nhiễm môi trường tạo ra trong các hoạt động kinh tế và các véc tơ của chất thải gây ô nhiễm môi trường từ các hoạt

Trang 26

động chống lại chất thải gây ô nhiễm môi trường, vận dụng từ mô hình I/O được thể hiện như sau:

X1 = AX1 + HXg + Y1 (2)

Xg = g1X1 + g2Xg + g3Y1 - Yg (3)

+ Công thức (2) dựa trên quan hệ hệ thống I/O, nó chỉ ra việc sử dụng giá trị

sản phẩm của các hoạt động kinh tế, trong đó:

- AX1 : là chi phí sản xuất đầu vào được sử dụng trong quá trình sản xuất ra sản phẩm của các hoạt động kinh tế;

- HXg : là chi phí đầu vào của hoạt động xử lý các chất thải gây ô nhiễm môi trường;

- Xg : là số lượng chất thải gây ô nhiễm môi trường được xử lý;

- H : là ma trận hệ số chi phí trung gian trực tiếp của các hoạt động chống lại chất thải gây ô nhiễm môi trường;

- Y1 : là sản phẩm của các hoạt động kinh tế nó được sử dụng cho tiêu dùng cuối cùng, giả sử không có sử dụng cuối cùng nào khác

+ Công thức (3) chỉ ra tổng số khối lượng chất thải gây ô nhiễm môi trường Xg

đượcxử lý Nó tương đương với khối lượng chất thải gây ô nhiễm môi trường do các ngành kinh tế tạo ra(ví dụ: g1X1), các chất gây ô nhiễm môi trường được tạo ra bởi

đầu ra của các hoạt động xử lý các chất thải gây ô nhiễm môi trường (ví dụ các chất

thải gây ô nhiễm môi trường được tạo ra từ các hoạt động chống lại chất thải gây ô nhiễm môi trường) Xg (ví dụ g2Xg), các chất thải gây ô nhiễm môi trường được tạo ra bởi tiêu dùng cuối cùng (ví dụ g3Y1), (-) trừ đi các chất gây ô nhiễm môi trường nó không được xử lý Yg cùng với việc xác định mức độ ô nhiễm môi trường do các hoạt

động kinh tế gây ra mà được xã hội chấp nhận ở một mức độ nhất định, điều này đã

được thực hiện ở một số quốc gia và Chính phủ đã đưa ra thành những tiêu chuẩn chung nhằm bảo vệ môi trường

Từ công thức (2) và (3) được trình bày theo khuôn khổ của một ma trận đơn giản đó là mô hình I/O thông thường như sau:

Χ

g g

Y g

1 1

2 1

1

(4)

Để tính toán chỉ tiêu GDP xanh dựa vào mô hình I/O thông thường, xuất phát

từ công thức (2) và (3) có hai trường hợp:

Trang 27

Xg = (I – g2)-1g1X1 (7)

X1 = AX1 + H(I – g2)-1g1X1 + Y1 (8) Hay công thức (8) được viết lại như sau:

Chi phí trực tiếp sử dụng cho các hoạt động chống lại chất thải gây ô nhiễm môi trường

Sử dụng cuối cùng

xử lý, nhưng bên cạnh đó còn mức ô nhiễm môi trường đã được xã hội chấp nhận (Ygtrong công thức (4) và nó được giới thiệu như sau:

Công thức (2) được viết lại và Y1 được trình bày biểu diễn qua X1 như sau: (11) Y1 = (I – A)X1 - HXg

Thay thế Y1 trong công thức (3) và Xg được biểu diễn qua X1 , như sau:

Trang 28

(12) Χg =[Iư(g2 ưg3H)] [ư1 g1 +g3(IưA)]X1ư[Iư(g2 ưg3H)]ư1Y g

Nó được thay thế bằng:

R = I – (g2 – g3 H), Công thức (12) nó được đơn giản hoá như sau:

tế

Chi phí trực tiếp được

sử dụng cho các hoạt

động chống lại chất thải gây ô nhiễm môi trường

Trừ đi: Chi phí trực tiếp của chất thải gây ô nhiễm môi trường mà chất thải đó không được

xử lý

Sử dụng cuối cùng.

Mối quan hệ được thể hiện trong công thức (14) nó miêu tả một cách đơn giản trong trường hợp công thức (9) của mô hình I/O giản đơn Trong trường hợp này, ô nhiễm môi trường GDP (Y* ) nó tương đương với ô nhiễm môi trường GDP (Y1), cộng với chi phí trực tiếp sử dụng cho các hoạt chống lại chất thải gây ô nhiễm môi trường Nếu toàn bộ các chất thải gây ô nhiễm môi trường được xử lý, trừ đi chi phí trực tiếp các chất thải gây ô nhiễm môi trường không bị xử lý

Y* =Y1+{HRư1[g1+g3(IưA)] }X1 ưHRư1Y g

GDP xanh được tính là:

(15) Y1 =Y*ư{HRư1[g1+g3(IưA)] }X1 +HRư1Y g

4 Kinh nghiệm của Nhật Bản và Trung Quốc tính toán chỉ tiêu GDP xanh

Chỉ tiêu GDP xanh đã được tính thử nghiệm ở một số nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Indonexia, Australia, và một số nước khác Phương pháp tính chỉ tiêu GDP xanh ở các nước cơ bản đều tuân theo cách tính của thống kê Liên Hợp quốc, mặc dù điều kiện, vận dụng phương pháp tính còn tuỳ thuộc vào thực trạng công tác thống kê của từng nước

Trang 29

Trung Quốc và Nhật Bản trong những năm qua có tốc độ tăng trưởng cao, đặc

biệt là Trung Quốc có “Tốc độ tăng trưởng nóng” và là đất nước có nguồn tài nguyên

phong phú Trung Quốc đã xây dựng phương pháp tính chỉ tiêu GDP xanh, dựa trên cơ sở xây dựng cấu trúc SEEA của Liên hợp quốc và Nhật Bản Do vậy đề tài nghiên cứu và giới thiệu cách tính chỉ tiêu GDP xanh của Nhật Bản và Trung Quốc

4.1 Tính chỉ tiêu GDP xanh của Nhật Bản

4.1.1 Giới thiệu một số đặc điểm chủ yếu về Hệ thống tài khoản Kinh tế và Môi trường (SEEA) Nhật Bản

Hệ thống tài khoản kinh tế và môi trường ở Nhật Bản được xây dựng dựa trên cơ sở mở rộng SNA theo 3 cách:

Thứ nhất, Các hoạt động kinh tế được phân thành các hoạt động có liên quan tới bảo vệ môi trường và các hoạt động không liên quan tới bảo vệ môi trường

Thứ hai, danh giới tài sản được mở rộng đó là tài sản phi sản xuất, loại tài sản

này đã không được xem như tài sản kinh tế trong SNA

Thứ ba, việc làm suy yếu và thoái hoá cả hai loại tài sản tự nhiên có tính chất kinh tế và tài sản tự nhiên phi kinh tế được xem như khấu hao tài sản cố định được khấu trừ trong việc tính tổng sản phẩm thuần trong nước đã được điều chỉnh có tính

đến yếu tố môi trường hoặc là chỉ tiêu GDP xanh

Trong thực tế Chính phủ Nhật Bản đã tiến hành thực hiện các dịch vụ bảo vệ môi trường như làm sạch các hồ và sông, phục hồi đất đai đã bị ô nhiễm và tất cả các chi phí cho dịch vụ bảo vệ môi trường đã được tính trong SNA ở Nhật Bản như các hàng hoá phi thị trường Tức là SEEA ở Nhật Bản đã loại trừ các chi phí bảo vệ môi trường mà không hoàn toàn ứng với các hoạt động sản xuất

Đối với các chi phí cho môi trường:

SEEA ở Nhật Bản phân biệt có 2 loại chi phí môi trường, bao gồm:

Loại thứ nhất là các chi phí thực tế phải chi cho các hoạt động bảo vệ môi

trường, bao gồm các hoạt động do các địa phương thực hiện; hệ thống thoát nước và các dịch vụ xử lý phế thải được Chính phủ cung cấp

Trang 30

Loại thứ hai là các chi phí môi trường được quy đổi do việc làm cạn kiệt và

giảm giá trị nguồn tài nguyên môi trường

Trong khi các chi phí thực tế cho bảo vệ môi trường được tính trong SNA, thì các chi phí môi trường được quy đổi được giới thiệu như một khoản chi phí được cộng thêm vào trong SEEA của Nhật Bản khi tài khoản môi trường được bổ sung thêm vào SNA Phần chi phí môi trường được quy đổi, được xác định như khoản tiền chiết khấu cho việc sử dụng các tài sản tự nhiên phi sản xuất như: số lượng khoáng sản bị khai thác; số lượng gỗ bị chặt đốn và khối lượng các chất thải ở thể rắn, lỏng, khí thải ra

được xử lý Trong phạm vi từng ngành, chi phí về môi trường quy đổi được trừ đi từ

VA thuần, trong phạm vi toàn quốc chi phí về môi trường quy đổi được trừ đi từ GDP thuần hay nói cách khác đó chính là GDP xanh

4.1.2 Phương pháp tính chỉ tiêu GDP xanh của Nhật Bản

GDP xanh bằng (=) NDP trừ (-) chi phí về môi trường đã được quy đổi SEEA của Nhật Bản đã mở rộng danh giới tài sản của SNA đó là tài sản tự nhiên phi sản xuất không có giá trị kinh tế và chi phí môi trường đã được quy đổi, được giải thích

như khấu trừ việc làm giảm giá trị các tài sản tự nhiên phi sản xuất do các hoạt động sản xuất và các hoạt động tiêu dùng thực hiện EDP hoặc GDP xanh, thể hiện qua

sơ đồ số 2 và xác định cách tính theo công thức (16) như sau:

Sơ đồ số 2 Mô tả cấu trúc chỉ tiêu GDP xanh ở Nhật Bản

NDP

EDP GDP

Chi phí thực tế môi trường (Một phần giá trị tăng thêm)

Chi phí môi trường quy đổi

Khấu hao tài sản cố định

Trang 31

Công thức tính :

GDP xanh = NDP - Chi phí về môi trường đã

được quy đổi (16)

Nhật Bản đã ứng dụng một số phương pháp để ước tính các chi phí môi trường

được quy đổi đối với việc làm giảm bớt sự suy thoái hoặc làm cạn kiệt các tài sản tự nhiên phi sản xuất, trong thực tế đã có nhiều phương pháp được đưa ra để tính toán giá trị này Hệ thống Tài khoản kinh tế và môi trường của Nhật Bản đã sử dụng một

trong số các phương pháp đó là phương pháp chi phí duy trì, (cái được cho là phù

hợp hơn cả với nguyên tắc đánh giá trong SNA và khái niệm phát triển bền vững)

Hay phương pháp chi phí giữ gìn môi trường được định nghĩa như là các phí tổn được

quy định phải trả thêm để ngăn chặn việc phá huỷ các tài sản thiên nhiên một cách

thường xuyên Ví dụ, chi phí về ô nhiễm không khí, được tính trong cả quá trình giữ gìn các trang thiết bị dùng làm giảm ô nhiễm và giảm bớt việc sinh ra các chất gây ô nhiễm môi trường Nên chú ý rằng chi phí để giữ gìn môi trường không phải là khoản

tiền bồi thường thiệt hại cho môi trường hay nói đúng hơn nó là chi phí liên quan đến việc ngăn chặn bồi thường thiệt hại về môi trường đang xảy ra

Hệ thống tài khoản kinh tế và môi trường của Nhật Bản bao gồm các chi phí môi trường đã được quy đổi, đối với xử lý vấn đề về ô nhiễm không khí và ô nhiễm môi trường nước và khắc phục việc phá huỷ hệ thống sinh thái do mở rộng đất và chặt đốn cây cối, việc làm cạn kiệt các nguồn dầu dưới lòng đất và làm thay đổi khí hậu toàn cầu ngày càng nóng lên

* Đối với các chất thải

Chi phí môi trường quy đổi tính cho việc xử lý và hạn chế các chất thải vào

không khí và nước bằng (=) khối lượng thực tế thải ra của một chất gây ô nhiễm, nhân (x) chi phí cho một đơn vị cất dọn và xử lý chất thải đó, ở phạm vi quốc gia, khó

có thể xác định được một cách chính xác

Ô nhiễm không khí:

Trang 32

Hệ thống tài khoản kinh tế và môi trường của Nhật Bản xác định một số chất gây ô nhiễm không khí chủ yếu đó là: khí sulfur oxides (SOx ) và nitrogen oxides (NOx) là chất gây ô nhiễm không khí Ngoài ra còn khí carbon dioxides (CO2), mặc

dù lượng khí (CO2) thải ra trong không khí tương đối thấp, chưa vượt quá mức tiêu chuẩn cho phép

Đối với khí SOx , chi phí môi trường quy đổi cho việc xử lý và hạn chế lượng

SOx khí thải ra không khí (tính theo công thức 17), đó là:

Chi phí môi trường

quy đổi do thải SOx =

Tổng khối lượng

SOx thải ra x

Chi phí cho một đơn vị lưu huỳnh được khử (17)

Trong đó chi phí cho một đơn vị lưu huỳnh được khử, tính bằng tổng chi phí của quá trình khử

từ sử dụng năng lượng được đưa vào tài khoản và chi phí để xử lý 1 tấn SOx là 26.900 yên/tấn SOx (đơn vị tính khoản chi phí để xử lý 1 tấn SOx được tính theo giá năm 1990)

Đối với chi phí để giảm bớt khí NOx được thực hiện tính toán riêng rẽ cho khí bốc ra từ các loại ô tô và khí bốc ra từ các nguồn khác Chi phí cho việc giảm một

đơn vị lượng NOx bốc ra từ các loại ô tô dựa trên cơ sở báo cáo của Bộ Bảo vệ Môi trường của Chính phủ Mỹ ở Nhật Bản kết quả số liệu đưa ra chi phí để giảm bớt 1 tấn NOx là xấp xỉ 2.197.000 Yên/tấn NOx

Ô nhiễm nước:

Chi phí môi trường quy đổi do ô nhiễm nước (công thức số 18) được tính cho nhu cầu ôxy hoá sinh học (biochemical oxygen demand - BOD) và nhu cầu ôxy hoá học (chemical oxygen demand - COD), nitơ (N) và phốt pho (P) Chi phí để xử lý và giảm bớt các loại chất gây ô nhiễm môi trường nước được tính cho mỗi một đường

Trang 33

nước thoát ra, gồm hệ thống thoát nước công cộng, các đơn vị sản xuất nước tập thể

và các đơn vị sản xuất nước độc lập, các đơn vị sản xuất nước công nghiệp, v.v Chi phí môi

trường quy đổi để

xử lý và giảm chất

gây ô nhiễm nước

= Tổng khối lượng chất gây ô nhiễm môi trường nước

Nguồn thông tin được thu thập từ: cuộc điều tra “Việc loại bỏ chất thải ở Nhật Bản - do Bộ Y tế và sức khoẻ thực hiện”; “Phân tích các mẫu nước ô nhiễm - do Kunimatsu và Muraokr, v.v ”; “Niên giám các công trình công cộng địa phương - của

Bộ Nội vụ” và “Điều tra về đầu tư cho việc giảm ô nhiễm môi trường - Do Bộ Môi trường thực hiện”

Chi phí môi trường quy đổi do ô nhiễm môi trường nước được coi là việc giảm chi phí ở mức cao nhất so với các loại ô nhiễm khác, trong Hệ thống tài khoản Kinh

tế và Môi trường của Nhật Bản

* Đối với sử dụng đất và rừng

Chi phí môi trường quy đổi do việc phá huỷ môi trường sinh thái của hoạt động

mở rộng đất đai được tính như VA, VA sẽ bị mất đi nếu đất đai không được mở rộng Việc mở rộng đất đai sẽ liên quan đến việc chuyển đổi vùng đất rừng thành đất sử dụng của các vùng đô thị Giả định rằng VA bị mất đi tương đương với chi phí mở rộng đất đai và chi phí mở rộng đất đai được tính trong bảng I/O (Input/Output)

Việc phục hồi đất bị ô nhiễm của Chính phủ được ghi chép lại như phần âm trong chi phí môi trường quy đổi, vì phần âm này sẽ làm tăng thêm mức độ của các

Trang 34

tài sản tự nhiên phi sản xuất Chính phủ chi cho mục tiêu này tạo ra sự tiêu dùng của Chính phủ

Chi phí môi trường quy đổi do việc phá rừng được ghi chép lại khi lượng cây rừng bị chặt đốn vượt quá mức tăng tự nhiên Nó được ước tính như thu nhập bị mất

đi do lượng cây rừng bị chặt đốn vượt mức tăng tự nhiên và nó được giả định bằng sản lượng gỗ xây dựng bị mất đi

* Đối với việc làm suy kiệt các nguồn tài nguyên trong lòng đất

Việc làm suy kiệt các nguồn tài nguyên được tính bằng giá trị các tài sản dưới lòng đất bị giảm đi do khai thác Trong SNA chỉ xem xét giá trị đầu ra của việc khai thác tài nguyên và lờ đi việc dự trữ lượng tài nguyên bị suy giảm Đối với Nhật Bản là quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên là rất nhỏ, thì đây không phải là vấn đề lớn Nhưng đối với các quốc gia phát triển, giàu tài nguyên thì nó là một mối quan tâm rất lớn Để tính chi phí môi trường quy đổi đối với trường hợp nguồn tài nguyên bị suy

kiệt thì nên sử dụng phương pháp chi phí sử dụng Phương pháp chi phí sử dụng thừa

nhận việc giảm đi giá trị trong hiện tại như là giảm giá trị một loại tài sản tài nguyên

và nó được giải thích như là chi phí môi trường quy đổi Chi phí môi trường quy đổi

được tính cho than; đá vôi; kẽm trong SNA của Nhật Bản

Tóm lại: Để thu thập thông tin phục vụ tính chi phí môi trường quy đổi ở Nhật

Bản phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa các Bộ, Ngành đồng thời tổ chức các cuộc điều tra thì mới có thể tính được chi phí môi trường quy đổi Do vậy mới có khả năng tính toán được chỉ tiêu EDP, hay chỉ tiêu GDP xanh

4.1.3 Thử nghiệm tính chỉ tiêu GDP xanh của Nhật Bản giai đoạn 1970-1995 SEEA Nhật Bản đã tính thử nghiệm chỉ tiêu GDP xanh năm năm một lần, từ năm 1970 đến năm 1995, kết quả tính GDP xanh ở Nhật Bản giai đoạn 1979-1995

được trình bày theo phụ lục số 1 và phụ lục số 2

Tính toán chỉ tiêu GDP xanh ở Nhật Bản được thực hiện theo 2 loại giá: giá cố

định và giá hiện hành Chi phí môi trường quy đổi theo giá cố định năm gốc 1990 và

đạt cao nhất hơn 6 nghìn tỷ YEN vào năm 1975, và có xu hướng giảm dần, cụ thể

đến năm 1990 chỉ còn hơn 4,5 tỷ YEN

Trang 35

Việc phân tích chi phí môi trường quy đổi theo loại tài sản tự nhiên cho thấy các phế thải thải vào không khí về căn bản đã giảm vào năm 1990 Tuy nhiên, các phế thải thải vào môi trường nước đã theo một khuynh hướng tăng lên Việc phá huỷ

hệ thống sinh thái do mở rộng đất đai đạt đỉnh điểm vào năm 1970 và suy giảm vào năm sau đó Tốc độ khai thác cây cối bị chặt đốn ở Nhật Bản bằng tốc độ tăng tự nhiên của cây cối từ năm 1980; Nên chi phí môi trường quy đổi tương ứng bằng không Việc làm cạn kiệt các tài nguyên dưới lòng đất không đáng kể vào năm 1995

Tỷ lệ chi phí môi trường quy đổi so với NDP được tính theo giá hiện hành (tính toán theo phụ lục số 2) giảm dần trong giai đoạn từ năm 1970 đến năm 1995 Tỷ lệ

chi phí môi trường quy đổi so với NDP năm 1970 là hơn 8%, nhưng giảm xuống còn hơn 1% năm 1990 Tỷ lệ chi phí môi trường quy đổi so với NDP giảm dần có thể phần nào là do nền kinh tế phát triển chậm lại và chắc chắn có một số thay đổi về cơ cấu kinh tế Tuy nhiên, phần tỷ lệ giảm đáng kể là do tốc độ ô nhiễm không khí thấp hơn Việc cải tiến và nâng cao năng lực công nghệ đã làm giảm bớt vấn đề ô nhiễm

và phát huy hiệu quả đối với việc làm giảm bớt chi phí trong các quá trình giảm ô nhiễm, đặc biệt là vấn đề ô nhiễm không khí Ví dụ: chi phí môi trường quy đổi của việc làm giảm ô nhiễm không khí so với NDP đã giảm từ 7.5% năm 1970 giảm xuống còn 1.0% năm 1985 và đến năm 1995 chỉ còn 0.6%

4.2 Tính chỉ tiêu GDP xanh của Trung Quốc

4.2.1 Giới thiệu một số đặc điểm chủ yếu về hệ thống tài khoản kinh tế và Môi trường ở Trung Quốc

Hệ thống tài khoản kinh tế và môi trường ở Trung Quốc (viết tắt CSEEA) được dựa trên cơ sở mở rộng SNA năm 1993 và cấu trúc SEEA của Nhật Bản Cấu trúc CSEEA của Trung Quốc đã được thiết lập theo 3 cách:

Thứ nhất, Các hoạt động kinh tế được phân thành các hoạt động có liên quan tới bảo vệ môi trường và các hoạt động không liên quan tới bảo vệ môi trường hay còn gọi là các hoạt động sản xuất khác Trong hoạt động sản xuất khác được tách ra: Hoạt động sản xuất khác có liên quan đến môi trường và các loại hình sản xuất khác không liên quan tới môi trường

Thứ hai, danh giới tài sản được mở rộng đó là tài sản phi sản xuất (SNA chỉ có

tài sản sản xuất), loại tài sản này đã không được xem như tài sản kinh tế trong SNA

Trang 36

Thứ ba, việc làm suy yếu và thoái hoá cả hai loại tài sản tự nhiên có tính chất kinh tế và tài sản tự nhiên phi kinh tế được xem như khấu hao tài sản cố định được khấu trừ trong việc tính sản phẩm thuần trong nước đã được điều chỉnh có tính đến yếu tố môi trường hoặc là chỉ tiêu GDP xanh

4.2.2 Phương pháp tính chỉ tiêu GDP xanh của Trung Quốc

Sản phẩm trong nước thuần điều chỉnh có yếu tố môi trường (EDP) bằng (=) tổng VA thuần của các ngành kinh tế sau khi đã trừ (-) chi phí môi trường (Từ sử dụng các tài sản tự nhiên có tính chất kinh tế và phi kinh tế) và cũng giống như trừ (-)

từ sản phẩm trong nước thuần (NDP) NDP là tổng VA thuần xác định bằng (=) GDP trừ (-) khấu hao tài sản cố định

Công thức tính số (19):

Việc ước lượng chi phí môi trường quy đổi được thực hiện thông qua ước lượng

sự cạn kiệt, suy giảm nguồn tài nguyên và tài sản tự nhiên bao gồm (tài sản tự nhiên kinh tế và tài sản tự nhiên phi kinh tế)

nguyên có thể khôi phục được và tài nguyên không thể khôi phục được

ước lượng sự cạn kiệt nguồn tài nguyên không thể khôi phục được:

Để ước lượng nguồn tài nguyên không thể khôi phục được, Trung Quốc

nghiên cứu và đưa ra phương pháp chi phí sử dụng để ước lượng sự cạn kiện nguồn

tài nguyên không thể khôi phục được và được tiêu dùng trong quá trình sản xuất, theo công thức (20) như sau:

Tổng sử dụng giá trị

nguồn tài nguyên Hoặc

chi phí sử dụng tài

nguyên thiên nhiên

=

Tổng giá trị bán tài nguyên thiên nhiên trên

thị trường

-Tổng chi phí khai thác nguồn tài nguyên thiên

nhiên

ước lượng sự cạn kiệt nguồn tài nguyên có thể khôi phục được:

Tiêu dùng nguồn tài nguyên có thể khôi phục được thông qua sự tái sinh nhân tạo, mặc dù trong thực tế không phải nguồn tài nguyên tái sinh nhân tạo nào cũng

Trang 37

được xác định một cách chính xác Như tốc độ tăng trưởng rừng ở Trung Quốc thấp hơn rất nhiều so với tốc độ khai thác rừng, kể từ khi nguyồn tài nguyên rừng được khôi phục Thay cho phương pháp chi phí sử dụng, chi phí khai thác rừng được sử

dụng như là việc đo lường mức độ thiệt hại của nguồn tài nguyên rừng (giả định giá trị suy giảm của rừng bằng (=) chi phí khai thác rừng)

Do hạn chế số liệu nguồn tài nguyên có thể khôi phục, Trung Quốc chỉ ước lượng được sự suy giảm của diện tích rừng, đó là chi phí để tăng thêm m2 đất rừng trưởng thành ước lượng xấp xỉ 268 yuan/ m2, trong năm 1992, tổng khối lượng suy giảm diện tích rừng xấp xỉ 0.617 triệu m2, do vậy tổng giá trị suy giảm rừng là 16.55 triệu yuan1

* ước lượng suy giảm giá trị nguồn tài sản tự nhiên:

Thành phần quan trọng khác của tính chi phí môi trường là sự giảm sút giá trị tài sản tự nhiên Qua nghiên cứu đã xác định và phân biệt giá trị hai loại tài sản:

(1) Các tài sản có giá trị kinh tế trong tự nhiên, bao gồm: rừng, đất cỏ và đất trồng trọt;

(2) Các tài sản không có giá trị kinh tế trong tự nhiên, gồm: không khí và nước

Tài sản có giá trị kinh tế trong tự nhiên:

Hậu quả chính của sự suy giảm giá trị tài sản có giá trị kinh tế trong tự nhiên,

là do phá huỷ môi trường sinh thái, ví dụ như: lũ lụt, mưa a xít, sự sói mòn đất, v.v…

Sự suy giảm giá trị tài sản có giá trị kinh tế trong tự nhiên, thực chất nó là sự suy giảm các tài nguyên do môi trường mang lại và các dịch vụ hữu ích Trong trường hợp, sự suy giảm giá trị của đất sẽ làm giảm thu hoạch về lương thực và sự phá hoại rừng nó sẽ gây ra tác hại về sinh học

Sự suy giảm giá trị tài sản có giá trị kinh tế trong tự nhiên có thể được xem như là sự phá huỷ giá trị môi trường sinh thái Hơn nữa, việc ước lượng sự suy giảm giá trị tài sản kinh tế tự nhiên (chủ yếu đối với rừng và đất cỏ) được tiến hành giống như việc ước lượng sự mất đi chức năng của môi trường sinh thái và dịch vụ môi trường và chức năng sản xuất của nguồn tài nguyên thiên nhiên

Theo kết quả ước lượng, sự thiệt hại về lợi ích kinh tế và môi trường do sự suy giảm giá trị của rừng ở Trung Quốc là 36,56 triệu yuan năm 1992 Sự suy giảm của

1 Green GDP Estimates in China, Indonesia and Japan: An Application of the UN Enviromental and Economic Accounting System

Trang 38

đất cỏ mặt là 0,02 triệu yuan, sự suy giảm giá trị đất trồng trọt nó được xác định như giá trị tăng thêm mất đi dẫn đến sự suy giảm về giá trị Nó được ước lượng là sự suy giảm giá trị đất trồng trọt đến mức 0.46 triệu yuan trong năm 1992 [9]

Tài sản không có giá trị kinh tế trong tự nhiên

ước lượng sự suy giảm giá trị đối với tài sản không có giá trị kinh tế trong tự nhiên, được sử dụng theo phương pháp ước lượng chi phí duy trì để sử dụng và được dùng để ước lượng sự suy giảm nguồn giá trị tài sản không có giá trị kinh tế trong tự nhiên

Chi phí duy trì được xem như là các loại chi phí giữ gìn, bảo vệ và duy trì chất lượng nguồn tài nguyên, như trong trường hợp ước lượng sự suy giảm giá trị của không khí và nước Sự suy giảm giá trị của tài sản có giá trị sử dụng nhưng không có giá trị như: không khí và nước có thể quy đổi cho sự tăng lên của ô nhiễm không khí

và ô nhiễm nước

Ô nhiễm không khí:

Sự phát thải khí SO2 , TSP, NOx và một số khí thải khác tăng lên sẽ ảnh hưởng

và làm chất lượng không khí của Trung quốc bị suy yếu trong thời gian qua, đặc biệt

là ở khu vực thành thị Do hạn chế số liệu thống kê các loại khí thải ra không khí (việc thống kê được chi tiết các loại khí thải ra không khí là một việc làm rất khó, chỉ mang tính chất tương đối) Trung quốc đã xác định và thống kê tách bạch được có hai loại chất thải gây ô nhiễm không khí chủ yếu là: SO2, TSP Theo một kết quả tính

toán chi phí môi trường quy đổi cho việc xử lý và giảm bớt các chất thải gây ô nhiễm không khí dẫn đến suy giảm chất lượng không khí năm 1992 ở Trung Quốc nó tương

đương với 17,7 triệu yuan [9]

ô nhiễm nguồn nước:

Chủ yếu là do các nhà máy, các đơn vị sản xuất kinh doanh và hộ gia đình đã gây nên ô nhiễm nguồn nước ở Trung Quốc Nó đã huỷ hoại chất lượng hệ thống đất phù xa và nền đất của Trung Quốc và gây ra ô nhiễm ở một số khu vực nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt của cư dân bị ô nhiễm

Công thức tính (số 20):

Chi phí môi

trường quy đổi =

Tổng khối lượng chất gây ô nhiễm môi trường nước x

Chi phí trung bình làm giảm chất gây ô nhiễm

Trang 39

Chi phí trung bình làm

giảm chất gây ô nhiễm =

Tổng chi phí xử lý nước thải :

Khối lượng giảm đi của từng chất gây ô nhiễm

Trung Quốc chi phí trung bình cho quá trình xử lý chất thải gây ô nhiễm môi trường nước khoảng 1 yuan/tấn, tổng suy giảm giá trị của nước được ước lượng là 39,96 triệu yuan [9]

4.2.3 Thử nghiệm tính chỉ tiêu GDP xanh của Trung Quốc năm 1992

Kể từ khi Trung Quốc thực hiện quá trình công nghiệp hoá, ô nhiễm môi trường và suy giảm môi trường sinh thái ngày càng gia tăng, do vậy tính toán chi phí môi trường quy đổi tăng lên Đây là một minh chứng cảnh báo trước sự phát triển trong tương lai của Trung Quốc

Xuất phát từ sự phân biệt các hoạt động trong xã hội, gồm hoạt động bảo vệ môi trường và hoạt động sản xuất khác (trong hoạt động sản xuất khác có hoạt động liên quan đến môi trường), tổng chi phí môi trường ở Trung Quốc cụ thể năm 1992, theo bảng số 1 như sau:

Bảng số 1 Chi phí môi trường (IEC) của Trung Quốc năm 1992

Suy thoái tài nguyên (tài nguyên có tính chất kinh

tế và tài nguyên có tính chất phi kinh tế)

Trang 40

Theo bảng số 1 cho thấy:

(1) Chi phí môi trường cho việc chống lại sự cạn kiệt tài nguyên và suy thoái

tài nguyên rừng (gồm tài nguyên rừng có thể khôi phục và không thể khôi phục; tàI

nguyên rừng có tính chất kinh tế và tàI nguyên rừng không có tính chất kinh tế)

chiếm hơn 40% tổng chi phí môi trường là nguồn thiệt hại lớn nhất gây ảnh hưởng

đến môi trường của Trung Quốc;

(2) Chi phí môi trường cho việc xử lý, giảm bớt các chất thải gây ô nhiễm

nguồn nước, chiếm khoảng 30% tổng chi phí môi trường (đứng thứ hai);

(3) Chi phí môi trường cho việc xử lý và giảm bớt các chất thải gây ô nhiễm

không khí (đứng thứ ba) chiếm trong tổng chi phí môi trường ở Trung Quốc

Tổng chi phí cho xử lý và giảm bớt các chất thải gây ô nhiễm không khí và

nước đóng góp khoảng 47% tổng chi phí môi trường, tổng giá trị suy giảm về nguồn

tài nguyên không thể khôi phục được trong đất là 9.2 tỷ yuan, trong đó tính toán

nguồn suy giảm ga tự nhiên chiếm tới 99% Điều đó đã phản ánh mối liên quan đến

sự khan hiếm dự trữ gas trong tự nhiên hiện nay ở Trung Quốc

GDP xanh Trung Quốc tính dựa trên cơ sở ước lượng chi phí môi trường (IEC)

mặc dù khoản chi phí phục vụ hoạt động bảo vệ môi trường do Chính Phủ chi ra đã

được tính như một khoản chi tiêu của Chính Phủ (bảng 4) Vậy để tính chỉ tiêu GDP

xanh, chi phí môi trường phải loại bỏ khoản chi phí phục vụ cho hoạt động bảo vệ

môi trường GDP xanh ở Trung Quốc năm 1992 là 2.193,21 tỷ yuan (xem bảng số 2)

Bảng số 2 GDP xanh ở Trung quốc năm 1992

Năm 1992 Trung Quốc đã tính thử nghiệm GDP xanh, GDP xanh theo giá

hiện hành đạt 2,193.21 tỷ yuan, chiếm 82,31% GDP; Đồng thời chi phí môi trường

tương đương với 129,71 tỷ yuan (cả chi phí cho hoạt động bảo vệ môi trường và chi

phí cho hoạt động sản xuất khác đã được quy đổi có liên quan đến môi trường),

chiếm 4,8% GDP của Trung Quốc hoặc 5,61% NDP của Trung Quốc

Ngày đăng: 14/05/2014, 18:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ số 1. Mô hình I/O - Nghiên cứu khả năng tính toán chỉ tiêu GDP xanh ở việt nam
Sơ đồ s ố 1. Mô hình I/O (Trang 23)
Sơ đồ số 2 và xác định cách tính theo công thức (16) nh− sau: - Nghiên cứu khả năng tính toán chỉ tiêu GDP xanh ở việt nam
Sơ đồ s ố 2 và xác định cách tính theo công thức (16) nh− sau: (Trang 30)
Bảng số 1. Chi phí môi tr−ờng (IEC) của Trung Quốc năm 1992 - Nghiên cứu khả năng tính toán chỉ tiêu GDP xanh ở việt nam
Bảng s ố 1. Chi phí môi tr−ờng (IEC) của Trung Quốc năm 1992 (Trang 39)
Bảng số 3. Chi phí bảo vệ môI tr−ờng ở Trung Quốc năm 1992. - Nghiên cứu khả năng tính toán chỉ tiêu GDP xanh ở việt nam
Bảng s ố 3. Chi phí bảo vệ môI tr−ờng ở Trung Quốc năm 1992 (Trang 41)
Bảng số 4. một số chỉ tiêu phản ánh tiêu dùng tài nguyên - Nghiên cứu khả năng tính toán chỉ tiêu GDP xanh ở việt nam
Bảng s ố 4. một số chỉ tiêu phản ánh tiêu dùng tài nguyên (Trang 47)
Bảng số 5. VA và VA thuần ngành công nghiệp năm 2005 - Nghiên cứu khả năng tính toán chỉ tiêu GDP xanh ở việt nam
Bảng s ố 5. VA và VA thuần ngành công nghiệp năm 2005 (Trang 60)
Bảng số 6. Chi phí xử lý toàn bộ, các chất thải ảnh hưởng đến môi trường - Nghiên cứu khả năng tính toán chỉ tiêu GDP xanh ở việt nam
Bảng s ố 6. Chi phí xử lý toàn bộ, các chất thải ảnh hưởng đến môi trường (Trang 60)
Bảng số 7. Tính  VA xanh và so sánh VA và VA xanh - Nghiên cứu khả năng tính toán chỉ tiêu GDP xanh ở việt nam
Bảng s ố 7. Tính VA xanh và so sánh VA và VA xanh (Trang 61)
Sơ đồ số 1. Mô hình I/O - Nghiên cứu khả năng tính toán chỉ tiêu GDP xanh ở việt nam
Sơ đồ s ố 1. Mô hình I/O (Trang 81)
Sơ đồ số 2. Mô tả cấu trúc chỉ tiêu GDP xanh ở Nhật Bản - Nghiên cứu khả năng tính toán chỉ tiêu GDP xanh ở việt nam
Sơ đồ s ố 2. Mô tả cấu trúc chỉ tiêu GDP xanh ở Nhật Bản (Trang 87)
Bảng số 2. GDP xanh ở Trung quốc năm 1992 - Nghiên cứu khả năng tính toán chỉ tiêu GDP xanh ở việt nam
Bảng s ố 2. GDP xanh ở Trung quốc năm 1992 (Trang 91)
Bảng số 3. Chi phí bảo vệ môI tr−ờng ở Trung Quốc năm 1992. - Nghiên cứu khả năng tính toán chỉ tiêu GDP xanh ở việt nam
Bảng s ố 3. Chi phí bảo vệ môI tr−ờng ở Trung Quốc năm 1992 (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w