Trong khi đó, thực tiễn đòi hỏi hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN, bộ phận cấu thành đặc biệt của hệ thống chỉ tiêu thống kê KT-XH, phải có tư cách độc lập và đầy đủ để thực hiện chức năn
Trang 1Bộ khoa học và công nghệ
trung tâm thông tin khoa học và công nghệ quốc gia
Báo cáo tổng kết đề tài cấp bộ
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để triển khai hoạt động thống kê
khoa học và công nghệ
theo nghị định số 30/2006/NĐ-CP
Cơ quan chủ trì: Trung tâm Thông tin Kh&Cn Quốc gia
Chủ nhiệm đề tài: ths phan huy quế
6873
22/5/2008
hà nội - 3/2008
Trang 21 nhóm nghiên cứu:
1 CN Bùi Thị Chiêm Trung tâm Hỗ trợ đánh
giá hoạt động KH&CN
2 ThS Trần Hoàng Hạnh Trung tâm TTKHCNQG Thư ký đề tài
3 KS Nguyễn Tuấn Hưng Cục Sở hữu trí tuệ
4 ThS Cao Minh Kiểm Trung tâm TTKHCNQG
1 Viện Khoa học Thống kê – Tổng cục Thống kê
2 Vụ Phương pháp chế độ thống kê và công nghệ thông tin – Tổng cục
Thống kê
3 Vụ Thống kê Xã hội và Môi trường
Trang 3mục lục
Trang
Chữ viết tắt
Một số thuật ngữ và khái niệm cơ bản sử dụng trong thống kê KH&CN i
Mở đầu 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 2
4 Nội dung nghiên cứu 2
5 Các sản phẩm khoa học của đề tài và ý nghĩa thực tiễn 4
6 Cấu trúc của báo cáo tổng kết đề tài 5
Chương 1 Những vấn đề chung 1.1 Tổng quan về hoạt động thống kê KH&CN Việt Nam 7
1.2 Nhu cầu thông tin thống kê KH&CN thời kỳ CNH-HĐH đất nước 20
1.3 Hoạt động thống kê KH&CN của một số tổ chức và quốc gia trên thế giới Kinh nghiệm cho Việt Nam 24
1.3.1 Hoạt động thống kê KH&CN của một số tổ chức quốc tế 24
1.3.2 Hoạt động thống kê KH&CN của một số quốc gia 31
1.3.3 Kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 36
Chương 2 nghiên cứu đề xuất hệ thống chỉ tiêu thống kê kH&CN chủ yếu 2.1 Cơ sở lý luận và căn cứ thực tiễn xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN
39 2.1.1 Cơ sở lý luận xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN 39
Trang 42.2 Hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN chủ yếu 52
2.2.1 Chỉ tiêu thống kê về tổ chức KH&CN 53
2.2.2 Chỉ tiêu thống kê chung về nhân lực KH&CN 57
2.2.3 Chỉ tiêu thống kê về nhân lực NC-PT 61
2.2.4 Chỉ tiêu thống kê về đầu tư cho KH&CN 65
2.2.5 Chỉ tiêu thống kê về đầu tư cho NC-PT 74
2.2.6 Chỉ tiêu thống kê về đề tài KH&CN 78
2.2.7 Chỉ tiêu thống kê về giải thưởng KH&CN 81
2.2.8 Chỉ tiêu thống kê về sáng chế 84
2.2.9 Chỉ tiêu thống kê về đổi mới công nghệ 90
2.2.10 Chỉ tiêu thống kê về thương mại công nghệ 96
2.2.11 Chỉ tiêu thống kê về thương mại sáng chế 102
Chương 3 Nghiên cứu đề xuất hệ thống phân loại thống kê KH&CN 3.1 Tổng quan về khoa học phân loại 105
3.1.1 Khái niệm và hình thức phân loại 105
3.1.2 Nguyên tắc phân loại khoa học 106
3.2 Vai trò của phân loại trong thống kê KH&CN Các dạng phân loại thống kê KH&CN 109
3.2.1 Vai trò của phân loại trong thống kê KH&CN 109
3.2.2 Các dạng phân loại chủ yếu trong thống kê KH&CN 110
3.2.3 Những nguyên tắc chung về xây dựng hệ thống phân loại thống kê KH&CN Việt Nam 111
3.3 Nghiên cứu, đề xuất Bảng phân loại lĩnh vực KH&CN 112
3.3.1 Phân loại lĩnh vực KH&CN của UNESCO và OECD 112
3.3.2 Đề xuất Bảng phân loại lĩnh vực KH&CN của Việt Nam 116
3.4 Nghiên cứu, đề xuất Bảng phân loại mục tiêu KT-XH
Trang 53.4.1 Phân loại mục tiêu KT-XH của hoạt động KH&CN
của UNESCO và OECD và một số quốc gia khác 126
3.4.2 Đề xuất Bảng phân loại mục tiêu KT-XH của hoạt động KH&CN Việt Nam 129
3.5 Phân chia dạng tổ chức KH&CN 136
3.5.1 Phân chia dạng tổ chức KH&CN của UNESCO và OECD 136
3.5.2 Đề xuất phân chia dạng tổ chức KH&CN cho Việt Nam 138
3.6 Phân chia dạng hoạt động KH&CN 140
3.6.1 Phân chia dạng hoạt động KH&CN của UNESCO và OECD 140
3.6.2 Đề xuất phân chia dạng hoạt động KH&CN cho Việt Nam 143
3.7 Phân chia vòng đời công nghệ 146
Chương 4 Nghiên cứu đề xuất phương án tổ chức hoạt động thống kê kH&CN theo tinh thần Nghị định số 30/2006/NĐ-CP 4.1 Nghiên cứu đề xuất lộ trình triển khai Nghị định số 30/2006/NĐ-CP 149
4.1.1 Cơ sở đề xuất lộ trình 149
4.1.2 Lộ trình triển khai Nghị định số 30/2006/NĐ-CP 153
4.2 Nghiên cứu đề xuất phương án tổ chức bộ máy thực hiện hoạt động thống kê KH&CN
162 4.2.1 Quan điểm 162
4.2.2 Phương án tổ chức 162
4.3 Nghiên cứu đề xuất quy trình và lược đồ thu thập, cung cấp số liệu thống kê KH&CN
176 4.3.1 Đối tượng và phương thức thu thập số liệu thống kê KH&CN 176
4.3.2 Quy trình chế độ báo cáo thống kê cơ sở về KH&CN 177
4.3.3 Quy trình chế độ báo cáo thống kê tổng hợp về KH&CN……… 181
4.3.4 Lược đồ chế độ báo cáo thống kê KH&CN……… 185
Trang 64.3.6 Quá trình điều tra số liệu thống kê về nhân lực KH&CN bắt đầu
từ hộ gia đình bằng cách cài đặt thông tin vào Phiếu Tổng Điều tra Dân
số và Nhà ở (TĐTDSNO) 188
Kết luận và kiến nghị 194
Tài liệu tham khảo 205
Phụ lục 208 Phụ lục 1 Tổng hợp ý kiến chuyên gia
Phụ lục 2 Hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN chủ yếu
Phụ lục 3 Bảng phân loại lĩnh vực KH&CN
Phụ lục 4 Bảng phân loại mục tiêu KT-XH
của hoạt động KH&CN
Phụ lục 5 Biểu mẫu sử dụng cho chế độ báo cáo thống kê
định kỳ về KH&CN (Mẫu)
Trang 7C¸c ch÷ viÕt t¾t
ISIC HÖ thèng ph©n lo¹i quèc tÕ vÒ c«ng nghiÖp
Trang 8SHTT Së h÷u trÝ tuÖ
TC-§L-CL Tiªu chuÈn-§o l−êng-ChÊt l−îng
Trung t©m TTKHCNQG Trung t©m Th«ng tin Khoa häc vµ C«ng
nghÖ Quèc gia
UNESCO Tæ chøc Gi¸o dôc, Khoa häc vµ V¨n ho¸
cña Liªn hîp quèc
Uû ban KHKTNN Uû ban Khoa häc vµ Kü thuËt Nhµ n−íc
Trang 9một số thuật ngữ và khái niệm cơ bản
sử dụng trong thống kê kH&CN *
1 Khoa học Là hệ thống tri thức về các hiện t−ợng, sự vật,
quy luật của tự nhiên, xã hội và t− duy
cơ bản và nghiên cứu ứng dụng
5 Phát triển công
nghệ
Là hoạt động nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới Phát triển công nghệ bao gồm triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm
Trang 10
8 Dịch vụ khoa học
và công nghệ
Là các hoạt động phục vụ việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức khoa học và công nghệ và kinh nghiệm thực tiễn
9 Tổ chức khoa học
và công nghệ
Là tổ chức hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động trong lĩnh vực khoa học và công nghệ
Tổ chức khoa học và công nghệ bao gồm: tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển côngnghệ (gọi chung là
tổ chức nghiên cứu và phát triển); trường đại học, học viện, trường cao đẳng (gọi chung là trường đại học); tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ
10 Nhiệm vụ khoa học
12 Quyền tác giả Là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm
do mình sáng tạo hoặc sở hữu
13 Quyền liên quan
đến quyền tác giả
Là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa
Trang 1114 Quyền sở hữu công
nghiệp
Là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn
địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh
15 Sáng chế Là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc
quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên
16 Kiểu dáng công
nghiệp
Là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc
sự kết hợp những yếu tố này
17 Nhãn hiệu Là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch
vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau
18 Văn bằng bảo hộ
(Pa-tăng)
Là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân nhằm xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế, bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn
địa lý, quyền đối với cây trồng
19 Giấy phép sử dụng
sáng chế
(Li-xăng)
Là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân nhằm xác lập quyền sử dụng đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế, bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, quyền
đối với cây trồng
20 Hoạt động thống
kê
Là điều tra, báo cáo, tổng hợp, phân tích và công bố các thông tin phản ánh bản chất và tính quy luật của các hiện tượng KT-XH trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể do tổ chức thống kê nhà nước tiến hành
21 Thông tin thống kê Là sản phẩm của hoạt động thống kê, bao gồm
số liệu thống kê và bản phân tích các số liệu đó
Trang 1222 Chỉ tiêu thống kê Là tiêu chí mà biểu hiện bằng số của nó phản
ánh quy mô, tốc độ phát triển, cơ cấu, quan hệ
tỷ lệ của hiện tượng KT-XH trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể
23 Hệ thống chỉ tiêu
thống kê
Là tập hợp những chỉ tiêu thống kê do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
24 Hệ thống chỉ tiêu
thống kê quốc gia
Là tập hợp những chỉ tiêu thống kê phản ánh tình hình KT-XH chủ yếu của đất nước
25 Báo cáo thống kê Là hình thức thu thập thông tin thống kê theo
chế độ báo cáo thống kê do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền ban hành Báo cáo thống kê bao gồm: báo cáo thống kê cơ sở và báo cáo thống
kê nhà nước (quy định trong chế độ báo cáo)
27 Báo cáo thống kê
tổng hợp
Là loại báo cáo do các đơn vị thống kê các cấp (Phòng thống kê quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; Cục thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thống kê các bộ, ngành
và thống kê các sở, ban ngành của tỉnh, thành phố) lập từ số liệu đã được tổng hợp qua chế độ báo cáo thống kê cơ sở, từ kết quả các cuộc điều tra thống kê hoặc từ các nguồn thông tin khác theo hệ thống biểu tổng hợp thống nhất để phục
Trang 13vụ cho yêu cầu quản lý từng cấp và tổng hợp số liệu thống kê ở cấp cao hơn (quy định trong chế
độ báo cáo)
28 Điều tra thống kê Là hình thức thu thập thông tin thống kê theo
phương án điều tra Điều tra thống kê có thể tiến hành trong phạm vi cả nước hoặc trong phạm vi từng địa phương, có thể là điều tra toàn
bộ hoặc điều tra không toàn bộ
29 Phương án điều tra
thống kê
Là một loại văn bản được xây dựng trong bước
chuẩn bị điều tra, quy định rõ về những vấn đề cần giải quyết hoặc cần hiểu thống nhất trước, trong và sau khi tiến hành điều tra
Trang 14Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, khoa học và công nghệ (KH&CN) ngày càng khẳng định vai trò tiên phong trong sự phát triển KT-XH của mỗi quốc gia Trong các văn kiện của Đảng và các văn bản pháp luật của Nhà nước Việt Nam, cùng với giáo dục và đào tạo, phát triển KH&CN luôn được coi là quốc sách hàng đầu Quan điểm này đã được thể hiện rõ trong các văn kiện của Đảng, như: Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) về KH&CN, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ
IX, Kết luận của Hội nghị Trung ương 6 (Khoá IX) về KH&CN và gần đây nhất, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã xác định:
“Phát triển mạnh, kết hợp chặt giữa hoạt động KH&CN với giáo dục và đào tạo để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức”; “Cùng với việc
đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động KH&CN, Nhà nước tập trung đầu tư vào các chương trình nghiên cứu quốc gia, phấn đấu đạt trình độ khu vực và thế giới; xây dựng tiềm lực KH&CN cho một số lĩnh vực trọng điểm, công nghệ cao”
[1] Đường lối, chính sách của Đảng về phát triển KH&CN đã được Chính phủ hiện thực hóa bằng các văn bản như: Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện kết luận của Hội nghị Trung ương 6 (Khoá IX) về KH&CN; Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam đến năm 2010 Bên cạnh việc tạo ra hành lang pháp lý, Đảng và Nhà nước cũng đã chú trọng đầu tư cho KH&CN Đây thực sự là động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của KH&CN Việt Nam
Trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, đặc biệt là sau khi Việt Nam chính thức là thành viên của WTO, để góp phần tăng cường sự lãnh
đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành đối với sự phát triển của KH&CN, cần phải có những thông tin chính xác, tin cậy, đầy đủ và kịp thời về hiện trạng và trình độ của nền KH&CN hiện tại Những thông tin này
là cơ sở để hoạch định chiến lược, chính sách phát triển KH&CN phù hợp với yêu cầu phát triển KT-XH của đất nước, thúc đẩy tiến trình hội nhập của KH&CN Việt Nam vào khu vực và quốc tế Những thông tin này chỉ có thể có
được từ hoạt động thống kê KH&CN Hiện nay ở nước ta, hoạt động thống kê KH&CN mới chỉ giới hạn ở việc thu thập, tổng hợp một số chỉ tiêu thống kê
về tiềm lực và hoạt động KH&CN Những chỉ tiêu này cũng mới chỉ tồn tại
Trang 15dưới dạng phân tán, chắp vá, không đồng bộ và thiếu tính hệ thống, khi có, khi không [13] Trong khi đó, thực tiễn đòi hỏi hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN, bộ phận cấu thành đặc biệt của hệ thống chỉ tiêu thống kê KT-XH, phải có tư cách độc lập và đầy đủ để thực hiện chức năng phản ánh, đánh giá một cách khoa học về hoạt động KH&CN của đất nước Để làm được điều này, hoạt động thống kê KH&CN phải được tổ chức một cách bài bản, khoa học bên cạnh hoạt động thống kê KT-XH quốc gia Nghị định số 30/2006/NĐ-CP ngày 29/3/2006 của Chính phủ về thống kê KH&CN ra đời, ngoài việc đảm bảo cơ sở pháp lý còn đặt ra các nhiệm vụ cấp bách nhằm xây dựng và hoàn thiện hoạt động thống kê KH&CN, phục vụ cho hoạch định chiến lược và chính sách phát triển KH&CN của đất nước
Đề tài “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để tổ chức triển khai
hoạt động thống kê khoa học và công nghệ theo Nghị định số CP” được hình thành từ thực tế cấp bách đó
30/2006/NĐ-2 Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu đề xuất hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN, bảng phân loại thống kê KH&CN, tổ chức bộ máy thực hiện hoạt
động thống kê KH&CN nhằm triển khai hoạt động thống kê KH&CN theo Nghị định số 30/2006/NĐ-CP ngày 29/3/2006 của Chính phủ về thống kê KH&CN
3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động thống kê KH&CN Việt Nam, giới hạn trong phạm vi: hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN chủ yếu; hệ thống bảng phân loại KH&CN; tổ chức bộ máy thực hiện hoạt động thống kê KH&CN
Các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây được áp dụng trong quá trình thực hiện đề tài:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp thông tin;
- Phương pháp điều tra, khảo sát;
- Phương pháp chuyên gia đánh giá
4 Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau:
Trang 164.1 Nghiên cứu khảo sát, đánh giá hiện trạng thống kê KH&CN, gồm: khảo sát, đánh giá hiện trạng hệ thống thông tin thống kê KH&CN; nghiên cứu, xác định nhu cầu thông tin thống kê KH&CN
4.2 Nghiên cứu, khảo sát hoạt động thống kê KH&CN nước ngoài và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, gồm: nghiên cứu, khảo sát một số nội dung liên quan đến thống kê KH&CN (phương pháp luận, hệ thống chỉ tiêu, bảng phân loại) của một số tổ chức quốc tế và quốc gia như: UNESCO, OECD, Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia Đề xuất kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam
4.3 Nghiên cứu đề xuất hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN chủ yếu của Việt Nam (tên; đơn vị tính; phân tổ; kỳ báo cáo; đơn vị chịu trách nhiệm thu thập, tổng hợp; cách tính sơ bộ), phục vụ triển khai các chỉ tiêu quốc gia
về KH&CN, gồm các nhóm chỉ tiêu sau:
a) Nhóm chỉ tiêu về tổ chức KH&CN;
b) Nhóm chỉ tiêu về nhân lực KH&CN;
c) Nhóm chỉ tiêu về đề tài KH&CN;
d) Nhóm chỉ tiêu về phát minh, sáng chế được cấp bằng bảo hộ; e) Nhóm chỉ tiêu về giải thưởng KH&CN;
f) Nhóm chỉ tiêu về đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN;
g) Nhóm chỉ tiêu về chi cho đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp h) Nhóm chỉ tiêu về giá trị mua, bán công nghệ;
i) Nhóm chỉ tiêu về mua, bán bản quyền phát minh sáng chế và giải pháp hữu ích
4.4 Nghiên cứu đề xuất hệ thống Bảng phân loại thống kê KH&CN quốc gia, bao gồm:
a) Bảng phân loại lĩnh vực KH&CN (phân chia đến 4 cấp);
b) Bảng phân loại mục tiêu KT-XH của hoạt động KH&CN;
c) Bảng phân chia dạng hoạt động KH&CN, vòng đời công nghệ, dạng tổ chức KH&CN
Trang 174.5 Nghiên cứu đề xuất một số vấn đề liên quan đến tổ chức thực hiện hoạt động thống kê KH&CN, bao gồm: lộ trình triển khai Nghị định số 30/2007/NĐ-CP; lược đồ thu thập, cung cấp thông tin thống kê KH&CN; phương án tổ chức bộ máy thực hiện hoạt động thống kê KH&CN
5 Các sản phẩm khoa học của đề tài và ý nghĩa thực tiễn
5.1 Các sản phẩm khoa học của đề tài
Theo hợp đồng thực hiện đề tài KH&CN cấp bộ số 01-07/HĐ-ĐT giữa
đại diện Bộ KH&CN và chủ nhiệm đề tài, các sản phẩm khoa học của đề tài bao gồm:
a) Hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN chủ yếu;
b) Hệ thống Bảng phân loại thống kê KH&CN quốc gia;
c) Lược đồ thu thập, cung cấp thông tin thống kê KH&CN;
d) Phương án tổ chức bộ máy thực hiện hoạt động thống kê KH&CN; e) Báo cáo tổng kết và báo cáo tóm tắt kết quả thực hiện đề tài;
f) 01 bài báo khoa học (đăng trên Tạp chí Hoạt động khoa học của Bộ KH&CN hoặc Tạp chí Thông tin và tư liệu của Trung tâm TTKHCNQG)
5.2 ý nghĩa thực tiễn của sản phẩm đề tài
Các sản phẩm của đề tài, đặc biệt là hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN
và hệ thống Bảng phân loại sẽ được ứng dụng để triển khai hoạt động thống kê KH&CN theo Nghị định số 30/2006/NĐ-CP Năm 2007, cùng với việc giao nhiệm vụ chủ trì đề tài, Lãnh đạo Bộ KH&CN còn giao cho Trung tâm TTKHCNQG xây dựng một số văn bản quy phạm pháp luật về triển khai hoạt
động thống kê KH&CN Đó là các văn bản:
a) Quyết định của Bộ trưởng Bộ KH&CN về việc ban hành hệ thống Bảng phân loại thống kê KH&CN (gồm Bảng phân loại lĩnh vực KH&CN và Bảng phân loại mục tiêu của hoạt động KH&CN);
b) Quyết định của Bộ trưởng Bộ KH&CN về việc ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN;
c) Quyết định của Bộ trưởng Bộ KH&CN về việc ban hành quy chế tổ chức hoạt động thống kê KH&CN
Trang 18Để thực hiện các nhiệm vụ trên, Trung tâm Thông tin KHCNQG đã thành lập Nhóm công tác thống kê KH&CN Một số thành viên trong Nhóm
đồng thời là thành viên của nhóm tác giả đề tài Vì vậy, không phải đến khi đề tài hoàn thành và được nghiệm thu, các sản phẩm khoa học của đề tài mới
được ứng dụng vào thực tế, mà trong quá trình thực hiện, một số sản phẩm đã
được Nhóm công tác thống kê KH&CN sử dụng Ví dụ: các Bảng phân loại thống kê KH&CN quốc gia, hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN đã được chỉnh sửa và đang lấy ý kiến góp ý của các bộ, ngành, địa phương để hoàn thiện Tương tự, các sản phẩm khác như phương án tổ chức hoạt động thống
kê KH&CN cũng sẽ được Nhóm công tác thống kê KH&CN tiếp nhận và sử dụng
6 Cấu trúc của báo cáo tổng kết đề tài
Báo cáo tổng kết đề tài gồm:
Phần Mở đầu
Chương 1: Những vấn đề chung
Giới thiệu kết quả nghiên cứu, khảo sát, đánh giá hiện trạng thống kê KH&CN; nhu cầu thông tin thống kê KH&CN và kinh nghiệm thống kê KH&CN của một số tổ chức, quốc gia khu vực và quốc tế;
Chương 2: Nghiên cứu đề xuất hệ thống thống kê KH&CN chủ yếu
Giới thiệu kết quả nghiên cứu và đề xuất 12 nhóm chỉ tiêu thống kê KH&CN chủ yếu, phục vụ tức thời cho việc triển khai hoạt động thống kê KH&CN Cơ sở để lựa chọn các nhóm chỉ tiêu thống kê KH&CN này là 9 nhóm chỉ tiêu quốc gia về KH&CN được ban hành trong Quyết định số 305/2005/QĐ-TTg ngày 24/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ Từng chỉ tiêu trong các nhóm chỉ tiêu này được nghiên cứu, đề xuất với các nội dung: tên chỉ tiêu, đơn vị tính, phân tổ, kỳ báo cáo, phương pháp thu thập, đơn vị chịu trách nhiệm báo cáo, cách tính sơ bộ
Chương 3: Nghiên cứu đề xuất hệ thống Bảng phân loại thống kê KH&CN quốc gia
Giới thiệu kết quả nghiên cứu, xây dựng các bảng phân loại sau: Bảng phân loại lĩnh vực KH&CN; Bảng phân loại mục tiêu của hoạt động KH&CN
và bảng phân chia dạng hoạt động KH&CN, dạng tổ chức KH&CN Trong đó, chủ yếu là Bảng phân loại lĩnh vực và Bảng phân loại mục tiêu KT-XH của hoạt động KH&CN
Trang 19Chương 4: Nghiên cứu đề xuất phương án tổ chức hoạt động thống kê KH&CN theo tinh thần Nghị định số 30/2006/NĐ-CP
Giới thiệu kết quả nghiên cứu, xây dựng lộ trình triển khai Nghị định số 30/2006/NĐ-CP; quy trình và lược đồ thu thập, cung cấp thông tin thống kê KH&CN và phương án tổ chức bộ máy thực hiện hoạt động thống kê KH&CN
Sau đây là toàn văn nội dung báo cáo tổng kết đề tài
Trang 20Chương 1 Những vấn đề chung
1.1 Tổng quan về hoạt động thống kê KH&CN Việt Nam
Có thể nói, hoạt động thống kê KH&CN nước ta đã được bắt đầu từ khi hình thành hoạt động quản lý nhà nước (QLNN) về KH&CN và có thể tạm thời phân chia theo các giai đoạn như sau:
a) Giai đoạn trước năm 1984
Trong giai đoạn này, thông tin phục vụ cho hoạt động QLNN về KH&CN chủ yếu chỉ là những thông tin phản ánh tình hình thực hiện kế hoạch của các hoạt động khoa học tại các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học cao đẳng, các cơ quan điều tra khảo sát…Những thông tin này được thể hiện trong các báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch nhà nước định kỳ 6 tháng hoặc hàng năm Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, các báo cáo nói trên hoặc không đầy đủ, hoặc sai lệch về thông tin [13, 15] Đôi khi, các cơ quan quản
lý nhà nước cũng tiến hành các cuộc điều tra trọng điểm tại một số cơ sở, bộ, ngành, địa phương để thu thập thêm thông tin Điển hình là năm 1982, Nhà nước đã tổ chức một cuộc điều tra với quy mô khá lớn về cán bộ KHKT, số liệu điều tra đã được tổng hợp, xử lý, nhưng cuối cùng không sử dụng được vì
số liệu này không phản ánh đúng thực trạng đội ngũ cán bộ KHKT nước ta thời gian này Do chịu ảnh hưởng trực tiếp của cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, trật tự, kỷ cương trong chế độ báo cáo định kỳ không được thực hiện chặt chẽ cùng với việc chưa có phương pháp luận về thống kê KH&CN, nên những thông tin thu được qua chế độ báo cáo hoặc điều tra nói trên không phản ánh được các mặt hoạt động của KH&CN, không đáp ứng được yêu cầu của công tác kế hoạch hóa và công tác QLNN về KH&CN [15] Một vấn đề cấp bách đặt ra là: cần thiết một chế độ báo cáo thống kê định kỳ chính thức với các nội dung thông tin đáp ứng yêu cầu QLNN về KH&CN để áp dụng cho các cơ quan nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng và các cơ quan điều tra khảo sát Trước tình hình đó, ngày 27/6/1981, Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 263/CP của Hội đồng Bộ trưởng về chế độ kế hoạch hóa KHKT và Quyết định số 349/CP của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc ban hành bổ
Trang 21sung 14 nhóm chỉ tiêu thống kê KHKT vào hệ thống chỉ tiêu thống kê trong chế độ báo cáo thống kê định kỳ chính thức ban hành theo Quyết định số 168/TTg ngày 17/9/1970 của Thủ tướng chính phủ Đây là cơ sở pháp lý để các cơ quan QLNN về KH&CN dần dần hoàn thiện các chuẩn mực về chế độ báo cáo định kỳ, góp phần mở ra một giai đoạn mới của hoạt động thống kê KH&CN Việt Nam
b) Giai đoạn 1984-1994
Để triển khai thực hiện định hướng của Chính phủ về hoàn thiện chế độ báo cáo thống kê định kỳ trong các văn bản nói trên, các cơ quan QLNN đối với KH&CN đã dần hoàn thiện các yêu cầu về chế độ báo cáo, trong đó có chế độ báo cáo thống kê định kỳ Một trong những điển hình của việc làm này trong những năm 80 thế kỷ XX là Quyết định liên bộ số 420/QĐ-LB ngày 08/10/1984 của Uỷ ban KHKT nhà nước (nay là Bộ KH&CN) và Tổng cục Thống kê về chế độ báo cáo thống kê khoa học và kỹ thuật áp dụng cho các cơ quan NC-PT, các trường đại học, cao đẳng, các đơn vị điều tra, khảo sát tài nguyên và điều kiện thiên nhiên Quyết định này quy định 12 nội dung báo cáo thống kê định kỳ, là:
- Tình hình thực hiện đề tài nghiên cứu các cấp;
- Tình hình áp dụng các kỹ thuật tiến bộ;
- Tình hình xây dựng và soát xét tiêu chuẩn;
- Tình hình kiểm định dụng cụ đo;
- Hoạt động sáng kiến và sáng chế;
- Hoạt động thông tin KHKT;
- Thiết bị, vật tư KHKT;
- Cán bộ KHKT;
- Tình hình chi tiêu cho KHKT;
- Điều tra cơ bản (điều tra, bảo vệ tài nguyên và điều kiện thiên nhiên);
- Hợp tác KHKT với nước ngoài;
- Tổ chức mạng lưới các cơ quan KHKT
Trang 22Như vậy, nếu xem xét theo tính chất chỉ tiêu và yêu cầu thống kê của hoạt động KH&CN, hai nội dung cuối (Hợp tác KHKT với nước ngoài và Tổ chức mạng lưới cơ quan KHKT) có thể dùng phương pháp điều tra Các nội dung còn lại được thực hiện theo chế độ báo cáo thống kê định kỳ chính thức
đối với các đơn vị thống kê cơ sở
Năm 1984 là năm đầu tiên thực hiện chế độ báo cáo thống kê định kỳ chính thức Theo các tài liệu [12,15] thì đây là năm có số lượng đơn vị nộp báo cáo nhiều nhất, đạt 71% tổng số đơn vị thuộc đối tượng báo cáo Các năm tiếp theo, số lượng giảm dần, đến năm 1986 chỉ còn 27% Trước tình hình này, năm 1997, Uỷ ban KHKT nhà nước đã áp dụng nhiều biện pháp hành chính để thúc đẩy việc thực hiện chế độ báo cáo thống kê định kỳ chính thức, nhưng số lượng báo cáo thu được cũng chỉ đạt khoảng 30% tổng số đơn vị thuộc đối tượng báo cáo Số lượng báo cáo thì như vậy, còn chất lượng báo cáo cũng không có gì khả quan hơn: có tới 60% số liệu trong các báo cáo nhận được không thể sử dụng vì sai quy định
Năm 1989, Nhà nước tổ chức cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở, trong
đó có số liệu về cán bộ KHKT trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên, được phân theo nhóm tuổi, giới tính và được tổng hợp chung của toàn quốc cũng như của từng tỉnh, thành phố Đây là nguồn số liệu rất quý giá về nguồn nhân lực KH&CN mà trước năm 1989 chưa bao giờ có, góp phần đáng kể cho việc hoạch định chính sách quy hoạch, đào tạo và sử dụng đội ngũ nhân lực KH&CN nước nhà
Nhìn chung, giai đoạn 1984-1994, hoạt động thống kê KH&CN đã có những tiến bộ đáng kể Các số liệu thu được, cho dù còn những hạn chế này khác, nhưng cũng đã lấp một khoảng trống đáng kể của những năm trước trong hệ thống chỉ tiêu báo cáo thống kê kinh tế quốc dân Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới về quản lý KT-XH, trong đó có KH&CN, chế độ báo cáo thống kê định kỳ chính thức đã bộc lộ nhiều bất cập Đó là:
- Về hình thức và nội dung báo cáo: chế độ báo cáo nặng nề, phức tạp
nhưng kém hiệu quả; thừa thông tin quản lý điều hành vi mô nhưng thiếu thông tin phục vụ quản lý điều hành vĩ mô
Trang 23- Về phương pháp luận: do chịu ảnh hưởng chủ yếu của phương thức
quản lý KT-XH theo quan điểm và phương pháp luận khối SEV nên chưa phù hợp với phương pháp luận quốc tế (UNESCO, OECD)
- Về tổ chức: chưa hình thành mạng lưới thống kê của ngành KH&CN;
nhiệm vụ thu thập, xử lý thông tin thống kê ngành KH&CN chủ yếu do Vụ Kế hoạch thuộc Uỷ ban KHKT nhà nước thực hiện
Như vậy, mặc dù các cơ quan QLNN về KH&CN và Tổng cục Thống
kê đã có nhiều cố gắng, nhưng công tác thống kê theo chế độ báo cáo định kỳ giai đoạn này đã không thành công do nhiều nguyên nhân Trong đó có một
số nguyên nhân cơ bản như sau [15]:
- Thứ nhất, chế độ báo cáo thống kê định kỳ giai đoạn này mang nặng tính quan liêu bao cấp, xa rời thực tế, lỏng lẻo về kỷ luật và tổ chức Số liệu thống kê mang tính cục bộ, một chiều;
- Thứ hai, nhận thức về tiềm lực KH&CN không đầy đủ và thiếu sâu sắc Tiềm lực KH&CN rất đa dạng, bao gồm nhiều chỉ tiêu thống kê, không chỉ có trong các đối tượng thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, mà còn trong nhiều loại hình tổ chức khác, như: doanh nghiệp; cơ quan quản lý các ngành, các cấp, các địa phương; tổ chức Đảng, đoàn thể; các cơ sở KT-XH thuộc các thành phần kinh tế ngoài nhà nước,v.v Điều này dẫn đến số liệu thống kê không đầy đủ, không phản ánh được thực trạng hoạt động KH&CN Do đó, không có tác dụng hỗ trợ cho việc hoạch định chính sách phát triển KH&CN;
- Thứ ba, chưa tiếp cận được phương pháp luận thống kê KH&CN tiên tiến của thế giới, dẫn đến việc không thể so sánh, đánh giá trình độ KH&CN nước nhà với các nước trong khu vực và quốc tế Đây là một trở ngại rất lớn cho quá trình hội nhập kinh tế nói chung và KH&CN nói riêng của Việt Nam;
- Thứ tư, bệnh thành tích, một thứ bệnh phổ biến tại các cấp, các ngành thời kỳ bao cấp thường dẫn đến hậu quả là xuất hiện những “số liệu thống kê tưởng tượng” hoặc những số liệu thống kê được “đánh bóng”, sao cho bức tranh tổng thể về hoạt động của ngành mình, cấp mình được đẹp đẽ, suôn sẻ
Điều này làm mất giá trị của số liệu thống kê nói riêng và hoạt động thống kê KH&CN nói chung, kìm hãm sự phát triển của KH&CN nước nhà
Sự thất bại của chế độ báo cáo thống kê định kỳ cùng với những yêu cầu cấp bách về thông tin thống kê phục vụ cho hoạt động QLNN về KT-XH
Trang 24nói chung và KH&CN nói riêng đã buộc các nhà quản lý phải đề xuất hướng
đi mới cho hoạt động thống kê KH&CN Đó là việc tổ chức các cuộc điều tra tập trung về tiềm lực KH&CN, mở ra một giai đoạn phát triển mới của thống
kê KH&CN Việt Nam
c) Giai đoạn 1995-1999
ý định về việc tổ chức một cuộc điều tra thống kê tập trung về tiềm lực KH&CN được manh nha từ năm 1994, đánh dấu bằng việc Lãnh đạo Bộ KH&CNMT và Lãnh đạo Tổng cục Thống kê giao cho Viện Khoa học thống
kê (Tổng cục Thống kê) phối hợp với Vụ Kế hoạch-Tài chính (Bộ KH&CNMT) thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học: “ Nghiên cứu xây dựng phương án điều tra tiềm lực KH&CN” Đề tài được thực hiện trong 2 năm (1995-1996), theo phương châm: nghiên cứu kết hợp với ứng dụng thông qua hoạt động điều tra, khảo sát thử nghiệm Nhóm nghiên cứu đã xây dựng phương án điều tra 4 nhóm chỉ tiêu KH&CN là [13]:
- Nhóm các chỉ tiêu chung về đơn vị sự nghiệp khoa học (2 chỉ tiêu)
- Nhóm các chỉ tiêu về lao động KH&CN (gồm 27 chỉ tiêu);
- Nhóm các chỉ tiêu về đầu tư cho KH&CN (18 chỉ tiêu);
- Nhóm các chỉ tiêu hoạt động KH&CN và hợp tác quốc tế về KH&CN (8 chỉ tiêu)
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã trình Lãnh đạo Tổng cục Thống kê Phương án tổng thể điều tra tiềm lực KH&CN trong phạm
vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân Nội dung điều tra chính của phưong án tổng thể là:
- Nhân lực KH&CN: số lượng, chất lượng, ngành nghề, trình độ; quá trình đào tạo, sử dụng; điều kiện làm việc; kết quả nghiên cứu; hiện trạng đời sống
- Tổ chức KH&CN: mạng lưới tổ chức; cơ sở vật chất; tình hình đầu tư, chi phí cho nghiên cứu; tình hình và kết quả hoạt động khoa học của cơ quan,
Trang 25Phương án đã xác định 7 loại hình đối tượng điều tra Đó là: đơn vị sự nghiệp KH&CN; đơn vị sự nghiệp giáo dục; đơn vị sự nghiệp y tế; cơ quan hành chính; tổ chức Đảng, đoàn thể; doanh nghiệp nhà nước; doanh nghiệp ngoài nhà nước; đối tượng khác
Do khó khăn về kinh phí thực hiện nên Phương án tổng thể không có
điều kiện để thực hiện một cách đầy đủ Do đó, nhóm nghiên cứu đã đề xuất trình Lãnh đạo Tổng cục Thống kê cho thực hiện một số phương án chi tiết trong Phương án tổng thể Trong đó quan trọng là “Phương án điều tra tiềm lực KH&CN của các đơn vị KH&CN thuộc bộ, cơ quan ngang bộ” ban hành theo Quyết định số 248-TCTK/QĐ ngày 12/8/1995 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê và “Phương án điều tra tiềm lực KH&CN của các tỉnh, thành phố” ban hành theo Quyết định số 1101/QĐ-KHTC ngày 23/5/1996 của Bộ trưởng Bộ KH&CNMT
Kết quả điều tra đã cho ra các số liệu tương đối hoàn chỉnh về tiềm lực KH&CN thuộc các đơn vị KH&CN chuyên nghiệp, giúp cho việc đánh giá tiềm năng khoa học của đất nước Đồng thời cũng giúp nhận rõ những hạn chế trong hoạt động QLNN về KH&CN, góp phần giúp các cơ quan quản lý của Nhà nước có cơ sở khoa học trong việc hoạch định chính sách phát triển KH&CN trong thời kỳ Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa
Ngoài các cuộc điều tra trong Phương án tổng thể nói trên, giai đoạn này còn có những cuộc điều tra khác, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp liên quan
đến KH&CN Đó là:
Năm 1994, Tổng cục Thống kê tiến hành tổng điều tra kinh tế ở các
đơn vị sản xuất kinh doanh, cơ quan hành chính sự nghiệp, tổ chức xã hội Trong nội dung điều tra, có nội dung về nhân lực KH&CN Tuy nhiên, do khái niệm về các chỉ tiêu chưa cụ thể, dễ gây lẫn lộn (các khái niệm: trình độ cao đẳng đại học; trình độ trên đại học) nên số liệu thu được không phản ánh
đúng thực tế nên không sử dụng được
Cũng trong năm 1994, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức cuộc điều tra về cán bộ KH&CN trong các trường đại học và cao đẳng trên phạm vi toàn quốc Nhưng do thiếu kinh nghiệm và phương pháp luận chưa phù hợp nên số liệu không phản ánh đúng thực tế
Trang 26Năm 1997, Ban Tổ chức Trung ương thực hiện cuộc điều tra về đội ngũ cán bộ chủ chốt Đối tượng là cán bộ từ cấp Vụ, Viện và tương đương trở lên ở Trung ương và tỉnh, thành phố; Chủ tịch và Phó chủ tịch trở lên ở huyện, thị xã Tuy nhiên, đối tượng điều tra khá hẹp và số liệu thu được cũng chỉ để sử dụng nội bộ
Năm 1999, Nhà nước tổ chức cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở Viện Khoa học Thống kê đã phối hợp với Vụ Kế hoạch (Bộ KH&CNMT) và Văn phòng Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số nghiên cứu, cài đặt thêm những thông tin cần thiết về nhân lực KH&CN để có thể bóc tách riêng Theo đó, chỉ tiêu
“cán bộ cao đẳng đại học” trước đây được tách thành 2 chỉ tiêu: “cao đẳng” và
đại học”; còn chỉ tiêu “trên đại học” được tách thành: “thạc sĩ”, “phó tiến sĩ”
và “tiến sĩ” Nhờ đó, các thông tin thu được phản ánh đúng đối tượng hơn, không bị lẫn lộn như trong các cuộc điều tra trước đó Số lượng cán bộ khoa học được tổng hợp theo các tiêu chí: giới tính, tuổi đời, dân tộc, trình độ chuyên môn, nơi công tác, thành phần kinh tế Tuy còn có những hạn chế nhất
định về chất lượng thông tin vì đây là thông tin cài đặt kèm theo cuộc Tổng
điều tra dân số, nhưng dù sao đây cũng là nguồn số liệu quý giá, phục vụ kịp thời cho yêu cầu của các bộ, ngành, địa phương, đặc biệt đó là thời điểm diễn
ra Đại hội Đảng của các tỉnh, thành phố [15]
Một trong các cuộc điều tra chuyên ngành nổi bật trong giai đoạn này
là cuộc điều tra của Dự án “Nghiên cứu và đào tạo sau đại học ở Việt Nam (gọi tắt là Dự án RAPOGE) do Viện Nghiên cứu Chiến lược và chính sách KH&CN (Bộ KH&CN) thực hiện với sự tài trợ của Tổ chức SIDA/SAREC Thuỵ Điển Dự án này được thực hiện trong các năm 1997-1999 với các mục tiêu chính như sau:
- Đánh giá cơ cấu và hình thức tài chính hiện hành cho nghiên cứu và
đào tạo sau đại học;
- Phân tích những điểm mạnh và yếu của hệ thống nghiên cứu và đào tạo sau đại học;
- Đánh giá chất lượng của nghiên cứu và đào tạo sau đại học;
- Đề xuất biện pháp tăng cường hệ thống nghiên cứu và đào tạo sau đại học, góp phần vào việc thực hiện chiến lược KH&CN quốc gia;
Trang 27Dự án đã tổ chức điều tra khảo sát 104 đơn vị có hoạt động nghiên cứu
và đào tạo sau đại học trên phạm vi toàn quốc Nội dung điều tra gồm:
- Thông tin chung về chức năng, nhiệm vụ;
- Nhân lực cho nghiên cứu và đào tạo sau đại học;
- Các loại hoạt động KH&CN và kết quả;
- Hoạt động đào tạo sau đại học và kết quả;
- Tài chính cho nghiên cứu và đào tạo sau đại học;
- Cơ sở vật chất cho nghiên cứu và đào tạo sau đại học;
- Đánh giá chung về hoạt động nghiên cứu và đào tạo sau đại học;
Năm 1996, Bộ KH&CNMT thực hiện Đề án điều tra năng lực công nghệ, dựa theo phương pháp luận của APCTT Theo đó, năng lực công nghệ của các doanh nghiệp được đánh giá ở 4 nội dung là: năng lực vận hành công nghệ; năng lực tiếp thu công nghệ; năng lực hỗ trợ cho tiếp thu công nghệ; và năng lực đổi mới công nghệ Đối tượng diều tra là các doanh nghiệp và các
đơn vị cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp như các viện, trường, trung tâm tư vấn, trung tâm thông tin công nghệ, tiêu chuẩn-đo lường-chất lượng (TC-ĐL-CL) Đề án nói trên tuy không nhằm vào việc thu thập thông tin thống kê KH&CN nhưng cũng góp phần hình thành một số nhận định có ích cho công tác thống kê KH&CN, đặc biệt là việc áp dụng phương pháp luận cùng với các chỉ tiêu thống kê tiên tiến như của OECD
Nhìn chung, giai đoạn 1994-1999 có thể được coi là giai đoạn của những cuộc điều tra thống kê ở các quy mô khác nhau, gián tiếp hoặc trực tiếp liên quan đến hoạt động thống kê KH&CN Điểm nổi bật ở giai đoạn này là hoạt động thống kê KH&CN bắt đầu tiếp cận với phương pháp luận thống kê
Trang 28tiên tiến của các tổ chức quốc tế và các quốc gia khác trên thế giới Đây là tiền
đề hết sức quan trọng để thay đổi tư duy về quản lý khoa học nói chung và thống kê KH&CN nói riêng, đặt những bước đi đầu tiên cho quá trình hội nhập khu vực và quốc tế của KH&CN Việt Nam
d) Giai đoạn từ 2000 đến nay
Sự kiện quan trọng trong giai đoạn này đối với hoạt động thống kê
KH&CN Việt Nam là sự ra đời của Luật Khoa học và công nghệ năm 2000 và tiếp đó là Luật Thống kê năm 2003 Sự ra đời của hai bộ Luật này đã tạo ra
môi trường pháp lý mới, vững chắc cho hoạt động thống kê KH&CN
Luật Khoa học và công nghệ đã điều chỉnh trực tiếp hoạt động thống kê
KH&CN trong Điều 51 như sau:
“Hệ thống tiêu chí thống kê khoa học và công nghệ được quy định thống nhất trong cả nước Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp, tổ chức khoa học và công nghệ, cá nhân hoạt
động khoa học và công nghệ có trách nhiệm báo cáo đầy đủ, trung thực số liệu thống kê khoa học và công nghệ cho cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ có thẩm quyền theo sự phân cấp của Chính phủ”
Ngoài ra, quy định về các loại hình tổ chức khoa học và công nghệ trong các Điều 9, 10 của Luật cũng là cơ sở để xác định các đơn vị thống kê KH&CN [2]
Luật Thống kê năm 2003 tuy không điều chỉnh trực tiếp hoạt động
thống kê KH&CN, nhưng đã tạo một khung pháp lý chung, vững chắc cho hoạt động thống kê của quốc gia và của từng lĩnh vực KT-XH, trong đó có KH&CN Đó là các quy định về bảng phân loại thống kê; quy trình thực hiện
điều tra thống kê; chế độ báo cáo thống kê cơ sở và chế độ báo cáo thống kê tổng hợp; công bố và sử dụng thông tin thống kê; tổ chức hoạt động thống kê, v.v [3]
Để triển khai Luật Khoa học và công nghệ và Luật Thống kê vào cuộc sống, Chính phủ đẫ ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành sau đây:
a) Nghị định số 81/2002/NĐ-CP ngày 17/10/2002 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoa học và công nghệ
Trang 29Trong Nghị định này, Điều 51 về thống kê KH&CN đã rõ nên không có hướng dẫn cụ thể Tuy nhiên, những hướng dẫn chi tiết về tổ chức KH&CN; loại hình, cách thức tiến hành đề tài KH&CN; ứng dụng kết quả KH&CN và các nguồn kinh phí đầu tư cho KH&CN là cơ sở khoa học cho việc xây dựng
và tổ chức hoạt động thống kê KH&CN
b) Nghị định số 40/2004/NĐ-CP ngày 13/02/2004 của Chính phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thống kê
Nghị định này có 26 điều, quy định rất chi tiết các nội dung thiết yếu của công tác thống kê quốc gia và thống kê chuyên ngành, như: tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin thống kê; hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; bảng phân loại thống kê; điều tra thống kê; đối tượng thực hiện, quy trình, nội dung chế độ báo cáo thống kê cơ sở và thống kê tổng hợp; khai thác, sử dụng và công bố thông tin thống kê; tổ chức thống kê của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; hoạt động thống kê đối với cấp xã, phường, thị trấn, doanh nghiệp, cơ quan hành chính sự nghiệp, tổ chức, cá nhân ngoài hệ thống thống kê nhà nước Đây thực sự là chỗ dựa pháp lý và phương pháp luận khoa học vững chắc cho việc triển khai công tác thống kê KH&CN
c) Quyết định số 305/2005/QĐ-TTg ngày 24/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia
Quyết định này quy định 9 nhóm chỉ tiêu quốc gia về KH&CN như sau:
- Số đơn vị KH&CN;
- Số người làm KH&CN, số người có học vị, chức danh;
- Số đề tài khoa học được nghiệm thu, số đề tài đã đưa vào ứng dụng;
- Số phát minh, sáng chế được cấp bằng bảo hộ;
- Số giải thưởng KH&CN quốc gia, quốc tế được trao tặng;
- Chi cho hoạt động KH&CN;
- Chi cho đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp;
- Giá trị mua/bán công ghệ;
- Giá trị mua/bán bằng phát minh, sáng chế
Trang 30Mỗi nhóm chỉ tiêu nói trên bao gồm các nội dung: phân tổ chủ yếu, kỳ công bố, cơ quan chịu trách nhiệm thu thập, tổng hợp Đây là cơ sở để xây dựng và triển khai hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành KH&CN
d) Nghị định số 30/2006/NĐ-CP ngày 29/3/2006 của Chính phủ về thống kê khoa học và công nghệ
Có thể nói, đây là văn bản quy phạm pháp luật cấp Chính phủ đầu tiên
và trực tiếp về thống kê KH&CN Nghị định này ra đời nhằm triển khai các quy định về hoạt động thống kê chuyên ngành của Luật Thống kê Nghị định gồm 5 chương với 29 điều, trong đó xác lập và cụ thể hóa một số vấn đề cốt lõi của hoạt động thống kê KH&CN Đó là: hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN cơ bản; hệ thống bảng phân loại thống kê KH&CN; chế độ báo cáo thống kê; điều tra thống kê; mạng lưới thu thập, xử lý thông tin thống kê KH&CN; các biện pháp đảm bảo phát triển công tác thống kê KH&CN Điểm mới đặc biệt trong Nghị định này là cơ sở pháp lý và cơ sở phương pháp luận
được tiếp cận trên quan điểm hướng hoạt động thống kê KH&CN Việt Nam hội nhập với hoạt động thống kê KH&CN khu vực và quốc tế
Hoạt động thống kê KH&CN giai đoạn này chủ yếu cũng vẫn là chế độ báo cáo thống kê của các bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo định kỳ hàng năm
Trong năm 2000, Bộ KH&CNMT đã giao cho Trung tâm TTKHCNQG tiến hành điều tra thử nghiệm hoạt động NC-PT quốc gia, tập trung vào việc
đầu tư cho NC-PT của các doanh nghiệp Mục đích chính không phải là nhằm thu thập số liệu thống kê mà là nhằm kiểm nghiệm tính khả thi của việc thu thập số liệu thống kê về NC-PT của doanh nghiệp Kết quả cho thấy, việc thu thập số liệu thống kê về NC-PT của doanh nghiệp Việt Nam là khả thi và rất
có triển vọng
Một sự kiện nổi bật trong giai đoạn từ năm 2000 trở lại đây là sự ra đời của ấn phẩm “Sách Khoa học và công nghệ Việt Nam” do Bộ Khoa học và công nghệ giao cho Trung tâm Thông tin KH&CNQG biên soạn và xuất bản Mục đích xuất bản cuốn sách này là nhằm cung cấp một bức tranh toàn cảnh
về hoạt động KH&CN nước ta hàng năm và từng giai đoạn kế hoạch 5 năm
Cho đến thời điểm này, các Sách KH&CN Việt Nam sau đây đã được xuất bản:
Trang 31- Sách KH&CN Việt Nam 1996-2000;
- Sách KH&CN Việt Nam 2001;
- Sách KH&CN Việt Nam 2002;
- Sách KH&CN Việt Nam 2003
- Sách KH&CN Việt Nam 2004;
- Sách KH&CN Việt Nam 2001-2005
Sách KH&CN Việt Nam gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
- Quản lý nhà nước về KH&CN: tổng quan chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước đối với KH&CN; kết quả hoạt động quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực hoạt động KH&CN;
- Tổ chức KH&CN: giới thiệu loại hình, biến động về cơ cấu, tổ chức, chức năng nhiệm vụ của các tổ chức KH&CN (tổ chức NCPT; trường đại học, học viện, cao đẳng; tổ chức dịch vụ KH&CN; khu công nghệ cao và công viên phần mềm);
- Nguồn lực KH&CN: tổng quan về nhân lực KH&CN; các nguồn kinh phí đầu tư cho KH&CN; cơ sở vật chất của các tổ chức KH&CN; thông tin KH&CN; hợp tác quốc tế về KH&CN;
- Nhiệm vụ KH&CN: giới thiệu các nhiệm vụ KH&CN trọng điểm cấp nhà nước; nhiệm vụ KH&CN do các bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện
- Kết quả hoạt động KH&CN: giới thiệu kết quả nghiên cứu và ứng dụng KH&CN phục vụ phát triển ngành, lĩnh vực, phát triển KT-XH địa phương; tổng quan về phong trào sáng kiến, cải tiến kỹ thuật của quần chúng; công bố KH&CN; tiêu chuẩn Việt Nam; đăng ký bảo hộ SHTT của người Việt Nam; các giải thưởng KH&CN [19]
Như vậy, nhìn tổng thể, có thể coi Sách KH&CN Việt Nam là công bố chính thức của Bộ KH&CN về những số liệu thống kê KH&CN chủ yếu Tuy nhiên, do hoạt động thống kê KH&CN chưa được triển khai có hệ thống và bài bản, các số liệu tổng hợp được qua các báo cáo thống kê định kỳ hoặc chưa đầy đủ, hoặc chưa đủ độ tin cậy, nên số liệu thống kê trong Sách KH&CN Việt Nam cũng chỉ có thể mang tính tham khảo
Trang 32Trong thời gian này, một số bộ, ngành cũng đã triển khai thực hiện Nghị định số 30/2006/NĐ-CP thuộc lĩnh vực mình phụ trách qua việc xây dựng và ban hành các hệ thống chỉ tiêu, như: Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành
Y tế
Tóm lại, có thể coi giai đoạn từ 2000 đến nay là giai đoạn tạo lập và hoàn thiện một bước quan trọng về cơ sở pháp lý và cơ sở phương pháp luận của hoạt động thống kê KH&CN theo hướng hội nhập KH&CN với khu vực
- Về cơ sở lý thuyết: đã tổ chức nghiên cứu một số nội dung cơ bản về thống kê KH&CN Kết quả nghiên cứu đã bước đầu được áp dụng vào thực tế trong việc tổ chức chế độ báo cáo thống kê, tổ chức các cuộc điều tra thống kê
về KH&CN
- Về cơ sở thực tiễn: bên cạnh việc thu thập, xử lý, tổng hợp số liệu thống kê về KH&CN qua các báo cáo thống kê định kỳ, đã tiến hành nhiều cuộc điều tra Trong quá trình điều tra đã tổng hợp và đúc kết được nhiều kinh nghiệm quý giá, tạo lập cơ sở về lý luận và thực tiễn cho thống kê KH&CN
Đồng thời, còn cung cấp được một số thông tin quan trọng phục vụ thiết thực cho công tác quản lý nhà nước về KH&CN
Tuy vậy, những kinh nghiệm và những thông tin nói trên mới chỉ giới hạn ở mức độ thử nghiệm Quy trình tổ chức chế độ báo cáo, điều tra, xử lý, tổng hợp thông tin thống kê KH&CN còn rời rạc, thiếu thống nhất và đồng bộ Nguyên nhân chủ yếu là chưa hình thành được mạng lưới tổ chức thống kê KH&CN trên phạm vi toàn quốc Mục đích của thống kê KH&CN đặt ra chủ
Trang 33yếu phục vụ cho công tác đánh giá kết quả công tác theo kế hoạch của ngành KH&CN Vì thế, vẫn chưa có được các số liệu thống kê để có thể dựa vào đó
đánh giá hiệu quả và tác động của KH&CN đối với sự phát triển KT-XH của
đất nước và để có thể so sánh quốc tế
1.2 Nhu cầu thông tin thống kê KH&CN thời kỳ CNH-HĐH đất nước
a) Phát triển KT-XH và nhu cầu thông tin thống kê KH&CN
Vai trò to lớn của KH&CN đối với sự phát triển KT-XH của mỗi quốc gia là điều không ai có thể phủ nhận Đối với các ngành kinh tế khác, hiệu quả
và tác động đối với xã hội có thể đo đếm được bằng khối lượng sản phẩm, doanh thu, v.v KH&CN có bản chất của một loại “hàng hóa vô hình”, giá trị thật to lớn nhưng không thể hiện tức thời và không thể “cân đong đo đếm”
được Lao động khoa học về bản chất là lao động trí óc, sản phẩm tạo ra là chất xám và không thể đem “tiêu thụ” ngay trong xã hội như các loại hàng hóa vật chất khác, nó chỉ có thể được sử dụng để làm gia tăng giá trị của hàng hóa tiêu thụ trong xã hội Có thể nói, sản phẩm của lao động khoa học góp phần quan trọng làm tăng giá trị sử dụng của mọi loại hàng hóa Mặt khác, KH&CN về bản chất còn là một loại “hàng hóa công cộng”, bởi các tiến bộ KH&CN nếu được phổ biến và áp dụng rộng rãi thường mang lại lợi ích xã hội lớn hơn rất nhiều lợi ích của cá nhân hay tập thể làm ra tiến bộ KH&CN
Do đó, đánh giá hiệu quả hoạt động KH&CN là một việc làm rất khó khăn, liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều đối tượng và nhiều tiêu chí Tuy nhiên, không phải vì thế mà KH&CN nằm ngoài sự kiểm soát, đánh giá của các cơ quan quản lý và của xã hội Bởi lẽ, với tư cách là bộ phận hợp thành của các hoạt động KT-XH khác, nhiều nội dung của hoạt động KH&CN cần phải
được lượng hóa bằng các chỉ tiêu thống kê để phục vụ cho mục tiêu phát triển KT-XH của quốc gia Các chỉ tiêu này được đưa vào hệ thống chỉ tiêu thống
kê quốc gia, phục vụ các cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cấp trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng
kế hoạch phát triển KT-XH từng thời kỳ và kiểm tra thực hiện Những thông tin thống kê cơ bản phục vụ cho phát triển KT-XH thời kỳ hội nhập là:
- Thông tin thống kê về nguồn nhân lực KH&CN: nhân lực KH&CN là
bộ phận hết sức quan trọng của nguồn nhân lực lao động xã hội; là lực lượng chủ chốt thực hiện những nội dung cơ bản của hoạt động KH&CN, trong đó
Trang 34nổi bật là hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Thông tin thống kê về nguồn nhân lực KH&CN là cơ sở để hoạch định chính sách đào tạo, phân bổ và sử dụng nhân lực KH&CN nhằm phát huy tối đa hiệu quả lao
động của họ;
- Thông tin thống kê về các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển
công nghệ: nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (sau đây gọi là
nghiên cứu phát triển, viết tắt là NC-PT) là một trong những nội dung chủ chốt của hoạt động KH&CN, nơi tạo ra các sản phẩm khoa học - “ nguyên liệu xám” của các ngành kinh tế khác Các nhiệm vụ NC-PT được thống kê ở
3 dạng: đang thực hiện, đã kết thúc và nghiệm thu, được ứng dụng vào thực tiễn Thông tin thống kê về các dạng nói trên của nhiệm vụ NC-PT một mặt giúp các nhà quản lý định hướng và xây dựng kế hoạch đầu tư cho hoạt động NC-PT, mặt khác giúp xã hội nắm bắt những thông tin về tiến bộ KH&CN, kịp thời ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống;
- Thông tin thống kê về SHTT: là những thông tin về số lượng sáng chế
được cấp văn bằng bảo hộ hàng năm hoặc từng thời kỳ thống kê Đây là thước
đo kết quả và một phần hiệu quả của hoạt động NC-PT, là cơ sở đánh giá tác
động của KH&CN đối với phát triển KT-XH;
- Thông tin thống kê về đầu tư cho KH&CN: là số liệu thống kê về các
khoản chi của Nhà nước, doanh nghiệp cho hoạt động KH&CN Những thông tin thống kê này giúp các nhà quản lý có cơ sở để phân bổ tối ưu các nguồn lực nhằm đạt được hiệu quả KT-XH nói chung và kết quả KH&CN nói riêng một cách khả quan nhất Đồng thời, cũng là thông tin để xã hội có cơ sở kiểm
định, đánh giá hiệu quả đầu tư cho KH&CN;
- Thông tin thống kê về giá trị mua, bán công nghệ và giá trị mua bán
bằng phát minh, sáng chế: thông tin về số lượng kinh phí thực hiện trong việc
mua, bán công nghệ và mua bán bằng phát minh, sáng chế gián tiếp phản ánh tốc độ và trình độ phát triển KT-XH của quốc gia Số lượng và tần suất mua bán công nghệ, mua bán phát minh, sáng chế thường tỷ lệ thuận với trình độ phát triển KH&CN và tốc độ phát triển KT-XH của quốc gia Vì vậy, thông tin thống kê này có thể giúp các nhà lãnh đạo của quốc gia có cái nhìn khách quan và chính xác về hiện trạng phát triển KT-XH của đất nước nói chung và trình độ KH&CN nói riêng
Trang 35b) Chính sách KH&CN và nhu cầu thông tin thống kê KH&CN
Như đã trình bày ở trên, xuất phát từ đặc điểm là tiến bộ KH&CN nếu
được phổ biến rộng rãi thì lợi ích xã hội cao hơn rất nhiều so với lợi ích của tập thể, cá nhân làm ra tiến bộ đó Do đó, cần có sự can thiệp của Nhà nước về chính sách để có thể phát huy được hết những giá trị xã hội to lớn của KH&CN Tuy nhiên, tuỳ vào nhận thức và quan điểm của mỗi quốc gia và cũng tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của KH&CN mà chính sách đối với KH&CN có những nội dung khác nhau
ở Việt Nam, chính sách KH&CN đã trải qua nhiều thăng trầm tuỳ theo cách nhìn nhận về vai trò của KH&CN đối với xã hội Chính sách KH&CN từ chỗ được coi là một thực thể độc lập, dần dần được coi là một bộ phận của chính sách tổng thể về tăng trưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh Quan hệ giữa KH&CN với kinh tế, từ chỗ được coi là quan hệ tuyến tính, trong đó KH&CN
đi trước dẫn đường, dần được hiểu là mối quan hệ qua lại Mô hình “khoa học
đẩy” đã được thay thế bằng mô hình “thị trường kéo” Nhưng cho dù cách nhìn nhận về vai trò của KH&CN đối với xã hội có khác nhau trong từng thời
điểm, thì mục tiêu nhất quán của chính sách KH&CN là phát huy tối đa hiệu quả của KH&CN đối với phát triển KT-XH Nhà nước sử dụng các công cụ của chính sách để điều tiết các nội dung chủ yếu của hoạt động KH&CN, sao cho mang lại hiệu quả xã hội cao nhất Để làm được như vậy, bên cạnh yếu tố sáng suốt và nhạy cảm của các nhà lãnh đạo thì những thông tin phản hồi từ thực tiễn là hết sức quan trọng Những thông tin này là cơ sở để các quyết
định được đưa ra có căn cứ khoa học, hợp pháp và hợp lý Trong lĩnh vực quản
lý nhà nước về KH&CN, một bộ phận quan trọng của thông tin phản hồi từ phía khách thể quản lý chính là các số liệu thống kê Tuy nhiên, đây phải là các số liệu có hệ thống, được thu thập, xử lý bằng phương pháp luận đúng
đắn, đảm bảo tính khách quan, trung thực Chỉ có những số liệu thống kê như vậy mới góp phần tạo lập cơ sở khoa học cho việc ra các quyết định đúng đắn trong hoạch định chiến lược, chính sách về KH&CN, để KH&CN thực sự là quốc sách hàng đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
c) Hội nhập KH&CN và nhu cầu thông tin thống kê KH&CN
KH&CN Việt Nam là một bộ phận cấu thành của hệ thống KT-XH Việt Nam, đồng thời vận động và phát triển trong sự tác động mạnh mẽ của những xu thế lớn trên thế giới và khu vực, đặc biệt là trong bối cảnh của hội
Trang 36nhập và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới - nền kinh tế tri thức Toàn cầu hoá
và hội nhập là quá trình vận động mang tính hệ thống và khách quan trên phạm vi toàn cầu, bao trùm tất cả các mặt đời sống KT-XH của các quốc gia trên toàn thế giới Hiện tại, Việt Nam đã là thành viên chính thức của WTO,
điều này đánh dấu một bước phát triển cao hơn trong quá trình hội nhập - đây
là kết quả tất yếu khi mà quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên mọi mặt, tác động tới toàn bộ sự phát triển của mỗi quốc gia
Hội nhập KH&CN với khu vực và thế giới không chỉ đơn thuần là sự tham gia một cách hình thức của KH&CN Việt Nam vào hoạt động của cộng
đồng khoa học khu vực và quốc tế, mà phải là sự hoà nhập thực sự theo các yêu cầu của khu vực và quốc tế Một trong những yêu cầu đó là sự thống nhất
về các tiêu chí cơ bản nhận dạng nền KH&CN của mỗi quốc gia, thể hiện bằng các chỉ tiêu thống kê KH&CN Đó là:
- Các chỉ tiêu phản ánh đầu vào của KH&CN quốc gia, bao gồm: số
lượng nhân lực thực hiện KH&CN và đầu tư cho KH&CN Đây là các chỉ tiêu cơ bản nhất thể hiện nỗ lực của mỗi quốc gia đối với sự phát triển của KH&CN
- Các chỉ tiêu phản ánh đầu ra của KH&CN, bao gồm: số lượng đề tài
hoàn thành và được ứng dụng vào sản xuất; số lượng bằng bảo hộ sáng chế
được cấp; số lượng các giải thưởng KH&CN quốc gia và quốc tế; số lượng các công bố KH&CN; giá trị bằng tiền của đổi mới công nghệ ; giá trị bằng tiền của việc mua, bán công nghệ và mua bán bằng phát minh, sáng chế
Những số liệu thống kê KH&CN nói trên không chỉ cần thiết cho mỗi quốc gia trong việc so sánh trình độ KH&CN với các quốc gia khác, mà còn góp phần tạo nên diện mạo tổng thể của một nền KH&CN khu vực nói riêng
và thế giới nói chung Đồng thời, còn là động lực thúc đẩy sự tiến bộ của nền KH&CN của mỗi quốc gia trong quá trình hội nhập
d) Quyền của công dân và nhu cầu thông tin thống kê KH&CN
Quyền của công dân được thông tin về các vấn đề KT-XH của đất nước
được ghi trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đã từ lâu, Đảng ta đã đề ra khẩu hiệu: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và chủ trương này không là ngoại lệ đối với hoạt động thống kê nói chung và thống kê KH&CN nói riêng Chủ trương nói trên của Đảng khó có thể thực hiện được nếu không có những thông tin thống kê để lượng hóa những điều
Trang 37công dân cần biết, cần bàn và phục vụ việc kiểm tra, giám sát của công dân
đối với các nội dung liên quan đến hoạt động QLNN về KH&CN Đó là những thông tin thống kê về đầu tư của Nhà nước cho KH&CN và hiệu quả do
sự đầu tư đó mang lại, thông tin thống kê về tiến bộ KH&CN, về trình độ của KH&CN nước nhà so với các quốc gia khác,v.v Mặt khác, thông tin thống
kê KH&CN còn trợ giúp đắc lực cho việc “dân làm”, tức là việc công dân sử dụng thông tin này vào hoạt động nghề nghiệp của họ và đó cũng là vai trò gián tiếp của thống kê KH&CN phục vụ phát triển KT-XH của đất nước
1.3 Hoạt động thống kê KH&CN của một số tổ chức và quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam
Do hoạt động thống kê KH&CN Việt Nam chưa được tổ chức có bài bản và hệ thống, đặc biệt là chưa hình thành mạng lưới về tổ chức thực hiện thống kê KH&CN nên việc trao đổi, học tập kinh nghiệm nước ngoài về thống
kê KH&CN thường chỉ mang tính ngẫu hứng, bột phát Chưa có ai trong nhóm nghiên cứu đề tài này được có dịp ra nước ngoài khảo sát về hoạt động thống
kê KH&CN Vì vậy, những thông tin trình bày trong mục 1.3 này chủ yếu là thu thập, tổng hợp từ các tài liệu tham khảo và qua mạng Internet
1.3.1 Hoạt động thống kê của một số tổ chức quốc tế
a) Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO)
UNESCO đã tiến hành hoạt động thống kê KH&CN từ khá lâu Năm
1965, Ban Thống kê của UNESCO đã tổ chức thu thập một cách có hệ thống các chỉ tiêu thống kê KH&CN, đặc biệt là hoạt động NC-PT Từ năm 1970, UNESCO đã xây dựng cơ sở dữ liệu về nhân lực KH&CN và về NC-PT Từ năm 1999 đến nay, UNESCO xuất bản thường niên tài liệu: “Niên giám thống
kê UNESCO” (UNESCO Statictical Yearbook) Về tổ chức, năm 1999, UNESCO đã thành lập Viện Thống kê UNESCO (UIS) Nhóm nghiên cứu của UIS đã kiến nghị những chiến lược phát triển ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho công tác thống kê của UNESCO [26]
Phương pháp luận thống kê KH&CN của UNESCO được phát triển và hoàn thiện liên tục với sự hỗ trợ của các chuyên gia từ nhiều quốc gia khác nhau, nhằm đạt được sự tương hợp quốc tế cao nhất Theo sáng kiến của UNESCO, một Uỷ ban đặc biệt gồm các chuyên viên cấp chính phủ được
Trang 38thành lập tại Paris (Pháp) năm 1978 để soạn thảo “Khuyến nghị về tiêu chuẩn hóa quốc tế các thống kê KH&CN” Khuyến nghị này sau đó được Đại hội
đồng thông qua trong một phiên họp của UNESCO ngày 27/11/1978 Khuyến nghị của UNESCO đề cập tới phạm vi, khái niệm về hoạt động KH&CN và khuyến nghị các nước thanh viên về các giai đoạn cần tiến hành thu thập thống kê KH&CN Tuy có nội dung bao quát toàn bộ hoạt động KH&CN, nhưng Khuyến nghị tập trung chủ yếu vào thống kê đầu vào cho NC-PT Với nhận thức rằng các nước thành viên của UNESCO đang ở các giai đoạn và trình độ phát triển khác nhau, UNESCO khuyến nghị các nước thành viên nên tiến hành thu thập số liệu thống kê KH&CN theo hai giai đoạn Giai đoạn một với thời gian tối thiểu 5 năm, tập trung vào các số liệu thống kê cơ bản nhất
được coi là không thể thiếu trong so sánh quốc tế (số liệu tổng hợp đầu vào cho KH&CN) Giai đoạn hai thực hiện ngay sau giai đoạn một, tập trung vào thu thập số liệu thống kê đầy đủ và chi tiết hơn của đầu vào cho KH&CN, với
điều kiện đã có đầy đủ kinh nghiệm tiến hành hoạt động thống kê KH&CN ở giai đoạn một Thống kê đầu ra của KH&CN cũng như các nội dung liên quan khác được khuyến nghị thực hiện trong tương lai xa
Trong quá trình xây dựng phương pháp luận thống kê, UNESCO đã tham khảo phương pháp luận của nhiều tổ chức quốc tế Trong đó, tiêu biểu là
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), Hội đồng các nước Bắc Âu về Nghiên cứu ứng dụng (NORDFORSK), Cộng đồng Châu Âu, Viện Thống kê liên Mỹ, Hội đồng Tương trợ kinh tế (SEV) Phương pháp luận của UNESCO giai đoạn này về cơ bản nhất quán với phương pháp luận của các tổ chức nói trên và có tính tới những đặc thù của nền kinh tế các nước XHCN Phương pháp luận và các chỉ tiêu thống kê KH&CN của UNESCO đã được đông đảo các nước và các tổ chức quốc tế, khu vực khác tham khảo và sử dụng [26]
b) Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD)
OECD là tổ chức quốc tế thực hiện nhiều hoạt động thống kê liên quan
đến KH&CN Từ nhiều năm nay, OECD đã xuất bản các báo cáo thống kê KH&CN, như: “Basic Science and Technology Indicator”, “Main Science and Technology Indicator”, “Science and Technology Policy Review and Outlook”, “Science, Technology and Industry Scoreboard”
Một trong những đóng góp quan trọng của OECD cho thống kê KH&CN là việc xây dựng và phổ biến phương pháp luận về thống kê
Trang 39KH&CN Văn bản đầu tiên được OECD soạn thảo thể hiện nỗ lực trong việc tiêu chuẩn hóa thống kê KH&CN, là: “Đề xuất thực hành tiêu chuẩn cho điều tra nghiên cứu và triển khai”, được chuyên gia các nước thành viên thảo luận, chỉnh sửa và chấp thuận tại Hội nghị của OECD tổ chức vào tháng 6 năm
1963 ở Frascati (Italia) Tài liệu này sau đó thường được gọi là “Cẩm nang Frascati” và vẫn giữ nguyên tên gọi này cho dù sau đó có vài lần được chỉnh sửa, bổ sung về nội dung Cùng với “Cẩm nang Frascati”, OECD còn xuất bản
“Niên giám thống kê quốc tế về NC-PT” mà nội dung là các số liệu thống kê
về hoạt động NC-PT của các nước thành viên OECD được thu thập trong năm
1963 và 1964 Có thể nói, đây là cuộc điều tra thống kê quốc tế đầu tiên về NC-PT
Trên cơ sở những kinh nghiệm thu được trong quá trình áp dụng “Cẩm nang Frascati”, OECD đã tiến hành chỉnh sửa tài liệu này theo hướng đảm bảo
sự tương thích tối đa với các tiêu chuẩn hiện hành của Liên hợp quốc, như:
”Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA)”, “Tiêu chuẩn quốc tế về phân loại công nghiệp (ISIC)” Kết quả của sự cố gắng này là bản sửa đổi lần thứ hai cuốn
“Cẩm nang Frascati” Tiếp theo đó, lần sửa đổi thứ ba và thứ tư của “Cẩm nang Frascati” được thực hiện lần lượt vào các năm 1974 và 1980 Lần sửa thứ
ba chủ yếu tập trung vào việc mở rộng phạm vi điều tra thống kê sang lĩnh vực KHXHNV và nhấn mạnh tới việc phân loại theo chức năng (đặc biệt là phân loại theo mục tiêu) của hoạt động NC-PT Lần sửa thứ tư chủ yếu tập trung vào việc hoàn thiện cách thức trình bày kết quả
Năm 1993, OECD tiến hành sửa đổi lần thứ năm và cũng là lần sửa đổi gần đây nhất “Cẩm nang Frascati” Lần sửa đổi này xuất phát từ những yêu cầu mới nảy sinh đối với thống kê KH&CN, đặc biệt là những yêu cầu nảy sinh từ việc thay đổi chính sách ưu tiên Một số nội dung được bổ sung như:
sự phát triển của hệ thống KH&CN, vấn đề NC-PT trong lĩnh vực môi trường, phân tích dữ liệu NC-PT trong mối tương quan với các dữ liệu về kinh tế và công nghiệp, v.v Ngoài ra, còn bổ sung hàng loạt các nội dung liên quan đến khu vực đại học Điều đáng ghi nhận là trong lần sửa đổi này, có sự tham gia với tư cách quan sát viên của một số quốc gia ngoài OECD như: Tiệp Khắc (cũ), Hungary, Ba Lan, Liên xô (cũ), Indonesia và đại diện của UNESCO
Công tác thống kê R&D hiện nay là kết quả sự phát triển có hệ thống của các cuộc điều tra dựa theo hướng dẫn của “Cẩm nang Frascati” và là một
Trang 40bộ phận của hệ thống thống kê tại các nước thành viên OECD Mặc dù “Cẩm nang Frascati” đơn thuần là một cuốn sách kỹ thuật, nhưng nó đóng vai trò rất quan trọng trong các nỗ lực của OECD nhằm tăng cường sự hiểu biết về vai trò của khoa học và công nghệ (S&T), thông qua việc phân tích các hệ thống
đổi mới quốc gia Ngoài ra, nhờ việc cung cấp các định nghĩa được quốc tế thừa nhận về R&D và hệ thống phân loại các hoạt động nằm trong đó, tài liệu này đã góp phần vào các cuộc thảo luận liên Chính phủ về những "thực tiễn tốt nhất" trong lĩnh vực chính sách S&T
“Cẩm nang Frascati” không chỉ đề xuất thực tiễn tiêu chuẩn để tiến hành các cuộc điều tra hoạt động R&D ở các nước thành viên OECD Nhờ các sáng kiến của OECD, UNESCO, EU và các tổ chức khác nhau, nó đã trở thành tiêu chuẩn chung của toàn thế giới
“Cẩm nang Frascati” được xây dựng và liên tục chỉnh lý dựa trên kinh nghiệm từ việc thu thập các số liệu thống kê R&D tại các nước thành viên OECD Nó là thành quả tập thể của các chuyên gia ở NESTI (Nhóm chuyên gia về các chỉ tiêu S&T) Được sự hỗ trợ của Ban thư ký OECD, 40 năm qua, NESTI đã nghiên cứu khái niệm các chỉ tiêu S&T và soạn thảo một loạt các cuốn sách hướng dẫn về phương pháp luận, bao gồm: Frascati Manual (Sách hướng dẫn về thực tiễn tiêu chuẩn để thực hiện điều tra thống kê R&D), Oslo Manual (Sách hướng dẫn điều tra hoạt động đổi mới), Canberra Manual (Sách hướng dẫn điều tra nguồn nhân lực, cán cân thanh toán công nghệ và bằng sáng chế, với vai trò là các chỉ tiêu S&T)
Trong những năm qua, các tài liệu như: “Báo cáo về các chỉ tiêu S&T của OECD” (OECD, 1984; OECD, 1986; OECD, 1989), "Tổng quan và xem xét chính sách S&T"… đều cung cấp các con số lượng hoá hữu ích về quy mô
và phương hướng R&D ở các quốc gia, các ngành, các lĩnh vực và các loại hình phân loại khác nhau Đối với các nhà quản lý, do thường phải quan tâm
đến vấn đề tăng trưởng kinh tế và năng suất, vì vậy họ đã dựa vào dữ liệu thống kê R&D để xây dựng các chỉ tiêu phản ánh sự thay đổi công nghệ Các nhà tư vấn ngoài việc quan tâm đến chính sách khoa học còn quan tâm đến chính sách công nghiệp, thậm chí cả các chính sách KT-XH nói chung, đã sử dụng rất nhiều loại dữ liệu này Các thống kê R&D do OECD khởi xưóng hiện
đang là một bộ phận cơ bản hết sức quan trọng trong nhiều chương trình của Chính phủ và là một công cụ đắc lực để đánh giá chúng ở nhiều quốc gia,