1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát hành trái phiếu Chính phủ cho đầu tư phát triển - Kho bạc Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn 2004 - 2008.DOC

88 981 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Hành Trái Phiếu Chính Phủ Cho Đầu Tư Phát Triển - Kho Bạc Nhà Nước Việt Nam Trong Giai Đoạn 2004 - 2008
Tác giả Lý Thị Ngọc Huyền
Người hướng dẫn Ts. Phạm Văn Hùng
Trường học Kho bạc Nhà nước Việt Nam
Thể loại chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 689 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát hành trái phiếu Chính phủ cho đầu tư phát triển - Kho bạc Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn 2004 - 2008

Trang 1

BẢNG LIỆT KÊ CÁC CHỮ VIẾT TẮT.

HASTC Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

hjjk HANOI STOCK TRADING CENTER

LỜI MỞ ĐẦU.

Trang 2

1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu.

Trong những năm gần đây, để thực hiện chủ trương khai thác tối đa cácnguồn vốn trong nền kinh tế cho đầu tư phát triển, Chính phủ đã rất chú trọng

đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, trong đó có việc phát hành để thựchiện các dự án, chương trình trọng điểm của quốc gia, tạo đà tăng trưởng kinh

tế cả nước

Việc huy động vốn thông qua phát hành TPCP cho các dự án, chươngtrình trọng điểm của quốc gia, từ năm 2004 trở lại đây đã mang lại những ýnghĩa thiết thực, khẳng định hướng đi đúng đắn trong chiến lược tạo vốn phục

vụ phát KTXH

Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, để tiếp tục bổ sung vàhoàn thiện các công cụ quản lý nhà nước về tài chính, tạo điều kiện phát triểnthị trường vốn, thị trường chứng khoán, bảo đảm đủ nguồn lực tài chính cầnthiết phục vụ nhu cầu và mục tiêu phát triển KTXH của các địa phương vànhu cầu vốn thực hiện các dự án kinh tế trọng điểm, các chương trình mụctiêu của Chính phủ trong giai đoạn sắp tới, đòi hỏi công tác huy động vốndưới hình thức phát hành TPCP cho các công trình, dự án trọng điểm phải tiếptục cải tiến và hoàn thiện

Xuất phát từ tình hình trên, học viên đã lựa chọn đề tài: " Phát hành trái phiếu Chính phủ cho đầu tư phát triển - Kho bạc Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn 2004 - 2008" để làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.

2 Mục đích nghiên cứu.

Chuyên đề nghiên cứu tổng thể về hoạt động huy động vốn bằng việcphát hành TPCP: khái niệm, đặc điểm, trình tự, thủ tục, công tác quản lý, cơchế phát hành, hình thức phát hành,… từ đó làm sáng tỏ được sự cần thiếtkhách quan của việc huy động vốn cho đầu tư phát triển

Trang 3

Phân tích, đánh giá thực trạng huy động vốn bằng TPCP ở Việt Nam giaiđoạn 2004 – 2008 để từ đó tìm ra những mặt được, những hạn chế và nguyênnhân của hạn chế đó.

Trên cơ sở lý luận chung và thực trạng huy động vốn cho ĐTPT bằngcách phát hành TPCP ở Việt Nam, chuyên đề đã đề xuất một số giải phápnhằm tăng cường huy động vốn cho ĐTPT bằng cách phát hành TPCP ở ViệtNam trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề tập trung vào hoạt động phát hànhTPCP cho ĐTPT tại Việt Nam, đặc biệt là trái phiếu giao thông – thuỷ lợi vàcông trái giáo dục Chuyên đề dựa vào thực trạng phát hành TPCP trong giaiđoạn 2004 – 2008 để phân tích, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp phù hợp đểtăng cường khả năng huy động vốn trong thời gian tới

Phạm vi nghiên cứu chủ yếu là lĩnh vực huy động vốn trong nước choĐTPT thông qua phát hành TPCP tại KBNN ở Việt Nam giai đoạn 2004 –2008

4 Phương pháp nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thực hiện đề tài là phươngpháp duy vật biện chứng, hệ thống hoá,… theo quan điểm của chủ nghĩa Mác– Lê nin Kết hợp với các phương pháp nghiên cứu truyền thống như: thu thậpthông tin, phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp,…để nghiên cứu

5 Kết cấu chuyên đề.

Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề chia thành 3 chương:

Chương 1 - Lý luận chung về việc phát hành trái phiếu Chính phủ cho đầu tư

phát triển

Trang 4

Chương 2 - Thực trạng phát hành trái phiếu Chính phủ cho đầu tư phát triển

tại Kho bạc Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn 2004 – 2008

Chương 3 – Giải pháp hoàn thiện công tác phát hành trái phiếu Chính phủ cho

đầu tư phát triển ở nước ta trong những năm tới

Do nhiều hạn chế về thời gian, kiến thức và nguồn tài liệu nên chuyên đềkhông tránh khỏi những hạn chế và thiết sót Vì vậy, em rất mong nhận được

sự đóng góp ý kiến từ thầy cô giáo và bạn bè để chuyên đề thực tập đượchoàn chỉnh hơn

Cuối cùng, em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo khoaKinh Tế Đầu Tư – trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội đã truyền đạtnhững kiến thức chuyên ngành bổ ích; cảm ơn thầy giáo: TS Phạm Văn Hùng– người đã trực tiếp hướng dẫn em trong quá trình nghiên cứu chuyên đề; cảm

ơn các bác, cô chú, anh chị công tác tại Kho bạc Nhà nước Việt Nam đã tạođiều kiện và nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình tìm kiếm thông tin và tàiliệu để em có thể hoàn thành chuyên đề thực tập này

Sinh viên

Lý Thị Ngọc Huyền

Chương 1 - LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU

CHÍNH PHỦ CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN.

Trang 5

1.1 - Giới thiệu chung về trái phiếu chính phủ.

1.1.1 Khái niệm trái phiếu Chính phủ.

Trái phiếu là một loại tài sản tài chính phản ảnh nghĩa vụ của nhà pháthành đối với người nắm giữ trái phiếu Nhà phát hành (người vay tiền) phảicam kết trả cho người nắm giữ trái phiếu (người cho vay) tương ứng số tiền

đã vay và tiền lãi trong một thời hạn nhất định Như vậy xét về bản chất, tráiphiếu là một hình thức đặc biệt của tín dụng Nó phản ảnh quan hệ vay mượn,

sử dụng vốn lẫn nhau trên nguyên tắc hoàn trả Bản thân chứng chỉ trái phiếuhoặc các sổ sách ghi chép trái phiếu thể hiện mối quan hệ vay mượn giữa haichủ thể Dù phát hành dưới hình thức nào thì trái phiếu cũng có các điềukhoản phản ánh quan hệ vay nợ như: số tiền gốc, kỳ hạn, lãi suất, cách thứctrả lãi – gốc, các điều khoản có liên quan như quyền mua lại, quyền chọn bán,thế chấp,…

Trái phiếu của Chính phủ là một loại công cụ nợ đặc biệt mà người pháthành là Chính phủ hoặc các cơ quan, tổ chức được Chính phủ chỉ định pháthành và Chính phủ đứng ra bảo đảm thanh toán trong trường hợp thanh toántrong trường hợp tổ chức phát hành không bố trí đủ nguồn để trả nợ khi đếnhạn TPCP được sử dụng để bù đắp bội chi NSNN hoặc để đầu tư xây dựngcác công trình, dự án mang tính cộng đồng hoặc để thực hiện các dự án trọngđiểm quốc gia, các chương trình, mục tiêu của Chính phủ Nguồn vốn thanhtoán TPCP được bố trí từ NSNN hoặc nguồn thu do công trình mang lại

Có thể định nghĩa TPCP là một loại giấy tờ có giá, được quy định tạiQuyết định số 141/2003/QĐ-BTC ngày 20/11/2003 của Bộ trưởng Bộ Tàichính do Chính phủ phát hành, có thời hạn, có mệnh giá, có lãi, xác nhậnnghĩa vụ trả nợ của Chính phủ đối với người sở hữu trái phiếu

Trang 6

TPCP phát hành trực tiếp qua hệ hống KBNN gồm: trái phiếu kho bạc,trái phiếu công trình trung ương, trái phiếu đầu tư, trái phiếu ngoại tệ, côngtrái xây dựng tổ quốc.

1.1.2 Đặc điểm của trái phiếu Chính phủ.

1.1.2.1 Độ rủi ro thấp

Trái phiếu Chính phủ là một loại chứng khoán có độ rủi ro thấp nhấttrong các loại chứng khoán nợ, bởi vì TPCP được NSNN bảo đảm thanh toán.Trong trường hợp NSNN không đảm bảo được nguồn để thanh toán gốc, lãitrái phiếu khi đến hạn thì Chính phủ có thể phát hành nợ đến hạn (bằng đồngtiền nội địa) Mặt khác, về mặt chính trị, khi Chính phủ này hết hạn cầmquyền thì Chính phủ mới có trách nhiệm tiếp nhận và thanh toán các khoản nợcủa Chính phủ tiền nhiệm

Mặc dù được coi là có độ an toàn cao nhất trong các loại chứng khoán nợnhưng TPCP vẫn tiềm ẩn những yếu tố rủi ro như rủi ro do biến động lãi suất,

tỷ giá, rủi ro về khả năng thanh toán bằng ngoại tệ, rủi ro về khả năng chuyểntrái phiếu thành tiền mặt

TPCP có nhiều loại khác nhau, tương ứng với mức độ rủi ro khác nhau.TPCP trực tiếp phát hành có độ rủi ro thấp nhất, trái phiếu chính quyền địaphương và trái phiếu của các cơ quan của Chính phủ phát hành có độ rủi rocao hơn TPCP nhưng vẫn thấp hơn trái phiếu công ty

1.1.2.2 Tính sinh lời thấp

Trái phiếu Chính phủ cũng có tính sinh lời như các loại chứng khoán nợkhác Khi đầu tư vào TPCP người đầu tư sẽ được hưởng một mức lợi tức nhấtđịnh Lợi tức của trái phiếu là vấn đề mà nhà đầu tư và các nhà kinh tế quantâm nhất vì nó phản ánh chính xác lợi nhuận thu được khi đầu tư vào tráiphiếu Tỷ lệ lợi tức được xác định bằng cách lấy số tiền mà người sở hữu trái

Trang 7

phiếu nhận được từ lãi suất được hưởng của trái phiếu, cộng với sự sai biệt vềgiá của trái phiếu đó, chia cho giá mua.

So với lãi suất của trái phiếu công ty và trái phiếu ngân hàng, TPCPthường có lãi suất thấp hơn do độ rủi ro thấp hơn Tuy nhiên lãi suất trên thịtrường trái phiếu do cung cầu quyết định nên biến động theo thời gian Do đó,nếu so sánh cùng thời điểm phát hành thì thị trường TPCP có mức lãi suấtthấp hơn các loại trái phiếu khác (trừ trường hợp đặc biệt như chiến tranh,khủng hoảng, lạm phát, …Chính phủ cần huy động vốn cấp tốc để chi tiêuhoặc hút tiền để điều hoà lưu thông tiền tệ, kiềm chế lạm phát thì lãi suất rấtcao) Nhưng nếu xét cả một quá trình thì lãi suất ở các thời điểm khác nhaucủa TPCP cũng biến động tuỳ theo diễn biến thị trường nên có thể tăng haygiảm Vì vậy, so với thời kỳ trước và sau, không nhất thiết lãi suất TPCP luônthấp hơn lãi suất của các loại trái phiếu khác

1.1.3 Phân loại trái phiếu chính phủ.

1.1.3.1 Phân loại theo chủ thể phát hành

 Trái phiếu Chính phủ do Chính phủ (thường uỷ nhiệm cho Bộ Tài chính)phát hành với mục đích bù đắp bội chi ngân sách, tăng cường vốn đầu tư pháttriển và Chính phủ chịu trách nhiệm trích ngân sách hoàn trả gốc, lãi tráiphiếu cho chủ sở hữu khi đến hạn Đây là hình thức phổ biến nhất và thườngchiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng dư nợ từ chứng khoán nợ của các quốc gia

 Trái phiếu chính quyền địa phương, do chính quyền địa phương cấp bangtrở xuống phát hành gồm chính quyền địa phương; chính quyền tỉnh, thànhphố; chính quyền quận, huyện,…Theo luật pháp của Mỹ và một số nước pháttriển như Anh, Nhật, Canada, Italia, chính quyền địa phương có ngân sáchđộc lập với ngân sách quốc gia, được hình thành từ nguồn thu thuế , phí, lệphí và một phần trợ cấp từ ngân sách liên bang Chính quyền địa phươngđược phép huy động vốn để tài trợ cho các dự án phát triển KTXH trên địa

Trang 8

bàn và chịu trách nhiệm thanh toán khi đến hạn.Ở Việt Nam, theo luật NSNNchỉ chính quyền cấp tỉnh mới được phép phát hành trái phiếu chính quyền địaphương.

 Trái phiếu do các cơ quan của Chính phủ phát hành và sử dụng nguồnvốn đó để thực hiện chương trình, dự án theo mục tiêu chỉ định của Chínhphủ Tổ chức phát hành loại trái phiếu này thông thường là các tổ chức tàichính, tín dụng Nhà nước

 Trái phiếu của các doanh nghiệp Nhà nước được Chính phủ chỉ định pháthành trái phiếu để đầu tư cho các dự án kinh tế trọng điểm quốc gia và đượcChính phủ bảo đảm thanh toán

1.1.3.2 Phân loại theo mục đích phát hành

 Trái phiếu kho bạc (trái phiếu bù đắp bội chi NSNN) Chính phủ pháthành trái phiếu nhằm mục đích huy động vốn để bù đắp thiếu hụt NSNN, bổsung vốn cho đầu tư phát triển thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách Trung ươngtheo chỉ tiêu đã được Quốc hội phê chuẩn

 Trái phiếu huy động vốn cho chương trình, mục tiêu Quốc gia Bao gồmcông trái xây dựng Tổ quốc, trái phiếu do các cơ quan của Chính phủ pháthành Mục đích phát hành loại trái phiếu này là huy động vốn đầu tư xâydựng những công trình quan trọng Quốc gia và các công trình thiết yếu khácphục vụ sản xuất, đời sống, tạo cơ sở vật chất, kĩ thuật cho đất nước

 Trái phiếu huy động vốn cho chương trình, mục tiêu của chính quyền địaphương Phát hành để đầu tư các dự án phát triển KTXH thuộc nhiệm vụ chicủa chính quyền địa phương

 Trái phiếu huy động vốn cho các công trình của doanh nghiệp Nhà nước.Đây là loại trái phiếu mà doanh nghiệp Nhà nước được Chính phủ chỉ địnhphát hành và bảo lãnh thanh toán Mục đích phát hành loại trái phiếu này là để

Trang 9

đầu tư cho các dự án kinh tế trọng điểm Quốc gia, do doanh nghiệp Nhà nướcquản lý.

1.1.3.3 Phân loại theo kỳ hạn

 Trái phiếu ngắn hạn (thường gọi là tín phiếu) có kỳ hạn dưới một năm.Tín phiếu thường được phát hành để bù đắp thiếu hụt tạm thời của NSNN vàlàm công cụ để điều hành chính sách tiền tệ của NHNN trung ương thông quanghiệp vụ thị trường mở Thông thường, tín phiếu ngắn hạn phát hành dướihình thức chiết khấu, giao dịch theo lợi tức chiết khấu

 Trái phiếu dài hạn, có kỳ hạn trên 1 năm Trái phiếu thường được pháthành để bù đắp bội chi NSNN, đáp ứng các nhu cầu chi ĐTPT Thôngthường, trái phiếu được phát hành theo hình thức trả lãi định kỳ hoặc cuối kỳ,giao dịch trên cơ sở lãi suất cộng dồn Về nguyên tắc, lãi suất trái phiếu dàihạn phải lớn hơn lãi suất tín phiếu ngắn hạn

1.1.3.4 Phân loại theo hình thức trả lãi

 Trái phiếu có lãi suất cố định Lãi suất của trái phiếu không thay đổi vàđược xác định ngay tại thời điểm phát hành, có thể trả một lần khi đến hạn( bullet bond), trả định kỳ (coupon bond) hoặc trả trước

 Trái phiếu có lãi suất thả nổi Lãi suất của trái phiếu thay đổi tại từng thờiđiểm trả lãi, thường được tính theo lãi suất của thị trường liên ngân hang hoặcđiều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát

Trái phiếu chiết khấu (zero coupon) Trái phiếu được bán với giá thấphơn mệnh giá và thanh toán bằng mệnh giá khi đến hạn Số tiền chênh lêchgiữa bán và mệnh giá chính là lãi của trái phiếu

1.1.3.5 Phân loại theo mức độ bảo đảm thanh toán

 Trái phiếu Chính phủ Do Chính phủ (uỷ nhiệm cho Bộ Tài chính) pháthành và chịu trách nhiệm bố trí nguồn thanh toán gốc, lãi trái phiếu cho chủ

sở hữu từ NSNN

Trang 10

 Trái phiếu được Chính phủ bảo đảm Do chính quyền địa phương, các cơquan, tổ chức được Chính phủ chỉ định phát hành trái phiếu Các tổ chức pháthành có trách nhiệm thanh toán gốc, lãi khi đến hạn Trường hợp các tổ chứcphát hành không bố trí đủ nguồn thanh toán gốc, lãi đúng hạn thì Chính phủtrích NSNN để thanh toán cho chử sở hữu.

1.1.3.6 Phân loại theo hình thức và tiêu thức quản lý

Theo hình thức biểu hiện có trái phiếu chứng chỉ vật chất và trái phiếu ghisổ

Theo tiêu thức quản lý thì có trái phiếu vô danh và trái phiếu ghi danh.Trái phiếu vô danh không ghi tên chỉ sở hữu lên trái phiếu Trái phiếu ghidanh có ghi tên, địa chỉ, số chứng minh nhân dân, … của nhà đầu tư trên tráiphiếu cả trong sổ của nhà phát hành

Trong trái phiếu ghi danh có trái phiếu ghi danh đầy đủ và trái phiếu ghidanh không đầy đủ Ngày nay bên cạnh hình thức chứng chỉ ghi danh thì hìnhthức trái phiếu ghi danh ghi sổ ngày càng phát triển vì tiết kiệm được chi phí

in ấn và quản lý

1.1.3.7 Phân loại theo địa bàn phát hành

 Trái phiếu trong nước: phát hành trong phạm vi một quốc gia

 Trái phiếu quốc tế: phát hành ra thị trường vốn quốc tế

1.2 – Sự cần thiết phát hành trái phiếu Chính phủ cho đầu tư phát triển.

1.2.1 Đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội.

1.2.1.1 Đáp ứng nhu cầu vốn phát triển kinh tế địa phương

Trong những năm gần đây, nhu cầu huy động vốn của chính quyền địaphương trở nên lớn hơn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam,chủ yếu do hai xu hướng:

Trang 11

 Xu hướng thứ nhất xuất phát từ việc phân cấp chính trị đang được triểnkhai ở một số nước đang phát triển Ở những nước này, chính quyền Trungương đã giao cho chính quyền địa phương trách nhiệm cung cấp các dịch vụcông cộng tại địa phương và phát triển cơ sở hạ tầng có liên quan Điều nàyđòi hỏi phải có nguồn lực tài chính rất lớn Việc cải cách này nhằm mục đíchgiảm các khoản thâm hụt tài chính lớn ở chính quyền Trung ương và địaphương bằng cách tăng hiệu quả phân bổ nguồn lực của chính quyền địaphương cho việc cung cấp dịch vụ công cộng Các tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương có cơ hội gần gũi với cử tri của mình hơn, sẽ nhạy cảm hơn và

có trách nhiệm hơn với các nhu cầu của người dân và nhờ vậy sẽ phân bổ hiệuquả hơn các nguồn lực cần thiết để cung cấp các dịch vụ nhằm đáp ứng cácnhu cầu đó

Tại Việt Nam, việc phân cấp chính trị đang được triển khai trong nhữngnăm gần đây Trong khuôn khổ công cuộc đổi mới bao gồm cải cách hànhchính công năm 2001, Chính phủ đã ban hành Chương trình tổng thể về cảicách hành chính công giai đoạn 2001 -2010 Theo đó, các quy định cơ bảnmới về phân cấp quản lý hành chính giữa Trung ương và địa phương và giữacác cấp khác nhau của chính quyền địa phương sẽ được phát triển và đưa vàothực hiện Ngoài ra, cơ chế phân cấp quản lý tài chính và ngân sách cũng sẽđược đổi mới để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống quản lý tài chính quốcgia và vai trò dẫn dắt của ngân sách Trung ương Điều này sẽ thúc đẩy tínhchủ động, sang tạo và trách nhiệm trong việc quản lý tài chính và ngân sáchđược phân bổ cho chính quyền địa phương, quyền ra quyết định về việc sửdụng ngân sách sẽ được giao cho Hội đồng Nhân dân các cấp Các cải cáchnày sẽ tăng cường việc phân cấp, giao trách nhiệm cung cấp các dịch vụ côngcộng tại chỗ cho chính quyền địa phương

Trang 12

 Xu hướng thứ hai xuất phát từ việc đô thị hoá nhanh đang diễn ra ở hầuhết các nước đang phát triển với sức ép lớn hơn đối với chính quyền địaphương trong việc nâng cấp và xây dựng cơ sở hạ tầng mới nhằm đáp ứngnhu cầu ngày càng cao về các dịch vụ công cộng đô thị bao gồm đường xá, hệthống cấp nước, truyền tải và phân phối điện, xử lý chất thải, …

Việc đô thị hoá cũng diễn ra rất nhanh ở Việt Nam Sự đô thị hoá ở cácthành phố lớn càng nhanh, càng đòi hỏi nhiều dịch vụ đô thị và cơ sở hạ tầngmới Sự đô thị hoá là một quá trình làm thu hẹp quỹ đất trong nhiều lĩnh vựccủa cuộc sống đô thị như việc xây dựng nhà ở, việc lắp các công trình dịch vụ

đô thị, việc phát triển các hệ thống giao thông, … Thực tế, thành phố Hồ ChíMinh có tốc độ đô thị hoá nhanh nhất trong cả nước cũng là địa phương cókhối lượng trái phiếu đô thị phát hành lớn nhất cả nước

Với sự phát triển mạnh mẽ của hai xu hướng trên, ngân sách của các địaphương thường không đủ để đáp ứng nhu cầu đó Nhu cầu về tài chính chophát triển cơ sở hạ tầng đại phương đang gia tăng nhanh hơn so với khả năngđáp ứng của ngân sách chính quyền địa phương Để thực hiện chiến lược côngnghiệp hoá – hiện đại hoá đặc biệt là chuyển dịch cơ cấu kinh tế, công nghiệphoá nông nghiệp nông thôn thì các địa phương cần phải chủ động khai tháccác nguồn tài chính khác cho ĐTPT Phát hành trái phiếu chính quyền địaphương là một trong những giải pháp hữu hiệu Theo tính toán của Bộ Tàichính thì trong giai đoạn 2006 – 2010 nhu cầu huy động vốn bằng trái phiếuchính quyền địa phương sẽ khoảng 20.000 tỷ đồng

1.2.1.2 Đáp ứng nhu cầu vốn tài trợ cho các chương trình, mục tiêu phát triển

kinh tế - xã hội đặc biệt của Chính phủ

Tài trợ cho chương trình mục tiêu của Chính phủ là một trong những hoạtđộng quan trọng của các nước đang phát triển Việc tài trợ của Chính phủthông qua đảm bảo cho các trái phiếu do cơ quan của Chính phủ là một chính

Trang 13

sách hữu hiệu và là xu hướng chung của nhiều quốc gia Chính phủ khôngtham dự trực tiếp vào việc huy động và tài trợ vốn cho từng dự án theo kiểubao cấp mà chỉ bảo đảm khả năng thanh toán trong trường hợp tổ chức pháthành không thanh toán được nợ và có thể hỗ trợ một phần lãi suất dưới hìnhthức tín dụng đầu tư của Nhà nước Chính sách này đặt ra cho các tổ chức tàichính nghĩa vụ và trách nhiệm theo cơ chế thị trường, sau đó là sự đảm bảo từphía Chính phủ, dưới giác độ là người bảo trợ

Thực tế ở Việt Nam, Chính phủ đã thành lập Quỹ Hỗ trợ phát triển vớichức năng thực hiện chính sách tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của Nhànước và Ngân hàng Chính sách xã hội với chức năng hỗ trợ xoá đói, giảmnghèo, giải quyết việc làm và ổn định xã hội Bản chất của các hoạt động tíndụng của Quỹ Hỗ trợ phát triển và Ngân hàng Chính sách xã hội là tín dụngNhà nước Hoạt động tín dụng Nhà nước thường gắn chặt với các mục tiêukhuyến khích phát triển sản xuất, kinh doanh một ngành, lĩnh vực nhất định,xây dựng cơ sở hạ tầng, các chương trình văn hoá, xã hội theo định hướng,chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia trong từng giai đoạn

Theo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006 - 2010, dự kiếnnguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước trong giai đoạn nàykhoảng 160 - 170 nghìn tỷ đồng, tăng 50% so với giai đoạn 2001 - 2005 Dựkiến giai đoạn 2006 - 2010, Quỹ sẽ huy động khoảng 37.000 tỷ đồng thôngqua phát hành trái phiếu

Cùng với sự phát triển kinh tế thì vấn đề xoá đói, giảm nghèo luôn làthách thức to lớn đối với các nước đang phát triển Bên cạnh đó, việc dôi dưlao động trong quá trình đô thị hoá ở nông thôn và chủ trương triển khai kênhtín dụng ưu đãi tại các vùng có điều kiện kinh tế khó khăn đã nảy sinh tháchthức lớn về vốn để đáp ứng các nhu cầu tín dụng của các đối tượng thụhưởng Trong điều kiện ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, Ngân hàng Chính

Trang 14

sách xã hội phải tính đến giải pháp huy động vốn trong và ngoài nước, trong

đó huy động vốn trực tiếp từ thị trường tài chính thông qua phát hành tráiphiếu được là giải pháp rất quan trọng và hữu hiệu

1.2.1.3 Đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư các dự án kinh tế trọng điểm quốc gia của

các doanh nghiệp Nhà nước

Với các quốc gia đang phát triển, nhu cầu vốn đầu tư cho các dự án kinh

tế trọng điểm là rất lớn Trong điều kiện ngân sách còn hạn hẹp, để đáp ứngnhu cầu phát triển kinh tế đất nước, các doanh nghiệp Nhà nước đóng vai tròhết sức quan trọng trong việc tham gia đầu tư vào các dự án nói trên Khôngthể dựa hoàn toàn từ nguồn vốn ngân hàng vì đặc điểm vốn ngân hàng ngắnhạn là chủ yếu, trong khi các dự án đầu tư cần vốn dài hạn; mặt khác việc dựaquá nhiều vào khu vực ngân hàng có thể dẫn đến rủi ro cho thị trường và chonền kinh tế Chính vì vậy, các doanh nghiệp cần tiếp cận kênh huy động vốntrực tiếp từ thị trường tài chính trong nước và quốc tế

Đối với Việt Nam, để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế bình quân8%/năm, trong giai đoạn 2006 - 2010, tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hộikhoảng 2.700.000 tỷ đồng Mức huy động vốn đầu tư qua thị trường vốnchiếm khoảng 22 - 23%, khoảng 600.000 tỷ đồng, trong đó, khu vực doanhnghiệp cần khoảng 29%, tương ứng với 174.000 tỷ đồng Đây là một lượngvốn rất lớn, đòi hỏi các doanh nghiệp cần đa dạng hoá hình thức huy độngvốn và việc phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh là một kênh huyđộng vốn quan trọng trong điều kiện hiện nay, giúp cho doanh nghiệp thuậnlợi trong việc huy động vốn với chi phí thấp Đối với các dự án có nhu cầuhuy động vốn bằng ngoại tệ với khối lượng lớn (như dự án của các ngành điệnlực, dầu khí, đóng tàu, ) thì cần thiết phải huy động vốn từ thị trường vốnquốc tế Thông qua phát hành trái phiếu ra thị trường vốn quốc tế, các nhà đầu

tư nước ngoài có điều kiện hiểu biết hơn về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội,

Trang 15

môi trường đầu tư và các chính sách khuyến khích đầu tư của Việt Nam Qua

đó, từng bước khẳng định vị thế Việt Nam trên trường quốc tế, mở rộng cơhội làm ăn với các nhà đầu tư trên thế giới

1.2.2 Thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn.

Sự có mặt của trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu do cơ quanChính phủ phát hành, trái phiếu doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh sẽlàm phong phú thêm hoạt động của thị trường vốn, thị trường chứng khoán,nhất là trong giai đoạn đầu thị trường mới hoạt động như Việt Nam hiện nay.Các nhà đầu tư có thêm danh mục chứng khoán để lựa chọn, các tổ chức tàichính trung gian phát huy được vai trò của mình trong việc cung cấp các dịch

vụ tài chính Việc phát hành trái phiếu đảm bảo bằng hợp đồng thế chấp tàisản là một trong những nghiệp vụ chứng khoán hoá được sử dụng có hiệuquả Nghiệp vụ này cho phép chuyển những khoản vay theo hợp đồng thànhchứng khoán có khả năng chuyển nhượng, từ đó tạo điều kiện thúc đẩy sựluân chuyển và điều hoà vốn trong nền kinh tế

Các trái phiếu được Chính phủ bảo đảm có thể sử dụng làm căn cứ xácđịnh giá của các công cụ nợ khác trên thị trường (trừ trái phiếu Chính phủ).Trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu do các cơ quan của Chínhphủ phát hành có độ an toàn khá cao, bởi được đảm bảo bằng nguồn thu thuếcủa chính quyền địa phương, đảm bảo bằng hợp đồng vay thế chấp, đượcChính phủ đảm bảo, được bảo hiểm bởi các công ty bảo hiểm có uy tín Vìvậy, vào những thời điểm không phát hành trái phiếu Chính phủ, các nhà đầu

tư có thể dựa vào giá trái phiếu được Chính phủ bảo đảm để xác định giá cáccông cụ nợ khác như trái phiếu công ty

1.2.3 Góp phần ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát.

Trong nền kinh tế thị trường, ổn định tiền tệ và kiềm chế lạm phát lànhiệm vụ quan trọng hàng đầu đối với hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các

Trang 16

nước đang phát triển Để ổn định tiền tệ và kiềm chế lạm phát, Nhà nước phải

sử dụng đồng bộ các giải pháp về kinh tế, tài chính, tiền tệ Giải pháp quantrọng đã được nhiều nước trên thế giới sử dụng có hiệu quả là tăng cườngcông tác huy động vốn nói chung, trong đó có trái phiếu được Chính phủ bảođảm, bởi vì thông qua các công cụ huy động vốn sẽ góp phần điều hoà lượngtiền mặt trong lưu thông, tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn trong nền kinh

tế, qua đó góp phần ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát

1.2.4 Góp phần tăng cường vai trò của nhà nước trong điều tiết kinh tế

vĩ mô.

Nhờ nguồn vốn có được từ phát hành TPCP, nhà nước có thể chủ độngtrong công tác xây dựng kế hoạch và điều hành NSNN, đặc biệt là trong việccân đối và bố trí nguồn vốn cho đầu tư phát triển Hơn nữa, thông qua pháthành TPCP, nhà nước có nguồn để thực hiện các dự án phát triển kết cấu hạtầng như công nghệ thông tin, hệ thống giao thông, hệ thống thủy lợi, pháttriển y tế, giáo dục, nâng cao mức sống của nhân dân,

Phát hành TPCP giúp nhà nước giải quyết được tình trạng thâm hụtNSNN mà không gây lạm phát, nhờ đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô Mộtmặt, thuế và chi NSNN là những công cụ quan trọng được sử dụng trong ổnđịnh giá trị đồng tiền Mặt khác, thuế và chi NSNN cũng là một trong nhữngcông cụ để khuyến khích đầu tư và tái đầu tư từ lợi nhuận Việc đảm bảo tiềmlực cho NSNN sẽ giúp cho NSNN thực hiện có hiệu quả vai trò của mìnhtrong ổn định giá trị tiền tệ, khuyến khích đầu tư phát triển, từng bước tăngquy mô và tỷ trọng cũng như hiệu quả nguồn vốn đầu tư từ NSNN

Phát hành TPCP giúp cho việc điều hành ngân sách của nhà nước đượcthuận lợi hơn, giúp nhà nước tăng cường vị thế, vai trò và uy tín của mình đốivới các tầng lớp dân cư trong xã hội Đồng thời, việc phát hành TPCP trong

Trang 17

nước cũng góp phần làm giảm tương đối vay nước ngoài, tránh sức ép trongquan hệ đối ngoại, tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế.

Tóm lại, trái phiếu Chính phủ là công cụ huy động vốn quan trọng củacác quốc gia, nhất là các nước đang phát triển Chính quyền địa phương cấpnào được phép phát hành trái phiếu và cơ quan Chính phủ, doanh nghiệp Nhànước nào được phát hành trái phiếu sẽ tuỳ thuộc vào chính sách của mỗi nước

và mức độ phát triển của thị trường tài chính của các nước Tuy nhiên, trong

xu hướng hiện nay, các nước cần từng bước thực hiện tự do hoá hoạt độnghuy động vốn trên thị trường, trong đó có việc cho phép các cấp chính quyềnđịa phương, các cơ quan Chính phủ, các doanh nghiệp Nhà nước phát hànhtrái phiếu Chính phủ để đầu tư phát triển theo những mục tiêu đã định

1.3 – Trình tự, thủ tục phát hành trái phiếu Chính phủ.

Căn cứ vào Quyết định số 66/2004/QĐ-BTC ngày 11/8/2004 của Bộtrưởng Bộ Tài chính về việc hướng dẫn về trình tự, thủ tục phát hành tráiphiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu Chínhquyền địa phương

Quy chế này hướng dẫn về trình tự lập kế hoạch, xây dựng phương ánphát hành, quyết định phát hành, điều hành lãi suất và các vấn đề liên quanđến tổ chức phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảolãnh và trái phiếu Chính quyền địa phương (gọi chung là trái phiếu)

1.3.1 Phát hành tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu công

trình Trung ương và trái phiếu ngoại tệ.

Kho bạc Nhà nước tổ chức triển khai thực hiện việc phát hành tín phiếukho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình Trung ương và trái phiếubằng ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu chi của ngân sách nhà nước và các dự án,công trình quan trọng thuộc phạm vi cân đối của Ngân sách Trung ương

Trang 18

Căn cứ tổng mức vốn phát hành trái phiếu trong năm và kế hoạch pháthành đã được Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt, Kho bạc Nhà nước chủ động

tổ chức triển khai thực hiện việc phát hành trái phiếu theo nhu cầu và tiến độchi của ngân sách nhà nước

Việc phát hành trái phiếu theo phương thức bán lẻ qua hệ thống Kho bạcNhà nước do Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định cho từng đợt phát hành

1.3.2 Phát hành trái phiếu đầu tư.

Quỹ Hỗ trợ phát triển, các tổ chức tài chính, tín dụng được chủ động tổchức phát hành trái phiếu đầu tư để huy động vốn đáp ứng nhu cầu về vốn tíndụng đầu tư phát triển của Nhà nước theo kế hoạch hàng năm và kế hoạchphát hành trái phiếu đã báo cáo Bộ Tài chính

Việc huy động vốn phải phù hợp với tiến độ giải ngân vốn vay, nguồn thuhồi nợ và đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm đến mức thấp nhất các chi phí về huyđộng vốn Không huy động vốn khi chưa có nhu cầu sử dụng hoặc nguồn vốnhiện tại vẫn đáp ứng được nhu cầu vay vốn của các dự án

1.3.3 Phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh.

Khi có nhu cầu phát hành trái phiếu, doanh nghiệp gửi đến Bộ Tài chínhcác tài liệu sau:

Đơn đề nghị phát hành trái phiếu kèm theo phương án phát hành thuyếtminh rõ về tổng mức vốn dự kiến huy động; thời hạn, lãi suất; kế hoạch trả nợvốn vay khi đến hạn; nguồn trả nợ; biện pháp tổ chức phát hành, thanh toántrái phiếu

Văn bản về việc cho phép doanh nghiệp được phép phát hành trái phiếu

để huy động vốn cho dự án;

Dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

Giấy đề nghị Bộ Tài chính thực hiện bảo lãnh thanh toán;

Các tài liệu khác có liên quan

Trang 19

Trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp pháp, hợp

lệ, Bộ Tài chính có ý kiến thoả thuận bằng văn bản để doanh nghiệp thực hiệnphát hành trái phiếu

1.3.4 Phát hành trái phiếu Chính quyền địa phương.

Khi có nhu cầu phát hành trái phiếu, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh gửi Bộ Tàichính các tài liệu sau:

Văn bản đề nghị phát hành trái phiếu, trong đó có nêu rõ về tổng mức vốn

dự kiến huy động; thời hạn, lãi suất; thời gian dự kiến phát hành; biện pháp tổchức phát hành, thanh toán trái phiếu

Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua việc phát hành tráiphiếu kèm theo phương án phát hành

Các tài liệu khác có liên quan

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp pháp, hợp lệ, BộTài chính xem xét, có ý kiến thoả thuận bằng văn bản để Uỷ ban nhân dân cấptỉnh triển khai thực hiện

Căn cứ ý kiến thoả thuận của Bộ Tài chính, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cóquyết định uỷ quyền cho Kho bạc Nhà nước hoặc tổ chức tài chính, tín dụngtrên địa bàn thực hiện việc phát hành trái phiếu theo các quy định hiện hành

1.4 – Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác phát hành TPCP.

Việc phát hành TPCP bị ảnh hưởng bởi các nhân tố sau:

1.4.1 Nhu cầu vốn cho ĐTPT kinh tế

Việc phành hành trái phiếu của Chính phủ trên thị trường sơ cấp phụthuộc vào nhu cầu huy động vốn để bù đắp thiếu hụt của NSNN và choĐTPT Với rất nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, cácnguồn thu ngân sách có hạn nhưng nhu cấi chi ngân sách rất lớn, Chính phủcần phải đi vay để bù đắp thâm hụt ngân sách Hơn nữa, nhu cầu vốn lớn

Trang 20

cho ĐTPT cũng là một vấn đề hết sức cấp bách Nhiều Chính phủ không muốnphát hành tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách, đồng thời thi hành chính sách tíndụng thận trọng để kiếm soát lạm phát nên việc phát hành các loại trái phiếucho NSNN và cho ĐTPT là hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng.

1.4.2 Tốc độ phát triển kinh tế

Với một nền kinh tế tăng trưởng cao và ỏn định, thu nhập và tiết kiệmtrong nền kinh tế nói chung và các tầng lớp dân cư ngày càng tăng Khi đó,nhu cầu đầu tư vào trái phiếu của Chính phủ cũng tăng lên Trong trườnghợp kinh tế suy thoái, thu nhập dân cư giảm sút cùng với thiết kiệm, cầu vềTPCP sẽ giảm đi Cầu về trái phiếu là yếu tố quan trọng quyết định khảnăng huy động vốn trái phiếu trên thị trường sơ cấp

1.4.3 Lạm phát và lãi suất tương lai dự tính

Lạm phát và lãi suất chịu ảnh hưởng lớn của chính sách tiền tệ của Ngânhàng Trung ương Hai phạm trù này có liên quan chặt chẽ đến nhau và cùng

có ảnh hưởng trực tiếp đến cầu trái phiếu Nếu nhà đầu tư dự đoán được lạmphát và lãi suất tăng trong tương lai, họ sẽ giảm cầu TPCP trong hiện tại.Ngược lại, nếu dự kiến lạm phát hoặc lãi suất giảm trong tương lai thì cầitrái phiếu sẽ có xu hướng tăng trong hiện tại

1.4.4 Lợi tức và mức độ rủi ro của các công cụ đầu tư khác ( vàng, bất

động sản …)

Khi lợi tức của các công cụ đầu tư khác tăng lên hoặc mức độ rủi ro củachúng giảm đi thì cầu trái phiếu giảm xuống Ngược lại, trường hợp lợi tứccác công cụ đầu tư giảm hoặc mức độ rủi ro của chúng tăng lên thì cầuTPCP sẽ tăng lên

1.4.5 Khả năng sinh lời từ việc mua, bán chuyển nhượng TPCP

Khi mua trái phiếu trên thị trường, các nhà đầu tư có thể nhằm vào haimục đích chủ yếu: mua để hưởng lãi từ trái phiếu khi đến hạn thanh toán và

Trang 21

mua trái phiếu để bán lại nhằm thu lợi từ hoạt động kinh doanh này Đối vớicác nhà đầu tư chuyên nghiệp và các nhà đầu tư có tổ chức, đa số mua tráiphiếu để nhằm mục đích thứ hai Tuy nhiên các nhà đầu tư chỉ bán lại tráiphiếu đã mua khi thu được lợi từ hoạt động này, tức là số tiền lợi nhuận thuđược do đầu tư vào các loại hình đầu tư khác lớn hơn số tiền lãi từ việc giữtrái phiếu Nếu nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững sẽ có nhiều cơhội cho các nhà đầu tư tìm kiếm các công cụ đầu tư có khả năng sinh lời caonhu trái phiếu, cổ phiếu doanh nghiệp hoặc đầu tư trực tiếp Ngược lại tronggiai đoạn suy thoái, ít cơ hội đầu tư có tỷ suất lợi nhuận cao, các chủ thể sẽtăng tỷ trọng đầu tư vào các công cụ tài chính ít rủi ro là TPCP, khi đó cầuTPCP trên thị trường sẽ tăng lên.

1.4.6 Tính thanh khoản của TPCP

Nếu khả năng thanh toán của trái phiếu tăng thì cầu trái phiếu tăng.Ngược lại, nếu khả năng thanh toán của trái phiếu thấp thì cầu trái phiếu sẽgiảm nhanh chóng, nhất là đối với loại trái phiếu trung và dài hạn Tínhthanh khoản của trái phiếu chịu ảnh hưởng lớn của các quy định và trình tựthủ tục mua, bán trên thị trường Nếu các quy định và trình tự này đơn giản,nhanh chóng và chi phí thấp, các nhà đầu tư sẽ có điều kiện thuận lợi trongviệc mua, bán, chuyển nhượng các loại trái phiếu để chuyển đổi hình thứcđầu tư nhằm tối đa hoá lợi nhuận Trong điều kiện đó, tất cả các nguồn vốnđầu tư của các cá nhân và doanh nghiệp sẽ được huy động và sử dụng mộtcách có hiệu quả nhất

Trang 22

Chương 2 - THỰC TRẠNG PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRONG GIAI ĐOẠN 2004-2008.

2.1 - Cơ chế chính sách phát hành TPCP phủ cho đầu tư phát triển ở

nước ta.

2.1.2 Công tác xây dựng kế hoạch phát hành TPCP.

Công tác xây dựng kế hoạch phát hành TPCP được thực hiện theo quiđịnh tại Quyết định số 66/2004/QĐ-BTC ngày 11/8/2004 của Bộ Trưởng BộTài chính ban hành “Qui chế hướng dẫn về trình tự, thủ tục phát hành tráiphiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chínhquyền địa phương Theo đó:

- Bộ Tài chính chủ trì xây dựng kế hoạch phát hành, thanh toán các loạitrái phiếu để tổng hợp chung trong dự toán ngân sách nhà nước báo cáo Chínhphủ trình Quốc hội phê duyệt

- Căn cứ vào chỉ tiêu huy động vốn đã được Quốc hội quyết định, Bộtrưởng Bộ Tài chính giao nhiệm vụ huy động vốn phát hành tín phiếu, tráiphiếu cho Kho bạc Nhà nước

- Kho bạc Nhà nước chủ trì phối hợp với Vụ Ngân sách nhà nước, Vụ Tàichính các ngân hàng và tổ chức tài chính xây dựng kế hoạch phát hành cácloại trái phiếu hàng tháng phân theo từng loại trái phiếu, kỳ hạn trái phiếu,đồng tiền và phương thức phát hành báo cáo Bộ trưởng Bộ Tài chính phêduyệt

2.1.2 Công tác quản lý phát hành trái phiếu Chính phủ qua hệ thống

KBNN.

2.1.2.1 Tổ chức in trái phiếu

Trang 23

Kho bạc Nhà nước thống nhất in các loại trái phiếu để sử dụng tại tất cảcác đơn vị KBNN trong phạm vi cả nước.

Mẫu trái phiếu do KBNN thiết kế trình Bộ trưởng Bộ Tài chính phêduyệt

Việc in trái phiếu thực hiện kế hoạch được lập hàng năm hoặc trước mỗiđợt phát hành trái phiếu, căn cứ vào kế hoạch, chỉ tiêu huy động vốn và tìnhhình vốn kho các loại trái phiếu

2.1.2.2 Phân phối, điều chuyển và thu hồi trái phiếu

Kho bac Nhà nước trực tiếp phân phối trái phiếu cho KBNN các tỉnh,thành phố phía Bắc từ Hà Tĩnh trở ra (Khu vực I), điều chuyển trái phiếu chocác Trung tâm khu vực II và III KBNN Đà Nẵng là trung tâm khu vực II.KBNN Hồ Chí Minh là trung tâm khu vực III

Lệnh phân phối trái phiếu cho KBNN các tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương, lệnh điều chuyển trái phiếu cho các trung tâm khu vực, lệnh điềuchuyển trái phiếu giữa các Trung tâm khu vực, các KBNN tỉnh, lệnh thu hồitrái phiếu từ Trung tâm khu vực, KBNN tỉnh về KBNN do Tổng Giám đốcKBNN (hoặc người được uỷ quyền) ký

Lệnh phân phối trái phiếu cho KBNN quận, huyện, thị xã, thành phố trựcthuộc tỉnh (sau đây gọi chung là KBNN huyện), lệnh điều chuyển trái phiếugiữa các KBNN huyện, lệnh thu hồi trái phiếu từ KBNN huyện về KBNNtỉnh do Giám đốc KBNN tỉnh ( hoặc người được uỷ quyền) ký

2.1.2.3 Trách nhiệm của các đơn vị trong việc quản lý trái phiếu

Tại KBNN.

 Ban Huy động vốn

Thiết kế mẫu trái phiếu báo cáo Lãnh đạo KBNN, trình Lãnh đạo Bộ TàiChính phê duyệt

Trang 24

Lập kế hoạch in các loại trái phiếu, số lượng từng loại mệnh giá, cáchđánh số sêri,… ;

Xây dựng kế hoạch phân phối trái phiếu, lập lệnh phân phối, điều chuyển,thu hồi trái phiếu tại các Trung tâm khu vực và KBNN các tỉnh, trình Lãnhđạo KBNN phê duyệt

Cuối mỗi đợt phát hành trái phiếu, phối hợp với Ban Kế toán, Ban Khoquỹ đối chiếu, bảo đảm khớp đúng số tiền thu từ phát hành mới so với tổngmệnh giá trái phiếu đã sử dụng, số liệu trái phiếu nhập, xuất, sử dụng, tồn khothực tế và trong chương trình “Quản lý trái phiếu KBNN” tại KBNN, Trungtâm khu vực và KBNN các tỉnh

 Ban Kho quỹ

Chịu trách nhiệm nhân trái phiếu từ đơn vị in, trực tiếp phân phối, thu hồitrái phiếu từ KBNN các tỉnh phía Bắc

Điều chuyển, thu hồi trái phiếu từ các Trung tâm khu vực

Tổng hợp trái phiếu hỏng, hết giá trị sử dụng từ KBNN tỉnh và các Trungtâm khu vực, xin chủ trương và thực hiện tiêu huỷ trái phiếu hỏng hết hạn sửdụng theo quy định

Cuối mỗi đợt phát hành trái phiếu : chủ trì phối hợp với Ban Huy độngvốn, Ban Tài vụ Quản trị đối chiếu bảo đảm khớp đúng số liệu trái phiếunhập, xuất, sử dụng, tồn kho thực tế và trong chương trình “ Quản lý tráiphiếu KBNN” tại KBNN, Trung tâm khu vực và KBNN các tỉnh, tổng hợp,báo cáo tình hình nhập, xuất, sử dụng, tồn kho các loại trái phiếu trong toàn

hệ thống

 Ban Tài vụ Quản trị

Căn cứ vào kế hoạch in trái phiếu đã được lãnh đạo KBNN phê duyệt,phối hợp với Ban Huy động vốn và đơn vị in dự thảo Hợp đồng in trình Lãnhđạo KBNN ký

Trang 25

 Trung tâm Tin học và Thống kê.

Căn cứ vào yêu cầu, chịu trách nhiệm bổ sung, hoàn thiện chương trình

“Quản lý trái phiếu KBNN” cho phù hợp với các quy trình nghiệp vụ

Hỗ trợ về mặt kỹ thuật cho các đơn vị KBNN trong toàn hệ thống để bảo đảmchương trình hoạt động tốt, số liệu được cập nhật kịp thời, báo cáo chiết xuấtnhanh chóng, đầy đủ, chính xác

Các đơn vị KBNN tỉnh, huyện.

Giám đốc KBNN chịu trách nhiệm bố trí cán bộ, bảo đảm các điều kiệnphương tiện, cơ sở vật chất cần thiết cho công tác quản lý trái phiếu, bảo đảmtuyệt đối an toàn tiền, tài sản được KBNN cấp trên giao quản lý

Phụ trách phòng, bộ phận kế hoạch tổng hợp có nhiệm vụ theo dõi tìnhhình nhập, xuất, sử dụng trái phiếu tại đơn vị, căn cứ vào nhiệm vụ huy độngvốn và tình hình tồn kho trái phiếu tại đơn vị, đề xuất nhu cầu bổ sung tráiphiếu trình Lãnh đạo ký gửi KBNN cấp trên, lập lệnh phân phối, điều chuyển,thu hồi trái phiếu giữa các đơn vị trong phạm vi địa bản tỉnh

Thủ kho chấp hành các chế độ quản lý kho, chịu trách nhiệm về việc bảođảm an toàn, chính xác toàn bộ trái phiếu xuất, nhập, bảo quản trong kho, mở

sổ, ghi chép trái phiếu nhập, xuất, tồn kho, thực hiện kiểm kê theo quy định,cuối mỗi đợt phát hành, định kỳ hàng tháng và hàng năm, phối hợp với kếtoán giấy tờ có giá đối chiếu số liệu trái phiếu sử dụng, tồn kho, lập và cungcấp số liệu để phòng, bộ phận kho quỹ lập báo cáo theo quy định

Phụ trách phòng kế toán, bộ phận kế toán giấy tờ có giá chịu trách nhiệm

tổ chức, hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ nhập, xuất,điều chuyển, bảo quản trái phiếu; chỉ đạo, tổ chức hạch toán kế toán giấy tờ

có giá theo quy định của Chế độ kế toán hoạt động nội bộ KBNN ban hànhkèm theo Quyết định số 1190/1998/QĐ-BTC ngày 11/09/1998 của Bộ trưởng

Bộ Tài chính

Trang 26

Kế toán giấy tờ có giá có trách nhiệm hạch toán kế toán tình hình nhập,xuất trái phiếu chính xác, kịp thời, thực hiện chế độ báo cáo tình hình quản lýtrái phiếu theo quy định.

Cán bộ giao, nhận, điều chuyển trái phiếu có trách nhiệm tuyệt đối giữ bímật khi được giao nhiệm vụ, chịu trách nhiệm về sự chính xác, an toàn tráiphiếu trong suốt quá trình giao, nhận, vận chuyển trái phiếu

Tại bàn trái phiếu.

Cán bộ trái phiếu có trách nhiệm mở sổ theo dõi tình hình xuất, nhập, sửdụng trái phiếu hàng ngày tại bàn trái phiếu, sử dụng và bảo quản an toàn tráiphiếu tại bàn giao dịch theo đúng quy định

2.1.2.4 Quản lý nguồn thu phát hành trái phiếu và nguồn thanh toán gốc, lãi

trái phiếu

Toàn bộ số tiền thu về phát hành TPCP được tập trung vào KBNN để

sử dụng đầu tư cho các công trình thuộc danh mục được Thủ tướng Chính phủphê duyệt hoặc đáo nợ trái phiếu Chính phủ đã phát hành cho các công trìnhquan trọng đến hạn Không sử dụng cho các mục tiêu khác

Đối với khoản thu từ phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ, sau khi trừ đicác khoản chi trực tiếp bằng ngoại tệ, Bộ Tài chính bán cho NHNN để tăng

dự trữ ngoại hối của Nhà nước theo tỷ giá trên thị trường ngoại tệ lien ngânhàng tại thời điểm bán; tiền đồng Việt Nam do NHNN trả được chuyển cho

Trang 27

KBNN tổ chức quản lý, hạch toán riêng tiền thu từ phát hành trái phiếu

và thanh toán gốc trái phiếu Việc thanh toán gốc trái phiếu trực tiếp từ NSNNđược thực hiện thông qua tài khoản này

2.2 - Thực trạng của công tác phát hành trái phiếu Chính phủ cho đầu

tư phát triển ở nước ta giai đoạn 2004 – 2008.

2.2.1 Khái quát tình hình phát hành TPCP cho đầu tư phát triển ở nước ta giai đoạn 2004 -2008.

Chiến lược phát triển KTXH 10 năm 2001 -2010 đã xác định phải nângcao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chínhtrị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹnlãnh thổ và an ninh quốc gia.Thời gian qua, bên cạnh việc ưu tiên bố trí cácnguồn lực tài chính tập trung cho ĐTPT, Đảng và Nhà nước đã thực hiệnnhiều biện pháp như phát hành công trái XDTQ năm 1999, công trái giáo dụcnăm 2003 …để bổ sung nguồn vốn đầu tư, góp phần tích cực trong việc pháttriển KTXH

Tuy nhiên, để thực hiện chiến lược phát triển KTXH đến năm 2010 và sựnghiệp CNH – HĐH đất nước đến năm 2020 cần phải đẩy nhanh hơn nữa tốc

độ huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế Do vậy, đồng thời với việc tăngcường bố trí nguồn vốn từ NSNN, huy động các nguồn vốn của nước ngoài vàcủa doanh nghiệp, Nhà nước cần huy động thêm vốn đầu tư từ phát hànhTPCP để xây dựng và đẩy nhanh tiến độ hoàn thành một số công trình hạ tầnggiao thông, thuỷ lợi quan trọng nhằm sớm phát huy tác dụng thúc đẩy pháttriẻn KTXH, xoá đói, giảm nghèo, bảo đảm an ninh quốc phòng, góp phầnthực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển KTXH của đất nước

Phát hành TPCP trong giai đoạn 2003 – 2010 là một chủ trương lớn củaĐảng và Nhà nước nhằm phát huy nội lực, huy động sự đóng góp của toàn

Trang 28

dân cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Nguồn thu từ TPCP được

sử dụng để đầu tư cho một số công trình giao thông, thuỷ lợi quan trọng củađất nước, góp phần hình thành và nâng cấp một cách cơ bản hệ thống giaothông và thuỷ lợi nước ta trong 10 năm tới

Công tác huy động vốn cho ĐTPT của Nhà nước ta trong giai đoạn hiệnnay chủ yếu được thực hiện thông qua phát hành TPCP qua KBNN và thu hútnguồn vốn vay nợ, viện trợ nước ngoài

Nhằm tăng cường khả năng huy động các nguồn vốn trong nước cho đầu

tư phát triển kinh tế, đồng thời tạo hàng hoá cho thị trường chứng khoán đãđược thành lập và đang đi vào hoạt động, Chính phủ ban hành Nghị định01/2000/NĐ-CP ngày 13/1/2000 về quy chế phát hành TPCP (thay thế Nghịđịnh 72/CP), sau đó là Nghị định 141/2003/NĐ-CP ngày 20/11/2003 (thay thếNghị định 01/2000/NĐ-CP) Theo đó, bên cạnh việc duy trì phương thức đấuthầu tín phiếu qua NHNN và phát hành trái phiếu trực tiếp ra công chúng qua

hệ thống KBNN, TPCP còn được phát hành theo hai phương thức mới: Đấuthầu qua trung tâm GDCK và bảo lãnh phát hành Trái phiếu phát hành theohai phương thức này được đăng ký, lưu ký, niêm yết và giao dịch tạiTTGDCK, tạo điều kiện cho việc phát triển thị trường thứ cấp TPCP Mặtkhác, quy chế mới cũng đã quy định rõ hơn về cơ chế phát hành TPCP, tráiphiếu chính quyền địa phương và trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh

Như vậy có thể nói sau khi Nghị định 141 có hiệu lực, Chính phủ chophép phát hành nhiều loại trái phiếu thì thị trường trái phiếu mới bắt đầu hìnhthành và phát triển mạnh, đặc biệt là sau sự ra đời của TTGDCK TP Hồ ChíMinh (nay là Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh)

Trong giai đoạn này số lượng TPCP phát hành cho NSNN và cho ĐTPTnói chung cũng như cho dự án, công trình do Trung ương và địa phương quản

lý đều tăng so với giai đoạn từ năm 2003 trở về trước về quy mô phát hành,

Trang 29

phương thức phát hành và kỳ hạn, phương thức trả lãi, đồng tiền phát hànhđược đa dạng hóa

Công tác quản lý, điều hành quỹ NSNN và huy động vốn cho ĐTPT đã

có nhiều bước phát triển quan trọng, tạo được những điều kiện tiền đề để thuhút nguồn vốn trung và dài hạn Phát hành TPCP đã trở thành một chủ trươngđúng đắn và là một giải pháp có hiệu quả trong việc chấm dứt phát hành tiền

để bù đắp thiếu hụt NSNN và kiềm chế lạm phát, tạo thế chủ động trong việcquản lý và điều hành NSNN, góp phần cùng với NHNN thực thi chính sáchtài chính – tiền tệ quốc gia Ngoài ra, phát hành TPCP còn góp phần thúc đẩy

sự ra đời và phát triển của thị trường vốn thông qua việc tạo ra nguồn hànghoá chủ yếu ban đầu đủ tiêu chuẩn niêm yết và giao dịch trên thị trườngchứng khoán

Tuy nhiên, nếu so sánh với thế giới và các trong khu vực, thị trường tráiphiếu ở Việt Nam còn rất hạn chế cả về qui mô và trình độ phát triển, chỉchiếm khoảng 13,72 %GDP (đến năm 2007) Thị trường trái phiếu quốc tế,

Mỹ, Nhật Bản và EU chiếm đến 80% Thị trường trái phiếu ở Singapore,Malaysia và Thái Lan phát triển mạnh hơn Việt Nam cũng chiếm khoảng 30-40% GDP

Trang 30

2.2.2 Công tác phát hành trái phiếu Chính phủ cho đầu tư phát triển ở

nước ta giai đoạn 2004 – 2008.

Vốn huy động thông qua hình thức phát hành TPCP được sử dụng cho hai mục đích, thứ nhất là để bù đắp thiếu hụt cho NSNN và thứ hai là để cho ĐTPT Từ năm

2004, công tác huy động vốn cho ĐTPT qua hệ thống KBNN đã có một bước phát triển mạnh mẽ mang tính đột biến cả về số lượng và chất lượng quản lý thông qua việc mở rộng quy mô phát hành các loại TPCP và ứng dụng công nghệ thông tin góp phần hoàn thiện quy trình quản lý và nâng cao chất lượng phục vụ của KBNN

Bảng 2.1: Kết quả huy động vốn bù đắp thiếu hụt NSNN và ĐTPT

giai đoạn 2004 – 2008.

Đơn vị: tỷ đồng

STT Mục đích sử dụng

Năm 2004

Năm 2005

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

1 Bù đắp thiếu hụt NSNN 22040 29000 33000 28000 33632

Nguồn: Kho bạc Nhà nước Việt Nam.

Trang 31

Trái phiếu Chính phủ cho ĐTPT giai đoạn 2004 - 2008 bao gồm công tráigiáo dục phát hành năm 2005 cho chương trình kiên cố hoá trường lớp học vàtrái phiếu giao thông thủy lợi phát hành trong giai đoạn 2004 – 2008 cho cácchương trình, dự án trọng điểm quốc gia Trong giai đoạn này Nhà nước đãhuy động được 55053 tỷ đồng dành riêng cho ĐTPT.

Bảng 2.2 : Tình hình thực hiện kế hoạch phát hành TPCP cho ĐTPT giai đoạn 2003-2008

(tỷ đồng)

Thực hiện (tỷ đồng)

Tỷ lệ thực hiện

Nguồn: Kho bạc Nhà nước

Kết quả phát hành TPCP cho ĐTPT trong giai đoạn 2004- 2008 đạt75% so với kế hoạch đặt ra là 73.000 tỷ đồng

2.2.2.1 Kết quả phát hành trái phiếu GT-TL cho các dự án, công trình trọng

điểm Quốc gia

Trang 32

Các công trình GT-TL là mạch máu của nền kinh tế, muốn phát triển kinh

tế không thể để tình trạng giao thông bế tắc Kinh tế hàng hoá cần đường bộ,đường sắt, đường biển, đường sông thông suốt, hiện đại, nhanh và đảm bảothuận lợi trong mọi thời tiết Giao thông luôn gắn với nhịp độ cuộc sống vàchất lượng cuộc sống của người dân; đảm bảo cho mọi miền, mọi miền đượckết nối, từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền núi Thủy lợiđảm bảo cho việc tưới tiêu, chống lũ lụt, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa

vụ, thực hiện chính sách an ninh lương thực, ổn định và nâng cao đời sốngcủa nhân dân nói riêng và toàn xã hội nói chung

Trong những năm qua, Nhà nước đã tập trung đầu tư cho hai lĩnh vực nàykhá lớn: hệ thống đường bộ nhất là tuyến quốc lộ đã được nâng cấp và mở ranhiều tuyến đường mới, hầu hết các xã đã có đường ô tô đến trung tâm xã; hệthống đường sắt đã được hiện đại hoá; nhiều cảng biển, cảng sông, sân bayđược nâng cấp mở rộng và xây dựng mới Hệ thống thuỷ lợi được hoàn thiện,nhiều hồ đập, kênh mương được xây dựng, chủ động tưới tiêu phục vụ nôngnghiệp ở nhiều vùng mà trước đay rất khó khăn

Tuy nhiên, do chiến tranh tàn phá, do thiên tai lũ lụt vv những côngtrình hạ tầng GT-TL bị ảnh hưởng, xuống cấp nghiêm trọng; thêm vào đóhiện tại nhiều công trình kết cấu hạ tầng quan trọng của nên kinh tế (đặc biệt

là các công trình GT-TL) cần sớm xây dựng và đưa vào khai thác sử dụng đểtạo ra năng lực sản xuất mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế xóa đói giảm nghèo,cải thiện đời sống nhân dân vì vậy vốn đầu tư của NSNN phải dành một phần

để phục hồi, nâng cấp những công trình đã có; và nhiều công trình xây dựngmới phải huy động các nguồn vốn khác hoặc kết hợp nhiều nguồn vốn (vốncủa doanh nghiệp, vốn tín dụng, vốn ODA, vốn vay ngân hàng nướcngoài ) Nhiều công trình, dự án nhóm A thuộc lĩnh vực GT-TL đã ghi kếhoạch 2001- 2005 nhưng chưa triển khai được vì thiếu vốn như: đường quốc

Trang 33

gia xuyên Việt, trục giao thông nối các vùng kinh tế xã hội, an ninh quốcphòng có vị trí chiến lược quan trọng để phát triển xuất khẩu, hội nhập; hệthống đường giao thông vành đai biên giới phía Bắc, các vùng Đông Bắc, TâyBắc, Trung Bộ, Tây Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long, tuyến giao thôngnối với các huyện ở Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Nam để khơi thôngnguồn lực phát triển kinh tế các tỉnh miền núi, các tỉnh có nhiều khó khăn.Một số công trình thuỷ lợi lớn ở Trung và Tây Nguyên nhằm phát triển sảnxuất, cải tạo môi trường, phong chống thiên tai Tái định cư thuỷ điện Sơn La,

Na Hang (Tuyên Quang) Đây là những dự án có tính quan trọng đối với sựphát triển KTXH, an ninh quốc phòng cần phải thực hiện ngay từ nay đếnnăm 2005 và gối đầu cho giai đoạn 2006- 2010 Vì vậy, việc huy động thêmnguồn vốn để đầu tư cho các công trình phục vụ phát triển kinh tế nói chung

và cho các công trình phát triển GT-TL quan trọng của đất nước nói riêng làrất cần thiết và cấp bách

Thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng đó, để giảm bớt gánh nặng choNSNN cần thiết phải phát hành TPCP để đầu tư cho các công trình GT-TLquan trọng của đất nước với thời gian triển khai thực hiện tương đối dài hạn

từ năm 2003 đến năm 2010 với tổng mức huy động là 110.000 tỷ đồng Khobạc Nhà nước trực tiếp phát hành và NSNN bố trí nguồn thanh toán gốc, lãiđúng hạn

Để đáp ứng nhu cầu bức xúc về vốn đầu tư cho các công trình GT-TLnhất là các công trình GT-TL miền núi theo Nghị quyết số 33/2004/QH11Ngày 09/11/2004 của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định tăngmức huy động trong giai đoạn 2003-2010 từ 63.000 tỷ đồng lên 110.000 tỷđồng Thống nhất trong nhận thức và chỉ đạo tổ chức thực hiện, coi việc huyđộng TPCP để đầu tư một số công trình GT-TL quan trọng của đất nước vàmột nhiệm vụ trung tâm của ngành tài chính trong những năm 2004 – 2008

Trang 34

Trái phiếu GT-TL được phát hành đợt 1 từ năm 2003 Từ đó đến nay KBNNliên tục phát hành qua các năm với số lượng TPCP ngày một tăng cao

Bảng 2.3: Tổng hợp phát hàng trái phiếu GT-TL từ năm 2004-2008.

Đơn vị: tỷ đồng/ triệu USD

Năm 2005

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

Tổng cộng

Nguồn: Kho bạc Nhà nước Việt Nam

Trong năm 2007, sau một thời gian nghiên cứu và chuẩn bị chu đáo,KBNN đã phối hợp với trung tâm Giao dịch chứng khoán, Trung tâm Lưu kýchứng khoán thực hiện thành công hai đợt phát hành trái phiếu lô lớn theo kỹthuật phát hành của các nước tiên tiến, nhằm cơ cấu lại thị trường trái phiếu,góp phần nâng cao tính thanh khoản của trái phiếu trên thị trường thứ cấp,từng bước hình thành đường cong lãi suất chuẩn TPCP, tạo cơ sở cho sự phát

Trang 35

triển ổn định, bền vững của thị trường chứng khoán Kỹ thuật phát hành này

đã nhận được sự đồng tình, hưởng ứng của đông đảo các nhà đầu tư, khốilượng vốn huy lớn, lãi suất thấp hơn so với các đợt phát hành cùng thời điểm,thể hiện hiệu ứng liên kết, hỗ trợ giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp,

mở ra một trang mới cho sự phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam

Bảng 2.4 : Tình hình giải ngân trái phiếu GT-TL từ 2003 đến 2008.

Đơn vị: tỷ đồng.

Trang 36

Nguồn: Kho bạc Nhà nước Việt Nam

Về tình hình giải ngân, nhìn chung quản lý sử dụng vốn huy động được từphát hành TPCP chặt chẽ Tuy tỷ lệ giải ngân chưa cao nhưng cơ bản đảm bảonguyên tắc giải ngân 80% khối lượng huy động của năm trước khi đề ra kếhoạch huy động năm sau

2.2.2.2 Kết quả phát hành công trái giáo dục cho chương trình kiên cố hoá

trường lớp học

Trang 37

Kiên cố hoá trường, lớp học là một Chương trình dự án trọng điểm Quốcgia để nâng cao chất lượng giáo dục và thực hiện mục tiêu của chiến lượcphát triển giáo dục đến năm 2010 và những năm tiếp theo Trong điều kiệnNSNN còn nhiều khó khăn, cơ sở vật chất của ngành giáo dục đặc biệt là giáodục phổ thông và giáo dục tiểu học còn nhiều thiếu thốn Để phát triển sựnghiệp giáo dục, bên cạnh tăng cường cơ sở vật chất và hiện đại hoá cáctrường, lớp học đã đủ tiêu chuẩn, cần đầu tư để xóa tình trạng học 3 ca vàphòng học tranh tre nứa lá là một mục tiêu hết sức quan trọng mà Đảng ta đã

đề ra trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến năm 2010: “ Tăng cườngđầu tư cho giáo dục từ ngân sách Nhà nước và đẩy mạnh xã hội hoá giáo dụcđào tạo Khuyến khích mạnh mẽ các thành phần kinh tế đầu tư phát triển giáodục ở tất cả các bậc học, đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội Ngân sách Nhànước tập trung nhiều hơn cho các các bậc giáo dục phổ cập, cho vùng nôngthôn, miền núi đảm bảo học tập cho con em người có công và gia đìnhnghèo ”

Phát hành Công trái giáo dục là một chủ trương quan trọng của Đảng vàNhà nước, là hình thức huy động vốn thông qua việc vận động chính trị nhằmđộng viên các tầng lớp dân cư, các cơ quan đơn vị, tổ chức kinh tế trên tinhthần tự nguyện và tùy theo khả năng của mình tích cực tham gia mua côngtrái, góp phần tăng cường đầu tư cho sự nghiệp giáo dục đào tạo của đất nước

Để thực hiện mục tiêu xóa phòng học 3 ca, phòng học tranh tre nứa lá vàkiên cố hóa trường học theo Nghị quyết 09/2002/NQ-QH11 ngày 28/11/2002của Quốc hội và Nghị định số 28/2003/NĐ-CP ngày 31/3/2003 của Chínhphủ, Nghị định số 42/2005/NĐ-CP ngày 29/3/2005 của Chính phủ, Bộ Tàichính đã phát hành 02 đợt Công trái giáo dục theo phương thức bản lẻ qua hệthống KBNN với tổng khối lượng huy động được 5.396 tỷ đồng trong đó đợt

1 ( từ 5/5 đến hết 23/5/2003) huy động được 2.580 tỷ đồng và đợt 2 (từ

Trang 38

19/5/2005 đến hết 03/6/2005) huy động được 2.816 tỷ đồng, đạt 110% so với

kế hoạch được giao (5.396tỷ/4.900 tỷ đồng)

Theo Nghị định số 42/2005/NĐ-CP ngày 29/3/2005 của Chính phủ vềviệc phát hành công trái giáo dục năm 2005, Bộ Tài chính đã khẩn trươngnghiên cứu, ban hành cơ chế chính sách có liên quan đến việc phát hành côngtrái giáo dục Đến ngày 22/4/2005, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật vàcác tài liệu chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ đã được ban hành đầy đủ, đồng bộ

và được gửi đến các Bộ ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các địa phương,các cơ quan thông tấn, báo chí, phát thanh truyền hình để triển khai kịp thờicuộc vận động phát hành công trái giáo dục từ ngày 19/5/2005 trên phạm vi

cả nước

Từ kinh nghiệm của đợt phát hành công trái giáo dục 2003, KBNN đãchủ động phối hợp với Nhà máy In tiền Quốc gia để in và phân phối chứngchỉ kịp thời, với cơ cấu các loại mệnh giá hợp lý, đảm bảo cung cấp kịp thờicho các điểm bán công trái có đủ số lượng, chủng loại chứng chỉ cần thiếttrước khi phát hành

Ngày 19/5/2005, hệ thống KBNN đồng loạt tổ chức việc phát hành côngtrái giáo dục với hàng nghìn bàn phát hành trên phạm vi cả nước KBNN cáctỉnh, thành phố đã bố trí địa điểm và thời gian bán công trái hợp lý, bố tríthêm các bàn bán công trái lưu động tạo thuận lợi nhất cho người mua côngtrái

Theo số liệu điện báo của 64 tỉnh, thành phố, tổng khối lượng công tráigiáo dục đã phát hành tính đến hết ngày 03/6/2005 là 2.803 tỷ đồng; so với kếhoạch ban đầu đạt 187% (2.803 tỷ đồng/1.500 tỷ đồng); so với tổng mức chỉtiêu sau khi được Chính phủ bổ sung đạt 104% (2.803 tỷ đồng/2.700 tỷ đồng)

Bảng 2.5: Kết quả thực hiện việc phát hành công trái giáo dục so với

kế hoạch vận động năm 2005.

Trang 39

Đơn vị: Tỷ đồng

4 Các doanh nghiệp thuộc

TW

Nguồn: Kho bạc Nhà nước Việt Nam

Tính đến ngày 03/6/2005, tất cả 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương đều hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch huy động từ khu vực dân cư.Trong đó, một số địa phương có thành tích nổi bật (đạt tỷ lệ từ 200% trở lên

so với chỉ tiêu kế hoạch hoặc có khối lượng phát hành từ 15 tỷ đồng trở lên)

Bảng 2.6: Kết quả thực hiện việc phát hành công trái giáo dục năm

Trang 40

Nguồn: Kho bạc Nhà nước Việt Nam

Đợt phát hành công trái giáo dục 2005 đã hoàn thành vượt mức chỉ tiêuđược Chính phủ giao (đạt 187% kế hoạch ban đầu và 104% kế hoạch bổ sung)đảm bảo nguồn vốn để thực hiện chương trình xóa bỏ phòng học ca 3, tranhtre, nứa lá, kiên cố hóa trường lớp học Các địa phương đều hoàn thành kếhoạch từ 100% đến 386%, kể cả những tỉnh kinh tế còn có có khó khăn ở cácvùng: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ

Việc quản lý, sử dụng các nguồn vốn của chương trình được thực hiệntheo quy chế quản lý đầu tư xây dựng; việc cấp phát và thanh toán vốn đầu tưđược thực hiện theo Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính, do đó đã giảmđược đến mức thấp nhất hiện tượng thất thoát, tiêu cực đối với các công trìnhtrường học được xây dựng thuộc Chương trình Kiên cố hóa trường lớp học.Theo báo cáo của các địa phương thuộc đối tượng thực hiện chương trìnhKiên cố hóa trường lớp học, kết quả huy động các nguồn vốn thực hiệnChương trình đạt được như sau:

Tổng số vốn đã huy động để thực hiện chương trình là 9.310 tỷ đồngđược chia theo nguồn vốn như sau:

Ngày đăng: 04/09/2012, 14:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS. Nguyễn Bạch Nguyệt, TS. Từ Quang Phương (2007), Giáo trình kinh tế đầu tư, NXB đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Khác
2. PGS.TS Lê Văn Hưng (2006), Các giải pháp nhằm tăng cường công tác huy động vốn cho đầu tư phát triển của Nhà nước giai đoạn 2005-2010, NXB Tài chính, Hà Nội Khác
3. Bộ Tài chính (2000), Kho bạc Nhà nước Việt Nam - quá trình hình thành và phát triển, NXB bản Tài chính, Hà Nội Khác
4. Bộ Tài chính (2003), Đề án phát hành trái phiếu Chính phủ để đầu tư một số công trình hạ tầng kinh tế xã hội quan trọng của Nhà nước Khác
5. Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước Việt Nam (2005), giáo trình bồi dưỡng nghiệp vụ Kho Bạc Nhà nước, NXB Tài chính, Hà Nội Khác
6. Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước Việt Nam (2006, 2007, 2008), Tài liệu hội nghị tổng kết công tác các năm 2006, 2007, 2008 hệ thống Kho bạc Nhà nước, Hà Nội Khác
7. Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước Việt Nam (2008), Chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước đến 2020, NXB Tài chính, Hà Nội Khác
8. Hồ Xuân Phương, Lê Văn Ái (2004), giáo trình quản lý tài chính Nhà nước, NXB Tài chính, Hà Nôi Khác
9. Lê Văn Hưng (2004), Huy động vốn cho đầu tư phát triển của Nhà nước – thực trạng và giải pháp Khác
10. Kho bạc Nhà nước Việt Nam, ban huy động vốn (2004, 2005, 2006, 2007, 2008), Báo cáo tổng kết công tác các năm 2004, 2005, 2006, 2007, 2008, Hà Nội Khác
11. Thủ tướng Chính phủ (2003), Quyết định số 182/2003/QĐ-TTg ngày 05/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phát hành trái phiếu Chính Khác
12. Chính phủ (2003), Nghị định số 141/2003/NĐ-CP ngày 20/11/2003 của Chính phủ về việc phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu Chính quyền địa phương Khác
13. Bộ Tài Chính (2004), Thông tư số 19/2004/TT-BTC ngày 18/03/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc đấu thầu tín phiếu kho bạc và trái phiếu ngoại tệ qua NHNN Việt Nam Khác
14. Bộ Tài chính (2004), Thông tư số 32/2004/TT-BTC ngày 12/04/2004 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn phát hành trái phiếu Chính phủ qua hệ thống Kho bạc Nhà nước Khác
15. Bộ Tài chính (2004), Quyết định số 66/2004/QĐ-BTC ngày 11/08/2004 của Bộ Tài chính ban hành quy chế hướng dẫn về trình tự, thủ tục phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu Chính quyền địa phương Khác
16. Bộ Tài chính (2006), Quyết định số 4/2006/QĐ-BTC ngày 6/09/2006 của Bộ Tài chính về quy chế phát hành trái phiếu Chính phủ theo lô lớn Khác
17. Một số website: www.tapchiketoan.com ; www.vneconomy.vn ; www.hanoigov.vn ; www.vietbao.vn ; www.vnexpresss.net ; www.vietnamnet.vn ; www.vbpq.mof.gov.vn ; www.diendankinhte.info ;… Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG LIỆT KÊ CÁC CHỮ VIẾT TẮT. - Phát hành trái phiếu Chính phủ cho đầu tư phát triển - Kho bạc Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn 2004 - 2008.DOC
BẢNG LIỆT KÊ CÁC CHỮ VIẾT TẮT (Trang 1)
Bảng 2.1: Kết quả huy động vốn bù đắp thiếu hụt NSNN và ĐTPT - Phát hành trái phiếu Chính phủ cho đầu tư phát triển - Kho bạc Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn 2004 - 2008.DOC
Bảng 2.1 Kết quả huy động vốn bù đắp thiếu hụt NSNN và ĐTPT (Trang 30)
Bảng 2.2 : Tình hình thực hiện kế hoạch phát hành TPCP cho ĐTPT - Phát hành trái phiếu Chính phủ cho đầu tư phát triển - Kho bạc Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn 2004 - 2008.DOC
Bảng 2.2 Tình hình thực hiện kế hoạch phát hành TPCP cho ĐTPT (Trang 31)
Bảng 2.3: Tổng hợp phát hàng trái phiếu GT-TL từ năm 2004-2008. - Phát hành trái phiếu Chính phủ cho đầu tư phát triển - Kho bạc Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn 2004 - 2008.DOC
Bảng 2.3 Tổng hợp phát hàng trái phiếu GT-TL từ năm 2004-2008 (Trang 34)
Bảng 2.6: Kết quả thực hiện việc phát hành công trái giáo dục năm - Phát hành trái phiếu Chính phủ cho đầu tư phát triển - Kho bạc Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn 2004 - 2008.DOC
Bảng 2.6 Kết quả thực hiện việc phát hành công trái giáo dục năm (Trang 39)
Hình thức chiết khấu: áp dụng trong trường hợp trái phiếu được phát  hành thành từng đợt, thời gian phát hành mỗi đợt không quá hai tháng, có xác  định trước thời điểm phát hành và thời điểm kết thúc - Phát hành trái phiếu Chính phủ cho đầu tư phát triển - Kho bạc Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn 2004 - 2008.DOC
Hình th ức chiết khấu: áp dụng trong trường hợp trái phiếu được phát hành thành từng đợt, thời gian phát hành mỗi đợt không quá hai tháng, có xác định trước thời điểm phát hành và thời điểm kết thúc (Trang 46)
Bảng   2.10:  Kết   quả   đấu   thầu   TPCP   do   KBNN   phát   hành   qua - Phát hành trái phiếu Chính phủ cho đầu tư phát triển - Kho bạc Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn 2004 - 2008.DOC
ng 2.10: Kết quả đấu thầu TPCP do KBNN phát hành qua (Trang 48)
Bảng 2.11:  Kết quả phát hành TPCP theo phương thức bảo lãnh - Phát hành trái phiếu Chính phủ cho đầu tư phát triển - Kho bạc Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn 2004 - 2008.DOC
Bảng 2.11 Kết quả phát hành TPCP theo phương thức bảo lãnh (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w