1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyên đề về lộ trình phát triển phát thanh số và mô hình công nghệ phát thanh số

414 501 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyên đề về lộ trình phát triển phát thanh số và mô hình công nghệ phát thanh số
Trường học Hanoi University of Science and Technology
Chuyên ngành Broadcasting Technology
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 414
Dung lượng 14,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khu vực sản xuất chương trình - _ Từ năm 1994 Đài Tiếng nói Việt Nam đã nghiên cứu và ứng dụng những thành tựu của công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng âm thanh: Nghiên cứu, thử n

Trang 1

ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM

ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ

PHÁT THANH SỐ TẠI VIỆT NAM

CÁC CHUYÊN ĐỀ VỀ

LỘ TRÌNH PHÁT TRIỀN PHÁT THANH SỐ

&MÔ HÌNH CÔNG NGHỆ PHÁT THANH SỐ

KS Đoàn Việt Trung

Hà Nội - 2005

5⁄9⁄2-3 ALG hoG

Trang 2

LỘ TRÌNH CHUYEN SANG CÔNG NGHỆ

PHÁT THANH SỐ TẠI VIỆT NAM

A MỞ ĐẦU

Như chúng ta đã biết, phát thanh đã có lịch sử phát triển triển hơn một 100

năm Lịch sử phát triển của ngành phát thanh không chỉ gắn liền với lịch sử phát

triển tiến bộ của khoa học công nghệ Phát thanh là phương tiện thông tin quảng quá, là công cụ truyền thông hữu hiệu nhất ngay cả khi xuất hiện và phát triển các phương tiện mới như truyền bình, Internet Và trong nhiều năm trở lại đây, ở

nhiều nước đã trở thành một ngành kinh tế

Cùng với sự phát triển rất nhanh chóng của công nghệ điện tử viễn thông, công nghệ thông tin, truyền hình, phát thanh đang chuyển sang một giai đoạn mới giai đoạn của công nghệ kỹ thuật số Chuyển sang công nghệ phát thanh số là xu

thế tất yếu và quá trình chuyển đổi đang diễn ra tại nhiều nước trên thế giới và

trong khu vực Tuy nhiên, cũng giống như truyền hình, phát thanh liên quan tới hàng triệu người nghe đài, việc chuyển đổi công nghệ sẽ ảnh hưởng tới hàng triệu

người dân nên đối với bất kỳ một quốc gia nào, một đài phát thanh nào đều phải

hết sức cẩn trọng trong việc xây dựng chiến lược, kế hoạch chuyển đối Ngoài ra,

phát thanh lại không chỉ bó hẹp trong phạm vi một quốc gia, nó mang tính chất toàn cầu không chỉ vì người nghe ở ngoài biên giới mà còn vì lý do máy thu Đối với hầu hết các nước, sẽ không thể phát triển được thị trường máy thu nếu như

máy thu thanh đó chỉ có thể sử dụng được tại một quốc gia Chính vì vậy cần xây

dựng lộ trình chuyển sang công nghệ phát thanh số phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị của từng quốc gia

B.LO TRINH CHUYEN SANG PHAT THANH SO

Sản phẩm của phát thanh là kết quả của một tập thể lao động sáng tạo đó là

những biên tập viên, phóng viên, các kỹ thuật viên sản xuất chương trình, các kỹ thuật viên truyền dẫn phát sóng và đội ngũ cán bộ quản lý Để người nghe thu nhận được các sản phẩm đó thị trường máy thu thanh đóng một vai trò hết sức

quan trọng Như vậy để thay đổi một công nghệ trong dây chuyển đó phải đánh giá

xem xét tổng thể Công nghệ sản xuất chương trình phải đồng bộ với công nghệ truyền dẫn và phát sóng, công nghệ cho máy thu thanh cũng phải đồng bộ theo.

Trang 3

Dịch vụ của phát thanh là địch vụ mang tính đặc thù khác với địch vụ truyền hình, Internet, thông tin đi đông, quảng cáo Tuy nhiên, sự phát triển của ngành phát thanh lại nằm trong sự phát triển chung của công nghệ thông tin liên lạc, điện

tử viễn thông

1 Sân xuất chương trình phát thanh

Như đã trình bày ở các phần trên, phát thanh sẽ chuyển sang kỹ thuật số cùng

với sự ứng dụng triệt để công nghệ thông tin Qui trình sản xuất chương trình phát

thanh sẽ thay đổi phù hợp với khả năng của hệ thống thiết bị thế hệ mới

Khu vực sản xuất chương trình phát thanh sẽ chuyển sang mô hình công nghệ

kỹ thuật số với sự ứng dụng của mạng máy tính âm thanh và biên tập tin Tất cả các dự án đầu tư mới của Đài TNVN đều theo mô hình công nghệ đó Với các hệ thống chưa sử dụng mạng máy tính âm thanh sẽ được nâng cấp theo mô hình công

nghệ hiện đại Tín hiệu ra của hệ thống là tín hiệu nén phải có định dạng chuẩn

Các phần mềm biên tập tin sẽ liên tục được phát triển, cho nên trong từng thời kỳ sẽ lựa chọn những phần mềm phù hợp và thống nhất sử dụng chung trong toàn Đài TNVN và tốt nhất là trong toàn ngành Tuy nhiên cũng có thể sử dụng

các phần mềm khác nhau nhưng đòi hỏi có khả năng tích hợp để trao đôi đữ liệu

Khi lựa chọn những phần mềm sử dụng phần cứng chuyên dụng (sound card), cần đâm bảo yếu tố tương thích về đữ liệu và thống nhất về phần cứng

Các thiết bị thu thanh lưu động của phóng viên là những thiết bị thu thanh số

Phóng viên trao đổi tin, bài (âm thanh, văn bản) về trung tâm tin qua hệ thống

thông tin liên lạc công cộng theo mô hình chuẩn

Các thiết bị sản xuất chương trình như bàn trộn, máy ghi âm, thiết bị xử lý tín hiệu sẽ chuyên sang công nghệ số Các thiết bị ghỉ âm analog chỉ được sử dụng

hạn chế, dùng để phát những băng đã có Tất cả các bản ghí âm thanh mới đều chuyển ghí lên các phương tiện như CD, MD, DVD hoặc ô cứng của máy tính Lưu trữ là vấn đề rất lớn, Đài Tiếng nói Việt Nam sẽ có dự án riêng về chiến lược lưu trữ cho ngành phát thanh Việt Nam Trong đó sẽ xác định chính sách lưu trữ, phương tiện lưu trữ; sẽ đề ra lộ trình, qui trình chuyển đổi các phương tiện lưu trữ.Các đữ liệu âm thanh, văn bản được lưu trữ đưới đạng số Tư liệu âm thanh lưu

trữ lâu đài là tín hiệu số không nén

Sau 2010 sẽ không sử dụng băng ghi âm từ tính

Xây dựng các chương trình đa phương tiện : Từ 2006 bắt đầu xây đựng các dịch vụ giá trị gia tăng : đâu tiên là xây dựng các đữ liệu kèm theo chương trình (

Trang 4

tên tác giả, bài hát, người biểu diễn .) - phát triển từ các phần mềm biên tập âm thanh hiện đang dùng tại Đài TNVN Tiếp sau đó là mở rộng tính hấp dẫn cho các

chương trình các hệ phát thanh chăng hạn như đặt camera tại các phòng thu để đưa thêm hình ảnh các chương trình trực tiếp, giao lưu, giải trí v.v lên mạng Internet và phát thanh số Mở rộng các dịch vụ gia tăng khác ( như thông tin giao thông, thời

tiết, thị trường v.v.)

2.⁄Lưu trữ âm thanh:

Lưu trữ âm thanh sẽ hoàn toàn chuyển sang công nghệ số Tuy nhiên cần tiến

hành nghiên cứu để xác định phương tiện lưu trữ cho phù hợp Phương tiện lưu trữ phải đảm bảo cả về công nghệ và độ an toàn, ngoài ra sẽ hoạch định quá trình chuyển đổi cho nên cũng chưa xác định được một cách đầy đủ

3./Truyền dẫn phái sóng :

Đến năm 2008 sẽ hoàn tất phủ sóng TNVN bằng hệ thống analog Sau 2008

không xây dựng mới các đài phát sóng analog Nếu có nhu cầu (đột xuất) mở rộng thêm kênh thì sẽ tru tiên sử dụng hệ thống phát sóng FM với mô hình nhiều máy phát phát trên một hệ thống anfen

Duy trì phát sóng analog cho tới năm 2020 Từ năm 2007 bắt đầu phát sóng

digital song song với phát analog Năm 2007 phát sóng đối ngoại bắt đầu chuyển

sang phát số và tới 2020 chuyên hẳn sang số

Đài TNVN sẽ lập qui hoạch phát triển phát thanh số Tuy nhiên có thể quán

triệt tỉnh thần là sẽ chuyển sang phát thanh số một cách từ từ, giai đoạn chuyển tiếp là 10 đến 15 năm Trơng giai đoạn chuyển tiếp đó (bắt đầu từ 2007) những đầu tư phát triển mới sẽ tập trung vào phát thanh số với tiêu chuẩn đã chọn lựa là

DAB Bên cạnh đó, tiến hành cải tiến và thay đổi các máy phát thế hệ mới sang DRM - phát song song cả analog và số Khu vực triển khai phát thanh số đầu tiên

sẽ là khu vực thành phố, đông dân cư

4./ May thu

Máy thu thanh là một vấn đề hết sức quan trọng Làm tốt van dé đầu thu sẽ

tăng được đáng kế số lượng bạn nghe đài Trong giai đoạn vừa qua Đài TNVN hầu như không đầu tư vào khu vực này và trong thực tế thị trường máy thu thanh bị bỏ

Trang 5

ngỏ, trông chờ vào nhập ngoại Các doanh nghiệp lại không chú trọng vào khu vực này vì lợi nhuận rất thấp

Trong thời gian tới Đài TNVN sẽ chủ động phát triển sản xuất máy thu thanh cho người dân; phát triển màng lưới các nhà phân phối để nhanh chóng mở rộng thi trường máy thu Các máy thu thanh sử dụng cho khu vực thành phố, vùng đồng bằng chỉ có hai băng sóng AM MW va EM Cac may thu sir dung cho ving nui sẽ

có thêm băng sóng ngắn AM SW

Sau năm 2006 sẽ bat đầu nhập linh kiện đề lắp ráp máy thu thanh số Thời kỳ đầu tập trung vào thị trường máy thu trên ô tô Liên kết với các hãng sản xuất ô tô

trong nước để sản xuất máy thu thanh số lắp trên ô tô

§Š⁄ Nghiên cứu phat triển và đỗi mới công nghệ

Cho tới năm 2005 Trung tâm RTC làm đầu mối quản lý công tác nghiên cứu triển khai của Đài TNVN và ngành phát thanh Các đơn vị trực thuộc Đài TNVN

tổ chức thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học

Năm 2010 thành lập Viên nghiên cứu phát thanh Viện sẽ thực hiện những đề tài nghiên cứu cơ bản và triển khai ứng dụng:

Đến 2008 làm chủ được công nghệ sản xuất chương trình hiện đại Sau 2008

sẽ tự sản xuất ra những phần mềm biên tập âm thanh của Viêt Nam

Đến 2015 làm chủ được công nghệ chế tạo máy thu thanh số

Sau 2015 làm chủ công nghệ máy phát thanh số

Dự kiến kinh phí cho nghiên cứu triển khai là 1,5 đến 2 % tổng kinh phí thực biện của Đài TNVN Trong đó 70 đến 80% là nguồn ngân sách sự nghiệp khoa học, 20% đến 30% là nguồn vốn tự có của Đài TNVN và các đài PTTH địa

phương

Trang 6

TẠI ĐÀI TIÊNG NÓI VIỆT NAM 6

I TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU KHOA 09.0 6

1 Khu vực sản xuất chương 0 -:©:1ỌỌÖ 6

2 Khu vực truyền dẫn phát sóng ENeo ai Ji nh

4, Cong tác đo lường kiểm tra, giám sát chất lượng: -sà tessa 22s 9

1 Đội ngũ cán bộ thực hiện công tác nghiên cứu

2 Khả năng đề xuất và năm bắt vân đề

3 Khả năng thực hiện và triển khai nhiệm vụ nghiên cứu khoa học

4 Khả năng ứng dụng vào thực Ế -cccccsvercccerrreee

5 Năng lực quản lý các hoạt động khoa học cuc nh HH HH kh He 13

T MOT SO KHALI NIEM 067586 15

II KHÓI SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH set 15

1) Hệ thông sản xuất chương trÌnh à- các Ttàn ng xe

a) Giai đoạn trước năm 2000- công nghệ truyền thống ky thuat analog

b) Giai đoạn sau năm 2000- giai đoạn chuyên đổi sang công nghệ hiện đại

2) Khâu thu phát thanh lưu động và tường thuật trực tiệp -.17

3) Khâu lưu trữ tư liệu vs 18

4) Cac phong nh " 18 5) Cac co quan thường FÚ cv HH 11111211112 1211110110111 41 gu 19

II KHÓI TRUYÊN DẪN VÀ PHÁT SÓNG PHÁT THANH e- 19

1) Mở rộng và xây dựng các cơ sở phát SÓnE - c1 re 19 2) Vùng phủ sóng se

3) Trình độ kỹ thuật công nghệ

HI PHÁT THANH TRÊN INTERNETT c2-2cetii.2EEErrrerEirrirrkarkrrrrrerrrie 26

IV NANG LUC CHUYEN MON, TRINH DO QUAN LY KY THUAT.27

Trang 7

Công nghệ Internet 7

Xu hướng hội tụ giữa tin học, viên thông, phát thanh, truyền hình

Il XU HUONG PHAT TRIEN CÔNG NGHỆ PHÁT THANH 38

1 Khu vực sản xuất, chương CHO .- 3

a) Tiên trình chuyÊn đỒI s12 21111 HH

b) Mô hình sản xuất chương trình phát thanh hiện đại "

c) Mang máy tính phát thanh LH HH nhu

d) Hệ thống lưu trữ đữ liệu âm thanh và văn bản à 20 tr nreeerre e) Mang WAN trao đổi thông tin “

2 Khu vực truyền dẫn phát SONG ác hen ru ưa 42 a) Hoàn thiện công nghệ truyền thống -22 25022222222 21112 are 42

Công nghệ điều biên

Công nghệ điều tần

b) Chuyển sang phát thanh số là xu hướng phát triển 43

PHAN 4 ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU ỨNG ĐỤNG KHOA HỌC KỸ THUẬT

VÀ PHÁT TRIẾN CÔNG NGHỆ PHÁT THANH ĐÉN NĂM 2010 48

I QUAN DIEM PHAT TRIE 1 + 48

1 Phát triển nguồn lựe 222222E t2 111122112122 rxe 48

Cu ong o0 48

b) Từng bước phát triển cơ quan nghiên cứu 49

c) Phat trién cac mỗi quan hệ với các ngành và các cơ quan tô chức quốc tÊ 49

2 Nghiên cứu gắn liên với nhu cầu thực tế, nghiên cứu đi trước một bước 50

a) Công tác nghiên cứu gắn liền với công tác chuyên môn

b) Công tác nghiễn cứu phục vụ cho định hướng phát triển

II ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU ĐÉN NĂM 2010 -S.2cseeksrreerreerree 52

1 Nghiên cứu những vấn đề lớn, có ý nghĩa quyết định hướng phát triển công nghệ kỹ

"80 TA ốc 1) Định hướng cho khu vực truyền dẫn và phát sóng:

2) Định hướng cho khu vực sản xuất chương trình 5s TH v22 rree

3) Định hướng cho các dịch vụ khác như Internet, quảng cáo -. -.cc ¿ 54

4 Dinh hudng phương tién thu nghe oe eee cceeeeeseenesesseeeeeeseeeuetetesescseteeeteees 55

Trang 8

2 Nghiên cứu giải quyết những vấn đề cụ thê để nâng cao chất lượng và hiệu quả của

hệ thông thiết bị cv nH 1222220 1 re 35

3 Nghiên cứu chế tạo các thiết bị công nghệ mới 2 St nen eye 55

4 Céng tác thông tin khoa học cty 56

5 Xây dựng tiêu chuẩn, do lường kiểm chuẩn 2-52-5222 cv 222tr 56

6 Cong tac da0 tao 461 gt ee nh HH HH Hà Ha 56

Trang 9

Mở đầu

Đảng và Nhà nước đánh giá rất cao vai trò của khoa học công

nghệ trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế đất nước Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) đã đưa ra phương hướng phát triển giáo dục - đảo tạo, khoa học và công nghệ đến năm 2005 và đến năm

2010 Kết luận của Hội nghị Trung ương 6 (khoá IX) là tiếp tục thực

hiện nghị quyết quan trọng này Ngày 31 tháng 12 năm 2002 Thủ

tướng Chính phủ đã có Quyết định phê duyệt Chương trình hành động

của Chính phủ thực hiện Kết luận của Hội nghị Trung ương 6 (khoá

IX) Thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ, Bộ Khoa học

Công nghệ cũng như các Bộ, Ngành đều nỗ lực đẫy mạnh hoạt động

khoa học công nghệ (KHCN)

Năm 2003 là năm bản lề của kế hoạch 5 năm, Tiếng nói Việt Namđã có nhiều đổi mới về nội dung chương trình,về công nghệ kỹ thuật phát thanh Nhiều dự án đầu tư đã và đang được triển khai nhằm

nâng cao chất lượng và vùng phủ sóng phát thanh Qui hoạch phát

thanh Việt Nam đến năm 2010 và sau 2010 đang được trình Chính phủ phê duyệt Đề công tác nghiên cứu khoa học phục vụ tốt cho sự nghiệp

phát triển, đổi mới sự nghiệp phát thanh, việc định hướng nghiên cứu

là hết sức cần thiết Trong thời đại bùng nỗ thông tin và phát triển

nhanh chóng của khoa học và công nghệ, công tác định hướng lại

càng có ý nghĩa hơn Để đạt mục tiêu phát triển nhanh và bền vững chúng ta cần có định hướng đúng đắn phát triển phát thanh Việt Nam Định hướng công nghệ cho Tiếng nói Việt Namđồng thời là định hướng

cho phát thanh Việt Nam :

Mục tiêu của đề tài là đưa ra định hướng nghiên cứu về khoa hoc

kỹ thuật phục vụ phát thanh đến 2010 Để dat được mục tiêu đó, nhóm

đề tài đã thực hiện một số chuyên đề nghiên cứu về xu hướng phát triển công nghệ trên thế giới, tập trung vào một số lĩnh vực có liên quan

công nghệ phát thanh, công nghệ thông tin và viễn thông Đề tài cũng

đánh giá về hiện trạng của hệ thống kỹ thuật phát thanh, hiện trạng và

năng lực nghiên cứu kỹ thuật của Đài Tiếng nói Việt Nam Từ những

kết quả nghiên cứu trên đưa ra kiến nghị về định hướng nghiên cứu kỹ thuật cho Đài Tiếng nói Việt Namđiên năm 2010 Chúng tôi ý thức sâu

Trang 10

sắc là định hướng đúng: công tác nghiên cứu sẽ góp phần để phát

thanh Việt Nam phát triển theo kịp với các nước khác trong khu vực và

Nội dung của báo cáo tổng quan để cập tới những vấn đề sau:

- Đánh giá tổng kết tình hình nghiên cứu khoa học kỹ thuật, năng

lực nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng kỹ thuật phát thanh Việt Nam

-_ Xu hướng phát triển công nghệ thông tin và viễn thông, công nghệ phát thanh

- Dinh hướng nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật và phát triển

công nghệ của Tiếng nói Việt Namđến năm 2010

- Các giải pháp thực hiện

- — Kết luận

- Phụ lục: các báo cáo chuyên đề chuyên sâu về các vấn đề của đề

tài.

Trang 11

PHAN 1

ĐÁNH GIA TONG KET TINH HINH NGHIEN CỨU KHOA HOC KY THUAT, NANG LUC NGHIEN

CUU TAI DAI TIENG NOI VIET NAM

Trong thời gian vừa qua Phát thanh Việt Nam đã phát triển ngang

tầm với khu vực Trong đó, kỹ thuật phát thanh Việt Nam đã đạt trình

độ cao, ứng dụng nhiều công nghệ hiên đại, tiên tiến nhất Đạt được

những thành tựu đó có sự đóng góp không nhỏ của công tác nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật, công nghệ mới Trong từng thời kỳ khác nhau,

công tác nghiên cứu ứng dụng có những đặc điểm riêng Trong phần này chúng tôi sẽ tổng kết đánh giá lại tình hình nghiên cứu trong thời

gian qua Đánh giả năng lực nghiên cứu và rút ra một số kinh nghiệm

phát thanh, có đề tài nghiên cứu để xác định công nghệ ứng dụng, có

đề tài nghiên cứu giải quyết những vấn để kỹ thuật cụ thể để nâng cao

chất lượng cho hệ thống thiết bị, khắc phục tồn tại của hệ thống Đài

Tiếng nói Việt Nam cũng đã có đề tài thuộc nhóm xây dựng tiêu chuẩn ngành và tiêu chuẩn Việt Nam

1 Khu vực sản xuất chương trình

- _ Từ năm 1994 Đài Tiếng nói Việt Nam đã nghiên cứu và ứng dụng những thành tựu của công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng

âm thanh: Nghiên cứu, thử nghiệm và đưa vào khai thác chính

thức hệ thống máy tính âm thanh phục vụ cho chương trình âm nhạc và tin tức phát sóng 24giờ/ngày

- — Để tài nghiên cứu công nghệ san xuất chương trình phát thanh

hiện đại đã được triển khai từ năm 1998 Đề tài đã đi sâu nghiên

cứu về các công nghệ sản xuất chương tình phát thanh tiên tiến nhất trên thế giới Xác định qui mô kỹ thuật của các hệ thống san

xuất chương trình phát thanh Trung ương và địa phương

*

Trang 12

Trên cổ sở áp dụng thành công hệ thống qui mô nhỏ và kết quả nghiên cứu về công nghệ phát thanh, năm 1999 Đài Tiếng nói Việt Nam đã triển khai Dự án trang bị hệ thống sản xuất chương

trình phát thanh theo công nghệ hiên đại dựa trên cơ sở mạng

máy tính âm thanh và biên tâp tin văn bản Hiện nay hệ thống thiết bị công nghệ của Đài Tiếng nói Việt Nam vào loại hiện đại

nhất trong khu vực Sự thành công ở đây thể hiện rõ năng lực nghiên cứu, sự sáng tạo và ý chí quyết tâm cao, không sợ khó khăn, đi thẳng vào công nghệ hiện đại Trong cuộc "cách mạng" này, đội ngũ cán bộ kỹ thuật phát thanh Việt Nam đã có thêm lực lượng mới hết sức quan trọng đó là các chuyên viên công nghệ thông tin

Nghiên cứu ứng dụng đưa vào khai thác hệ thống xứ lý nâng cao chất lượng các băng ghi âm cũ Hệ thống này sử dụng máy tính, các thiết bị xử lý tín hiệu số và những phần mềm đặc chủng

Nghiên cứu, thử nghiệm và đưa vào khai thác hệ thống thu nhạc

với kỹ thuật ghi âm nhiều đường và sử dụng những thiết bị xử lý

âm thanh số để nâng cao chất lượng tín hiệu

Lưu trữ âm thanh hiện nay đang là vấn đề thời sự của các đài

phát thanh trên thế giới Có rất nhiêu vấn để đặt ra cho công tác

lưu trữ và bảo vệ nguồn tài nguyên vô giá và đang có nguy cơ

xuống cấp này Theo kịp với xu thế của thế giới, Đài Tiếng nói

Việt Nam đã triển khai nghiên cứu tìm hiểu công nghệ ghi âm và

những vật liệu lưu trữ mới thay thế cho các công nghệ và vật liệu

cũ Kết quả nghiên cứu của đề tài là tiền để để xây dựng dự án

nâng cấp kho tư liệu của Đài Đài Tiếng nói Việt Nam

Trong quá trình triển khai đưa hệ thống kỹ thuật công nghệ mới

vào khai thác đã nẩy sinh nhiều van dé kỹ thuât cần giải quyết

khắc phục Đài Tiếng: nói Việt Nam đã triển khai đề tài Nghiên

cứu ứng dụng hệ phần mềm Dalet cho việc sản xuất và truyền âm

các hệ chương trình phát thanh của Đài Đài Tiếng nói Việt Nam Khu vực truyền dẫn phát sóng

Để triển khai Qui hoạch truyền dẫn và phát sóng phát thanh, Đài

Tiếng nói Việt Nam đã đi sâu tìm hiểu nghiên cứu công nghệ phát sóng phát thanh hiện đại dựa trên cơ sở kỹ thuật bán dẫn và công nghệ điều chế số để nâng cao chất lượng tín hiệu và hiệu suất Đài Tiếng nói Việt Nam đã hoàn thành ba dự án xây dựng đài phát sóng trung mới áp dụng công nghệ tiên tiến nhất, máy phát sóng

7

Trang 13

trung công suất từ 200kW đến 2000kW hoàn toàn bán dẫn và điều ché kỹ thuật số,

Nghiên cứu, lần đầu tiên áp dụng cấu hình kỹ thuật hai máy phát có tần số và công suất khác nhau phát trên một hệ thống anten Sử dụng hệ thống anten định hướng công suất 2000kW, chuyển hướng theo chương trình lập sẵn

Nghiên cứu kỹ thuật truyền dẫn tín hiệu số qua vệ tỉnh, hoàn thành mạng truyền dẫn tín hiệu chương trình Tiếng nói Việt Nam qua vệ

tỉnh phục vụ trong nước và ra nước ngoài để phát chuyển tiếp tới các khu vực châu Âu, châu Mỹ

Nghiên cứu về khả năng truyền sóng đối ngoại, áp dụng những phần mềm tính toán vùng phủ sóng hiện đại để thiết lập mạng phát thanh sóng ngắn đối ngoại nhằm tăng cường vùng phủ sóng Tiếng

nói Việt Nam và nâng cao chất lượng thu Hiện nay chất lượng sóng đối ngoại của Tiếng nói Việt Nam đã được cải thiện rõ rệt

Nghiên cứu ứng dụng hệ thống anten sóng ngắn bức xạ thẳng

đứng để phủ sóng các khu vực vùng núi và Tây nguyên Ứng dụng

này đã tạo khả năng phủ sóng đối nội 100% lãnh thổ Việt Nam trên sóng ngắn Ngoài ra đây là phương án dự phòng tiết kiệm và an

toàn nhất cho tuyến truyền dẫn tín hiệu qua vệ tỉnh

Để làm tốt công tác quản lý giám sát các đài phát sóng phát thanh,

Đài Tiếng nói Việt Nam đã nghiên cứu triển khai mạng giám sát kỹ thuật từ xa cho các đài phát sóng Tuy đây không phải là một vấn

đề mới mẻ của thế giới, nhưng dựa trên các thiết bị hiện có và

những phần mềm tự viết, chúng †a cũng có thể thiết lập được một mạng kiếm soát chất lượng Kết quả nghiên cứu sẽ mang lại hiệu

quả kinh tế cao, góp phần nâng cao chất lượng làn sóng phát thanh

Viêt Nam

Để tìm những giải pháp hữu hiệu, giảm bớt khó khăn cho người nghe đài khi di chuyển từ vùng này sang vùng khác, Đài Tiếng nói Việt Nam đã nghiên cứu về khả năng thiết lập mạng FM đồng bộ,

trước mắt phục vụ cho các tuyến đường quốc lộ

Chuyển sang công nghệ phát thanh số là một xu hướng không thể

đảo ngược, nó phù hợp với xu thế của sự hội tụ giữa công nghệ

thông tin và viễn thông Ngay từ những năm cuối của thập niên 90,

Đài Tiếng nói Việt Nam đã bắt đầu quan tâm tìm hiểu về công nghệ phát thanh số, bắt đầu có đề tài nghiên cứu ứng dụng Tuy nhiên, chỉ từ khi Đài Tiếng nói Việt Nam trở thành đầu mối hoạt động khoa

Trang 14

học, đề tài Nghiên cứu ứng dùng phát thanh số tại Việt Nam mới

được đầu tư nguồn kinh phí ban đầu và sau đó đã được nâng cấp

thành đề tài Nhà nước Hiện nay đề tài đang được triển khai, mục

tiêu của đề tài là: ee

1 Khuyến nghị tiêu chuẩn phát thanh số cho Việt Nam

2 Xây dựng được lộ trình phát triển phát thanh số tại Việt Nam

3 Tìm hiểu công nghệ chế tạo máy thu thanh số, máy phát thanh

Với mục tiêu như trên chúng ta thấy rõ tầm quan trọng của dé tai

trong sự nghiệp phát triển phát thanh Viêt Nam

3 Công nghệ thông tin

Trong thời kỳ hội nhập của công nghệ thông tin và công nghệ viễn

thông đã xây dựng dự án công nghệ thông tin cho Đài Tiếng nói Việt Nam và triển khai bước 1 của dự án

- _ Xây dựng mạng máy tính điều hành hệ thống các đài phát, thu vệ tỉnh của Đài Đài Tiếng nói Việt Nam

Nghiên cứu và đã thành công trong việc đưa Tiếng nói Việt Nam lên mạng Internet (từ 3/2/1999) dưới hai dạng văn bản và âm

thanh Tới nay trang Web của Đài Tiếng nói Việt Nam đã phát triển,

hàng ngày có gần 200.000 lượt truy cập Trang web luôn được bạn

đọc, thính giả đánh giá cao cả về nội dung và kỹ thuật Hiện nay

đang tiếp tục triển khai nghiên cứu đưa âm thanh lên mạng với nhiều định dạng khác nhau, tiến tới đưa lên mạng tín hiệu video

- St dụng những phần mềm chuyên ngành để tính toán vùng phủ

sóng và can nhiễu của hệ thống phát sóng ngắn phục vụ đối nội và đối ngoại tầm gần, tầm xa

- _ Nghiên cứu về phát thanh trên Internet

- Nghiên cứu về công nghệ và xu hướng phát triển của kỹ thuật lưu trữ tư liệu âm thanh

- _ Nghiên cứu sử dụng công nghệ thông tin phục vụ trao đổi tin bai -_ Thực hiện chương trình tin hợc hoá (đề án 112) đẩy mạnh chương

trình cải cách hành chính trong kế hoạch Chính phú điện tử

4 Công tác đo lường kiểm tra, giám sát chất lượng:

Đài Tiếng nói Việt Nam đã thực hiện rất nghiêm túc công tác kiểm tra giám sát chất lượng kỹ thuật của các công trình mới cũng như các hệ

thống thiết bị đang khai thác Đài đã thành lập một phòng đo lường kiểm

Trang 15

chuẩn và đã được công nhận là phòng thử nghiệm quốc gia - VILAS 20

phù hợp với chuẩn mực: TCVN ISO/IEC 17025 : 2001

Để thống nhất trong quản lý chất lượng, Đài Tiếng nói Việt Nam cũng đã nghiên cứu ban hành một số tiêu chuẩn cấp ngành, kết hợp với Tổng Cục đo lường tiêu chuẩn xây dựng và ban hành một số tiêu chuẩn

Việt Nam cho thiết bị kỹ thuật phát thanh

5 Tông kết những đề tài cấp Bộ:

Đài Tiếng nói Việt Nam đã tiến hành thực hiện nhiều để tài nghiên

cứu và ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào lĩnh vực phát

thanh (cả về nội dung và kỹ thuật) tại nhiều đơn vị trong Đài

Bảng dưới đây là tổng kết số lượng các đề tài cấp bộ, kinh phí đã

thực hiện :

Tổng kinh phí ! Số đề tài được triển

được cấp trong khai trong năm

tổng kinh phí 1,4 tý đồng Ngoài ra, Đài Tiếng nói Việt Nam đã đề xuất

và được Bộ Khoa học công nghệ chấp nhận triển khai đề tài độc lập

cấp Nhà nước: "Nghiên cứu phương án khả thi phủ sóng phát thanh

đến vùng sâu vùng xa của đất nước" với tổng kinh phí dự tính khoảng

10

Trang 16

Xem phụ lục I ; bằng danh mục chỉ tiết các đề tài nghiên cứu đã thực hiện tại Đài Đài Tiếng nói Việt Nam_

II NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Công tác nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ mới vào

phát thanh ở Đài Tiếng nói Việt Nam đã góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng sóng Tiếng nói Việt Nam, giúp cho công tác đầu tư trang thiết bị kỹ thuật đi đúng hướng và hiệu quả Nhờ có công tác NCKH

và ứng dụng công nghệ mới vào lĩnh vực phát thanh, trong thời gian qua

Đài Tiếng nói Việt Nam thực sự lớn mạnh về mọi mặt, hiện được đánh

giá là một trong những Đài hiện đại nhất khu vực và theo kịp xu hướng

phát triển chung trên thế giới

Các kết quả đạt được thể hiện năng lực nghiên cứu KHCN ở Đài

Tiếng nói Việt Nam đạt được trình độ nhất định Phần dưới đây sẽ tổng

kết đánh giá về vấn đề này

1 Đội ngũ cán bộ thực hiện công tác nghiên cứu

Mặt mạnh: Đội ngũ cán bộ kỹ thuật của Đài Tiếng nói Việt Nam được đào tạo tương đối bài bản tại tại nước ngoài cũng như các trường đại học trong nước, có nhiều kinh nghiệm công tác, trình độ chuyên môn

cao, tay nghề giỏi Có tinh thần ham học hỏi để không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn Những cán bộ chủ chốt và nhiều cán bộ trẻ có trình

độ ngoại ngữ tốt

Đài Tiếng nói Việt Nam rất chú trọng công tác đào tạo nâng cao

trình độ chuyên môn Hàng năm đều có khoá đào tạo về công nghệ mới

và nâng cao kỹ năng Đa số các khoá đào tạo đều do các chuyên gia

nước ngoài thực hiện Nhiều cán bộ kỹ thuật được cử ra nước ngoài tham

dự các khoá đào tạo của các tổ chức, đài phát thanh quốc tế

Mặt còn yếu: Số người có trình; độ trên đại học còn ít Công tác phổ

biến thông tín khoa học còn hạn chế

2 Khả năng đề xuất và nắm bat van dé

Tổng kết lại những đề tài đã thực hiện tại Đài Tiếng nói Việt Nam có

thể nhận thấy tất cả các đề tài đều giải quyết những vấn đề hết sức bức

xúc, cần thiết cho công tác chuyên môn Thí dụ: đề tài Nghiên cứu và

phát triển công nghệ số hoá hệ thống lưu trữ âm thanh, đề tài Nghiên

Trang 17

cứu ứng dụng hệ phần mềm Dalet cho việc sẵn xuất và truyền âm các

hệ chương trình phát thanh của Đài Đài Tiếng nói Việt Nam

Nhiều đề tài đi vào những vấn đề mới mang tính định hướng phát

triển công nghệ của ngành Thí dụ: đề tài Nghiên cứu về công nghệ sản xuất chương trình phát thanh hiện đại (1998), đề tài Nghiên cứu ứng

dụng công nghệ phái thanh số ỏ Viêt Nam, đề tài Nghiên cứu khả năng

ứng dụng mạng phát thanh FM một tấn số tại Việt Nam

Có đề tài nghiên cứu chế thứ, tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu

cầu thực tế của thị trường Thí dụ đề tài: Loa FM không dây dùng nguồn

điện lưới và acquy sử dụng trong các trường hợp thiên tai bão lụí, dé tai

Bộ thiết bị truyền thanh đa năng hiệu suất cao

Đài cũng triển khai để tài nghiên cứu xây dựng các tiêu chuẩn cho

phát thanh Việt Nam như: đề tài Xây dựng Tiêu chuẩn mức cường độ

điện trường sóng phát thanh Việt Nam

3 Khả năng thực hiện và triển khai nhiệm vụ nghiên cứu

khoa học

Từ số lượng và chất lượng các đề tài nghiên cứu đã thực hiện tại Đài Tiếng nói Việt Nam trong.thời gian qua cho chúng †a thấy khả năng triển khai công tác nghiên cứu gủa Đài Tiếng nói Việt Nam rất lớn

Năm 2002, năm đầu tiên là đầu mối hoạt động khoa học Đài đã

triển khai 7 đề tài cấp Bộ, (5 đề tài được đánh giá loại giỏi, 1 đề tài đạt loại khá và 1 đề tài đạt), : _

Năm 2003 số đề tài đã tăng lên 17 đề tài cấp Đài trong tất cả các

mảng công tác: nghiên cứu định hướng chính sách, kỹ thuật, nội dung

chương trình, đào tạo và hợp tác đuốc tế, 02 nhiệm vụ cắp Nhà nước

Theo kết quả kiểm tra định kỳ của đơn vị quản lý khoa học, tất cả các đề tài đều được triển khai theo tiến độ :

Năm 2004 các đơn vị đã đề xuất gần 30 đề tài

4 Khả năng ứng dụng vào thực tế

Như đã phân tích ở trên, tất cá các đề tài nghiên cứu đều nhằm

giải quyết những vấn đề hết sức bức xúc của phát thanh Việt Nam cho

nên kết quả nghiên cứu đều có thể ứng dụng ngay Thí dụ: đề tài về vật liệu lưu trữ âm thanh đã được ứng dụng ngay trong khi triển khai Dựa

trên kết luận của đề tài, Đài Tiếng nói Việt Nam sẽ xây dựng dự án

chuyển đối kho tư liệu quí giá, với hàng vạn giờ âm thanh h sang những vật liệu mới an toàn hơn, hiện đại hơn ˆ”

12,

Trang 18

Từ tháng 1 năm 2003, chủng ta đã chuyến sang sử dụng mạng máy tính để phát các chương trình phát thanh Khai thác, sử dụng một hệ

thống với công nghệ hoàn toàn mới bao giờ cũng đòi hỏi giải quyết nhiều

vấn đề phát sinh Thế nhưng, bằng sự cố gắng quyết tâm cao, với khả

năng nghiên cứu, tìm tòi sáng tạo, các cán bộ kỹ thuật của Trung tâm

Âm thanh đã giải quyết được nhiều vấn đề, đảm bảo khai thác hệ thống

sóng trên 95% dân số, trang bị cho mỗi hộ gia đình một máy thu thanh

thì chúng ta vẫn cần nghiên cứu về phát thanh số Nếu không có những

nghiên cứu về công nghệ mới này thì vài năm tới đây Đài Tiếng nói Việt Nam sẽ thực hiện phát thanh đối ngoại như thế nào khi mà cả thế giới đang có xu hướng chuyển sang phát thanh số Bạn nghe đài quốc tế không thể giữ mãi máy thu analog chỉ để nghe TiŨng núi Vit Nam Khi

chuyển sang phát thanh số, phổ tần số sử dụng như thế nào? Sẽ có thêm những dịch vụ mới nào để tăng nguồn thu cho phát thanh? Mỗi

quan hệ, hỗ trợ giữa phát thanh, truyền hình, Internet, thông tin di động

sẽ như thế nào? v v Chúng ta cần nghiên cứu thấu đảo những vấn đề

đó để hoạch định chính sách cho phát thanh Việt Nam

5 Năng lực quản lý các hoạt động khoa học

Theo sự phân công công tác của ban lãnh đạo Đài Đài Tiếng nói

Việt Nam, Tổng Giám đốc Đài trực tiếp phụ trách công tác nghiên cửu khoa học Đây là một thuận lợi rất lớn, không phải cơ quan nào cũng có

được Hội đồng khoa học của Đài Tiếng nói Việt Nam do đồng chí Tổng Giám đốc là Chủ tịch Hội đồng Hội đồng đã hoạt động có hiệu quả với

sự tham gia của nhiều nhà khoa học hàng đầu của Việt Nam

Đơn vị làm nhiệm vụ quản lý hoạt động khoa học là Trung tâm Ứng dụng Tin học và Phát triển Công nghệ phát thanh (Trung tâm RITC)

Trung iam RITC không phải là đơn vị khai thác, sản xuất trực tiếp Trung

âm RITC còn có nhiều chức năng về tham mưu, tư vấn và kiểm soát

chế lượng Đó cũng là thuận Igigcho công tác quản lý nghiên cứu khoa học Các cán bộ trực tiếp làm công tác quản lý khoa học rất nhiệt tình và

ham học hỏi để từng bước nâng cao năng lực quản lý trong hoạt động

ve

3$

Trang 19

Tháng 11 năm 2001 Đài Tiếng nói Việt Nam đã trở thành đầu mối

khoa học công nghệ Đài thường xuyên nhận được sự chỉ đạo, giúp đỡ từ Lãnh đạo Bộ Khoa học công nghệ (KHCN) và các vụ chức năng, các

chuyên gia quản lý hoạt động khoa học của Bộ KHCN Sự chỉ đạo sát

sao theo ngành dọc đã giúp cho công tác quản lý hoạt động khoa học tại

Đài Tiếng nói Việt Nam nhanh chóng đi vào nề nếp và phát triển bần vững

Trang 20

PHAN 2

DANH GIA HIEN TRANG KY THUAT

PHAT THANH VIET NAM

I MỘT SÓ KHÁI NIỆM

Kỹ thuật phát thanh có thể chia làm hai khối chính: sản xuất chương trình và truyền dẫn phát sóng Tuy nhiên cũng có thể đưa thêm

một khối nữa là thiết bị thu nghe Ngoài ra do sự phát triển của công

nghệ phát thanh lại có thêm dịch vụ và phương thức mới đó là phát thanh trên mạng Internet Trong khuôn khổ đề tài này sẽ đề cập tới hai

khối chính và phát thanh trên mang Internet

Khối sản xuất chương trình: Là toàn bộ hệ thống thiết bị công

nghệ, cơ sở vật chất phục vụ cho việc thu thập tin, xử lý tin, thu thanh,

pha âm, dàn dựng chương trình, truyền âm, lưu trữ âm thanh, các phòng thu, các đường truyền dẫn tín hiệu phục vụ thu thanh, tường

thuật, các hệ thống xe thu lưu động, các phòng thu bên ngoài

Khối truyền dẫn phát sóng: là toàn bộ hệ thống các đài phát sóng

phát thanh, các đài truyền dẫn tín hiệu, kênh vé tinh thuê bao cho truyền dẫn tín hiệu

Phát thanh trên mạng Internet hiện nay được thực hiện tại đài phát thanh và truyền trên mạng WWW thông qua nhà phân phối dịch vụ

ISP Ngoài các hệ thống thiết bị của Đài Tiếng nói Việt Nam còn có cơ

sở vật chất của nhà cung cấp dịch vụ

II KHÓI SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH

Sản xuất chương trình phát thanh là công đoạn có sự tham gia của

cả hai khối kỹ thuật và biên tập chương trình Trong đó có những bệ

phận chức năng khác nhau: thu thanh, pha âm, truyền âm, khống chế,

thu thanh lưu động, thu nhạc, lưu trữ tư liệu

Đánh giá về hiện trạng kỹ thuật của khu vực này không chỉ đơn thuần về thiết bị công nghệ mà cả phương thức khai thác sử dụng hệ

thống thiết bị si

Trang 21

thu thanh pha âm dàn dựng và truyền âm hầu hết các chương trình

phái thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam Một chương trình phát thanh là

sản phẩm của một nhóm làm chương trình bao gồm các biên tập biên,

kỹ thuật viên và phát thanh viên, trong đó kỹ thuật viên thực hiện việc

thao tác thiết bị và chịu trách nhiệm về mặt chất lượng âm thanh, biên

tập viên chịu trách nhiệm về nội dung chương trình Các thiết bị trong

khâu sản xuất chương trình (trong studio) chủ yếu là thiết bị analog: bàn trộn máy ghi âm analog và các thiết bị ngoại vi

Bên cạnh hệ thông chính nêu trên, Đài Tiếng nói Việt Nam đã

bước đầu thử nghiêm những ứng dụng của tin học Đã trang bị một hệ

thông máy tính âm thanh cho hệ Âm nhạc và Tin tức phát trên sóng

FM Hệ thống này được đưa vào khai thắc từ năm 1994 Tuy chưa phải

là một hệ thống lớn nhưng về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu khai

thác của kênh VOV3 trong một giai đoạn nhất định Theo sự phát triển

của phần cứng và phần mềm trên thế giới, hệ thống đã được nâng cấp vào năm 2000 Hiên nay hệ thống đã hoạt động ổn định

Công tác thu thập thông tin, viết bài của phóng viên biên tập cũng

được thực hiện một phần trên máy tính Chủ yếu dừng ở việc soạn thảo văn bản, hầu hết các máy tính chưa được nối mạng

Đã có những trạm làm viêc‹âm thanh độc lập (không nối mạng) phục vụ phóng viên, biên tập viên biên tập tin bài ngoài phòng thu Đã

trang bị thiết bị để nhận phỏng vấn qua điện thoại, nhận tin bài (tiếng

động) từ xa ‘

Đã có hệ thống nhận tin bài tự động từ Thông tấn xã Việt Nam

Trung tâm tin đã bước đầu được trang bị mạng máy tính chuyên dụng phục vụ công tác nhận tin và biên tập tin Tuy nhiên, đo sự phát triển

nhanh của công nghệ thông tin, hệ thống này đã trở nên lạc hậu, các

thiết bị đã không còn phụ tùng thay thế

16

Trang 22

b) Giai đoạn sau năm 2000- giai đoạn chuyển đổi sang công

nghệ hiện đại

Từ năm 2000 Đài Tiếng nótViệt-Nam đã đưa hệ thống sản xuất chương trình phát thanh theo công nghệ hiện đại với sự trợ giúp của mạng máy tính và phần mềm biên tập chuyên dụng cho Hệ VOV 3 thay cho hệ thống cũ

Cuối năm 2002 đầu năm 2003 Đài Tiếng nói Việt Nam đã bắt đầu đưa hệ thống sản xuất chương trình phát thanh theo công nghệ hiện đại

vào khai thác một cách toàn diện Hệ thống mới là một hệ thống hiện

đại vào loại nhất trong khu vực

Qui mô bao gồm 16 studio được trang bị các thiết bị số như: bàn trộn số, máy ghi âm số Hệ thống đáp ứng cho công nghệ phát thanh

trực tiếp Mạng mảy tính gồm 72 trạm làm việc âm thanh, 120 trạm biên

tap text va hé thống máy chủ mạnh làm việc theo chế độ clustering

Đây là hệ thống được đánh giá hệ thống lớn trong khu vực và trên thế giới

Tổng khống chế là.một lệ thống hiện đại với hệ thống tách nhập

Hiện nay ba hệ đối nội chính, có phạm vi phủ sóng lớn của Đài

Tiếng nói Việt Nam đã được sản xuất toàn bộ trên hệ thống thiết bị

công nghệ hiện đại

Hệ thống sản xuất chương trình phát thanh hiện đại là hệ thống

dựa trên mạng máy tính âm thanh và biên tập tin và các thiết bị ngoại vi

kỹ thuật số Khác với công nghệ cũ, việc lập lịch phát sóng và truyền

âm thực hiện trên máy tính, Với những phần mềm chuyên dụng việc thay đối lịch phát sóng, cập nhật tin bài cho phát sóng được thực hiện

khá linh hoạt, dễ đàng Do có thể sử dụng tài nguyên chung, phần mềm

biên tập mạnh, có nhiều tính năng nên công tác biên tập tin bài nhanh chóng thuận lợi hơn Do đó tin tức cập nhật hơn

2) Khâu thu phát thanh lưu động và tường thuật trực tiếp

Đài Tiếng nói Việt Nam có ba xe thu thanh lưu động chuyên dụng,

được trang bị thiết bị hiện đại

17

Trang 23

Hiện nay, các chương trình tường thuật trực tiếp của Đài được thực hiện bởi hai phương thức: studio lưu động (truyền về Trung tâm Âm

thanh qua đường điện thoại thuê của bưu điện) và xe thu thanh lưu

động (truyền về bằng sóng cao tần, thiết bị vệ tinh)

Tuy số lượng xe thu không phải nhiều, nhưng hiện nay kỹ thuật thu

lưu động đã đáp ứng được về cơ bản yêu cầu của Đài Hàng năm Đài

đã thực hiện gần 100 cuộc thu thanh và tường thuật từ xa Đặc biệt, từ

sau khí trang bị xe thu có thiết bị vệ tỉnh chúng ta hầu như không phụ

thuộc và đường truyền của Bưu điện

3) Khâu lưu trữ tư liệu ie

Khâu lưu trữ băng là một mắt xích đóng vai trò quan trong trong

toàn bộ dây chuyền phát thanh

Đài Tiếng nói Việt Nam hiện nay đang lưu trữ khoảng 40 ngàn giờ băng tại kho băng Trung tâm Âm thanh Hình thức lưu trữ chủ yếu

trên băng cối (là băng từ analog) Trong đó có rất nhiều băng tư liệu lịch

sử quí giá, băng ca nhạc của các ca sĩ nổi tiếng trước đây đã thu thanh

tỪ những năm 60 rất quý báu Hình thức lưu trữ tìm kiếm tại kho băng Đài Tiếng nói Việt Nam hiện nay theo phương pháp thủ công

Do thời gian và điều kiện khí hậu nên nhiều băng đã xuống cấp và

tự giảm chất lượng âm thanh Những băng này cần phải được xử lý lại

trước khi sử dụng Việc quản lý kho băng vẫn còn thủ công Việc

chuyển đổi kho băng này sang dạng lưu trữ khác ưu việt hơn và ứng

dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý là một vấn đề bức xúc

yêu cần âm học đặc thử của phát thanh, như yêu cầu về diện tích, thời

gian vang, mức tạp âm nền, độ cách âm -Qua kết quả khảo sát gần đây cho thấy, chất lượng âm thanh cần được nâng cấp cải thiện hơn để

đáp ứng yêu cầu ngày càng cao:của thính giả Trong đó phải kể đến chỉ

tiêu thời gian vang và mức tập âm nền Hiện nay âm thanh thu được chưa nét, có hiện tượng tiếng bị "om"

Trang 24

5) Các cơ quan thường trú

Hiện nay Đài Tiếng nói Việt Nam có 10 cơ quan thường trú: 5 cơ quan thường trú trong nước và 5 cơ quan thường trú ở nước ngoài 4 cơ

quan thường trú trong nước đều được trang bị hệ thống thiết bị SXCT

đồng bộ, trong đó hệ thống SXCT ở thường trú TP Hồ Chí Minh là hệ

thống số hoá hoàn toàn nhưng chưa sử dụng mạng máy tính âm thanh

Hệ thống thiết bị của Thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại Đồng bằng

sông Cửu Long (Cần Thơ) theo công nghệ phát thanh hiện đại trên cơ

sd mang may tinh

Các cơ quan thường trú của Đài Tiếng nói Việt Nam ở nước ngoài

hiện nay chủ yếu chỉ có một trạm làm việc âm thanh để có thể dàn

dựng các chương trình rất đơn giản và chuyển tín hiệu qua đường điện

thoại về Hà Nội

II KHÓI TRUYỀN DẪN VÀ PHÁT SÓNG PHÁT THANH

Để đánh giá hiện trạng kỹ thuật khối truyền dẫn và phát sóng chúng ta dựa vào kết quả thực hiên Quy hoạch truyền dẫn tín hiệu phát

thanh Việt Nam giai đoạn 1995 đến 2000 và sau 2000 Ngoài ra, sẽ

đánh giá công nghệ kỹ thuật của hệ thống các đài phát sóng, truyền

dẫn tín hiệu, tình trạng hoạt động và năng lực phục vụ của hệ thống kỹ

thuật

1) Mở rộng và xây dựng các cơ sở phát sóng

«_ Đài Tiếng Nói Việt Nam đã tập trung có trọng điểm vào việc xây

dựng hai đài phát sóng lớn đó là đài Bắc bộ và Nam bộ Hai máy phát

500 và 200 kW sóng truäg của đài Bắc bộ (VN 3) phát hai hệ chương trình VOV1 và VOV2, daf-VN 3 đã phủ đạt tiêu chuẩn quốc tế cho một

vùng đông đúc quan trọng của đồng bằng Bắc bộ và một phần đông

Bắc, Với 3 máy phát sóhg trung, mỗi máy có công suất 500 kW và 1

máy 2000 kW của đài Nạm bộ (VN 2) đã phủ sóng mạnh cho toàn bộ khu vực đồng bằng sông Cửu Long, phủ sóng trung đối ngoại cho các

nước Campuchia, Thái lan; Miama, các nước Đông Nam Á

« _ Để tăng cường phủ sóng bằng sóng trung đối nội, đã tiến hành

lắp đặt và đưa vào khai thác 10 máy sóng trung tại các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái, Cao Bằng, Quảng Ngãi, Plây cu

« Đối với các địa hình phức tạp, khó phủ sóng tốt bằng sóng trung

như các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây nguyên đã đầu tư máy phát

sóng ngắn “ Ỷ

19

Trang 25

«e Trong những năm qua ngoài hai khu vực đông dân là Hà Nội và

thành phố Hồ Chí Minh, Đài Tiếng nói Việt Nam đã đầu tư lắp đặt và

đưa vào khai thác một số đài phát sông FM là Tam Đảo, Hàm Rồng, Sơn Trà, Huế, Vũng Chua, Bà Đen

e Dé nang cao hiệu quả phát sóng đối ngoại tầm xa:

- Đối với khu vực gần đã được phủ sóng bằng sóng trung với

công suất 2000kW của đài VN2

- Đối với khu vực xa đã tăng cường thêm 2 máy phát sóng ngắn 100kW tại đài VN1 hàng ngày thường xuyên phát 4 sóng tới các khu

vực Tây Âu, Châu Phi, các nước Asian, Tôkyô, Thượng Hải vv

« Hợp đồng thuê công ty MERLIN phát sóng sang các khu vực

Tây Âu, Nam Âu, Thuê Canada phát cho các vùng Đông Bắc Mỹ,

Trung Mỹ và Tây Bắc Mỹ

« Hiện nay với nhiều phương thức truyền dẫn như truyền dẫn

bằng vệ tinh, cáp quang, vi ba số vv đín hiệu các chương trình phát

thanh đã được truyền tới tất cả các điểm phát thanh trong nước và nước

ngoài, các đài Trung ương và các đài địa phương

2) Vùng phủ sóng

Sau 5 năm thực hiện quyết định của Chính phủ về truyền dẫn và

phát sóng năm 1995 - 2000 và sau năm 2000, diện phủ sóng của Đài

Tiếng nói Việt Nam tăng cường đáng kể về cả diện phủ sóng lẫn số

lượng chương trình

« Từ chỗ đối nội chủ yếu chỉ có 1 hệ hiện nay có 3 hệ đối nội

song song đồng thời đó là VOV1, VOV2 và VOV3

« _ Đối với vùng phủ sóng của một ohương trình trước đây chủ yếu phủ được vùng đồng bằng Bắc bộ, một phần các tỉnh duyên hải miền Trung, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, nay đã phủ gần hết

cả nước, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long thì nay đã được

khắc phục triệt để

« Trước đây tất cả các chương trình thời sự, tin tức, khoa giáo, ca

nhạc được gói cả vào một chương trình (VOV1) nay đã được tách hệ

thành ba nhằm thoả mãn như cầu chọn lọc của thính giả Đặc biệt có thêm hệ tiếng dân tộc Phát 8 thứ tiếng đên tộc thiểu số trên sóng ngắn

và sóng trung Riêng địa bàn Tây Nguyên phát 6 thứ tiếng với thời

lượng phát sóng 18 gid/ngay `

« Về đối ngoại, trước đây Đài Tiếng nói Việt Nam chỉ cho có 2 máy phát 100 kW sóng ngắn phát đi 4 tuyến, nay chúng ta có thêm 5

20

Trang 26

tuyến Tây Âu, Nam Âu, Đông Bắc Mỹ, Trung Mỹ và Tây Bắc Mỹ với

diện phủ rất rộng và rất khoẻ, các vùng mà trước đây chúng ta chưa

vươn tới được

« _ Song song với việc tăng số lượng chương trình, thời lượng phát

sóng cũng tăng theo Thời lượng phát sóng cũng tăng 3 đến 4 lần so

nguyên còn bị hạn chế trong việc thu sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam

trong suốt cả ngày đêm Đài Tiếng nói Việt Nam đang triển khai kế hoạch phủ sóng tiếp theo năm 2003-2004 bằng sóng FM 6 các điểm

Pha Bin (Son La), Mau Son (Lạng Sơn), Quảng Bạ (Hà Giang), Sìn Hồ

(Lai Châu),Thiên Tượng (Hà Tĩnh), Câu Đất (Lâm Đồng) và Quảng

Ninh

3) Trinh độ kỹ thuật công nghệ

Hệ thống các đài phát sóng và truyền dẫn tín hiệu của Đài Tiếng

nói Việt Nam rất lớn, được trải ra trên toàn quốc Trong hệ thống đó có

nhiều đài phát sóng được xây dựng từ thời chiến tranh chống Mỹ, một

số đài do chế độ Mỹ nguy để lại

Những đài phát sóng cũ đều theo công nghệ đã lạc hậu, có thể nói

thời gian khấu hao đã hết Tuy nhiên các đài phát này đều là những hệ

thống thiết bị đồng bộ, được duy tu bảo trì tốt nên chất lượng vẫn có thể chấp nhận trong điều kiện chúng ta chưa thể thay thế bằng những thiết

Những đài phát sóng mới được xây dựng đều trang bị những thiết

bị thế hệ mới, hiện đại nhất hiện nay: máy phát bán dẫn áp dụng công nghệ điều chế số, máy phát đèn điện tử áp dụng điều chế mới; Máy

phát FM bán dẫn hiện đại; Hệ thống anten hoàn chỉnh, hiện đại; Hệ thống cung cấp điện, hệ thống thu và xử lý tín hiệu phát thanh hiện đại;

có hệ thống giám sát và kiểm soát thiết bị dựa trên công nghệ tiên tiến

Hệ thống truyền dẫn tín hiệu qua vệ tinh của Đài Tiếng nói Việt

Nam là hệ thống hiện đại, áp dụng công nghệ kỹ thuật số Độ an toàn

của hệ thống cao

21

Trang 27

Hiện nay Đài Tiếng nói Việt Nam sử dụng một số phương thức truyền dẫn :

+ Truyền dẫn qua vệtinh

+ Truyền dẫn qua mạng vi ba số

+ Sử dụng mạng thông tin liên lạc của Bưu điện với những thiết bị chuyên dụng áp dụng công nghệ nén tín hiệu số để làm đường truyền

dự phòng cho hai phương thức trên

Hiện nay Đài Tiếng nói Việt Nam sử dụng đường 64kb/s để truyền tín hiệu mono và 128kb/s cho tín hiệu stereo Tất cả các kênh phát

thanh đều truyền lên vệ tinh Các tuyến vi ba số đóng vai trò bổ sung

cho đường truyền vệ tinh.Tại mỗi đài phát sóng có ít nhất hai đường truyền tín hiệu đến ;

Để truyền tín hiệu chương trình đối ngoại ra nước ngoài, Đài Tiếng nói Việt Nam cũng sử dụng vệ tinh Có thể nói, hệ thống truyền dẫn tín hiệu của Đài hoàn chỉnh và đạt chất lượng cao Khắp mọi nơi trên lãnh thổ Việt Nam đều có thể thu được chương trình gốc với chất lượng như

nhau

Tuy nhiên, do sử dụng công nghệ.cao, nên các trạm thu có giá

thành cao, thiết bị lại yêu cầu làm việc trong điều kiện khá nghiêm ngặt

Chính vì vậy không phù hợp cho các trạm phát lại qui mô nhỏ, điều kiện

kỹ thuật hạn chế Bài toán đưa tín hiệứ gốc tới vùng sâu vùng xa vẫn còn là vấn đề Giải pháp hiện nay là sử dụng máy thu thanh chuyên

dụng để thu tín hiệu từ các đài phát khác

Bốn trong số năm cơ quan thường trú trong nước có trạm uplink để đưa tín hiệu đến đài phát về trung tâm sản xuất chương trình phát thanh Mạng truyền dẫn tín hiệu của Đài Tiếng nói Việt Nam đảm bảo hai chiều: đưa tín hiệu gốc tới các đài phát, truyền chương trình do cơ quan thường trú sẵn xuất tới trung tâm sản xuất chương trình

22

Trang 28

23

TUYEN TDVT TRUYEN CT DOI NGOAI VOV 6-3 TU HA NOI

TOI SACKVILLE - CANADA

CANADA

Trang 29

24

TUYẾN TRUYÊN DẪN VỆ TINH TRUYÊN CHƯƠNG TRÌNH TỚI

CÁC ĐÀI PSPT TRONG CÁ NƯỚC

Trang 30

25

TUYEN TRUYEN DAN VE TINH TRUYEN CHUONG TRINH TONG HOP TU HA

NOI, TPHCM VÀ CÀN THƠ TỚI CÁC ĐÀI PSPT QUAN TRE VA DAI PSPT VN2

TRẠM PHÁT TRẠM PHÁT TRẠM PHÁT TRAM THU TRAM THU

ME TRI - HA NOI SO 7 NTMK - TPHCM THUONG TRU CAN THO DAI PSPT QUAN TRE PAI PSPT VN2

ý — Ry `

Trang 31

II PHÁT THANH TREN INTERNET

Ngày 3/2/1999 Đài Tiếng nói Việt Nam chính thức đưa báo điện tử VOVNEWS hoa mang Interenet

Hiện nay Đài Tiếng nói Việt Nam có một hệ thống thiết bị hoàn

chỉnh cho một tờ báo điện tử với các thông tin đưa lên mạng dưới

dạng văn bản, âm thanh, hình ảnh và chuẩn bị bước tiếp theo là đưa

thêm tín hiệu video Khác với các tờ báo điện tử khác, Đài Tiếng nói Việt Nam đã cho lên mạng các chương trình phát thanh và các chuyên mục âm thanh: chương trình tiếng Anh (30 phút), Chương trình

Dành cho đồng bào Việt Nam ở xa tổ quốc (1 giờ), chương trình thời

sự (buổi 06h00 hệ I), chuyên-mục-dạy tiếng Việt, cửa số tình yêu, đọc truyện đêm khuya, các bài hát theo yêu cầu Sử dụng hai phương thức phát trên mạng: phát trực tiếp-streaming và phát theo yêu cầu- download

Tuy tốc độ mã hoá là 16kb/s hoặc 32kb/s nhưng chất lượng âm

Phương thức thiết lập hệ thống là phối hợp chặt chẽ với nhà cung cấp dịch vụ ISP Máy chủ chính của Đài đặt tại nhà cùng cấp dịch vụ

để có được cổng ra tốc độ cao nhất, thiết bị được bảo vệ an toàn nhất

cả về mặt vật lý cũng như về an toàn trên mạng

Các máy chủ của Đài Tiếng nói Việt Nam được đánh giá là những

máy chủ Internet mạnh của Việt Nam Các phần mềm chuyên dụng

và cơ sở dữ liệu hiện đại, tiên tiến nhất hiện nay: cở sở dữ liệu Oracle

và hệ điều hành UNIX, phần mềm Real audio Về vấn dé an toàn

thông tin, Đài Tiếng nói Việt Nam da.két hợp tận dụng khả năng bảo mật của nhà cung cấp dịch vụ và hệ-thống bảo mật của Đài cho nên đây cũng được đánh giá là giải pháp hiệu quả an toàn nhất hiện nay

Phát thanh trên mạng là một công nghệ mới, Đài Tiếng nói Việt

Nam đã triển khai và trong quá trình triển khai đã nhận được sự tư vấn

của các chuyên gia trong và ngoài nước

Hiện nay (11/2003) số lượng truy cập vào web site của Đài đạt trung bình gần 200.000 lượt truy cập/ ngày Đây thực sự là điều đáng

mừng vì chúng ta đã tìm được phương thức triển khai hợp lý, không cần nhiều kinh phí đầu tư, khả năng phục vụ rất lớn, phù hợp với xu thế của thế giới

26

Trang 32

IV NĂNG LỰC CHUYEN MON, TRINH DO QUAN LY KY THUAT

Sự lớn mạnh của phát thanh Việt Nam trong những năm qua có sự

đóng góp rất lớn của đội ñgũ kỹ thuật Các chuyên gia kỹ thuât; kỹ sư,

kỹ thuật viên, đã đáp ứng được yêu cầu khai thác và phát triển của Đài

Tiếng nói Việt Nam Thực tế đã chứng minh rằng chúng ta chưa bao giờ chịu lùi bước và chưa bag gid chiu tut hau trong su phat triển như vũ

bão của khoa học, kỹ thuật Xin.nêu một vài dẫn chứng:

Khi triển khai các dự án xây dựng đài phát sóng công suất lớn VN2

và VN3, các cán bộ kỹ thuật của Đài Tiếng nói Việt Nam lần đầu tiên

được tự lựa chọn công nghệ, tự lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ và triển khai dự án Trước đây công việc này do các chuyên gia nước ngoài thực hiện Ngày nay chuyên gia nước ngoài tham gia tư vấn chuyển giao

công nghệ.Đội ngũ kỹ thuật làm chủ từ bước lắp đặt, điều chỉnh, bảo

dưỡng, khai thác Vì cũng máy phát như của chúng ta trang bị, các

nước khác trong khu vực cần tới thời gian hàng năm để chuyển giao

công nghệ và đào tạo Hiện nay các kỹ sư trẻ của chúng ta đã khai thác

an toàn và làm chủ được công nghệ Đã giải quyết nhiều sự cố không

cần tới sự trợ giúp cuả chuyên gia

Trong khu vực sản xuất chương trình chúng ta cũng nhanh chóng làm chủ được công nghệ hiện đại và phát triển đội ngũ Vừa lắp đặt,

vừa triển khai, vừa đào tạo cán bộ và đến nay chúng ta đã khai thác an toàn hệ thống thiết bị sản xuất chương trình phát thanh theo công nghệ

hiện đại tại Nhà 41-43 Bà Triệu Đã đưa ra nhiều giải pháp để khắc

phục những khiếm khuyết của hệ thống, đảm bảo an toàn liên tục cho

sóng phát thanh

Công tác quản lý kỹ thuật của Đài Tiếng nói Việt Nam được thực

hiện theo đúng qui định và nề nếp làm việc nghiêm túc, khoa học đã được duy trì thường xuyên So với nhiều nước trong khu vực, chúng ta

có thể tự hào về kỹ thuật phát thanh Đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ

quản lý và chuyên môn cao Họ có đủ trình độ xây dựng, triển khai thành công những dự án lớn, phức tạp về công nghệ và kỹ thuật Đa số

họ trưởng thành từ trong thực tế ,

Có thể kể đến một số điểm nổi bật của đội ngũ kỹ thuật là:

-_ Tỉnh thần trách nhiệm rất cao; có sự phối hợp chặt chẽ

- Ham hoc, có kha năng tự học hỏi nâng cao trình độ, làm chủ công

27

Trang 33

Tính sáng tạo, tinh thần tự chủ luôn giúp họ vượt qua nhiều khó khăn duy trì hệ thống hoạt động tốt

Có khát vọng vươn lên, chử động tiếp rhận công nghệ mới

Điều kiện để tiếp cận thông tin chưa đồng đều ở nhiều đơn vị

Lớp cán bộ trẻ hiện nay còn thiếu kinh nghiệm, còn phải phấn đấu,

rèn luyện nhiều hơn nữa để có được những tư chất tốt đẹp của thế

hệ đàn anh Làm kỹ thuật phát thanh là gian khổ, khó khăn và đôi

khi cảm thấy "thiệt thòi” Giữa vòng xoáy của nền kinh tế thị trường

làm sao cho các cán bộ trẻ vững tâm với sự nghiệp phát thanh Làm

sao để trong họ luôn nóng bỏng tình yêu nghề nghiệp, vượt qua

chính mình với những toan tính vụ lợi cá nhân Hay nói cách khác là

lam sao truyền cho họ "máu phat thanh" dé ho "chung thuỷ" với nghề phát thanh

28

Trang 34

Kết luận

Hệ thống thiết bị công nghệ sản xuất chương trình phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam là hệ thống đồng bộ, hiện đại vào loại nhất trong khu vực; đáp ứng tốt yêu cầu khai thác Tuy nhiên, cần tiếp tục

được trang bị thêm phục vụ cho các hệ phát thanh khác như Hệ phát

thanh đối ngoại, Hệ phát thanh tiếng dân tộc Trong quá trình khai

thác cần tiếp tục hoàn thiện về kỹ thụât và qui trình để khai thác hiệu

Thu thanh lưu động: Hệ thống các xe thu của Đài Tiếng nói Việt Nam

rất hiện đại, tuy nhiên cần trang bị thêm hệ thống cho thu nhạc lưu

Phương thức công nghệ thu nhận tin (âm thanh) còn phải tiếp tục hoàn thiện theo kịp sự phát triển của hạ tầng viễn thông và công nghệ thông tin

Hệ thống truyền dẫn và phát sóng phát thanh của Đài Tiếng nói Việt

Nam được xây dựng và phát triển theo đúng Qui hoạch đã được

Chính phủ phê duyệt Đã phủ sóng cho hầu hết những vùng quan

trọng, đông dân cư Đảm bảo đáp ứng nhu cầu phát triển kênh

chương trình phát thanh

Hệ thống thiết bị truyền dẫn và phát sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam hệ thống đồng bộ, được duy trì trong tình trạng kỹ thuật tốt

Tất cả các thiết bị mới trang bị trong thời gian vừa qua là những thiết

bị công nghệ hiện đại, tiên tiến nhất ca

Trong thời gian tới Đài Tiếng nói Việt Nam tiếp tục thực hiện Qui

hoạch phát thanh Việt Nam từ 2001 đến năm 2010 để đạt chỉ tiêu

phủ sóng trên 97% dân số

29

Trang 35

PHÀN3—-

XU HUONG PHAT TRIEN

CONG NGHE THONG TIN VA VIEN THONG,

CÔNG NGHỆ PHÁT THANH TRÊN THÊ GIỚI

I XU HƯỚNG PHÁT TRIỄN CONG NGHE THONG TIN VA

VIEN THONG

"Công nghệ viễn thông" là khái niệm rộng, gồm nhiều lĩnh vực như

Công nghệ mạng (kể cả mạng công cộng và cục bộ), công nghệ di động, công nghệ Internet, các công nghệ di kèm có liên quan đến việc

tạo ra các sản phẩm, thiết bị và phương tiện truyền dẫn v.v

1 Công nghệ mạng

Mạng viễn thông hiện nay gồm nhiều thể loại như PSTN, X25,

Frame Relay, ISDN, B-ISDN, Internet

Mang điện thoại cố định (PSTN) dựa trên công nghệ chuyển mạch kênh, hay còn gọi là PCM

Mạng X25, Frame Relay dựa trên công nghệ chuyển mạch gói hay còn gọi là packet switching Trong mạng này thông tin được đóng thành

các gói tin bao gồm cả phần tiêu đề chỉ địa chỉ nguồn tin và địa chỉ đích đến Mạng X25 có đầy đủ các cơ chế điều khiển và kiểm soát luồng dữ

liệu đảm bảo độ chính xác của bản tin và tránh sự tắc nghẽn

Mạng Internet dựa trên công nghệ TCP/IP (Transmission Controi Protocol/ Internetworking protocol) Các gói tin của mạng Internet có

chiều dai 32 bit địa chỉ và được phân thành 4 lớp A,B,C,D Giao thức

mạng này hỗ trợ các kết nối giữa-2 máy tính Các ứng dụng của mạng

Internet đã thuyết phục người dùng là nhân tố chính thúc đẩy sự phát triển như vũ bão của nó đến ngày nay Có thể kể đến là dịch vụ e-mail,

WWW, file transfer, vv

Cac mang ISDN (Intergrated Services Digital Network), B-ISDN (Broadband — ISDN) cho phép tích hợp các dịch vụ của cả các mạng

chuyển mạch gói và các mạng chuyển mạch kênh

Tốc độ cho phép của mạng ISDN là 64Kbps đến 1.544Mbps, trong

khi tốc độ của mạng B-ISDN khoảng 600Mbps

30

Trang 36

Một công nghệ mạng nữa cũng rất phổ biến hiện nay là mạng cục

bộ (LAN-Local Area Network) Trong mang LAN cac may tính được nổi với nhau trong phạm vi một vùng dia ly hep như trong một cơ quan hay trong một khu nhà Các:giao thức-phổ biến-của mạng LAN là giao thức

Ethernet, Token bus, Token Ring Tất cả các giao thức trên đều được chỉ tiết hoá từ tầng 3 trở xuống trong mô hình 7 tầng OSI (Open System Interconnection) chuẩn hóa Tầng liên kết dữ liệu (Datfa link) phân ra

lớp điều khiển truy nhập thiết bị (MAC-Media access control) và lớp

điều khiển kết nối logic( LLC-Logical Link Control) Về cơ bản các giao thức trên chỉ khác nhau ở tầng liên kết dữ liệu hay nói cách khác là chúng khác nhau ở cách thức truy nhập thiết bị Tốc độ truyền dữ liệu

trong mạng LAN có thể đạt tới 10Mbps

Sự gia tăng cả về số lượng và chất lượng của các như cầu dịch vụ

ngày càng phức tạp từ phía khách hàng đã kích thích sự phát triển nhanh chóng của thị trường công nghệ điện tử - tin học - viễn thông Sự phát triển của công nghệ thông tin, công nghệ chuyển mạch gói và

công nghệ truyền dẫn băng rộng là nguồn gốc ra đời của mạng thông

tin thế hệ sau nhằm triển khai các dịch vụ một cách đa dạng và nhanh

chóng, đáp ứng sự hội tự giữa thoại và số liệu, giữa cố định và di động

Những xu hướng phát triển công nghệ đã và đang tiếp cận nhau,

đan xen lẫn nhau nhằm cho phép mạng lưới thoả mãn tốt hơn các nhụ cầu của khách hàng trong tương lai Thị trường viễn thông trên thế giới

đang đứng trong xu thế cạnh tranh và phát triển hướng tới mạng viễn

thông toàn cầu tạo ra khả năng kết nối đa dịch vụ trên phạm vị toàn thế

giới Trong sự phát triển công nghệ viễn thông, các dịch vụ thông tin

được chia thành hai xu thế:

- Hoạt động kết nối định hướng ( Connection Oriented Operation)

- Hoạt động không kết nối (Connectionless Operation)

Các cuộc gọi trong mạng viễn thông, PSTN, ISDN là các hoạt

động kết nối định hướng, các cuộc gọi được thực hiện với trình tự: quay

số - xác lập kết nối - gửi và nhận thông tin-kết thúc Công nghệ ATM

phát triển cho phép phát triển các dịch vụ băng rộng và nâng cao chất

31

Trang 37

Các xu hướng phát trién trong cong nghé mang (theo ITU TSB)

Khác với các cuộc gọi quay số trực tiếp theo phương thức kết nối

định hướng, các hoạt động thông tin dựa trên giao thức IP như việc truy

nhập internet không yêu cầu việc xác lập trước các kết nối, vì vậy chất lượng dịch vụ có thể không được đảm bảo Tuy nhiên, do tính đơn giản,

tiện lợi với chỉ phí thấp, các dịch vụ thông tin theo phương thức hoạt

động không kết nối phát triển rất mạnh theo xu hướng nâng cao chất

lượng dịch vụ và tiến tới cạnh tranh với các dịch vụ thông tin theo

phương thức kết nối định hướng

Hai xu hướng phát triển này dần tiệm cận và hội tụ với nhau tiến tới

ra đời công nghệ ATMIIP Sự phát triển mạnh mẽ của nhu cầu dịch vụ

và các công nghệ mới tác động trực tiếp đến sự phát triển cấu trúc

mạng Đó là nguồn gốc, động lực cho sự ra đời và phát triển của mạng

thế hệ sau NGN (Next Generation Network)

32

Trang 38

Khái niệm mạng thông tin thế hệ sau NGN ra đời bắt nguồn từ sự phát triển của công nghệ thông tin, công nghệ chuyển mạch gói và công nghệ truyền dẫn băng rộng

Mạng thông tin thế hệ sau (NGN) có hạ tầng thông tin duy nhất dựa trên công nghệ chuyển mạch gói, triển khai các dịch vụ

một cách đa dạng và nhanh chóng, đáp ứng sự hồi tụ giữa thoại và

mạnh mẽ đối với cấu trúc mạng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của các hãng sản xuất cung cấp thiết bị, các nhà khai thác viễn thông

Nhằm hướng tới một mô hình cấu trúc mạng mới trên nền tang

công nghệ hiện đại, đầu tư hiệu quả, đáp ứng các yêu cầu phát triển

phong phú đa dạng các dịch vụ, các tổ chức quốc tế về viễn thông với

sự tham gia cả về kỹ thuật và kinh tế của nhiều hãng cung cấp thiết bị

và nhiều nhà khai thác đã cố gắng nghiên cứu để đưa ra mô hình cho cấu trúc hạ tang thông tin toàn cầu GI (Global Infomation

Infrastructure) va mang thế hệ sau NGN, trong đó có thể kể đến hoạt

động nghiên cứu và thử nghiệm của các tổ chức viễn thông sau đây: ITU, IETF, MSF, ETSI, ATM Forum, TINA, AMF Cho dén thai điểm này, NGN vẫn còn đang được tiếp tục nghiên cứu phát triển

Sau đây là một số mô hình mạng viễn thông được một số tổ chức

quốc tế về viễn thông thống nhất đề nghị:

(a) Mô hình cấu trúc hạ tầng thông tin toàn cầu (GII) của Liên minh

viễn thông quốc tế (ITU):

(b) Mô hình mạng thế hệ sau (NGN) của Diễn đàn chuyển mạch

da dich vu (MSF):

(c) Mô hình mạng thế hệ sau của Viện tiêu chuẩn Châu âu (ETSI)

Trang 39

2 Công nghệ thông tin di động

Hiện nay trên thế giới đang tồn tại song song cả ba thế hệ công

nghệ thông tin di động là công nghệ thông tin di động thế hệ hai, hai

ruỡi và ba, gọi tắt là 2G; 2,5G;và-3G—-——-

Đặc trưng của công nghệ thông tin di động 2G là hai dòng công nghệ GSM ở Châu Âu và CDMA ở Mỹ, Nhật Loại hình thông tin di động này chỉ cho phép truyền tín hiệu thoại và số liệu tốc độ thấp, đặc trưng bằng các loại bản tin ngắn (Short message) Tốc độ dữ liệu

truyền dẫn tối đa trong thế hệ 2G là 144Kbps Trong khi ở thế hệ 3G hỗ trợ truyền số liệu và hình ảnh tới tốc độ 2Mbps đã làm thoả mãn tối đa

nhu cầu của khách hàng

Thế hệ 2,5G chỉ là bước quá độ cho các quốc gia đang sở hữu mạng GSM thế hệ thứ 3G mà không loại bỏ hoàn toàn cơ sở hạ tầng vốn có của nó Thế hệ 2.5 G hay còn gọi là GPRS, ở đây có sự cải tiến

các về chế độ mã hóa, cấu trúc dữ liệu, cách thức điều chế để tăng tốc

độ truyền dẫn lên cao hơn mà vẫn dữ nguyên phổ tần số GSM cũ

Thế hệ di động thứ 3, còn gọi là W-CDMA (Wide band CDMA) nếu

nâng cấp từ CDMA thế hệ thứ 2 lên, hoặc IMT-2000 nếu nâng cấp từ

GSM lên Để hỗ trợ truyền nhận dữ liệu tới 2Mbps trong cấu trúc hệ

thống W-CDMA hay IMT-2000 đã có những thay đổi căn bản về tần số

liên lạc, cách thức mã hóa, điều chế, hệ số trải phổ và cả cấu trúc các

kênh vật lý cũng như logic so với thế hệ thứ 2

Tất cả các quốc gia trên thế giới ngày nay đều phát triển mạng thông tin di động của mình trên cơ sở mạng thông tin di động vốn có và nhu cầu thực tế của khách hàng Tuy nhiên xu hướng chuyển dịch lên thế hệ 3G là điều tất yếu Đặc biệt các quốc gia như Mỹ và một số nước

Châu Âu có thể dịch chuyển thẳng lên 4G, dùng công nghệ truyền dẫn

đa sóng mang OFDM mà không qua giai đoạn 3G

3 Công nghệ Internet

Công nghệ Internet hiện nay đã trở nên rất - phổ biến Các ứng dụng của nó như e-mail, WWW, file-tranfer, Voice over IP đã trở thành quen thuộc Nền mạng Internet là giao thức TCP/IP Trong giao thức

này các địa chỉ mạng được đánh số theo 4 lớp A, B, C, D Chiều dài tối

34

Trang 40

đa của mỗi địa chỉ là 32 bit Cách đánh số này còn được gọi là công

nghệ IPv4

Internet ngày nay, tuy tốc độ nhanh hơn trước đây và đang tăng trưởng hàng tháng, vẫn còn quá chậm-và-không đáp ting nhu cau người sử dụng Chính vì vậy mà hiện nay các chuyên gia đang tập trung xây

dựng mạng Internet thế hệ mới

Internet hiện thời cung cấp cái được gọi là "dịch vụ cố gắng nhất"

Phiên bản 4 của TCP/IP, đang chạy trên Internet hôm nay, không dự

phòng được khả năng xác định hay bảo đảm yêu cầu chất lượng dịch

vụ (quality-of-service - QoS) IPv4 cũng không thể dự phòng băng

thông, không bảo đảm hiệu năng mạng tối đa, không cung cấp đủ tính năng an toàn cần thiết

Để đạt đến Internet thế hệ tiếp theo cần có phần cứng (ví dụ như

các bộ chuyển mạch, bộ định tuyến) và các dịch vụ truyền dẫn viễn thông thế hệ mới Nó còn đòi hỏi những giao thức mới, những công cụ điều hành mạng mới và sự hiểu biết sâu sắc hơn về nhu cầu mạng đối

với các ứng dụng tốc độ cao Mạng Internet thế hệ mới cũng cần có kế

hoạch quản lý dự án và chương trình trọng yếu để có thể triển khai và

điều phối những thay đổi này mà không làm hỏng dich vu Internet dang

-_ lPng, giao thức Internet thế hệ mới - IPv6

Kỹ thuật Muiticasting: Làm cho việc truyền thông tin đến nhiều

người nhận hiệu quả hơn

Thay đổi tiếp theo cho các giao thức sẽ là việc hỗ trợ kỹ thuật data-

mutticasting Đây là phương tiện cho phép người cung cấp thông tin chỉ

cần gửi một bản sao lên mạng, bất kể có bao nhiêu người nhận Mạng

35

Ngày đăng: 14/05/2014, 17:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w