Khuôn khổ chính sách cạnh tranh trong 1 số ngành kinh tế tại Việt nam
Trang 1i n l c, Vi n Thụng v Ngõn H ng Điện lực, Viễn Thụng và Ngõn Hàng ệt ực, Viễn Thụng và Ngõn Hàng ễn Thụng và Ngõn Hàng ành kinh tế tại Việt ành kinh tế tại Việt
Ngườiưtrìnhưbày:ưPhạmưHoàngưHà
Trang 2 14 nhà máy của EVN: chiếm 85% tổng công suất
32 nhà máy ngoài EVN: chiếm 15% tổng công suất
Nhập khẩu: Trung Quốc (0,4%)
Khâu truyền tải
4 công ty truyền tải điện khu vực;
Trung tâm điều độ hệ thống điện quốc gia
Trang 3• Khâu phân phối:
8 công ty điện lực thuộc EVN: 30,8% số xã
54 doanh nghiệp nhà nước: 3,0% số xã
572 công ty trách nhiệm hứu hạn, công ty cổ phần và doanh nghiệp tư nhân: 2,4% số xã
Các hợp tác xã: 50,2% số xã
Các ban quản lý điện huyện và xã: 12,7% số xã
Trang 4 Xác định giá điện:
Giá bán điện của các nhà máy phát điện:
14 nhà máy của EVN: Giá cạnh tranh trên thị trường điện nội bộ (không vượt giá trần do EVN ấn định);
Các nhà máy ngoài EVN: Giá thoả thuận với EVN (nếu bán điện cho EVN); Giá thoả thuận với khách hàng trực tiếp (nếu bán trực tiếp);
Giá bán điện tiêu dùng: Chính phủ quy định
Chi phí truyền tải và phân phối: chưa có quy định cụ thể, nhưng khuyến khích giảm tổn thất điện năng
Trang 5 Lợi ích của cạnh tranh ban đầu trên thị trường điện lực
năng tăng cạnh tranh khâu sản xuất điện tạo sức ép giảm chi phí sản xuất điện; tuy nhiên tác động này còn hạn chế vì:
Nguồn điện từ EVN: nhu cầu điện lớn so với cung ứng các nhà máy sản xuất điện giá cao vẫn bán được điện tác động giảm giá sản xuất điện còn hạn chế;
Nguồn điện ngoài EVN: giá bán không hấp dẫn nhà đầu tư (giá điện bán cho EVN còn thấp; được khuyến khích bán trực tiếp nhưng không được từ chối khách hàng chính sách);
Chưa có cạnh tranh trong thị trường bán buôn và bán lẻ hạn chế tác động của cạnh tranh giá ở khâu phát điện tới giá bán điện cuối cùng
Trang 6 Do vậy:
Thị trường phát điện cạnh tranh giúp các nhà máy của EVN tập dượt hơn là tạo ra lợi ích tức thì cho người tiêu dùng (sức ép điều chỉnh giá điện tăng vẫn rất lớn)
Tác động cạnh tranh trên thị trường phát điện cạnh tranh phụ thuộc nhiều vào tăng lượng điện cung ứng; tiếp tục tạo động cơ mạnh hơn để các doanh nghiệp sản xuất điện giảm chi phí (ví dụ như cổ phần hoá);
Người tiêu dùng cuối cùng hưởng lợi rõ rệt hơn khi có thị trường bán buôn và bán lẻ cạnh tranh.
Trang 7 Cải cách ban đầu vào giữa những năm 90
Cơ cấu lại ngành điện lực (1994): mục tiêu là giảm sự can thiệp hành chính của bộ chủ quản vào hoạt động kinh doanh thường ngày + xây dựng doanh nghiệp điện lực có khả năng cạnh tranh quốc tế:
Thành lập Tổng công ty Điện lực Việt Nam (hợp nhất 3 công ty điện lực khu vực) lấy lợi nhuận là một trong các mục tiêu hoạt động (hơn
là chỉ thực hiện các yêu cầu hành chính như trước đó)
Chuyển độc quyền khu vực thành độc quyền quốc gia trong tất
cả các khâu sản xuất, truyền tải và phân phối điện.
Bộ Công nghiệp thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với
EVN: thông qua tất cả các chính sách giá, ra quyết định đầu tư vốn,
bổ nhiệm các thành viên HĐQT và giám đốc điều hành:
Tính độc lập giữa cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước, điều tiết và EVN chưa rõ.
Trang 8 Củng cố hoạt động của EVN: mục tiêu là tăng cường hiệu quả tài chính
và có thể mở rộng đầu tư sản xuất bằng nguồn vốn của EVN hơn là
Khuyến khích các thành phần kinh tế khác tham gia hoạt động điện lực (quy định về BOT và Luật đầu tư nước ngoài): cho phép các nhà máy điện độc lập được bán điện cho khách hàng công nghiệp trong các khu công nghiệp xác định với giá cả không cần sự chấp thuận của EVN hoặc bán điện cho lưới điện quốc gia.
Trang 9 Từng bước xây dựng thị trường điện lực cạnh tranh
Nghị quyết của Đảng (2003), Chiến lược (2004) và Quy hoạch (2001)
phát triển ngành điện lực xác định chính sách chung về phát triển thị trường điện lực:
Từng bước xây dựng thị trường điện trong nước cạnh tranh;
Không biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp;
Nhà nước giữ độc quyền trong khâu truyền tải; chi phối trong khâu sản xuất và phân phối điện; EVN chỉ đầu tư nhà máy điện có công suất từ 100MW trở lên.
Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia thị trường điện: xây dựng các công trình nguồn điện và lưới điện phân phối theo các
hình thức nhà máy điện độc lập (IPP), BT, BOT, liên doanh, công ty
cổ phần; (tổng công suất có nguồn vốn đầu tư nước ngoài không quá 20% tổng công suất cực đại của hệ thống)
Trang 10 Luật Điện lực (2004): thể chế hoá các chính sách chung :
Áp dụng nguyên tắc cạnh tranh trong hoạt động điện lực, trừ khâu truyển tải và điều độ hệ thống điện quốc gia;
Đảm bảo tính công khai, minh bạch, công bằng và không phân biệt đối xử giữa các thành phần tham gia thị trường điện lực.
Giai đoạn 1: Thị trường phát điện cạnh tranh: các nhà máy điện phải cạnh tranh để bán điện cho EVN; (dự kiến 10 năm)
Giai đoạn 2: Thị trường bán buôn cạnh tranh: các công ty điện lực và khách hàng lớn được mua điện trên thị trường và có thể được lựa chọn người cung ứng; (dự kiến 10-15 năm)
Giai đoạn 3: Thị trường bán lẻ cạnh tranh: các nhà máy điện, các công ty phân phối, nhà bán lẻ cạnh tranh bán điện cho khách hàng tiêu dùng; đồng thời tất cả khách hàng, kể cả khách hàng trực tiếp mua từ lưới điện, được tự do lựa chọn người cung ứng (dự kiến 10-15 năm)
Trang 11 Xây dựng thị trường điện nội bộ
Bắt đầu vận hành từ tháng 7/2004 với sự tham gia của 14 nhà máy điện thuộc EVN;
Dự kiến cho phép các nhà máy ngoài EVN tham gia vào năm 2005;
Trước mắt thực hiện các giao dịch về điện, sau đó là các dịch vụ dự phòng;
Các nhà máy đưa ra bản chào về công suất và giá bán từng giờ cho này hôm sau; EVN quyết định nguồn điện mua trên cơ sở dự báo nhu cầu và ưu tiên cho doanh nghiệp chào giá thấp;
Thị trường này sẽ phát triển đến mức cao nhất khi có sự tham gia của Trung tâm giao dịch điện và chịu sự điều tiết của Uỷ ban điều tiết điện lực;
Trang 12 Chính sách giá
Thực hiện cải cách giá điện theo lộ trình đã duyệt: điều chỉnh giá điện tiến dần tới chi phí biên dài hạn;
Giảm bù chéo quá lớn giữa các nhóm khách hàng;
Tách phần chính sách xã hội ra khỏi giá điện; thực hiện hạch toán riêng phần dịch vụ mang tính công ích của EVN;
Kiểm soát giá điện ở nông thông để không vượt giá trần do Chính phủ quy định
Trang 13 Cơ cấu lại EVN
2002: xây dựng giá hạch toán nội bộ cho các nhà máy điện và các nhà máy điện đã trở thành các đơn vị hạch toán độc lập và có thể chào giá điện cạnh tranh;
Chào giá bán điện cạnh tranh trên thị trường điện nội bộ nhằm tạo sức
ép hợp lý hoá sản xuất, giảm chi phí;
Kế hoạch 2004-2010: cơ cấu lại các nhà máy điện thành 3 nhóm:
(i) Duy trì 100% vốn nhà nước và hạch toán độc lập;
(ii) Chuyển thành công ty cổ phần với cổ phần chi phối của EVN;
(iii) Chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Bản thân EVN sẽ chuyển từ mô hình tổng công ty sang mô hình tập đoàn, theo đó quan hệ giao vốn được chuyền thành quan hệ đầu tư.
Trang 14 Số lượng DN cung ứng dịch vụ viễn thông và internet: 15
Fixed lines (5)
Mobile (4)
International (4)
VoIP (6)
IXP (7)
ISP (13)
OSP (10)
Trang 15 Cấp phép hoạt động: 1 (trước 1995); 3 (1995); 6 (2001), trong đó kinh doanh đường trục quốc gia và cổng quốc tế: 3
Chính thức cấp phép mới: nội hạt và đường dài (2002); quốc tế
(2003);
Thực tế cung ứng dịch vụ: cuối năm 2003: VNPT (3,4 triệu thuê
bao); SPT (24.000 thuê bao)
Năng lực của các DN mới còn nhỏ so với VNPT
Khả năng tăng thị phần của các doanh nghiệp mới lên 25-30% vào năm 2005 là khó thực hiện;
Cạnh tranh trực tiếp chưa mạnh, nhưng cạnh tranh gián tiếp tăng mạnh từ năm 2000 (khi xuất hiện điện thoại giao thức IP)
Trang 16 Sự xuất hiện các nhà cung cấp dịch vụ di động:
1992: Call-link tại TP Hồ Chí Minh;
1995: Mobiphone (hợp đồng hợp tác liên doanh);
1996: Vinaphone (công ty con của VNPT với 100% vốn của Việt Nam);
1998: Viettel, SPT, Hanoi Post &Telecom được cấp phép
12/2002: Cityphone của Hanoi Post & Telecom
Trang 17Dịch vụ Internet
Số lượng nhà cung ứng: 6 (IXP); 15 (ISP) và 12 (OSP).
Thị phần (số thuê bao) đến cuối năm 2004: VNPT (48.57%), FPT (28.56%), Viettel (9.66%), Netnam (5,97%), SPT (5,75%), OCI
Thị phần (điện thoại quốc tế) đến 11/2004: VNPT (36,2%), SPT
(22,31%), Viettel (20,1%), VP Telecom (12,93%), Vishipel (12,93%), Hanoi Telecom (4,53%)
Trang 18Định giá dịch vụ viễn thông
Doanh nghiệp có thị phần chi phối: Bộ BCVT định giá
Doanh nghiệp khác: tự định giá
Nhận xét
Mặc dù doanh nghiệp viễn thông ngoài VNPT đã thành lập từ nhiều năm, nhưng mới bắt đầu cung ứng dịch vụ hơn 1 năm trở lại đây;
Thị phần của các nhà cung ứng mới còn nhỏ bé trên một số thị trường;
Năng lực của các nhà cung ứng mới còn hạn chế so với VNPT, khả năng tăng thị phần của các nhà cung ứng mới lên 25-30% trong năm 2005 là rất khó;
Cạnh tranh tuy mới bắt đầu, nhưng đã tạo ra lợi ích cho người tiêu
dùng (thay đổi cách tính giá, giảm giá, khuyến mại, nhiều lựa chọn)
Trang 19 Khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế
Chính sách chung: chuyển từ độc quyền sang cạnh tranh.
Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia thị trường viễn thông công bằng và minh bạch; đồng thời tăng cường vai trò chủ đạo của DNNN;
Cho phép các doanh nghiệp trong nước, trước hết là DNNN, cung cấp các dịch vụ viễn thông cơ bản và giá trị gia tăng;
Mở cửa từng bước thị trường viễn thông cho các nhà đầu tư nước ngoài theo các lộ trình cam kết;
Xác định thị phần của các doanh nghiệp mới: 25-30% đến năm 2005; 40-50% năm 2010; 30 đến 40 ISP và nhiều OSP.
Trang 20 Pháp lệnh bưu chính và viễn thông
Mở cửa kinh doanh mạng viễn thông và IXP cho các doanh nghiệp
100% vốn nhà nước, có cổ phần chi phối hoặc đặc biệt của nhà nước;
mở cửa dịch vụ viễn thông, ISP và OSP cho tất cả các doanh nghiệp
trong nước;
Để tham gia thị trường viễn thông, các doanh nghiệp phải thực hiện quy trình thẩm định cấp phép hơn là đăng ký; việc cấp phép tiến hành theo từng trường hợp;
Để được cấp phép doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện nhất định, trong đó có các điểu kiện về phù hợp quy hoạch và kinh tế, thương mại.
Giấp phép kinh doanh có thời hạn: 15 đối với mạng, 10 năm đối với dịch
vụ Được gia hạn 1 lần, nhưng thời gian ra hạn không quá 1 năm.
Doanh nghiệp viễn thông nước ngoài chỉ được cung ứng dịch vụ viễn thông vào Việt Nam nếu có hợp đồng hoặc thoả thuận thương mại với doanh nghiệp Việt Nam quản lý cổng quốc tế; khách hàng các công ty này phải có hợp đồng với các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam
Trang 21 Cam kết quốc tế mở cửa thị trường viễn thông (Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ)
tác Việt Nam được phép để cung cấp dịch vụ viễn thông;
vốn tới mức 50% từ 12/2003; dịch vụ internet từ 12/2004;
vốn tối đa là 49% trong các dịch vụ cơ bản từ 12/2005 và các dịch vụ điện thoại (cố định, đường dài, nội hạt) từ 12/2007.
Trang 22 Cơ cấu lại doanh nghiệp độc quyền VNPT
1994: tách chức năng quản lý nhà nước và quản lý kinh doanh thành lập Tổng công ty bưu chính viễn thông (1995);
VNPT cung cấp cả dịch vụ bưu chính và dịch vụ viễn thông; thực hiện hạch toán phụ thuộc cho các dịch vụ; áp dụng bù chéo; thực hiện các nhiệm vụ xã hội (phổ cập dịch vụ)
Dự kiến: tách bưu chính khỏi viễn thông: thành lập Tổng công ty bưu chính và Tổng công ty Viễn thông;
Cổ phần hoá một số đơn vị và xây dựng mô hình tập đoàn
Nhận xét: so với kinh nghiệm mở cửa thị trường viễn thông của nhiều nước, mở của thị trường viễn thông của Việt Nam mới ở giai đoạn đầu
Trang 23 Các quy định đảm bảo cạnh tranh trên thị trường dịch vụ viễn thông:
Gia nhập thị trường viễn thông mới chỉ là một phần, vấn đề còn là bảo đảm cạnh tranh sau khi ra nhập.
Trang 24 Cácưđiềuưkiệnưkếtưnốiưkhôngưphânưbiệtưđốiưxửưvàưminhưbạch:
Điện lực, Viễn Thụng và Ngõn Hàng iềuưkiệnưkếtưnốiưcôngưbằngưvàưhợpưlý;ưcướcưkếtưnốiưkhôngưphânưbiệtư theoưloạiưhìnhưdịchưvụ,ưdoanhưnghiệp;ưthoảưthuậnưkếtưnốiưkhôngưphânư biệtưđốiưxử
Trang 26 PhæcËpdÞchvô
Bù chéo: không minh bạch
Quỹ phổ cập dịch vụ
C¬quan®iÒutiÕt
Tách chức năng lập chính sách và chức năng kinh doanh;
MPT đóng vai trò cơ quan hoạch định chính sách và điều tiết
Nhận xét
Việt Nam đã có các quy định pháp lý đề cập tới những vẫn đề cơ bản đảm bảo cạnh tranh trên thị trường viễn thông và có cách tiếp cận theo thông lệ quốc tế;
Tuy nhiên, việc đảm bảo cạnh tranh còn phụ thuộc nhiều vào các quy định cụ thể và thực thi trên thực tế Nhưng đó lại là những điểm yếu hiện nay
Trang 27 Quy mô vốn của các tổ chức tín dụng nói chung thấp
Thị trường chia cắt: NHTMNN với DNNN; NHNN với các công ty đa quốc gia, NHTMCP với khu vực tư nhân trong nước
Lợi ích của cạnh tranh: thu hẹp chênh lệch lãi suất cho huy động và cho vay; đa dạng hoá dịch vụ; tạo sức ép áp dụng công nghệ ngân hàng hiện đại,
Trang 28 Các cải cách tác động tới cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng:
Xây dựng hệ thống ngân hàng hai cấp: thành lập các NHTMNN và cho phép thành lập các ngân hàng mới
Tách cho vay chính sách và cho vay thương mại
Giảm can thiệp tín dụng
Tạo sân chơi bình đẳng
Tự do hoá lãi suất
Tăng cường chuẩn mực kế toán, minh bạch
Cơ cấu lại khu vực NHTMNN: tài chính, nghiệp vụ và tổ chức,
trong đó có cổ phần hoá
Củng cố khu vực NHTMCP: Sáp nhập, giải thể các ngân hàng
thương mại cổ phần yếu kém; yêu cầu tăng vốn điều lệ
Trang 29 Mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng
Hiệp định TMVM
Từ 2005: NH Mỹ được tái cấp vốn, tái chiết khấu từ NHTW
2001-09: liên doanh với đối tác Việt Nam theo tỷ lệ góp vốn 49%;
30%- 2010: các NH Mỹ có sân chơi bình đẳng như các NH Việt Nam
Quyết định 210:
Nới rộng hạn mức huy động tiền đồng của các thể nhân không có quan hệ tín dụng cho các ngân hàng EU (từ 250% lên 350% tổng vốn điều lệ) ngang bằng với các NH Mỹ, cao hơn các NH khác (50%)
Trang 30 Cấu trúc thị trường:
Cạnh tranh đã xuất hiện trong các ngành vốn chỉ có độc quyền nhà nước; tuy nhiên, thị phần và tiềm lực của các doanh nghiệp mới còn nhỏ bé so với doanh nghiệp độc quyền;
Lợi ích mà cạnh tranh mang lại còn khác nhau giữa các ngành
Có thể tóm tắt cách tiếp cận chung về chính sách cạnh tranh:
Tách chức năng quản lý nhà nước và điều hành kinh doanh;
Khuyến khích sự tham gia của các doanh nghiệp mới, trước hết là
doanh nghiệp trong nước và từng bước đối với nhà đầu tư nước ngoài;
Cơ cấu lại doanh nghiệp độc quyền và tiến tới cổ phần hoá;
Phân tách các hoạt động công ích: hạch toán riêng, áp dụng cách thức thực hiện hoạt động công ích phù hợp hơn;
Xây dựng các quy định pháp luật minh bạch nhằm đảm bảo cạnh tranh
Từng bước mở cửa cho đầu tư nước ngoài.