ĐẤT NƯỚC 1 Tác giả Nguyễn khoa điềm thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Thơ ông hấp dẫn bởi sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu lắng của người trí.
Trang 1ĐẤT NƯỚC
1 Tác giả
- Nguyễn khoa điềm: thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹcứu nước
- Thơ ông hấp dẫn bởi sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu lắng của người trí thức
về đất nước, con người Việt Nam (Thơ NKĐ mới lạ, giàu chất suy tư, luôn có sự hòa quyện chặtchẽ giữa cảm xúc và trí tuệ)
- Đoạn trích: Trường ca "Mặt đường khát vọng" gồm 9 chương "Đất nước" thuộc phần đầuchương 5 trong bản trường ca này
+ Đoạn trích thể hiện những cảm nhận mới mẻ của tác giả về Đất Nước qua những vẻ đẹpđược phát hiện ở chiều sâu trên nhiều bình diện: lịch sử, địa lí, văn hóa
+ Đoạn trích là một trong những đoạn thơ độc đáo, đặc sắc viết về đề tài quê hương, đất nước
Đề 1 Phân tích 9 câu đầu
MB: "Mỗi tác phẩm văn học phải là một phát minh về hình thức, khám phá về nội dung"
(Lê-ô-nốp) Trường ca "Mặt đường khát vọng" của Nguyễn Khoa Điềm là một tác phẩm như thế Ởđoạn trích "Đất Nước" ông viết về một đề tài không mới nhưng có những khám phá riêng, mới mẻ,độc đáo Đến với đoạn thơ người đọc sẽ thấy những cảm nhận mới mẻ của tác giả về Đất Nước quanhững vẻ đẹp được phát hiện ở chiều sâu trên nhiều bình diện: lịch sử, địa lí, văn hoá, Điều đóđược thể sâu sắc qua những câu thơ sau:
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất nước có từ ngày đó
TB:
1 Khái quát đoạn thơ
2 Phân tích nội dung và nghệ thuật
a Bốn câu đầu, những khám phá mới mẻ về lịch sử Đất Nước
Khi ta lớn lên ĐN đã có rồi Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
- Đất nước có trước chúng ta:
+ Trước hết, từ “ta” là một khái niệm mơ hồ, không xác định, đó có thể là bất cứ người ViệtNam nào, trong bất cứ thời kì nào, là chúng ta hôm nay, là con cháu sau này, là cha ông hàng ngànnăm trước, bất cứ người Việt Nam nào sinh ra đều được nuôi dưỡng, che trở và lớn lên trong cáinôi đất nước
+ Bên cạnh đó, hai từ Đất Nước được viêt hoa một cách trang trọng Đó là cách nhà thơ thểhiện niềm tự hào và lòng thành kính trước Đất Nước của mình
+ Cụm từ "đã có rồi" nghĩa là Đất Nước có trước chúng ta Khi ta sinh ra thì Đất Nước đã tồn
tại, có trở về quá khứ bao lâu đi nữa thì Đất Nước vẫn là cái đã hiện hữu Đây chính là sự tồn tạilâu đời, hiển nhiên của Đất Nước
- Đất Nước xuất hiện trong những câu chuyện cổ tích:
+ Cụm từ “ngày xửa ngày xưa” khiến ta nhớ đến những câu chuyện cổ tích của bà, của mẹ.Trong những câu chuyện cổ tích xa xưa ấy, có hình ảnh của Đất Nước Nghĩa là Đất Nước có từ rấtlâu, có trước cả cổ tích, xưa hơn cổ tích
Trang 2+ Ngoài ra, cụm từ chỉ thời gian không xác định "ngày xửa ngày xưa" vừa gợi cái xa xăm củachiều dài lịch sử vừa gợi sự gần gũi, thân quen trong kí ức tuổi thơ mỗi người.
=> Như vậy, không cần đến những sử liệu, không cần đến những con số chính xác với nhữngniên đại cụ thể Thông qua thứ thời gian mơ hồ trong trí tưởng tượng của trẻ thơ, tác giả nói về lịch
sử lâu đời của đất nước vừa sâu sắc, thấm thía vừa gần gũi đến bất ngờ
- Đất Nước "bắt đầu" cùng với các phong tục tập quán
+ Theo phong tục Việt Nam miếng trầu tuy không có giá trị vật chất cao nhưng chứa đựngnhiều ý nghĩa Nó là một nghi lễ tinh thần không thể thiếu, thể hiện phép lịch sự trong giao tiếp.+ Đặc biệt miếng trầu còn là "đầu câu chuyện" giao duyên lứa đôi Ăn của nhau một miếngtrầu tức là đã nhận lời nên duyên chồng vợ cho nên các cô gái xưa được răn dạy rằng không thể tuỳtiện mà nhận miếng trầu của chàng trai "Thưa rằng bác mẹ em răn/ Làm thân con gái chớ ăn trầungười" Vì vậy, trầu và cau là những vật phẩm không thể thiếu trong nghi lễ cưới hỏi của dân tộc.+ Bên cạnh đó, hình ảnh miếng trầu còn gợi nhắc sự tích "Trầu cau", gợi trong tâm trí ngườiđọc nhưng trường liên tưởng phong phú Vị cay nồng cùng màu đỏ được tạo ra bởi sự hoà quyệngiữa các chất liệu trầu, cau, vôi khi ăn chính là biểu tượng của tình nghĩa vợ chồng thuỷ chung sonsắt, tình anh em gắn bó, keo sơn Đó là biểu tượng truyền thống thuỷ chung, ân nghĩa của ngườiViệt
=> Câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm giúp người đọc nhận ra, hình ảnh miếng trầu nhỏ bé, dung
dị "bây giờ bà ăn" có lịch sử hàng ngàn năm tuổi, là khởi đầu của nên văn hoá Việt, là sự tiếp nốinhững giá trị văn hoá đẹp đã có từ nghìn đời
- Đất Nước "lớn lên", phát triển cùng truyền thống trồng tre, đánh giặc:
+ Cây tre: là hình ảnh quen thuộc, gần gũi với đời sống thường ngày của người dân Việt Namnhư đũa tre, giường tre, nhà tre,
+ "Trồng tre đánh giặc" cũng gợi nhắc truyền thuyết "Thánh Gióng", người dũng sĩ được nuôidưỡng bởi nhân dân, vươn mình dậy nhổ tre đánh đuổi kẻ thù Thánh Gióng lên ba tuổi không biếtnói nhưng khi biết nói thì tiếng cất lên đầu tiên là tiếng nói của lòng yêu nước, ý chí quyết tâm bảo
vệ Đất Nước trước hoạ xâm lăng
+ Và biết bao thế hệ người dân Việt Nam đã dùng tre để vót chông, làm mũi tên, làm gậy, đểđánh giặc Cây tre đã là biểu tượng của người Việt Nam, nhà văn Thép Mới đã từng nhận xét: "Tregiữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh Giữ đồng lúa chín"
=> Với biện pháp tu từ nhân hoá, Đất Nước được nhìn nhận như một sinh thể có sự trưởngthành Nhà thơ đã phát hiện ra, đất nước ngày càng phát triển, trưởng thành, vững bền qua côngcuộc dựng nước và giữ nước
*Tiểu kết: Nguyễn Khoa Điềm đã đem đến cho độc giả những khám phá mới mẻ về lịch sửĐất Nước Đất Nước đã có từ rất lâu Bao thế hệ người lớn lên thì Đất Nước đã có rồi, Đất Nướcsinh ra, lớn lên, trưởng thành và tồn tại cho đến ngày nay cùng với những phong tục tập quán vàtruyền thống đánh giặc ngoại xâm của dân tộc
Ở những câu thơ tiếp theo, để minh chứng cho nguồn gốc lâu đời của Đất Nước, NguyễnKhoa Điềm đã lựa chọn và đưa vào những hình ảnh bình dị, gần gũi, quen thuộc mang đậm dấu ấnvăn hoá văn học dân gian
b Khám phá: Đất Nước hiện thân trong văn hoá đời sống thường ngày
Đó là tập tục, thói quen; đạo lí tốt đẹp của con người; quá trình lao động sản xuất cần cù
Tóc mẹ thì bới sau đầu Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
- Trước hết là tục “bới tóc sau đầu” (búi tóc thành cuộn sau gáy) Đó là thói quen thẩm mỹ rấtriêng của người Việt Bới tóc vừa thể hiện nét duyên dáng, nữ tính, giản dị của người phụ nữ xưa:
"Tóc ngang lưng vừa chừng em bới/ Để chi dài bối rối lòng anh" Vừa thể hiện niềm tự hào về tinhthần độc lập tự cường Dù trải qua hàng ngàn năm đô hộ của phương Bắc, dù chịu sự tác động
Trang 3mạnh mẽ của nhiều nền văn hoá ngoại lai nhưng người phụ nữ Việt Nam vần giữ được vẻ đẹptruyền thống.
- "Mỗi bài thơ hay là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo, có khả năng làm sống dậy trong lòngngười đọc những liên tưởng phong phú" "Cha mẹ thương mặn" là một câu thơ hay Sức gợiphong phú của câu thơ này chính là ở chỗ, nó không chỉ giúp ta liên tưởng đến ý thơ trong ca daoquen thuộc:
Tay nâng chén muối đĩa gừng/Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau
Hay: Muối ba năm muối đang còn mặn/
Có xa nhau đi nũa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa
Cuộc sống của chúng ta không phải là một thảm hoa hồng trải dài mà luôn có những khó khănthử thách Đời phải trải qua "giông tố" nhưng điều quan trong là trước "giông tố" chúng ta khôngđược "cúi đầu" Và quan trọng hơn, trên đời này chỉ có một điều ấy thôi, đó là "yêu thương nhau".Lòng yêu thương, nghĩa tình sâu nặng sẽ là nguồn lực tinh thần vô giá giúp chúng ta vượt qua mọi
"phong ba bão táp" của cuộc đời "Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn" có nghĩa là dùtrong gian khổ cha mẹ vẫn thuỷ chung, thương yêu, gắn bó bền chặt
=> Đó là tình cảm vợ chồng rất Việt Nam, càng gian lao khổ ải càng son sắt thuỷ chung (Đóchính là lối sống trọng tình, một nét đẹp khác trong truyền thống văn hoá của con người ViệtNam)
- Tiếp đến, hình ảnh cái kèo, cái cột khiến ta nhớ về ngôi nhà truyền thống của người Việt Đó
là tổ ấm cho mọi gia đình đoàn tụ bên nhau Và cũng từ đó, ngôn ngữ được hình thành, từ việc đặttên cho cái kèo, cái cột đến việc đặt tên người, tên núi, tên sông người Việt đã dần có tiếng nóiriêng
- Cuối cùng, hình ảnh hạt gạo đã đưa người đọc trở về nền văn minh ngông nghiệp lúa nước Ở
đó cây lúa, hạt gạo là lương thực chính nuôi sống con người Thành ngữ "một nắng hai sương" kếthợp với một loạt động từ "xay, giã, giần, sàng" đã thể hiện được các công đoạn của quá trình laođộng, sự vất vả gian lao của quá trình lao động này Qua đây, nhà thơ cũng muốn nhắc nhở thế hệmai sau Hãy biết quý trọng công sức của cha ông, quý trọng công sức của những con người laođộng vất vả "bán mặt cho đất bán lưng cho trời" để làm ra hạt gạo Nó gợi nhắc câu ca dao xưa:
"Ai ơi bưng bát cơm đầy/ Dẻo thơm một hột đắng cay muôn phần"
=> Như vậy, quá trình phát triển của ĐN gắn liền với sự hình thành nên các phong tục, gắnliền với quá trình lao động vất vả nhưng đầy tình nghĩa của con người
c Câu cuối: từ những khám phá mới mẻ về đất nước trong chiều dài lịch sử, chiều sâu văn
hoá, nhà thơ đi đến khẳng định:
“Đất nước có từ ngày đó ”
- Lời thơ mộc mạc, chắc nịch, vừa khẳng định chắc chắn vừa bày tỏ niềm tự hào về cội nguồnđất nước Hơn nữa, dấu “ ” kết thúc đoạn thơ thể hiện sự xúc động của tác giả, tạo trường liêntưởng cộng hưởng của người đọc về lịch sử đất nước
- “Ngày đó” là ngày nào ta không rõ nhưng chắc chắn “ngày đó” là ngày ta có truyền thống,
có phong tục tập quán, có văn hóa mà có văn hóa nghĩa là có đất nước Đất Nước hiện hình trong
cổ tích, ca dao, trong đạo lí tốt đẹp, trong lao động sản xuất, Vì vậy, đúng như lời Bác dặn trướclúc đi xa “Rằng muốn yêu tổ quốc mình, phải yêu những câu hát dân ca” Dân ca, ca dao là đặctrưng văn hóa của Việt Nam, muốn yêu Đất Nước trước hết phải yêu và quý trọng văn hóa nướcnhà Bởi văn hóa chính là Đất Nước Thật đáng yêu đáng quý, đáng tự hào biết bao lời thơ dung dị,ngọt ngào của Nguyễn Khoa Điềm
3 Đánh giá chung
- Nghệ thuật:
Đọan thơ (trích trong chương V), giàu chất trữ tình chính luận, vừa đc viết bằng chiều sâu trítuệ, bề dày văn hóa, vừa đc viết bằng những rung động mãnh liệt của cảm xúc nên rất dễ đi vàolòng người
Trang 4Lời thơ đậm đà chất liệu văn hóa văn học dân gian, hình ảnh từ những câu chuyện cổ tích,truyền thuyết, bài ca dao, khiến cho câu thơ của NKĐ hiện lên vừa mới mẻ, hiện đại (thể thơ tự
do, dài) mà vẫn gần gũi, thân thuộc như ca dao, như cổ tích
Đặc biệt, chương thơ được viết với hình thức tâm tình của hai nhân vật anh và em, giống nhưcuộc trò chuyện của đôi lứa yêu nhau, điều này, khiến cho câu thơ giàu tính triết luận trở nên nhẹnhàng mà sâu lắng
- Ý nghĩa:
+ Đoạn thơ đã đem đến cho độc giả một nhận thức đầy ý nghĩa về Đất Nước Đất Nước có từ
xa xưa, Đất Nước là của ông bà, cha mẹ chúng ta, của một cộng đồng cùng chung ngôn ngữ, chungphong tục tập quán, chung văn hoá cội nguồn Đất Nước tưởng như xa lạ mà gần gũi, kì vĩ mà thânquen, hữu hình mà vô hình
+ Đoạn thơ đã góp phần làm phong phú thêm hình ảnh Đất Nước trong văn học Nếu nhưnhững nhà thơ cùng thời như Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi tạo một khoảng cách nhất định đểchiêm nghiệm đất nước thì Nguyễn Khoa Điềm lại nhìn đất nước ở tầm gần Đến với đoạn trích
“Đất nước” (trích Trường ca mặt đường khát vọng), người đọc nhận ra Đất Nước hiện diện trong
muôn mặt đời sống hàng ngày, trong mỗi chúng ta
KB: Chín câu thơ đầu đoạn trích" Đất Nước" đã đem đến cho người đọc vẻ đẹp của 1 Đất
Nước giàu văn hóa cổ truyền Sedrin tưng nói “Văn học vượt qua mọi quy luật băng hoại của thờigian, chỉ mình nó không thừa nhận cái chết” Đoạn thơ trên là minh chứng hùng hồn cho nhận địnhmuôn thủa đó Hình ảnh đất nước trong đoạn thơ trên chắc chắn sẽ còn làm rung động trái tim bạnđọc nhiều thế hệ
Đề 2 Phân tích đoạn thơ:
Đất là nơi anh đến trường
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ.
MB:
TB:
1 Khái quát về đoạn trích (đề1)
(Nếu những câu thơ trước đó chủ yếu thể hiện suy nghẫm của Nguyễn Khoa Điềm về khởinguồn của Đất Nước Đất Nước có từ "ngày xửa ngày xưa" gắn với những thuần phong mĩ tục,truyền thống tốt đẹp của dân tộc, thì đoạn thơ này lại chủ yếu thể hiện cái nhìn mang tính khámphá về Đất Nước ở phương diện không gian địa lí)
2 Phân tích
a Đất Nước tồn tại trong không gian địa lý
* Đất Nước là không gian gần gũi, thân thuộc với mỗi người:
Đất là nơi anh đến trường
Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm
- Mượn hình thức trò chuyện, tâm tình với một người con gái yêu thương nhà thơ đã địnhnghĩa Đất Nước theo cách riêng của mình, theo cách đặc biệt của thơ
+ Nguyễn Khoa Điềm đã tách từ Đất Nước thành 2 thành tố “Đất” và “Nước” để có thể đi sâuvào khái niệm giúp người đọc có cái nhìn đầy đủ, toàn diện về Đất Nước
+ Đất mạnh mẽ, vững chãi, gắn với người con trai Đó là con đường anh đến trường, tới nhữngchân trời kiến thức bao la
+ Nước dịu dàng, trong trẻo gắn với người con gái đem đến cho em sự ngọt ngào trong sáng
"Nước là nơi em tắm" còn gợi nhớ câu chuyện cổ tích về cuộc gặp gỡ kì lạ giữa Chử Đồng Tử vàTiên Dung
+ Bên cạnh đó, với biện pháp điệp cấu trúc: “Đất là ”, “Nước là ”, "Đất Nước là " nhà thơ
đã gửi gắm những khám phá về không gian Đất Nước: Đất Nước không phải cái gì xa xôi, trừu
Trang 5tượng mà là chính không gian gần gũi, thân thuộc với mỗi người Đất Nước là nơi ta lớn lên, họctập, sinh hoạt, và hò hẹn.
- Đặc biệt, khi thể hiện những cảm nhận về Đất Nước nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm không nói
ra tất cả những gì mình nghĩ mình hiểu và cảm nhận Ông chỉ gợi mở vẫn đề thông qua những câuthơ, hình ảnh thơ chắt lọc, hàm súc, cô đọng và giàu sức gợi Cho nên người đọc phải vận dụng tất
cả vốn hiểu biết, kiến thức, kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng của mình để phát hiện, suy ngẫm,khám phá ý nghĩa phong phú được gợi mở từ câu thơ, hình ảnh thơ Câu thơ "Đất Nước là nơi emđánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm sẽ giúp người đọc hình dung rõ hơn về điều đó Câu thơđược lấy ý từ một bài ca dao quen thuộc trong văn học dân gian:
Khăn thương nhớ ai,/Khăn rơi xuống đất.
Đêm qua em những lo phiền, Lo vì một nỗi không yên một bề
Trong ca dao, dân ca, chiếc khăn là vật gần gũi với người con gái, là người bạn tâm tình để họgửi gắm những tâm tư tình cảm, trong đó có cả những rung động đầu đời, những niềm thương nỗinhớ Cho nên nói "Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm" nghĩa là khônggian của Đất Nước là không gian của tình yêu đôi lứa, là nơi chứa đựng những nỗi nhớ, rung độngđầu đời của người con gái
- Liên hệ mở rộng: Trước Nguyễn Khoa Điềm, Lí Thường Kiệt và Nguyễn Trãi đã cũng đãtừng khẳng định chủ quyền của Đất Nước trên phương diện không gian địa lí:
"Nam quốc sơn hà Nam đế cư" ("Nam quốc sơn hà")
"Núi sông bờ cõi đã chia " ("Bình Ngô đại cáo")
Trong các tác phẩm này, hình ảnh Đất Nước hiện lên thật lớn lao, kỳ vỹ, thiêng liêng Còntrong cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm Đất Nước lại gắn với những không gian quen thuộc, thậmchí là riêng tư của mỗi người
Đất Nước gần gũi, bình dị, quen thuộc nhưng cũng rất thiêng liêng, bao la, rộng lớn
ĐN còn là nơi sinh tồn của biết bao thế hệ: ĐN là nơi dân mình đoàn tụ ĐN là không gian
đoàn kết của dtộc Việt để làm nên ĐN Việt Nam
* Đất Nước là không gian kỳ vỹ, lớn lao, vô cùng vô tận:
Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”
Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”
- Vẫn tiếp tục sử dụng lối chiết tự, điệp cấu trúc và khai thác sử dụng sáng tạo chất liệu vănhóa văn học dân gian, Nguyễn Khoa Điềm tiếp tục khám phá chiều rộng của không gian Đất Nước.Đất Nước là núi sông, rừng bể mênh mông, trù phú, giàu đẹp
+ Câu thơ gợi nhớ đến câu hò quen thuộc của người Bình Trị Thiên: "Con chim phượng hoàngbay ngang hòn núi bạc/ Con cá ngư ông móng nước biển khơi/ Gặp nhau đây xin phân tỏ đôi lời/Kẻo mai kia con cá về sông vịnh, con chim nọ đổi dời về non xanh"
+ Các hình ảnh "con chim phượng hoàng", "hòn núi bạc", con cá ngư ông" "biển khơi" vừa gợi
ra không gian rộng lớn, mênh mông, cao rộng vừa gợi ra sự giàu có, vương giả Tất cả đem đếncho người đọc một hình dung về Đất Nước rộng lớn, giàu đẹp
b Đất Nước tồn tại trong chiều dài của thời gian
Đất Nước không chỉ được cảm nhận là không gian “mênh mông” mà nó còn đc cảm nhậntrong thời gian “đằng đẵng”, trong đó, các thế hệ nối tiếp nhau viết lên những trang sử hào hùngcủa Đ N
Thời gian đằng đẵng/Không gian mênh mông Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ .
- Đất Nước tồn tại trong thời gian:
+ Từ láy "đằng đẵng" gợi cả một chiều sâu hun hút của lịch sử 4000 năm dựng nước và giữnước "Đằng đẵng" cũng mang sắc thái chờ đợi mỏi mòn, nó cho ta hình dung về một chặng đườnggian lao mà ở đó nhân dân ta thường xuyên phải đối mặt với kẻ thù xâm lược Trong suốt chặngđường ấy chúng ta luôn khao khát, luôn mong chờ một ngày Đất Nước được độc lập, tự do Và cho
Trang 6đến hôm nay khi mà Nguyễn Khoa Điềm viết những dòng thơ này chúng ta vẫn luôn bền bỉ đấutranh để hiện thực hoá khát khao cháy bỏng ấy.
+ Từ đó ông khẳng định: từ khi hình thành, phát triển cho đến nay "Đất Nước là nơi dân mìnhđoàn tụ" Đất Nước là nơi sinh tồn và phát triển của bao thế hệ người Việt Nam Không có nhânđân đất nước không thể hình thành
- Đât Nước tồn tại trong truyền thuyết:
+ Trong những câu thơ tiếp theo Nguyễn Khoa Điềm nhắc tới hai truyền thuyết: Lạc LongQuân và Âu Cơ, truyền thuyết về các vua Hùng
+ Truyền thuyết là sự sáng tạo của nhân dân nhưng nó cũng ít nhiều chứa đựng những dấu vếtlịch sử, quan trọng hơn, qua truyền thuyết chúng ta thấy được cách nhìn nhận đánh giá, thấy đượcthái độ và tình cảm của nhân dân dành cho Đất Nước
+ Truyền thuyết "Lạc Long Quân và Âu Cơ" thể hiện niềm tự hào của nhân dân về dòng giốngcao quý của dân tộc, dòng giống con rồng cháu tiên
+ Hai từ "đồng bào" muốn nhắc nhở chúng ta, dù sống ở đâu trên dải đất này thì chúng ta cũng
là con của một mẹ, là máu mủ ruột già cùng chung một bọc trứng của mẹ Âu Cơ Vì vậy chúng taphải luôn yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, cùng nhau đoàn kết để đứng lên đánh bại kẻ thù
+ Truyền thuyết vua Hùng lại thể hiện niềm tự hào về quá trình đấu tranh dựng nước và giữnước, đồng thời cũng nhắc nhở chúng ta phải luôn ghi nhớ công ơn của các bậc tiền nhân đã đổbao xương máu để có được ngày hôm nay Mỗi con người hôm nay phải biết trân trọng và giữ gìn
di sản thiêng liêng ấy Như lời bác Hồ đã dặn: "Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu taphải cùng nhau giữ lấy nước"
+ Vì vậy, "những ai đã khuất", "những ai bây giờ", thế hệ đi trước, thế hệ hiện tại phải luôn ghilòng tác dạ, dạy dỗ thế hệ tương lai không bao giờ được phép quên truyền thống cao quý của dântộc Hàng năm dù làm ăn, lập nghiệp ở đâu cũng phải biết "cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ" Hai chữ "cúiđầu" cùng với chữ "Tổ" được viết hoa thể hiện tình cảm thành kính, thiêng liêng hướng về cộinguồn Người Việt dù ở bất cứ đâu trên thế giới này cũng nhớ phong tục thờ cúng ông bà, tổ tiên,nhớ ơn cội nguồn và không quên ngày Quốc giỗ: "Dù ai đi ngược về xuôi/ Nhớ ngày giỗ Tổ mừngmười tháng ba"
=> Như vậy, nếu nhìn từ bình điện thời gian, có thể thấy Đất Nước hình thành và phát triểnqua các cuộc chạy tiếp sức của các thế hệ người Việt Nam trong chiều dài lịch sử dụng nước và giữnước
3 Đánh giá chung
- Nghệ thuật: Đọan thơ (trích trong chương V), giàu chất trữ tình chính luận, vừa đc viết bằngchiều sâu trí tuệ, bề dày văn hóa, vừa đc viết bằng những rung động mãnh liệt của cảm xúc nên rất
dễ đi vào lòng người
Lời thơ đậm đà chất liệu văn hóa văn học dân gian, hình ảnh từ những câu chuyện cổ tích,truyền thuyết, bài ca dao, khiến cho câu thơ của NKĐ hiện lên vừa mới mẻ, hiện đại (thể thơ tự
do, dài) mà vẫn gần gũi, thân thuộc như ca dao, như cổ tích
Ngôn ngữ ngôn ngữ giản dị, chắt lọc, truyền cảm; hình ảnh cô đúc giàu sức gợi; kết cấu câuthơ dài ngắn xen kẽ, thay đổi linh hoạt cùng với một loạt các biện pháp tu từ như phép đối, điệp, sosánh, được sử dụng khéo léo Nguyễn Khoa Điềm đã góp một cái nhìn đầy mới mẻ về khônggian và thời gian lịch sử của đất nước
Chủ đề quê hương Đất Nước không phải là một chủ đề mới lạ trong văn học Việt Nam Bởi lẽ,trước Nguyễn Khoa Điềm đã có nhiều bài thơ về Đất Nước của nhiều nhà thơ có tên tuổi, Nhưng
có thể nói nhưng có thể nói, "Đất Nước" của Nguyễn Khoa Điềm đã khẳng định được vai trò to lớncủa nhân dân đối với đất nước một cách dễ hiểu, dễ cảm, dễ nhớ và sâu sắc Đoạn thơ đã thức tỉnhđược nhận thức của tuổi trẻ miền Nam thời chống Mỹ và tuổi trẻ hôm nay khi họ đang lún sâu vàolối sống ngoại lai Đoạn thơ đã làm sống lại truyền thống hào hùng của dân tộc ta
KB:
Trang 7Đề 3 Phân tích đoạn thơ:
"Trong anh và em hôm nay
Làm nên ĐN muôn đời "
MB: "Có mối tình nào hơn Tổ quốc?" (Trần Mai Ninh)
Đất Nước từ lâu đã là nguồn đề tài lớn chi phối cảm hứng sáng tác của không ít tác giả trongnền văn học của dân tộc Cùng chọn một đề tài quen thuộc, thế nhưng mỗi nhà thơ lại tạo nên một
vẻ đẹp riêng cho tác phẩm của mình Đến với đoạn trích "Đất Nước" của Nguyễn Khoa Điềm,người đọc sẽ thấy những cảm nhận mới mẻ của tác giả về Đất Nước qua những vẻ đẹp được pháthiện ở chiều sâu trên nhiều bình diện: lịch sử, địa lí, văn hoá, Đất Nước tồn tại, hiện diện ngaytrong chính mỗi con người Điều đó được thể sâu sắc qua những câu thơ sau:
"Trong anh và em hôm nay Làm nên Đất Nước muôn đời "
TB:
1 Khái quát về đoạn trích
2 Phân tích nội dung và nghệ thuật
a Đất Nước có trong "anh" và "em" (trong mỗi người)
Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần Đất Nước
- Nhân vật trữ tình trong hai câu thơ là "anh" và "em" khiến cho lời thơ trở nên nhẹ nhàng, thânthiết như lời thủ thỉ, tâm tình của hai trái tim yêu thương Nhưng họ không nói với nhau về chuyệnriêng tư của mình Nhân vật "anh" và "em" trong thơ của Nguyễn Khoa Điềm ở bên nhau là đểcùng nhau nói chuyện về Đất Nước, nhắc nhở nhau về trách nhiệm với Đất Nước
=> Đất Nước một vấn đề mang tình khái quát trừu tượng, chính trị khô khan trở nên trữ tìnhsâu lắng, dễ đi vào lòng người
- Chỉ với hai câu thơ ngắn gọn, tác giả đã chỉ ra Đất Nước hóa thân, kết tinh trong cuộc sốngcủa mỗi con người
+ Bề ngoài, câu thơ có vẻ phi lí, vì Đất Nước bao la, rộng lớn, thiêng liêng, vĩnh hằng sao cóthể hóa thân trong mỗi người Nhưng bề sâu, câu thơ lại diễn tả một điều hợp lí : mỗi người đềumang trong mình một phần Đất Nước
+ Bởi vì, ai lớn lên cũng được thừa hưởng những di sản văn hóa tinh thần và vật chất của chaông Đó là truyền thống yêu nước, phong tục ăn trầu, búi tóc, ngôn ngữ, nên Đất Nước hiện hìnhtrong màu da, mái tóc, dáng dấp, tiếng nói của mỗi người
=> Đất nước hiện thân trong mỗi người
b Mối quan hệ giữa con người và ĐN (giữa cá nhân với cộng đồng, riêng với chung, thế hệ này với thế hệ khác.
Khi hai đứa cầm tay
…Đến những tháng ngày mơ mộng
- "Cầm tay" được điệp lại hai lần, nhấn mạnh sự kết nối, đoàn kết, gắn bó, yêu thương
+ "Khi hai đứa cầm tay" thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân "Khi chúng ta cầm taymọi người" chỉ mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng
+ Cá nhân gắn kết với cá nhân thì Đất Nước "hài hoà nồng thắm" nghĩa là khi chúng ta gắn bóvới nhau sẽ tạo nên hạnh phúc cá nhân, hạnh phúc gia đình Từ hạnh phúc cá nhân sẽ làm nên hạnhphúc Đất Nước
+ Cá nhân gắn kết với cộng đồng thì Đất Nước sẽ "vẹn tròn to lớn", tạo nên sức mạnh đoàn kếtnhấn chìm bè lũ bán nước và cướp nước Đây là sự tiếp nối lới dạy của Bác: "Đoàn kết, đoàn kết,đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công"
- Liên hệ: + Cá nhân tồn tại trong cộng đồng cũng giống như giọt nước với biển cả Nếu giọtnước không hoà vào biển cả nó sẽ cạn khô nhanh chóng Cũng như vậy nếu cá nhân chỉ quan tâmđến hạnh phúc cá nhân của mình, không có trách nhiệm với cộng đồng, không vì cộng đồng thì Đất
Trang 8Nước đâu còn + "Giọt nước chỉ hoà vào biển cả mới không cạn mà thôi" Con người phải gắn kếtvới con người, với tập thể, cộng đồng thì cuộc sống mới có ý nghĩa, ngày càng tốt đẹp hơn Nói
như nhà thơ Tố Hữu : bài thơ (Tiếng ru)
Một ngôi sao chẳng sáng đêm
Một thân lúa chín, chẳng nên mùa vàng Một người - đâu phải nhân gian Sống chăng, một đốm lửa tàn mà thôi
=> ĐN chỉ trường tồn khi có sự gắn kết giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng
- Những câu thơ tiếp theo, nhà thơ bày tỏ niềm tin tưởng, lạc quan vào tương lai của ĐN:+ Các từ ngữ: "mai này", "sẽ", "đến" là sự hình dung, tưởng tượng của tác giả về tương lai ĐN.+ Hai chữ "con ta" đầy thiết tha, trìu mến "Con ta" là con "anh" và "em" nhưng đó cũng làcách nói sáng tạo để chỉ các thế hệ nối tiếp trong tương lai Nhà thơ đang kỳ vọng và có một niềmtin mãnh liệt vào các thế hệ tương lai của Đất Nước Sau này, khi con trưởng thành, con sẽ mang
"Đất Nước đi xa", vượt ra ngoài không gian chật hẹp, đưa Đất Nước hoà nhập với quốc tế, đếnnhững tháng ngày "mơ mộng" vượt ra cả mong đợi của thế hệ hôm nay Đó không chỉ là mơ ướccủa Nguyễn Khoa Điềm mà còn là niềm mong mỏi của hàng chục triệu con người Việt Nam
c Trách nhiệm của cá nhân đối với Đất Nước
"Thơ là âm nhạ của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm" Thơ tác động đến nhậnthức, tâm hồn người đọc trực tiếp bằng hệ thống ngôn từ, hình ảnh, thấm đẫm tình cảm, cảm xúc.Cảm xúc của nhà thơ càng nồng nàn, chân thành thì tiếng nói của nhà thơ tác động đến độc giảcảng thấm thía, sâu sắc Các câu thơ cuối đoạn trích là những lời chân thành, xúc động, bật ra từcảm xúc mạnh mẽ, mãnh liệt nhất của nhà thơ
Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
… Làm nên Đất Nước muôn đời
- Ba chữ "em ơi em" ngắn gọn, hàm súc nhưng được tách riêng ra thành một nhịp vang lên
trong câu thơ như tiếng gọi tha thiết trìu mến với người yêu thương Nó chính là khúc dạo đầu cholời nhắn nhủ ân tình, nhẹ nhàng, cảm động
- Biện pháp tu từ so sánh "Đất Nước là máu xương của mình" khiến cho khái niệm Đất Nướctrở nên cụ thể, hữu hình Trong đó "máu xương" mang nhiều ý nghĩa Trước hết, Đất Nước đượcxây dựng, bảo vệ bằng máu xương của biết bao thế hệ người Việt Nam Đất Nước cho chúng tahình hài, máu thịt Đất Nước không chỉ bên ngoài ta như con đường, ngọn núi, dòng sông mà cònhiện hữu ở trong ta, trong từng giọt máu Việt Nam Từ đó nhà thơ đưa ra những lời nhắn nhủ thiếttha về ý thức trách nhiệm của cá nhân với cộng đồng:
- Điệp ngữ "phải biết" thúc giục mỗi người phải có trách nhiệm với Đất Nước Bởi sự trườngtồn của Đất Nước cũng là sự trường tồn của mỗi người Và Nguyễn Khoa Điềm chỉ ra mỗi ngườicần có hành động:
+ "Gắn bó" là phải xem Đất Nước như một phần thân thể, yêu thương Đất Nước như yêuthương chính bản thân mình, máu thịt của mình Rất nhiều nhà thơ khác cũng đã ý thức được sâusắc điều đó Chế Lan Viên đã viết: Ôi! Tổ quốc ta yêu như máu thịt
+ "San sẻ" là giúp đỡ, hỗ trợ nhau, yêu thương, đùm bọc, "lá lành đùm lá rách" Luôn ghi nhớlời dạy của cha ông "Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhaucùng"
+ "Hoá thân" là sẵn sàng hi sinh cho Tổ quốc, sẵn sàng "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" Đó
là tinh thần quyết chiến, quyết thắng kẻ thù xâm lược
=> Sự "gắn bó", "san sẻ" và sẵn sàng "hoá thân" cho Đất Nước đã, đang và sẽ làm cho ĐấtNước mãi phát triển và trường tồn
=> Đoạn thơ đã khơi dậy ý thức cá nhân đối với Đất Nước Mỗi cá nhân cần phải có tráchnhiệm tự nguyện gánh vác những công việc chung của đất nước Khi Đất Nước có giặc ngoại xâmthì phải hoà mình vào cuộc chiến đấu của dân tộc Khi Đất Nước thái bình thì phải học tập, rènluyện để phát triển, dựng xây Đất Nước ngày càng giàu, đẹp, mạnh
3 Đánh giá chung
Trang 9- Nghệ thuật:
- Ý nghĩa:
+ Đoạn thơ đã đem đến cho độc giả một nhận thức đầy ý nghĩa về Đất Nước
+ Đoạn thơ đã góp phần làm phong phú thêm hình ảnh Đất Nước trong văn học Nếu nhưnhững nhà thơ cùng thời như Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi tạo một khoảng cách nhất định đểchiêm nghiệm đất nước thì Nguyễn Khoa Điềm lại nhìn đất nước ở tầm gần Đến với đoạn trích
“Đất nước” (trích Trường ca mặt đường khát vọng), người đọc nhận ra Đất Nước hiện diện trong
muôn mặt đời sống hàng ngày, trong mỗi chúng ta
KB:
Đề 4 Phân tích đoạn thơ:
"Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước
Những núi Vọng Phu Những cuộc đời đã hoá núi sông ta "
MB:
TB:
1 Khái quát về đoạn trích
2 Phân tích nội dung và nghệ thuật
a Tám câu đầu là nhứng phát hiện mới mẻ của Nguyễn Khoa Điềm về những địa danh của ĐN
"Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước
Những núi Vọng Phu Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang,
+ Núi Bút, non Nghiên ở Quảng Ngãi
+ Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm – Nam Bộ
+ Liên hệ: Khác với bài thơ "Tây Tiến", nhà thơ Quang Dũng đưa đến cho độc giả ấn tượng vềnhững địa danh xa lạ: Mường Hịch, Mường Lát, Sài Khao, Từ đó gợi ta liên tưởng đến mộtmiền đất xa xôi, hẻo lánh, hoang sơ, bí hiểm, Ở đây, Nguyễn Khoa Điềm đưa vào trong đoạn thơtrên những địa danh nổi tiếng, quen thuộc, từ Bắc tới Nam
=> Điều quan trọng nhất là, nhà thơ đã có những phát hiện mới mẻ, ông nhận ra những danhlam thắng cảnh của ĐN không phải chỉ đơn thuần là do thiên nhiên tạo ra, mà là sản phẩm do conngười tạo nên
- Chất liệu văn hóa, văn học dân gian: mỗi địa danh được nhắc đến đều gắn với một huyềnthoại, huyền tích và sự thật về nhân dân trong lịch sử
+ Hòn Vọng Phu là địa danh có hình thù giống người vợ bồng con chờ chồng Tác giả pháthiện ra, vẻ đẹp của hòn Vọng Phu không phải là do thiên tạo mà chính tình nghĩa sâu nặng, thủychung, son sắt của con người đã thổi hồn cho sự vật Nếu không có cảnh người vợ mòn mỏi chờchồng trong những ngày binh lửa chiến tranh thì không có hòn Vọng Phu
+ Cũng như vậy, nếu không có tình cảm đôi lứa bền vững thì không có hòn Trống Mái ở bờbiển Sầm Sơn và một số nơi
+ Ao hồ ở Làng Gióng (Phù Đổng – Gia Lâm) là dấu tích của gót ngựa Thánh Gióng, sau khidẹp tan giặc Ân đã bay về trời
+ Vẻ đẹp hùng vĩ, uy nghiêm của những ngọn núi chập trùng nơi đất Tổ Hùng Vương gắn vớitruyền thuyết chín mươi chín con voi trung nghĩa
Trang 10=> Qua những địa danh được khoác lên mình màu sắc huyền thoại, ta không chỉ hiểu hơn vềmột thời kì lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc mà còn nhận thức đúng về công lao củanhân dân trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.
+ Vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của dòng sông xanh thẳm với phù sa màu mỡ gắn liền với truyềnthuyết Chín con rồng nằm im (s Cửu Long)
+ Núi Bút, Non Nghiên ở dải đất miền Trung nhọc nhằn, gian khó là dấu ấn truyền thống hiếuhọc do người học trò nghèo hóa thân tạo thành Địa danh này không chỉ gợi truyền thống văn hóaViệt Nam mà còn là biểu tượng của những khao khát cháy bỏng trong tâm hồn Việt Không chỉđơn giản là khao khát ai cũng có “cơm ăn áo mặc” mà trên tất cả, ai cũng được học hành Chỉ cócon đường học tập dân tộc ta mới vươn tới những chân trời mới, ĐN ta mới có thể “lớn lên” và “đixa”/
+ Thắng cảnh Hạ Long với những ngọn núi mang dáng hình con cóc, con gà là dấu ấn củacuộc sống bình dị, chất phác, là sự góp thân của những con vật bình thường tạo thành sông vịnh.+ Những ngọn núi linh thiêng ở Tây Ninh, đồng bằng Nam Bộ là sự ghi dấu tên tuổi của nhữngngười dân bình thường có công với vùng đất như: Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
=> Như vậy, mỗi địa danh đều mang một vẻ đẹp tâm hồn của nhân dân ta Nhân dân đã mởmang, xây dựng và gìn giữ non sông Đất Nước mình
Thiên nhiên Đất Nước qua cái nhìn của Nguyễn Khoa Điềm hiện lên như một phần hồn, máuthịt của nhân dân Chính nhân dân đã tạo dựng nên Đất Nước này, đã đặt tên, ghi dấu vết cuộc đờimình lên mỗi ngọn núi, dòng sông, tấc đất này
- Điệp từ “góp”: Cả đoạn thơ, từ “góp” được điệp lại 6 lần, nhấn mạnh sự đóng góp nhỏ bé,bình dị thầm lặng của những người dân vô danh đối với Đất Nước Qua đó NK Điềm thể hiệ sựbiết ơn, trân trọng những đống góp của các thế hệ nhân dân với Đất Nước
Có thể nói, khi viết về không gian địa lý của ĐN, N Khoa Điềm không nhắc tới những vịanh hùng, những triều đại vàng son, những vĩ nhân được lưu danh trong sử sách như Chế LanViên:
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặcNguyễn Du viết Kiều và đất nước hóa thành vănKhi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào của Bắc
Hưng Đạo Đại Vương diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng
(Tổ quốc bào giờ đẹp thế này chăng)Nguyễn khoa Điềm nhắc tới những con người vô danh, bình dị mà nhà thơ gọi bằng danh từchung mang nghĩa khái quát như: những người vợ, cặp vợ chồng, người học trò nghèo, những cuộcđời,
b Từ những cảm nhận về không gian của Đất Nước, nhà thơ đi đến khái quát
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Những cuộc đời đã hoá núi sông ta
- Nhân hóa: Mỗi ngọn núi, dòng sông, đồng ruộng, gò bãi, mỗi danh lam thắng cảnh trên khắpmọi miền Đất Nước đều không còn vô tri, đều như có linh hồn, như mang tâm trạng, đều gợi một
“dáng hình”, một “ao ước”, một “lối sống ông cha”
- Liên từ “và” đứng ở đầu câu thơ có chức năng liên kết với phần trên và mở ra ý khái quát ởphần sau Giúp nhà thơ khẳng định: bất cứ một nơi nào trên đất nước từ ruộng đồng đến gò bãi, từBắc tới Nam, từ quá khứ đến hiện tại vươn ra tương lai Mỗi ngọn núi, con sông, vùng đất đều là
sự hóa thân kì diệu của mỗi người dân
- Thán từ “ôi!” kết hợp với dấu ba chấm “ ” cuối đoạn thơ đã thể hiện niềm tự hào và sự xúcđộng nghẹn ngào khi tác giả nghĩ về “bốn ngàn năm” đã qua Có biết bao cuộc đơiì đã “hóa núisông ta” Động từ “hóa” không chỉ gơi ra những đóng góp lớn lao bởi mồ hôi xương máu của nhândân mà còn ngợi ca sức mạnh kì diệu của những con người vô danh, thầm lặng Những con người
“một nắng hai sương” trong thời bình và kiên cường trồng tre đánh giặc trong thời chiến
Trang 11=> Với cấu trúc quy nạp, đi từ liệt kê các địa danh cụ thể đến khái quát tổng hợp, đúc kết chân
lí, dường như nhà thơ không thể kể ra hết được những danh lam thắng cảnh và những nét đẹp củavăn hóa dân tộc trên mọi miền Tổ quốc Cuối cùng nhà thơ đi đến khẳng định: trên bình diệnkhông gian địa lí, mỗi địa danh của Đất Nước, mỗi địa chỉ văn hóa đều là sự hóa thân của bao cuộcđời, bao tâm hồn Việt
có thể nói nhưng có thể nói, "Đất Nước" của Nguyễn Khoa Điềm đã khẳng định được vai trò to lớncủa nhân dân đối với đất nước một cách dễ hiểu, dễ cảm, dễ nhớ và sâu sắc
Đoạn thơ đã thức tỉnh được nhận thức của tuổi trẻ miền Nam thời chống Mỹ và tuổi trẻ hômnay khi họ đang lún sâu vào lối sống ngoại lai Đoạn thơ đã làm sống lại truyền thống hào hùngcủa dân tộc ta
KB
Đề 5 Phân tích đoạn thơ:
"Em ơi em Họ đã làm ra Đất Nước"
MB:
TB:
1 Khái quát về đoạn trích
2 Phân tích nội dung và nghệ thuật
a 3 câu đầu đoạn: đóng vai trò chuyển ý
"Em ơi em/Hãy nhìn rất xa/ Vào bốn nghìn năm Đất Nước"
- Nhà thơ mở đầu đoạn thơ bằng tiếng gọi tha thiết: "Em ơi em" Câu thơ toàn vần bằng, âmđiệu thơ kéo dài, vang xa, tha thiết Đây là lần thứ hai trong toan bộ trích đoạn nhà thơ sử dụngđiệp khúc này Cách gọi ấy đã tạo giọng điệu thủ thỉ, tâm tình Khiến đoạn thơ trở thành lời tâm sựngọt ngào của anh và em về lịch sử của Đất Nước
- "Anh" và "em" bên nhau không phải để nói chuyện riêng, chuyện tình yêu, nỗi nhớ, mà họnhắn nhủ, nhắc nhở nhau cùng nhìn lại "bốn nghìn năm lịch sử" của dân tộc để nhận thức đúng hơn
về vai trò của nhân dân
- Hơn nữa, kết cấu câu thơ đặc biệt: dung lượng câu thơ sau dài hơn so với câu trước như đẩyngười đọc dần trở về quá khứ xa xưa của dân tộc
=> Từ đây, Đất Nước được cảm nhận ở bình diện thứ 2: trong chiều dài của thời gian lịch sửvới những phát hiện, suy ngẫm sâu sắc của nhà thơ
b 8 câu tiếp:Nhân dân đã dựng xây và bảo vệ Đất Nước
"Năm tháng nào cũng người người lớp lớp Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ".
- Điệp: "người người lớp lớp", "con gái", "con trai" đã tạo nhịp điệu hào hùng cho câu thơ vàkhiến cho hình ảnh nhân dân hiện lên đông đảo
+ Mỗi lớp người là một thế hệ, 4000 lớp người là 4000 thế hệ với vô vàn những người "congái", "con trai"
+ Tất cả đều đã từng "bằng tuổi chúng ta", bằng tuổi "anh" và "em" đều trẻ trung, đều cần cùdũng cảm và mang trong mình nhiệt huyết của tuổi thanh xuân
Trang 12+ Thời bình họ chăm chỉ lao động , thời chiến người con trai ra trận để bảo vệ đất nước, ngườicon gái ở nhà chăm sóc mẹ già, con thơ Họ vừa đảm nhiệm gánh nặng ruộng vườn vừa đảm đangtrong công việc gia đình, trở thành hậu phương vững chắc cho chồng yên tâm nơi chiến trận.
- Bên cạnh đó, tác giả còn vận dụng thành công câu nói dân gian: "giặc đến nhà thì đàn bàcũng đánh" Câu nói đã gợi ra được không khí sục sôi khi nhân dân ta chiến đấu oanh liệt để bảo vệdân tộc Thật hiếm có dân tộc nào mà tinh thần yêu nước, quyết tâm đánh giặc lại sục sôi khôngchỉ ở đấng nam nhi đại trượng phu mà ở cả những người phụ nữ chân yếu tay mềm Như vậy, lịch
sử hào hùng của dân tộc có sự góp công, góp sức của tất cả nhân dân trong đó không thể thiếu vaitrò của người phụ nữ Việt Nam
- Đặc biệt, tác giả không sử dụng một danh từ riêng nào khi nói về lịch sử
+ Cả đoạn thơ không có một cái tên riêng, chỉ có "con gái", "con trai", "họ", không có mộttriều đại hoàng kim, cũng không nhắc đến những người anh hùng dù "cả anh và em đều nhớ".+ Phải chăng vì các triều đại, anh hùng lẫy lừng tên tuổi đã được Tổ quốc lưu danh trong sửsách, được lòng dân muôn đời nhớ ơn, thờ phụng Mà dù sao, con số các triều đại, các anh hùngcũng là hữu hạn còn đóng góp của nhân dân của biết bao thế hệ để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thì
vô danh, vô hạn, thầm lặng, lớn lao
=> Như vậy, khi nhìn về lịch sử "bốn nghìn năm" của Đất Nước, Nguyễn Khoa Điềm khôngnhắc tới các triều đại phọng kiến như Nguyễn Trãi:
"Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập.
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương"
Ông nhắc tới những người dân bình dị, vô danh
- Lập luận đòn bẩy: Trong số những người dân vô danh ấy, nhiều người đã trở thành anh hùngđược lưu danh sử sách như: bà Trưng, bà Triệu, chị Út Tịch, Nguyễn Văn Trỗi, chị Võ Thị Sáu, những người anh hùng này cả anh và em đều nhớ, nhưng dụng ý của nhà thơ là không nhắc tớinhững người anh hùng nổi tiếng trong lịch sử mà nhắc tơi những con người vô danh, bình dị đã âmthầm lăng lẽ hiến dâng từ mồ hôi, xương máu đến cả tuổi thanh xuân và hạnh phúc lứa đôi để "làmnên Đất Nước"
c 7 câu cuối: khẳng định công lao của nhân dân Nhà thơ đã ngợi ca, tập trung khắc hoạ chândung một tập thể anh hùng vô danh
Nhưng em biết không Nhưng họ đã làm ra Đất Nước
- Chữ "nhưng" ở đầu đoạn thơ có vai trò liên kết ý thơ, nhấn mạnh vai trò to lớn của nhân dân,những con người không dược lưu danh sử sách, bia đá, bảng vàng
- "Họ" được điệp lại hai lần chỉ bao người "con gái", "con trai" trong bốn nghìn lớp ngườigiống ta lứa tuổi Bốn nghìn lớp người là bốn nghìn thế hệ Mỗi thế hệ là vô vàn những người "congái", "con trai", họ là những người dân vô danh không ai "nhớ mặt đặt tên" nhưng họ có công làmnên đất nước và họ chính là những con người Nguyễn Khoa Điềm quan tâm nhiều hơn hết
- Biện pháp tu từ đối lập: "sống" – "chết", "giản dị" – "bình tâm" đã thể hiện sâu sắc vẻ đẹp củanhân dân Họ suy nghĩ bình thường, giản đơn, chết âm thầm lặng lẽ Những người dân bình thường
mà Nguyễn Khoa Điềm không nhắc tên ấy có thể là người vợ nhớ chồng "góp cho Đất Nướcnhững núi Vọng Phu", hay "cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái", những người học trònghèo mà hiếu học đã góp cho Đất Nước mình Núi Bút, non Nghiên cũng có thể họ là nhữngngười nông dân "cui cút làm ăn toan lo nghèo khó" (Văn tế ) Họ đã cống hiến cho đất nướcmột cách thầm lặng và đơn giản vô ngần Họ có thể là những con người "Sống trên cát chết vùitrong cát/ Những trái tim như ngọc sáng ngời" (Tố Hữu) Chính vì có những "trái tim như ngọcsáng ngời" ấy nên đất nước này là đất nước của nhân dân
3 Nhận xét chung
Trang 13Chương thơ được viết với giọng điệu riêng biệt, giọng điệu trữ tình chính luận mà ta khôngthể bắt gặp ở bất cứ nhà thơ nào khác
Chỉ với một đoạn thơ ngắn trích trong "Đất Nước" trích trường ca "Mặt đường khát vọng"với hệ thồng ngôn ngữ giản dị, chắt lọc, truyền cảm; hình ảnh cô đúc giàu sức gợi; kết cấu câu thơdài ngắn xen kẽ, thay đổi linh hoạt cùng với một loạt các biện pháp tu từ như phép đối, điệp, sosánh, được sử dụng khéo léo; khả năng vận dụng sáng tạo chất liệu văn hoá văn học dân gian
Nguyễn Khoa Điềm đã góp một cái nhìn đầy mới mẻ về lịch sử dựng nước và giữ nước củadân tộc ta
Chủ đề quê hương Đất Nước không phải là một chủ đề mới lạ trong văn học Việt Nam Bởi
lẽ, trước Nguyễn Khoa Điềm đã có nhiều bài thơ về Đất Nước của nhiều nhà thơ có tên tuổi, Nhưng có thể nói nhưng có thể nói, "Đất Nước" của Nguyễn Khoa Điềm đã khẳng định được vaitrò to lớn của nhân dân đối với đất nước một cách dễ hiểu, dễ cảm, dễ nhớ và sâu sắc
Đoạn thơ đã thức tỉnh được nhận thức của tuổi trẻ miền Nam thời chống Mỹ và tuổi trẻ hômnay khi họ đang lún sâu vào lối sống ngoại lai Đoạn thơ đã làm sống lại truyền thống hào hùngcủa dân tộc ta
KB:
Đề 6 Phân tích đoạn thơ:
“Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi.”
TB:
1 Khái quát
2 Phân tích, cảm nhận
a 7 câu đầu đoạn: nhân dân truyền lửa và giữ hồn dân tộc
“Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng Có nội thù thì vùng lên đánh bại”
- Từ “họ” đứng ở vị trí đầu tiên trong câu thơ và điệp đi điệp lại nhiều lần trong đoạn thơ vừa
có tác dụng đem đến cảm giác về sự đông đảo, tính chất không xác định, vô danh vừa nhấn mạnhvai trò to lớn của nhân dân trong các phương diện khác nhau của đời sống văn hóa, lịch sử
- Bên cạnh đó, thủ pháp liệt kê cũng đã gợi ra nhiều công lao thầm lặng của nhân dân:
+ “Truyền” “hạt lúa” là truyền lại thành tựu của nền văn minh lúa nước Từ thủa lập nước,những người con của mẹ Âu Cơ đã “một nắng hai sương” chăm chút, nâng niu để lưu giữ vàtruyền lại cho thế hệ sau Đó là những hạt ngọc ngà chắt chịu tinh hoa của đất trời, kết quả của mồhôi, công sức con người vì thế nó trở thành biểu tượng văn hóa đầy tư hào, trở thành biểu tượngcho truyề thống lao đông cần cù của những người nông dân Việt Nam
+ “Chuyền lửa” là chuyền ánh sáng, hơi ấm, sự sống và sự tiến hóa của văn minh nhân loại.Thủa xa xưa khi tìm ra lửa, loài người thực sự đã tách ra khỏi thế giới nguyên thủy tăm tối dã man.Chính ngọn lửa đã duy trì sự sống, sự tồn tại cho nhân loại Người nông dân Việt Nam từ ngàn đờixưa đã chuyền lửa qua mỗi nhà bằng hòn than ủ, con cúi bện bằng rơm tạo nên không gian ấm áptình làng nghĩa xóm, tắt lửa tối đèn có nhau
+ “Truyền” “giọng điệu” là truyền lại thứ của cải tinh thần vô cùng quý giá của dân tộc Trảiqua bao lần binh lửa chiến tranh: hàng nghìn năm Bắc thuộc, hàng trăm năm Pháp thuộc, bất chấpmọi âm mưu đồng hóa của kẻ thù, tiếng nói của dân tộc vẫn trường tồn chính là nhờ nhân dân.+ Nhân dân cũng chính là người có công khai khẩn đất hoang, mở mang bờ cõi, lập làng, lập
ấp Họ đi đến đâu cũng mang theo tên xã, tên làng, phong tục tập quán đến nơi mới để tạo nên sựphong phú, tạo nên sự đa dạng trong bản sắc văn hóa dân tộc Việt
+ Nhân dân còn xây dựng nền tảng vững chắc cho người đời sau an cư, lạc nghiệp Cụm động
từ “đắp đập”, “be bờ” gợi sự vun vén, xây dựng quê hương, đất nước để người đời sau yên tâm
“trồng cây hái trái” Người đời trước chuẩn bị, người đời sau hưởng thụ Câu thơ giúp người đọc
Trang 14thấy được sự hi sinh lớn lao, cao thượng của những người đi trước Họ đã âm thầm tạo dựng đểngười đời sau trồng cây hái trái, hưởng hạnh phúc, ấm no.
- Bên cạnh đó, biện pháp điệp cấu trúc: “có thì ” kết hợp với các động từ “chống”, “vùnglên”, “đánh bại” nhấn mạnh tinh thần tự nguyện cao độ của nhân dân trong sự nghiệp giữ nước.Nhân dân chính là người có công lao trong đấu tranh chống ngoại xâm, dẹp nội thù để đem lại bìnhyên cho nhân dân
b Để từ đó, nhà thơ đi đến khái quát:
“Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân Dân
Đất Nước của Nhân Dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”
- Những khái niệm “Đất Nước”, “Nhân Dân” được viết hoa trang trọng và được điệp lại nhiềulần trong hai câu thơ, cho thấy sự gắn bó không tách rời giữa nhân dân và đất nước và thể hiệnniềm tự hào, trân trọng, ngợi ca của nhà thơ
- Nhân dân không chỉ đem cuộc đời, mơ ước của mình để đặt tên cho sông núi mà còn đem trítuệ, tâm hồn, tình cảm, mồ hôi, xương máu của mình để viết nên lịch sử Vì vậy, đất nước này làđất nước của nhân dân, do nhân dân làm nên
- "Ca dao thần thoại" là hai thể loại tiêu biểu của văn học dân gian, ẩn dụ cho vẻ đẹp tâm hồn,trí tuệ của nhân dân lao động "Đất Nước của ca dao thần thoại" là đất nước của những truyềnthống: yêu nước, căm thù giặc; chăm chỉ, cần cù, sáng tạo trong lao động; tình nghĩa thuỷ chung,nhân ái, bao dung trong cuộc sống
c Đất nước của nhân dân trong chiều sâu của văn hoá phong tục tập quán
Dạy anh biết "yêu em từ thủa trong nôi"
Đi trả thù mà không sợ dài lâu
- Nói về phong tục tập quán của đất nước, đây không phải là cảm nhận riêng của Nguyễn KhoaĐiềm Trước đó trong "Bình Ngô đại cáo", Nguyễn Trãi cũng đã nói đến "nền văn hiến đã lâu"cùng "phong tục Bắc Nam cũng khác"
- Điều đặc biệt là, nói về văn hoá, Nguyễn Khoa Điềm không nhắc đến những công trình nghệthuật nổi tiếng như chùa Một Cột, tượng La Hán, không nhắc tới những tác phẩm nổi tiếng nhưTruyện Kiều hay "Chinh phụ ngâm", mà ông nhắc tới những câu ca dao lưu truyền trong dângian, do nhân dân tạo nên Và trong kho tàng ca dao, nhà thơ cũng chỉ chọn ba câu tiêu biểu để tạothành bốn câu thơ hiện đại nhằm khái quát ngắn gọn phẩm chất, lỗi sống, phẩm chất của ngườiViệt
+ Đó là sự thuỷ chung, say đắm của tình yêu thương:
"Yêu em từ thủa trong nôi/ Em nằm em khóc anh ngồi anh ru"
+ Đó là vẻ đẹp của lối sống đậm nghĩa, vẹn tình, quý trọng tình nghĩa hơn của cải vật chất:
Cầm vàng mà lội qua sông/ Vàng rơi không tiếc tiếc công cầm vàng
+ Đó là sự kiên cường, bất khuất trong đấu tranh xâm lược:
Thù này ắt hẳn còn lâu/ Trồng tre thành gậy gặp đâu đánh què
=> Dù nhà thơ không nói rõ chủ thể của hoạt động dạy anh là ai nhưng người đọc hiểu đóchính là ca dao, thần thoại, là nhân dân đúc kết những kinh nghiệm sống, đã tạo thành những phẩmchất truyền thống để gửi gắm trong kho tàng văn học dân gian
- Cuối cùng, nhắc đến chiều sâu văn hoá, Nguyễn Khoa Điềm còn sử dụng những câu hát,những làn điệu dân ca, nhất là dân ca sông nước
Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu
Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi
- Thán từ "ôi" thể hiện sự ngỡ ngàng, xúc động trước vẻ đẹp của những dòng sông đất nước,những câu hò, điệu lí, những làn điệu dân ca sông nước Nhà thơ có một phát hiện mới mẻ, thú vị
về những dòng sông đất nước Những dòng sông khởi nguồn từ đâu không rõ nhưng khi chạm vàođất Việt thì đều bắt lên câu hát Câu hát của những con người lao động khi chèo đò, kéo thuyền,vượt thác nhằm thể hiện một tâm hồn lạc quan, yêu đời
Trang 15- Số từ "trăm màu", "trăm dáng" điệp lại khiến người đọc liên tưởng đến dòng chảy văn hoá, vìmỗi dòng sông đi qua một miền đất đều góp phần tạo nên văn hoá của vùng miền đó Dòng chảyvăn hoá Việt có thể bắt nguồn từ dòng chảy văn hoá khác nhưng quan trọng là người Việt Nam đãbiết Việt hoá để tạo nên sự phong phú, da dạng cho văn hoá Việt như "trăm màu" trên "trăm dángsông xuôi".
=> Đóng góp quan trọng nhất của Nguyễn Khoa Điềm trong chương thơ này là ông đã pháttriển đầy đủ hoàn thiện tư tưởng "Đất Nước của Nhân Dân"
3 Nhận xét chung
Tham khảo đề trước:
KB:
SÓNG Xuân Quỳnh
I KHÁI QUÁT VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM
1.Xuân Quỳnh là một trong số "những nhà thơ tiêu biểu nhất của thê hệ các nhà thơ thời kì
kháng chiến chống Mĩ Thơ tình yêu là một mảng đặc sắc và rất tiêu biểu cho hồn thơ Xuân Quỳnh
- một trái tim phụ nữ hồn hậu, chân thành, giàu đức hi sinh và lòng vị tha Trong thơ Xuân Quỳnh,khát vọng sống, khát vọng yêu chân thành, mãnh liệt luôn gắn liền vối những dự cảm lo âu, nhữngmong manh, bất ổn
2.Sóng là một trong những bài thơ thành công nhất của Xuân Quỳnh về đề tài tình yêu, được
viết năm 1967, in trong tập Hoa dọc chiến hào 1968 Bài thơ thể hiện chân thực, tinh tế vẻ đẹp tâmhồn người phụ nữ luôn khao khát được yêu thương gắn bó, một trái tim luôn trăn trở lo âu, một tấmlòng luôn mong được hi sinh, dâng hiến cho tình yêu
Bài thơ là sự vận động và phát triển song hành của hai hình tượng: sóng và em Em là cái tôitrữ tình của nhà thơ, là hình tượng được miêu tả trong những cung bậc khác nhau của tình yêu.Sóng là hình tượng nghệ thuật được Xuân Quỳnh sáng tạo để diễn tả những cảm xúc, tâm trạng,những sắc thái tình cảm vừa phong phú vừa phức tạp của một trái tim phụ nữ đang rạo rực, khaokhát yêu thương Sóng chính là hình ảnh ẩn dụ cho trái tim người phụ nữ đang yêu, là sự hoá thân,phân thân của em Hai hình tượng ấy khi phân đôi để soi chiếu sự tương đồng, khi hoà nhập để
âm vang, cộng hưởng Trái tim người phụ nữ đang yêu soi vào sóng đế nhận ra mình, thông quasóng để thể hiện những rung động, đam mê, khao khát Hai hình tượng này đan cài, quấn quít vớinhau từ đầu tới cuối bài thơ, soi sáng cho nhau nhằm diễn tả sâu sắc, thâm thía hơn khát vọng tìnhyêu trào dâng mãnh liệt trong lòng nữ sĩ Với hình tượng sóng, bài thơ làm hiện lên hình ảnh ngườiphụ nữ đứng trước đại dương, mang tâm thế của một cá thế đối diện với cái vô biên và vĩnh hằng,
từ đó mà liên tưởng, suy tư, chiêm nghiệm về tình yêu như một nhu cầu tự nhận thức, tự khám phácái tôi bản thể Cảm xúc thơ vì thế vừa sôi nồi, mãnh liệt, vừa có chiều sâu triết lí
II TÌM HIỂU BÀI THƠ
1 Giới thiệu khái quát về hình tượng Sóng
Sóng là hình tượng Nghệ thuật đặc sắc, sức sống vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ cũng như nhữngsáng tạo nghệ thuật trong bài đều gắn liền với hình tượng trung tâm, hình tượng Sóng Cả bài thơ lànhững con Sóng tâm tình của tác giả được khơi dậy khi đứng trước biển cả, đối diện với những conSóng vô hạn, vô hồi Sóng là hình tượng ẩn dụ, là sự hóa thân của cái tôi trữ tình của nhà thơ, lúchòa nhập, lúc lại là sự phân thân của em Người phụ nữ rọi vào Sóng để thấy rõ lòng mình, nhờSóng để thể hiện tâm trạng của mình Với hình tượng Sóng Xuân Quỳnh đã tìm được một cáchdiễn tả và biểu hiện tâm hồn mình thật xác đáng và đẹp
2 Hình tượng Sóng
a Hình tượng Sóng được gợi ra bằng âm điệu
Âm điệu là sự hòa điệu nhuần nhụy giữa cảm xúc thơ và tiết điệu ngôn ngữ vì thế âm điệuchứa đựng tính chất của tình cảm thơ Bài thơ “Sóng” có âm hưởng nhịp nhàng, lúc dạt dào, sôinổi, lúc thầm thì, lắng sâu gợi nên âm hưởng những đợt sóng liên tiếp miên man, đó cũng là nhịp
Trang 16điệu tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu Âm hưởng chủ đạo là sự trải dài, không ngắt nhịp,Sóng được tạo nên bởi thể thơ 5 chữ với sự biến hóa cả về vần và nhịp Về nhịp chữ, bài thơ có sựbiến hóa phong phú về nhịp thơ, có lúc là nhịp 2/3, có lúc lại là nhịp 3/2, có lúc là nhịp 1/4 rồi lạitrở về không nhịp thơ Nhịp thơ thay đổi như vậy giúp Xuân Quỳnh mô phỏng nhịp Sóng biến đổirất mau lẹ, biến hóa không ngừng về vần, thi sĩ đã tạo ra các cặp từ, các vế câu, cặp câu đi liền kề,
kế tiếp luôn phiên đáp đối nhau Dữ dội và dịu êm (b), ồn áo và lặng lẽ (t) Sóng không hiểu nổimình (B), Sóng tìm ra tận Bể (T) Cặp này vừa lướt qua, cặp khác đã xuất hiện tựa như con Sóngnày vừa lặng xuống, con Sóng khác lại trào lên Nhờ đó âm điệu thơ gợi tả hình ảnh những conSóng trên mặt Biển cứ miên man khi thăng khi giáng khi bổng khi trầm Như vậy, trước khi Sóngxuất hiện qua hình ảnh cụ thể thì ta đã nghe, đã cảm nhận được Sóng qua âm hưởng mọi nhịp điệu
Âm hưởng và nhịp điệu của sóng rất gần gũi với tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu vìvậy Sóng là đối tượng để nhà thơ cảm nhận về thế giới tâm hồn mình
Đề 1 Phân tích bốn khổ thơ sau trong bài thơ "Sóng"
Dữ dội và dịu êm/ Khi nào ta yêu nhau
"Dữ dội và dịu êm/ Khi nào ta yêu nhau"
TB.
1 Khái quát
2 Phân tích
a Khổ 1: Sóng là biểu tượng cho tâm hồn và khát vọng của người phụ nữ khi yêu;
* Hai câu mở đầu: những trạng thái của sóng biển
Bài thơ có nhan đề là sóng và nhà thơ đã nhập đề ngay với hai câu thơ miêu tả trạng tháicủa sóng biển
Dữ dội và dịu êm/Ồn ào và lặng lẽ
- Cách ngắt nhịp 2/3, cùng với nghệ thuật đối được khai thác triệt để Vừa đối giữa các vế, vừađối giữa các câu, vừa đối về từ loại, vừa đối về ý nghĩa Các từ "dữ dội", "ồn ào" gợi ra tính chấtmạnh mẽ, mãnh liệt Các từ "dịu êm", "lặng lẽ" lại gợi ra sự hiền hoà, nhẹ nhàng Sử dụng nghệthuật đối lập Xuân Quỳnh đã miêu tả đúng những trạng thái trái ngược, đối cực của sóng biển Khigió to bão lớn sóng có thể cồn lên dữ dội, có thể xô lật thuyền, nhưng khi trời yên, gió lặng thìsóng lại lặng lẽ dịu êm Đây là quy luật tự nhiên muôn đời của sóng biển
- Bên cạnh đó, khi viết về các trạng thái đối cực của sóng biển, nhà thơ không sử dụng những
từ ngữ chỉ quan hệ đối nghịch như: nhưng, mà, Xuân Quỳnh lại sử dụng từ chỉ quan hệ ngangbằng "và" Từ “và” đặt giữa dòng thơ khiến trạng thái của sóng biển trở thành phép cộng của haithái cực đối lập Sóng luôn tồn tại đồng thời những trạng thái đối lập
- Đặc biệt, các từ ngữ chỉ sự chuyển động mạnh mẽ của sóng "dữ dội", "ồn ào" đứng ở đầu câuthơ Còn các từ ngữ biểu thị ý nghĩa về sự nhẹ nhàng, dịu dàng lại đặt ở cuối câu thơ Điều đó chothấy, sự "dữ dội", ồn ào chỉ diễn ra ở một số thời điểm, đặc tính muôn đời của sóng là "dịu êm",
"lặng lẽ"
- Những trạng thái thất thường của sóng đã khiến người đọc liên tưởng đến những con sónglòng, đến bản chất của tình yêu trong trái tim người phụ nữ Cũng giống như sóng, khi yêu trái timngười phụ nữ luôn bao hàm những cung bậc cảm xúc đầy mâu thuẫn, phức tạp Lúc vui, lúc buồn,
Trang 17khi mãnh liệt sôi nổi, lúc dịu dàng đằm thắm, khi gần gũi như những con sóng âu yếm vỗ bờ, khilại xa xôi như những con sóng típ tắp ngoài khơi, Nhưng cảm xúc chủ yếu của người con gái khiyêu vẫn là dịu dàng, đằm thắm Tất cả những trạng thái thất thường ấy đều là biểu hiện của tìnhyêu
Có lúc mãnh liệt, mãnh liệt nồng nàn, có lúc lại dịu dàng, kín đáo Đây chính là vẻ đẹp đángyêu, nữ tính của người phụ nữ truyền thống
- LHMR: Có nhà thơ đã từng viết rất hay về tâm hồn phong phú, phúc tạp của người phụ nữkhi yêu:
Em bảo: "Anh đi đi"
Sao anh không đứng lại ?
Em bảo: "Anh đừng đợi"
Sao anh vội về ngay ?
Lời nói thoảng gió bay Đôi mắt huyền đẫm lệ
Mà sao anh dại thế Không nhìn vào mắt em
=> Như vậy , đối diện với sóng biển, XQ tìm thấy sự tương đồng giữa sóng biển với tình yêuvới tâm hồn người phụ nữ đang yêu Nghĩa là sóng biển, tình yêu, tâm hồn người phụ nữ đang yêucùng một nhịp, cũng phong phú, phức tạp như nhau Đó cũng chính là vẻ đẹp truyền thống trongtâm hồn người phụ nữ
* Hai câu sau: hành trình của sóng biển
Sông không hiểu nổi mình/Sóng tìm ra tận bể
- Từ thực tế trăm sông dồn về biển cả, không có con sóng nào chịu ở mãi bến bờ chật hẹp củasông kết hợp với biện pháp nhân hoá, tác giả đã cho ng đọc thấy khát vọng mãnh liệt của ngườicon gái trong tình yêu
- Trong tình yêu, người con gái không chấp nhận sự hẹp hỏi, ích kỉ luôn muốn vươn tới cái cao
cả, trong sáng hơn Thậm chí, nếu “sông” không hiểu được “mình” thì sóng sẽ chủ động tìm ra tớitận bể Đó là sự chủ động, mạnh mẽ trong tình yêu của người phụ nữ hiện đại
=> Ở khổ thơ đầu này, hình tượng em ẩn mình trong sóng biển
b Khổ 2 Qua hình tượng sóng, XQ muốn thể hiện khát vọng tình yêu của tuổi trẻ
- Hai câu đầu: quy luật tự nhiên muôn đời của sóng biển
Ôi con sóng ngày xưa/Và ngày sau vẫn thế
+ Thán từ “ôi” đứng đầu khiến cho câu thơ mang đầy cảm xúc Trước sóng biển, nhân vật trữtình rất giàu cảm xúc, giàu suy tư
+ Phép đối: “ngày xưa” (quá khứ) , “ngày sau”(tương lai) tạo nên quy luật tự nhiên muôn đờicủa sóng biển Từ xưa đến nay và sau này con sóng ngoài khơi “vẫn thế” Sóng vẫn dữ dội và dịu
êm, ồn ào và lặng lẽ, vẫn mãi tồn tại với những trạng thái đối lập và nó không bao giờ chịu đứngyên Sóng vẫn vỗ vào bờ, vẫn thực hiện cuộc hành trình từ sông ra biển
- 2 câu sau: Khát vọng tình yêu trong trái tim tuổi trẻ:
Nỗi khát vọng tình yêu/Bồi hồi trong ngực trẻ
+ Quy luật ngàn năm của sóng biển có sự tương đồng với quy luật tình yêu
+ Nhà thơ khẳng định: tình yêu là khát vọng muôn đời của tuổi trẻ
+ Từ láy "bồi hồi" gợi nhớ ca dao xưa: "Nhớ ai bổi hổi bồi hồi/ Như đứng đống lửa như ngồiđống than" => vừa gợi tả được tình yêu tha thiết vừa gợi tả được màu sắc truyền thống trong thơXuân Quỳnh
=> Ý thơ được triển khai theo quan hệ so sánh song song, con sóng ngàn đời vẫn thế cũng nhưkhát vọng tình yêu là khát vọng muôn đời của tuổi trẻ Con sóng là quy luật của tự nhiên còn khátvọng tình yêu trong trái tim ngực trẻ là quy luật tình cảm, quy luật tâm lí
=> Có thể nói, con người có thể yêu ở nhiều lứa tuổi khác nhau nhưng tình yêu chỉ đẹp nhất,sôi nổi nhất, đắm say nhất khi ở giai đoạn tuổi trẻ
=> Khổ thơ tràn đấy cảm xúc, đọc lên nghe như nhịp của sóng vỗ dạt dào và nhịp đập bồi hồicủa trái tim phụ nữ đang yêu, khát khao tình yêu
c Khổ 3,4: Nỗi trăn trở truy tìm khởi nguồn của tình yêu
Trang 18- Nếu ở hai khổ thơ trên, em ẩn mình trong sóng biển thì đến hai khổ thơ tiếp theo, em xuấthiện trực tiếp trong những câu thơ xưng “em”.
Trước muôn trùng sóng bể
Khi nào ta yêu nhau
- Câu 1: Gợi hình ảnh người em trước biển cả bao la, đối diện với không gian rộng lớn, rợnngợp
- 5 câu tiếp: ý nghĩ của em
+ Nghĩ về anh – người yêu mình và em – nghĩ về chính mình
+ Cũng giống như vậy, truy tìm khởi nguồn của tình yêu là không thể đó mãi mãi là bí ẩn diệu
kì Không thể cắt nghĩa đc tình yêu mà cũng chẳng nên cắt nghĩa tình yêu bởi rất có thể khi ta biếtyêu vì lẽ gì thì cũng là lúc tình yêu ra đi
- LHMR: Ngay cả ông hoàng của thơ tình VN cũng từng băn khoăn:
Làm sao cắt nghĩa được tình yêu
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu
Nhà toán học Pascan: “trái tim có những lí lẽ riêng mà lí trí không thể nào hiểu nổi”
=> XQ dựa vào quy luật của sóng biển để cắt nghĩa tình yêu nhưng nguồn gốc của sóng cũngnhư tình yêu đều bất ngờ, bí ẩn, không thể lí giải Đây là cách cắt nghĩa tình yêu rất nữ tính, rấttruyền thống
3 Nhận xét chung
+ Qua hình tượng "sóng' và "em", Xuân Quỳnh đã diễn tả tâm hồn nười phụ nữ trong tình yêuthuỷ chung son sắt, nhớ nhung da diêt nhưng cũng táo bạo, nhiều khát vọng chân thành Đó là vẻđẹp vừa truyền thống vừa hiện đại trong tâm hồn người phụ nữ khi yêu
+ Cùng với những bài thơ khác, Xuân Quỳnh muốn gửi thông điệp: tình yêu là một trongnhững hạnh phúc lớn lao của đời người, hãy biết trân trọng, giữ gìn để tình yêu làm cho con ngườithực sự người hơn
=> Xứng đáng là một trong những bài thơ tình hay nhất của thơ ca Việt Nam
KB: Những khổ thơ đầu tiên của bài thơ "Sóng" và bài thơ "Sóng" nói chung đã đem đến cho
người đọc những cảm nhận mới mẻ, sâu sắc về tình yêu Thế gian đã tốn bao giấy mực, thậm chí
cả máu để nói, viết, ca ngợi cho tình yêu Thế nhưng chỉ những gì là nghệ thuật đích thực, nhữngsáng tạo độc đáo mới có thể trường tồn cùng thời gian "Sóng" của Xuân Quỳnh là một bài thơ hayviết về tình yêu Gấp trang sách lại, những giai điệu ngân nga của sóng, của những cung bậc cảmxúc trong tình yêu vàn còn ngân mãi trong lòng người
Đề 2 Phân tích ba khổ thơ sau trong bài thơ "Sóng"
Con sóng dưới lòng sâu/ Hướng về anh – một phương
Con sóng dưới lòng sâu
Ngày đêm không ngủ được
Trang 19- "Sóng" và "bờ" là hình ảnh ẩn dụ Trong hầu hết các tác phẩm văn học từ cổ chí kim, những
sự vật có sự di động trong không gian như: thuyền, đò, sóng, thường được dùng làm ẩn dụ để chỉngười con trai Vì trong tình yêu người con trai thường giành quyền chủ động Còn những sự vậtđứng yên, không thay đổi như bờ, bến, thường ẩn dụ cho người con gái, bến đỗ bình yên của cácchàng trai
+ Nguyễn Du từng viết về tình cảm của Kim Trọng:
"Sóng tình dường đã xiêu xiêu/ Xem trong âu yếm có chiều lả lơi"
+ Hay Xuân Diệu trong bài thơ "Biển" cũng dùng hình tượng sóng để biểu đạt tình yêu đầy
nam tính mang khát vọng hưởng thụ:
"Anh xin làm sóng biếc
Hôn mãi cát vàng em
Hôn thật khẽ, thật êm
Hôn êm đềm mãi mãi
Đã hôn rồi, hôn lại Cho đến mãi muôn đời Đến tan cả đất trời Anh mới thôi dào dạt "
+ Còn trong bài thơ "Sóng" Xuân Quỳnh lại khoác lên hình ảnh sóng một ý nghĩa hoàn toànmới "Sóng" là em, còn anh là "bờ" Chọn sóng làm hình tượng để biểu đạt tình yêu của mình,
Xuân Quỳnh đã vượt qua lối mòn để giành quyền chủ động trong tình yêu Do đó, cái độc đáo trong bài thơ sóng là ở chỗ, Xuân Quỳnh đã dùng hình tượng sóng để biểu đạt tình yêu của một trái tim phụ nữ giàu nữ tính, sôi nổi, đắm say mà dịu dàng, thuỷ chung.
=> Ở những câu thơ trên, Xuân Quỳnh đã dùng hình tượng "sóng" và "bờ" để thể hiện nỗi nhớanh của em, của người con gái khi yêu
- Cùng với nghệ thuật nhân hóa, nhà thơ đã thổi linh hồn cho sóng biển, khiến sóng cũng biếtnhớ thương da diết ngày đêm không ngủ được, dù ở dưới lòng sâu hay trên mặt nước
- Điệp ngữ: “con sóng” kết hợp với tiểu đối "dưới" – "trên" gợi ra hình ảnh những con sóngnối tiếp trên đại dương giống như sóng lòng không yên trong trái tim phụ nữ
=> Nhà thơ đã nhận ra sự tương đồng giữa sóng và em Sóng nhớ bờ không ngủ được cũnggiống như em nhớ anh ngày đêm thao thức, nỗi nhớ bao trùm cả không gian, cả thời gian, có nỗinhớ bề nổi, có nỗi nhớ bề sâu Tất cả tạo nên những câu thơ đầy ắp nỗi nhớ
Và mượn sóng để bày tỏ nỗi nhớ dường như chưa thoả, chưa giải toả được nỗi nhớ nhung đang
đè nặng trong lòng nên đến 2 câu thơ cuối, nhân vật em xuất hiện trực tiếp để giãi bày:
* 2 câu cuối: em nhớ anh
Lòng em nhớ đến anh/Cả trong mơ còn thức
- Đây là cách nói cường điệu có vẻ phi lí nhưng hợp lí trong tình cảm của con người, nhất làngười đang yêu
- Hai câu thơ vừa cho thấy sự tương đồng, vừa cho thấy sự khác biệt giữa nỗi nhớ của sóngdành cho bờ với nỗi nhớ của em dành cho anh Tương đồng vì nó đều là những cảm xúc chânthành và mãnh liệt trong tình yêu, còn khác biệt là nỗi nhớ của sóng dù mãnh liệt đến đâu vẫn nằmtrong khuôn khổ giới hạn của không gian, thời gian; còn nỗi nhớ của em vượt qua tất cả mọi khuônkhổ, giới hạn ấy, vượt qua cả cõi vô thức Điều đó có nghĩa là nỗi nhớ của em còn mãnh liệt và cồncào hơn nỗi nhớ của sóng
- Hình ảnh một người con gái ngay cả trong giấc mơ vẫn thao thức, vẫn khắc khoải về hìnhbóng người yêu thực sự đã chạm được đến trái tim, tâm hồn của hàng triệu người con gái khác Cóthể nói, Xuân Quỳnh đã nói hộ, bày tỏ hộ tình yêu cho người con gái dù ở bất cứ thời đại nào
- Trong khổ thơ này, động từ nhớ được điệp lại 2 lần, cùng với hình thức đặc biệt khi đây làkhổ thơ duy nhất trong bài có tới 6 câu, điều này một lần nữa cho thấy sự mãnh liệt, nồng nàn, thathiết trong nỗi nhớ của nhân vật trữ tình
- Những câu thơ của XQ, gợi nhắc đến ca dao, những bài thơ quen thuộc khi viết về nỗi nhớ
Như đứng đống lửa như ngồi đống than
Trang 20Trong tình yêu, người ta có thể nhớ đến thao thức, đau đớn thậm chí điên cuồng nhưng nhớđến cả trong mơ còn thức thì chỉ có nữ sĩ Xuân Quỳnh Nữ sĩ đã đưa đến cho thơ ca VN một cáchnói lạ về nỗi nhớ trong tình yêu Nhớ anh từ cõi thực đến cõi mơ
=> Nhận xét: 6 câu thơ bộc lộ tâm trạng nhớ nhung tha thiết của người em, người em vừamượn sóng vừa bộc lộ trực tiếp tâm trạng của mình
Tình yêu gắn liền với nỗi nhớ, Nguyễn Bính trong bài Tương tư cũng viết: “Nắng mưa ” Nỗinhớ tha thiết của em là biểu hiện cho một tình yêu nồng nàn, cháy bỏng, mãnh liệt 6 câu thơ là lờithổ lộ tình yêu của người phụ nữ đang yêu, mỗi chữ nhớ đều tràn ngập tình yêu thương của emdành cho anh
Hình ảnh người phụ nữ hiện lên trong khổ thơ vừa chân thành, vừa nồng nàn say đắm, dãi bàytình cảm thẳng thắn mà vẫn rất đáng yêu, nữ tính Đoạn thơ có cả bóng dáng người phụ nữ truyềnthống và người phụ nữ hiện đại
Thơ là tiếng lòng của một người đến tiếng lòng của nhiều người Thơ XQ cũng vậy, câu thơ làtiếng lòng của Xuân Quỳnh và đã trở thành tiếng lòng của biết bao người phụ nữ đang yêu, XQ đãthổ lộ lòng mình và nói hộ bao nỗi lòng
b Khổ 6 sóng – thể hiện tấm lòng thủy chung của người con gái khi yêu
- Nếu như ở khổ 5, người đọc nhìn thấy một người con gái táo bạo, không ngại ngần phơi trảitất cả các cảm xúc tâm trạng của mình thì sang khổ 6, người con gái ấy lại trở về với truyền thống,khẳng định sự thuỷ chung trong tình yêu
Dẫu xuôi về phương bắc/ Hướng về anh một phương
- Tưởng như XQ đang nhầm lẫn vì trong tư duy và thói quen sử dụng ngôn ngữ, người VNthường nói: ngược về phương bắc, xuôi về phương nam Tuy nhiên, đây không phải là sự nhầm lẫn
mà là dụng ý nghệ thuật của nữ sĩ Sự đảo ngược này hàm ý: dù cuộc đời có bao nhiêu sự đảo lộn,biến động, đổi thay; dù gian nan trắc trở, cho dù đi đâu, về đâu, em cũng chỉ có 1 phương hướng
về, đó là phương có anh Tình yêu và nỗi nhớ mà em dành cho anh mãi mãi là một hằng số bất biếnkhông bao giờ thay đổi:
- Khổ thơ này không xuất hiện từ nhớ mà thay vào đó là các từ "nghĩ", "hướng về" để giúpnhân vật trữ tình truyền tải nỗi nhớ thầm kín hơn, đa sắc thái hơn
- Đặc biệt, ở khổ thơ này, XQ sử dụng kết cấu "Dẫu dẫu ", điệp từ, điệp cấu trúc, cùng với
từ đối lập "xuôi" – "ngược" để khẳng định nỗi niềm đau đáu hướng về một phương duy nhất:phương anh Đó là tấm lòng thuỷ chung, tình nghĩa của người phụ nữ VN từ ngàn đời nay
- Liên hệ: Đặt bài thơ trong hoàn cảnh sáng tác lúc bấy giờ (1967), khi cuộc kháng chiến chống
Mỹ đang bước vào giai đoạn vô cùng gay go, ác liệt; khi sân ga, giếng nước, con tàu đang diễn ra
"những cuộc chia li màu đỏ" nhưng câu thơ của Xuân Quỳnh còn là tiếng lòng của cả một thời đại.Chiến tranh đã khiến không biết bao nhiêu đôi nam nữ yêu nhau tha thiết phải chia xa, không ít cặp
vợ chồng phải li biệt, rơi vào cảnh ngộ "núi vẫn đôi mà anh mất em" Khi đất nước có chiến tranhthì "Người con trai ra trận/ Người con gái trở về nuôi cái cùng con" thì ở quê nhà, nơi hậu phươngnhững người phụ nữ với tình yêu nồng nàn, say đắm, thuỷ chung như "em" trong bài thơ "Sóng" sẽ
là động lực tinh thần quý giá để các anh "bên kia bờ luỹ tuyến" vượt qua mọi gian lao, thách thức,hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng của tổ quốc để sớm có ngày đoàn tụ
=> Vừa mang vẻ đẹp truyền thống vừa hiện đại Truyền thồng: thủy chung trong ty, hđại: dámbộc lộ nỗi nhớ
3 Nhận xét chung
+ Qua hình tượng "sóng' và "em", Xuân Quỳnh đã diễn tả tâm hồn nười phụ nữ trong tình yêuthuỷ chung son sắt, nhớ nhung da diêt nhưng cũng táo bạo, nhiều khát vọng chân thành Đó là vẻđẹp vừa truyền thống vừa hiện đại trong tâm hồn người phụ nữ khi yêu
+ Cùng với những bài thơ khác, Xuân Quỳnh muốn gửi thông điệp: tình yêu là một trongnhững hạnh phúc lớn lao của đời người, hãy biết trân trọng, giữ gìn để tình yêu làm cho con ngườithực sự người hơn => Xứng đáng là một trong những bài thơ tình hay nhất của thơ ca Việt Nam
Trang 21KB:
Đề 3 Phân tích ba khổ thơ sau trong bài thơ "Sóng"
Ở ngoài kia đại dương/ Để ngàn năm còn vỗ.
Ở ngoài kia đại dương/ Dù muôn vời cách trở
- "Sóng" và "bờ" là hình ảnh ẩn dụ Trong hầu hết các tác phẩm văn học từ cổ chí kim, những
sư vật có sự di động trong không gian như: thuyền, đò, sóng, thường được dùng làm ẩn dụ để chỉngười con trai Vì trong tình yêu người con trai thường giành quyền chủ động Còn những sự vậtđứng yên, không thay đổi như bờ, bến, thường ẩn dụ cho người con gái, bến đỗ bình yên của cácchàng trai
Xuân Diệu trong bài thơ "Biển" cũng dùng hình tượng sóng để biểu đạt tình yêu đầy nam tínhmang khát vọng hưởng thụ: (đoạn thơ đầy đủ ở đề trên)
"Anh xin làm sóng biếc / Anh mới thôi dào dạt "
+ Còn trong bài thơ "Sóng" Xuân Quỳnh lại khoác lên hình ảnh sóng một ý nghĩa hoàn toànmới "Sóng" là em, còn anh là "bờ" Chọn sóng làm hình tượng để biểu đạt tình yêu của mình,
Xuân Quỳnh đã vượt qua lối mòn để giành quyền chủ động trong tình yêu Do đó, cái độc đáo trong bài thơ sóng là ở chỗ, Xuân Quỳnh đã dùng hình tượng sóng để biểu đạt tình yêu của một trái tim phụ nữ giàu nữ tính, sôi nổi, đắm say mà dịu dàng, thuỷ chung.
- Quy luật của "sóng" và "bờ": con sóng dù ở ngoài đại dương xa xôi "muôn vàn cách trở", dù
ở "dưới lòng sâu" hay "trên mặt nước"; là "dữ dội", "ồn ào" hay "dịu êm", "lặng lẽ", thì vẫn tìmđược về bến bờ quen thuộc
- Quy luật tình yêu: Tình yêu của em có thể phải trải qua muôn ngàn khó khăn, cách trở nhưngchắc chắn cuối cùng sẽ cập bến nơi anh, sẽ đến được với bến bờ hạnh phúc Đó là niềm tin mạnh
mẽ, mãnh liệt của người phụ nữ trong tình yêu "Yêu nhau mấy núi cũng leo/ Mấy sông cũng lộimáy đèo cũng qua"
- Đặc biệt, Xuân Quỳnh là nhà thơ có khả năng vận dụng sáng tạo ngôn ngữ của nhân dân VớiXuân Quỳnh mỗi chữ đưa vào thơ đều được sắp xếp theo một trật tự riêng, biểu thị ý nghĩa riêngkhông thể thay đổi vị trí của các yếu tố trong câu thơ Bởi chỉ cần đảo một chút về vị trí, ý thơ sẽthay đổi Khổ thơ trên là minh chứng sinh động cho cấu trúc độc đáo trong thơ Xuân Quỳnh
+ Nếu cách diễn đạt thông thương là: "Dù muôn vời cách trở" thì "trăm ngàn con sóng đó"
"con nào chẳng tới bờ" nhấn mạnh kết quả cuối cùng Đó là sóng sẽ đến được bến bờ hạnh phúc
Dù cuộc đời đầy chông gai, thách thức nhưng chỉ cần có niềm tin vào cuộc đời, niềm tin vào bảnthân ta sẽ có được hạnh phúc
+ Nhưng nữ sĩ lại đảo ngược cấu trúc thơ so với trật tự thông thường: "Trăm ngàn con sóng đó/Con nào chẳng tới bờ/ Dù muôn vời cách trở" để nhần mạnh vào quá trình, hành trình vươn tới kếtquả Trong tình yêu, người phụ nữ cần có niềm tin mãnh liệt nhưng không dễ dãi, ngây thơ Mộtngười phụ nữ đã từng mất mát, đã từng đổ vỡ trong tình yêu nên luôn hiểu rằng con đường đến vớihạnh phúc thường không ít những cay đắng, gian nan Khi phải đối mặt với khó khăn thì chỉ niểmtin tưởng thôi vẫn chưa đủ để cho chúng ta có được hạnh phúc trong tầm tay
=> Trong tình yêu, người phụ nữ cần có niềm tin nhưng cũng đừng ngây thơ, ảo tưởng vào sự
dễ dàng trong tình yêu