1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ giáo dục học nghiên cứu lựa chọn bài tập thể chất nâng cao khả năng chú ý có chủ định của trẻ (6 9 tuổi) chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ ở thành phố hồ chí minh

203 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận án tiến sĩ giáo dục học nghiên cứu lựa chọn bài tập thể chất nâng cao khả năng chú ý có chủ định của trẻ (6 - 9 tuổi) chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ ở thành phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Giáo dục học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 203
Dung lượng 2,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo dục sự phát triển chú ý cho trẻ chậm phát triển trí tuệ hiện nay chỉ được xem là một hoạt động gắn liền với hoạt động giáo dục phát triển các quá trình nhận thức khác như cảm giác -

Trang 1

DANH MỤC TỪ, THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

Trang 2

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số

1.1 Ma trận định hướng lựa chọn BTTC nhằm nâng cao khả năng

Kết quả lựa chọn các thuộc tính đánh giá khả năng CYCCĐ cho

trẻ 6 - 9 tuổi CPTTT dạng nhẹ dựa trên lấy ý kiến của GV

(n=80)

Sau trang 71

3.2 Các mức độ của thuộc tính đánh giá khả năng CYCCĐ của trẻ

Kết quả kiểm định của 2 lần phỏng vấn để chọn một số test

đánh giá thể lực của trẻ 6-9 tuổi CPTTT các trường chuyên biệt

3.9 Thực trạng thể lực của trẻ nam 6 - 9 tuổi CPTTT dạng nhẹ

ở TPHCM

Sau trang 87 2

Trang 3

3.10 Kết quả tổng hợp BTTC theo qui trình lựa chọn bài tập thể chất

nâng cao khả năng CYCCĐ

Sau trang 97

3.11

Kết quả lựa chọn bài tập thể chất nâng cao khả năng

CYCCĐ của trẻ 6 - 9 tuổi CPTTT dạng nhẹ ở TPHCM qua

3.13 So sánh về sự tập trung của chú ý ở nhóm thực nghiệm

So sánh điểm trung bình khả năng CYCCĐ ở nhóm thực

nghiệm (nTN=75) và nhóm đối chứng (nĐC=71) trước thực

nghiệm

111

3.22 So sánh điểm trung bình khả năng CYCCĐ ở nhóm thực

nghiệm (nTN=75) và nhóm đối chứng (nĐC=71) sau thực nghiệm 112

3.23 Kết quả kiểm tra thực trạng thể lực của nhóm thực nghiệm nữ

sau thực nghiệm

Sau trang 113

Trang 4

3.24 Kết quả kiểm tra thực trạng thể lực của nhóm đối chứng nữ sau

thực nghiệm

Sau trang 113

3.25 Kết quả kiểm tra thực trạng thể lực của nhóm thực nghiệm nam

sau thực nghiệm

Sau trang 113

3.26 Kết quả kiểm tra thực trạng thể lực của nhóm đối chứng nam

sau thực nghiệm

Sau trang 113

3.27 So sánh thể lực ban đầu của nhóm thực nghiệm và

3.28 So sánh thể lực ban đầu của nhóm thực nghiệm và

nhóm đối chứng nam

Sau trang 115

3.29 Kết quả sự phát triển thể lực của nhóm thực nghiệm nữ

3.30 Kết quả sự phát triển thể lực của nhóm đối chứng nữ

sau thực nghiệm

Sau trang 121

3.31 Kết quả sự phát triển thể lực của nhóm thực nghiệm nam

sau thực nghiệm

Sau trang 126

3.32 Kết quả sự phát triển thể lực của nhóm đối chứng nam

sau thực nghiệm

Sau trang 130

3.33 So sánh nhịp độ tăng trưởng thể lực trẻ nữ ở nhóm thực nghiệm

và đối chứng

Sau trang 135 3.34 So sánh nhịp độ tăng trưởng thể lực trẻ nam CPTTT dạng nhẹ

của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng 141

Trang 5

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số

3.1 So sánh sự cải thiện các thuộc tính của khả năng chú ý có chủ

định của nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm 108

3.2 So sánh sự cải thiện các thuộc tính của khả năng chú ý có chủ

định của nhóm đối chứng sau thực nghiệm 110

3.3 So sánh các thuộc tính chú ý có chủ định ở nhóm thực nghiệm

3.4 So sánh nhịp độ tăng trưởng thể lực ở nhóm thực nghiệm nữ 121

3.5 So sánh nhịp độ tăng trưởng của các test đánh giá thể lực ở

Trang 6

MỞ ĐẦU

Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO), số lượng người khuyết tật hiện nay chiếm 10% dân số thế giới và phân thành nhiều loại khác nhau Ở Việt Nam, có hơn 7 triệu người khuyết tật, trong đó có khoảng 3 triệu trẻ em khuyết tật Theo đó, số trẻ khuyết tật trí tuệ chiếm đông nhất (ước tính 27%) Đây cũng

là nhóm trẻ gặp nhiều khó khăn nhất về nhận thức, hành vi thích ứng và khả năng hòa nhập xã hội [3] Đảng và Nhà nước luôn có những chính sách phù hợp để giáo dục, trang bị cho trẻ khuyết tật những kĩ năng sống giúp các em hồi phục chức năng, hòa nhập cộng đồng và có thể chất khỏe mạnh Năm 2006, Bộ Giáo dục và Đào tạo

đã ban hành Quyết định số 23/2006/QĐ-BGDĐT ngày 22 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc giáo dục dành cho người khuyết tật và tàn tật

với mục tiêu “Giúp người khuyết tật được hưởng quyền học tập bình đẳng như những người khác Tạo điều kiện và cơ hội cho người khuyết tật học tập văn hoá, học nghề, phục hồi chức năng và phát triển khả năng của bản thân để hoà nhập cộng đồng”

Đây là cơ sở pháp lý trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục, chăm sóc đối với

các em khuyết tật, trong đó có trẻ chậm phát triển trí tuệ

Từ ngày 01 tháng 07 năm 2007, Luật Thể dục, thể thao nước ta bắt đầu có hiệu lực Về TDTT người khuyết tật, Luật quy định: “Nhà nước tạo điều kiện cho người khuyết tật tham gia hoạt động thể dục, thể thao nhằm nâng cao sức khỏe, hòa nhập cộng đồng; đảm bảo cơ sở vật chất và chế độ, chính sách cho vận động viên thể thao khuyết tật tập luyện và thi đấu các giải thể thao quốc gia, quốc tế.” (Điểm 1, điều 14) Trong các mức độ của trẻ chậm phát triển trí tuệ thì trẻ chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ chiếm đa số Khoảng 85% các em ở loại này Trẻ chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ có thể đạt IQ từ 50-55 đến khoảng 70 [41]

Theo Jean Piaget, nhà Tâm lý học Thuỵ Sĩ, đây là giai đoạn thao tác cụ thể: trẻ có thể hiểu được thế giới theo cách lý luận hơn là tri giác đơn giản thông qua các ý niệm về đối tượng bên ngoài [23] Tuy vậy, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhận xét chung là trẻ chậm phát triển trí tuệ thường rất khó khăn trong việc ghi

Trang 7

nhớ tài liệu học tập, nếu không có sự luyện tập thường xuyên thì trẻ sẽ quên kiến thức đã học Đó là hiện tượng chậm nhớ, chóng quên ở những trẻ này Cũng do hạn chế về tư duy nên trẻ chậm phát triển trí tuệ có sự hạn chế về khả năng tìm ra những dấu hiệu cơ bản nhất của các sự vật và hiện tượng cần nhớ, đặc biệt là trong hoạt động học tập Một trong những nguyên nhân dẫn đến trạng thái trên, là do khả năng chú ý đặc biệt là chú ý có chủ định của trẻ chậm phát triển trí tuệ rất hạn chế Tuy nhiên, vẫn chưa có những biện pháp phát triển chuyên biệt chú ý của trẻ chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ, trong khi để giáo dục hòa nhập đối tượng này thì việc phát triển khả năng chú ý, nhất là phát triển khả năng chú ý có chủ định trở nên rất quan trọng và cần thiết Giáo dục sự phát triển chú ý cho trẻ chậm phát triển trí tuệ hiện nay chỉ được xem là một hoạt động gắn liền với hoạt động giáo dục phát triển các quá trình nhận thức khác như cảm giác - tri giác, tư duy…

Khả năng chú ý có chủ định không hình thành sớm từ những năm tháng đầu đời của một đứa trẻ A.A Liublinxcaia cho rằng, ban đầu, chú ý xuất hiện ở trẻ trước hết như là phản ứng đối với cái mới, cái sáng, cái khác thường Sau đó, chú

ý được phát triển, phức tạp hóa và hoàn thiện thêm và dần trở thành một hành động có chủ định [26]

Do đó, để nâng cao khả năng chú ý có chủ định của trẻ và nhất là trẻ chậm phát triển trí tuệ cần có những hoạt động tích cực tác động đến đứa trẻ thông qua hoạt động giáo dục mà giáo dục thể chất có thể xem lại một phương thức tác động trực tiếp làm biến đổi căn bản hoạt động và các quá trình nhận thức của trẻ góp phần phát triển tư duy, duy trì sức khỏe Quá trình đó giúp các em nhanh nhẹn trong ứng xử, giao tiếp, làm nền tảng cho các sự phát triển khác, góp phần bù đắp cho khiếm khuyết về các chức năng hoạt động sống của các em [13]

Đến nay, ở Việt Nam còn rất ít các công trình nghiên cứu chuyên biệt về tác động cụ thể của bài tập thể chất lên khả năng chú ý có chủ định của trẻ chậm phát triển trí tuệ Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài

“Nghiên cứu lựa chọn bài tập thể chất nâng cao khả năng chú ý có chủ định

Trang 8

của trẻ (6 - 9 tuổi) chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ ở thành phố Hồ Chí Minh” được tiến hành

Mục đích nghiên cứu

Lựa chọn bài tập thể chất nhằm nâng cao khả năng chú ý có chủ định và thể lực của trẻ 6 - 9 tuổi chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ ở một số trường chuyên biệt tại thành phố Hồ Chí Minh

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng khả năng chú ý có chủ định và thể lực của

trẻ 6 - 9 tuổi chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ ở một số trường chuyên biệt tại thành phố Hồ Chí Minh

- Xác định một số thuộc tính và tiêu chí đánh giá khả năng chú ý và test đánh giá thể lực của trẻ 6 - 9 tuổi chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ tại các trường chuyên biệt tại thành phố Hồ Chí Minh

- Đánh giá thực trạng khả năng chú ý có chủ định và thể lực của trẻ 6 - 9 tuổi chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ ở một số trường chuyên biệt tại thành phố

Hồ Chí Minh

Mục tiêu 2: Nghiên cứu lựa chọn bài tập thể chất nâng cao khả năng chú ý

có chủ định của trẻ 6 - 9 tuổi chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ tại thành phố Hồ Chí Minh

- Lựa chọn các bài tập thể chất nhằm nâng cao khả năng chú ý của trẻ 6 -

9 tuổi chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ tại thành phố Hồ Chí Minh

- Xây dựng kế hoạch và tiến trình áp dụng các bài tập thể chất nhằm nâng cao khả năng chú ý của trẻ 6 - 9 tuổi chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ tại thành phố Hồ Chí Minh

Mục tiêu 3: Đánh giá hiệu quả của bài tập thể chất đã lựa chọn trong việc

nâng cao khả năng chú ý có chủ định và sự phát triển thể lực của trẻ 6 - 9 tuổi chậm phát triển trí tuệ tại thành phố Hồ Chí Minh

Trang 9

- Đánh giá hiệu quả các bài tập thể chất đã được lựa chọn nhằm nâng cao khả năng chú ý của trẻ 6 - 9 tuổi chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ ở các trường chuyên biệt tại thành phố Hồ Chí Minh

- Đánh giá hiệu quả các bài tập thể chất đã được lựa chọn nhằm nâng cao thể lực của trẻ 6 - 9 tuổi chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ ở các trường chuyên biệt tại thành phố Hồ Chí Minh

Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung:

+ Chỉ nghiên cứu khả năng chú ý có chủ định;

+ Chỉ nghiên cứu tác động các bài tập thể chất nhằm nâng cao khả năng chú

ý có chủ định và thể lực của trẻ 6 - 9 tuổi chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ Trong

đó tập trung vào kết quả sàng lọc trẻ dựa trên chỉ số IQ chứ không quan tâm đến các khuyết tật hay đa tật;

- Về địa bàn: 02 trường chuyên biệt tại thành phố Hồ Chí Minh

Giả thuyết khoa học của đề tài

Trẻ chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ là đối tượng khá đặc biệt, có nhiều hạn chế về kĩ năng, ngôn ngữ, giao tiếp và đặc biệt là sự tập trung chú ý Do vậy, nếu

sử dụng bài tập thể chất cho trẻ chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ tập luyện thì ngoài việc tăng cường sức khỏe, khả năng vận động còn giúp trẻ tập trung chú ý thông qua đó phát triển chú ý có chủ định Vì vậy, có thể nói bài tập thể chất có thể nâng cao khả năng chú ý có chủ định của trẻ 6 - 9 tuổi chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Quan điểm Đảng và Nhà nước về người khuyết tật

Đảng và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm đến công tác bảo vệ, chăm sóc

và giáo dục trẻ em và đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm đẩy mạnh công tác này trong từng thời kỳ, hướng tới mục tiêu vì lợi ích tốt nhất cho sự phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức của trẻ em Nhà nước đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều chính sách, chiến lược, chương trình đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục và đào tạo được một lớp người giàu lòng yêu nước, có sức khỏe,

có văn hóa, hết lòng hết sức phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa phồn vinh, tươi sáng)

Trẻ em khuyết tật được trợ giúp trong việc điều trị, phục hồi chức năng, giáo dục văn hoá và dạy nghề dưới nhiều hình thức Đến nay, cả nước có trên 100 cơ sở giáo dục chuyên biệt cho trẻ em bị khuyết tật về nghe, nói, nhìn với khoảng 4000

em, 67.000 trẻ em được trợ giúp trong việc phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, 32.000 trẻ em được trợ cấp học tập trong các lớp học và hàng chục nghìn lượt trẻ

em được điều trị, chữa trị các khuyết tật và được học nghề, tạo việc làm phù hợp Đưa tỷ lệ trẻ em khuyết tật được trợ giúp trong việc điều trị, phục hồi chức năng, giáo dục, học nghề và tạo việc làm đạt khoảng 45-55% số trẻ em khuyết tật

Hiểu một cách chung nhất, người khuyết tật là những người có những khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc giác quan, vì vậy họ gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, trong lao động và trong các mối quan hệ xã hội

Trong các quyền được công nhận và được bảo vệ như những người bình thường, Điều 30 của Công ước quốc tế về Quyền của người khuyết tật khẳng định người khuyết tật có quyền được tham gia trong lĩnh vực văn hóa, giải trí, TDTT Điểm 5 của Điều này quy định: “Nhằm hỗ trợ người khuyết tật tham gia vào các hoạt động thể thao, giải trí, trên cơ sở bình đẳng như những người khác, các quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện các biện pháp phù hợp nhằm:

Trang 11

Khuyến khích và thúc đẩy sự tham gia một cách đầy đủ nhất của người khuyết tật trong các hoạt động thể thao hòa nhập ở tất cả các cấp

Đảm bảo rằng người khuyết tật có cơ hội tổ chức, phát triển và tham gia vào các hoạt động giải trí và thể thao cụ thể dành cho người khuyết tật Để đạt được mục tiêu này cần khuyến khích việc cung cấp các hướng dẫn, đào tạo và nguồn lực phù hợp, trên cơ sở bình đẳng như những người khác

Đảm bảo rằng người khuyết tật tiếp cận được các địa điểm du lịch, thể thao

và giải trí” Điều 182 của Luật Lao động đối với người khuyết tật quy định chính sách của Nhà nước đối với lao động là người khuyết tật, đã chỉ rõ:

Nhà nước bảo hộ quyền làm việc của người khuyết tật và khuyến khích việc thu nhận, tạo việc làm cho người khuyết tật

Hàng năm, Nhà nước dành một khoản ngân sách để giúp người khuyết tật phục hồi chức năng lao động, học nghề và có chính sách cho vay với lãi suất thấp

để người khuyết tật tự tạo việc làm và tự ổn định đời sống

Những doanh nghiệp thu nhận người khuyết tật vào học nghề, tập nghề được xét giảm thuế, được vay vốn với lãi suất thấp và được hưởng các ưu đãi khác

1.2 Cơ sở lý luận về nghiên cứu lựa chọn bài tập thể chất nâng cao khả năng chú ý có chủ định của trẻ 6 - 9 tuổi chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ

1.2.1 Lý luận về khả năng chú ý có chủ định

1.2.1.1 Khái niệm về khả năng chú ý có chủ định

Theo Đại từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý, khả năng được hiểu theo hai nghĩa: (1) Cái có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định, (2) Năng lực, tiềm lực [62]

Theo quan điểm Triết học, khả năng là cái hiện chưa có, chưa đạt tới nhưng

sẽ tới, sẽ có khi có các điều kiện thích hợp Mọi khả năng đều là khả năng thực tế, nghĩa là đều tồn tại thực sự do hiện thực sinh ra Khả năng trong những điều kiện thích hợp sẽ trở thành hiện thực và từ trong hiện thực, do sự vận động nội tại của

nó, sẽ hình thành khả năng mới, khả năng mới này lại tiếp tục trở thành hiện thực khi có điều kiện thích hợp [1] Như vậy, theo cách hiểu của Triết học, khả năng và

Trang 12

hiện thực là hai phạm trù khác nhau nhưng không tách rời nhau mà luôn luôn chuyển hóa lẫn nhau Nếu tách chúng ra thì trong hoạt động thực tiễn sẽ không thấy được năng lực tiềm tàng của sự vận động, phát triển

Theo cách hiểu thông thường, “khả năng” được tác giả Vũ Xuân Thái giải thích: “Khả” là có thể, “năng” là sự tài giỏi có thể làm nổi việc “Khả năng” nghĩa

là: Tài sức có thể làm nổi việc [48]

Theo từ điển Tâm lý học Liên Xô, khả năng hay năng lực được định nghĩa

là những đặc điểm tâm lý - cá nhân của con người, là điều kiện để thực hiện thành công một hoạt động nào đó Khả năng được biểu hiện trong quá trình hoạt động Tính cá nhân, sự thành thạo càng cao thì sự dễ dàng và mức độ chắc chắn tìm ra những phương pháp tổ chức và cách giải quyết hoạt động càng nhiều Khả năng

có liên quan chặt chẽ đến xu hướng của cá nhân, với độ ổn định của con người khi thực hiện hoạt động đó [9] Trong thành quả của một hoạt động, có thể có sự đóng góp của nhiều khả năng nhưng sẽ có khả năng đóng vai trò quyết định nhất Ngược lại, một khả năng có thể khiến con người thành công ở nhiều lĩnh vực khác nhau Khả năng có thể hình thành Có những khả năng chung thỏa mãn yêu cầu của nhiều hoạt động và cũng có những khả năng chuyên biệt đáp ứng một loại hoạt động nhất định Như vậy, với cách hiểu này thì khả năng và năng lực có sự đồng nhất với nhau Khả năng chính là mức độ thấp nhất khi nói về năng lực

Theo tác giả Lê Thị Bừng, khả năng là hệ thống phức hợp các quá trình, các thuộc tính của cá nhân, nhờ đó con người có thể giải quyết được những yêu cầu đặt ra cho bản thân trên con đường phát triển Khả năng gồm có kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen, thái độ, ý chí, xúc cảm, khí chất, chúng kết hợp với nhau, tham gia vào hoạt động, tạo ra kết quả của hoạt động Tuy nhiên, khác với năng lực, khả năng là cái đảm bảo xác suất thực hiện một thao tác tư duy hay một hành động thực tiễn, nó không phản ánh trực tiếp mức độ phát triển một năng lực, nó phụ thuộc vào sự luyện tập Trong khi đó, năng lực cho thấy xác suất tiến bộ, tương lai và mức độ mà khả năng của một người có thể vươn tới mà không cần có

sự nỗ lực quá mức Ví dụ, một người có năng lực toán thì tiếp thu dễ dàng, có chất

Trang 13

lượng và nhanh chóng các tri thức toán học mà không cần cố gắng nhiều [6, 219] Quan điểm của tác giả Lê Thị Bừng cho thấy, khả năng chính là cái nền, trên

tr.218-đó, năng lực được thể hiện và phát triển Khả năng chính là điều kiện, là tiền đề nảy sinh năng lực, ngược lại, năng lực là một bậc cao hơn so với khả năng và phản ánh mức độ mà khả năng có thể vươn tới Cách hiểu này, cho thấy sự khác nhau

về chất giữa hai khái niệm Sự phân định trên có ý nghĩa quan trọng khi xem xét bản chất của khả năng và năng lực

Trong đề tài này, tác giả nhất trí với quan điểm của tác giả Lê Thị Bừng, trên cơ sở đó, đưa ra định nghĩa sau đây để tiếp cận nghiên cứu: Khả năng là tổ hợp các quá trình, các thuộc tính tâm lý của cá nhân, làm cơ sở để năng lực được hình thành và phát triển; nhờ đó, con người có thể giải quyết được những yêu cầu đặt ra cho bản thân trong quá trình hoạt động của mình

Để tìm hiểu thuật ngữ “chú ý có chủ định”, trước hết, cần đề cập đến khái niệm về “chú ý”

Theo quan niệm thông thường, “chú ý” là dành sự quan tâm cho một đối

tượng cụ thể nào đó [6]

Theo từ điển Tâm lý học, “chú ý” là sự tập trung của ý thức vào một hay

một nhóm đối tượng hoặc sự vật để định hướng hoạt động và bảo đảm các điều kiện vật chất, tâm lý thần kinh cần thiết cho hoạt động đó và làm cho nó được thực hiện một cách hiệu quả cao Chú ý được nhìn nhận như là một trạng thái diễn ra cùng với hoạt động tâm lý khác Ví dụ, chăm chú nhìn, lắng tai nghe, tập trung suy nghĩ… Vì vậy, chú ý được coi là một điều kiện của hoạt động có ý thức [10]

Theo Maurice Reuchlin, “chú ý” là sự tập trung ý thức vào một số đối tượng

tri giác hoặc đối tượng ghi nhớ, đồng thời tách đối tượng ấy khỏi những đối tượng khác, là một hành động của ý thức hướng vào một đối tượng nhất định Trong chú

ý thể hiện tính lựa chọn của ý thức [42]

Theo P.A.Rudick, “chú ý” là xu hướng và tính tập trung của hoạt động tâm

lý nhằm vào một đối tượng nào đó [43]

Trang 14

Theo Bùi Văn Huệ, “chú ý” là một trạng thái tâm lý tham gia vào mọi quá

trình tâm lý tạo điều kiện cho một đối tượng (hay một số đối tượng) được phản ánh một cách tốt nhất [22]

Theo tác giả Phạm Minh Hạc, “chú ý” là sự định hướng tích cực của ý thức

con người vào một số đối tượng hay hiện tượng nhất định [16]

Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn, “chú ý” là sự tập trung của ý thức vào một

hay một nhóm sự vật hiện tượng để định hướng hoạt động, đảm bảo điều kiện thần kinh - tâm lý cần thiết cho hoạt động tiến hành có hiệu quả [45] Chú ý được xem

như một trạng thái tâm lý “đi kèm” các hoạt động tâm lý khác, giúp cho các hoạt

động tâm lý đó có kết quả

Như vậy, để đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài, chúng tôi lựa chọn định nghĩa về chú ý của tác giả Huỳnh Văn Sơn làm khái niệm công cụ

- Khái niệm về chú ý có chủ định

Theo quan niệm thông thường, “chú ý có chủ định” là sự tập trung có chủ

đích vào một đối tượng cụ thể nào đó [20]

Theo Từ điển Tiếng Việt, “chú ý có chủ định” là sự quan tâm, tập trung có

mục đích của con người vào một hoặc một nhóm sự vật, hiện tượng nào đó, kết quả là mang đến cho con người sự hiểu biết về sự vật, hiện tượng đó [33]

Theo Từ điển Tâm lý học, “chú ý có chủ định” là loại chú ý có mục đích tự

giác, có biện pháp để hướng chú ý vào đối tượng, đòi hỏi sự nỗ lực nhất định [10]

Theo tác giả Phạm Minh Hạc, “chú ý có chủ định” là loại chú ý có mục

đích nhất định, có kế hoạch và biện pháp khắc phục khó khăn để tập trung chú ý

và đối tượng đã định CYCCĐ đòi hỏi một nỗ lực ý chí nhất định [16]

Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn, “chú ý có chủ định” là loại chú ý có mục

đích tự giác, có biện pháp để hướng chú ý vào đối tượng, đòi hỏi một sự nỗ lực nhất định CYCCĐ không phụ thuộc vào đối tượng mới lạ hay quen thuộc, có cường độ kích thích mạnh hay yếu, hấp dẫn hay không hấp dẫn, mà tập trung vào đối tượng hay sự vật để tiến hành một hoạt động tương ứng theo một động cơ nhất định, bao gồm các hành động nhằm vào một mục đích nhất định [45]

Trang 15

Sau khi tham khảo các định nghĩa trên về “chú ý có chủ định”, chúng tôi hiểu về CYCCĐ như sau: “Chú ý có chủ định là loại chú ý có mục đích, có sự nỗ

lực của ý chí con người vào một sự vật, hiện tượng nhất định”

và ý thức); và cao nhất là mức độ chú ý do con người tự điều khiển bằng ý chí và

ý thức (tích cực nhất) - đó chính là CYCCĐ Ở đây, chú ý có chủ định gắn liền với mục đích tự giác đã được ý thức, nên tính tích cực của cá nhân thể hiện khá rõ nét bằng việc điều khiển sự chú ý của mình với nỗ lực của ý chí nhằm đảm bảo duy trì sự chú ý với cả những kích thích không phù hợp xu hướng bản thân nhằm đem lại kết quả tốt nhất khi thực hiện nhiệm vụ Như vậy, tính mục đích và tính nỗ lực của ý chí được xem là hai đặc điểm cơ bản của chú ý có chủ định

Ngoài ra, CYCCĐ còn đòi hỏi ở cá nhân tính kế hoạch mà ở đó cá nhân phải biến mình thành chủ thể của hoạt động, nghĩa là cá nhân cần thể hiện tính tích cực,

tự giác trong việc đề ra những tiêu chí và phương thức hành động; biết cách điều khiển và hướng chú ý vào mục đích; biết duy trì chú ý một cách tốt nhất vào hoạt động nhằm đạt được mục đích đề ra; sau hết là biết kiểm tra kết quả của hành động theo những tiêu chí đã định và mục đích cho trước Hành động có kế hoạch như thế

là hành động mang tính xã hội, chỉ có ở con người và cần đến sự trợ giúp của ngôn ngữ Nhờ ngôn ngữ con người hình thành mục đích, thúc đẩy bản thân xác định cho mình sự cần thiết phải chú ý và giúp bản thân duy trì sự chú ý dài lâu

Trang 16

Như vậy, khả năng điều khiển chú ý của bản thân một cách có chủ định đòi hỏi năng lực nhất định của cá nhân, buộc chú ý phải vượt ra khỏi những hấp dẫn, mới lạ của đối tượng, những sở thích, hứng thú của bản thân để hướng chú ý vào mục đích và kế hoạch cho trước Do đó, CYCCĐ không hình thành ngay ở những giai đoạn đầu của cuộc đời Nó được hình thành trong quá trình hoạt động, trên cơ

sở của sự giáo dục và luyện tập của mỗi cá nhân Để đảm bảo sự phát triển hoàn thiện về mặt tâm lý, cá nhân cần rèn luyện nhằm nâng cao khả năng CYCCĐ của mình như một nhiệm vụ quan trọng

1.2.2 Lý luận về trẻ chậm phát triển trí tuệ

1.2.2.1 Khái niệm trẻ chậm phát triển trí tuệ

Trước đây ở nước ta, những trẻ CPTTT thường được gọi là “trẻ chậm khôn”, thuật ngữ này được sử dụng đầu tiên tại Trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ

em (NT) của cố Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện

Thuật ngữ “chậm phát triển tâm thần” cũng được sử dụng trong nhiều tài

liệu tiếng Anh, tiếng Việt Trong tiếng Anh thuật ngữ đó là: “Mental Retardation” Hiệp hội CPTTT Mỹ (AAMR) và các tác giả của cuốn Sổ tay thống kê - chẩn đoán những rối nhiễu tâm thần IV (DSM - IV) sử dụng thuật ngữ này

Trong quyết định số 2592QĐ/BGD&ĐT-ĐH ngày 22 tháng 7 năm 1999 của Bộ GDĐT về việc cho phép Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đào tạo nhóm ngành sư phạm đặc biệt, trình độ cử nhân (mã số 32.00) Bộ GD&ĐT đã dùng thuật ngữ “Chậm phát triển trí tuệ”

Hiện nay, trên thế giới có xu hướng sử dụng những thuật ngữ ít mang tính

kì thị hơn đối với trẻ khuyết tật như: trẻ ngoại lệ, trẻ có khó khăn về học tập, trẻ khuyết tật về phát triển, trẻ có nhu cầu đặc biệt, Những cách sử dụng này nhằm tránh ảnh hưởng tiêu cực của việc sử dụng thuật ngữ “CPTTT” hoặc “chậm phát triển tinh thần”; vì những thuật ngữ này có thể làm cha mẹ trẻ cảm thấy buồn, trẻ

dễ bị các bạn trêu chọc và giáo viên ít tin tưởng hơn vào việc dạy trẻ

Những lý giải trên của một số nhà khoa học xét về nhiều khía cạnh khá thoả đáng, nhưng có vài thuật ngữ khác, cụ thể như “trẻ giảm khả năng”, lại quá chung

Trang 17

chung, khó có thể sử dụng cho mục đích nhất định, bởi lẽ những trẻ giảm khả năng không chỉ là trẻ CPTTT mà còn có cả trẻ bị những khuyết tật khác

Trong thực tiễn, việc phân chia các cá nhân thành nhóm, gán tên gọi cho

họ, xem xét những người đó có gì khác so với những người còn lại Việc gán tên gọi dù là tích cực, hay tiêu cực, cũng khiến một nhóm người nào đó sẽ phải tách khỏi phần đông những người còn lại Như vậy dù việc gán tên gọi có thể rất có ích trong các hoạt động hành chính và khoa học nhưng lại dễ dẫn đến những hiểu lầm trong cuộc sống

Khá nhiều người chưa bao giờ gặp người CPTTT thường cho rằng người CPTTT là những người khác biệt Trong thực tế, nhận định này là hoàn toàn không đúng Người chậm phát triển trí tuệ sống trong cùng một xã hội với người bình thường, khi đường ranh giới CPTTT được vạch ra thì nó đã tách những người này

ra khỏi những người không bị coi là CPTTT; đây là một việc làm hoàn toàn mang tính chuyên môn cần tuân thủ

Xem xét trên những mặt chung nhất, người CPTTT không khác người bình thường Những người bị gán là CPTTT và những người không bị gán tên gọi này đều có tình cảm, suy nghĩ, kì vọng Nếu kết luận rằng những người bị CPTTT không có gì khác biệt so với mọi người thì lại là cực đoan Mặc dù người bị gán nhãn CPTTT có nhiều điểm giống người không CPTTT, nhưng nói chung họ lại vẫn khác với phần đông mọi người Đó chính là vấn đề cần nghiên cứu và lý giải

Ngay đối với nhóm người được xem là CPTTT, cũng phải thận trọng, tránh kết luận đơn giản là tất cả những người CPTTT đều giống nhau Những người CPTTT cũng khác nhau như là những chủ thể độc lập

Trên thế giới hiện nay có hai thuật ngữ tiếng Anh được sử dụng phổ biến

đó là thuật ngữ “Mental Retardation” do Hiệp hội CPTTT Mỹ lựa chọn và thuật ngữ “lntellectual Disability” do tổ chức nghiên cứu khoa học quốc tế về CPTTT

(IASSID) lựa chọn Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ tiếng Việt là

“CPTTT”, đây là thuật ngữ đang được sử dụng tại Việt Nam

Trang 18

Tóm lại, trẻ CPTTT là những trẻ có hoạt động trí tuệ dưới mức trung bình,

bị thiếu hụt hoặc khiếm khuyết ít nhất là hai trong số những hành vi thích ứng sau: giao tiếp, tự chăm sóc, sống tại gia đình, kĩ năng xã hội/ liên cá nhân, sử dụng tiện ích công cộng, tự định hướng, kĩ năng học đường chức năng, lao động, giải trí, sức khoẻ và an toàn; khuyết tật xuất hiện trước 18 tuổi

1.2.2.2 Phân loại mức độ trẻ chậm phát triển trí tuệ

DSM-IV sử dụng chỉ số trí tuệ - IQ làm tiêu chí để phân loại mức độ CPTTT Có bốn mức độ CPTTT [67, tr 40] là:

Hỗ trợ không thường xuyên: là loại hỗ trợ dựa theo nhu cầu, được xác định

trên cơ sở bản chất của từng giai đoạn và cá nhân không phải lúc nào cũng cần được hỗ trợ, hoặc chỉ cần hỗ trợ ngắn hạn trong những giai đoạn chuyển đổi của cuộc sống Loại hỗ trợ này có thể ở mức cao hoặc thấp

Hỗ trợ có giới hạn: mức độ hỗ trợ tùy theo thời điểm và hạn chế về thời gian

chứ không phải là hình thức hỗ trợ gián đoạn; hình thức này không đòi hỏi nhiều nhân viên và kinh phí cũng thấp hơn các mức độ hỗ trợ tập trung/chuyên sâu

Hỗ trợ mở rộng: là loại hỗ trợ diễn ra đều đặn, ví dụ như hỗ trợ hàng ngày

ở những môi trường nhất định như tại nơi làm việc hoặc tại nhà Hình thức hỗ trợ này không hạn chế về thời gian

Hỗ trợ toàn diện: là loại hỗ trợ thường xuyên và ở mức độ cao; hỗ trợ trong

nhiều môi trường và trong suốt cuộc đời Loại này cần sự tham gia của nhiều người, nó là hình thức hỗ trợ mang tính xâm nhập nhiều hơn là hỗ trợ mở rộng hay hỗ trợ hạn chế về thời gian

Trang 19

Theo cố bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, dùng phương pháp đo trí tuệ để phân loại mức độ CPTTT, có bốn loại sau [60, tr.51]:

Việc phân loại mức độ CPTTT giúp chúng ta có cơ sở đoán biết và kì vọng

về mức độ hành vi của đứa trẻ, biết được điều kiện thể chất và đặc biệt là biết mức

độ, hình thức chăm sóc cần thiết cho đứa trẻ

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này khai thác, chúng tôi sử dụng phân loại trẻ CPTTT của DSM-IV

1.2.2.3 Đặc điểm của trẻ chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ

Theo DSM-IV trẻ CPTTT dạng nhẹ là trẻ có IQ đo được từ 50-55 tới xấp

xỉ 70 [67, tr.40]

Trẻ CPTTT nhẹ có thể đạt tuổi trí tuệ từ 7 đến 12 tuổi (IQ từ 50-55 đến khoảng 70) Theo Piaget, đây là giai đoạn thao tác cụ thể, trẻ giải quyết vấn đề bằng tư duy logic nhưng vẫn chưa thể suy nghĩ theo cách trừu tượng Trong giai đoạn trước khi đến trường (0-5 tuổi), trẻ phát triển những kĩ năng giao tiếp và xã hội Trẻ có những khuyết tật nhỏ trong các lĩnh vực vận động cảm giác và thường không phân biệt được với những trẻ không bị CPTTT Đến cuối thời kì thanh thiếu niên, trẻ có thể đạt được những kĩ năng học tập ở mức độ xấp xỉ với lớp 6 Các em cần được dạy các môn học cơ bản tại trường ở mức độ tối đa mà khả năng của trẻ cho phép Trẻ CPTTT nhẹ có khả năng thể hiện mình trong việc chọn bạn, trong

Trang 20

các hoạt động giải trí, cách ăn mặc Khi đã thành người lớn, các em thường đạt được những kĩ năng xã hội và nghề phù hợp cho việc tự hỗ trợ bản thân ở mức tối thiểu nhưng vẫn cần có người giám sát, hướng dẫn và giúp đỡ, đặc biệt khi chúng chịu những sức ép kinh tế hoặc tình cảm bất thường (trẻ thường dễ bị tổn thương bởi những vấn đề tình cảm) Khi được trợ giúp thích hợp, người lớn CPTTT nhẹ

có thể sống khá thành công trong cộng đồng, một cách độc lập hoặc tại những môi trường có giám sát [15, tr.4]

Trẻ CPTTT có những khuyết tật nhỏ trong các lĩnh vực vận động cảm giác Trẻ giải quyết vấn đề bằng tư duy logic nhưng vẫn chưa suy nghĩ theo cách trừu tượng Có khả năng thể hiện mình trong việc chọn bạn, trong các hoạt động giải trí, cách ăn mặc, đến cuối thời kì thanh thiếu niên có thể đạt được những kĩ năng học tập ở mức độ xấp xỉ với lớp 6

Tóm lại: Hầu hết trẻ CPTTT được xác định nguyên nhân do tổn thương

thực thể não bộ vì vậy ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng hoạt động của hệ thần kinh cấp cao và hoạt động nhận thức Những đặc điểm của trẻ CPTTT là hệ quả tất yếu của sự ảnh hưởng này, do đó nó là điển hình và rõ nét nhất trong số các dạng trẻ khuyết tật khác Để giáo dục trẻ CPTTT cần nhiều biện pháp khác nhau, trong đó sử dụng một số BTTC là một trong các tác động trực tiếp Do đó, hoạt động vận động phù hợp đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng tư duy, ứng

xử, giao tiếp làm nền tảng cho ghi nhớ, chú ý của trẻ

1.2.2.4 Khái niệm khả năng chú ý có chủ định của trẻ chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ

Trang 21

Các thuộc tính đánh giá khả năng CYCCĐ của trẻ CPTTT dạng nhẹ

(1) Sự tập trung của chú ý

Là khả năng chỉ chú ý đến một phạm vi đối tượng tương đối hẹp cần thiết cho hoạt động lúc đó Số lượng các đối tượng mà chú ý hướng tới gọi là khối lượng chú ý Khối lượng này tuỳ thuộc vào đặc điểm của đối tượng, cũng như vào nhiệm

vụ và đặc điểm của hoạt động

(2) Sự bền vững của chú ý

Đó là khả năng duy trì lâu dài chú ý vào một hay một số đối tượng của hoạt động Ngược với độ bền vững là sự phân tán chú ý Phân tán chú ý diễn ra theo chu kỳ gọi là sự giao động của chú ý

(3) Sự phân phối của chú ý

Là khả năng cùng một lúc chú ý đầy đủ đến nhiều đối tượng hay nhiều hoạt động khác nhau một cách có chủ định Thực tế đã chứng minh rằng chú ý chỉ tập trung vào một số đối tượng chính còn các đối tượng khác chỉ cần có sự chú ý tối thiểu nào đó trong khả năng phân phối chú ý của con người

Khả năng chú ý có chủ định của trẻ 6 - 9 tuổi CPTTT dạng nhẹ

Theo tài liệu phục hồi chức năng cho trẻ CPTTT của Bộ Y tế ban hành năm

2008, sự phát triển thần kinh - vận động ở trẻ em được chia làm nhiều giai đoạn, trong đó có giai đoạn 6 - 7 tuổi và 8 - 9 tuổi có sự phát triển về nhận thức khá tương đồng Sự phát triển chú ý của các em cũng có những biểu hiện mâu thuẫn Một mặt, CYCCĐ đã phát triển, mặt khác những ấn tượng, sự rung động mạnh mẽ

Trang 22

và sự phong phú khiến cho sự chú ý của các em không bền vững Các em có khả năng tập trung làm việc nghiêm chỉnh nếu trẻ thấy vấn đề cần thiết và có hứng thú

Năng lực di chuyển và phân phối chú ý của trẻ ở lứa tuổi này cũng phát triển và hoàn thiện hơn trước Trong hoạt động giáo dục thể chất, trẻ có thể vừa thực hiện động tác vừa nghe chỉ dẫn của giáo viên vừa quan sát tình huống, vừa thực hiện động tác, nhanh chóng chuyển sự chú ý từ đối tượng quan sát này đến những đối tượng quan sát khác

Những minh chứng cho thấy ở lứa tuổi này, tính chọn lọc của chú ý cũng tăng mạnh Theo tài liệu phục hồi chức năng của trẻ CPTTT của Bộ Y tế ban hành năm 2008, trẻ có khả năng hướng chú ý của mình vào những đối tượng các em cho là cần thiết và quan trọng Đề tài này tập trung vào nhóm trẻ từ 6 - 9 tuổi như một nhóm khách thể chính bởi tính ưu tiên của lứa tuổi này trong các hoạt động giáo dục thể chất bởi mục tiêu phát triển thể chất cần đảm bảo, thực thi

1.2.3 Lý luận về giáo dục thể chất và bài tập thể chất

1.2.3.1 Khái niệm giáo dục thể chất

Khái niệm giáo dục thể chất

Cách hiểu đơn giản, “Giáo dục thể chất” là một loại hình giáo dục có tổ

chức, có mục đích, có kế hoạch để truyền thụ những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, …

từ thế hệ này sang thế hệ khác [25]

Theo từ điển Tiếng Việt, “Giáo dục thể chất” là một hình thức giáo dục

nhằm trang bị kĩ năng, kĩ xảo vận động và những tri thức chuyên môn, phát triển

tố chất thể lực, tăng cường sức khỏe [33] Theo quan điểm của các nhà Tâm lý học

Thể dục thể thao, “Giáo dục thể chất” là một loại hình giáo dục có chủ đích các

tố chất thể lực, các phẩm chất tâm lý và các hành động, vận động cho con người

[61] Trong giáo dục học thể dục thể thao, “Giáo dục thể chất” là một loại hình

giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy và học động tác và phát triển có chủ đích các tố chất vận động của con người [61]

Trong Giáo dục học, “Giáo dục thể chất” là loại hình giáo dục có các quá

trình sư phạm với đầy đủ đặc điểm của nó (vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ

Trang 23

chức hoạt động của nhà sư phạm phù hợp với học sinh, nguyên tắc sư phạm,…) nhằm mục đích phát triển kĩ năng, kĩ xảo vận động và tăng cường sức khỏe

GDTC là một quá trình sư phạm nhằm truyền thụ và lĩnh hội những tri thức văn hóa thể chất của thế hệ trước cho đến thế hệ sau để giải quyết các nhiệm vụ GDTC [79] Là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, có phương pháp và phương tiện nhằm phát triển các năng lực của con người để đáp ứng các yêu cầu của một xã hội nhất định để đảm bảo: Người học vừa là chủ thể của quá trình nhận thức, vừa là đối tượng của giáo dục; Người dạy giữ vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều khiển quá trình giáo dục Để đạt mục đích GDTC người ta sử dụng tổng hợp các phương tiện khác nhau kể cả các phương tiện chung cho quá trình sư phạm Các phương tiện giáo dục GDTC được sử dụng để tác động đến các đối tượng tập luyện nhằm đạt được những mục đích của giáo dục Chúng bao gồm các bài tập thể chất, các nhân tố môi trường tự nhiên, điều kiện vệ sinh, trong đó bài tập thể chất là phương tiện chuyên môn cơ bản của GDTC [56]

Từ những quan điểm trên, có thể hiểu Giáo dục thể chất trong đề tài là loại hình giáo dục rèn luyện kĩ năng vận động, phát triển tố chất thể lực, nâng cao tri thức cũng như phát triển đời sống tình cảm cho học sinh bằng những bài tập thể

chất đa dạng

Có thể phân tích vai trò của giáo dục thể chất đối với thể lực và trí tuệ của trẻ như sau:

Vai trò của GDTC với phát triển thể lực:

GDTC góp phần hình thành các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung cho học sinh (HS); bên cạnh đó, thông qua việc trang bị kiến thức về sức khoẻ, quản

lý sức khỏe và rèn luyện, GDTC giúp HS hình thành và phát triển năng lực thể chất và văn hóa thể chất, ý thức trách nhiệm đối với sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng; biết lựa chọn môn thể thao phù hợp với năng lực vận động của bản thân để luyện tập; biết thích ứng với các điều kiện sống, lạc quan và chia sẻ với mọi người; có cuộc sống khoẻ mạnh về thể lực và tinh thần

Trang 24

Nội dung chủ yếu của GDTC là rèn luyện kĩ năng vận động và phát triển tố chất thể lực cho HS bằng những bài tập đa dạng như rèn kĩ năng vận động cơ bản, đội hình đội ngũ, các bài tập thể dục, các trò chơi vận động, các môn thể thao và phương pháp phòng tránh chấn thương trong hoạt động Trong chương trình giáo dục phổ thông 2018, nội dung giáo dục thể chất được phân chia theo hai giai đoạn:

Trong giai đoạn giáo dục cơ bản, GDTC là môn học bắt buộc, giúp HS biết cách chăm sóc sức khỏe và vệ sinh thân thể; hình thành thói quen tập luyện nâng cao sức khoẻ; qua các trò chơi vận động và tập luyện thể dục, thể thao hình thành các kĩ năng vận động cơ bản, phát triển các tố chất thể lực, góp phần phát triển toàn diện

Trong giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, GDTC được thực hiện thông qua hình thức câu lạc bộ thể thao, HS được chọn nội dung hoạt động thể thao phù hợp với nguyện vọng của mình và khả năng đáp ứng của nhà trường Các

em được tiếp tục phát triển kĩ năng chăm sóc sức khỏe và vệ sinh thân thể, phát triển về nhận thức và năng khiếu thể thao, giúp những học sinh có năng khiếu thể thao định hướng nghề nghiệp phù hợp

Vai trò của GDTC với phát triển trí tuệ:

Có thể coi trí tuệ, trí thông minh, trí năng, trí lực là năng lực tư duy, được hình thành thông qua hoạt động có mục đích, có tương tác với môi trường xung quanh với tinh thần tự chủ, năng động cao, nhằm đạt kết quả, có chất lượng và hiệu quả, có tính mới mẻ, sáng tạo, phục vụ mục đích hoạt động, đồng thời tạo được sự tiến bộ trong năng lực và nhân cách con người [18]

Trí lực hiểu theo nghĩa thông thường là lấy năng lực tư duy làm hạt nhân,

nó là sự tổng hoà của năng lực nhận thức, nó bao gồm năng lực quan sát, năng lực ghi nhớ, năng lực tưởng tượng… Trí lực là sản vật của sự kết hợp giữa di truyền,

sự ảnh hưởng của giáo dục, điều kiện sống và sự nỗ lực cá nhân Thực tế đã chứng minh trình độ trí lực của con người có mối tương quan với di truyền (có người cho rằng có thể đạt tới 65%, thậm chí tới 80%), có mối tương quan mật thiết với hoàn cảnh xã hội, giáo dục, điều kiện gia đình, mặt bằng kinh tế… Không thể xem nhẹ

Trang 25

tác dụng của tập luyện TDTT đối với sự phát triển trí lực, đã có ngày càng nhiều các nhà nghiên cứu báo cáo về vấn đề này Các kết quả nghiên cứu đã chứng minh năng lực ghi nhớ và trí lực là một loại mang đặc tính vật chất hoá học, do một loại phân tử Protein đa vật chất cấu thành, sự vận động của những vật chất này có liên quan đến trạng thái làm việc của đại não, càng thích nghi với điều kiện làm việc thì càng tốt, đại não bảo lưu các tin tức bên ngoài càng kiên cố, sự liên hệ giữa các tin tức đó càng rõ nét đối với sự phân biệt các tin tức càng rõ ràng mạch lạc Những hiện tượng này bình thường chúng ta hay gọi là “mẫn cảm” Sự thích nghi giữa một đại não tốt với điều kiện công tác được thể hiện ở hai mặt sau: Cung cấp đầy

đủ máu trong não; Thích nghi với trạng thái hưng phấn [18]

GDTC có vai trò quan trọng trong sự phát triển của cơ thể và rõ nhất là tác động đến mặt trí lực Khi chơi thể thao sẽ cảm thấy đầu óc thư thái hơn, tâm lý thoải mái và có những giây phút thực sự sảng khoái, giảm bớt stress và từ đó tăng khả năng tiếp thu, lĩnh hội

Theo tác giả Lê Thị Hương cho rằng: “Đối với lứa tuổi học đường cũng như tất các đối tượng khác nói chung thì hoạt động thể chất, thể lực rất quan trọng Bởi không chỉ tác động đến phát triển thể chất mà còn phát triển tinh thần

và trí tuệ Tham gia hoạt động thể chất sẽ giúp con người năng động hơn, giúp phát triển hoàn chỉnh cơ quan bộ máy trong cơ thể” Thời gian học tập trên lớp

của học sinh thường chiếm nhiều thời gian nên không hoạt động toàn thân sẽ dẫn đến các bệnh về xương khớp, cột sống có thể bị cong vẹo và một số bệnh lý về mắt học đường

Tập luyện TDTT ngoài việc phát triển thể lực và thể chất ra, nó còn phát triển năng lực của não, nâng cao hiệu suất công việc Thường xuyên tập luyện TDTT có thể nâng cao năng lực làm việc của đại não, cải thiện quá trình thần kinh,

từ đó tăng cường trí lực và khả năng ghi nhớ của cơ thể, đồng thời thông qua tập luyện TDTT cũng có thể điều tiết một cách có hiệu quả công tác và học tập, từ đó làm tăng hiệu suất công việc và học tập

Trang 26

Con người khi phát triển chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố: di truyền; hoàn cảnh sống; giáo dục và hoạt động cá nhân Các yếu tố di truyền của cơ thể như: kết cấu, hình thái, cảm quan, hệ thống thần kinh, là những điều kiện tiền đề của sự phát triển tự nhiên hay sinh lý của con người Trong khi đó tri thức, tài năng, tính cách, sự yêu thích, của con người được hình thành bởi sự ảnh hưởng của giáo dục

và hoàn cảnh sống Giáo dục ở đây đương nhiên trong đó bao gồm cả nội dung GDTC Thực tiễn đã chứng minh tập luyện TDTT là một hoạt động đã có tác dụng thúc đẩy sự phát triển về mặt trí lực, nhận thức, tài năng của con người, đồng thời cũng có tác dụng nâng cao hiệu suất học tập

Do vậy, trong quá trình GDTC có thể nói bài tập thể chất không chỉ phát triển thể lực mà còn có tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển trí tuệ của trẻ CPTTT mà rõ nhất là CYCCĐ

1.2.3.2 Khái niệm về bài tập thể chất

Khái niệm bài tập thể chất

Để làm rõ khái niệm bài tập thể chất, chúng tôi xem xét thuật ngữ bài tập làm cơ sở cho việc xác định khái niệm bài tập thể chất

Theo “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên, thuật ngữ “bài tập” có nghĩa là “Bài ra cho học sinh làm để vận dụng những điều đã học” [33]

Theo Thái Duy Tuyên “Bài tập là một hệ thông tin xác định bao gồm những điều kiện và những yêu cầu được đưa ra trong quá trình dạy học, đòi hỏi người học một lời giải đáp, mà lời giải đáp này về toàn bộ hoặc từng phần không ở trạng thái có sẵn của người giải tại thời điểm mà bài tập được đặt ra” [54]

Tác giả Nguyễn Hữu Châu cho rằng: “Bài tập (Assigment) là những nhiệm

vụ, công việc được giao cho mỗi nhóm hoặc mỗi cá nhân trong khuôn khổ một chương trình học tập nhằm rèn luyện kĩ năng hay tăng cường kiến thức cho người học” [7] Trong sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu tham khảo, thuật ngữ bài tập xuất hiện rất nhiều như: bài tập Toán, bài tập Tiếng Việt, bài tập Tiếng Anh Theo nghĩa này, bài tập được hiểu là dạng bài học mô phỏng lại kiến thức và thao tác thực hành đã được giới thiệu nhằm mục đích vận dụng lý thuyết và rèn luyện kĩ

Trang 27

năng cần thiết theo chương trình môn học Theo đó, bài tập được sử dụng chủ yếu trong hoạt động thực hành mà nhiệm vụ giải bài tập là một hình thức thực hành

Cũng như bài tập, bài tập thể chất được xem xét như là hành vi vận động của con người, được lựa chọn để giải quyết các nhiệm vụ của giáo dục thể chất Hiểu một cách đơn giản, bài tập thể chất là là những vận động cơ bản của con người được tổ chức theo một phương pháp và hình thức phù hợp với từng đối tượng, điều kiện cơ sở vật chất Đặc điểm quan trọng nhất của bài tập thể chất là

sự phù hợp giữa hình thức và nội dung, chẳng hạn như hình thức vận động cơ bản của con người như: đi, chạy, nhảy, ném hay các tư thế mô phỏng công cụ lao động, vật dụng đều có thể trở thành bài tập thể chất khi chúng có hình thức hợp lý theo quan điểm giáo dục thể chất, đồng thời thông qua đó tạo ra được các quá trình biến đổi chức năng của cơ thể ở mức độ cần thiết, phù hợp với yêu cầu giữ gìn sức khoẻ, nâng cao các tố chất thể lực, hoàn thiện các kỹ năng vận động Điều đó cho thấy, những động tác, tư thế trong lao động và đời sống cũng có thể được cải biến

để trở thành phương tiện giáo dục thể chất

Dấu hiệu đặc trưng nhất của bài tập thể chất chính là sự lặp đi lặp lại động tác, có tính mục đích, có các yêu cầu học tập để hình thành kĩ năng kĩ xảo, hoặc phát triển tố chất thể lực

Từ phân tích trên có thể thấy, bài tập thể chất là yêu cầu, nhiệm vụ liên quan các hoạt động vận động chuyên biệt do con người sáng tạo nhằm phục vụ việc học tập, rèn luyện và tuân thủ các qui luật GDTC, đặc trưng của GDTC

Vai trò của bài tập thể chất với sự phát triển trí tuệ của trẻ CPTTT

Hạn chế lớn nhất của người chậm phát triển trí tuệ nói chung và trẻ bị chậm phát triển trí tuệ nói riêng Sự hạn chế về chức năng trí tuệ phụ thuộc vào mức độ chậm phát triển trí tuệ của trẻ, mức chậm phát triển trí tuệ càng nặng thì sự hạn chế về khả năng trí tuệ của trẻ càng lớn Chính sự hạn chế về khả năng trí tuệ đã dẫn đến những hạn chế trong hoạt động nhận thức của trẻ như: cảm giác, tri giác,

tư duy, trí nhớ [18]

Trang 28

Thực chất của việc hình thành trí tuệ là phát triển năng lực suy nghĩ, sáng tạo mà bước đầu là nhận thức “bài toán”, giải các “bài toán” thực tiễn ở các mức

độ khác nhau Việc hình thành và phát triển trí tuệ phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, thống nhất và có hệ thống Bên cạnh đó, việc hình thành và phát triển trí tuệ không tách rời việc rèn luyện năng lực vận động, năng lực quan sát, phát triển trí nhớ của học sinh

Phát triển tư duy cho trẻ chậm phát triển trí tuệ là việc làm khó khăn, lâu dài Do vậy, muốn phát triển trí tuệ cho trẻ em, đặc biệt ở trẻ 6 - 9 tuổi CPTTT, cần phải thay đổi cấu trúc, nội dung tài liệu dạy học Nội dung dạy học được lựa chọn phải “thích nghi” với trình độ sẵn có của trẻ, có phương thức hoạt động phù hợp với đặc điểm và thói quen của trẻ

Việc sử dụng các BTTC phù hợp để phát triển trí tuệ của trẻ CPTTT là phương pháp dạy học theo hình thức trực quan trực tiếp rất cần thiết và phù hợp trong quá trình giáo dục cho trẻ Với những hình thức vận động cơ bản như đi, chạy, nhảy sẽ giúp cho quá trình biến đổi chức năng của trẻ diễn ra phù hợp, thích ứng với yêu cầu giữ gìn sức khoẻ, nâng cao các tố chất thể lực, hoàn thiện các kĩ năng vận động

Bên cạnh đó, vận động là một trong 8 loại hình trí thông minh của con người, mọi hoạt động của cơ thể đều được điều khiển bởi não bộ [66] Việc kích thích phát triển kĩ năng vận động của trẻ rất quan trọng, bởi đó là kĩ năng thiết yếu, cần được duy trì đều đặn hằng ngày Với những bài tập thể chất sẽ giúp trẻ trở nên tự lập hơn, kích thích não bộ, cải thiện khả năng học tập, tăng khả năng nhạy bén nhận thức và phát triển năng lực tương tác

Là một hiện tượng xã hội, phương tiện phục vụ xã hội và phương tiện cơ bản của quá trình GDTC, bài tập thể chất tác động đến sự phát triển tinh thần của con người theo những qui luật về GDTC và phát triển trí tuệ của trẻ Với ý nghĩa

đó, việc lựa chọn xây dựng bài tập thể chất phù hợp sẽ là cơ sở để thúc đẩy sự phát triển nhận thức của trẻ CPTTT

Trang 29

Mối quan hệ giữa bài tập thể chất và khả năng CYCCĐ của trẻ CPTTT

Cơ thể con người là một khối thống nhất, trí lực và thể lực đều do hệ thống thần kinh trung ương điều khiển Cơ thể khoẻ mạnh là tiền đề vật chất giúp con người phát triển trí óc của mình Giáo dục thể chất một cách khoa học sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự hoạt động của hệ thần kinh, giúp cho hoạt động nhận thức và chú ý phát triển tốt Trong quá trình luyện tập, giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học khác nhau, tác động lên quá trình nhận thức của trẻ yêu cầu trẻ phải tập trung chú ý để có thể ghi nhớ và nhớ lại cách thức thực hiện bài tập thể chất Muốn giáo dục ở trẻ cảm xúc tích cực đảm bảo sự sảng khoái, trạng thái vui tươi, góp phần vượt qua những trạng thái tâm lý tiêu cực, giúp phát triển khả năng chú ý nói chung và CYCCĐ nói riêng

Trẻ CPTTT thường chú ý các đối tượng chậm hơn trẻ bình thường Trong một thời gian nhất định thì khối lượng chú ý ít hơn so với trẻ bình thường (khoảng 40% so với trẻ bình thường) Điều đó nói lên rằng khả năng chú ý của trẻ phát triển rất hạn chế, trẻ không có khả năng phân biệt, bắt chước các hình dạng Trẻ bình thường, khi quan sát chỉ liếc mắt nhìn là nhận biết ngay và tập trung chú ý được đối tượng Còn trẻ CPTTT phải nhìn kĩ, nhìn liên tục, nhìn lần lượt từng chi tiết mới nhận biết và chú ý được đối tượng Có những trường hợp, trẻ không thể tập trung chú ý được đối tượng ngay cả khi có sự hỗ trợ của người lớn, đây là thực

tế cần được ghi nhận và quan tâm

Nói cách khác, trẻ CPTTT vẫn có khả năng phát triển được một số thuộc tính của chú ý như sự tập trung của chú ý; sự bền vững của chú ý; sự phân phối của chú ý; sự di chuyển của chú ý nhưng còn nghèo nàn, hạn chế trong phạm vi nhất định Điều này gây khó khăn cho sự định hướng của trẻ trong hoàn cảnh mới, làm cho tốc độ học tập có phần chậm hơn các trẻ khác [16]

Cũng giống như mặt nhận thức, phần lớn các trẻ CPTTT gặp khó khăn khi phải tập trung và duy trì sự chú ý vào một công việc nào đó trong một thời gian dài Trẻ rất khó khăn lựa chọn những thông tin cần thiết, tập trung chú ý vào những thông tin đó và bỏ qua những kích thích không có liên quan [47] Đôi khi trẻ

Trang 30

CPTTT phán đoán sai do chúng không xác định được những thông tin chính, trẻ

thường chú ý đến những thông tin phụ Ví dụ: Khi cho trẻ quan sát bức tranh “con vật quanh em”, sau đó cho trẻ thực hiện “bài tập ném bóng” vào “tường” có vẽ

hình các con vật thì trẻ có thể thu nhận được hình ảnh được quan sát rồi ném vào đúng con vật đã quan sát Như vậy, để nâng cao khả năng chú ý cho trẻ CPTTT thì việc tổ chức các hoạt động thông qua các bài tập thể chất có vai trò quan trọng, bởi vì trẻ CPTTT gặp khó khăn trong các lĩnh vực vận động cảm giác, nhưng các

em vẫn có khả năng thể hiện mình trong các vận động giải trí Chính vì vậy, các bài tập thể chất được lựa chọn và xây dựng nếu đáp ứng nhu cầu, hứng thú và thỏa mãn sự tò mò, sẽ là động cơ để trẻ tham gia Điều này sẽ tạo ra động lực thúc đẩy khả năng chú ý của trẻ CPTTT phát triển

1.2.4 Lý luận về lựa chọn bài tập thể chất nâng cao khả năng chú ý có chủ định của trẻ chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ

1.2.4.1 Khái niệm lựa chọn các bài tập thể chất nâng cao khả năng chú ý

có chủ định của trẻ chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ

Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh việc cân nhắc, tính toán để

quyết định việc sử dụng loại phương tiện này hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thức thực hiện để đạt được mục tiêu Lựa chọn liên quan đến việc ra quyết định Nó có thể bao gồm đánh giá giá trị của nhiều lựa chọn và chọn một hoặc nhiều trong số chúng Người ta có thể đưa ra lựa chọn giữa các tùy chọn tưởng tượng hoặc giữa các tùy chọn thực tế theo sau là hành động tương ứng Sự lựa chọn có thể bao gồm các yếu tố thúc đẩy phức tạp hơn như nhận thức, bản năng và cảm giác

Một số nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng hoạt động vận động hạn chế, hoặc thường thiếu hoàn toàn, dẫn đến các vấn đề sức khỏe khác nhau, bao gồm các vấn

đề về tư thế (như vẹo cột sống vô căn), tình trạng soma, thừa cân và béo phì, vấn

đề lưu thông và thậm chí tử vong sớm Ngày càng có nhiều bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa việc thiếu hoạt động thể chất và các biện pháp sức khỏe tâm thần Chẳng hạn, nghiên cứu cho thấy thanh thiếu niên thừa cân không

Trang 31

luyện tập thể thao dễ bị rủi ro hơn, bao gồm các nỗ lực tự tử và nghiện cả rượu và

ma túy bất hợp pháp [83, tr.1]

Báo cáo từ Hiệp hội Thể dục và Thể thao Quốc gia Ba Lan [76, tr.32-34] nhấn mạnh rằng trẻ em nên dành nhiều thời gian nhất có thể để tham gia vào các hoạt động đòi hỏi phải vận động thể chất Theo Tổ chức Y tế Thế giới và Fonds Gesundes Osterreich [73, tr.131-137] nêu rõ trẻ nên dành ít nhất 60 phút mỗi ngày cho hoạt động thể chất (như đi bộ đến trường, đi bộ lên cầu thang và đi xe đạp) Hơn nữa, trẻ em nên tăng cường cơ bắp và xương bằng cách rèn luyện sức mạnh ít nhất hai đến ba lần một tuần [66] Cơ sở của những lập luận trên đã được đưa ra rằng những trẻ không tập thể dục sẽ không bao giờ phát triển đầy đủ tiềm năng di truyền về các kĩ năng vận động [82]

Bên cạnh những nghiên cứu về tác động của hoạt động thể chất đến sự phát triển của trẻ nói chung, còn có các đề tài chỉ ra những lợi ích của hoạt động thể chất lên sự phát triển tinh thần của trẻ CPTTT Tác giả Khalili & Elkins (2009) đề xuất một số bài tập aerobic dành cho trẻ khuyết tật trí tuệ trong nghiên cứu của mình Nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên với phân tích cố ý điều trị và đánh giá điểm mù 44 trẻ em 12 tuổi mắc hội chứng Down hoặc khuyết tật trí tuệ khác có

IQ trung bình là 42 (SD = 8) Nhóm thử nghiệm thực hiện bài tập aerobic trong 30 phút, năm ngày mỗi tuần, trong tám tuần Bài tập được giám sát đi bộ, chạy và đạp

xe, với mục tiêu cường độ vừa phải Nhóm kiểm soát tiếp tục các hoạt động thông thường và không thực hiện bài tập cụ thể nào Chức năng phổi như FEV1 và FVC tính bằng lít được đo bằng phế dung kế lúc ban đầu và sau can thiệp sau tám tuần Trước các biện pháp cơ bản, những người tham gia đều trải qua quá trình làm quen với đo phế dung trong một tuần Lúc ban đầu, FEV1 của trẻ CPTTT là trung bình của 87% (95% CI 83 đến 91) và FVC là 94% (95% CI 91 đến 97) của các giá trị bình thường dự đoán Sau khi can thiệp, FEV1 đã tăng thêm 160 ml (95% CI 30 đến 290) và FVC thêm 330 ml (95% CI 200 đến 460) trong nhóm thử nghiệm so với nhóm đối chứng Kết quả cho thấy, chương trình tập thể dục nhịp điệu kéo dài

8 tuần giúp cải thiện đáng kể chức năng phổi ở trẻ CPTTT [78, tr.171-175]

Trang 32

Như vậy có thể thấy BTTC có ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển về nhận thức, chú ý của trẻ nói chung, mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ CPTTT Lựa chọn bài tập thể chất là quá trình cân nhắc, quyết định sử dụng các BTTC nhằm phục vụ việc học tập, rèn luyện và được tổ chức tuân thủ các qui luật GDTC, đặc trưng của GDTC Trong đó, BTTC được lựa chọn phải cuốn hút được trẻ tham gia, phù hợp với đặc điểm của trẻ CPTTT thì mới tác động đến việc phát triển khả năng CYCCĐ của các em

Xuất phát từ những nghiên cứu thực tiễn trên và từ lý luận về CYCCĐ, trẻ CPTTT, giáo dục thể chất, lựa chọn, bài tập thể chất, đề tài cho rằng lựa chọn bài tập thể chất nhằm nâng cao khả năng CYCCĐ của trẻ CPTTT dạng nhẹ được hiểu là: “Lựa chọn BTTC là quá trình cân nhắc, quyết định những bài tập thể chất chuyên biệt, có chủ đích để phục vục việc học tập, rèn luyện nhằm phát huy sự nỗ lực của ý thức ở trẻ làm cơ sở để góp phần phát triển khả năng CYCCĐ”

1.2.4.2 Nguyên tắc lựa chọn các bài tập thể chất nâng cao khả năng chú ý

có chủ định của trẻ chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ

Để có thể lựa chọn các BTTC nhằm nâng cao khả năng chú ý cho trẻ 6 - 9 tuổi CPTTT dạng nhẹ ở TPHCM, trước hết đề tài lựa chọn trên nguyên tắc: tính

sư phạm, mục đích, yêu cầu, phạm vi nghiên cứu của đề tài, đặc điểm tâm sinh

lý, điều kiện thực tế của Trường Các BTTC được lựa chọn phải lấy trọng tâm là việc nâng cao khả năng chú ý cho trẻ 6 - 9 tuổi CPTTT dạng nhẹ

sở vật chất và dụng cụ tập luyện; đảm bảo nguyên tắc vừa sức và hạn chế chấn

Trang 33

thương trong tập luyện Mặt khác, những bài tập thể chất được lựa chọn còn phải dựa trên đến những hạn chế sau đây của trẻ để khắc phục:

Phát triển tư duy cho trẻ CPTTT là việc làm khó khăn, lâu dài nhưng có thể thực hiện được nếu giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học tích cực Nhiệm

vụ của giáo viên là phải tìm phương pháp tốt nhất, giúp đỡ trẻ bỏ dần các biểu tượng cụ thể, riêng lẻ, tiến đến mức độ nhận thức cao hơn đó là sự khái quát tư duy bằng lời

- Hạn chế về khả năng chú ý

Phần lớn các trẻ CPTTT gặp khó khăn khi phải tập trung và duy trì sự chú

ý vào một công việc nào đó trong một thời gian dài Trẻ khó khăn lựa chọn những thông tin cần thiết, tập trung chú ý vào những thông tin đó và bỏ qua những kích thích không có liên quan [47] Đôi khi các trẻ chậm phát triển trí tuệ phán đoán sai do chúng không xác định được những thông tin chính, trẻ thường chú ý đến những thông tin phụ Vì vậy, khả năng chú ý thực càng nhiều hạn chế của CYCCĐ

là cở sở quan trọng

- Hạn chế về các kĩ năng vận động

Kĩ năng giác động là những kĩ năng liên quan đến cảm giác và vận động toàn thân [5] Kĩ năng cảm giác thuộc về cách mà đứa trẻ ghi nhận, xử lý và giải thích thông tin tiếp nhận qua các giác quan (nghe, nhìn, ngửi, nếm, sờ, chạm) Kĩ năng vận động gồm các kĩ năng vận động thô và vận động tinh - hai kĩ năng này

có liên quan mật thiết với nhau Nhiều hoạt động yêu cầu có sự phối hợp nhịp nhàng giữa hai nhóm kĩ năng trên (ví dụ như phối hợp tay - mắt) Trẻ CPTTT

Trang 34

thường bị hạn chế trong vực phối hợp trên nên khi thực hiện một hoạt động, nhiệm

vụ nào đó sẽ gặp khó khăn, ví dụ như tập bài tập thể dục, viết chữ… Đây là căn

cứ quan trọng khi lựa chọn BTTC

- Hạn chế về kĩ năng xã hội

Những trẻ CPTTT, thường yếu kém về kĩ năng xã hội Các trẻ này thường khó khăn trong các tình huống như [5]: Chơi cùng nhau, làm cùng nhau; Lắng nghe người khác nói, luân phiên chờ đến lượt mình; Rất khó để hiểu rằng có rất nhiều cách nhìn nhận người khác khác với cách nhìn nhận của mình; Khó biểu hiện được thái độ đúng mực và phù hợp với ai đó hay với mọi người trong những tình huống nào đó; Khó nhận biết thái độ, ý định của người khác qua những biểu hiện trên nét mặt hay tư thế

- Hạn chế về ngôn ngữ

Ở người bình thường, để có thể giao tiếp có hiệu quả cần phải có kĩ năng diễn đạt ngôn ngữ (diễn đạt ý nghĩ thành ngôn từ) và kĩ năng tiếp nhận ngôn ngữ (hiểu những gì người khác nói) Trẻ chậm phát triển trí tuệ có sự hạn chế về cả hai

kĩ năng này, đặc biệt là kĩ năng ngôn ngữ Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ chậm phát triển trí tuệ không mất nhiều thời gian hơn và trình độ ngôn ngữ của trẻ thấp hơn so với trẻ bình thường hai tuổi [5]

- Một số hạn chế khác

Do sự hạn chế về chức năng nhận thức, ngôn ngữ, khả năng chú ý, khó khăn

về thể chất và tâm thần… nên trẻ chậm phát triển trí tuệ thường có các hành vi không mong muốn [3] Không những thế, đứa trẻ chậm phát triển trí tuệ thường không hoàn thành nhiệm vụ nào đó hoặc qua nhiều lần thất bại sẽ dẫn đến trẻ dễ nản chí Do vậy trẻ kém hăng hái, không muốn học những cái mới hoặc đối mặt với tình huống mới, trẻ hay ỷ lại và trông đợi sự giúp đỡ của người khác Có trẻ

có thể làm được nhưng lại thiếu tự tin nên không đủ quyết tâm để thực hiện Vì vậy, việc lựa chọn bài tập thể chất không chỉ xuất phát từ những hạn chế của trẻ

mà cần phải bám sát nhu cầu của trẻ, động viên và khuyến khích trẻ tham gia

Nguyên tắc hiệu quả

Trang 35

Khi lựa chọn các bài tập thể chất nâng cao khả năng CYCCĐ của trẻ CPTTT dạng nhẹ cần dựa vào các đặc điểm cơ bản của hoạt động giáo dục thể chất Nguyên tắc này đặt trong hoạt động GDTC sẽ nhận thấy rõ ý nghĩa và tác động của hoạt động GDTC Cụ thể: Củng cố sức khỏe, phát triển hài hòa nhân cách; phát huy tối ưu thành tích cần thiết để thực hiện có hiệu quả các hoạt động xã hội; phương pháp thi đấu giúp nâng cao hiệu quả của giờ học thể dục chứ không phải

là thành phần bắt buộc của hoạt động; Hoạt động GDTC đòi hỏi có sự nỗ lực ý chí

và thể chất tương đối cao nhưng không tới mức tối đa [54]

Với những hạn chế trên của hoạt động giáo dục thể chất, trẻ CPTTT dạng nhẹ có thể sẽ gặp rất nhiều trở ngại, khó khăn trong việc rèn luyện, thực hiện các bài tập thể chất vì những đặc điểm khiếm khuyết về tâm lý và vận động của mình

Vì vậy, việc tổ chức hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ CPTTT dạng nhẹ cần được xây dựng một cách bài bản và bám sát đặc điểm tâm lý của trẻ

1.2.4.3 Các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ

Ở độ tuổi 6 - 9, trẻ đã có thói quen vận động và những nét tính cách trong các hoạt động khác nhau Đây là thời kỳ đặc biệt thuận lợi để tiếp thu, xây dựng, củng cố các kỹ năng cần thiết cho cuộc sống Dĩ nhiên sự phát triển của trẻ phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện môi trường, việc tổ chức cuộc sống và việc giáo dục nhất là giáo dục thể chất cho trẻ Vì vậy, hình thức tổ chức phải đa dạng, phong phú là điều kiện quan trọng để tổ chức hoạt động giáo dục thể chất hiệu quả

Nhằm phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH, Thủ tướng đã phê duyệt Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030; trong

đó có chương trình phát triển thể lực, tầm vóc bằng giải pháp tăng cường GDTC

Một trong những nội dung chủ yếu của chương trình này là: “Đảm bảo chất lượng giờ học giáo dục thể chất chính khóa, các hoạt động thể thao ngoại khóa cho HS, xây dựng chương trình GDTC hợp lý ” và “Tận dụng các công trình TDTT trên địa bàn để phục vụ cho hoạt động GDTC trong trường học” [51]

Trang 36

Như vậy, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ là sự tổng hợp đa dạng các hoạt động, đồng thời tận dụng được các nguồn lực có sẵn tại các

cơ sở giáo dục và ở bên ngoài xã hội Sự tổng hòa những hình thức đó tạo nên chế

độ vận động nhất định, rất cần thiết cho sự phát triển đầy đủ về thể chất, củng cố sức khỏe của trẻ Những hình thức đó là:

Các buổi học giáo dục thể chất

Đây là hình thức tổ chức cơ bản của GDTC và giảng dạy một cách có hệ thống, có tổ chức và tác động có mục đích thông qua những bài tập thể chất nhằm trang bị những kĩ năng vận động và hoàn thiện các kĩ xảo vận động

Các buổi luyện tập thể dục giữa giờ

Đây là hình thức tập luyện tập thể tích cực, giúp học sinh thư giãn, cải thiện trí nhớ hồi phục năng lượng, giảm sự căng thẳng thông qua các bài tập thể chất đơn giản là những tư thế thể dục cơ bản

Các buổi buổi tập có tổ chức trò chơi vận động

Đây là hình thức được kết hợp trong các buổi học thể dục thể chất Các bài tập thể chất được thiết kế dưới dạng trò chơi vận động giúp trẻ tăng sự hưng phấn làm cho quá trình tiếp nhận nhiệm vụ vận động được thuận lợi

Tất cả các hình thức trên đều giúp đáp ứng được các nhiệm vụ chung của GDTC đối với trẻ Mỗi hình thức đó đều có các nhiệm vụ chuyên môn tương ứng với nhiệm vụ chung đã qui định trong chương trình cụ thể về giáo dục thể chất tương ứng

1.2.4.4 Các định hướng lựa chọn bài tập thể chất nhằm nâng cao khả năng chú ý có chủ định của trẻ chậm phát triển trí tuệ

Trong thực tiễn, các BTTC rất đa dạng và phong phú Song một điều quan trọng có tính nguyên tắc là không một bài tập nào khi sử dụng riêng lẻ lại được đánh giá là duy nhất có giá trị Kết quả tác động của BTTC chỉ đạt được khi biết vận dụng một cách khoa học toàn bộ tổ hợp những bài tập đã được khoa học và thực tiễn xác minh, đồng thời phải tính toán đến đặc điểm của người tập, điều kiện tập luyện BTTC là quá trình thực hiện các hoạt động vận động chuyên biệt do con

Trang 37

người sáng tạo ra nhằm phục vụ việc học tập, rèn luyện và tuân thủ các qui luật GDTC, đặc trưng của GDTC

Trong quá trình GDTC, BTTC được chia thành 4 nhóm: Nhóm thể dục; Nhóm thể thao, Nhóm trò chơi; Nhóm du lịch Đó là sự phân loại theo hệ thống phương tiện, phương pháp GDTC đã được hình thành trong lịch sử hoạt động của

xã hội loài người Còn nhiều hướng phân loại khác như [56]:

Theo mục đích của huấn luyện thể thao, BTTC được chia thành 3 nhóm: Bài tập thi đấu; Bài tập chuẩn bị chung; Bài tập chuẩn bị chuyên môn

Theo tố chất vận động, BTTC có thể chia thành các loại sau: Các bài tập sức mạnh - tốc độ mà đặc điểm tiêu biểu là có cường độ hay công suất hoạt động tối đa (chạy ngắn, cử tạ, ném đẩy, các môn nhảy ); Các bài tập sử dụng trong các môn hoạt động có chu kỳ: chạy cự ly trung bình, dài, bơi, đi bộ, chèo thuyền, đua

xe đạp ; Các bài tập phối hợp vận động theo chương trình định mức chặt chẽ như: TD thi đấu, nhào lộn, thể dục nghệ thuật ; Các bài tập đòi hỏi tố chất vận động tổng hợp trong điều kiện các tình huống và hình thức vận động luôn thay đổi như: các môn đối kháng cá nhân, các môn bóng

Theo khoa học giải phẩu vận động, BTTC cũng có cách phân loại các theo quan điểm riêng như: Trong sinh cơ người ta phân thành 3 loại: Bài tập có chu kỳ, Bài tập không chu kỳ và Bài tập hỗn hợp; trong giải phẩu người ta còn có thể phân loại các bài tập theo các bộ phận cơ thể như: bài tập tay, bài tập chân, bài tập bụng, bài tập lườn và bài tập phối hợp

Ngoài ra còn nhiều cách phân loại BTTC khác nữa Sự phong phú của việc phân loại BTTC có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, giúp ta thuận lợi trong việc định hướng, lựa chọn và sử dụng đúng mục đích

Do vậy, đề tài tiếp cận việc phân loại BTTC theo hướng tác động quá trình nhận thức tri giác đến trẻ CPTTT dạng nhẹ gồm 02 nhóm: Nhóm bài tập thể chất

và Nhóm bài tập trò chơi làm hướng nghiên cứu của đề tài

Nhóm bài tập thể chất

Trang 38

Là dạng bài tập bao gồm các tư thế vận động cơ bản và tư thế trong lao động, cuộc sống thường ngày được tổ chức theo qui luật và đặc trưng của quá trình GDTC giúp tác động đến quá trình nhận thức, tự đánh giá, tự điều chỉnh hành động của trẻ

Nhóm bài tập dưới dạng trò chơi

Là dạng bài tập có thể gắn với một trò chơi cụ thể nào đó như bóng đá, bóng chuyền hoặc các trò chơi vận động đơn giản được tổ chức theo theo chủ đề, đa dạng về hình thức, nội dung sáng tạo có yêu cầu cao về sự tập trung, chú ý của con người qua luật chơi Bên cạnh đó, dạng bài tập này còn tạo nên sự đua tranh giữa các cá nhân hoặc giữa các nhóm người và tạo nên cảm xúc mạnh mẽ Qua các tài liệu tham khảo, căn cứ vào mục đích nghiên cứu, đặc điểm của khách thể nghiên cứu và tình hình thực tế tại các trường chuyên biệt trên địa bàn TPHCM Luận án đã lựa chọn được 2 nhóm bài tập chính:

Nhóm 1: Các bài tập thể dục

Trong nhóm này sẽ bao gồm bài tập như: đi, chạy, nhảy và các bài tập thể dục tư thế cơ bản của đầu, tay, thân, chân, các bài tập mô phỏng hình ảnh cuộc sống gần gũi hàng ngày, giúp cho trẻ bước đầu làm quen với việc vận động, tạo

sự hứng thú bước đầu hỗ trợ cho việc tăng cường chú ý

Với các tư thế vận động cơ bản, sau khi thực hiện các bài tập sẽ giúp trẻ hình thành kĩ năng vận động cơ bản: đi, đứng, ngồi… Bên cạnh đó, các bài tập thể dục dạng mô phỏng hình các con vật, dụng cụ lao động mà trẻ có thể gặp trong cuộc sống sẽ tạo hứng thú đối với trẻ Để thực hiện được các động tác này thì đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý lắng nghe hướng dẫn của giáo viên, nhìn hình minh họa hoặc làm theo động tác của giáo viên Nhóm bài tập này không chỉ giúp trẻ phát triển sự khéo léo, mà còn hỗ trợ cho việc nâng cao khả năng chú ý ở trẻ CPTTT dạng nhẹ

Nhóm 2: Các bài tập dạng trò chơi

Nhóm bài tập này yêu cầu độ chính xác có sự kết hợp khả năng vận động,

sự tập trung và tính chính xác về các mục tiêu của bài tập Các bài tập này sẽ giúp

Trang 39

cũng cố khả năng tập trung, khả năng phân phối và di chuyển của chú ý Nhóm bài tập dưới dạng trò chơi mô phỏng một số môn thể thao cụ thể như bóng đá, bóng ném, bóng chuyền…

Mỗi nhóm bài tập có mục đích khác nhau, nhưng khi xét trên sự phát triển chung thì cả 2 nhóm bài tập này có sự hỗ trợ cho nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Khi thực hiện các bài tập này sẽ giúp trẻ cải thiện ở 4 thuộc tính của CYCCĐ: sự tập trung của chú ý, sự bền vững của chú ý, sự phân phối của chú ý và sự di chuyển của chú ý Căn cứ vào thuộc tính của chú ý và đặc điểm về phân loại BTTC, chúng tôi định hướng lựa chọn BTTC nhằm nâng cao khả năng CYCCĐ của trẻ CPTTT theo ma trận sau:

Bảng 1.1 Ma trận định hướng lựa chọn BTTC nhằm nâng cao

khả năng chú ý có chủ định của trẻ CPTTT Thuộc tính của

CYCCĐ

Hướng tiếp cận từ phân loại BTTC

Định hướng lựa chọn nội dung bài tập

Sự tập trung của chú ý Bài tập thể dục tiếp cận để

phát triển sự tập trung và

sự bền vững của chú ý

Kĩ năng vận động cơ bản

Sự bền vững của chú ý Động tác mô phỏng hình ảnh

thường gặp trong cuộc sống

Sự phân phối của chú ý Bài tập dạng trò chơi tiếp

cận để phát triển sự phân phối và sự di chuyển của chú ý

Trò chơi vận động (Từ đơn giản đến phức tạp theo hướng khắc phục các hạn chế về vận động của trẻ)

Trang 40

biệt dân lập phải tự túc kinh phí và dụng cụ giảng dạy Cơ sở vật chất còn nhỏ hẹp, thiếu sân chơi, thiếu đồ chơi vận động ngoài trời; các trường hòa nhập thiếu phòng học cho trẻ khuyết tật hoạt động cá nhân

Trong khi đó, số trẻ khuyết tật và những dị tật khác ngày càng tăng nhiều Đối với quận huyện chưa có trường chuyên biệt, hầu hết phụ huynh có con khuyết tật đành để con ở nhà, hoặc đến những quận xa để được học tập, giáo dục Không chỉ cơ sở vật chất, mà ngay cả vấn đề nhân lực cũng rất thiếu, gây không ít khó khăn cho các trường chuyên biệt nếu muốn mở thêm phòng học để nhận trẻ Hiện tại, hầu hết trường chuyên biệt nào cũng thiếu giáo viên (GV) đứng lớp, một phần

do tỷ lệ trẻ khuyết tật hằng năm đều tăng, mặt khác trình độ chuyên môn của GV không đồng đều, đa số GV đều được chuyển từ các trường mầm non qua sau đó

đi học chuẩn hóa

Trẻ khuyết tật có nhu cầu về đầu tư giáo dục nhiều trẻ bình thường chính vì thế trường chuyên biệt cho trẻ khuyết tật cần những yêu cầu riêng, đặc biệt như lối đi riêng, nhà vệ sinh riêng, chưa kể những phương tiện dạy học tối thiểu khác Hầu hết các trường chuyên biệt dạy trẻ khuyết tật đều khó khăn từ việc trang bị đồ dùng học tập, đồ chơi, sách vở cũng như bổ sung nguồn giáo viên, cán bộ y tế, bảo mẫu Báo cáo của các trường cho thấy, cơ sở vật chất thì xuống cấp đã lâu, đa số các trường đều tận dụng những phòng học cũ để lại nên rất khó GV các trường chuyên biệt chưa đảm bảo được tỉ lệ 1,5 GV/lớp theo quy định, GV các lớp có HS học hòa nhập chưa được bồi dưỡng chuyên sâu khó nâng cao chất lượng giảng dạy

HS khuyết tật

Hiện nay, hầu hết các trường chuyên biệt còn chưa có một chương trình giáo dục cụ thể, thống nhất Nhiều trường mới chú trọng dạy trẻ phát triển về ngôn ngữ và các hành vi giao tiếp thông thường, các hoạt động giáo dục thể chất chưa

có chương trình chi tiết mà chủ yếu là thực hiện các hoạt động vận động theo dạng trò chơi do GV chủ nhiệm đảm nhận, chưa có chương trình tập luyện sử dụng phương tiện cơ bản nhất của quá trình GDTC là BTTC Các trường chưa có GV GDTC chuyên trách, các hoạt động GDTC chủ yếu do giáo viên chuyên ngành

Ngày đăng: 17/04/2023, 16:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Phạm Minh Hạc (1997), Tâm lý học Vưgotxki, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học Vưgotxki
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
17. Nguyễn Thị Bích Hạnh, Trần Thị Hương (2004), Lý luận dạy học, Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hạnh, Trần Thị Hương
Nhà XB: Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2004
18. Huỳnh Thị Thu Hằng (2005), Đại cương về giáo dục trẻ chậm phát triển trí tuệ, Đại học Sư phạm Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về giáo dục trẻ chậm phát triển trí tuệ
Tác giả: Huỳnh Thị Thu Hằng
Nhà XB: Đại học Sư phạm Đà Nẵng
Năm: 2005
19. Hergenhahn B.R. (2003), Nhập môn lịch sử Tâm lý học, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn lịch sử Tâm lý học
Tác giả: Hergenhahn B.R
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2003
20. Kỷ Giang Hồng (2009), Khả năng quan sát, sức tập trung chú ý, NXB Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng quan sát, sức tập trung chú ý
Tác giả: Kỷ Giang Hồng
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2009
21. Vũ Minh Hồng, Trương Kim Oanh, Phan Quỳnh Hoa (19 phương pháp), Trò chơi học tập, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi học tập
Tác giả: Vũ Minh Hồng, Trương Kim Oanh, Phan Quỳnh Hoa
Nhà XB: NXB Giáo dục
22. Bùi Văn Huệ (2007), Tâm lý học tiểu học, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học tiểu học
Tác giả: Bùi Văn Huệ
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2007
23. Phạm Thị Thanh Hương (2007), “Tập trung chú ý trong hoạt động thể thao”, Tạp chí Khoa học Thể thao, Viện Khoa học TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập trung chú ý trong hoạt động thể thao
Tác giả: Phạm Thị Thanh Hương
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Thể thao
Năm: 2007
24. Hoàng Mộc Lan (2009), Các phẩm chất chú ý của lứa tuổi thanh niên sinh viên, Tạp chí Tâm lý học - số 3, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phẩm chất chú ý của lứa tuổi thanh niên sinh viên
Tác giả: Hoàng Mộc Lan
Nhà XB: Tạp chí Tâm lý học
Năm: 2009
25. Lê Văn Lẫm (2004), GDTC ở một số nước trên thế giới, NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: GDTC ở một số nước trên thế giới
Tác giả: Lê Văn Lẫm
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 2004
26. Liublinxcaia A.A. (1978), Tâm lý học trẻ em, Sở Giáo dục TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em
Tác giả: Liublinxcaia A.A
Nhà XB: Sở Giáo dục TP Hồ Chí Minh
Năm: 1978
28. Mukhina V.X. (1981), Tâm lý học mẫu giáo (tập 1, tập 2), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học mẫu giáo (tập 1, tập 2)
Tác giả: Mukhina V.X
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1981
29. Nguyễn Thị Hồng Nga (2004), Thử nghiệm ứng dụng một vài liệu pháp tâm lý trị liệu tăng động giảm chú ý ở học sinh trung học cơ sở (Đề tài cấp Viện), Viện Khoa học Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệm ứng dụng một vài liệu pháp tâm lý trị liệu tăng động giảm chú ý ở học sinh trung học cơ sở (Đề tài cấp Viện)
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Nga
Nhà XB: Viện Khoa học Giáo dục
Năm: 2004
30. Lương Thị Ánh Ngọc (2011), Sự phát triển thể lực, thành phần cơ thể của học sinh 11 - 14 tuổi dưới tác động của TDTT trường học tại Quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, Luận án Tiến sĩ, Viện KH TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển thể lực, thành phần cơ thể của học sinh 11 - 14 tuổi dưới tác động của TDTT trường học tại Quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Lương Thị Ánh Ngọc
Nhà XB: Viện KH TDTT
Năm: 2011
31. Đặng Hồng Nhung (2007), Tổng quan về sự hồi hộp trong thể thao, Theo “Psychological Foundations of Sport”, tài liệu nội bộ Viện KH TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về sự hồi hộp trong thể thao
Tác giả: Đặng Hồng Nhung
Nhà XB: Viện KH TDTT
Năm: 2007
32. Nicky Hayes (2005), Nền tảng Tâm lý học, NXB Lao động Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền tảng Tâm lý học
Tác giả: Nicky Hayes
Nhà XB: NXB Lao động Hà Nội
Năm: 2005
34. Đỗ Tấn Phong (2020), “Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao tính tích cực cho học sinh khiếm thị trường phổ thông đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu, thành phố Hồ Chí Minh”, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học TDTT TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao tính tích cực cho học sinh khiếm thị trường phổ thông đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu, thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Đỗ Tấn Phong
Nhà XB: Trường Đại học TDTT TP.HCM
Năm: 2020
35. Đặng Hồng Phương (2015), Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ em lứa tuổi mầm non, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ em lứa tuổi mầm non
Tác giả: Đặng Hồng Phương
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2015
36. Piagiet, Jean & Barbel, Inhelder (2000), Tâm lý học trẻ em và ứng dụng Tâm lý học Piagiet vào trường học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em và ứng dụng Tâm lý học Piagiet vào trường học
Tác giả: Piagiet, Jean, Barbel, Inhelder
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
40. Quyết định 1029/QĐ-UBND ngày 05/3/2014 về việc thực hiện Quyết định số 1019/QĐ-TTg phê duyệt đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012- 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 1029/QĐ-UBND
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w