MỞ ĐẦU Nợ công là một vấn đề mà tất cả quốc gia trên thế giới đều phải đối mặt. Từ những quốc gia còn nghèo đói ở châu Phi đến những nước đang phát triển như Việt Nam hay những cường quốc về kinh tế như Mỹ, Nhật Bản hay châu Âu thì đều đang gánh trên vai một khoản nợ công không hề nhỏ, thậm chí nhiều nước đã vượt quá cao so với ngưỡng an toàn như Nhật Bản (trên 200%GDP ), Mỹ vượt quá 100% GDP; Đặc biệt nhiều nước thuộc Liên minh châu Âu (EU) có tỷ lệ nợ tương đương 60% mức giới hạn an toàn cho phép, các nước Hy Lạp đã vỡ nợ với tỷ lệ nợ lên đến 152% GDP hay như Italy mức nợ lên đến 120% GDP. Nếu không kiểm soát được nợ công thì tình trạng vỡ nợ có thể xảy ra và nó sẽ gây ra những hậu quả khó lường, những tổn thất không chỉ về mặt kinh tế mà còn về mặt chính trị xã hội. Việt Nam, nợ công đang là một trong số những vấn đề nóng hổi nhất trên các diễn đàn kinh tế hiện nay. Là một quốc gia đang phát triển, vay nợ có thể coi như một điều tất yếu đối với Việt Nam do tỷ lệ tích lũy của nền kinh tế là thấp. Nguồn vốn từ nợ công thời gian qua đã có những đóng góp đáng kể, tạo nên nhiều thành quả kinh tế cho quốc gia. Tuy nhiên, chi phí nợ công không phải là nhỏ và nếu chúng ta “lạm dụng” việc vay nợ, nếu không có cách sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay, quản lý chặt chẽ nợ công thì nguy cơ khủng hoảng nợ công có thể xảy ra bất cứ lúc nào, là mối đe dọa lớn đối với nền kinh tế quốc gia. Theo báo cáo của Chính phủ và Ủy ban Tài chính Ngân sách của Quốc hội thì tính đến tháng 122015 nợ công của ta vẫn ở mức an toàn (62,3% GDP). Tuy nhiên, thực tế cho thấy khả năng trả nợ công của Việt Nam trở nên đáng lo ngại hơn, nhất là trong điều kiện tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục suy giảm, từ mức trên 7,6% giai đoạn 20002007 xuống còn mức dưới 6% giai đoạn 20082015 và chưa có dấu hiệu phục hồi nhanh. Trong khi đó thâm hụt thương mại khá trầm trọng, tăng trên 10%GDP liên tục trong nhiều năm gần đây. Đặc biệt thâm hụt Ngân sách Nhà nước cao (trong những năm gần đây xấp xỉ ở mức 5%6%GDP) và nợ công tăng nhanh do hậu quả của chính sách kích thích kinh tế kéo dài thông qua chi tiêu công. Thêm nữa, sức ép chi trả nợ công đã tương đối lớn, trên mức 160 nghìn tỷ đồng trong năm 2015 và dự toán hơn 170 nghìn tỷ đồng trong năm 2016. Cộng thêm, Danh mục nợ của Việt Nam bắt đầu có những thay đổi và tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn so với trước đây do từ năm 2010, việc tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi (ODA) khó khăn hơn (từ năm 2010 Việt Nam thuộc nhóm nước có thu nhập trung bình thấp) và Việt Nam đã phải chuyển sang các nguồn vốn vay thương mại với lãi suất cao hơn và các điều kiện vay khắt khe hơn, điều này làm gia tăng chi phí trả nợ hằng năm. Điều này góp phần làm tăng giá trị nợ hiện tại (kể cả khi được đảo nợ), song dường như không đi kèm với tăng năng lực sản xuất và khả năng tạo nguồn trả nợ trong tương lai. Nếu không có một chương trình và kế hoạch quản lý hiệu quả thì nguy cơ mất kiểm soát nợ công thậm chí vỡ nợ công trong tương lai là điều có thể xảy ra. Vì vậy, việc nghiên cứu xác định “ Vấn đề nợ công và một số đề xuất kiềm chế nợ công của Việt Nam”vô cùng có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Trên cơ sở đó Chính phủ Việt Nam cần có những quyết sách thích hợp trong quản lý nợ công.
Trang 1Ghim 1
Ghim 2
BÀI THU HOẠCH KẾT THÚC HỌC PHẦN
HỆ ĐÀO TẠO CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Môn học
Tên chủ đề:
Số phách ĐIỂM
Giảng viên chấm 1 (Ký, ghi rõ họ,
tên)
Giảng viên chấm 2 (Ký, ghi rõ họ,
tên) Bằng số:
Bằng chữ:
Môn học
Tên chủ đề:
viên
Mã số học viên Lớp
Trang 2Ngày nộp
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 3
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ NỢ CÔNG Ở NƯỚC TA VÀ NGUYÊN NHÂN 3
1 Bội chi ngân sách và nợ công tăng nhanh 3
2 Đánh giá nguyên nhân của tình trạng trên: 6
3 Khả năng thanh toán nợ 9
4.Tính thanh khoản của nợ công 10
5 Rủi ro về tỷ giá 11
IV.MỘT SỐ ĐỀ XUẤT KIỀM CHẾ NỢ CÔNG VƯỢT TRẦN 11
KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 3MỞ ĐẦU
Nợ công là một vấn đề mà tất cả quốc gia trên thế giới đều phải đối mặt
Từ những quốc gia còn nghèo đói ở châu Phi đến những nước đang phát triển như Việt Nam hay những cường quốc về kinh tế như Mỹ, Nhật Bản hay châu
Âu thì đều đang gánh trên vai một khoản nợ công không hề nhỏ, thậm chí nhiều nước đã vượt quá cao so với ngưỡng an toàn như Nhật Bản (trên 200%GDP ), Mỹ vượt quá 100% GDP; Đặc biệt nhiều nước thuộc Liên minh châu Âu (EU) có tỷ lệ nợ tương đương 60% - mức giới hạn an toàn cho phép, các nước Hy Lạp đã vỡ nợ với tỷ lệ nợ lên đến 152% GDP hay như Italy mức
nợ lên đến 120% GDP Nếu không kiểm soát được nợ công thì tình trạng vỡ
nợ có thể xảy ra và nó sẽ gây ra những hậu quả khó lường, những tổn thất không chỉ về mặt kinh tế mà còn về mặt chính trị - xã hội
Việt Nam, nợ công đang là một trong số những vấn đề nóng hổi nhất trên các diễn đàn kinh tế hiện nay Là một quốc gia đang phát triển, vay nợ có thể coi như một điều tất yếu đối với Việt Nam do tỷ lệ tích lũy của nền kinh tế là thấp Nguồn vốn từ nợ công thời gian qua đã có những đóng góp đáng kể, tạo nên nhiều thành quả kinh tế cho quốc gia Tuy nhiên, chi phí nợ công không phải là nhỏ và nếu chúng ta “lạm dụng” việc vay nợ, nếu không có cách sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay, quản lý chặt chẽ nợ công thì nguy cơ khủng hoảng nợ công có thể xảy ra bất cứ lúc nào, là mối đe dọa lớn đối với nền kinh tế quốc gia Theo báo cáo của Chính phủ và Ủy ban Tài chính Ngân sách của Quốc hội thì tính đến tháng 12/2015 nợ công của ta vẫn ở mức an toàn (62,3% GDP) Tuy nhiên, thực tế cho thấy khả năng trả nợ công của Việt Nam trở nên đáng lo ngại hơn, nhất là trong điều kiện tốc độ tăng trưởng kinh
tế liên tục suy giảm, từ mức trên 7,6% giai đoạn 2000-2007 xuống còn mức dưới 6% giai đoạn 2008-2015 và chưa có dấu hiệu phục hồi nhanh Trong khi
đó thâm hụt thương mại khá trầm trọng, tăng trên 10%/GDP liên tục trong
Trang 4nhiều năm gần đây Đặc biệt thâm hụt Ngân sách Nhà nước cao (trong những năm gần đây xấp xỉ ở mức 5%-6%/GDP) và nợ công tăng nhanh do hậu quả của chính sách kích thích kinh tế kéo dài thông qua chi tiêu công Thêm nữa, sức ép chi trả nợ công đã tương đối lớn, trên mức 160 nghìn tỷ đồng trong năm 2015 và dự toán hơn 170 nghìn tỷ đồng trong năm 2016 Cộng thêm, Danh mục nợ của Việt Nam bắt đầu có những thay đổi và tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn so với trước đây do từ năm 2010, việc tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi (ODA) khó khăn hơn (từ năm 2010 Việt Nam thuộc nhóm nước có thu nhập trung bình thấp) và Việt Nam đã phải chuyển sang các nguồn vốn vay thương mại với lãi suất cao hơn và các điều kiện vay khắt khe hơn, điều này làm gia tăng chi phí trả nợ hằng năm Điều này góp phần làm tăng giá trị nợ hiện tại (kể cả khi được đảo nợ), song dường như không đi kèm với tăng năng lực sản xuất và khả năng tạo nguồn trả nợ trong tương lai Nếu không có một chương trình và kế hoạch quản lý hiệu quả thì nguy cơ mất kiểm soát nợ công thậm chí vỡ nợ công trong tương lai là điều có thể xảy ra
Vì vậy, việc nghiên cứu xác định “ Vấn đề nợ công và một số đề xuất kiềm chế nợ công của Việt Nam”vô cùng có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Trên
cơ sở đó Chính phủ Việt Nam cần có những quyết sách thích hợp trong quản
lý nợ công
Trang 5NỘI DUNG
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ NỢ CÔNG Ở NƯỚC TA VÀ NGUYÊN NHÂN
1 Bội chi ngân sách và nợ công tăng nhanh
Trên thực tế chính phủ đã thực hiện gói kích cầu năm 2009, ngân sách ngày càng thâm hụt tăng lên Năm 2011 bội chi là 65,8 nghìn tỷ đồng thì năm
2015 là 263,2 nghìn tỷ đồng So với GDP, bội chi đã tăng từ mức 4,4% GDP năm 2011 lên 6,1 % GDP năm 2015, cao hơn giới hạn 5% theo quy định chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Bội chi tăng, nợ công cũng tăng nhanh, giai đoạn
2011 – 2015 từ mức 50,1% GDP lên 62,2% GDP, tiệm cận giới hạn 65% theo quy định của Luật Quản lý nợ công Như đã công bố là nợ công năm 2015 của nước ta là 62,2% GDP tăng 11 điểm phần trăm so với năm 2010 và nhanh chóng tiến gần mức Quốc hội cho phép là 65% GDP Xét theo số tuyệt đối đến cuối năm 2015 là 117 tỷ USD, tăng gấp đôi so với mức nợ công của năm
2011 dự toán hơn 170 nghìn tỷ đồng trong năm 2016 Trong đó nợ Chính phủ chiếm tới 50,3% GDP, vượt ngưỡng 50% do Quốc hội đề ra Tuy nhiên, nếu tính theo quốc tế thì nợ công thực tế của Việt Nam còn cao hơn nhiều, vì nợ công không tính đến nợ của doanh nghiệp Nhà nước và các tổ chức công khác Theo dẫn liệu của quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) nước ta có mức nợ công cao gấp đôi so với nhiều nước Asean, gấp rưỡi Thái Lan và cũng là quốc gia duy nhất có nợ công theo dự báo sẽ tăng lên 68% GDP đến năm 2020 Nợ thực tế phải trả là 185,8 nghìn tỷ đồng năm 2013 và 296,2 nghìn tỷ đồng
2015 Đấy là chưa tính nợ bảo lãnh Chính Phủ, nợ chính quyền địa phương, con số nghĩa vụ nợ còn nhiều hơn rất nhiều, tỷ lệ nghĩa vụ nợ trên thu ngân sách cũng tăng trưởng nhanh, năm 2013 là 22.4 usd, tăng 29% năm 2015 và
dự toán hơn 170 nghìn tỷ đồng trong năm 2016 Nợ công tăng nhanh dẫn đến các rủi ro sau đây:
Trang 6Đối với những khoản vay nước ngoài: những khoản vay từ nước ngoài đang tăng rất nhanh kể từ năm 2008 đến nay làm giảm nhanh khả năng thanh toán của Việt Nam cũng như làm giảm độ tin cậy với các đối tác cho vay Điều này thể hiện qua việc Việt Nam liên tục tụt hạng tín nhiệm theo đánh giá của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm trên thế giới Như vậy, rất có thể chúng ta
sẽ phải chịu chi phí vay với lãi suất cao hơn với các khoản vay trong tương lai, gây ra rủi ro lớn cho nền tài chính quốc gia; Bên cạnh đó, nợ nước ngoài tăng nhanh cũng sẽ tạo nên những áp lực không nhỏ lên tỷ giá hối đoái trong thời gian tới
Đối với những khoản vay trong nước để bù đắp thâm hụt ngân sách thông qua phát hành TPCP: để có nguồn vốn cho chi tiêu và đầu tư công, Chính phủ buộc phải nâng cao lãi suất để huy động vốn cho những dự án đầu
tư không ngừng được mở rộng Do thiếu sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ (CSTT) và chính sách tài khóa (CSTK) trong việc tổ chức đấu thầu TPCP (chênh lệch lớn giữa lãi suất thị trường mở OMO thấp và lãi suất TPCP cao) tạo nên hiện tượng “vị thế tiền rẻ” Hoạt động “carry trade” này gây ra sự rối loạn trên thị trường liên ngân hàng, và như vậy vô hình chung NSNN trở thành nguồn cung ứng lợi nhuận cho các ngân hàng thương mại 1
Lãi suất TPCP tăng mạnh kéo theo lãi suất huy động tăng nhanh, đẩy lãi suất tín dụng lên mức rất cao Hậu quả là mức lãi suất tín dụng cao khiến đại
bộ phận doanh nghiệp không thể tiếp cận được nguồn vốn với chi phí có thể chấp nhận được để duy trì hay mở rộng sản xuất, buộc phải cắt giảm sản lượng, dẫn đến sản xuất trì trệ hoặc phá sản Mặt khác, lãi suất tín dụng cao khiến chi phí đầu vào sản xuất trở nên đắt đỏ đã làm tăng giá thành và giá bán sản phẩm, tác động không nhỏ đến lạm phát Chi tiêu công kém hiệu quả, thâm hụt kéo dài dẫn đến nợ công tăng nhanh trong thời gian qua cũng là một
1Tàiliệuthaokhảo: “KinhtếViệt Nam 6 thángđầunăm 2011” Ủy ban
GiámsátTàichínhQuốcgia (2011).
Trang 7trong những nguyên nhân chính gây ra những bất ổn cho thị trường tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung, tạo nên những rủi ro không nhỏ cho sự an toàn của nền tài chính quốc gia trong thời gian tới
Thực trạng số liệu nợ công ở nước ta chưa phản ánh đúng bản chất thực
sự con số nợ và trạng thái cân bằng, điều này làm che giấu bản chất rủi ro nguy hiểm của nền tài chính nước ta, điều này cũng dẫn đến những quyết định cho vay nợ công hay tiêu dùng không hiệu quả của vấn đề nợ công ở Việt Nam Tại mức xác định trần nợ công 65% hoàn toàn không theo phương pháp xác định của thế giới, và con số 65% đã thực sự là mức trần an toàn hay không? Theo khuyến nghị của Ngân hàng thế giới (WB), nợ công dưới mức 50% GDP được xem như là an toàn Trước đây, chúng ta cũng sử dụng con số này, tuy nhiên sau đó nó đã được tăng lên mức 65% như hiện nay mà không được giải trình thỏa đáng Vấn đề đặt ra là: liệu mức trần nợ công hiện nay (65%/GDP) của Việt nam có thực sự an toàn? Nếu “Có” thì tại sao và nếu
“Không” thì mức trần nợ công tối ưu của Việt nam là bao nhiêu? Câu hỏi này chưa được trả lời một cách khoa học và sát thực tế, do đó nợ công ở nước ta
có diễn biến như hiện nay Đó là trong khoản dự toán thâm hụt ngân sách hàng năm, Việt Nam tính cả các khoản chi trả nợ gốc vào tổng chi nhưng nhiều khoản chi từ nguồn trái phiếu Chính phủ (TPCP) cho các dự án y tế, giáo dục lại không được tính vào thâm hụt ngân sách hàng năm và tổng nợ công như theo cách tính của IMF Bên cạnh đó, những công trình đầu tư cần nhiều năm để hoàn thành thì lại được chia ra để tính theo quyết toán ngân sách mỗi năm mà không được tính vào năm Trái phiếu chính phủ được phát hành để huy động vốn cho dự án
Bên cạnh đó, tuỳ theo cách tính và hạch toán riêng, nhiều tổ chức và quốc gia trên thế giới đều tính đến nợ lương hưu tiềm ẩn trong khoản nợ của Chính phủ Đây là khoản nợ mà Chính phủ cần phải có nghĩa vụ đóng góp theo hợp đồng đã ký về hưu trí của công chức, công chức sẽ đóng góp 1 phần
Trang 8và Chính phủ đóng góp một phần Nếu đóng góp của công chức chưa đủ để chi trả lương hưu của họ trong tương lai thì Chính phủ phải có trách nhiệm chi trả theo hợp đồng và phải được tính vào nợ Vì lý do này mà tỷ lệ nợ công của của các nước phát triển (Mỹ, Canada, Úc, Nhật, Singa-pore ) luôn cao hơn nhiều so với các nước đang phát triển (Trung Quốc, Ấn Độ, Philippine, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam ) Nếu khoản nợ lương hưu này không được tính đến, nó sẽ trở thành mối đe dọa tiềm ẩn đối với chính sách tài khoá vì Chính phủ cần phải có một lượng tiền rất lớn để thanh toán khoản nợ này trong tương lai
2 Đánh giá nguyên nhân của tình trạng trên:
Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến thực trạng nợ công ở nước ta Trong khuôn khổ tiểu luận này xin được đề cập một số nguyên nhân hết sức
cơ bản ảnh hưởng đến thực trạng nợ công sau đây:
Một là giai đoạn 2010-2012, chính phủ vay nợ ngắn hạn nhiều, chủ yếu bằng trái phiếu kỳ hạn 1-2 năm Đây sẽ là áp lực rất lớn đối với chi ngân sách, nếu phát hành trái phiếu Chính phủ không đạt mục tiêu đề ra Mà thực tế nước
ta với một thị trường tài chính non trẻ, thiếu ổn định, phát hành trái phiếu kỳ hạn dài không phải là dễ dàng. Phần lớn nhà đầu tư mua trái phiếu Chính phủ
là ngân hàng thương mại và họ thường có vốn ngắn hạn là chủ yếu do kỳ hạn tiền người của người dân ngắn Các tổ chức tài chính khác như bảo hiểm hay ngân hàng đầu tư ở Việt Nam vẫn chưa đủ lớn để đáp ứng nhu cầu phát hành trái phiếu dài hạn của Chính phủ. Như vậy, rủi ro kỳ hạn và mất khả năng thanh toán tạm thời có thể xảy ra Đó có thể là lý do khiến Bộ Tài chính phải vay Ngân hàng Nhà nước 30.000 tỷ đồng và phát hành 1 tỷ USD trái phiếu riêng cho Vietcombank trong năm 2015 Nhất là việc huy động vốn cho chi tiêu công với lãi suất TPCP đã từng quá cao, gây rủi ro an ninh tài chính quốc gia Có thể nói, lãi suất TPCP của Việt Nam thuộc hàng cao nhất thế giới (vào thời điểm đầu năm 2012 luôn ở mức xấp xỉ 11%/năm cho mọi kỳ hạn), không
Trang 9hề kém và thậm chí còn cao hơn so với lãi suất trái phiếu của Chính phủ Hy Lạp (9,7%/năm cho TPCP kỳ hạn 2 năm) vào thời điểm Hy Lạp đang rơi vào khủng hoảng nợ Trong khi ấy dự án đầu tư công về bản chất thì những dự án đầu tư công cho phát triển kinh tế-xã hội (xây dựng cơ bản, giao thông, bệnh viện, trường học, thủy lợi ) chủ yếu mang tính an sinh xã hội, lợi nhuận tài chính không hẳn là mục tiêu hàng đầu Hiệu quả đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước thấp chủ yếu là do hiệu quả đầu tư của DNNN quá thấp
Nguyên nhân thứ hai là do chi đầu tư ngày càng giảm, chi thường xuyên và chi khác tăng lên. Trong giai đoạn 2007-2013, chi đầu tư chiếm tỷ trọng trung bình trong tổng chi là 27,7% Tuy nhiên, trong hai năm
2014-2015, chi đầu tư chỉ còn 16,3% và 15,6% GDP. Nước ta có mức thu nhập thấp, đầu tư công là quan trọng để tạo nền tảng kinh tế - kỹ thuật cho nền kinh
tế Do đó, tỷ lệ chi đầu tư thấp là điều đáng lo ngại, mặc dù chi đầu tư toàn xã hội năm 2015 vẫn đạt 32,6%, tăng 12% so với 2014, do đầu tư FDI và đầu tư
tư nhân trong nước tăng cao Đối chiếu với luật hiện hành, Luật Quản lý nợ quy định, Chính phủ vay nợ trước tiên là để đầu tư phát triển, sau đó là bù đắp thiếu hụt tạm thời và các mục tiêu khác Tuy nhiên, số liệu ngân sách những năm gần đây cho thấy, việc vay nợ nhằm bù đắp chi thường xuyên ngày càng tăng lên. Từ năm 2012, khoảng cách giữa bội chi và chi đầu tư ngày càng nhỏ lại và đến năm 2015 bội chi đã vượt xa chi đầu tư, tức là Chính phủ phải vay
nợ khoảng 60 nghìn tỷ đồng để bù đắp chi thường xuyên và trả nợ Điều này
đi ngược lại quy định của Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015, trong đó quy định ‘trường hợp còn bội chi thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách Nhà nước’
Phương pháp xác định nợ công của Việt Nam rất khác với thế giới Thống kê của IMF tính nợ công bao gồm cả các khoản nợ của doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) tự vay tự trả Để phù hợp với Luật Nợ công của Việt Nam và thực tế là việc vay trả nợ luôn được giao toàn quyền cho doanh
Trang 10nghiệp Việt Nam tính tất cả nợ của các doanh nghiệp quốc doanh và ngoài quốc doanh được Chính phủ bảo lãnh đều là nợ công, nhưng vì các khoản vay
mà DNNN tự vay tự trả mà không được Chính phủ bảo lãnh đều không được tính vào nợ công nên hiện tại, dù nợ công có xu hướng tăng nhanh nhưng vẫn còn chưa phản ánh đúng thực tế của nợ công theo thông lệ quốc tế (tỷ lệ dư
nợ được Chính phủ bảo lãnh chỉ chiếm khoảng 7.9% GDP/năm trong giai đoạn 2005-2010)
Trong thực tế, các DNNN là do Nhà nước sở hữu, đóng góp toàn bộ (hoặc đa số) vốn điều lệ hoặc nắm cổ phần, vốn góp chi phối Vì vậy, nợ của DNNN luôn được quốc tế coi là nợ của Nhà nước, và nếu có tranh chấp quốc
tế liên quan đến các khoản nợ này thì Chính phủ thường vẫn có liên quan và phải can thiệp Nếu xét theo tiêu chí này, đầu tư của các tập đoàn, tổng công
ty Nhà nước cần được coi là đầu tư công, các khoản tự vay tự trả của các DNNN cũng cần được coi là nợ công Hay nói cách khác, các khoản tự vay tự trả của DNNN nên được tính là nghĩa vụ trả nợ dự phòng của Chính phủ Do vậy, nên chăng cũng cần xem xét thay đổi cơ chế quản lý đầu tư công và cách tính nợ công của Việt Nam cho phù hợp với thực tế và thông lệ quản lý tài chính quốc tế
Trong khoản dự toán thâm hụt ngân sách hàng năm, Việt Nam tính
cả các khoản chi trả nợ gốc vào tổng chi nhưng nhiều khoản chi từ nguồn trái phiếu Chính phủ (TPCP) cho các dự án y tế, giáo dục lại không được tính vào thâm hụt ngân sách hàng năm và tổng nợ công như theo cách tính của IMF Bên cạnh đó, những công trình đầu tư cần nhiều năm để hoàn thành thì lại được chia ra để tính theo quyết toán ngân sách mỗi năm mà không được tính vào năm Trái phiếu chính phủ được phát hành để huy động vốn cho dự án
Bên cạnh đó, tuỳ theo cách tính và hạch toán riêng, nhiều tổ chức và quốc gia trên thế giới đều tính đến nợ lương hưu tiềm ẩn trong khoản nợ của