MỞ ĐẦU Sau chiến tranh lạnh, nền độc lập dân tộc của các quốc gia đang phải đối mặt với những thách thức mới từ mối đe dọa “an ninh phi truyền thống”. Mối đe dọa an ninh phi truyền thống (ANPTT) đã trở thành vấn đề toàn cầu, mang tính nguy hiểm cao, không chỉ biểu hiện ở mức độ hủy hoại, sự tàn phá của nó đối với cuộc sống của con người, mà còn đối với sự ổn định xã hội, đối với độc lập dân tộc (ĐLDT) của các quốc gia, sự an nguy của chế độ chính trị, sự tồn vong của cộng đồng nhân loại trên tất cả các lĩnh vực của đời sống. Đối với các nước đang phát triển thì vấn đề bảo vệ ĐLDT trước mối đe doạ ANPTT càng trở nên khó khăn, phức tạp hơn. Đối với Việt Nam, mối đe doạ ANPTT ngày càng trở nên nghiêm trọng. Từ năm 2001 đến năm 2015, Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp ứng phó với mối đe doạ ANPTT để bảo vệ, củng cố nền ĐLDT, giữ vững chủ quyền quốc gia và xem đây là một nội dung, yêu cầu quan trọng của việc giải quyết mối quan hệ lớn “giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế” trong tình hình hiện nay. Quá trình triển khai đã đạt được những thành công nhất định và thu được những kinh nghiệm có giá trị. Tiếp tục nhìn nhận, đánh giá các mối đe doạ ANPTT; nghiên cứu, phân tích sự tác động, ảnh hưởng của nó đối với ĐLDT của Việt Nam; làm rõ những nội dung, biện pháp mà Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện bảo vệ ĐLDT trước mối đe doạ ANPTT là đòi hỏi cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn hiện nay. Từ những lý do nêu trên, học viên lựa chọn đề tài “Bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam trước mối đe dọa an ninh phi truyền thống trong giai đoạn hiện nay” cho bài tiểu luận thu hoạch trong khối kiến thức chuyên đề bổ trợ thuộc chương trình đào tạo cao cấp lý luận chính trị ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Trang 1BÀI THU HOẠCH KẾT THÚC HỌC PHẦN
HỆ ĐÀO TẠO CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Môn học
Tên chủ đề:
Giảng viên chấm 1 (Ký, ghi rõ họ, tên)
Giảng viên chấm 2 (Ký, ghi rõ họ, tên) Bằng số:
Ngày nộp
Ghim 1
Ghim 2
Trang 2MỞ ĐẦU
Sau chiến tranh lạnh, nền độc lập dân tộc của các quốc gia đang phải
đối mặt với những thách thức mới từ mối đe dọa “an ninh phi truyền thống”.
Mối đe dọa an ninh phi truyền thống (ANPTT) đã trở thành vấn đề toàn cầu,mang tính nguy hiểm cao, không chỉ biểu hiện ở mức độ hủy hoại, sự tàn phácủa nó đối với cuộc sống của con người, mà còn đối với sự ổn định xã hội,đối với độc lập dân tộc (ĐLDT) của các quốc gia, sự an nguy của chế độchính trị, sự tồn vong của cộng đồng nhân loại trên tất cả các lĩnh vực của đờisống Đối với các nước đang phát triển thì vấn đề bảo vệ ĐLDT trước mối đedoạ ANPTT càng trở nên khó khăn, phức tạp hơn
Đối với Việt Nam, mối đe doạ ANPTT ngày càng trở nên nghiêmtrọng Từ năm 2001 đến năm 2015, Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam đã thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp ứng phó với mối đedoạ ANPTT để bảo vệ, củng cố nền ĐLDT, giữ vững chủ quyền quốc gia vàxem đây là một nội dung, yêu cầu quan trọng của việc giải quyết mối quan hệlớn “giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế” trong tình hình hiện nay Quátrình triển khai đã đạt được những thành công nhất định và thu được nhữngkinh nghiệm có giá trị Tiếp tục nhìn nhận, đánh giá các mối đe doạ ANPTT;nghiên cứu, phân tích sự tác động, ảnh hưởng của nó đối với ĐLDT của ViệtNam; làm rõ những nội dung, biện pháp mà Đảng và Nhà nước Việt Namthực hiện bảo vệ ĐLDT trước mối đe doạ ANPTT là đòi hỏi cấp thiết cả về lýluận và thực tiễn hiện nay
Từ những lý do nêu trên, học viên lựa chọn đề tài “Bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam trước mối đe dọa an ninh phi truyền thống trong giai đoạn hiện nay” cho bài tiểu luận thu hoạch trong khối kiến thức chuyên đề
bổ trợ thuộc chương trình đào tạo cao cấp lý luận chính trị ở Học viện Chínhtrị quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 31.1.1 Khái niệm về mối đe dọa an ninh phi truyền thống
Về khái niệm, ANPTT xuất hiện từ sau Chiến tranh Lạnh nhưng cho
đến nay vẫn chưa có quan điểm chung về khái niệm của thuật ngữ này.Những quan điểm khác nhau về thuật ngữ này có thể được chia thành haitrường phái
Trường phái thứ nhất quan niệm ANPTT là an ninh tổng hợp bao gồm
an ninh quân sự, chính trị, kinh tế và xã hội Trường phái này cho rằngANPTT là một khái niệm mở rộng nội hàm của khái niệm ANTT – quan niệm
lấy an ninh quân sự là trung tâm Theo Liên Hiệp Quốc, ANPTT bao gồm an ninh con người (cá nhân) và an ninh cộng đồng Trong báo cáo “Phát triển
con người” năm 1994 của Liên Hiệp Quốc, ANPTT bao gồm 7 lĩnh vực là:kinh tế, lương thực, sức khỏe, môi trường, con người, cộng đồng và chính trị.Theo một tài liệu khác, ANPTT bao gồm 5 lĩnh vực cơ bản là: kinh tế, môitrường, xã hội, chính trị và văn hóa
Trường phái thứ hai quan niệm ANPTT là một khái niệm đối lập vớiANTT Phạm vi của ANPTT không bao gồm an ninh quân sự Đó là nhữngnguy cơ an ninh mới như khủng hoảng kinh tế, ô nhiễm môi trường, tội phạmxuyên quốc gia, khủng bố, di cư bất hợp pháp,v.v… Mặc dù trường phái thứhai rõ ràng về mặt thuật ngữ hơn so với trường phái thứ nhất nhưng nhữngngười theo trường phái thứ hai cũng thừa nhận rằng những vấn đề ANPTT cóthể dẫn đến những xung đột chiến tranh Sự thừa nhận này làm cho trườngphái thứ hai rất dễ bị chỉ trích bởi những người theo trường phái thứ nhất Ở
Trang 4Việt Nam, phần lớn các học giả nghiên cứu về quan hệ quốc tế theo quanđiểm thứ hai về ANPTT Các học giả này quan niệm ANPTT là một vấn đềđối lập với ANTT – tức là những vấn đề an ninh không liên quan đến quân sự.
Về thuật ngữ, ANPTT là một thuật ngữ mới và xuất hiện chính thứctrong “Tuyên bố chung ASEAN – Trung Quốc về hợp tác trên lĩnh vực anninh phi truyền thống” thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 6, giữa các
nước thuộc Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Trung Quốc
tại Phnôm Pênh (Campuchia) ngày 01-11-2002 Trong bản tuyên bố này các
nhà lãnh đạo của ASEAN và Trung quốc bày tỏ “sự quan ngại về những vấn
đề an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng như buôn lậu, ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ em, cướp biển, khủng bố, buôn lậu vũ khí, rửa tiền, tội phạm kinh tế quốc tế và tội phạm công nghệ cao”
Một xu hướng rõ ràng hiện nay đó là việc kéo dài thêm danh sáchnhững vấn đề ANPTT Có vẻ như mọi vấn đề đều có liên quan đến ANPTT
một khi các vấn đề đó được coi là đủ nghiêm trọng.
Về cơ bản, sự khác biệt giữa ANPTT và ANTT nằm ở các điểm sau
Thứ nhất, ANPTT xuất hiện sau ANTT Thứ hai, ANPTT chịu ảnh hưởng của
Chủ nghĩa Tự do và Chủ nghĩa Kiến tạo (an ninh con người) còn ANTT chịu
ảnh hưởng của Chủ nghĩa Hiện thực Thứ ba, về các lĩnh vực liên quan,
ANPTT liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề (môi trường, lương thực,năng lượng, nhân quyền,…) trong khi đó ANTT liên quan đến chính trị,
quyền lực, quân sự, chiến tranh Thứ tư, đối tượng tác động của ANPTT (thế
giới, quốc gia, con người) rộng hơn đối tượng tác động của ANTT (quốc gia)
Thứ năm, ANPTT ít liên quan đến chủ quyền quốc gia còn ANTT gắn liền
với chủ quyền quốc gia
Như vậy, để có được một định nghĩa rõ ràng về ANPTT cần phân biệt
nó với ANTT bằng cách xem xét kết quả của sự mất an ninh hơn là nguồn gốc
Trang 5của nó Theo đó, có thể nói rằng ANPTT là những mối đe dọa đối với an ninhquốc gia mà không xảy ra những xung đột quân sự giữa các lực lượng quânđội, mà nảy sinh từ các yếu tố tự nhiên và xã hội, diễn ra và tác động trênnhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, mang tính tổng hợp, xuyên quốc gia và cótính nguy hiểm cao đe dọa tới độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia.
Giải quyết, ứng phó với các mối đe dọa ANPTT đòi hỏi sự quan tâm,hợp tác, nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế và trách nhiệm của từng quốcgia, với hệ thống giải pháp phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, pháp luật,khoa học - kỹ thuật, ngoại giao và an ninh, quốc phòng…
1.1.2 Tác động của các mối đe dọa an ninh phi truyền thống đến độc lập dân tộc
Các yếu tố đe dọa an ninh phi truyền thống tác động đến các quốc gia,dân tộc trên các mặt sau đây:
Thứ nhất, tác động đến độc lập, chủ quyền và an ninh quốc gia trong
các quan hệ quốc tế
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi “biên giới cứng” giữa các quốc gia bịphá vỡ, “biên giới mềm” chưa thể tạo thành hàng rào an ninh hiệu quả, anninh của các quốc gia dân tộc trở nên phức tạp, khó lường do sự tác động củacác yếu tố từ bên ngoài, nằm ngoài sự cảnh giác, đề phòng của con người.Điều này cũng có nghĩa là áp lực ngày càng lớn, nguy cơ ngày càng cao đốivới an ninh quốc gia, đối với độc lập dân tộc Sự uy hiếp, xâm phạm độc lậpdân tộc, chủ quyền và an ninh quốc gia, đặc biệt đối với các nước đang pháttriển dưới tác động của các mối đe dọa an ninh phi truyền thốnglà mạnh mẽ
và trực tiếp, nhưng không phải dễ dàng nhận thức đầy đủ và càng không dễkhắc phục
Hiện nay, các nước phát triển có ưu thế về vốn, khoa học, công nghệ,thị trường nên trong quan hệ quốc tế giữa các nước phát triển và các nước
Trang 6đang phát triển còn nhiều bất bình đẳng, phần lớn lợi ích của toàn cầu hóađược dồn vào các nước phát triển Các nước này đã lợi dụng quá trình toàncầu hóa để áp đặt các “giá trị văn hóa”, các luật chơi đối với tất cả các quốcgia Những chính sách hỗ trợ các nước nghèo bị tác động bởi thiên tai, dịchbệnh… của các nước lớn thường gắn với những điều kiện về chính trị, phápluật, chủ quyền, về thể chế kinh tế.
Thứ hai, tác động đến thể chế chính trị đất nước và con đường phát
triển của dân tộc
Do tính chất xuyên quốc gia của mối đe dọa an ninh phi truyền thống,nên để ứng phó, các quốc gia, dân tộc cần phải chấp nhận “luật chơi” chung,hoặc là phải có sự “điều chỉnh” về thể chế chính trị, điều chỉnh hệ thống phápluật theo hướng mang tính “quốc tế” hơn; nó đặt ra yêu cầu các nước phảixem xét lại mô hình, con đường phát triển của dân tộc, thậm chí phải du nhậpnhững khuôn khổ, mô hình của các nước phương Tây
Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, trong bối cảnh toàncầu hóa, những tác động trên càng trở nên quyết liệt, bởi các thế lực thù địch
sử dụng chiến lược “diễn biến hòa bình” để chống phá Chúng đưa ra những
“yêu cầu”, “khuyến nghị” cần phải từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền,phải thực hiện “đa nguyên, đa đảng”; xây dựng nhà nước pháp quyền theokiểu phương Tây; thực hiện “xã hội dân sự” đã cho thấy rõ điều đó Những
lo ngại mất độc lập, tự chủ về chính trị mà không dám tích cực hội nhập quốctế; hoặc yêu cầu phải đẩy nhanh hơn nữa quá trình hội nhập quốc tế, màkhông quan tâm đầy đủ đến độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia; đòi đẩymạnh cải cách chính trị, thậm chí phải thực hiện “đa đảng đối lập” đang trởthành nguy cơ tiềm ẩn đe dọa thể chế chính trị và nền độc lập của dân tộc
Thứ ba, tác động đến nền kinh tế độc lập tự chủ của quốc gia
Trang 7An ninh quốc gia và thực lực kinh tế là hai vấn đề không thể tách rờinhau Tính độc lập tự chủ của nền kinh tế đất nước bị uy hiếp bởi tác độngcủa các yếu tố đe dọa an ninh phi truyền thống, trực tiếp trên các vấn đề: lợiích kinh tế; chủ quyền kinh tế; định hướng phát triển kinh tế; thể chế kinh tế;
sự ổn định kinh tế, đặc biệt là về tài chính, tiền tệ và quan hệ hợp tác kinh tếthương mại quốc tế của quốc gia
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008 bắtđầu từ nước Mỹ, nhanh chóng lan rộng ra nhiều nước, kéo cả nền kinh tế thếgiới rơi vào tình trạng suy thoái, là một thí dụ sự tác động của các vấn đề anninh phi truyền thống đến sự độc lập và khả năng ứng phó của các nền kinh tếmỗi nước
Thứ tư, vấn đề môi trường sinh thái, tài nguyên
Vấn đề môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên, khan hiếm nguồn nướcsạch, vấn đề biến đổi khí hậu, nước biển dâng… đôi khi lại đe dọa nhiều hơnđối với cuộc sống của người dân ở những quốc gia không phải là “thủ phạm”gây ra những biến đổi, cạn kiệt đó Sự khai thác thiếu kiểm soát, tình trạng ônhiễm môi trường sinh thái, “hiệu ứng nhà kính”, khí hậu nóng lên, tầng ôzon
bị phá hoại, tính đa dạng sinh học giảm, đất hoang mạc hoá, tình trạng nướcbiển dâng, bão, lụt, sóng thần chính là sự trừng phạt của tự nhiên đối vớicon người, đối với những hành động ứng xử thiếu văn hóa và thiếu nhân tínhcủa con người đối với tự nhiên
Trên thực tế, loài người đang phải đối mặt những nguy cơ từ chính sự
“phát triển” của mình Ảnh hưởng của các vấn đề môi trường đối với an ninhquốc gia biểu hiện ở chỗ, nó có thể gặm nhấm “quốc thổ lành mạnh”, làm suyyếu năng lực phát triển bền vững đất nước; gây ra “xung đột quốc tế”; gâyhiệu ứng xuyên quốc gia của vấn đề môi trường
Thứ năm, vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Trang 8Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là một nội dung, một yêucầu đặc biệt quan trọng của việc bảo vệ độc lập dân tộc trong thời đại ngàynay Tính dân tộc không chỉ là đặc trưng cơ bản của một nền văn hóa, mà nócòn là nội hàm cốt lõi sức sống của nền văn hóa ấy Giữ gìn tính dân tộc củavăn hóa là điều kiện cơ bản để phát triển văn hóa dân tộc, đồng thời là độnglực nội tại sự sinh tồn và phát triển dân tộc.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các yếu tố đe dọa an ninh phi truyềnthống làm cho bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc trở nên mong manh hơn baogiờ hết Vấn đề giữ gìn những giá trị truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹpcủa dân tộc, thuần phong mỹ tục, những giá trị đạo đức, lối sống đang làthách thức đối với mỗi quốc gia dân tộc
Như vậy có thể thấy, các yếu tố đe dọa an ninh phi truyền thống tácđộng trực tiếp và mạnh mẽ đến toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặt
ra những thách thức to lớn đối với các quốc gia dân tộc trong việc bảo vệ độclập dân tộc của mình Xu thế toàn cầu hóa đã và đang đặt độc lập dân tộc củatất cả các nước trước những thách thức to lớn, nhất là chủ quyền, an ninhquốc gia, lợi ích dân tộc
1.2 Thực trạng mối đe dọa an ninh phi truyền thống ở Việt Nam từ
2001 đến 2015.
1.2.1 Mối đe dọa an ninh phi truyền thống ở Việt Nam trước năm 2001
Chiến tranh lạnh kết thúc các nguồn gốc phát sinh những vấn đề anninh phi truyền thống cùng các mối đe dọa của nó từ dạng tiềm tàng đã hiệnhữu đe dọa an ninh của mỗi quốc gia và cuộc sống con người Tuy nhiên,trong thời gian này ở Việt Nam chưa có nhận thức đầy đủ, toàn diện về anninh phi truyền thống, mà về cơ bản mới chỉ nhận thức về nó qua các mối đedọa mang tên gọi là “những vấn đề toàn cầu”
Trang 9Các mối đe dọa mang tính toàn cầu trong thập niên 90 được Việt Namquan tâm nghiên cứu, hợp tác quốc tế cùng nhau giải quyết chủ yếu tập chungvào các vấn đề: Biến đổi khí hậu; hiệu ứng nhà kính làm trái đất nóng lên; ônhiễm môi trường; chênh lệch giàu nghèo; bệnh tật hiểm nghèo; “tự diễnbiến” “tự chuyển hóa”…vv
1.2.2 Thực trạng mối đe dọa an ninh phi truyền thống ở Việt Nam từ năm 2001 đến 2015
1.2.2.1 Từ biến đổi khí hậu
Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất củabiển đổi khí hậu Biến đổi khí hậu làm gia tăng mức độ cạn kiệt tài nguyên vàsuy thoái môi trường; làm tăng khả năng bị tổn thương, là nguy cơ làm chậmquá trình phát triển kinh tế - xã hội, hoặc làm mất đi nhiều thành quả kinh tế,
xã hội đã đạt được
Biểu hiện của biến đổi khí hậu ở Việt Nam tương đối rõ nét, đặc biệttrong 15 năm gần đây Nhiệt độ trung bình hằng năm tăng 0,5 độ C; mựcnước biển dâng cao hơn 0,2 m; thiên tai, bão, lũ, úng ngập, hạn hán, xâm nhậpmặn và các thiên tai khác gia tăng cường độ và tính cực đoan gây tổn thất tolớn về người, tài sản, cơ sở hạ tầng kinh tế, văn hóa, xã hội, tác động xấu đếnmôi trường, sinh thái
Khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng tránh, giảm nhẹ tác hạicủa thiên tai đối với sản xuất và đời sống, nhất là sản xuất nông nghiệp củaViệt Nam còn nhiều hạn chế
1.2.2.2 Từ vấn đề kinh tế, tài chính
Hiện nay, khi Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu,vấn đề an ninh kinh tế, tài chính thực sự được đặt ra một cách cụ thể và cấpbách Việt Nam đang nằm trong danh sách cảnh báo về thị trường tài chínhgặp nhiều rủi ro trong giao dịch tài chính quốc tế
Trang 10Về sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, theo đánh giá của Diễn đànKinh tế thế giới (WEF), Việt Nam xếp thứ 65/142 (năm 2011) Điểm số vềnăng lực cạnh tranh tổng thể của Việt Nam năm 2011 chỉ đạt 4,24 điểm, ởmức thấp so với các nền kinh tế khu vực.
Mối đe dọa an ninh kinh tế, tài chính ở Việt Nam bao gồm: Từ nhữngyếu tố bên ngoài tác động, các thế lực thù địch sử dụng âm mưu dùng kinh tế
để chuyển hóa chính trị Từ các yếu tố đe dọa đổ vỡ của hệ thống tổ chức tíndụng, ngân hàng trong nước, các hoạt động trong lĩnh vực này trở nên phứctạp và dễ bị tổn thương; thị trường tiền tệ và ngân hàng hoạt động về cơ bảntính ổn định chưa cao, an toàn ở mức thấp và phát triển khó khăn Từ các loạitội phạm liên quan đến lĩnh vực tài chính tiền tệ, hoạt động cấu kết giữa các tổchức tội phạm nước ngoài và tội phạm kinh tế trong nước, tội phạm kinh tếtrong hoạt động quản lý Nhà nước,
1.2.2.3 Từ vấn đề năng lượng
Năng lượng vốn được coi là “chìa khóa” để mỗi quốc gia và nền kinh tếcủa mình được “bảo vệ”, là yếu tố quan trọng trong tổng thể phạm trù an ninhquốc gia
Việt Nam thuộc nhóm những nước có hiệu suất sử dụng năng lượng tổnthất cao, tiêu thụ năng lượng lớn nhưng hiệu quả thấp
Nguyên nhân là do rào cản kỹ thuật: công nghệ lạc hậu, các thiết bị sảnxuất cũ kỹ và chậm đổi mới; sự thiếu hiểu biết về tiết kiệm năng lượng, thiếuthông tin về công nghệ tiết kiệm năng lượng, Do rào cản kinh tế: là việcphân tích tài chính không phù hợp, thiếu vốn đầu tư, thiếu vốn phát triển côngnghệ mới tiết kiệm năng lượng Do rào cản về thể chế, chính sách: thiếu cácchính sách thúc đẩy sử dụng năng lượng theo hướng tiết kiệm, hiệu quả
1.2.2.4 Từ vấn đề lương thực
Trang 11An ninh lương thực đóng vai trò hết sức quan trọng trong chiến lượcphát triển bền vững và đảm bảo an ninh quốc gia Trong quá trình đổi mới, anninh lương thực và mưu sinh bền vững của Việt Nam đang chịu ảnh hưởngtiêu cực từ những nguyên nhân chủ quan và khách quan: biến đổi khí hậu, đấtđai ô nhiễm, xa mạc hóa; tình trạng đô thị hóa, công nghiệp hóa, tình trạng giatăng dân số, xu hướng gia tăng tỷ lệ nghịch giữa đất đai sản xuất nông nghiệpvới gia tăng dân số.
Tỷ lệ nghèo đói của Việt Nam vẫn còn cao, năm 2012, tỷ lệ hộ nghèo ởTây Bắc là 28,55%; vùng miền núi Đông Bắc là 17,39%; ở Tây Nguyên là15,58%; ở các tỉnh Bắc Trung Bộ là 15,01%, trong khi tỷ lệ hộ nghèo chungcủa cả nước là 9,64%.; vấn đề dinh dưỡng, đảm bảo an toàn, chất lượng lươngthực chưa được đảm bảo;
1.2.2.5 Từ tội phạm công nghệ cao
Ở Việt Nam, tội phạm công nghệ cao mới xuất hiện, nhưng có sự giatăng nhanh cả ở số lượng và tính chất nguy hiểm Tình hình mất an toàn thôngtin số diễn biến phức tạp, xuất hiện nhiều nguy cơ đe dọa nghiêm trọng đếnviệc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và đảmbảo quốc phòng, an ninh
Các vụ tấn công trên mạng và các vụ xâm nhập hệ thống công nghệthông tin là nhằm do thám, trục lợi, phá hoại dữ liệu, ăn cắp tài sản, cạnhtranh không lành mạnh Tình trạng tin tặc xâm nhập, cài đặt virút gián điệpvào hệ thống mạng của Chính phủ, các Bộ, ngành, địa để đánh cắp thông tin,
bí mật quốc gia, ,… hiện đang gia tăng ở mức báo động về số lượng, đa dạng
về hình thức, tinh vi hơn về công nghệ
1.2.2.6 Từ tội phạm xuyên quốc gia
Những năm qua, tình hình tội phạm xuyên quốc gia liên quan đến ViệtNam có xu hướng tăng dần về cả số vụ, việc lẫn tính chất, mức độ nghiêm
Trang 12trọng Các đối tượng phạm tội thường tập trung vào các lĩnh vực mà ViệtNam còn thiếu kinh nghiệm trong quản lý và đấu tranh phòng, chống: buônbán phụ nữ, trẻ em, đưa người ra nước ngoài trái phép; ma túy; sản xuất, buônbán tiền giả, hàng giả, gian lận thương mại, buôn lậu, lừa đảo kinh tế, trốnthuế xuất nhập khẩu ở khu kinh tế thương mại tự do, thương mại điện tử; ởViệt Nam tuy chưa xảy ra khủng bố, nhưng mục tiêu và đối tượng khủng bố
có thể dạt vào Việt Nam ẩn náu, chờ cơ hội hoạt động
An ninh phi truyền thống là một khái niệm mới xuất hiện và được bànđến khá nhiều trong thời gian gần đây, có những quan điểm, cách nhìn nhậnkhác nhau
Tác động của các mối đe dọa ANPTT đến ĐLDT là sự tác động tổnghợp, toàn diện đến toàn bộ nội dung cấu thành độc lập dân tộc Đối với ViệtNam, luận án tập trung nghiên cứu tác động trên 6 vấn đề chính: biến đổi khíhậu; an ninh kinh tế, tài chính; an ninh năng lượng; an ninh lương thực; tộiphạm công nghệ cao; tội phạm xuyên quốc gia
Thực trạng các mối đe dọa an ninh phi truyền thống ở Việt Nam từ năm
2001 đến 2015 được trình bày đã thể hiện rõ tính chất, mức độ ảnh hưởng, táchại của nó đối với cuộc sống con người và các lĩnh vực của đời sống xã hội,đối với ĐLDT, chủ quyền và an ninh quốc gia, đặt ra sự cần thiết và yêu cầubảo vệ vững chắc ĐLDT trước các mối đe dọa an ninh này