MỞ ĐẦU Đại đoàn kết là nguồn sức mạnh giúp dân tộc Việt Nam vượt qua những khó khăn, thử thách để dựng nước và giữ nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy cao độ dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trở thành động lực và sức mạnh chủ yếu của dân tộc, là một trong những nhân tố có tính quyết định đưa đến những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam trên các chặng đường lịch sử: đấu tranh giành chính quyền (19301945), kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (19451975), tiến hành cônng cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế (từ năm 1986 đến nay). Sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế càng đi vào chiều sâu càng cần phải mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy và vận dụng bài học về phát huy sức mạnh của cả dân tộc được kết tinh từ thực tiễn đấu tranh và giành thắng lợi của cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay. Xuất phát từ lý do trên, Tôi chọn đề tài: “ Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong cách mạng Việt Nam hiện nay” để làm bài thu hoạch môn Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam. Do thời gian có hạn nên bài viết không thể tránh khỏi những hạn chế nhất định, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy, cô để bài viết được hoàn chỉnh hơn.
Trang 12 Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh hiện nay 17KẾT LUẬN 21TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 2MỞ ĐẦU
Đại đoàn kết là nguồn sức mạnh giúp dân tộc Việt Nam vượt qua nhữngkhó khăn, thử thách để dựng nước và giữ nước Dưới sự lãnh đạo của Đảng,truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy cao độ dưới ánh sáng củachủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trở thành động lực và sức mạnhchủ yếu của dân tộc, là một trong những nhân tố có tính quyết định đưa đếnnhững thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam trên các chặng đường lịch sử:đấu tranh giành chính quyền (1930-1945), kháng chiến chống thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ xâm lược (1945-1975), tiến hành cônng cuộc đổi mới, hội nhậpquốc tế (từ năm 1986 đến nay)
Sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tếcàng đi vào chiều sâu càng cần phải mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kếttoàn dân, phát huy và vận dụng bài học về phát huy sức mạnh của cả dân tộcđược kết tinh từ thực tiễn đấu tranh và giành thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 3NỘI DUNG
I Đảng lãnh đạo hoạch định và thực hiện chiến lược Đại đoàn kết dân tộc trong cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay
1.1 Khái niệm Đại đoàn kết dân tộc, Chiến lược Đại đoàn kết dân tộc
và cơ sở hoạch định Chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Đảng.
1.1.1 Khái niệm
- “Đoàn kết” là tập hợp các thành phần, các lực lượng trong xã hội kết
thành một thể thống nhất nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng
- “Đại đoàn kết toàn dân tộc” là đoàn kết ở mức độ bền chặt, tính thống
nhất cao, phạm vi rộng rãi, tập hợp đối tượng đa dạng, gồm mọi người ViệtNam phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh,không phân biệt thành phần tộc người, tín ngưỡng tôn giáo, giai cấp, địa vị xãhội, chính kiến, định cư trong nước hay nước ngoài Đại đoàn kết toàn dân tộc
là sự mở rộng đến mức cao nhất mọi thành phần xã hội; không bỏ sót thànhphần nào cần phải tranh thủ, tập hợp; để tạo nên lực lượng cách mạng rộng lớnnhất, thu hẹp đến mức nhỏ nhất các lực lượng thù nghịch gây nguy hại cho sựnghiệp cách mạng
- “Chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc” là hệ thống các quan điểm,
đường lối, chủ trương, chính sách, phương pháp, chương trình hành động củaĐảng nhằm đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng dân tộc với độ liên kết bền chặt,tính thống nhất cao, phạm vi rộng rãi, đối tượng đa dạng vì mục tiêu xây dựngmột nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
1.1.2 Cơ sở hoạch định Chiến lược đại đoàn kết dân tộc
- Những luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin về vai trò, sức mạnh củaquần chúng nhân dân
Trang 4Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng,
do đó, giai cấp vô sản không thể đơn độc trong việc thực hiện sứ mệnh lịch sửcủa mình mà cần phải liên minh được với các giai cấp khác mới có thể đánh đổ
sự thống trị của giai cấp tư sản, cải biến xã hội
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết toàn dân tộc
+ Đại đoàn kết dân tộc là nguồn sức mạnh vô địch, là động lực chủ yếucủa cách mạng Việt Nam, quyết định sự thành công của cách mạng
+ Khối đại đoàn kết toàn dân tộc phải được xây dựng trên lập trường củagiai cấp công nhân, phải trên cơ sở lấy lợi ích dân tộc làm điểm hợp tụ
+ Khối đại đoàn kết toàn dân tộc phải bao gồm lực lượng toàn của dântộc, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, nam nữ, giàu, nghèo…trên nền tảng liênminh giai cấp công nhân, nông dân, trí thức dưới sự lãnh đạo của giai cấp côngnhân thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản
+ Đại đoàn kết toàn dân mang tính chiến lược cơ bản, lâu dài của cáchmạng, không phải là nhất thời
+ Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc thì vấn đề rất cơ bản là phảixây dựng và củng cố Mặt trận Dân tộc thống nhất, Mặt trận phải đặt dưới sựlãnh đạo của Đảng
- Yêu cầu đấu tranh giải phóng, bảo về độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnhthổ và phát triển đất nước
- Truyền thống đoàn kết của dân tộc
+ Đại đoàn kết toàn dân tộc là một truyền thống cực kỳ quý báu và là bàihọc lịch sử vô giá của dân tộc Việt Nam trong suốt quá trình dựng nước và giữnước
+ Một trong những nguyên nhân thất bại là của cuộc chiến tranh giữa nước
và các phong trào yêu nước từ nửa sau thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX là chưaxây dựng và huy động được khối đại đoàn kết toàn dân tộc phù hợp với đặcđiểm dân tộc và tình hình kinh tế, xã hội Việt Nam, chưa phù hợp với xu thế
Trang 5phát triển của thời thời đại mới Truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc đứngtrước yêu cầu phải bổ sung những nhân tố mới
1.2 Qúa trình hoạch định và thực hiện chiến lược Đại đoàn kết dân tộc qua các giai đoạn lịch sử cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay
1.2.1 Trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ (1930- 1975)
* Thời kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930 – 1945)
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thấy động lựccách mạng từ quảng đại quần chúng và xác định nhiệm vụ tổ chức, tập hợp,đoàn kết, coi đây là chiến lược xuyên suốt, nhất quán, là cội nguồn của sứcmạnh trong mọi thời kỳ cách mạng:
- Hội nghị thành lập Đảng đầu năm 1930 đã thông qua Cương lĩnh chính
trị đầu tiên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, hàm chứa những luận điểm
về xây dựng khối đại đoàn kết bao gồm lực lượng của nhiều giai cấp, tầng lớptrong xã hội Việt Nam
- Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng (10-1930) ra
nghị quyết về công tác Mặt trận (Án nghị quyết về vấn đề phản đế) xác định:
cần phải liên hiệp nhiều lực lượng phản đế lại thành một phong trào cách mạngthống nhất để đánh đổ đế quốc chủ nghĩa, mưu giải phóng cho xứ Đông Dương
- Ngày 18-11-1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Về vấn
đề thành lập Hội “Phản đế Đồng minh” Bản Chỉ thị xác định: Hội phải bảo
đảm tính chất công nông đồng thời phải mở rộng tới các thành phần trong dân
tộc để Mặt trận thật sự là của toàn dân, trong đó, công nông “là hai động lực
chính căn bản”; Hội do giai cấp vô sản lãnh đạo Hội Phản đế đồng minh là hình thức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam
- Đại hội đại biểu lần thứ Nhất (3-1935), Đảng khẳng định nguồn gốcsức mạnh của Đảng chính là mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với quần chúng
Đại hội chủ trương xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc theo hướng mở rộng hơn
Trang 6về lực lượng cần tập hợp, ra nghị quyết thành lập tổ chức Phản đế liên minh, thành phần tham gia được mở rộng và linh hoạt hơn: hễ người nào, vô luận đàn
ông, đàn bà, già trẻ, tôn giáo xu hướng chính trị hoặc đoàn thể chỉ cần thừa nhậnNghị quyết, Điều lệ và thường xuyên nộp hội phí thì được thừa nhận là hội viên
Tổ chức “Phản đế liên minh” là một bước phát triển mới về Mặt trận Dân
tộc Thống nhất
- Trong những năm 1936-1939, trước nguy cơ chiến tranh lớn đe dọa toàn
nhân loại, Đảng Cộng sản Đông Dương đề ra chủ trương: đoàn kết, tập hợp các
tầng lớp nhân dân trong một Mặt trận rộng rãi, hoạt động công khai trên báo
chí, đấu tranh nghị trường, đòi dân sinh, dân chủ, cải thiện đời sống cho ngườilao động
Tuy mang nhiều tên gọi khác nhau, như: Mặt trận nhân dân, Mặt trận
Dân chúng thống nhất phản đế, Mặt trận Dân tộc phản đế, Mặt trận Nhân dân phản đế, Mặt trận Thống nhất Đông Dương, Mặt trận Dân chủ Đông Dương
nhưng tính chất, nội dung vẫn là Mặt trận Dân chủ Đây cũng là thời kỳ Đảngcạnh tranh và liên minh với các đảng phái thuộc nhiều giai cấp, tầng lớp theonhững xu hướng chính trị, xã hội khác nhau Do vậy, đây là hình thức mặt trậnrộng rãi, khắc phục được bệnh cô độc, hẹp hòi, ảnh hưởng của Mặt trận Dân chủlan tỏa rộng rãi trong dân chúng cả nước
- Trong cao trào đấu tranh giải phóng dân tộc 1939-1945, những quanđiểm, chủ trương của Đảng về xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dântộc gắn với kiến lập một hình thức Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi cónhững phát triển đột biến
Đảng chủ trương: Gia tăng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là “điều kiệncốt yếu để đánh đổ đế quốc Pháp"1; Khối đại đoàn kết toàn dân tộc phải lấy việcthống nhất lợi ích quốc gia và quyền lợi mỗi người dân làm động lực; phải xâydựng trên cơ sở độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của nhân dân mỗi nước, đồng
1 1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H 2000, tập 6, tr.544.
Trang 7thời giữ vững và tăng cường đoàn kết nhân dân 3 nước Đông Dương; phải mởrộng thu hút đông đảo các thành phần, các tổ chức, đảng phái, các nhân có mưucầu độc lập cho xứ sở; phải tổ chức mô hình Mặt trận dân tộc thống nhất phùhợp; khối đại đoàn kết dân tộc trong Mặt trận dân tộc thống nhất đặt dưới sựlãnh đạo của Đảng.
Thực hiện Nghị quyết Hội Nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương(khóa I ), tháng 10 - 1941, Việt Minh công bố Tuyên ngôn, Chương trình, Điều
lệ Đây là lần đầu tiên, một Mặt trận dân tộc thống nhất được thành lập trình bày
rõ ràng đường lối, chính sách, cách thức tiến hành và tổ chức lực lượng đấutranh để thực hiện mục đích cứu quốc
Mặt trận Việt Minh thực hiện thực hiện chức năng làm nhiệm vụ quản lýđời sống xã hội về các mặt kinh tế, văn hoá, trật tự, trị an, thực hiện chức năng
đối ngoại, tham gia xây dựng Đảng… Mặt trận Việt Minh là ngọn cờ tập hợp
toàn dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, tiến hành Cách mạng tháng Tám –
1945 thành công, xây dựng nhà nước dân chủ đầu tiên của nhân dân trong lịch
sử Việt Nam
* Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
- Đảng chủ trương bảo đảm, tăng cường và phát huy vai trò của khối đạiđoàn kết toàn dân nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ “kháng chiến và kiếnquốc” Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng (2-1951) thông qua Chính cươngĐảng Lao động Việt Nam, trong đó khẳng định: “củng cố và phát triển khối đạiđoàn kết và động viên toàn dân đánh đuổi đế quốc xâm lược, hoàn thành giảiphóng dân tộc”1, “không những cần thiết cho kháng chiến thắng lợi mà còn cầnthiết cho kiến thiết dân chủ mới thành công”2
- Thời gian đầu, Đảng chủ trương xây dựng Mặt trận Dân tộc Thống nhất
Việt Nam dưới hai hình thức Mặt trận Việt Minh, Hội Liên hiệp quốc dân Việt
Nam (Mặt trận Liên Việt, 5- 1946) để đoàn kết toàn dân kháng chiến chống
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H 2001, tập 12, tr.119
2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H 2001, tập 12, tr.214
Trang 8thực dân Pháp xâm lược Hội Liên Việt có hệ thống dọc từ Trung ương đến cơ
sở Cương lĩnh của Hội là: “đoàn kết tất cả các đảng phái yêu nước và đồng bàoyêu nước vô đảng phái, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị,chủng tộc để làm cho nước Việt Nam: Độc lập - Thống nhất - Dân chủ - Phúcường”1
Do yêu cầu của việc tăng cường đoàn kết và củng cố Mặt trận dân tộcthống nhất Việt Nam, từ năm 1948, Đảng có chủ trương thống nhất hai tổ chứcMặt trận Đến tháng 8-1950, các tỉnh và khu đã tổ chức hợp nhất xong ViệtMinh với Liên Việt Tháng 3- 1951, Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt hợpnhất lấy tên là Mặt trận Liên Việt Qua 9 năm kháng chiến, Mặt trận Liên Việt
đã trở thành “ một trong những trụ cột của nhà nước dân chủ nhân dân, là sứcmạnh vô biên của cuộc kháng chiến, kiến quốc; là cơ sở quần chúng rộng rãilàm thành một áo giáp vững bền của Đảng để đánh thắng bọn xâm lược và taysai của chúng”2
- Thành lập Mặt trận Việt - Miên – Lào (1951) nhằm đoàn kết nhân dân 3nước Đông Dương cùng chống kẻ thù chung là đế quốc Pháp xâm lược
* Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975).
- Đảng chủ trương phát huy mạnh mẽ sức mạnh khối đại đoàn kết toàndân tộc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9-1960) chủ trương: “củng cố hơnnữa sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân ta”3 Báo cáo của Chủtịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị chính trị đặc biệt (3- 1964) nêu rõ: để thực hiệnmục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ
và giàu mạnh, góp phần giữ gìn hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới, toàn Đảng,toàn dân và toàn quân ta “đã đoàn kết cần đoàn kết hơn nữa (…) Sự nghiệp cáchmạng là một sự nghiệp lâu dài và gian khổ, song nhất định thắng lợi Mọi người
2 Văn kiện Đảng về vấn đề Mặt trận Dân tộc Thống nhất, Nxb ST, H, 1971, tr.198.
3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H 2002, tập 21, tr.611.
Trang 9chúng ta, bất kỳ ai, làm việc gì, ở cương vị nào, đều phải là những chiến sĩ dũngcảm của sự nghiệp vẻ vang ấy”4.
- Mặt trận Liên Việt đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử, Đảng chủ trươngthành lập tổ chức Mặt trận mới thích hợp đối với hai miền Bắc - Nam
+ Tại miền Bắc: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành lập (9-1945) Tuyên
ngôn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại Đại hội thành lập Mặt trận (9-1955 ),Nghị quyết Đại hội Mặt trận lần thứ II (4-1961), Nghị quyết Đại hội Mặt trậnlần thứ III (12-1971) đều quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng, kêu gọi cáctầng lớp nhân dân, kêu gọi mọi người Việt Nam siết chặt hàng ngũ trong Mặttrận Với hơn 30 đảng phái chính trị, đoàn thể và tổ chức, cá nhân tham gia, Mặttrận Tổ quốc Việt Nam trở thành tổ chức rộng lớn nhất và có vị trí rất quantrọng trong xây dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa
+ Tại miền Nam: Ngày 20-12-1960, tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành,
thuộc vùng giải phóng Tây Ninh, đại biểu các giai cấp, các dân tộc, các tôn giáo
và các đảng phái đã họp Đại hội và quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc Giảiphóng miền Nam Việt Nam Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Namtrở thành người đại diện chân chính duy nhất của nhân dân miền Nam ViệtNam, là ngọn cờ đoàn kết toàn dân, tổ chức và lãnh đạo các lực lượng yêu nướcmiền Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong suốt hai thậpkỷ
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam công bố bản Cươnglĩnh với chủ trương hoà bình, trung lập đã thu hút nhiều nhân sĩ, trí thức, tư sảntham gia chống Mỹ - Thiệu Ngày 20-4-1968, nhóm trí thức Sài Gòn ra vùng
giải phóng cùng một số nhân sĩ yêu nước mở Đại hội thành lập Liên minh các
lực lượng dân tộc dân chủ và hoà bình miền Nam Việt Nam, một tổ chức mặt
trận mới gồm nhiều nhân sĩ, trí thức, nhà công thương,… nổi tiếng ở miền Nam
4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H 2003, tập 25, tr.106, 107-108
Trang 10Ngày 6-6-1969, Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hoà bìnhmiền Nam Việt Nam, cùng với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ViệtNam cử ra Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam vàHội đồng cố vấn của Chính phủ, tạo cơ sở pháp lý để tập hợp lực lượng cáchmạng ở trong và ngoài nước
+ Hình thành Mặt trận thống nhất chống Mỹ của nhân dân Đông Dương (1970) Tháng 4.1970, Hội nghị cấp cao nhân dân ba nước Đông Dương tuyên
bố quyết tâm bảo vệ và phát triển tình hữu nghị anh em và quan hệ láng giềngtốt giữa ba nước trong khi ủng hộ lẫn nhau chống kẻ thù chung Ngay sau Hộinghị, lực lượng cách mạng ba nước hình thành một liên minh chiến đấu đặc biệt
và phối hợp hoạt động ngày càng có hiệu quả
* Nhận xét về việc thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, xây
dựng Mặt trận dân tộc thống nhất trong cách mạng dân tộc dân chủ.
- Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một yêu cầu tất yếu kháchquan của cách mạng Việt Nam Chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảngdựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn khách quan
- Qúa thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc luôn bảo đảm vàtăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản;
- Liên minh công – nông – trí thức là nền tảng để xây dựng khối đại đoànkết toàn dân tộc, đồng thời mở rộng liên minh với các giai tầng xã hội khác tạonên khối đoàn kết rộng rãi và vững chắc của Mặt trận
- Từ thực tế đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hìnhthành hệ thống quan điểm, chủ trương và mô hình tổ chức, phương thức hoạtđộng của Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam Mặt trận dân tộc thống nhấtkhông ngừng mở rộng và phát triển với nhiều hình thức, mang các tên gọi khácnhau phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể Đảng vừa là thành viên, vừa là lãnhđạo Mặt trận Đảng thực hiện sự lãnh đạo Mặt trận bằng cách phát huy vai tròthành viên tích cực, hòa mình vào mọi hoạt động của Mặt trận
Trang 11- Mặt trận dân tộc thống nhất là tổ chức đóng vai trò quan trọng trong vậnđộng, đoàn kết toàn dân tộc, tạo cơ sở để đoàn kết quốc tế, gắn cách mạng ViệtNam với cách mạng lào, Campuchia, cách mạng thế giới, tạo nên sức mạnh tổnghợp thực hiện thắng lợi cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam
1.2.2 Thời kỳ cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xãhội chủ nghĩa, tiến hành công cuộc đổi mới (1975 đến nay)
* Giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa
- Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Đảng đề ra đườnglối, chủ trương đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện hai nhiệm vụxây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Trên chặng đường mới, Đảngchủ trương củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc để thực hiện hai nhiệm vụchiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa
- Đảng chủ trương thống nhất các tổ chức Mặt trận ở hai miền Bắc - Namthành một Mặt trận chung lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam làm cơ sở đểtăng cường và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân Đại hội Mặt trận dân tộcthống nhất Việt Nam diễn ra từ 31-1 đến 3-2-1977
- Ngày 18-4-1983, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 17 về “Tăngcường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tronggiai đoạn mới”
Tuy nhiên, đây là thời kỳ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp,thực hiện bằng mệnh lệnh, hành chính, …, do đó, dẫn đến vấn đề đoàn kết dântộc, chưa có chiều sâu, các giải pháp không đồng bộ, chưa phát huy được thếmạnh của dân tộc, chưa phát huy hết tài năng, trí tuệ của nhân dân trong xâydựng đất nước Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng kinh
tế, xã hội vào cuối những năm 70 và đầu những năm 80 của thế kỷ XX