1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận cao học, đảng lãnh đạo xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ đổi mới

36 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận cao học, Đảng Lãnh đạo Xây dựng và Phát huy Khối Đại Đoàn Kết Dân Tộc Trong Thời Kỳ Đổi Mới
Trường học Đại học Chính trị Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chính trị học
Thể loại Luận văn cao học
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 355 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công”. Đó là chân lý mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết và khái quát truyền thống lịch sử dân tộc ta. Nhờ có đoàn kết mà 54 dân tộc anh em cùng chung sống trên mảnh đất không rộng lắm, người không đông lắm, trình độ phát triển về kinh tế còn thấp kém, nhưng đã vượt qua bao gian lao, thử thách, chống chọi được với thiên tai, địch họa, bảo vệ giang sơn, bờ cõi, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và đang chung sức xây dựng đất nước. Dân tộc nào cũng có truyền thống đoàn kết để sinh tồn và phát triển. Song, truyền thống đoàn kết của dân tộc ta là truyền thống của một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, sống xen kẽ, không phân biệt cưong vực lãnh thổ. Đó là những cuộc chiến đấu liên miên không cân sức để chống chọi với thiên tai khắc nghiệt và đủ loại xâm lược hòng thôn tính lãnh thổ, nô dịch dân tộc ta. Đó còn là một giá trị văn hoá thuộc về bản sắc dân tộc Việt Nam, một dân tộc ngay từ khi hình thành đã mang tính cộng đồng cao. Nghiên cứu chiều sâu của đoàn kết dân tộc, mới thấy rõ ý nghĩa sâu sắc mà “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” của Đảng đã tổng kết thành một trong năm bài học lớn của cách mạng nước ta. Đó là: “Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: Đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế”. Để đi đến thắng lợi to lớn ngày nay, cuộc đấu tranh của nhân dân ta đã phải trải qua những khó khăn, thử thách, những khúc quanh với những ấu trĩ, sai lầm, khuyết điểm. Hơn ai hết, dân tộc ta hiểu rõ giá trị của sự đoàn kết và quyết tâm làm tất cả những gì có thể làm được để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kiên quyết chống lại những gì phá hoại hoặc làm xói mòn, làm suy yếu khối đại đoàn kết này, vì lịch sử đã cho chúng ta bài học quý giá: “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”. Truyền thống đoàn kết của dân tộc ta được nâng lên tầm cao mới trong thời đại Hồ Chí Minh, kết tinh thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực tiễn cách mạng nước ta ngót một thế kỷ qua đã chứng minh một cách hùng hồn sức sống mãnh liệt và sức mạnh vĩ đại không gì chiến thắng nổi của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết kết dân tộc và Đảng ta đã quán triệt sâu sắc tư tưởng đó thành sợi chỉ đó xuyên suốt trong đường lối cách mạng của Đảng qua mọi thời kỳ. Vì vậy, nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ đổi mới là một việc làm hết sức cần thiết hiện nay, nhằm phát huy hơn nữa những giá trị tốt đẹp mà ta đã dành được để củng cố vững chắc khối đại đoàn kết dân tộc cội nguồn bảo đảm thắng lợi của cách mạng nước ta.

Trang 1

Dân tộc nào cũng có truyền thống đoàn kết để sinh tồn và phát triển.Song, truyền thống đoàn kết của dân tộc ta là truyền thống của một quốcgia đa dân tộc, đa tôn giáo, sống xen kẽ, không phân biệt cưong vực lãnhthổ Đó là những cuộc chiến đấu liên miên không cân sức để chống chọivới thiên tai khắc nghiệt và đủ loại xâm lược hòng thôn tính lãnh thổ, nôdịch dân tộc ta Đó còn là một giá trị văn hoá thuộc về bản sắc dân tộc ViệtNam, một dân tộc ngay từ khi hình thành đã mang tính cộng đồng cao.Nghiên cứu chiều sâu của đoàn kết dân tộc, mới thấy rõ ý nghĩa sâu sắc mà

“Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”của Đảng đã tổng kết thành một trong năm bài học lớn của cách mạng nước

ta Đó là: “Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: Đoàn kết toànĐảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế”

Để đi đến thắng lợi to lớn ngày nay, cuộc đấu tranh của nhân dân ta

đã phải trải qua những khó khăn, thử thách, những khúc quanh với những

ấu trĩ, sai lầm, khuyết điểm Hơn ai hết, dân tộc ta hiểu rõ giá trị của sựđoàn kết và quyết tâm làm tất cả những gì có thể làm được để củng cố khốiđại đoàn kết toàn dân tộc, kiên quyết chống lại những gì phá hoại hoặc làmxói mòn, làm suy yếu khối đại đoàn kết này, vì lịch sử đã cho chúng ta bàihọc quý giá: “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết!”

Truyền thống đoàn kết của dân tộc ta được nâng lên tầm cao mớitrong thời đại Hồ Chí Minh, kết tinh thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạiđoàn kết toàn dân tộc Thực tiễn cách mạng nước ta ngót một thế kỷ qua đãchứng minh một cách hùng hồn sức sống mãnh liệt và sức mạnh vĩ đại

Trang 2

không gì chiến thắng nổi của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết kết dântộc và Đảng ta đã quán triệt sâu sắc tư tưởng đó thành sợi chỉ đó xuyên suốttrong đường lối cách mạng của Đảng qua mọi thời kỳ Vì vậy, nghiên cứu

quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ đổi mới là một việc làm hết sức cần thiết hiện nay, nhằm phát

huy hơn nữa những giá trị tốt đẹp mà ta đã dành được để củng cố vữngchắc khối đại đoàn kết dân tộc - cội nguồn bảo đảm thắng lợi của cáchmạng nước ta

2 Mục đích - nhiệm vụ.

Đề tài nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng và phát huykhối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ đổi mới Thông qua các kỳ đại hộicủa Đảng, để thấy được bước phát triển trong nhận thức của Đảng ta vềkhối đại đoàn kết dân tộc nhằm thích nghi với tình hình mới Qua đó, đề tàicũng nêu lên những kết quả đạt được và kinh nghiệm rút ra trong quá trìnhlãnh đạo khối đại đoàn kết dân tộc của Đảng

Tôi hi vọng rằng đề tài sẽ trở thành tài liệu nghiên cứu bổ ích cho cácbạn sinh viên cũng như những độc giả quan tâm tìm hiểu vấn đề này

3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu.

Đây không phải là vấn đề hoàn toàn mới mà trước đó đã từng cónhiều tác giả đề cập đến vấn đề này Tuy nhiên, các tác giả với từng bài viếtcủa mình mới chỉ nêu lên một cách tổng quát sơ lược, hoặc cũng chỉ đi vàomột khía cạnh riêng nào đó của vấn đề Vì thế, đề tài mong muốn được đivào nghiên cứu một cách hệ thống và chi tiết toàn bộ vấn đề đặt ra

4 Phương pháp nghiên cứu.

Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng nhiều phương pháp như:phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh,phương pháp lôgic…

5 Kết cấu của đề tài.

Đề tài có ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.Trong phần nội dung gồm có hai chương lớn:

Chương 1: Những cơ sở hình thành chiến lược đại đoàn kết dân tộc Chương 2: Quá trình Đảng lãnh đạo và phát huy khối đại đoàn kết

dân tộc trong thời kỳ 1986 - 2007.

Trang 3

Chương 1: NHỮNG CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHIẾN

LƯỢC ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC.

Một số khái niệm:

 Đoàn kết: Sách từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1994đã đưa ra khái niệm “Đoàn kết” là: “Kết thành một khối thống nhất cùng hoạt động

vì một mục đích chung và đại đoàn kết là đoàn kết rộng rãi”.

Khái niệm trên chính là sự cắt nghĩa phổ thông về một cụm từ HánViệt và mới chỉ đưa ra một cái vỏ thông tin của khái niệm chứ chưa có nộidung đầy đủ Đó là trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài Nói chuyện tại Hội nghị đại biểu

Mặt trận Liên - Việt toàn quốc ngày 10-1-1955, Người đã đưa ra định nghĩa

về đại đoàn kết như sau:

 “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân,

mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dânlao động khác Đó là nền gốc của đại đoàn kết Nó cũng như cái nền củanhà, gốc của cây Nhưng đã có nền vững, gốc tốt còn phải đoàn kết cáctầng lớp nhân dân khác”

Đây là định nghĩa hết sức cụ thể và mộc mạc Tư tưởng đó hoàn toànđúng với nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, phù hợp với đặcđiểm, truyền thống và thực tiễn của dân tộc Việt Nam

1 Căn cứ lý luận.

Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời cho đến nay đã lãnh đạo toàndân ta làm nên những thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp cách mạng Nhữngthắng lợi đó cũng chính là thắng lợi của chiến lược đại đoàn kết của Đảng.Nhờ đâu mà Đảng có những chiến lược đoàn kết vững chắc và khoa họcnhư vậy? Nhờ đâu mà toàn dân tộc Việt Nam một lòng đi theo chiến đấudưới lá cờ của Đảng? Phải chăng cội nguồn của nó là Đảng đã có một nềntảng, một cơ sở về đại đoàn kết toàn dân tộc

1.1 Chủ nghĩa Mác - Lênin

Trong thời đại cách mạng vô sản, chủ nghĩa Mác - Lênin là họcthuyết khoa học và tiên tiến của thời đại, có sức hấp dẫn, chinh phục hàngtriệu khối óc, trái tim nhân loại Sức hấp dẫn của học thuyết đó chính là ở

Trang 4

chỗ, các nhà sáng lập đã đặt giai cấp vô sản - giai cấp làm thuê, bị bóc lộttrong xã hội tư bản trở thành chủ thể sáng tạo của lịch sử, sáng tạo ra mộtthế giới mới tự do, bình đẳng, bác ái thực sự, không có người bóc lột người.Không như những tư tưởng trước đó: coi thường khinh rẻ tầng lớp laođộng, chỉ nhìn thấy sức mạnh ở các tầng lớp sĩ phu, quân tử như Khổng Tửhoặc thấy sức mạnh ở siêu nhiên, thần thánh như học thuyết của Thiên chúagiáo,…Điểm nổi bật của học thuyết này là đã nhìn thấy sức mạnh ở nhândân lao động, coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân làngười sáng tạo ra lịch sử

Từ đó, các ông kêu gọi sự đoàn kết tất cả các lực lượng của nhân dânlao động Ngay từ tác phẩm đầu tiên “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” Mác vàĂngghen đã đưa ra một khẩu hiệu chiến đấu vang dội:

“Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại”

Sau này, để phù hợp với thời kỳ mới, Lênin phát triển thành khẩuhiệu “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại”

Để đoàn kết được tất cả mọi lực lượng của nhân dân lao động, chủnghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra rằng phải “lấy liên minh công nông làmnguyên tắc tối cao của cách mạng vô sản” Trên cơ sở khối liên minh đó,đảng của giai cấp công nhân phải tổ chức các hình thức để tập hợp đôngđảo mọi tầng lớp nhân dân ở trong mặt trận, đoàn thể

Chủ nghĩa Mác - Lênin khi nói tới sứ mệnh lịch sử giải phóng loàingười của giai cấp vô sản đã chỉ rõ, ở trong mỗi nước, giai cấp vô sản làgiai cấp cách mạng nhất, nó phải là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông quađội tiền phong của mình là Đảng Cộng sản Giai cấp vô sản phải đoàn kếtvới những người bị áp bức, hình thành “nhân dân trong nước”; “giai cấp vôsản muốn bá quyền lãnh đạo thì phải tự mình trở thành dân tộc, thành giaicấp thống trị trong dân tộc” Có thể nói, đây là một phát hiện hết sức khoahọc và đúng đắn, tư tưởng đó đã trở thành hiện thực sinh động chứ khôngchỉ là “ bóng ma ám ảnh châu Âu”

Bên cạnh đó, các ông còn chỉ rõ mục đích của đoàn kết toàn dân tộc

là để thực hiện mục tiêu: giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giảiphóng con người; Sở dĩ tại sao phải đoàn kết dân tộc, đó là vì kẻ thù của

Trang 5

giai cấp vô sản là lực lượng quốc tế Muốn đánh bại kẻ thù thì phải đoànkết dân tộc và đoàn kết quốc tế.

“Chỉ có giai cấp vô sản mới kết nghĩa anh em thật sự dưới ngọn cờdân chủ và chủ nghĩa cộng sản Vì: giai cấp vô sản tất cả các nước đều cóchung lợi ích, cùng chung một kẻ thù và cùng đứng trước một cuộc đấutranh… chỉ có những người vô sản mới có khả năng xoá bỏ sự cách biệtgiữa các dân tộc, chỉ có giai cấp vô sản giác ngộ mới xây dựng được tìnhanh em giữa các dân tộc khác nhau”

Qua những luận điểm trên ta thấy rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ

ra tính tất yếu, sự cần thiết, con đường và phương pháp đoàn kết,… Đócũng chính là nền tảng, cơ sở để hình thành các quan điểm chiến lược đoànkết của các Đảng Cộng sản trên toàn thế giới

1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết.

Đại đoàn kết là một tư tưởng lớn được hình thành và phát triển cùngvới toàn bộ quá trình hoạt động lý luận và thực tiễn của chủ tịch Hồ Chí Minh

Trước hết, với Hồ Chí Minh, đoàn kết, đại đoàn kết, không phải làmột thủ đoạn chính trị nhất thời mang tính chất sách lược mà là một vấn đềmang tính chiến lược có ý nghĩa sống còn lâu dài, quyết định thành bại củacách mạng

Thứ hai, đoàn kết, đại đoàn kết, trong nhận thức của Hồ Chí Minh,không đơn giản là phương pháp tập hợp, tổ chức lực lượng cách mạng, màcao hơn, nó chính là một bộ phận hữu cơ, một tư tưởng xuyên suốt trongđường lối chiến lược cách mạng Nó trở thành mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầucủa cách mạng

Thứ ba, đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân Đoàn kếtkhông chỉ xuất phát từ sự cần thiết, từ ý muốn chủ quan của lực lượng lãnhđạo cách mạng mà là nhu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, củaquần chúng nhân dân

Trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh, đoàn kết dân tộc là yêu cầuchung cao nhất, là bộ phận quan trọng nhất Đoàn kết dân tộc trên nền tảngliên minh công - nông - trí thức, xuất phát từ mục tiêu, vì nước vì dân Đểtập hợp được lực lượng nhân dân và để phát huy được sức mạnh đoàn kết

Trang 6

toàn dân cần phải có một tổ chức đó chính là mặt trận dân tộc thống nhất.Khi đoàn kết phải thật sự chân thành, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ

Đoàn kết, tuân theo những nguyên tắc cơ bản sau: đoàn kết phảiđược xây dựng trên cơ sở đảm bảo những lợi ích tối cao của dân tộc vànhững quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động; phải dựa vào nhân dân đểxây dựng khối đại đoàn kết; phải đoàn kết một cách tự giác, có tổ chức, cólãnh đạo, để khối đại đoàn kết lâu dài và bền vững - đây là nguyên tắc nhấtquán của Hồ Chí Minh

Để đoàn kết rộng rãi, vững bền, bên cạnh việc xác định mục tiêu,nguyên tắc đúng còn phải có phương pháp đúng Muốn xây dựng khối đạiđoàn kết trước hết phải có: phương pháp tuyên truyền, giáo dục, vận độngquần chúng thật sự khoa học để mọi người tự mình nhận thức được sự cầnthiết phải tập hợp lại, từ đó tham gia công việc cách mạng; phương pháp tổchức khoa học nhằm xây dựng, kiện toàn, phát triển hệ thống chính trị cáchmạng; phải biết kết hợp đồng bộ, hiệu quả các giải pháp ứng xử nhằm mởrộng đến mức cao nhất trận tuyến cách mạng và thu hẹp đối ta trận tuyếnquân thù

Hồ Chí Minh - tượng trưng cho linh hồn khối đại đoàn kết toàn dântộc Tư tưởng đoàn kết của Người có sức sống kỳ diệu đã đưa dân tộc ta điqua các cuộc chiến tranh, đến hôm nay vẫn mãi là ngọn cờ chỉ đạo và tậphợp lực lượng của toàn dân tộc trong thời kỳ mới

2 Căn cứ thực tiễn.

2.1 Thực tiễn cách mạng thế giới.

Tất cả các dân tộc trên thế giới đều có truyền thống yêu nước và tinhthần đoàn kết, dù rằng ở mỗi nước truyền thống đó được thể hiện khônggiống nhau Lịch sử các cuộc cách mạng thế giới đã cho ta thấy rõ điều đó

Cách mạng tư sản Anh năm 1940 thắng lợi, một trong những nguyênnhân của sự thắng lợi đó là đã huy động được sức mạnh đoàn kết toàn dân,được nhân dân ủng hộ, đã chém đầu vua Sac - lơ I, dành quyền về tay giaicấp tư sản

Tiếp đó là thắng lợi vang dội của cách mạng tư sản Pháp (1789 1794) đã cho ta những kinh nghiệm về đoàn kết dân tộc: hàng vạn nhữngngười nông dân bước chân lên đường hát vang khúc hành ca đi chống lại

Trang 7

-giai cấp phong kiến Có lẽ từ những bước chân, từ sự đoàn kết làm nên sứcmạnh ấy, mà ca khúc “Hành khúc những đoàn quân sông Ranh” được chọn

là bài quốc ca của nước Pháp Khi nói đến cuộc cách mạng này, Lênin đã

so sánh: “Nhân dân như những lưỡi chổi khổng lồ quét đi những rác rưởicủa chế độ phong kiến”

Cũng như thế, sức mạnh đoàn kết dân tộc lại đưa đến thành công chocách mạng tư sản Mỹ (1764 - 1776); cách mạng tháng Mười Nga - cuộc cáchmạng vô sản đầu tiên trên thế giới, đã cho chúng ta bài học liên minh côngnông dưới sự lãnh đạo của Đảng nhờ sức mạnh của đại đoàn kết dân tộc

Điểm qua những cuộc cách mạng tiêu biểu ấy cho thấy rằng: đoànkết đi liền với thắng lợi của cách mạng Từ đó, đã cho Đảng ta những kinhnghiệm quý báu về đoàn kết dân tộc trong lãnh đạo sự nghiệp cách mạngcủa mình

2.2 Thực tiễn Việt Nam

Đất nước Việt Nam, một dải đất hẹp nằm trọn trong vành đai nhiệtđới gió mùa, quay mặt ra biển Đông, lưng tựa vào Trường Sơn hùng vĩ Dođiều kiện địa lý tự nhiên và vị trí quan trọng của mảnh đất này, những cưdân người Việt từ thuở xa xưa vừa được hưởng sự ưu đãi của đất trời vừaphải đối mặt với những thử thách khắc nghiệt của thiên tai, địch hoạ Lịch

sử dựng nước và giữ nước diễn ra trên mảnh đất này là sự nối tiếp hàngngàn năm những cuộc đấu tranh không mệt mỏi, chống hạn hán bão lụt,chống chiến tranh xâm lược của các thế lực bên ngoài Từ trong cuộc đấutranh trường kỳ đó, truyền thống đoàn kết đã được hình thành, xây dựng vàvun đắp qua nhiều thế hệ Đoàn kết đã trở thành tình cảm tự nhiên:

“Nhiễu điều phủ lấy giá gươngNgười trong một nước phải thương nhau cùng”

thành triết lý nhân sinh:

“Một cây làm chẳng lên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”

thành phép ứng xử và tư duy chính trị

Nhà - Làng - Nước thống nhấtChở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân

Trang 8

Đến thời cận đại, trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâmlược, nhiều phong trào yêu nước diễn ra rầm rộ và sôi nổi nhưng đều đi đếnthất bại Một trong những nguyên nhân thất bại là chưa đoàn kết rộng rãicác giai cấp trong cả nước.

Tổng kết lịch sử, Đảng ta đã rút ra được nhiều kinh nghiệm quý báutrong đại đoàn kết dân tộc

Căn cứ vào những cơ sở lý luận và thực tiễn ngay từ khi ra đời đếnkhi lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chútrọng xây dựng, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc

Trang 9

Chương 2:

QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO VÀ PHÁT HUY KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY.

1 Tình hình khối đại đoàn kết dân tộc trước những năm đổi mới.

Hơn 70 năm thực hiện chiến lược đại đoàn kết, Đảng Cộng sản ViệtNam đã tập hợp, phát huy sức mạnh dân tộc, tranh thủ sự ủng hộ, hợp táccủa quốc tế, đưa cách mạng nước ta từ thắng lợi này tới thắng lợi khác Mới

15 tuổi với 5000 đảng viên mà Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân tiến hành cáchmạng tháng Tám thành công Nhờ có sức mạnh đoàn kết toàn dân, Nhànước Việt Nam dân chủ cộng hoà non trẻ đầu tiên ở Đông Nam Á đã vượtqua muôn vàn thử thách “ngàn cân treo sợi tóc” để đứng vững và từngbước đi lên Thắng lợi vĩ đại của hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống kẻthù xâm lược là Pháp và Mỹ cùng các thế lực thù địch có sức mạnh hơn tarất nhiều lần chính là nhờ Đảng và nhân dân ta đã thực hiện đường lốichiến tranh nhân dân “đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân đểthay cường bạo” như bài học dựng nước và giữ nước của cha ông để lại.Mọi nguồn nhân tài, vật lực, trí lực của dân tộc được huy động với nhiềucách đánh địch thông minh, sáng tạo, đã lập lên những chiến công vĩ đạitrong cuộc chiến đấu oanh liệt để bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, đưa tớithắng lợi hoàn toàn của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất

Tổ quốc, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội Đó chính là thắng lợi của đườnglối cách mạng đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, là thắng lợi của ýchí kiên cường, của lòng quả cảm và tinh thần đại đoàn kết của cả dân tộc.Thắng lợi to lớn đó còn thể hiện sức mạnh đoàn kết quốc tế giữa nhân dân

ta và nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhân dân các dân tộctiến bộ, yêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới

Tuy nhiên, bên cạnh những chiến công lừng lẫy ấy, Đảng ta cũngvấp phải một số sai lầm gây ảnh hưởng lớn đến khối đại đoàn kết dân tộc:

Đó là sai lầm trong tập hợp lực lượng giai đoạn 1930 - 1931 với khẩu hiệu

“trí - phú - địa - hào - đào tận gốc, trốc tận rễ’, quá đề cao vấn đề giai cấpcoi nhẹ vấn đề dân tộc, quá rập khuôn máy móc vào chủ nghĩa Mác - Lênin

;thời kỳ 1945 - 1954: chúng ta đã huy động quá sức dân, thực hiện cải cáchruộng đất ở vùng tự do quá sớm; thời kỳ 1950 - 1958: khi tiến hành cải tạo

Trang 10

xã hội chũ nghĩa ở miền Bắc, chúng ta tiến hành cải cách ruộng đất, cải tạo

tư sản ở thành thị, đã gây tang thương lớn trên khắp miền Bắc Đặc biệt,trong những năm đầu của thời kỳ mới (1976 - 1985), dưới sự lãnh đạo củaĐảng, nhân dân ta đã giành được nhiều thắng lợi quan trọng, đồng thờicũng mắc những sai lầm, mà một trong những nguyên nhân sai lầm là dochúng ta chưa nghiên cứu, kế thừa, phát triển đúng đắn chiến lược đại đoànkết Hồ Chí Minh phù hợp với tình hình mới

Từ cuối những năm 70, đầu những năm đầu 80 của thế kỷ XX , nước

ta thật sự lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, tình hình thế giới vàtrong nước rất không thuận lợi cho ta Chúng ta phải đánh bại hai cuộcchiến tranh biên giới; giúp đỡ nhân dân cămpuchia thoát khỏi bọn diệtchủng PônPốt, xây dựng và giữ vững chính quyền cách mạng Chủ nghĩa

đế quốc và những nước tư bản theo Mỹ thực hiện chính sách bao vây, cấmvận đối với nước ta, làm cho kinh tế nước ta càng khó khăn hơn Liên Xô

và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu lâm vào khủng hoảng, viện trợ kinh

tế của các nước xã hội chủ nghĩa anh em đối với nước ta hầu như khôngcòn nữa Trong nước lại xuất hiện tâm lý muốn đẩy nhanh quá trình khôiphục, phát triển đất nước để mau chóng bù đắp những hy sinh, tổn thấttrước đây Mặt khác, sau thắng Mỹ, tâm lý chủ quan tự cho rằng chúng ta

đủ sức làm tất cả đã xuất hiện khá phổ biến

Tất cả những yếu tố khách quan, chủ quan trong nước, ngoài nướcnói trên đã đẩy tới sự nôn nóng, duy ý chí Do vậy, các kế hoạch cải tạo xãhội chủ nghĩa , xây dựng, phát triển kinh tế trên quy mô lớn đã được triểnkhai ồ ạt trên phạm vi cả nước, lợi ích của các giai cấp, tầng lớp khôngđược tính toán đầy đủ và kết hợp hợp lý Những việc làm ấy, trên thực tế,

đã vi phạm các nguyên tắc của chiến lược đại đoàn kết , ảnh hưởng lớn đếnkhối đoàn kết dân tộc, khối liên minh công nông bị lỏng lẻo, có nguy cơ rạnnứt; quần chúng giảm sút lòng tin đối với Đảng, Nhà nước

2 Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng về đại đoàn kết dân tộc.

Đứng trước tình thế của đất nước, với bản lĩnh của một Đảng đãđược tôi luyện lâu dài trong thử thách, dạn dày kinh nghiệm, Đảng ta kịpthời khởi xướng công cuộc đổi mới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIcủa Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đó thật sự là một mốc

Trang 11

quan trọng, tạo ra một bước chuyển biến căn bản trong công cuộc xâydựng, phát triển đất nước, trong việc xây dựng và cũng cố khối đại đoàn kếtdân tộc Đổi mới nhằm xác định lại vị trí của nhân dân trong toàn bộ sựnghiệp cách mạng, từ đó, mà xác định rõ hơn vị trí của đại đoàn kết toàndân tộc trong thời kỳ mới; xác định các yếu tố cơ bản, nhấn mạnh điểmtương đồng, chỉ rõ trách nhiệm và các hình thức, biện pháp để thực hiện đạiđoàn kết.

2.1 Nhận thức rõ vị trí đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới.

Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn quan tâm đến xây dựngkhối đại đoàn kết toàn dân tộc Đặc biệt, từ Đại hội VI đến nay, nhận thứccủa Đảng ta về đại đoàn kết tòan dân tộc đã có bước phát triển mới

Đại hội VI của đảng đã chỉ ra bốn bài học lịch sử thấm đượm sâu sắctinh thần đại đoàn kết dân tộc, trong đó nổi bật là hai bài học lớn: lấy dânlàm gốc (với nội hàm: nền tảng của xã hội, của chế độ là lực lượng đoànkết của nhân dân; động lực phát triển của đất nước là sức mạnh đoàn kếttoàn dân; mục tiêu phấn đấu của Đảng và Nhà nước là phục vụ nhân dân,làm công bộc của dân) và kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh củathời đại, thực hiện đại đoàn kết quốc tế Từ đó, Đại hội khẳng định khẩuhiệu: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra Đồng thời, Đại hội đã nêu:trong bối cảnh quốc tế hiện nay, yếu tố dân tộc trở thành một đặc điểm cực

kỳ quan trọng.Từ đó Đảng ta đã xác định Đại đoàn kết dân tộc là nguồn sứcmạnh và là động lực chủ yếu của cách mạng, là đường lối chiến lược củacách mạng Việt Nam

Thực hiện nghị quyết Đại hội VI, Hội nghị Trung ương 8 đã ra quyết

định 8B (ngày 27-3-1990) về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng

cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, nhấn mạnh quan điểm: cách

mạng là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân, cần phát huy hơn nữa khả năng

to lớn của nhân dân Điều này có ý nghĩa quyết định to lớn ở thời điểm nàykhi mà Đảng đang có nguy cơ xa rời quần chúng

Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc đã được nâng lên tại Đại hội lần thứVII của Đảng (6 - 1991) Đại hội diễn ra trong bối cảnh hết sức đặc biệt:Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô sụp đổ, kẻ thù hí hửng chống phá sự nghiệpcách mạng của chúng ta Đại hội đã chỉ ra những phương hướng rất mới,

Trang 12

ghi một dấu mốc quan trọng về đoàn kết Trong điều kiện cuộc cách mạngkhoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ, kinh tế tri thức có vai trò ngàycàng quan trọng trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất, Đảng ta nhậnthức rõ hơn vị trí, vai trò của các giai tầng trong xã hội, nhất là của tầng lớptri thức, chủ trương mở rộng khối đại đoàn kết Lần đầu tiên, trong cươnglĩnh năm 1991, Đảng nêu lên khái niệm mới về khối liên minh công - nông -trí làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc Cương lĩnh cũng xácđịnh rõ, đoàn kết các dân tộc trong nước, bình đẳng giúp đỡ nhau cùng tiến

bộ là một trong sáu đặc trưng của chủ nghĩa xã hội Văn kiện Đại hội và cáchội nghị Ban chấp hành trung ương tiếp theo trong nhiệm kỳ này đã thể hiệntinh thần phát huy cao sức mạnh của dân tộc, đặt lợi ích của dân tộc và lợiích của con người lên hàng đầu, coi đó là xuất phát điểm của các chính sách,

là cơ sở để xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ mới

Đường lối đại đoàn kết dân tộc của Đại hội lần thứ VI của Đảng đãthể hiện cụ thể trong nghị quyết bảy của Bộ Chính trị Ban chấp hành trungương Đảng khoá VII Đây là một nghị quyết phản ánh tập trung nhất sự kếthừa và phát triển tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của chủ tịch Hồ Chí Minh.Tiếp theo nghị quyết 8B, sự ra đời của nghị quyết này là mốc quan trọngtrong đổi mới tư duy về đại đoàn kết dân tộc trong quá trình đổi mới đấtnước Trên cơ sở khẳng định quan điểm đoàn kết là truyền thống cực kỳquý báu của dân tộc ta trong lịch sử dựng nước và giữ nước, nghị quyết đãphân tích quá trình lịch sử và bối cảnh tình hình đất nước hiện nay, đề rachủ trương phải tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, củng cố và mở rộngmặt trận dân tộc thống nhất, đưa khối đại đoàn kết toàn dân lên tầm caomới và chiều sâu mới Những phát triển mới trong quan điểm, chủ trương

về đại đoàn kết dân tộc đã tạo cơ sở để tăng cường đoàn kết quốc tế, đề ranhững định hướng đúng đắn để phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kếtdân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới

Công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu, những quan điểm, chủtrương về đại đoàn kết dân tộc càng được phát triển Đại hội lần thứ VIIIcủa Đảng đã tiếp tục khẳng định vị trí của khối đại đoàn kết dân tộc đồngthời nêu lên: “Chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân

là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng cũng do nhân dân

Trang 13

hưởng ứng đường lối đổi mới, dũng cảm phấn đấu, vượt qua biết bao khókhăn, thử thách mà công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu hôm nay”.

Từ tư duy mới về vai trò của nhân dân, về vấn đề dân tộc trong thời

kỳ mới, Đảng ta xác định đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược, lànguồn sức mạnh về động lực chủ yếu của cách mạng Viêt Nam Tư tưởngnày là sự kế thừa, phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dântộc: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài…không phải là một thủ đoạn chính trị…ai có tài, có đức, có sức, có lòngphụng sự tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ” Trong bàiDân vận (15-10-1949) Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “…vận động tất cả lực lượngcủa mỗi người dân, không để sót một người dân nào, góp thành lực lượngtoàn dân” Đó là tư tưởng đoàn kết rộng rãi, chân thành, triệt để

Những chủ trương về đại đoàn kết dân tộc đã thúc đẩy công cuộc đổimới, trở thành động lực chủ yếu để phát triển đất nước Đây là một bướcphát triển mới quan trọng trong tư duy lý luận về động lực cách mạng củaĐảng ta trong thời kỳ mới Điều đó được khẳng định tại Đại hội lần thứ IX

và trở thành chủ đề của Đại hội này Đại hội không chỉ xác định đại đoànkết là đường lối chiến lược nhất quán mà còn một lần nữa nhấn mạnh:

“Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ

sở liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kếthợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng

và nguồn lực của các thành phần kinh tế trong xã hội” Như vậy, so với cácđộng lực khác, đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực tổng hợp và là độnglực to lớn nhất Nghị quyết hội nghị trung ương 7 khoá IX “Về phát huysức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh” đã coi đại đoàn kết toàn dân tộc “là nguồn sứcmạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắnglợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, vì nó liên quanđến sự sống còn và phát triển của dân tộc Đây là một bước phát triển mới

về tư duy đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng ta

Để tiếp tục cụ thể hoá và nâng cao hơn tầm vóc của chủ trương đạiđoàn kết, Đảng ta đã bổ sung chữ “toàn” vào cụm từ “đại đoàn kết” thành

“đại đoàn kết toàn dân tộc” với ý nghĩa mở biên độ của khối đoàn kết, bao

Trang 14

gồm các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp, thành phần kinh tế, mọi giới,mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, người trong Đảng, người đang côngtác và người về hưu, mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dùsống trong nước hay ở nước ngoài.

Tiếp tục đường lối được xác định trong các Đại hội trước, Đại hội X

đã nhấn mạnh vấn đề phát huy sức mạnh toàn dân tộc, xem đó là một trongbốn thành tố của chủ đề Đại hội: “phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc,tiếp tục đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển”

Trong nội dung của Đại hội X có phần 6 nói về phát huy dân chủ, sứcmạnh đại đoàn kết dân tộc, trong đó vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc vẫn tiếptục được khẳng định đây là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam, lànguồn sức mạnh, là động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảođảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

2.2 Xác định các yếu tố quan trọng và điểm tương đồng mới để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc

Đại đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng hoà bình, thực hiện kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải đi từ sự thống nhất về lợi ích.Đặt đúng vị trí của yếu tố lợi ích không chỉ là sự đổi mới tư duy về đạiđoàn kết toàn dân tộc, mà còn về toàn bộ công cuộc cách mạng hiện nay

Các Mác đã từng nhấn mạnh vai trò của lợi ích trong việc thúc đẩymọi hành động của con người Lênin đã khẳng định: khi nói đến mối liên

hệ giữa Đảng và nhân dân phải lưu ý mặt nội dung, tức lợi ích giữa Đảng

và quần chúng

Nước ta chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, nên yếu tố lợi ích dễ

bị xem thường nhất là trong lĩnh vực chính trị Khác với các thời kỳ trướcđây, lợi ích cá nhân luôn đặt cuối cùng còn lợi ích tập thể là trên hết, khinước ta bước vào kinh tế thị trường, vấn đề lợi ích nổi lên như một yếu tốquan trọng hàng đầu Vì vậy, ngay trong báo cáo chính trị của Đại hội VI

đã nêu rõ: “ Lợi ích chính đáng của quần chúng đang đặt ra nhiều vấn đềcần giải quyết Trước mắt, tập trung sức giải quyết những vấn đề có thể giảiquyết được, phù hợp với từng đối tượng” Đại hội còn chỉ rõ: phải xây

Trang 15

dựng cơ cấu giai cấp xã hội mới, thực hiện đúng chính sách dân tộc, chínhsách đoàn kết, tự do tín ngưỡng

Tư tưởng đại đoàn kết còn thể hiện đậm nét trong các phương hướngcủa chính sách kinh tế, xã hội, đối ngoại Nghị quyết trung ương 8B đã đề

ra quan điểm: Động lực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi íchthiết thực của nhân dân và kết hợp hài hoà các lợi ích, thống nhất quyền lợi

và nghĩa vụ công dân Như vậy, yếu tố quan trọng đầu tiên có tính quyếtđịnh bảo đảm thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc là phải bảo đảm côngbằng và bình đẳng xã hội; chăm lo lợi ích thiết thực chính đáng của các giaicấp, các tầng lớp nhân dân; kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể

và lợi ích xã hội Đường lối đổi mới khởi đầu cho một thời kỳ mới xâydựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh làviệc đổi mới tư duy kinh tế, đề ra chủ trương phát triển kinh tế nhiều thànhphần, coi trọng lợi ích chính đáng, hợp pháp của người lao động, nhằm liênkết và khai thác mọi tiềm năng của các tầng lớp nhân dân trong công cuộc

xây dựng và bảo vệ tổ quốc Đó là việc quan tâm nhiều hơn đến chính sách

giai cấp ( bao gồm chính sách đối với mỗi giai cấp và chính sách xử lý mối

quan hệ giữa các lợi ích của các giai cấp) và chính sách dân tộc, nhấn mạnh

việc đặt con người vào vị trí trung tâm của chính sách kinh tế - xã hội, “ có

kế hoạch chủ động xây dựng cơ cấu giai cấp của xã hội mới, cụ thể hoá vàthực hiện đúng chính sách dân tộc và chính sách tự do tín ngưỡng” Đó làviệc quan tâm đẩy mạnh phát huy dân chủ trong xã hội, cũng cố liên minhcông nông và khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Trên cơ sở đó, Nghị quyết 7 của Bộ Chính trị Ban chấp hành trungương Đảng khoá VII đã chủ trương đoàn kết mọi người trong đại gia đìnhcác dân tộc Việt Nam, bao gồm các giai cấp, các dân tộc, các tôn giáo,người trong nước và người định cư ở nước ngoài, vì mục tiêu chung giữvững độc lập, thống nhất, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, phấnđấu sớm thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tiến lên dân giàu, nước mạnh, xãhội, công bằng, văn minh Đó chính là điểm tương đồng để đoàn kết mọingười trong khối đại đoàn kết, đồng thời chấp nhận những điểm khác nhaukhông trái với lợi ích chung, cùng nhau xoá bỏ định kiến, mặc cảm, hậnthù, xây dựng tinh thần tin cậy, cởi mở cùng hướng về tương lai của dân

Trang 16

tộc Chương trình mặt trận Tổ quốc Việt Nam xây dựng và bảo vệ Tổ quốccòn nhấn mạnh thêm tinh thần đoàn kết không phân biệt quá khứ và ý thức

hệ, chân thành đoàn kết hoà hợp thành một khối thống nhất Chủ trươngđoàn kết đó phù hợp với đặc điểm, tình hình đất nước, thể hiện truyềnthống bao dung, nhân ái của dân tộc và đường lối chính nghĩa của Đảng,Nhà nước ta Đường lối đó đã đi vào lòng người, được các tầng lớp nhândân trong nước đồng tình ủng hộ

Chúng ta đã coi đại đoàn kết dân tộc là đường lối cơ bản của Đảng

và Nhà nước ta, là xuất phát điểm của mọi chủ trương chính sách, pháp luậttrên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh - quốc phòng,đối ngoại nhằm đáp ứng lợi ích, nguyện vọng chính đáng của các giai tầngtrong xã hội, gắn bó quyền lợi với trách nhiệm, lợi ích riêng của mỗi ngườivới nghĩa vụ công dân, lấy lợi ích dân tộc làm trọng, tạo mọi điều kiện vàmôi trường thuận lợi nhằm triệt để giải phóng sức sản xuất xã hội, khuyếnkhích mọi người, mọi thành phần kinh tế, phát huy cao độ mọi nguồn lực

và tài năng sáng tạo, ra sức phát triển sản xuất kinh doanh, làm giàu hợppháp, cần kiệm xây dựng đất nước, nâng cao đời sống nhân dân

Đại hội VIII của Đảng tiếp tục khẳng định những quan điểm trên,đồng thời đề ra các chính sách cụ thể đối với các giai tầng, dân tộc trongnước, nhằm tạo ra những động lực mới thúc đẩy phong trào cách mạng củanhân dân, trong đó lần đầu tiên đề ra chủ trương bảo hộ sở hữu tài sản vàvốn của các nhà doanh nghiệp tư nhân, khuyến khích đầu tư mở rộng sảnxuất, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh, thực hiện tốt các nghĩa vụ màluật pháp đã quy định Trong tình hình mới, chúng ta cũng khẳng định chủtrương coi kiều bào ta ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời củacộng đồng dân tộc, bảo hộ quyền lợi chính đáng của kiều bào, giúp đỡ kiềubào trong cuộc sống và tạo điều kiện cho kiều bào gắn bó, đóng góp xâydựng quê hương

Cùng với yếu tố lợi ích, thực hiện dân chủ và phát huy chủ nghĩa yêunước cũng là những yếu tố quan trọng để củng cố và phát triển khối đạiđoàn kết toàn dân tộc Chủ nghĩa yêu nước luôn luôn là động lực lớn củadân tộc ta trong quá trình lịch sử Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lựccủa cách mạng Dân chủ là dòng chảy trong lịch sử nhân loại, là khát vọng

Trang 17

của muôn đời Nhân dân ta rất coi trọng dân chủ Muốn đoàn kết thì phảidân chủ; dân chủ tăng cường đoàn kết Tư duy về dân chủ của Đảng tacũng có sự phát triển trong mối quan hệ với tư duy đại đoàn kết toàn dântộc khi nhấn mạnh việc kết hợp nguyên tắc tập trung dân chủ với nguyêntắc hiệp thương dân chủ để làm phong phú thêm nền dân chủ ở nước ta.

Ba yếu tố nói trên có sự sắp xếp khác nhau trong từng giai đoạn lịch

sử, làm cơ sở tạo ra điểm tương đồng để thực hiện đại đoàn kết toàn dântộc Trong cuộc đấu tranh với các thế lực ngoại xâm mạnh hơn mình nhiềulần và với thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt, điểm tương đồng nằm ở chính

sự tồn tại của cộng đồng là chủ nghĩa yêu nước và ý thức đoàn kết trongđấu tranh Trước đây ta thường nói: yêu nước gắn liền với yêu chủ nghĩa xãhội Cách nói đó trong điều kiện mới - mà yêu cầu lớn nhất là tập hợp mọilực lượng của dân tộc kể cả những người vẫn còn mặc cảm với chủ nghĩa

xã hội - cần có sự thay đổi Do vậy, ngay từ đại hội VII, Đảng ta đã nêu lênkhẩu hiệu mới: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”, đếnĐại hội IX thì bổ sung từ “Dân chủ” thành “Dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh” là mục tiêu chiến lược tổng thể của cáchmạng nước ta trong thời kỳ mới Đó cũng chính là chủ nghĩa xã hội, nhưngđược diễn đạt gần gũi, dễ hiểu hơn Đây là điểm tương đồng để đại đoànkết toàn dân tộc được Đảng ta chỉ rõ trong nghị quyết 07-NQ/TW ngày 17-01-1993 của Bộ Chính trị “Về đại đoàn kết toàn dân tộc và tăng cường Mặttrận dân tộc thống nhất”, “Phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dântộc, ý chí tự lực tự cường, đoàn kết mọi người Việt Nam tán thành côngcuộc đổi mới, nhằm mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc, thống nhất chủquyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu sớm thoát khỏi nghèo nànlạc hậu, tiến lên dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh Với điểm tương đồng đó, Đảng ta đã tập hợp đoàn kết các tầng lớpnhân dân tiến hành công cuộc đổi mới những năm cuối thế kỷ XX đạt nhiềuthành tựu to lớn Hiện nay, đi vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước, Đảng ta đã xác định điểm tương đồng là: “Giữ vững độclập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh” Điểm tương đồng ngày nay tổng quát hơn, dễ đạt được

sự nhất trí hơn, cả với đồng bào trong nước và với kiều bào ta đang định cư

Trang 18

ở nước ngoài Để tạo ra sự tương đồng về quan điểm, thái độ, trong Nghịquyết trung ương 7 khoá IX “Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dântộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, vấn đềchống định kiến, phân biệt đối xử với người ngoài Đảng được nêu lên mộtcách đậm nét: “Xoá bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá kh,thành phần, giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, cùnghướng tới tương lai” Đây là thực sự là một quan điểm rất mới, là thành quảcủa quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta: thay thuật ngữ “Đại đoànkết toàn dân” bằng thuật ngữ “Đại đoàn kết toàn dân tộc” với nội hàm đầy

đủ hơn, toàn diện hơn

Phần 2 và phần 3 của Nghị quyết về công tác dân tộc và công tác tôngiáo đã cụ thể hoá tư tưởng của Đại hội IX Việc đoàn kết các dân tộc thiểu

số được xác định trên nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡnhau cùng phát triển Việc đoàn kết đồng bào theo đạo được khẳng địnhtrên nguyên tắc coi tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộphận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựngchủ nghĩa xã hội ở nước ta, nghiêm cấm sự phân biệt đối với công dân vì

lý do tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời cũng nghiêm cấm lợi dụng tínngưỡng, tôn giáo để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc

Điểm tương đồng không phải là cái gì cứng nhắc, bất biến Trongdiễn văn bế mạc hội nghị Trung ương 7 (Phần 2) khoá IX, Tổng Bí thưNông Đức Mạnh nói: “Nếu hiểu một cách sâu sắc đó có nghĩa là chúng tacần làm rất nhiều để các điểm tương đồng ngày càng được phát huy vànhân lên, những điểm còn khác nhau ngày càng giảm thiểu” Điều này tráingược với ý kiến cho rằng càng tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, cácmâu thuẫn ngày càng gay gắt, quyết liệt

Đại hội X trên cơ sở phát huy tinh thần của Nghị quyết Trung ương 7khoá IX đã nêu rõ: “Tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi íchcủa dân tộc Đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, xây dựng tinh thầncởi mở, tin cậy lẫn nhau vì sự ổn định chính trị và đồng thuận xã hội”

Ngày đăng: 17/04/2023, 11:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo sư Song Thành - Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc, NXB Lí luận 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc
Nhà XB: NXB Lí luận2005
2. PGS,TS Tô Huy Rứa (chủ biên) - Nhìn lại quá trình đổi mới tư duy lí luận của Đảng, NXBLLCT 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại quá trình đổi mới tư duy líluận của Đảng
Nhà XB: NXBLLCT 2006
3. PGS,TS Tô Huy Rứa (chủ biên) - Quá trình đổi mới tư duy của Đảng từ năm 1986 đến nay, NXBLLCT 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình đổi mới tư duy của Đảng từnăm 1986 đến nay
Nhà XB: NXBLLCT 2006
4. Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, NXBCTQG 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXBCTQG 2003
5. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXBCTQG 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Nhà XB: NXBCTQG 2006
6. TS Hoàng Trang - Tài liệu nghiên cứu các nghị quyết hội nghị lần thứ bảy BCHTW K9, NXBCTQG 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu các nghị quyết hội nghị lần thứbảy BCHTW K9
Nhà XB: NXBCTQG 2003
7. Đại tá Nguyễn Hữu Đức, TS Lê Văn Yên - Tư tưởng Hồ Chí Minh - Di sản văn hoá dân tộc. NXBQĐ 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh - Disản văn hoá dân tộc
Nhà XB: NXBQĐ 2003
8. PTS. Ngưyễn Khánh Bật (chủ biên) Những bài giảng về môn học tư tưởng Hồ Chí Minh. NXBCTQG 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ) Những bài giảng về môn học tưtưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXBCTQG 1999
9. Ban tư tưởng - văn hoá Trung ương - Chuyên đề nghiên cứu nghị quyết đại hội X của Đảng, NXBCTQG,2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề nghiên cứu nghị quyếtđại hội X của Đảng
Nhà XB: NXBCTQG
10. Các loại báo, tạp chí: Lịch sử Đảng, Tạp chí Cộng sản, Lí luận chính trị, Giáo dục lí luận… Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loại báo, tạp chí

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w