1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ luật học xác minh điều kiện thi hành án dân sự theo pháp luật thi hành án dân sự việt nam hiện nay

173 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xác minh điều kiện thi hành án dân sự theo pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Thị Hương Giang
Người hướng dẫn GS.TS Hoàng Thế Liên
Trường học Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam
Chuyên ngành Luật Kinh tế
Thể loại Luận án tiến sĩ luật học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 173
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác minh điều kiện THADS là việc CHV/TPL thu thập thông tin, tiếp cận, xác định đối tượng mục tiêu cần phải thi hành tài sản, thu nhập của người phải THA, vật, giấy tờ, nhà phải trả… và

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG

XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN

DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2021

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG

XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN

DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngành : Luật Kinh tế

Mã số : 9 38 01 07

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS HOÀNG THẾ LIÊN

Hà Nội - 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Thị Hương Giang

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7

1.2 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu đề tài luận án 21

1.3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 22

Tiểu kết chương 1 23

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 25

2.1 Khái niệm, đặc điểm xác minh điều kiện thi hành án dân sự 25

2.2 Ý nghĩa của xác minh điều kiện thi hành án trong hoạt động thi hành án dân sự 34

2.3 Nội dung điều chỉnh pháp luật về xác minh điều kiện thi hành án dân sự 37

2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả xác minh điều kiện thi hành án dân sự 59

Tiểu kết chương 2 66

Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM 68

3.1 Các quy định hiện hành về xác minh điều kiện thi hành án dân sự 68

3.2 Các vướng mắc, bất cập chủ yếu của pháp luật xác minh điều kiện thi hành án dân sự 115

Tiểu kết chương 3 126

Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM 127

4.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về xác minh điều kiện thi hành án dân sự 127

Trang 5

4.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về xác minh điều kiện thi hành án dân sự 135

Tiểu kết chương 4 153 KẾT LUẬN 154 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 157 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 158

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài

Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định yêu cầu Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân phải luôn tôn trọng và nêu cao tinh thần thượng tôn Hiến pháp và pháp luật Các bản án, quyết định của TAND có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức,

cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành, các giá trị của công lý phải được tôn vinh và bảo vệ Trong bối cảnh đó, công tác THADS đang ngày càng có vị trí và

ý nghĩa tích cực, quan trọng trong việc bảo vệ pháp chế XHCN, thực thi công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương

và ổn định

Xác minh điều kiện THADS là việc CHV/TPL thu thập thông tin, tiếp cận,

xác định đối tượng mục tiêu cần phải thi hành (tài sản, thu nhập của người phải

THA, vật, giấy tờ, nhà phải trả…) và các thông tin khác phục vụ cho quá trình tổ

chức THADS như: nhân thân, hoàn cảnh gia đình của người phải THA… Đây là

hoạt động rất quan trọng trong quá trình tổ chức THADS Kết quả xác minh là cơ

sở để CHV/TPL thuyết phục đương sự tự nguyện, thỏa thuận THA, là cơ sở để Thủ trưởng cơ quan THADS ra các quyết định ủy thác, hoãn, đình chỉ THA hay lựa chọn biện pháp cưỡng chế THA thích hợp Mặt khác, việc xác minh điều kiện THADS còn là cơ sở để phân loại án, là căn cứ cho việc thống kê số án tồn đọng

Có thể nói, xác minh điều kiện THADS chính là căn cứ làm phát sinh hàng loạt các tác nghiệp khác trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định, đòi hỏi CHV/TPL cần thiết phải nắm vững cơ sở pháp lý của việc xác minh, kỹ năng xác minh và xử lý kết quả xác minh phù hợp với quy định của pháp luật về

THADS Nếu coi điều kiện THADS của người phải THA là “chìa khóa” để “mở

cánh cửa” cho việc tổ chức THADS thành công, thì hoạt động xác minh điều kiện

THADS của CHV và các chủ thể khác là một “cuộc hành trình” đi tìm chiếc chìa

khóa đó

Để nâng cao hiệu quả của công tác THADS, các cơ quan THADS cần tổ chức thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác THADS, tạo chuyển biến cơ bản, bền vững, hoàn thành các yêu cầu, nhiệm vụ về THA theo Nghị quyết số 111/2015/QH13 của Quốc hội khóa XIII về công tác tư pháp Theo đó, việc xác minh điều kiện THADS có ý nghĩa quan trọng trong việc

Trang 8

góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác THADS, giảm án tồn đọng, giảm áp lực đối với cơ quan THADS Nói cách khác, nâng cao hiệu quả của hoạt động xác minh điều kiện THADS là một trong những giải pháp căn bản nhất để thi hành dứt điểm bản án, quyết định, góp phần bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia hoạt động THADS

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật THADS năm 2014 có hiệu lực từ 01/7/2015, đã khắc phục được nhiều bất cập, vướng mắc sau 06 năm thi hành Luật THADS năm 2008 Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng thiếu hiệu quả của hoạt động xác minh điều kiện THADS Chẳng hạn như trong năm 2016, số tiền có điều kiện THA là 86.254.000.000 đồng/tổng số tiền phải THA là 133.619.000.000 đồng (chiếm 64,6%) [12]; năm 2017, số tiền có điều kiện THA là 92.000.000.000 đồng/tổng số tiền phải THA là 163.658.000.000 đồng (chiếm 56,2%) [13]; năm

2018, số tiền có điều kiện THA là 90.010.000.000 đồng/tổng số tiền phải THA là 178.628.000.000 đồng (chiếm 50,4%) [14]; năm 2019, số tiền có điều kiện THA là 148.791.000.000 đồng/tổng số tiền phải THA là 251.172.000.000 đồng (chiếm 59,2%), [15] Như vậy, trong 4 năm gần đây, số tiền có điều kiện THA trên số tiền phải THA có tỉ lệ thấp, trung bình chưa tới 60%

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, trong đó có nguyên nhân từ

sự bất cập của quy định pháp luật cũng như những khó khăn, vướng mắc, hạn chế trong thi hành pháp luật về xác minh điều kiện THADS Cụ thể như thiếu hành lang pháp lý cho hoạt động xác minh của các chủ thể xác minh điều kiện thi hành án; chế tài chưa đủ sức răn đe đối với hành vi không kê khai hoặc kê khai thiếu trung thực về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; sự thiếu rõ ràng trong vấn đề quản lý tài sản thuộc sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án…

có tác động rất lớn đến hiệu quả công tác xác minh điều kiện thi hành án Vì vậy,

để các quy định pháp luật về xác minh điều kiện THA tiếp tục được hoàn thiện, phù hợp, bắt nhịp kịp với cuộc sống vốn dĩ sinh động này thì việc phân tích, đánh giá một cách toàn diện thực trạng quy định pháp luật và dự liệu những thách thức mới đặt ra đối với thực thi pháp luật về xác minh THADS, để từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị thiết thực, có hiệu quả là hết sức cần thiết

Với các lý do trên, NCS lựa chọn đề tài “Xác minh điều kiện thi hành án

dân sự theo pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án

tiến sỹ luật học

Trang 9

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận án là nghiên cứu nhằm góp phần xây dựng cơ sở khoa học

và thực tiễn phục vụ việc tiếp tục đổi mới, hoàn thiện quy định pháp luật về xác minh điều kiện THADS ở Việt Nam trên hai phương diện điều chỉnh pháp luật và thực thi pháp luật

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Cụ thể, tiến hành thu thập các tài liệu, công trình khoa học liên quan đến đề tài luận án, tìm hiểu, nhận xét, đánh giá và nêu quan điểm về những vấn đề đã được các công trình khoa học trước đó nghiên cứu Từ đó, xác định các nội dung cần được kế thừa, những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu trong luận án

Thứ hai, nghiên cứu làm sáng tỏ vấn đề lý luận cơ bản về xác minh điều kiện THADS như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của xác minh điều kiện THADS, nội dung điều chỉnh pháp luật về xác minh điều kiện THADS, các yếu tố ảnh hưởng đến xác minh điều kiện THADS

Thứ ba, phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về xác minh điều kiện THADS ở Việt Nam, rút ra các nhận xét về những ưu điểm cũng như những hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật hiện hành về xác minh điều kiện THADS

Thứ tư, luận giải về các yêu cầu đổi mới, hoàn thiện pháp luật về xác minh điều kiện THADS và kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật về xác minh điều kiện THADS

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu quy định pháp luật về xác minh điều kiện THADS và thực tiễn thi hành pháp luật về xác minh điều kiện THADS ở nước ta Nội dung pháp luật về xác minh điều kiện THADS ở Việt Nam là đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm: chủ thể xác minh; phương thức xác minh; nội dung xác minh; trình tự, thủ tục xác minh; thời điểm xác minh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về xác minh điều kiện THADS, các quy định pháp luật cũng như thực tiễn thi hành pháp luật về xác minh

Trang 10

điều kiện THADS với không gian nghiên cứu là ở Việt Nam Thời gian nghiên cứu được giới hạn từ sau khi Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 có hiệu lực pháp luật (từ ngày 01/7/2015) đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung của khoa học xã hội và các phương pháp nghiên cứu đặc thù của luật học để giải quyết các vấn đề khoa học đặt ra Các phương pháp chủ yếu bao gồm: phương pháp mô tả, phương pháp phân tích

và tổng hợp, phương pháp phân tích lịch sử, phương pháp so sánh pháp luật Cụ thể:

- Phương pháp mô tả

Phương pháp này được sử dụng chủ yếu để mô tả lại các quy định của pháp luật và các vụ việc có liên quan, thông qua đó tái hiện thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam về xác minh điều kiện THADS, từ đó tìm ra các bất cập và nguyên nhân của các bất cập đó

- Phương pháp phân tích và tổng hợp

Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng để phân tích và khái quát hoá các vấn đề về lý luận, thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về xác minh điều kiện THADS, các yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật cũng như những đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật về xác minh điều kiện THADS Phương pháp này được sử dụng trong tất cả các chương của Luận án

- Phương pháp phân tích lịch sử

Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển của xác minh điều kiện THADS và pháp luật về xác minh điều kiện THADS ở Việt Nam, đồng thời rút ra các kinh nghiệm lịch sử cần thiết

- Phương pháp so sánh

Phương pháp này được sử dụng nhằm phân tích, so sánh các quy định của pháp luật hiện hành với quy định của pháp luật các giai đoạn trước đây, giữa quy định của pháp luật Việt Nam với quy định của pháp luật một số quốc gia khác trên thế giới

về xác minh điều kiện THADS Thông qua đó, luận án tìm ra những giải pháp phù hợp góp phần hoàn thiện pháp luật và thực thi pháp luật về xác minh điều kiện THADS của Việt Nam

Trang 11

5 Những đóng góp mới của luận án

Là một công trình khoa học nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về xác minh điều kiện THADS ở Việt Nam, luận án có những đóng góp mới chủ yếu sau đây:

- Luận án phân tích và luận giải những vấn đề lý luận về xác minh điều kiện THADS, cụ thể như:

+ Xây dựng khái niệm, làm rõ đặc điểm của xác minh điều kiện THADS; chỉ

ra các ý nghĩa của xác minh điều kiện THADS

+ Xây dựng nội dung điều chỉnh pháp luật về xác minh điều kiện THADS bao gồm: chủ thể xác minh, phương thức xác minh, nội dung xác minh, thủ tục xác minh và thời điểm xác minh

+ Làm sáng tỏ các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả xác minh điều kiện THADS

Đây là cơ sở để luận án phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về xác minh điều kiện THADS

- Luận án phân tích, đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện, có hệ thống về thực trạng pháp luật thực định và thực tiễn thực hiện pháp luật về xác minh điều kiện THADS ở Việt Nam qua đó góp phần làm rõ những ưu điểm, các bất cập, hạn chế trong quy định pháp luật và thực thi pháp luật về xác minh điều kiện THADS

- Luận án xác định rõ các yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về xác minh điều kiện THADS, đồng thời đề xuất một số kiến nghị nhằm sửa đổi, bổ sung một

số quy định pháp luật về xác minh điều kiện THADS

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án

Những kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm phong phú thêm hệ thống

lý luận cơ bản về xác minh điều kiện THADS và pháp luật về xác minh điều kiện THADS ở Việt Nam

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình xây dựng pháp luật THADS nói chung và pháp luật về xác minh điều kiện THADS nói riêng Luận án cũng là tài liệu cho các cơ sở nghiên cứu khoa học, giảng dạy, học tập về pháp luật THADS; tài liệu tham khảo cho các CHV, các chủ thể thực hiện chức năng tư pháp khác hoặc đối với các cá nhân, tổ chức tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động xác minh điều kiện THADS

Trang 12

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Chương 2: Những vấn đề lý luận về xác minh điều kiện thi hành án dân sự Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về xác minh điều kiện thi hành án dân sự ở Việt Nam

Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về xác minh điều kiện thi hành án dân sự

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về lý luận liên quan đến xác minh điều kiện thi hành án dân sự

Thi hành án dân sự và xác minh điều kiện THADS là đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình nghiên cứu trong nước từ sau năm 2004 cho đến thời điểm hiện nay Trước thời điểm năm 2004, thời điểm Pháp lệnh THADS năm 1993 đang

có hiệu lực, các công trình nghiên cứu trong nước về THADS và xác minh điều kiện THADS còn rất ít, lý do là hoạt động THADS còn khá mới mẻ trong bối cảnh nền kinh tế - xã hội nước ta thời kỳ đó, pháp luật về THADS quy định khá sơ sài về thủ tục THADS nói chung và xác minh điều kiện THADS nói riêng Các công trình nghiên cứu nước ngoài về THADS và xác minh điều kiện THADS cũng khá nhiều, tuy nhiên, NCS không thể nghiên cứu trực tiếp, đầy đủ các công trình nghiên cứu đó

mà chỉ có thể tiếp cận được một số bài viết nghiên cứu, tham luận khoa học, kỷ yếu hội thảo về THADS có liên quan đến xác minh điều kiện THADS

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã công bố về xác minh điều kiện THADS đều đề cập cả ba phương diện là lý luận, thực trạng pháp luật và quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về xác minh điều kiện THADS Ở mỗi phương diện nghiên cứu, kết quả của các công trình nghiên cứu đã đạt được ở mức độ khác nhau Trong khuôn khổ một chương của luận án, NCS xin tổng quan tình hình

nghiên cứu từ một số công trình khoa học đã công bố như sau:

1.1.1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến khái niệm, đặc điểm xác minh điều kiện thi hành án dân sự

Về khái niệm xác minh điều kiện thi hành án dân sự

Tác giả Hoàng Thị Thu Trang, Cục THADS tỉnh Nghệ An trong chuyên đề

“Hoàn thiện quy định pháp luật về xác minh điều kiện thi hành án dân sự”, đã đưa

ra khái niệm về xác minh điều kiện THADS như sau: "Xác minh điều kiện THADS

là việc CHV thu thập thông tin, tiếp cận, xác định đối tượng, mục tiêu cần phải thi hành (tài sản, thu nhập của người phải THA, vật, giấy tờ, nhà phải trả…) và các thông tin khác phục vụ cho quá trình tổ chức THA như: Nhân thân, hoàn cảnh gia đình của người phải THA”[85]

Trang 14

Định nghĩa nêu trên về xác minh điều kiện THADS tuy chưa đầy đủ nhưng cũng đã đề cập đến những yếu tố rất cơ bản của việc xác minh điều kiện THADS như: mục đích của việc xác minh, chủ thể xác minh, nội dung cần xác minh… Đây là những chất liệu giúp NCS có định hướng tốt hơn khi xây dựng khái niệm xác minh điều kiện THADS, một trong nội dung nghiên cứu của luận án

1.1.1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến vai trò của xác minh điều kiện thi hành án

Bàn về vai trò của xác minh điều kiện THADS đối với hiệu quả của THADS, tài liệu “Thực tiễn tốt nhất trong khu vực: Thi hành bản án của Toà án Bài học kinh nghiệm từ Châu Mỹ La tinh” trong chuỗi nghiên cứu về nhà nước pháp quyền của Quỹ quốc tế về các hệ thống bầu cử (IFES) – một tổ chức phi chính phủ ở Mỹ đã đưa ra mô hình THA hiệu quả gồm 12 tiêu chí [105] và một trong những tiêu chí không thể thiếu, đó là cơ chế xác minh điều kiện THADS hữu hiệu, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc tiếp cận các thông tin về người phải THA

Tác giả Heike Gramckow khi nghiên cứu về đấu giá THA cũng cho rằng một điều kiện tiên quyết để hoạt động đấu giá hiệu quả là xây dựng một khung pháp lý hiệu quả để xác định và định vị tài sản của người phải THA, bao gồm một khung pháp lý vững chắc để truy tìm tài sản và giảm cơ hội người phải THA che giấu và chuyển tài sản để trốn tránh việc THA [104]

Cũng bàn về vai trò của xác minh điều kiện THADS, Giáo trình “Nghiệp vụ thi hành án dân sự” của Học viện Tư pháp đã chỉ ra rằng, xác minh điều kiện THADS có vai trò quan trọng đối với hầu hết các giai đoạn khác của quá trình THADS Kết quả xác minh sẽ là cơ sở, định hướng để CHV tổ chức thi hành theo đúng quy định pháp luật Trên cơ sở kết quả xác minh, CHV có thể xử lý hồ sơ theo hướng: ủy thác, đình chỉ, đưa vào loại việc chưa có điều kiện thi hành hay CHV có thể áp dụng các biện pháp bảo đảm hoặc áp dụng các biện pháp cưỡng chế THA [47, tr.90]

Tác giả Hoàng Thị Thu Trang trong chuyên đề “Hoàn thiện quy định pháp luật về xác minh điều kiện thi hành án dân sự”, Tham luận của Cục THADS tỉnh Nghệ An đã cho rằng xác minh điều kiện THADS là hoạt động trung tâm, quan trọng nhất trong quá trình tổ chức THADS [85]

Những nghiên cứu về vai trò của công tác xác minh điều kiện THADS là những tài liệu quan trọng giúp NCS tiếp tục làm rõ, làm sâu sắc hơn vai trò của hoạt động xác minh điều kiện THADS trong quá trình tổ chức THADS

Trang 15

1.1.1.3 Các công trình nghiên cứu về điều chỉnh pháp luật đối với xác minh điều kiện thi hành án

Giáo trình Nghiệp vụ thi hành án dân sự của Học viện Tư pháp đã phân tích tổng thể về chủ thể xác minh, nội dung xác minh, thủ tục xác minh, thời điểm tiến hành xác minh [47, tr.91-108] Giáo trình cung cấp những kiến thức về kỹ năng của CHV trong hoạt động xác minh điều kiện THADS theo đúng tinh thần của một cơ

sở đào tạo nghề như tại Học viện Tư pháp là “cầm tay chỉ việc” Đây là một tài liệu

tham khảo hữu ích để NCS nghiên cứu, xác định nội dung pháp luật về xác minh điều kiện THADS

Cuốn sách “Sổ tay Chấp hành viên” của Học viện Tư pháp được xuất bản

năm 2009 có nội dung hướng dẫn về nghiệp vụ xác minh điều kiện THADS cho CHV Xác minh điều kiện THADS được nghiên cứu dưới góc độ kỹ năng nghiệp vụ

về xác minh của CHV Theo đó, để xác minh điều kiện THADS, CHV phải xây dựng kế hoạch xác minh để mô tả khái quát những công việc phải làm và khi có kết quả xác minh thì CHV xử lý kết quả xác minh Cuốn sách chỉ dẫn nghiệp vụ xác minh cho CHV một cách cụ thể nhất, dễ áp dụng nhất mà không đi sâu luận giải về

cơ sở lý thuyết nào để CHV thực hiện các công việc về xác minh như vậy Đối với những việc THADS cụ thể, cuốn sách cũng chưa đề cập về định hướng xác minh cho CHV theo những trường hợp cụ thể như thi hành nghĩa vụ về tiền, thi hành nghĩa vụ về nhân thân gắn với tài sản [45, tr.119-146] Tuy là cuốn “cẩm nang” nhưng giúp ích cho NCS khá nhiều trong nghiên cứu, đánh giá vai trò của sự điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động xác minh điều kiện THADS

Đề tài 95-98-114/ĐT “Những cơ sở lý luận và thực tiễn về định chế Thừa

phát lại” (Đề tài cấp Bộ) do Viện nghiên cứu khoa học pháp lý Bộ Tư pháp và Sở

Tư pháp TP.Hồ Chí Minh phối hợp thực hiện năm 1995, trên cơ sở nghiên cứu chế định TPL của Việt Nam trước đây và của một số nước trên thế giới, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, mô hình tổ chức và hoạt động của TPL Đề tài đã bước đầu đưa ra những căn cứ cho khả năng xã hội hoá một số hoạt động THADS ở Việt Nam [87] Hiện nay, hoạt động của Văn phòng TPL đã được triển khai ở nhiều địa phương, ngày càng trở thành một tổ chức cung cấp dịch vụ pháp lý quen thuộc với người dân, trong đó có hoạt động xác minh điều kiện THADS và tổ chức THADS Tài liệu này sẽ giúp cho NCS có thêm tư liệu để luận giải về chức năng của TPL trong hoạt động xác minh THADS với tư cách là chủ thể tiến hành hoạt động xác minh điều kiện THADS

Trang 16

Liên quan trực tiếp đến nội dung xác minh điều kiện THADS, Kỷ yếu Hội

thảo “Các mô hình tổ chức THA trên thế giới” do Nhà pháp luật Việt - Pháp tổ

chức ngày 17-18/4/2006 đã giới thiệu nội dung về quy định của pháp luật Nhật Bản là: “khi người được THA có đơn yêu cầu THA thì việc THA mới được tiến hành Trong đơn yêu cầu phải chỉ rõ tài sản (tiền, bất động sản ) của người phải THA có

ở đâu, tình trạng như thế nào? Người được THA phải tự tìm hiểu về tình trạng tài sản của người phải THA để cung cấp thông tin cho cơ quan THA Đây là điều kiện tiên quyết không thể thiếu được của việc THA” [65] Quy định này rất tương đồng với pháp luật THADS trước đây (theo Luật THADS 2008) của Việt Nam Từ những kiến thức tổng hợp này, NCS sẽ so sánh, đối chiếu với pháp luật thực định của Việt Nam về chủ thể xác minh điều kiện THADS

Tài liệu Nghiên cứu số JAI/A3/2002/02: về việc thực thi hiệu quả hơn các

quyết định tư pháp trong Liên minh Châu Âu, phiên bản ngày 18/2/2004 của tác giả Burkhard Hess đã phân tích về các chủ thể, phương thức tìm kiếm tài sản của người

phải THA ở các quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu Tác giả cũng đưa ra các lập luận để chứng minh cho các khuyến nghị của mình về các điều kiện để nâng cao hiệu quả công tác xác minh điều kiện THADS ở các quốc gia châu Âu [106] Những phân tích này giúp cho NCS nghiên cứu, tìm hiểu những điểm tương đồng

và những sự khác biệt của hệ thống pháp luật một số nước về xác minh điều kiện THADS Đây sẽ là tài liệu hữu ích giúp cho việc nghiên cứu xác minh điều kiện THADS của các nước một cách bài bản, đầy đủ hơn, từ đó, rút ra những bài học phù

hợp với điều kiện của quốc gia mình

Bài viết “Làm thế nào để thi hành bản án” của tác giả William T Tanner đã

đưa ra các bước để xác định tài sản của người phải THA Trong mỗi bước thực hiện này, tác giả đã chỉ ra thời điểm thực hiện việc xác minh, quy trình xác minh, cách thức xác minh và một số cách thức xử lý khi xảy ra tình huống trong quá trình xác minh tại bang California của Mỹ [111] Từ tài liệu này, NCS có thêm một góc nhìn

về chủ thể xác minh và các cơ chế đảm bảo cho chủ thể xác minh được tiến hành một cách hiệu quả và thuận lợi nhất theo pháp luật Mỹ

Bài viết “Trách nhiệm cung cấp thông tin tài sản thi hành án dân sự trong pháp luật châu Âu và cộng hoà liên bang Đức” của tác giả Nguyễn Văn Nghĩa giới thiệu về quy định của pháp luật châu Âu và Đức trong trách nhiệm cung cấp thông tin tài sản THA Trong bài viết này, tác giả đã phân tích về chủ thể cung cấp thông

Trang 17

tin, mức độ thông tin về tài sản, thời điểm cung cấp thông tin, chế tài áp dụng nếu người phải THA vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin [62] Đây là tài liệu giúp NCS

bổ sung những vấn đề lý luận cần thiết trong chủ thể xác minh, thời điểm xác minh, các biện pháp chế tài nếu vi phạm quy định về xác minh

Đề tài KX.04.06 (thuộc Chương trình khoa học xã hội cấp nhà nước

2001-2005): “Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, hoàn

thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của Tòa án trong nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân” do Bộ Tư pháp chủ trì đã

nghiên cứu THA trong mối quan hệ với hệ thống tư pháp và việc thực hiện quyền tư pháp, trong đó xác định cơ quan THA tuy không phải là cơ quan tố tụng “nhưng có thể coi là cơ quan thuộc hệ thống tư pháp”, đề xuất một số vấn đề cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan THA, như là một trong những nội dung của cải cách tư pháp Nghiên cứu của đề tài gợi mở cho NCS một cách tiếp cận mang tính hệ thống về mối liên hệ giữa Tòa án và cơ quan THA là đều có chung một mục tiêu phải đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án được thi hành trên thực tế Một vấn đề đặt ra hiện nay là pháp luật chưa có quy định Tòa án phải làm rõ điều kiện THA trước khi ra bản án, quyết định [9] Từ cơ sở lý luận của đề tài này, NCS sẽ tham khảo để nghiên cứu phát triển trong luận án của mình về đề xuất tăng cường mối quan hệ giữa cơ quan THA và Tòa

án bằng điều chỉnh pháp luật trong việc tìm kiếm thông tin về điều kiện THA

Luận án tiến sĩ luật học “Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt

Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thanh Thủy đã trực tiếp nghiên cứu làm sáng

tỏ khái niệm, đặc điểm, nội dung, vai trò của pháp luật THADS, xác định các tiêu chí hoàn thiện pháp luật THADS, đưa ra các quan điểm và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật THADS, nâng cao hiệu quả hoạt động THADS Luận án căn cứ vào thực tiễn THADS từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến năm 2009, đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật THADS; cơ chế THADS và thực tiễn tổ chức thực hiện pháp luật THADS; làm rõ những mặt được, những mặt còn hạn chế, vướng mắc bất cập trong pháp luật THADS và tổ chức thực hiện pháp luật THADS, nêu các nguyên nhân và bài học kinh nghiệm Phân tích các yêu cầu, quan điểm và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật THA nói chung và pháp luật THADS nói riêng

ở Việt Nam đến năm 2020 Xác minh điều kiện THADS không được luận án này đề cập nghiên cứu ở phần thực trạng pháp luật Xác minh điều kiện THADS là một thủ tục pháp lý của THADS nói chung [84] Do đó, kết quả nghiên cứu của luận án về các vấn

Trang 18

đề lý luận về THADS, tiêu chí để hoàn thiện pháp luật THADS (luận án đã đưa ra 6 tiêu chí hoàn thiện pháp luật THADS) và giải pháp hoàn thiện pháp luật THADS là một nguồn tài liệu tham khảo cho NCS nghiên cứu về cơ sở lý luận của luận án và hoàn thiện pháp luật đối với xác minh điều kiện THADS

Cuốn tài liệu hội thảo được tổ chức tại liên bang Nga “Hệ thống thi hành án của nhà nước và tư nhân: phân tích so sánh và các thực tiễn hay nhất”, tuyển tập Tài liệu của Hội nghị Khoa học và Thực tiễn Quốc tế lần thứ 9, ngày 10-13 tháng 10 năm 2018, Sochi, Vùng Krasnodar tổng hợp 37 bài tham luận của 37 thành viên đến

từ 30 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Cuốn tài liệu chủ yếu tập trung vào việc so sánh mô hình thi hành án công và mô hình thi hành án tư nhân ở các quốc gia trên thế giới, từ đó, mỗi quốc gia sẽ tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia khác trong việc xây dựng mô hình tổ chức thi hành án để nâng cao hiệu quả công tác thi hành án [103] Xác minh điều kiện THADS, với tư cách là một thủ tục không thể thiếu trong quá trình tổ chức THADS cũng được bàn luận dưới góc nhìn về cơ chế xác minh mà các quốc gia theo đuổi Các tài liệu này giúp NCS nhìn nhận rộng hơn về xác minh điều kiện thi hành án trong mối liên hệ với mô hình tổ chức thi hành

án ở nhiều quốc gia trên thế giới và cách thức mà các quốc gia này xây dựng các cơ chế

để việc xác minh điều kiện thi hành án có hiệu quả

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về thực trạng pháp luật về xác minh điều kiện thi hành án

Luật THADS 2008 lần đầu tiên quy định về nghĩa vụ xác minh điều kiện THADS thuộc về người được THA Chủ thể có nghĩa vụ xác minh điều kiện THADS thay đổi từ cơ quan THADS sang cá nhân, tổ chức được THA Áp dụng vào thực tiễn, quy định này làm cho người dân gặp rất nhiều khó khăn trong việc tự mình xác minh điều kiện THADS Phản ánh khách quan thực trạng này, có rất nhiều bài viết đề cập đến vướng mắc khi áp dụng quy định về chủ thể xác minh điều kiện THADS Có thể nói, chưa khi nào xác minh điều kiện THADS trở thành đối tượng được nghiên cứu dưới góc độ thực tiễn áp dụng nhiều như trong thời gian từ năm

2009 đến năm 2014 - khoảng thời gian Điều 44 Luật THADS 2008 về xác minh đang có hiệu lực thi hành Các bài viết về thực trạng xác minh điều kiện THADS đều phân tích về tính không phù hợp giữa luật thực định và thực tiễn cuộc sống về chủ thể xác minh điều kiện THADS Một số bài viết tiêu biểu về vấn đề này là: Bài

“Quy định về xác minh điều kiện thi hành án còn nhiều bất cập” của tác giả Trần

Trang 19

Đại Sỹ đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật – Số chuyên đề về Thi hành án dân

sự số 03/2009 [80]; Bài “Những vướng mắc từ thực tiễn thi hành Luật Thi hành án

dân sự” của tác giả Nguyễn Thị Khanh đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật số

3/2010 [54]; Bài viết “Khó khăn trong xác minh điều kiện thi hành án” của tác giả

Ý Công đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật tháng 9/2011 [90]; Bài viết “Những

vấn đề thực tiễn về xác minh, cung cấp thông tin và hướng hoàn thiện” của tác giả

Hồ Quân Chính đăng trên Website của Bộ Tư pháp ngày 30/11/2011 [21]; Bài “Cần

hướng dẫn và quy định khả thi hơn về xác minh điều kiện thi hành án” của tác giả

Lại Văn Thắng đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật tháng 4/2012 [81]; Bài viết

“Một số bất cập sau ba năm thực hiện Luật Thi hành án dân sự” của tác giả Phan Đức Vũ đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân tháng 1/2013 [88]… Mục tiêu chung

của các bài viết này là đều mong muốn sửa đổi quy định tại Điều 44 Luật THADS

2008 về chủ thể xác minh hoặc đưa ra một cơ chế thi hành rõ ràng hơn để tháo gỡ khó khăn cho người dân khi tự mình đi xác minh điều kiện THADS Tham khảo kinh nghiệm lập pháp của một số nước, thì nghĩa vụ xác minh điều kiện THADS thuộc về người được THA, đòi hỏi trước khi yêu cầu THA thì người được THA phải thu thập thông tin và cung cấp thông tin cho cơ quan THADS, chứ không phải

là nghĩa vụ thuộc về cơ quan THADS như Pháp lệnh THADS 2004 quy định Các bài viết về thực trạng áp dụng pháp luật mang tính tranh luận, phê phán nêu trên, sẽ

là nguồn tài liệu gợi mở cho việc nghiên cứu về chủ thể xác minh của Việt Nam

Bài viết “Về một quyết định hủy kết quả thi hành án” của tác giả Phạm Công

Ý đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 6 năm 2013 [92] Bài viết nêu và phân tích về vụ việc thi hành án của Chi cục THADS huyện H đối với bản án số 02/2011/DSST ngày 19/7/2011 của Tòa án nhân dân huyện H Quá trình THA, CHV đã vi phạm Điều 44 Luật THADS 2008 về xác minh điều kiện THADS Cụ thể, CHV đã tự mình xác minh điều kiện THADS trong khi chưa có bằng chứng xác thực về việc người được THA không thể xác minh được Do áp dụng không đúng trình tự thủ tục về xác minh, hệ quả là kết quả THA bị Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định hủy kết quả THA Vấn đề hủy kết quả THA có nhiều quan điểm khác nhau Nội dung bài viết là nguồn tài liệu thực tế để NCS phân tích, diễn giải về thẩm quyền của chủ thể trong xác minh điều kiện THADS

Bài viết “Xác minh điều kiện thi hành án theo Luật sửa đổi, bổ sung một số

điều của Luật Thi hành án dân sự” của tác giả Bùi Nguyễn Phương Lê đã phân tích

Trang 20

thay đổi của quy định pháp luật về xác minh điều kiện THADS theo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật THADS 2014 về 07 (bảy) khía cạnh sau: Về trách nhiệm xác minh điều kiện THADS; về thời hạn xác minh; về trách nhiệm của người phải THA; về biên bản xác minh; về căn cứ và thời hạn xác minh lại; về ủy thác xác minh và về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc xác minh điều kiện THADS Bài viết thể hiện quan điểm bình luận của tác giả về những điểm mới của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật THADS 2014 [56]

Bài viết “Những trường hợp khó thi hành thường gặp trong thi hành án dân

sự” của tác giả Trần Ngọc Bàn phản ánh thực trạng khó THA bởi Tòa án tuyên

không rõ ràng, không phù hợp với thực tế của đương sự Ngoài ra, án khó thi hành

vì đối với tài sản của người phải THA là tài sản chung, đặc biệt đối với đồng bào dân tộc miền núi, tài sản của hộ gia đình có nhiều thế hệ cùng chung sống, việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của người phải THA gặp nhiều khó khăn, họ luôn tìm cách che giấu khối tài sản của mình, nhằm trốn tránh nghĩa vụ THA Do đó, khi CHV tổ chức thi hành những việc này, thường nhận được sự phản ứng quyết liệt từ các đồng sở hữu Tác giả bài viết đã phản ánh thực trạng tổ chức đời sống của bà con dân tộc miền núi ảnh hưởng đến việc THA, trong đó có hoạt động xác minh điều kiện THADS [1] Đây là những tư liệu sống động của đời sống, trong quá trình xác minh điều kiện THADS, CHV ngoài việc nắm vững các quy định chung của pháp luật thì cần phải có hiểu biết về phong tục, tập tục địa phương nơi mình công tác để có những kỹ năng xác minh điều kiện THADS phù hợp

Bài viết “Thực tiễn thi hành án dân sự đối với cá nhân, tổ chức là người nước ngoài ở Bình Dương” của tác giả Nguyễn Văn Lộc phản ánh thực trạng THA

tại địa bàn tỉnh Bình Dương - một tỉnh có đặc thù là có nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và có nhiều việc thi hành có giá trị THA lớn Có một số hệ lụy liên quan đó là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp không còn ở Việt Nam, thậm chí toàn bộ người quản lý doanh nghiệp bỏ trốn, không ai quản lý tài sản Vấn đề đặt ra CHV sẽ xác minh điều kiện THADS như thế nào, thông báo cho người đại diện theo pháp luật đã bỏ trốn như thế nào khi chưa xử lý xong các khoản

nợ tại Việt Nam? Nếu CHV không kịp thời ngăn chặn xuất cảnh đối với người phải THA thì việc THA sẽ gặp khó khăn, thậm chí bế tắc [58]

Các bài viết về thực trạng THA và xác minh tài sản đối với án tham nhũng

trong bài “Chủ tịch nước: Thi hành án phải tăng hiệu quả thu hồi tài sản tham

Trang 21

nhũng” [63] và bài “Tổng cục Thi hành án dân sự: Vì sao khó thu hồi tài sản các vụ tham nhũng?” [82] Nội dung các bài viết phản ánh thực trạng hiện nay là khó thi

hành (chẳng hạn việc THA đối với Dương Chí Dũng trong vụ Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) là 110 tỷ đồng nhưng quá trình THA, cơ quan THADS đã

xử lý tài sản mới kê biên và thu được trên 14 tỷ đồng, trong khi nghĩa vụ THA của Dương Chí Dũng còn rất lớn) Bài viết nêu thực trạng việc xác minh điều kiện THADS, ngoài các tài sản đã được kê biên, tuyên xử lý trong bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan THADS khó có thể xác minh được thêm tài sản hoặc nguồn thu nhập khác, vì tội phạm tham nhũng thường tìm mọi cách để tẩu tán, che giấu, hợp lý hóa tài sản Trong khi đó, cơ quan THADS chỉ có thể căn cứ vào tình trạng pháp lý hiện hành của tài sản để xử lý mà không có thẩm quyền điều tra, chứng minh nguồn gốc tài sản do phạm tội mà có

Bài viết “Có khởi tố vụ tẩu tán tài sản để “né' thi hành án?” nêu cụ thể về

việc chiếc tàu đánh cá được nạo sửa đã bị biển số, mù mờ, một điều rất cấm kỵ với ngư dân và đã thay đổi địa bàn hoạt động Đây là tài sản để THA, tuy nhiên CHV khi xác minh đã sơ suất không phát hiện hoặc cố ý không phát hiện ra những vấn đề khuất tất của con tàu [83] Bài viết cho NCS thông tin về loại tài sản có đăng ký quyền sở hữu những có khả năng di chuyển tại nhiều địa điểm khác nhau như tàu đánh cá trên biển, vậy trong trường hợp cụ thể này CHV cần phải lưu ý những nội dung gì khi xác minh?

Bài viết “Một số vấn đề xác minh điều kiện thi hành án tại các tổ chức tín

dụng” của tác giả Võ Hoài Nam cho rằng, trong quá trình THA, việc xác minh tiền,

tài sản gửi của người phải THA đã trở thành công việc thường xuyên của các cơ quan THADS Từ khi Luật THADS năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành

có hiệu lực, công tác xác minh thông tin về số dư tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng thời gian qua đã có nhiều thuận lợi Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn tồn tại không ít khó khăn cần được tháo gỡ Trong bài viết của mình, tác giả đã làm rõ những khó khăn, bất cập trong thực tiễn tiến hành công tác xác minh tại các tổ chức tín dụng; đồng thời đưa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm

tạo điều kiện tối đa cho các TPL khi thực hiện thẩm quyền của mình [59]

Cũng trong bài viết “Xác minh điều kiện thi hành án theo Luật sửa đổi, bổ

sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự”, tác giả Bùi Nguyễn Phương Lê đã

phân tích quy định về biên bản xác minh; về căn cứ và thời hạn xác minh lại; về ủy

Trang 22

thác xác minh và về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc xác minh điều kiện THADS [56] Bài viết thể hiện quan điểm bình luận của tác giả

về những điểm mới của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật THADS 2014 và

là tài liệu tham khảo để NCS phân tích các quy định pháp luật về thủ tục xác minh điều kiện THADS

1.1.3 Tình hình nghiên cứu về giải pháp hoàn thiện pháp luật về xác minh điều kiện thi hành án dân sự

Bài viết “Tiêu chí đánh giá hiệu quả áp dụng pháp luật trong thi hành án

dân sự” của tác giả Đặng Đình Quyền đã cho rằng để đánh giá hiệu quả áp dụng

pháp luật trong THADS nên dựa vào hai tiêu chí: Tiêu chí đưa pháp luật THADS vào cuộc sống và tiêu chí đưa cuộc sống vào pháp luật THADS Luận giải cho mỗi tiêu chí đánh giá, tác giả phân tích cụ thể dưới góc độ lý luận về áp dụng áp luật (gồm 4 giai đoạn) và hoàn thiện pháp luật [79] NCS sẽ tham khảo về hai tiêu chí này trong phần đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về xác minh điều kiện THADS nhìn nhận dưới góc độ hiệu quả áp dụng pháp luật THADS

Bài viết “Bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực

pháp luật được chấp hành trên thực tế” của tác giả Vũ Thuần Nho đã phân tích về

một số vướng mắc bất cập về trình tự, thủ tục THADS, trong đó có xác minh điều kiện THADS Tác giả nêu một số đề xuất, kiến nghị về cải cách thể chế đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực được chấp hành trên thực tế [66] NCS quan tâm đến đề xuất, kiến nghị của tác giả về việc xác minh điều kiện THADS phải được tiến hành và được áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành trước khi xét xử, nhằm ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản, trốn tránh việc THA, khắc phục một phần tình trạng bản án, quyết định của Tòa án chỉ có ý nghĩa trên giấy, không chấp hành trên thực tế Với kiến nghị này, tác giả không phân tích và làm sáng tỏ nội

hàm của của cụm từ “xác minh điều kiện THADS phải được tiến hành và được áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành trước khi xét xử” Do đó, có rất nhiều câu hỏi

xung quanh kiến nghị này như: nội dung phải thực hiện được hiểu cụ thể như thế nào? Tòa án hay cơ quan THADS “phải” thực hiện hoạt động này và cơ chế nào để thực hiện điều này? Đây là một quan điểm mới mẻ, tuy nhiên, dưới góc độ khoa học nội dung này đòi hỏi cần phải được nghiên cứu sâu sắc và toàn diện hơn nữa

Về kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động của TPL nói chung, trong đó có

hoạt động xác minh điều kiện THADS, có một số bài viết sau: Bài “Nâng cao hiệu

Trang 23

quả thi hành án dân sự và xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại” của

tác giả Nguyễn Tiến Pháp đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 11/2012 [67]

và bài “Thủ tục thực hiện công việc của thừa phát lại” của tác giả Lê Xuân Hồng

đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật - Số chuyên đề Thi hành án dân sự và vấn

đề xã hội hóa năm 2009 [49] Theo các tác giả, thực trạng hoạt động của TPL còn gặp một số vướng mắc như: một số cơ quan nhà nước còn quá máy móc về luật chuyên ngành đã từ chối cung cấp thông tin cho TPL vì Văn phòng TPL không phải

là cơ quan nhà nước; chưa đề cập đến thẩm quyền xác minh trong quá trình khởi kiện tại Tòa án… Từ thực tế này, các tác giả có đề xuất là tiếp tục tăng cường công tác thông tin tuyên truyền về TPL tới người dân, tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ TPL, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Văn phòng TPL với cơ quan THADS trong việc sử dụng kết quả xác minh điều kiện THADS

Bài viết “Kiến nghị hoàn thiện Luật Thi hành án dân sự” của tác giả Nguyễn

Duy Phương đã đề xuất pháp luật cần quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ và cơ chế phối hợp Cần có các chế tài cụ thể đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ thông tin không cung cấp thông tin hoặc cung cấp chậm trễ thông tin khi được CHV yêu cầu mà không có lý do chính đáng, không có văn bản trả lời người yêu cầu [69] Nội dung kiến nghị này sẽ được NCS tiếp tục nghiên cứu và phát triển trong luận án

Đề tài khoa học cấp nhà nước độc lập "Luận cứ khoa học và thực tiễn của

việc đổi mới tổ chức hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam trong giai đoạn mới"

(Mã số đề tài 2000-58-198) do Bộ Tư pháp chủ trì đã nghiên cứu một cách khá toàn diện, khoa học về các vấn đề cả về tổ chức và hoạt động THADS nói chung cũng như nghiên cứu đặc trưng của từng loại hình THADS, đưa ra mục tiêu, quan điểm, yêu cầu và những giải pháp nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động THADS ở Việt Nam trong thời gian tới [8]

Các tài liệu nghiên cứu nói trên là các tài liệu tham khảo giúp NCS đưa ra các giải pháp toàn diện và đồng bộ để cải thiện hiệu quả công tác xác minh điều kiện THADS

1.1.4 Đánh giá chung tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.1.4.1 Đánh giá những kết quả nghiên cứu đã đạt được

*Về lý luận

- Các nghiên cứu đã làm rõ mối liên hệ hữu cơ giữa thủ tục THADS và xác minh điều kiện THADS Đây là mối quan hệ nội tại giữa cái chung – cái riêng của

Trang 24

pháp luật THADS Do vậy, xác minh điều kiện THADS là một “mắt xích” quan trọng trong quy trình thủ tục THADS, phải được nghiên cứu trong mối quan hệ tổng thể của toàn bộ quy trình THADS Kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu đã chỉ ra về lý luận: Xác minh điều kiện THADS là một thủ tục pháp lý bắt buộc, có vai trò quan trọng trong hoạt động tổ chức THADS, kết quả của xác minh điều kiện THADS có ảnh hưởng đến kết quả tổ chức THADS và được tiến hành bởi các chủ thể nhất định

- Một số tác giả đã đưa ra quan niệm về xác minh điều kiện THADS trên cơ

sở quy định của pháp luật, với nội hàm của khái niệm là: xác minh điều kiện thi hành án dân sự là việc thu thập thông tin về điều kiện thi hành án của người phải THA Như vậy, nội hàm của thuật ngữ “xác minh”, theo các tác giả nghiên cứu là gần như đồng nhất với thuật ngữ “thu thập thông tin” hay làm “sáng tỏ thông tin” về điều kiện THADS của người phải THA

- Các công trình khá thống nhất với nhau về vai trò, ý nghĩa của xác minh, chủ thể tiến hành xác minh, chủ thể tham gia hoạt động xác minh, thủ tục tiến hành xác minh, xử lý kết quả xác minh điều kiện THADS Những nội dung này, có thể coi là những vấn đề lý luận cơ bản về điều chỉnh pháp luật đối với xác minh điều kiện THADS

- Về lý thuyết, xác minh là một thủ tục pháp lý được tiến hành ở nhiều địa điểm khác nhau (không gian khác nhau) và đối tượng được xác minh khác nhau, phụ thuộc vào tính chất cụ thể của mỗi việc THADS Do vậy, sẽ không có một

“công thức” chung về kỹ năng tiến hành xác minh điều kiện THADS cho tất cả các trường hợp

- Phần lớn các tác giả thống nhất với nhau ở nội dung: quy định pháp luật về xác minh điều kiện THADS nói riêng, thủ tục THADS nói chung là các quy định của luật hình thức Cơ chế áp dụng hiệu quả của các quy định về xác minh hay thủ tục THADS phụ thuộc vào các quy định pháp luật nội dung có liên quan Đây là cơ

sở lý luận gợi mở định hướng nghiên cứu quan trọng cho NCS trong luận án

*Về thực trạng pháp luật về xác minh điều kiện thi hành án

- Các công trình nghiên cứu về thực trạng pháp luật về xác minh điều kiện THADS đã nghiên cứu ở hai góc độ là: Thực trạng các quy định pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật về xác minh điều kiện THADS Từ năm 2004 đến nay, các công trình đã phản ánh toàn diện và thực chất các quy định pháp luật về xác minh

Trang 25

điều kiện THADS “đi vào đời sống” ra sao, đã tác động vào hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật THADS như thế nào Minh chứng cụ thể là, bức tranh thực trạng xác minh điều kiện THADS chưa khi nào được phản ánh đậm đặc trong các công trình nghiên cứu như tại thời điểm khi quy định của Điều 44 Luật THADS 2008 có hiệu lực

Tuy nhiên, mỗi công trình nghiên cứu trên mới chỉ là những “lát cắt”, một góc nhìn trong bức tranh tổng thể về thực trạng xác minh điều kiện THADS Nhiệm

vụ của NCS là kế thừa có chọn lọc các thông tin trong các tài liệu nghiên cứu về thực trạng, khái quát hóa, đồng thời nghiên cứu, thực hiện khảo sát thực trạng một cách độc lập để nội dung phần thực trạng pháp luật về xác minh điều kiện THADS của luận án tại thời điểm hiện nay luôn đảm bảo tính mới, tính thời sự của nội dung nghiên cứu

- Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu, ngoài việc đánh giá những thành tựu của THADS nói chung và xác minh điều kiện THADS nói riêng, cũng đã phản ánh tình trạng non kém về nghiệp vụ, khả năng áp dụng pháp luật chưa đúng, chưa đầy đủ liên quan đền trình độ, năng lực và đạo đức của CHV khi xác minh điều kiện THADS… Từ góc độ của những người trong nghề THA, những tài liệu mang tính khảo sát thực tế này sẽ rất hữu ích cho NCS khi nghiên cứu luận án với nhiều góc nhìn khác nhau về thực trạng áp dụng pháp luật xác minh điều kiện THADS

*Về giải pháp

Các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra một số giải pháp sau:

- Các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về xác minh điều kiện THADS: thời hạn xác minh, xử lý kết quả xác minh, trách nhiệm của người tiến hành xác minh, trách nhiệm của người phải THA, trách nhiệm phối hợp của các cơ quan có liên quan trong hoạt động xác minh cần phải được quy định minh bạch, phù hợp hơn

- Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xác minh như tuyên truyền pháp luật; động viên, khích lệ người cung cấp thông tin, người phải THA tự nguyện thi hành; nâng cao đào tạo, bồi dưỡng cho CHV, TPL về kiến thức pháp luật

Trang 26

1.1.4.2 Những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu trong luận án

*Về lý luận

- Khái niệm về xác minh điều kiện THADS chưa được xây dựng một cách đầy

đủ, chưa lột tả hết bản chất của hoạt động xác minh điều kiện THADS Do đó, nhiệm

vụ đặt ra là phải tổng hợp đầy đủ, phân tích kỹ lưỡng, khoa học các quan niệm đã có

về xác minh điều kiện THADS, từ đó, xây dựng được khái niệm về xác minh điều kiện THADS phù hợp hơn với điều kiện mới và tiếp cận giá trị chung của thế giới

- Đặc điểm xác minh điều kiện THADS cũng cần được nhìn nhận một cách toàn diện hơn, không những để phân biệt với hoạt động khác trong THADS, mà quan trọng hơn là để nhận diện cho đúng, cho đầy đủ giá trị riêng có của xác minh điều kiện THADS ở Việt Nam, từ đó, thực hiện việc đổi mới, hoàn thiện pháp luật

về xác minh điều kiện THADS một cách phù hợp

- Xác minh điều kiện THADS phải được nghiên cứu trong về các mối quan

hệ với quy trình THADS; quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ xác minh; thủ tục xác minh điều kiện THADS với luật nội dung liên quan; xác minh điều kiện THADS với các điều kiện đảm bảo thực hiện… Nội hàm của từng mối quan hệ, mức độ tác động giữa các mối quan hệ và hệ quả tác động giữa các mối quan hệ với nhau cần được phân tích, lý giải rõ Đây là những nội dung cần được nghiên cứu và khái quát hóa về mặt lý luận

*Về thực trạng

- Thực trạng quy định của pháp luật về xác minh theo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật THADS 2014 đã được nghiên cứu ở các góc độ, các lát cắt khác nhau Nhiệm vụ của luận án là: một mặt, phải hệ thống hoá một cách đầy đủ những phân tích, đánh giá đã có; mặt khác, tiếp tục nghiên cứu, khảo sát, đánh giá một cách toàn diện hơn, trên cơ sở đó phác hoạ được bức tranh toàn cảnh về các quy định của pháp luật hiện hành về xác minh điều kiện THADS

- Thực trạng áp dụng pháp luật về xác minh điều kiện THADS từ năm 2015 đến nay cần được nghiên cứu, đánh giá một cách khách quan, toàn diện và sâu sắc, qua đó, làm rõ mặt được, mặt còn hạn chế của thực thi pháp luật về xác minh điều kiện THADS

- Việc đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về xác minh điều kiện THADS cần được đặt trong mối liên hệ với pháp luật thực định, yêu cầu giải quyết án tồn đọng - một nhiệm vụ quan trọng của ngành thi hành án; phân tích các yếu tố tác

Trang 27

động, tìm ra những nguyên nhân của những tồn tại, khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật

*Về giải pháp

Trên cơ sở nhận thức lý luận cũng như đánh giá thực trạng pháp luật về xác minh điều kiện THADS, luận án có nhiệm vụ đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xác minh điều kiện THADS hiện nay Các giải pháp đảm bảo cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động xác minh điều kiện THADS phải trên cơ sở các tiêu chí cụ thể, đảm bảo tính hiệu quả và hội nhập quốc tế

1.2 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu đề tài luận án

Để tiến hành nghiên cứu nội dung của đề tài này, luận án dựa trên các cơ sở

lý thuyết như sau:

(1) Lý thuyết về xét xử công bằng: THADS là một giai đoạn quan trọng để đảm bảo hiện thực hoá các quyền được toà án ghi nhận Nếu không có sự bảo đảm THA nhanh chóng, hiệu quả thì quyền được tiếp cận công lý và quyền được xét xử công bằng sẽ trở nên vô nghĩa Theo án lệ của Toà án nhân quyền châu Âu, việc thi hành bản án hoặc quyết định của Toà án phải được coi là một phần không thể thiếu của

“phiên toà” theo nghĩa của Điều 6 Công ước châu Âu [99, pg 60] Do vậy, lý thuyết về xét xử công bằng có giá trị quan trọng trong việc nghiên cứu lý luận về căn cứ xác minh điều kiện THADS, cũng như là một trong những cơ sở để đưa ra các đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về xác minh điều kiện THADS

(2) Lý thuyết về tính minh bạch của thông tin, bảo vệ dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư: Do xác minh điều kiện THADS là hoạt động tìm kiếm các thông tin về điều kiện THADS của người phải THA nên lý thuyết về tính minh bạch của thông tin, lý thuyết về bảo vệ dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư cũng là một trong những cơ

sở lý thuyết của luận án

(3) Lý thuyết về cân bằng quyền lợi của các bên đương sự: Xác minh điều kiện THADS là hoạt động có mục đích nhằm tổ chức thi hành bản án, quyết định có hiệu lực thi hành Trong hoạt động THADS, có hai chủ thể trung tâm với các quyền, lợi ích đối nghịch nhau là người được THA và người phải THA Xác minh điều kiện THADS là một hoạt động của quá trình THADS, do đó, lý thuyết về cân bằng quyền lợi của các bên đương sự cũng cần được xem xét khi nghiên cứu các vấn đề

lý luận về xác minh điều kiện THADS

Trang 28

(4) Lý thuyết về quyền tự định đoạt trong quan hệ tư: Xác minh điều kiện THADS là một công đoạn của hoạt động THADS Hoạt động này có đặc trưng cơ bản là bảo vệ cho “lợi ích tư” nên thuộc phạm vi điều chỉnh của luật tư Theo nguyên tắc của luật tư, quan hệ tài sản hay nhân thân đều do các bên tự định đoạt

Do vậy, lý thuyết về quyền tự định đoạt sẽ là một nội dung quan trọng khi nghiên cứu các vấn đề lý luận về xác minh điều kiện THADS

1.3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Luận án đã xác định các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu tập trung vào ba nội dung lớn mà đề tài luận án cần nghiên cứu đó là: lý luận, thực trạng và kiến nghị liên quan tới vấn đề xác minh điều kiện THADS theo pháp luật Việt Nam hiện nay

(1) Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu về lý luận:

Ở Việt Nam hiện nay đã xây dựng được một nền tảng lý luận về xác minh điều kiện THADS chưa? Những vấn đề lý luận tạo lập nên nền tảng đó là những gì

và chúng như thế nào?

Giả thuyết nghiên cứu:

Hiện ở Việt Nam vẫn chưa xây dựng được nền tảng lý luận hoàn chỉnh về xác minh điều kiện THADS Các nhà nghiên cứu chưa nhìn nhận đầy đủ về các thành tố của nền tảng lý luận về xác minh điều kiện THADS, chưa làm rõ được các nội dung chủ yếu của các bộ phận cấu thành nên nền tảng lý luận đó

(2) Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu về thực trạng pháp luật Việt Nam:

Pháp luật về xác minh điều kiện THADS ở Việt Nam hiện nay có xuất phát

từ các nguyên lý khách quan hay nền tảng lý luận thực sự hay không, có đáp ứng được nhu cầu của xã hội không, có những ưu điểm và hạn chế gì, nguyên nhân của những vướng mắc, bất cập đó là gì?

Giả thuyết nghiên cứu:

Môi trường pháp lý của Việt Nam hiện nay vẫn chưa thực sự phù hợp đối với việc phát triển xác minh điều kiện THADS Nguyên nhân của những bất cập của các quy định pháp luật trong lĩnh vực này bao gồm cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan, nhưng chủ yếu là do chưa có một nền tảng lý luận pháp luật vững chắc về xác minh điều kiện THADS

Trang 29

(3) Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu về giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam hiện nay

Tại sao cần thiết phải hoàn thiện chế định xác minh điều kiện THADS? Việc hoàn thiện chế định pháp luật này cần phải tuân thủ các yêu cầu nào để phù hợp với các nguyên lý khách quan và đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thực tiễn xã hội? Các giải pháp để hoàn thiện chế định này là những gì?

Giả thuyết nghiên cứu:

Việc hoàn thiện chế định pháp luật xác minh điều kiện THADS là một nhu cầu cấp thiết nhằm cải thiện hiệu quả công tác THADS, một trong những vấn đề được xã hội quan tâm trong giai đoạn gần đây Các yêu cầu và giải pháp hoàn thiện phải phù hợp với các nguyên lý khách quan, đồng bộ với các chế định pháp luật khác trong hệ thống pháp luật và phù hợp với thực tiễn xã hội Việt Nam

Tiểu kết chương 1

Chương 1 của luận án đã khái quát hoá được bức tranh về tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án Về tình hình nghiên cứu lý luận về xác minh điều kiện THADS, các công trình nghiên cứu khoa học trong nước đã bước đầu đặt ra và lý giải khá rõ những vấn đề lý luận về xác minh điều kiện THADS như: khái niệm, đặc điểm xác minh điều kiện THADS; nội dung điều chỉnh pháp luật về xác minh điều kiện THADS (chủ thể xác minh, nội dung xác minh, thủ tục xác minh, thời hạn xác minh; vai trò, ý nghĩa của xác minh điều kiện THADS; một số yếu tố ảnh hưởng đến xác minh điều kiện THADS) Tuy nhiên, mỗi công trình nghiên cứu đều chỉ đề cập đến một số khía cạnh của xác minh điều kiện THADS mà chưa đầy

đủ, toàn diện và đủ độ sâu sắc để làm nên nền tảng lý luận vững chắc về vấn đề này Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài về xác minh điều kiện THADS tuy rất sâu sắc nhưng cũng chỉ dừng lại ở giá trị chung của nhân loại Đây là những nghiên cứu có giá trị tham khảo đối với luận án để hoàn thiện khung pháp lý về xác minh điều kiện THADS Từ đánh giá tình hình nghiên cứu về lý luận, nhiệm vụ của luận án là cần phải xây dựng khái niệm về xác minh điều kiện THADS cho phù hợp hơn với bản chất của hoạt động xác minh điều kiện THADS

và tiếp cận với kinh nghiệm của một số nước trên thế giới; luận giải các yếu tố tác động đến hoạt động xác minh điều kiện THADS và nội dung quy định pháp luật về xác minh điều kiện THADS

Trang 30

Về tình hình nghiên cứu thực trạng pháp luật và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về xác minh điều kiện THADS, một số công trình nghiên cứu trong nước cũng đã đánh giá một số khía cạnh về thực trạng pháp luật và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về xác minh điều kiện THADS Tuy nhiên, mỗi công trình nghiên cứu trên mới chỉ là những “lát cắt” nhỏ trong bức tranh tổng thể về thực trạng cũng như giải pháp hoàn thiện pháp luật về xác minh điều kiện THADS Từ

đó, đặt ra nhiệm vụ của NCS là kế thừa có chọn lọc các thông tin trong các tài liệu nghiên cứu về thực trạng, khái quát hóa, đồng thời nghiên cứu, thực hiện khảo sát thực trạng một cách độc lập để nội dung phần thực trạng pháp luật tại thời điểm hiện nay nhằm đảm bảo tính mới, tính thời sự của nội dung nghiên cứu Đồng thời, luận án có nhiệm vụ đưa ra những kiến nghị, những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xác minh điều kiện THADS Các giải pháp đảm bảo cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động xác minh điều kiện THADS phải trên

cơ sở các tiêu chí cụ thể, đảm bảo tính hiệu quả và hội nhập quốc tế

Trang 31

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VỀ XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

2.1 Khái niệm, đặc điểm xác minh điều kiện thi hành án dân sự

2.1.1 Khái niệm xác minh điều kiện thi hành án dân sự

THADS là hoạt động đưa các bản án, quyết định về dân sự của toà án ra thi hành trên thực tế nhằm hiện thực hoá quyền và lợi ích hợp pháp của người được THA đã được xác định trong bản án, quyết định THADS đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng niềm tin của người dân vào toà án và hệ thống tư pháp nói chung, bảo đảm quyền con người, đặc biệt là quyền tiếp cận công lý và quyền được xét xử công bằng [98]

Trong những năm gần đây cộng đồng quốc tế đã có nhiều nghiên cứu và đưa

ra khuyến nghị về mô hình THADS có hiệu quả, không phụ thuộc vào mô hình tổ chức THADS là mô hình công hay tư, gắn với toà án hay không gắn với toà án Theo khuyến nghị về THADS của Hội đồng châu Âu năm 2003, mô hình THADS hiệu quả bao gồm hai thành tố chủ đạo: thủ tục thi hành án (enforcement procedures) và con người – tức là cán bộ thi hành án (enforcement agents) [98] Theo một tài liệu trong chuỗi nghiên cứu về nhà nước pháp quyền của Quỹ quốc tế

về các hệ thống bầu cử (IFES) – một tổ chức phi chính phủ ở Mỹ, mô hình thi hành

án hiệu quả gồm 12 tiêu chí [105] Cả hai mô hình THADS do EU và IFES khuyến nghị đều đề cập đến một yếu tố không thể thiếu, đó là cơ chế xác minh điều kiện THADS hữu hiệu, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc tiếp cận các thông tin về người phải THA Có thể nói, xác minh điều kiện THADS là hoạt động trung tâm, quan trọng nhất của quá trình tổ chức THADS [85] Kết quả xác minh là cơ sở để

cơ quan THADS thuyết phục đương sự tự nguyện THA, ra các quyết định khác trong quá trình thi hành án, lựa chọn áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án… [47, tr.90]

Với tầm quan trọng đặc biệt như vậy nhưng khái niệm xác minh điều kiện THADS ít được các nhà khoa học và các nhà hoạt động thực tiễn cả ở Việt Nam và

ở nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm nghiên cứu Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các nội dung như chủ thể xác minh, phương thức xác minh, thủ tục xác minh

Trang 32

Về mặt ngữ nghĩa, khái niệm “xác minh điều kiện thi hành án dân sự” được hợp thành bởi hai cụm từ “xác minh” và “điều kiện thi hành án dân sự” Theo Từ điển Từ và ngữ Việt Nam do Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm

1998 thì "xác minh" được hiểu là làm cho rõ với chứng cứ cụ thể [55, tr.2061], còn theo Đại Từ điển Tiếng Việt do Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin xuất bản năm

1998 thì "xác minh" được hiểu là làm rõ thực chất sự việc với những chứng cứ cụ thể [91, tr.1848] Như vậy, có thể hiểu "xác minh" là việc đi tìm các chứng cứ, tài liệu để tìm hiểu, làm rõ một hoặc nhiều vấn đề nào đó Xác minh được tiến hành bởi chủ thể nhất định, tùy theo mục đích và yêu cầu của vấn đề cần được xác minh mà chủ thể tiến hành xác minh là chủ thể nào

Điều kiện THADS là khả năng để có thể thực hiện việc THADS Pháp luật

về THADS đã định nghĩa có điều kiện thi hành án là trường hợp người phải thi hành án có tài sản, thu nhập để thi hành nghĩa vụ về tài sản; tự mình hoặc thông qua người khác thực hiện nghĩa vụ thi hành án [75, khoản 6 Điều 3]

Như vậy, bản chất của xác minh điều kiện THADS chính là làm rõ tình hình tài sản, thu nhập của người phải THA (trong trường hợp thi hành nghĩa vụ trả tiền)

và làm rõ khả năng thực hiện việc THA (trong trường hợp thi hành nghĩa vụ thuộc

về hành vi) Ở nhiều quốc gia trên thế giới, pháp luật gọi tên hoạt động này đúng theo bản chất của nó thay vì cách sử dụng thuật ngữ mang tính chất khái quát như ở Việt Nam Ví dụ ở Mỹ, các nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn gọi hoạt động xác minh điều kiện THADS của người phải THA là xác định tài sản của người phải THA (Locate a debtor’s assets) [111] hay là tìm kiếm tài sản của người phải THA (discovery to find the debtor’s assets) [94] Ở Pháp, người ta dùng thuật ngữ nhận diện tài sản (identifying assets) [96] Giáo sư Burkhard Hess thì dùng thuật ngữ thu thập thông tin nhằm mục đích THA (gathering of information for enforcement purposes) [107, tr.51] và thuật ngữ tìm kiếm thông tin về nơi có tài sản của người phải THA (seek information about the whereabout of the debtor’s assets) [106, tr.17]

Tiếp cận khái niệm xác minh dưới khía cạnh đặc trưng của hoạt động xác minh, tác giả Hoàng Thị Thu Trang định nghĩa:

"Xác minh điều kiện THADS là việc CHV thu thập thông tin, tiếp cận, xác định đối tượng, mục tiêu cần phải thi hành (tài sản, thu nhập của người phải thi hành

án, vật, giấy tờ, nhà phải trả…) và các thông tin khác phục vụ cho quá trình tổ chức thi hành án như: Nhân thân, hoàn cảnh gia đình của người phải thi hành án” [85]

Trang 33

Định nghĩa này đã nêu lên được các đặc trưng của hoạt động bao gồm chủ thể của hoạt động là CHV; nội dung của hoạt động là thu thập thông tin, tiếp cận, xác định đối tượng, mục tiêu cần phải THA (tài sản, thu nhập của người phải THA, vật, giấy tờ, nhà phải trả, nhân thân, hoàn cảnh gia đình…); mục đích của hoạt động

là nhằm tổ chức THA Tuy nhiên, khi đối chiếu định nghĩa này với đặc trưng của hoạt động xác minh điều kiện THADS, có thể thấy, định nghĩa này chưa chính xác

ở những điểm sau:

- Thứ nhất, về chủ thể tiến hành hoạt động xác minh: nếu chỉ coi hoạt động xác minh là hoạt động của CHV là chưa phù hợp bởi CHV không phải là chủ thể duy nhất của hoạt động xác minh điều kiện THADS Mỗi quốc gia trên thế giới lựa chọn trao quyền xác minh điều kiện THADS cho các chủ thể khác nhau tuỳ thuộc vào cách nhìn nhận của họ đối với hoạt động xác minh cũng như mô hình tổ chức THA mà quốc gia đó lựa chọn Ví dụ, ở Mỹ, với quan niệm xác minh điều kiện THADS cũng giống như hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự nên pháp luật đã trao nhiệm vụ xác minh cho người được THA [112, Rule 69 (2)] Ở Pháp, xác minh điều kiện THADS được giao cho TPL do mô hình tổ chức THA mà quốc gia này lựa chọn là mô hình THA tư nhân [113, Điều L.152] Ở Trung Quốc, xác minh điều kiện THADS được giao cho thẩm phán do mô hình tổ chức THA mà quốc gia này lựa chọn là mô hình THA dựa vào toà án [103, pg.572] Ở Việt Nam, xác minh điều kiện THADS cũng không phải là hoạt động độc quyền của CHV mà còn là hoạt động của TPL

- Thứ hai, về nội dung của hoạt động xác minh: nội dung của hoạt động xác minh không phải là tiếp cận, xác định đối tượng, mục tiêu cần phải THA mà chỉ là thu thập, xác định tài sản, thu nhập và khả năng THA của người phải THA Xác minh điều kiện THADS là một trình tự, thủ tục của hoạt động THADS Do đó, việc xác minh điều kiện THADS hướng tới mục đích là để tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực thi hành Và để tổ chức THA hiệu quả thì người phải THA phải có điều kiện, khả năng để thi hành nghĩa vụ Vì vậy, nội dung của hoạt động xác minh chính là xác định tài sản, thu nhập, khả năng THA

Ngoài ra, do định nghĩa nói trên không đặt xác minh điều kiện THADS trong mối liên hệ với hoạt động THADS nên chưa làm rõ được vị trí của xác minh điều kiện THADS trong THADS

Trang 34

Với các phân tích trên, NCS đưa ra định nghĩa về xác minh điều kiện

THADS như sau: “Xác minh điều kiện thi hành án dân sự là một thủ tục THADS,

trong đó, người được nhà nước giao quyền thực hiện các trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định nhằm thu thập thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án khác của người phải thi hành án để làm căn cứ tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật.”

2.1.2 Đặc điểm xác minh điều kiện thi hành án dân sự

- Xác minh điều kiện THADS là một thủ tục THADS

Xác minh điều kiện THADS là thủ tục THADS, đồng thời là một trong các thủ tục quan trọng của hoạt động THADS Một trong những nguyên tắc được khẳng định trong bản Hướng dẫn thực hiện tốt hơn khuyến nghị của Hội đồng châu Âu về THA là “Để pháp luật được duy trì và để người dân có niềm tin vào hệ thống toà án, cần có các quy trình THA hiệu quả Tuy nhiên, việc THA chỉ có thể đạt được khi người phải THA có điều kiện hoặc khả năng thoả mãn bản án” [100] Như vậy, xác minh điều kiện THADS là một thủ tục trong quy trình THADS, do đó, không có hoạt động THADS thì không có hoạt động xác minh điều kiện THADS Đặc điểm này giúp lý giải cho lý do vì sao pháp luật của nhiều nước yêu cầu để được quyền thu thập các thông tin về điều kiện THADS của người phải THA thì người được THA phải xuất trình một văn bản chứng minh rằng mình có quyền THA Ở Pháp và Tây Ban Nha không cho phép tìm kiếm thông tin về tình hình tài chính của người phải THA trước khi có một giấy tờ (title) có thể THA chính thức [106, pg.34] Đặc điểm này cũng giúp phân biệt với hoạt động xác minh, thu thập thông tin của các chủ thể khác Ví dụ, cũng coi xác minh giống như hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự nhưng với hoạt động xác minh điều kiện THADS, người được THA còn được

hỗ trợ bởi quy định về việc bắt buộc phải cung cấp thông tin của người phải THA và bên thứ ba Bởi lẽ, khi đã bắt đầu với tiến trình THADS thì người phải THA đang phải thi hành một nghĩa vụ, do đó, cung cấp thông tin là một việc buộc phải làm, nếu trốn tránh sẽ là hành vi vi phạm nghĩa vụ và phải chịu hình phạt (như trong quy định pháp luật của Mỹ, Anh, Canada)

- Chủ thể thực hiện xác minh gắn bó chặt chẽ với hệ thống tổ chức THA mà mỗi quốc gia lựa chọn cũng như quan điểm của các nhà lập pháp đối với hoạt động xác minh điều kiện THADS

Trang 35

Thông thường với các hoạt động khác trong quy trình THA như thông báo THA, giải quyết việc THA, ghi nhận sự thoả thuận của các bên đương sự, cưỡng chế THA đều do người có thẩm quyền tổ chức THA (CHV/TPL/thẩm phán THA/cán bộ toà án) thực hiện thì hoạt động xác minh lại không đương nhiên được quy định như vậy

Các quốc gia theo quan điểm hoạt động THADS là hoạt động của cơ quan công quyền thì người có thẩm quyền tổ chức THA là công chức nhà nước, cơ quan THA là cơ quan nhà nước (có thể nằm trong hệ thống toà án hoặc nằm ngoài hệ thống toà án) Vì vậy, người thực hiện việc xác minh điều kiện THADS là các công chức nhà nước như Nga [103, tr.345], Italia [103, tr.452], Trung Quốc [103, tr.572]

Với các nước theo hệ thống pháp luật common law như Anh, Mỹ, Canada thì lựa chọn giao quyền chủ động xác minh cho người được THA với sự hỗ trợ từ toà

án và chế tài nghiêm khắc đối với hành vi không cung cấp thông tin của người phải THA [93], [102], [112]

Đối với các quốc gia lựa chọn hệ thống THA tư nhân hoặc bán tư nhân thì việc xác minh được giao cho TPL như Pháp [94, tr.23], Estonia, Bỉ, Montenegro [104, tr.7], Bulgaria [103, tr.419]

Ở Việt Nam, cả 3 chủ thể bao gồm CHV, TPL, người được THA đều có quyền xác minh điều kiện THADS nhưng với các phạm vi quyền hạn khác nhau Trong đó, CHV được giao quyền đầy đủ, trong mọi trường hợp, nếu không có yêu cầu khác từ người được THA thì đều phải xác minh TPL chỉ tiến hành xác minh khi đương sự hoặc người có quyền, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu xác minh hoặc yêu cầu tổ chức THA Người được THA được lựa chọn tự mình xác minh hoặc uỷ quyền cho người khác xác minh hoặc để CHV tiến hành xác minh

- Việc xác minh điều kiện THADS được thực hiện tại nhiều thời điểm, nhiều

địa điểm khác nhau trong quá trình THADS Việc xác minh điều kiện THADS được thực hiện tại nhiều thời điểm khác nhau trong quá trình THADS Chẳng hạn, trường hợp THA chủ động hoặc xác minh theo yêu cầu của đương sự thì việc xác minh điều kiện THADS được thực hiện sau khi hết thời gian tự nguyện THA Trường hợp sau khi người được THA tiến hành xác minh điều kiện THADS của người phải THA và nộp đơn yêu cầu THA mà CHV không đồng ý với kết quả xác minh này thì CHV sẽ tiến hành xác minh điều kiện THADS lại Trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì việc xác minh điều kiện THADS được thực hiện trước,

Trang 36

trong và sau khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Việc xác minh điều kiện THADS cũng được thực hiện tại nhiều địa điểm khác nhau tùy thuộc vào đối tượng xác minh Chẳng hạn, khi xác minh hiện trạng nhà đất thì địa điểm tiến hành xác minh là tại nơi có nhà đất, khi xác minh chủ sở hữu phương tiện giao thông thì địa điểm tiến hành xác minh là tại phòng cảnh sát giao thông; khi xác minh về tiền, tài khoản thì địa điểm xác minh là tại ngân hàng, các tổ chức tín dụng…

- Nội dung xác minh điều kiện THADS chủ yếu là làm rõ thông tin về thu

nhập, tài sản của người phải THA Phần lớn nghĩa vụ THADS là nghĩa vụ về tài sản Vì vậy, trừ những trường hợp đặc biệt cần xác minh về nhân thân, thái độ của người phải THA để thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện hoặc không thực hiện một công việc nhất định thì nội dung chủ yếu của việc xác minh là làm rõ thông tin về thu nhập, tài sản của người phải THA Để tổ chức THADS thì phải làm rõ tài sản, thu nhập của người phải THA có những gì? Số lượng và chủng loại cụ thể? Tài sản của người phải THA do họ giữ hay do người khác giữ? Tài sản vô hình hay tài sản hữu hình? Tài sản hiện có hay tài sản được hình thành trong tương lai?…

- Việc xác minh điều kiện THADS phải được thực hiện một cách đầy đủ,

chính xác theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định Pháp luật THADS quy định cụ thể về trình tự, thủ tục THADS nhằm đảm bảo hiệu quả THADS Xác minh điều kiện THADS là một khâu của quá trình THADS Vì vậy, việc xác minh điều kiện THADS phải được thực hiện một cách đầy đủ, chính xác theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định từ chủ thể xác minh, thể thức văn bản yêu cầu cung cấp thông tin, thời hạn thực hiện việc xác minh; nơi thực hiện việc xác minh, biên bản xác minh… để tránh những trường hợp áp dụng một cách tùy tiện

Ngoài những đặc điểm nêu trên, do xác minh điều kiện THADS là một thủ tục THADS nên xác minh điều kiện THADS còn có những đặc điểm của THADS như sau:

Một là, hoạt động THADS tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích của đương

sự và luôn chịu sự chống đối quyết liệt của đương sự

Sự tác động của hoạt động xét xử đến quyền, lợi ích của người khác thông qua việc Tòa án nhân danh nhà nước tuyên buộc một người, một nhóm người phải gánh chịu một hoặc nhiều nghĩa vụ nhất định Tuy nhiên, bản án của Tòa án mới chỉ

là trên bản án trên giấy Trên thực tế, người có nghĩa vụ chưa bị buộc phải thực hiện nghĩa vụ của mình dưới sự giám sát của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Nhưng

Trang 37

hoạt động THADS lại tác động trực tiếp tới quyền, lợi ích của cá nhân đương sự do phải thi hành nghĩa vụ của họ theo quyết định trong bản án, quyết định của Tòa án

và của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác Trong quá trình THA, CHV phải tác động vào chính những quyền lợi thiết thân của người phải THA, như buộc họ phải trả tiền, nếu họ không tự nguyện trả tiền thì sẽ kê biên và bán tài sản của họ, yêu cầu cơ quan quản lý thu nhập của người phải THA trừ vào thu nhập của họ, yêu cầu người đang giữ tiền hoặc tài sản của người phải THA phải giao tiền, tài sản đó cho

cơ quan THA Và cũng chính vì vậy mà hoạt động THADS luôn chịu sự chống đối quyết liệt của đương sự Thực tiễn cho thấy, không phải lúc nào các đương sự cũng thỏa mãn với phán quyết của Tòa án, thậm chí, sự chống đối với phán quyết của Tòa án là tương đối cao Các đương sự luôn cho là mình đúng; quyền, lợi ích của mình là hợp pháp và cần được bảo vệ Do đó, họ sẽ chống đối và chống đối đến cùng nếu Tòa án không bảo vệ cho quyền, lợi ích của họ Tuy nhiên, việc xét xử của Tòa án cũng có giới hạn của nó, đến một thời điểm nhất định, trong giới hạn luật định, phán quyết của Tòa án là quyết định cuối cùng và đương sự buộc phải thực hiện phán quyết Và lúc phán quyết của Tòa án, hay nói cách khác là bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, không có kháng cáo, kháng nghị thì cơ quan THA có nghĩa vụ thi hành bản án, quyết định đó Lúc này, sự phản kháng, sự chống đối của người phải THA sẽ mãnh liệt hơn bao giờ hết Họ cho rằng một tài sản nào

đó đáng lẽ là thuộc về họ thì lại bị cơ quan THA lấy đi Sau rất nhiều năm có nhà cửa đàng hoàng thì bỗng chốc họ trở thành “kẻ không nhà” (trong trường hợp cơ quan THA thực hiện biện pháp cưỡng chế buộc giao nhà)

Hai là, hoạt động THADS không có tính độc lập tuyệt đối mà luôn phải có

sự phối hợp chặt chẽ với các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan

Như đã phân tích ở trên, do tính chất phức tạp của hoạt động THADS, trong quá trình tổ chức THA, CHV cần phải có sự phối hợp, hỗ trợ của các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan Mối quan hệ phối hợp này được thể hiện ngay trong những quy định của pháp luật về THADS Cụ thể, Điều 169 Luật THADS quy định

về nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Công an trong THADS, Điều 170 Luật THADS quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong THADS, Điều 171 Luật THADS quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND tối cao trong THADS, Điều 173, Điều 174, Điều 175 Luật THADS quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã trong

Trang 38

THADS; Điều 176 Luật THADS quy định về trách nhiệm của Kho bạc nhà nước, ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác trong THADS; Điều 177 Luật THADS quy định về trách nhiệm của Bảo hiểm xã hội trong THADS; Điều 178 Luật THADS quy định về trách nhiệm của cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm trong THADS

Thực tiễn THA cho thấy, các cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan có vai trò rất lớn trong quá trình tổ chức THA của cơ quan THADS Chẳng hạn như để tổ chức buổi cưỡng chế THA, cơ quan THA phải có sự phối hợp với các cơ quan liên quan như UBND, Phòng tài nguyên môi trường, Công an… Với những vụ án phức tạp cơ quan THA phải báo cáo với Ban chỉ đạo THA để xin ý kiến chỉ đạo Hoặc để

cơ quan THA xác minh được tài khoản, thu nhập của người phải THA thì phải có sự phối hợp của Kho bạc nhà nước, Ngân hàng, Bảo hiểm xã hội

Ba là, hoạt động THADS ở Việt Nam đang ngày càng tăng cả về số lượng án

phải thi hành và tính chất phức tạp của các vụ việc

Với chủ trương kiên trì đường lối đổi mới trong việc chuyển đổi nền kinh tế

từ tập trung bao cấp sang phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, nền kinh tế xã hội Việt Nam trong thời gian qua đã và đang có những chuyển biến quan trọng theo chiều hướng ngày càng phát triển năng động, phong phú và đa dạng, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện, trình độ dân trí tiếp tục được nâng lên Song bên cạnh đó, cơ chế thị trường cũng vận động theo quy luật khách quan của nó, đó là quy luật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh Chấp nhận kinh tế thị trường là phải thừa nhận và chịu sự chi phối, tác động của các quy luật khách quan đó Trước đây trong cơ chế tập trung bao cấp, các tranh chấp kinh

tế thường được giải quyết theo thủ tục trọng tài kinh tế nhà nước, các tranh chấp dân sự thường nhỏ, tính chất ít phức tạp, phạm vi công tác THA chủ yếu là tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về dân sự, hôn nhân và gia đình, phần dân sự trong bản án, quyết định về hình sự Hiện nay, trong điều kiện phát triển kinh

tế thị trường định hướng XHCN, giao lưu dân sự - kinh tế ngày càng phát triển đa dạng và phong phú, “với đa dạng các chủ thể kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận, trên cơ sở nguyên tắc tự do kinh doanh, tự do khế ước, tự do hợp đồng, sẽ làm phát sinh vô số các quan hệ kinh tế, dân sự, thương mại Tính rủi ro trong các quan hệ này chắc chắn sẽ

Trang 39

làm phát sinh các tranh chấp về lợi ích giữa các chủ thể” Đặc biệt, những quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 đã tạo ra môi trường pháp lý thông thoáng, bảo đảm cho tổ chức, cá nhân thực hiện các quyền dân sự của mình một cách chủ động và an toàn trong nền kinh tế thị trường, góp phần ổn định và phát triển đời sống dân sự Người lao động được coi là yếu tố trọng tâm của kinh tế thị trường, nhưng trước những khuyết tật của nền kinh tế thị trường là luôn trong tình trạng khủng hoảng và thất nghiệp thì họ lại luôn đứng trước nguy cơ bị xâm phạm quyền lợi và sa thải, không có việc làm Bên cạnh những mặt năng động, tích cực do nền kinh tế thị trường mang lại thì đồng thời mặt trái của cơ chế thị trường cũng đã bộc lộ và tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội Tình trạng vi phạm pháp luật và tội phạm, nhất là các tội phạm về kinh tế, buôn lậu, tham nhũng lớn, các tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động, hành chính không ngừng gia tăng Số lượng vụ việc mà Tòa án các cấp đã giải quyết ngày càng tăng, giá trị tiền, tài sản phải thi hành ngày càng lớn, tính chất ngày càng phức tạp Chính vì vậy, các vụ việc THADS đang ngày càng gia tăng cả về số lượng, giá trị tiền THA cũng như tính chất phức tạp Cụ thể, thống kê kết quả THA trên toàn quốc từ năm 2016 đến nay như sau:

Năm 2016 tổng số việc phải THA là 642.885 việc, tổng số tiền phải THA là 46.505.104.227.000 đồng [12];

Năm 2017 tổng số việc phải THA là 732.179 việc, tổng số tiền phải THA là 70.562.600.894.000 đồng [13];

Năm 2018 tổng số việc phải THA là 779.298 việc, tổng số tiền phải THA là 95.108.655.390.000 đồng [14];

Năm 2019 tổng số việc phải THA là 791.412 việc, tổng số tiền phải THA là 125.956.077.215.000 đồng [15];

Bên cạnh xu hướng gia tăng số lượng vụ việc và giá trị tiền THA thì tính chất của các vụ việc THA cũng đang ngày càng trở lên phức tạp hơn Cụ thể, số vụ việc THA kinh doanh thương mại tăng nhanh, đặc biệt là án tín dụng ngân hàng Tại Hội nghị sơ kết thực hiện Quy chế 01 về phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tư pháp trong công tác THADS, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục THADS Nguyễn Văn Sơn cho biết: Năm 2015 và 6 tháng đầu năm 2016, số việc phải thi hành cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng là 33.365 việc, tương ứng với số tiền phải thi hành khoảng 130 nghìn tỷ đồng [41] Không những số lượng ngày càng tăng mà án tín dụng ngân hàng là loại án gây nhiều khó khăn, phức tạp cho cơ quan

Trang 40

THA trong quá trình thi hành từ khâu xác minh điều kiện THA đến khi xử lý tài sản thế chấp Nhiều trường hợp tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất có sự chênh lệch diện tích giữa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được ghi tại bản án với thực tế xác minh, hoặc bị chồng lấn sang diện tích đất của người khác Các tài sản thế chấp

là động sản như: ôtô, tàu thuyền… khi yêu cầu THA, ngân hàng chỉ cung cấp được

hồ sơ thế chấp tài sản mà không xác định được tài sản hiện nay đang ở đâu, đây cũng là vướng mắc lớn cho cơ quan THA khi tiến hành xác minh điều kiện THA Ngoài ra, nhiều trường hợp tài sản thế chấp là nhà xưởng được xây dựng trên quyền

sử dụng đất thuê khu công nghiệp cũng gây không ít rắc rối cho cơ quan THA

Ngoài ra, còn có một số vụ việc THA nổi cộm gần đây, được dư luận xã hội quan tâm đó là các vụ việc liên quan đến các tội phạm về kinh tế, với các tội danh như cố ý làm trái các quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công

vụ, nổi lên một số vụ việc điển hình, như: vụ Phạm Thanh Bình (Vinashin), vụ Nguyễn Đức Kiên, vụ Vũ Quốc Hảo (Công ty đầu tư tài chính II), vụ Huỳnh Thị Huyền Như… Ngoài việc bị tuyên xử các hình phạt nghiêm khắc, người phải THA trong các vụ án này còn phải thi hành phần trách nhiệm dân sự với giá trị phải thi hành rất lớn, có trường hợp số tiền phải THA lên đến hàng nghìn tỷ đồng Tuy số tiền phải THA lớn, nhưng tài sản để bảo đảm THA lại có giá trị rất nhỏ, không đủ thi hành nghĩa vụ mà bản án đã tuyên Ví dụ, việc THA đối với Dương Chí Dũng trong vụ Vinalines, theo quyết định của bản án thì Dương Chí Dũng và đồng bọn phải liên đới bồi thường cho Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam trên 358 tỷ đồng (chia theo phần: Dương Chí Dũng phải nộp 110 tỷ đồng) Quá trình THA, cơ quan THA đã xử lý tài sản đã kê biên và thu được trên 14 tỷ đồng, trong khi nghĩa vụ THA của Dương Chí Dũng còn rất lớn Ngoài các tài sản đã được kê biên, tuyên xử

lý trong bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan THADS khó có thể xác minh được thêm tài sản hoặc nguồn thu nhập khác, vì tội phạm tham nhũng thường tìm mọi cách để tẩu tán, che giấu, hợp lý hóa tài sản…[82]

2.2 Ý nghĩa của xác minh điều kiện thi hành án trong hoạt động thi hành án dân sự

Xác minh có vai trò quan trọng đối với hầu hết các giai đoạn khác nhau của quá trình THADS Kết quả xác minh sẽ là cơ sở, định hướng để CHV tổ chức thi hành theo đúng quy định pháp luật, trên cơ sở kết quả xác minh một cách toàn diện

Ngày đăng: 17/04/2023, 10:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[12] Bộ Tư pháp (2016), Báo cáo Tổng kết công tác thi hành án dân sự, hành chính năm 2016 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác năm 2017 [13] Bộ Tư pháp (2017), Báo cáo Tổng kết công tác thi hành án dân sự, hành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết công tác thi hành án dân sự, hành chính năm 2016 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác năm 2017" [13] Bộ Tư pháp (2017)
Tác giả: Bộ Tư pháp (2016), Báo cáo Tổng kết công tác thi hành án dân sự, hành chính năm 2016 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác năm 2017 [13] Bộ Tư pháp
Năm: 2017
[17] Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Lao động thương binh xã hội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2014), Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-BTP-BTC- BLĐTBXH-NHNNVN hướng dẫn việc cung cấp thông tin về tài khoản, thu nhập của người phải thi hành án và thực hiện phong toả, khấu trừ để thi hành án dân sự, ban hành ngày 14/01/2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-BTP-BTC-BLĐTBXH-NHNNVN hướng dẫn việc cung cấp thông tin về tài khoản, thu nhập của người phải thi hành án và thực hiện phong toả, khấu trừ để thi hành án dân sự
Tác giả: Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Lao động thương binh xã hội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2014
[18] Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2014), Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BTP-NHNNVN hướng dẫn việc xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại tại các tổ chức tín dụng, ban hành ngày 17/01/2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BTP-NHNNVN hướng dẫn việc xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại tại các tổ chức tín dụng
Tác giả: Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2014
[19] Claude Brenner (2006), “Lựa chọn mô hình tổ chức thi hành án phù hợp với điều kiện của mỗi quốc gia”, Tạp chí nghiên cứu Lập pháp, số 79, tháng 7/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn mô hình tổ chức thi hành án phù hợp với điều kiện của mỗi quốc gia”, "Tạp chí nghiên cứu Lập pháp
Tác giả: Claude Brenner
Năm: 2006
[20] Hồ Quân Chính (2010), “Một số vấn đề về kê biên phần vốn góp theo Điều 92 Luật thi hành án dân sự năm 2008”,<https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2010/12/05/m%cc%a3t-s%cc%81-v%cc%81n-d%cc%80-v%cc%80-k-bin-ph%cc%80n-v%cc%81n-go%cc%81p-theo-di%cc%80u-92-lu%cc%a3t-thi-ha%cc%80nh-a/> (ngày 17/5/2020) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Quân Chính (2010), "“Một số vấn đề về kê biên phần vốn góp theo Điều 92 Luật thi hành án dân sự năm 2008”
Tác giả: Hồ Quân Chính
Năm: 2010
[21] Hồ Quân Chính (2011), “Những vấn đề thực tiễn về xác minh, cung cấp thông tin và hướng hoàn thiện” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thực tiễn về xác minh, cung cấp thông tin và hướng hoàn thiện
Tác giả: Hồ Quân Chính
Năm: 2011
[22] Chính phủ (2009), Nghị định số 58/2009/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự, ban hành ngày 13/7/2009, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 58/2009/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
[23] Chính phủ (2009), Nghị định số 61/2009/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh, ban hành ngày 24/7/2009, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 61/2009/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
[24] Chính phủ (2012), Nghị định số 11/2012/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, ban hành ngày 22/02/2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 11/2012/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
[25] Chính phủ (2020), Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, ban hành ngày 15/7/2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2020
[26] Chính phủ (2015), Báo cáo số 557/BC-CP về hoạt động tương trợ tư pháp năm 2015, ban hành ngày 21/10/2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 557/BC-CP về hoạt động tương trợ tư pháp năm 2015
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
[27] Chính phủ (2015), Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, ban hành ngày 18/7/2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
[28] Chính phủ (2016), Nghị định số 171/2016/NĐ-CP về đăng ký, xoá đăng ký, mua bán, đóng mới tàu biển, ban hành ngày 27/12/ 2016, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 171/2016/NĐ-CP về đăng ký, xoá đăng ký, mua bán, đóng mới tàu biển
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2016
[29] Chính phủ (2020), Nghị định số 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại, ban hành ngày 08/01/2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2020
[30] Chính phủ (2020), Nghị định số 33/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, ban hành ngày 17/3/2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 33/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2020
[31] Doãn Công (2016), “Bình Định: Cán bộ thi hành án bị tố “hiến kế” để bị đơn tẩu tán tài sản”, <https://dantri.com.vn/ban-doc/binh-dinh-can-bo-thi- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình Định: Cán bộ thi hành án bị tố “hiến kế” để bị đơn tẩu tán tài sản
Tác giả: Doãn Công
Năm: 2016
[40] Trần Viết Hải (2019), Thủ tục phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự từ thực tiễn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sỹ luật học, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự từ thực tiễn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
Tác giả: Trần Viết Hải
Năm: 2019
[41] Thu Hằng (2016), “Thi hành án liên quan đến tín dụng, ngân hàng: Cần có các giải pháp cụ thể”,<https://thads.moj.gov.vn/phuyen/noidung/tintuc/Lists/ThongTinKhac/View_Detail.aspx?ItemID=11> (16/5/2020) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi hành án liên quan đến tín dụng, ngân hàng: Cần có các giải pháp cụ thể
Tác giả: Thu Hằng
Năm: 2016
[42] Lê Võ Hồng Hạnh (2012), “Xác minh điều kiện thi hành án và thực tiễn áp dụng”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số 5 (242) – 2012, tr48-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác minh điều kiện thi hành án và thực tiễn áp dụng”, "Tạp chí dân chủ và pháp luật
Tác giả: Lê Võ Hồng Hạnh
Năm: 2012
[43] Chu Thị Hoa (2014), “Mô hình tổ chức thi hành án dân sự công ở một số nước trên thế giới”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số 10 (271), năm 2014, trang 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình tổ chức thi hành án dân sự công ở một số nước trên thế giới”, "Tạp chí dân chủ và pháp luật
Tác giả: Chu Thị Hoa
Năm: 2014

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w