Mục lục 4I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 41 Lý do chọn đề tài 52 Mục tiêu nghiên cứu 53 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 64 Phương pháp nghiên cứu 65 Ý nghĩa của nghiên cứu 6II NỘI DUNG 6CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Lý do chọn đề tài
Trong 2 năm gần đây, Việt Nam đã phải hứng chịu đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, điều này không chỉ ảnh hưởng đến nền kinh tế nước nhà, sức khỏe và tinh thần của người dân mà còn là gánh nặng đè lên môi trường giáo dục Đặc biệt ở môi trường đại học tại Việt Nam, một môi trường hoàn toàn mới mẻ - nơi mà các sinh viên năm nhất còn khá bỡ ngỡ Đối với sinh viên năm hai, năm ba đã liên tục gián đoạn việc học tập trên lớp buộc chuyển sang hình thức trực tuyến Sinh viên năm tư lại còn gặp nhiều khó khăn hơn khi chưa thực hiện được các điều kiện tốt nghiệp, nơi thực tập và dẫn đến nguy cơ tốt nghiệp trễ hạn.
Gánh nặng học tập và tác động của đại dịch đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến người học, khiến xã hội ngày càng quan tâm hơn đến tình trạng áp lực và căng thẳng mà sinh viên phải đối mặt Căng thẳng học tập không chỉ là một vấn đề phổ biến mà còn là nguyên nhân chính dẫn đến nhiều vấn đề tâm lý như trầm cảm, lo âu, và thậm chí có thể dẫn đến nguy cơ tự sát.
Áp lực và căng thẳng của sinh viên đại học đã trở thành một vấn đề được quan tâm trong những năm gần đây, với nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng căng thẳng quá mức có thể ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả học tập và dẫn đến tình trạng bỏ học, cũng như các vấn đề tâm lý nghiêm trọng, thậm chí là tự sát Các yếu tố gây căng thẳng bao gồm áp lực học tập, thiếu thời gian cá nhân, tình trạng tài chính hạn chế, và các yếu tố môi trường như dịch bệnh Hơn nữa, niềm tin của xã hội rằng tốt nghiệp đại học với điểm số cao là chìa khóa cho một công việc ổn định và lương cao cũng góp phần tạo ra áp lực cho sinh viên, làm gia tăng các yếu tố căng thẳng liên quan đến thành công trong học tập.
Theo nghiên cứu của Trever Butlin (2006), sinh viên thường có xu hướng sử dụng nhiều thức uống có cồn và thu mình khi gặp stress, dẫn đến thiếu kiên nhẫn và dễ có hành vi gây gổ Họ làm việc kém hiệu quả và có thể có hành vi nguy hiểm cho bản thân và xã hội Việc tìm kiếm các phương pháp ứng phó hiệu quả với stress là rất quan trọng Mặc dù có nhiều nghiên cứu về stress ở các lứa tuổi khác nhau, nhưng nghiên cứu về sinh viên, đặc biệt là sinh viên sư phạm tại Trường ĐH Sư Phạm TP.HCM, vẫn còn hạn chế Sinh viên tại đây cũng phải đối mặt với áp lực trong học tập và đời sống tinh thần Do đó, việc nghiên cứu các yếu tố gây căng thẳng và đưa ra giải pháp ứng phó là cần thiết để nâng cao chất lượng đào tạo sư phạm Chúng tôi sẽ tập trung vào sinh viên Khoa Tâm lý học – Trường ĐH Sư Phạm TP.HCM để làm rõ vấn đề này.
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Các yếu tố gây ra căng thẳng cho sinh viên Khoa Tâm lý học - Trường ĐH Sư Phạm TP.HCM” nhằm tìm hiểu những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng căng thẳng của sinh viên.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích các yếu tố gây căng thẳng cho sinh viên khoa tâm lý học tại Đại học Sư phạm Hồ Chí Minh Nghiên cứu này không chỉ bổ sung tài liệu cho các nghiên cứu thực nghiệm mà còn cung cấp cơ sở tham khảo cho nhà trường nhằm tìm ra giải pháp giảm áp lực cho sinh viên, từ đó nâng cao sức khỏe tinh thần của họ.
Nghiên cứu lý luận về các yếu tố gây áp lực cho sinh viên khoa Tâm lý học tại trường Đại học Sư phạm Hồ Chí Minh, tập trung vào khía cạnh hình thức.
Khảo sát thực trạng các yếu tố gây áp lực cho sinh viên là cần thiết Đồng thời, cần đề xuất một số giải pháp hợp lý với nhà trường nhằm giúp sinh viên giảm bớt áp lực trong quá trình học tập.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố gây ra áp lực đối với sinh viên khoa tâm lý học trường Đại học Sư phạm Hồ Chí Minh.
Khách thể nghiên cứu là sinh viên khoa tâm lý học trường Đại học Sư phạm HCM.
Nội dung nghiên cứu này chỉ tập trung vào các yếu tố gây căng thẳng cho sinh viên ngành tâm lý học tại Đại học Sư phạm Hồ Chí Minh.
Phạm vi về khách thể nghiên cứu được giới hạn ở các sinh viên đang học khoa tâm lý học trường Đại học Sư phạm Hồ Chí Minh.
Phương pháp nghiên cứu
Điều tra bằng bảng hỏi: Dùng bảng hỏi để khảo sát về mặt hình thức các yếu tố gây ra căng thẳng cho sinh viên khoa Tâm lý học.
Phương pháp thống kê toán học được áp dụng để xử lý và phân tích dữ liệu từ bảng hỏi, sử dụng phần mềm SPSS Nghiên cứu này thực hiện các phép thống kê suy diễn nhằm kiểm định sự khác biệt giữa các sinh viên dựa trên giới tính, thời gian học và khối ngành thông qua phân tích phương sai (ANOVA) Bên cạnh đó, thống kê mô tả như tần suất, tần số, điểm trung bình và độ lệch chuẩn cũng được sử dụng để mô tả dữ liệu thu thập được.
Ý nghĩa của nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm đánh giá tác động của các yếu tố gây căng thẳng đối với sinh viên Khoa Tâm lý tại Trường Đại học Sư Phạm TP.HCM.
Sự phối hợp giữa sinh viên, gia đình, nhà trường và xã hội là cần thiết để hỗ trợ sinh viên vượt qua căng thẳng hiện tại và tương lai Các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước cần điều chỉnh chính sách phù hợp nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục và giảm thiểu các yếu tố gây căng thẳng cho sinh viên, đặc biệt là sinh viên Khoa Tâm lý Trường Đại học Sư Phạm TP HCM và sinh viên trên địa bàn TP HCM.
Nghiên cứu này cung cấp thông tin thiết thực về ảnh hưởng của các yếu tố gây căng thẳng đến đời sống tinh thần của sinh viên tại Khoa Tâm lý, Trường Đại học Sư Phạm TP HCM Chúng tôi kỳ vọng rằng nghiên cứu sẽ tạo nền tảng cho việc giảm thiểu và can thiệp hiệu quả các vấn đề căng thẳng của sinh viên trong tương lai.
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong cuộc sống hiện đại, mọi lứa tuổi và ngành nghề đều có nguy cơ bị stress, đặc biệt là nhóm tuổi 18-25, nơi sinh viên phải đối mặt với nhiều áp lực từ học tập, gia đình và công việc Sinh viên, đặc biệt là trong các ngành kỹ thuật, công nghệ và điện tử viễn thông, là lực lượng lao động chính trong tương lai gần Nếu không được phòng ngừa và điều trị kịp thời, stress có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng cho bản thân sinh viên, gia đình và xã hội Stress không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần và thể chất mà còn tác động đến các mối quan hệ xã hội, như quan hệ gia đình và bạn bè, cũng như khả năng học tập và lao động Do đó, việc nhận thức và xác định rõ nguy cơ của stress để phòng ngừa và điều trị cho sinh viên là rất cần thiết.
Theo nghiên cứu của R Beiter và cộng sự tại Đại học Franciscan, bang Ohio, có tới 38% sinh viên báo cáo gặp phải stress, trong đó 11% ở mức độ stress nặng và rất nặng Tương tự, một nghiên cứu tại trường Đại học Uludag, Thổ Nhĩ Kỳ của Nuran Bayram và Nazan Bilgel cho thấy 48,2% sinh viên có stress, với 6,9% ở mức độ stress nặng.
Khi sinh viên đối mặt với stress trong học tập, cách ứng phó của họ rất quan trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất, tinh thần và hiệu quả học tập Nghiên cứu cho thấy ứng phó không thích hợp với stress có liên quan đến việc giảm sút kết quả học tập và trầm cảm.
Nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên sử dụng các chiến lược ứng phó chủ động và tích cực có thể giảm mức độ stress, lo âu và cải thiện khả năng thích ứng cũng như sức khỏe thể chất Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc các nhà quản lý giáo dục, tâm lý học đường và các chuyên gia tư vấn tiến hành nghiên cứu về ứng phó với stress trong học tập Từ đó, họ có thể xây dựng các chương trình can thiệp hiệu quả, giúp sinh viên đối phó tốt hơn với các tình huống gây stress trong quá trình học tập.
1.2 Nghiên cứu tại Việt Nam
Nghiên cứu của Nguyễn Thu Hằng và cộng sự (2019) đã khảo sát các yếu tố gây ra rối nhiễu lo âu ở sinh viên năm thứ 4 hệ chính quy tại trường Đại học Điều dưỡng Nam Định.
Kết quả nghiên cứu cho thấy 59,7% sinh viên không gặp rối nhiễu lo âu, trong khi 69% có hiểu biết về lo âu và 88,3% biết tìm cách giảm căng thẳng Các yếu tố ảnh hưởng đến lo âu ở sinh viên năm thứ 4 tại trường Đại học Điều dưỡng Nam Định rất đa dạng, với học tập và công việc sau khi ra trường là hai yếu tố chủ đạo Nghiên cứu trên 500 sinh viên chỉ ra rằng các yếu tố chính bao gồm học tập, sức khỏe, công việc, mối quan hệ bạn bè và tài chính Đặc biệt, công việc sau khi ra trường và học tập có điểm trung bình cao nhất (DTB: 2.44), cho thấy sinh viên đang chịu áp lực lớn về học tập và tương lai nghề nghiệp.
Nghiên cứu cho thấy sinh viên có hiểu biết về lo âu và cách ứng phó với căng thẳng sẽ ít rơi vào trạng thái lo âu, với tỷ lệ chỉ 59,7% Các yếu tố ảnh hưởng đến lo âu ở sinh viên năm thứ 4 tại trường ĐH ĐDNĐ rất đa dạng, trong đó hai yếu tố chủ đạo là học tập và công việc sau khi ra trường Nếu không nhận thức đúng về những yếu tố này, tình trạng lo âu của sinh viên có thể trở nên nghiêm trọng hơn.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyệt và cộng sự (2020) đã xác định 7 yếu tố gây áp lực tâm lý cho sinh viên Học viện Ngân hàng, bao gồm Phát triển, Gia đình, Môi trường đại học, Thích ứng, Kinh tế, Xã hội và Học tập Trong số đó, áp lực phát triển bản thân, áp lực học tập và áp lực kinh tế được xác định là những yếu tố cốt lõi có ý nghĩa thống kê Kết quả nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo hữu ích cho việc tìm ra giải pháp nâng cao sức khỏe tinh thần cho sinh viên, nhằm tạo ra môi trường học tập lành mạnh và hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học tại HVNH.
Sinh viên Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều áp lực trong cuộc sống, ảnh hưởng đến tâm lý của họ Nghiên cứu cho thấy có ba yếu tố chính gây ra áp lực tâm lý cho sinh viên: Phát triển, Học tập và Kinh tế Trong bối cảnh xã hội và công nghệ thay đổi nhanh chóng, yêu cầu về kỹ năng và năng lực của nhân lực ngày càng cao, điều này càng làm tăng thêm áp lực cho sinh viên.
HVNH có khả năng thích ứng tốt với sự thay đổi của thời đại và duy trì giao tiếp hiệu quả với gia đình, thầy cô, bạn bè Tuy nhiên, sinh viên vẫn phải đối mặt với những vấn đề như định hướng nghề nghiệp, phát triển bản thân, kết quả học tập và lo lắng về kinh tế, gây áp lực tâm lý Những yếu tố này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng học tập và đầu ra của sinh viên.
Nghiên cứu hiện tại chỉ dựa trên mẫu khảo sát hạn chế với hơn 400 sinh viên HVNH, dẫn đến chỉ số R2 hiệu chỉnh là 0,39, cho thấy 39% sự biến thiên của biến phụ thuộc được giải thích bởi các biến độc lập, trong khi 61% còn lại do các yếu tố khác và sai số ngẫu nhiên Do đó, các nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng đối tượng khảo sát để xác định thêm các yếu tố gây áp lực lên sinh viên Hơn nữa, nghiên cứu chưa xem xét sự khác biệt giữa các nhóm sinh viên từ các địa phương khác nhau, các chương trình đào tạo khác nhau, và tình trạng học tập của sinh viên, điều này có thể ảnh hưởng đến nhận thức của họ khi tham gia khảo sát Vì vậy, các nghiên cứu tương lai cần phân tích sâu hơn về những khác biệt này để đưa ra khuyến nghị phù hợp cho từng nhóm đối tượng.
Để cải thiện tình trạng stress ở sinh viên và giúp họ tự tin hơn trong việc hoàn thiện bản thân, bài viết đề xuất một số kiến nghị quan trọng: (1) Hướng dẫn sinh viên lập kế hoạch phát triển bản thân để giảm thiểu tâm lý khủng hoảng sau khi nhập học (2) Cần có cách tiếp cận khác nhau cho từng cá nhân dựa trên nguồn gốc xuất thân để hiểu rõ áp lực của họ và đưa ra can thiệp phù hợp (3) Thiết lập thêm nhiều hạng mục hỗ trợ tài chính giúp sinh viên vừa học tập vừa kiếm thu nhập, giảm áp lực kinh tế (4) Tăng cường quan tâm đến sức khoẻ tâm lý của sinh viên, nhận thức về việc giải tỏa áp lực, có thể bố trí môn học liên quan và dựa vào trung tâm tư vấn tâm lý để hỗ trợ sinh viên.
Nguyễn Việt Anh và cộng sự (2021) chỉ ra rằng stress ngày càng trở nên phổ biến, đặc biệt trong cộng đồng sinh viên, và có thể gây ra những tác động tiêu cực đến sức khỏe tâm thần, khả năng học tập và chất lượng cuộc sống Sinh viên ngành răng hàm mặt là nhóm có nguy cơ cao bị stress, vì vậy nghiên cứu này được thực hiện nhằm mô tả thực trạng stress và các yếu tố liên quan ở sinh viên răng hàm mặt tại Trường Đại học Y Hà Nội trong năm học 2020-2021 Nghiên cứu áp dụng phương pháp mô tả cắt ngang với 383 sinh viên tham gia.
Trong một nghiên cứu về tình trạng stress ở sinh viên răng hàm mặt, có 256 sinh viên được khảo sát, trong đó 66,84% cho thấy có dấu hiệu stress Tỷ lệ stress ở nam sinh viên là 63,45% và ở nữ sinh viên là 68,91% Mức độ stress trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất với 34,46%, trong khi tỷ lệ stress nặng và rất nặng lần lượt là 8,88% và 6,27% Sinh viên năm thứ 6 có tỷ lệ stress cao nhất, đạt 73,97% Các yếu tố liên quan đến stress bao gồm thiếu tự tin và áp lực từ kỳ vọng của phụ huynh Nghiên cứu chỉ được thực hiện tại Trường Đại học Y Hà Nội và tại một thời điểm cụ thể, do đó cần có các nghiên cứu tiếp theo ở các trường khác và vào các thời điểm khác nhau để so sánh tỷ lệ stress và xác định thêm các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sinh viên răng hàm mặt.
Nghiên cứu toàn cầu cho thấy rằng chương trình học tập và yếu tố học lâm sàng là hai nguyên nhân chính gây stress cho sinh viên nha khoa Theo Kumar và cộng sự, những yếu tố hàng đầu gây áp lực bao gồm thi cử, điểm số, học tập liên tục, lo sợ thi trượt, và nỗi lo về việc làm sau khi tốt nghiệp Để giảm thiểu stress cho sinh viên nha khoa, cần có giải pháp cải tiến chương trình học, phương pháp thi cử, và sự hỗ trợ từ giảng viên Bên cạnh đó, gia đình cũng nên tránh đặt kỳ vọng quá cao để không tạo thêm áp lực cho sinh viên, đặc biệt khi kết quả học tập không đạt yêu cầu.
Các khái niệm cơ bản
Căng thẳng là phản ứng sinh lý hoặc tâm lý của cá nhân đối với các tác nhân gây căng thẳng bên trong hoặc bên ngoài (APA)
Căng thẳng ảnh hưởng đến hầu hết các hệ thống trong cơ thể, tác động đến cảm xúc và hành vi của con người Các triệu chứng có thể bao gồm đánh trống ngực, đổ mồ hôi, khô miệng, khó thở, bồn chồn, nói nhanh và gia tăng cảm xúc tiêu cực Thời gian căng thẳng kéo dài có thể dẫn đến mệt mỏi Căng thẳng nghiêm trọng có thể được biểu hiện qua hội chứng thích ứng chung, được Hans Selye mô tả lần đầu vào khoảng năm 1940.
Căng thẳng là phản ứng tự nhiên của cơ thể trước áp lực, thường xảy ra khi chúng ta đối mặt với những tình huống mới, bất ngờ hoặc đe dọa đến bản thân Nó xuất hiện khi chúng ta cảm thấy thiếu khả năng kiểm soát trong các tình huống khó khăn.
Như vậy căng thẳng trong học tập là phản ứng sinh lý hoặc tâm lý của sinh viên đối với hoạt động học tập.
Các đặc điểm cơ bản của đối tượng và khách thể
Căng thẳng có thể tác động đến sức khỏe thể chất, tinh thần, cảm xúc và hành vi của chúng ta, theo TS.BSCKII Nguyễn Văn Dũng, Phó Viện trưởng Viện Sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai Các dấu hiệu và triệu chứng của căng thẳng rất đa dạng và cần được chú ý.
Thể chất có thể biểu hiện qua các triệu chứng như mệt mỏi, đau đầu, mất ngủ, và đau nhức hoặc chuột rút cơ bắp, đặc biệt ở vùng cổ, vai và lưng Ngoài ra, tim đập nhanh, huyết áp rối loạn, đau ngực và buồn nôn cũng là những dấu hiệu thường gặp Người bệnh có thể trải qua tình trạng vã mồ hôi, run chân tay, hụt hơi, chứng bụng, nóng cổ và trào ngược.
● Tinh thần: giảm tập trung và trí nhớ, thiếu quyết đoán, lơ ngơ, lú lẫn và mất hài hước, kết quả làm việc hay học hành giảm sút
● Cảm xúc: lo âu, căng thẳng, trầm cảm, tức giận, thất vọng, lo lắng, sợ hãi, khó chịu, thiếu kiên nhẫn và nóng tính;
Hành vi như bồn chồn, ăn uống nhiều, hút thuốc, uống rượu, khóc, la hét, đổ lỗi, và thậm chí đập vỡ đồ vật là những tín hiệu cảnh báo cơ thể gửi đến, cho thấy bạn có thể đang đối diện với căng thẳng Tuy nhiên, nhiều người thường bỏ qua những tín hiệu này, dẫn đến việc không kiểm soát được tâm trạng của mình.
Theo TS.BSCKII Nguyễn Văn Dũng cho biết, có các biểu hiện cơ bản để nhận biết căng thẳng:
Đau cơ, đặc biệt là đau cổ, thường được cho là do ngồi lâu trước máy tính, nhưng thực tế, triệu chứng này có thể là dấu hiệu của căng thẳng Để giảm thiểu tình trạng này, hãy thực hiện hít thở sâu từ 5 đến 10 lần và tập trung vào việc thả lỏng cơ thể Đối với vùng cổ, hãy cố gắng xoay và xoa bóp nhẹ nhàng để giảm đau.
Co giật mí mắt là một triệu chứng tạm thời nhưng không nên xem nhẹ, vì nó có thể là dấu hiệu của blepharospasm, một dạng rối loạn trương lực cơ Để cải thiện tình trạng này, hãy cho mắt nghỉ ngơi bằng cách nhắm mắt lại và hạn chế các công việc căng thẳng cho mắt Nếu bạn thường xuyên làm việc với máy tính, hãy nhớ kéo dài thời gian làm việc thêm 20 phút để nhìn ra ngoài cửa sổ, giúp mắt thư giãn trong không gian thoáng đãng.
Cắn móng tay là một dấu hiệu của sự căng thẳng thần kinh, thường xảy ra khi chúng ta lo lắng Nhiều phụ nữ chọn cắn móng tay như một cách để đối phó với cảm giác căng thẳng Để giảm bớt căng thẳng, bạn có thể gọi điện cho bạn bè hoặc người thân, hoặc thư giãn bằng cách đọc sách, nghe nhạc, hoặc đi dạo.
Sâu răng là một trong những tín hiệu quan trọng mà chúng ta cần chú ý Mặc dù lười vệ sinh răng miệng là nguyên nhân chính, nhưng căng thẳng cũng đóng vai trò không nhỏ Các chuyên gia cho biết, căng thẳng có thể khiến bạn nghiến răng cả ban đêm lẫn ban ngày, dẫn đến tình trạng sâu răng.
Nghiến răng là thói quen xấu có thể gây hại cho răng, dẫn đến sâu răng Để giải quyết vấn đề này, hãy viết ra những lo lắng của bạn và nhìn nhận chúng một cách tích cực, đồng thời tự đề xuất giải pháp Nếu việc nghiến răng khó bỏ, hãy tìm đến các sĩ nha khoa để được tư vấn và bảo vệ sức khỏe răng miệng tốt nhất.
Tín hiệu thứ năm của căng thẳng là các nốt phát ban, cho thấy rằng làn da có thể phản ánh mức độ căng thẳng mà chúng ta đang trải qua Căng thẳng có thể dẫn đến phát ban, thường xuất hiện dưới dạng các vùng da nổi mẩn đỏ trên bụng, lưng, cánh tay và khuôn mặt Chứng phát ban này là kết quả của tác động của căng thẳng lên hệ thống miễn dịch, làm tăng tiết histamine, gây ra ngứa và mẩn đỏ Để giảm căng thẳng, hãy đặt tay lên bụng và thực hiện hít thở sâu từ 5 đến 10 lần trong suốt cả ngày.
Cảm giác buồn ngủ là một tín hiệu quan trọng, thường xuất hiện khi bạn cảm thấy mệt mỏi và uể oải, có thể do căng thẳng Hormone căng thẳng làm tăng adrenaline trong cơ thể, dẫn đến cảm giác buồn ngủ và giảm chất lượng giấc ngủ, khiến bạn mệt mỏi và cáu kỉnh khi thức dậy Để khắc phục tình trạng này, hãy đi ngủ sớm hơn hoặc tranh thủ một giấc ngủ trưa khoảng 30 phút để nạp lại năng lượng cho những công việc còn lại trong ngày.
Tín hiệu thứ bảy là sự đãng trí, do stress mãn tính có thể làm thu hẹp khu hippocampus, phần não quan trọng cho việc lưu giữ thông tin và hình thành ký ức Tuy nhiên, kích thước của khu vực này sẽ trở lại bình thường khi mức độ căng thẳng giảm Để não hoạt động hiệu quả, bạn nên tập thể dục, leo cầu thang hoặc nhảy theo giai điệu sôi động Tập thể dục không chỉ giúp cải thiện chức năng não mà còn tăng khả năng chịu đựng trong những tình huống căng thẳng sau này.
Mức độ căng thẳng trong cuộc sống chịu ảnh hưởng lớn từ sức khỏe thể chất, các mối quan hệ, cam kết và trách nhiệm cá nhân Bên cạnh đó, kỳ vọng từ bản thân và xã hội, sự hỗ trợ từ người khác, cũng như những thay đổi về sức khỏe và điều kiện sống đều góp phần làm gia tăng căng thẳng.
Căng thẳng trong học tập là phản ứng sinh lý hoặc tâm lý của sinh viên đối với hoạt động học tập, ảnh hưởng đến tinh thần và thể chất của họ Theo Đặng Thị Lan (2019), căng thẳng tâm lý có thể được phân loại thành bốn biểu hiện chính: biểu hiện về mặt sinh lý, nhận thức, cảm xúc và hành vi.
Sinh viên thường biểu hiện các triệu chứng sinh lý như mặt mày ủ rũ, sắc mặt không tươi tắn trong quá trình học tập Họ cảm thấy mệt mỏi, uể oải và chậm chạp khi tham gia các hoạt động trên lớp Nhiều sinh viên gặp phải đau nhức xương khớp, dẫn đến ngại vận động trong các hoạt động học tập Ngoài ra, họ còn trải qua đau đầu, chóng mặt và hoa mắt khi tiếp xúc với giáo trình, bài giảng của giáo viên và tài liệu tham khảo Đặc biệt, cảm giác run và toát mồ hôi khi phải thuyết trình hoặc trình bày vấn đề trong các học phần chuyên ngành cũng là một dấu hiệu phổ biến.
Biểu hiện nhận thức trong học tập chuyên ngành thường bao gồm suy nghĩ tiêu cực về mọi việc, khó khăn trong việc tập trung chú ý, và giảm sút trí nhớ Người học có thể gặp tình trạng đãng trí, thường xuyên quên các khái niệm cơ bản cũng như bài tập mà giảng viên giao.
…; khả năng khái quát vấn đề, hệ thống hóa, logic vấn đề kém, ý nghĩ rời rạc, không liền mạch; không tự đưa ra được quyết định trong học tập…
Các yếu tố gây Stress
Thiếu thời gian giải trí và áp lực hoàn thành công việc đúng hạn là nguyên nhân chính gây ra căng thẳng trong học tập Nghiên cứu của Sgan - Cohen & Lowental (1988) cũng chỉ ra rằng sinh viên gặp khó khăn trong việc cân bằng giữa thời gian giải trí và yêu cầu học tập, dẫn đến tình trạng căng thẳng Việc không có thời gian thư giãn khiến sinh viên bị quá tải, khi họ không có khoảng nghỉ giữa các hoạt động học tập căng thẳng Tuy nhiên, theo Nonis và Hudson (2006), chính nhận thức cá nhân về khả năng quản lý thời gian mới là yếu tố gây ra căng thẳng cho sinh viên, chứ không phải việc quản lý thời gian bản thân.
Kết quả học tập là một yếu tố quan trọng đối với nhiều sinh viên, khi áp lực từ việc phải đạt điểm cao trong các kỳ thi và bài kiểm tra có thể gây ra căng thẳng lớn Môi trường học tập trở nên áp lực khi sinh viên lo lắng về việc không đạt được điểm số mong muốn Nhiều sinh viên còn liên kết giá trị bản thân với điểm số trên lớp, dẫn đến sự nghi ngờ về khả năng và tiềm năng trong sự nghiệp tương lai của họ.
Ngày nay, sinh viên đang phải đối mặt với nhiều vấn đề tài chính và ngày càng quan tâm đến trách nhiệm tài chính của mình Căng thẳng tài chính là một trong những nguyên nhân phổ biến gây stress ở sinh viên đại học, ngay cả khi họ không phải đóng học phí Họ vẫn phải chi trả cho các khoản phí sinh hoạt, và điều này đặc biệt khó khăn đối với những sinh viên sống xa nhà Nghiên cứu cho thấy, căng thẳng liên quan đến tài chính cá nhân là một trong những nguồn gây căng thẳng tâm lý lớn nhất, vì nó ảnh hưởng đến các hoạt động cơ bản trong cuộc sống và cách quản lý tài chính của sinh viên.
Cạnh tranh giữa các sinh viên trong việc đạt điểm cao trong các kỳ thi khó khăn có thể tạo ra áp lực lớn Khi một sinh viên phải đối mặt với áp lực từ việc đạt được điểm số mong muốn trong khi còn phải cạnh tranh với người khác, điều này có thể dẫn đến nỗi sợ thất bại.
Quá tải học tập là một vấn đề phổ biến mà sinh viên thường gặp phải do khối lượng công việc lớn Để đạt được học bổng hoặc kết quả học tập xuất sắc, sinh viên phải đối mặt với áp lực học tập và nỗ lực rất nhiều trong quá trình học Việc hoàn thành nhiều môn học trong một kỳ học trong khi vẫn giữ điểm số cao tạo ra sự căng thẳng và quá tải cho sinh viên.
Nỗi sợ thất bại là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến căng thẳng trong học tập của sinh viên Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nỗi sợ này có tác động lớn đến hành vi thành tích, thể hiện như một động lực tránh né Điều này không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe thể chất và tinh thần mà còn dẫn đến sự phòng thủ bi quan, tự cản trở nỗ lực của bản thân.
Mối quan hệ với các khoa của trường đại học: Mối quan hệ giữa sinh viên với các
Căng thẳng ở sinh viên một phần xuất phát từ các thủ tục phức tạp của Khoa, khiến họ gặp khó khăn trong việc hoàn thành công việc và hoạt động Hơn nữa, sự thiếu chú ý và phản hồi chậm từ cán bộ Khoa đối với yêu cầu và ý kiến của sinh viên làm cho họ cảm thấy nhu cầu học tập và hỗ trợ chính sách không được đáp ứng đầy đủ Thêm vào đó, hướng dẫn hành động không rõ ràng từ Khoa dẫn đến việc sinh viên mất nhiều thời gian để giải quyết các vấn đề phát sinh.
Ảnh hưởng
Căng thẳng gây ra những thay đổi về tinh thần và thể chất, dẫn đến rối loạn tâm lý và sinh lý, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, học tập và chất lượng cuộc sống.
5.1 Stress ảnh hưởng tới sức khỏe:
Stress không hoàn toàn xấu, nó có thể giúp cơ thể tập trung và làm việc hiệu quả hơn Tuy nhiên, khi rơi vào trạng thái stress kéo dài, cơ thể sẽ chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực Ảnh hưởng ngắn hạn bao gồm căng thẳng, mệt mỏi, đau đầu, đau cơ, và rối loạn giấc ngủ, dẫn đến các vấn đề tiêu hóa như đau dạ dày Về lâu dài, stress có thể gây suy giảm chức năng hệ tiêu hóa, dẫn đến viêm loét dạ dày, táo bón, và hội chứng ruột kích thích Để hạn chế những vấn đề này, việc kiểm soát và cân bằng tinh thần là rất quan trọng.
Bệnh tim mạch có thể phát triển do stress và căng thẳng kéo dài, dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng như đau tim và huyết áp cao Do đó, việc không chủ quan và tránh rơi vào trạng thái căng thẳng là rất quan trọng Stress kéo dài có những ảnh hưởng tiêu cực lâu dài đến sức khỏe của chúng ta.
Stress kéo dài có thể dẫn đến suy giảm trí nhớ do thiếu oxy cho các tế bào não, làm giảm hiệu quả hoạt động của chúng và thậm chí gây chết tế bào Nghiên cứu cho thấy, khi chất xám bị giảm, não sẽ teo lại, dẫn đến khó khăn trong việc tập trung, ghi nhớ và tư duy Hơn nữa, stress kéo dài còn gây tổn thương cho các hoạt động của não bộ, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh rối loạn trạng thái và rối loạn thần kinh.
Đau dạ dày và rối loạn tiêu hóa có thể liên quan đến việc đường ruột hoạt động như bộ não thứ hai của cơ thể, với hàng triệu tế bào thần kinh và khả năng sản xuất hormon thần kinh Thần kinh ruột hoạt động độc lập nhưng lại liên kết chặt chẽ với hệ thần kinh trung ương Stress kéo dài có thể ảnh hưởng đến hoạt động của dạ dày thông qua dây thần kinh phế vị, dẫn đến các vấn đề như trào ngược dạ dày thực quản và viêm loét dạ dày Hơn nữa, sự mất cân bằng hệ vi sinh trong đường ruột có thể gây ra các bệnh như viêm ruột, hội chứng kích thích ruột, đau bụng, ỉa chảy, táo bón và khó tiêu.
Stress có thể gây ra rối loạn nhịp thở và tăng nhịp tim, đồng thời làm giảm lượng máu đến tim, dẫn đến bất thường trong hoạt động tim mạch Khi stress kéo dài, nguy cơ mắc các bệnh tim mạch như tăng huyết áp và nhồi máu cơ tim sẽ gia tăng.
Căng thẳng kéo dài có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ, đặc biệt ở những người đã có sẵn bệnh tâm lý Nghiên cứu cho thấy những người chịu đựng stress lâu dài có nguy cơ đột quỵ cao hơn so với người bình thường Nếu không được xử lý kịp thời, tình trạng stress kéo dài có thể dẫn đến đột quỵ, gây nguy hiểm đến tính mạng.
Stress là trạng thái căng thẳng của hệ thần kinh, và nếu kéo dài, nó có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch và tiêu hóa Khi xuất hiện các triệu chứng như căng thẳng, mất ngủ, và rối loạn cảm xúc, việc thay đổi lối sống và sắp xếp công việc hợp lý là rất cần thiết.
Thậm chí cần đến gặp các chuyên gia tâm lý để có biện pháp can thiệp kịp thời.
5.2 Ảnh hưởng tới học tập
Sức khỏe tinh thần của sinh viên đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng do áp lực tâm lý, dẫn đến các vấn đề như ủ rũ, mệt mỏi, khó chịu và cáu gắt Sự linh hoạt, năng động và sáng tạo của họ bị hạn chế, khiến cho nhiều sinh viên dễ rơi vào tình trạng stress kéo dài, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tổng thể.
Sức khỏe thể lực của sinh viên đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng do thiếu ngủ, chế độ ăn uống không đầy đủ và ít tham gia các hoạt động ngoài trời Điều này dẫn đến sự giảm sút về sự nhanh nhẹn và hoạt bát trong các hoạt động xã hội.
Tâm lý sợ học và sợ thi là triệu chứng phổ biến của rối loạn ám ảnh cưỡng chế, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh lý và gây rối loạn hormone ở sinh viên.
Hành vi chống đối như bỏ học, trốn học, và sa ngã vào cờ bạc, nghiện hút, ma túy, rượu bia thường xuất hiện như một cách để phản đối và trốn tránh thực tại Sự sa ngã này chủ yếu do các yếu tố khách quan tác động.
Kết quả học tập ngày càng sa sút Tốt nghiệp không đúng hạn.
THỰC TRẠNG CÁC YẾU TỐ GÂY RA CĂNG THẲNG CHO SINH VIÊN KHOA TÂM LÝ HỌC TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM TP.HCM
Bảng hỏi
Bạn là sinh viên năm: (4 đáp án : 1,2,3,4)
Chọn mức độ phù hợp với bản thân trong các câu sau với:
Yếu tố gây ra áp lực: áp lực gia đình:
1 Kỳ vọng của bố mẹ vào thành tích học tập của bạn quá cao.
2 Bạn cảm thấy mình cần cố gắng vì gia đình không có vị trí xã hội.
3 Bạn cảm thấy khó trao đổi với người thân (bố mẹ) về các giá trị, quan điểm về cuộc sống.
4 Quan điểm về chọn lựa nghề nghiệp tương lai của bạn có sự phát sinh xung đột với bố mẹ.
5 Bạn cảm thấy phiền não vì không thể san sẻ gánh nặng gia đình với bố mẹ.
6 Bạn cảm thấy cô đơn khi xa gia đình, người thân.
Yếu tố gây ra áp lực: áp lực thích ứng môi trường:
1 Bạn cảm thấy khó khăn trong việc thích ứng với phương thức học ở đại học.
2 Bạn cảm thấy thực tế học cao đẳng, đại học quá khác biệt so với suy nghĩ trước khi vào học.
3 Đôi khi bạn cảm thấy không theo kịp sự phát triển của thời đại.
4 Bạn cảm thấy không thể quản lý tốt cuộc sống, và thời gian của bản thân.
5 Bạn cảm thấy sức khỏe từ khi học đại học không tốt như trước.
6 Bạn khó có thể tìm ra phương thức nghỉ ngơi hợp lý với bản thân.
7 Bạn không thể thích ứng với nhịp sống của thành phố nơi đang học tập.
Yếu tố gây ra áp lực: áp lực kinh tế
1 Vì học phí và sinh hoạt phí khiến bạn cảm thấy phiền não.
2 Bạn cho rằng kinh tế hạn hẹp là nguyên nhân hạn chế phát triển của bản thân.
3 Vì hoàn cảnh kinh tế gia đình mà bạn cảm thấy mất cân bằng trong cuộc sống.
4 Bạn thường xuyên phải đi làm thêm bên ngoài để trang trải cuộc sống.
5 Vì hoàn cảnh gia đình khó khăn mà mỗi khi tiêu tiền bạn đều cảm thấy áy náy.
Yếu tố gây ra áp lực: áp lực quan hệ giao tiếp xã hội
1 Bạn có mối quan hệ với bạn cùng phòng hoặc bạn học thường xuyên căng thẳng.
2 Bạn không biết làm thế nào trao đổi, chia sẻ ý kiến với thầy cô.
3 Bạn cảm thấy khó có bạn tri kỷ trong môi trường đại học.
4 Bạn luôn để ý xem người khác nghĩ gì về mình.
5 Bạn không biết phải làm cách nào để giao tiếp với bạn bè khác giới.
6 Bạn cảm thấy áp lực khi thấy bạn bè xung quanh có người yêu.
7 Đôi khi mối quan hệ với bạn thân của bạn trở nên xấu đi.
8 Bạn lo lắng thành tích học tập với sự phát triển tương lai khi bản thân có ít mối quan hệ.
Yếu tố gây ra áp lực : áp lực học tập
1 Bạn cảm thấy nhiệm vụ học tập nặng nề.
2 Bạn lo lắng cuối kỳ kết quả không đạt như mong muốn.
3 Bạn muốn tập trung học tập nhưng học không vào đầu.
4 Bạn cảm thấy khả năng tự học, tự nghiên cứu của bản thân kém.
5 Bạn cảm thấy chuyên ngành bản thân đang học không giúp ích gì đối với tương lai.
Yếu tố gây ra áp lực: áp lực phát triển
1 Đối với công việc tương lai, bạn cảm thấy mơ màng, không có kế hoạch rõ ràng.
2 Bạn lo lắng sau khi tốt nghiệp tìm việc khó khăn.
3 Bạn không biết bản thân sau này phù hợp với công việc cụ thể nào.
4 Bạn cảm thấy xã hội hiện nay cạnh tranh quá gay gắt, cơ hội phát triển của bản thân rất khó khăn.
5 Bạn cảm thấy cuộc sống không có mục tiêu, cảm thấy nhàm chán.
6 Bạn cảm thấy cuộc sống hiện tại đang rất áp lực.
Kết quả nghiên cứu
2 1 Vài nét về khách thể nghiên cứu.
Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent
Bảng 2: Sinh viên năm thứ mấy
Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent
Valid Năm nhất 9 8.0 8.0 8.0 năm hai 44 38.9 38.9 46.9 năm ba 25 22.1 22.1 69.0 năm tư 35 31.0 31.0 100.0
Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent
Valid tâm lý học 67 59.3 59.3 59.3 tâm lý học giáo dục 38 33.6 33.6 92.9 công tác xã hội 8 7.1 7.1 100.0
Dựa vào kết quả thống kê cho thấy tổng số khách thể nghiên cứu là 113 SV Khoa Tâm lý học trường Đại học Sư Phạm TP.HCM
Tại Khoa Tâm lý học trường Đại học Sư Phạm TP.HCM, tỷ lệ sinh viên theo giới tính cho thấy sự chênh lệch rõ rệt, với 24 sinh viên nam (chiếm 21,2%) và 89 sinh viên nữ (chiếm 78,8%).
Trong năm học, trong tổng số 113 sinh viên, phần lớn là sinh viên năm hai với 44 sinh viên, chiếm 38,9% Tiếp theo là sinh viên năm tư với 35 sinh viên, chiếm 31,0%, và sinh viên năm ba.
Trong số sinh viên, có 25 sinh viên năm hai, chiếm 22,1%, trong khi sinh viên năm nhất chỉ có 9 sinh viên, chiếm 8,0% Điều này cho thấy rằng đa số sinh viên năm hai, khi đã quen với môi trường học tập tại Đại học, thường cảm thấy căng thẳng hơn so với sinh viên năm nhất khi mới bắt đầu.
Chuyên ngành Tâm lý học dẫn đầu với 67 sinh viên, chiếm 59,3% tổng số, tiếp theo là Tâm lý học Giáo dục với 38 sinh viên (33,6%), và cuối cùng là Công tác xã hội với 8 sinh viên (7,1%) Tỉ lệ này phản ánh đúng thực tế về chỉ tiêu đào tạo của các chuyên ngành trong trường, trong đó Công tác xã hội có chỉ tiêu thấp hơn hai ngành còn lại.
Dữ liệu này đảm bảo tính khách quan trong việc chọn mẫu ngẫu nhiên.
Bảng 4: Các yếu tố áp lực từ gia đình
N Minimum Maximum Mean Std Deviation gia dinh 1 113 1 5 3.02 1.052 gia dinh 2 113 1 5 3.92 908 gia dinh 3 113 1 5 3.51 1.211 gia dinh 4 113 1 5 2.61 1.221 gia dinh 5 113 1 5 3.78 970 gia dinh 6 113 1 5 3.15 1.136
Kết quả nghiên cứu cho thấy SV trả lời câu hỏi các yếu tố áp lực gia đình không có sự chênh lệch nhau nhiều:
Trong bảng này chúng ta có thang điểm từ 1 - 5 mức tương tự như sau:
Các câu trả lời đều có giá trị nhỏ nhất là 1 – “Rất không đồng ý” và giá trị lớn nhất là 5 – “Rất đồng ý”
Với các nội dung “Kỳ vọng của bố mẹ vào thành tích học tập của bạn quá cao”,
Nghiên cứu cho thấy sinh viên cảm thấy cần nỗ lực vì gia đình không có vị trí xã hội, gặp khó khăn trong việc trao đổi với bố mẹ về giá trị và quan điểm sống, cảm thấy phiền não vì không thể chia sẻ gánh nặng gia đình, và cô đơn khi xa nhà, với giá trị trung bình lớn hơn 3 Tuy nhiên, quan điểm về sự xung đột trong việc chọn lựa nghề nghiệp tương lai với bố mẹ lại có giá trị trung bình nhỏ hơn 3, cho thấy sinh viên không đồng ý với điều này Điều này phản ánh thực trạng hiện nay, khi sinh viên có nhiều cơ hội hơn để lựa chọn ngành nghề theo sở thích và đam mê, không còn phải đối mặt với xung đột gia đình như trước Sự phát triển của xã hội và sự cởi mở trong giao tiếp của các bậc cha mẹ đã góp phần vào sự thay đổi này.
Bảng 5: Yếu tố áp lực thích ứng môi trường
The study analyzed environmental adaptation across seven different contexts, with a sample size of 113 participants The minimum score recorded was 1, while the maximum reached 5 The mean scores for each context were as follows: 3.03 for context 1, 3.19 for context 2, 3.49 for context 3, 3.27 for context 4, 3.20 for context 5, 3.20 for context 6, and 2.52 for context 7 The standard deviations varied, indicating differing levels of response consistency among participants, with values of 1.048 for context 1, 1.093 for context 2, 0.983 for context 3, 1.120 for context 4, 1.174 for contexts 5 and 6, and 1.103 for context 7.
Kết quả nghiên cứu cho thấy SV trả lời câu hỏi các yếu tố áp lực thích ứng môi trường không có sự chênh lệch nhau nhiều:
Trong bảng này chúng ta có thang điểm từ 1 - 5 mức tương tự như sau:
Các câu trả lời đều có giá trị nhỏ nhất là 1 – “Rất không đồng ý” và giá trị lớn nhất là 5 – “Rất đồng ý”
Nhiều sinh viên gặp khó khăn trong việc thích ứng với phương thức học ở đại học, cảm thấy thực tế học cao đẳng, đại học khác biệt so với kỳ vọng ban đầu Họ cũng thường xuyên cảm thấy không theo kịp sự phát triển của thời đại và gặp khó khăn trong việc quản lý cuộc sống cũng như thời gian cá nhân Sức khỏe của họ có xu hướng giảm sút từ khi vào đại học, và việc tìm ra phương thức nghỉ ngơi hợp lý trở nên khó khăn Tuy nhiên, một số sinh viên không đồng ý với quan điểm rằng họ không thể thích ứng với nhịp sống của thành phố nơi đang học tập, cho thấy sự đa dạng trong trải nghiệm của sinh viên.
Môi trường học tập là một trong những yếu tố gây căng thẳng lớn nhất cho sinh viên, đặc biệt là tân sinh viên khi chuyển từ môi trường THPT sang Đại học Sự thay đổi từ nông thôn sang thành phố, từ cuộc sống chậm rãi sang nhịp sống hối hả có thể gây ra căng thẳng nếu không kịp thích ứng Điều này có thể dẫn đến những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe trong thời gian dài.
Bảng 6: Yếu tố áp lực kinh tế
N Minimum Maximum Mean Std Deviation kinh te 1 113 1 5 3.50 1.166 kinh te 2 113 1 5 3.26 1.216 kinh te 3 113 1 5 2.92 1.196 kinh te 5 113 1 5 3.40 1.122 kinh te 4 113 1 5 2.84 1.207
Kết quả nghiên cứu cho thấy SV trả lời câu hỏi các yếu tố áp lực kinh tế không có sự chênh lệch nhau nhiều:
Trong bảng này chúng ta có thang điểm từ 1 - 5 mức tương tự như sau:
Các câu trả lời đều có giá trị nhỏ nhất là 1 – “Rất không đồng ý” và giá trị lớn nhất là 5 – “Rất đồng ý”
Trong quan điểm về các yếu tố gây áp lực kinh tế, đa số sinh viên đồng ý với các ý kiến như "Học phí và sinh hoạt phí khiến bạn cảm thấy phiền não", "Kinh tế hạn hẹp là nguyên nhân hạn chế phát triển của bản thân", và "Hoàn cảnh gia đình khó khăn khiến bạn cảm thấy áy náy khi tiêu tiền", với giá trị trung bình lớn hơn 3 Ngược lại, phần lớn sinh viên không đồng ý với quan điểm "Hoàn cảnh kinh tế gia đình khiến bạn cảm thấy mất cân bằng trong cuộc sống".
Nhiều người thường phải làm thêm bên ngoài để trang trải cuộc sống Mặc dù hai quan điểm này có giá trị trung bình nhỏ hơn 3, nhưng giá trị trung bình gần 3 cho thấy phần lớn sinh viên không có ý kiến rõ ràng về vấn đề này.
Kinh tế là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình và việc học tập của sinh viên đại học Trong bài tham luận của PGS-TS Đặng Thị Lệ Xuân từ Trường ĐH Kinh tế quốc dân, kết quả khảo sát với hơn 1.000 hộ dân ở 11 tỉnh thành vào đầu năm 2017 cho thấy 71% người dân tin rằng giáo dục đại học là một khoản đầu tư cho tương lai, và 74% sẵn sàng vay tiền để cho con theo học đại học.
Tác giả đã công bố kết quả điều tra về tác động của việc tăng học phí đối với sinh viên, cho thấy 28% sinh viên có nguy cơ phải bỏ học Hơn một nửa số hộ gia đình được khảo sát cho biết họ phải cho con đi làm thêm do học phí cao, đặc biệt nhóm nghèo nhất phải làm thêm nhiều nhất với tỷ lệ lên tới 79%.
Bảng 7: Yếu tố áp lực quan hệ giao tiếp xã hội
The analysis of social relationships reveals varying mean scores across different categories For "quan he xa hoi 1," the mean is 2.12 with a standard deviation of 1.067, while "quan he xa hoi 2" shows a higher mean of 3.26 and a standard deviation of 1.156 "Quan he xa hoi 3" has a mean of 3.17 and a standard deviation of 1.328, whereas "quan he xa hoi 4" reports the highest mean at 3.57 with a standard deviation of 1.101 In contrast, "quan he xa hoi 5" has a mean of 2.77 and a standard deviation of 1.261 The mean for "quan he xa hoi 7" is 3.00 with a standard deviation of 1.180, and "quan he xa hoi 8" has a mean of 3.66 and a standard deviation of 1.162 Lastly, "quan he xa hoi 6" presents a mean of 2.00 and a standard deviation of 1.094.
Kết quả nghiên cứu cho thấy SV trả lời câu hỏi các yếu tố áp lực thích ứng môi trường không có sự chênh lệch nhau nhiều:
Trong bảng này chúng ta có thang điểm từ 1 - 5 mức tương tự như sau:
Các câu trả lời đều có giá trị nhỏ nhất là 1 – “Rất không đồng ý” và giá trị lớn nhất là 5 – “Rất đồng ý”
Nhiều sinh viên cảm thấy khó khăn trong việc giao tiếp và chia sẻ ý kiến với giảng viên, cũng như tìm kiếm bạn tri kỷ trong môi trường đại học Họ thường lo lắng về cách mà người khác đánh giá mình và đôi khi mối quan hệ với bạn thân trở nên căng thẳng Tuy nhiên, hầu hết sinh viên không cảm thấy áp lực khi thấy bạn bè xung quanh có người yêu, do bận rộn với lịch học và các kỳ thi Điều này cho thấy rằng, mặc dù có nhiều yếu tố khiến sinh viên e dè trong việc kết bạn và nêu ý kiến, nhưng họ vẫn có thể tìm thấy sự đồng cảm trong hoàn cảnh chung của mình.
Bảng 8: Yếu tố áp lực học tập
N Minimum Maximum Mean Std Deviation hoc tap 1 113 1 5 3.16 1.040 hoc tap 2 113 1 5 3.81 924 hoc tap 3 113 1 5 3.44 990 hoc tap 4 113 1 5 3.39 1.137 hoc tap 5 113 1 5 2.06 1.104
Kết quả nghiên cứu cho thấy SV trả lời câu hỏi các yếu tố áp lực thích ứng môi trường không có sự chênh lệch nhau nhiều:
Trong bảng này chúng ta có thang điểm từ 1 - 5 mức tương tự như sau:
Các sinh viên Khoa Tâm lý học trường Đại học Sư Phạm TP.HCM cho rằng họ cảm thấy áp lực từ nhiệm vụ học tập và kết quả học tập, dẫn đến việc không thể tập trung vào bài giảng Các câu trả lời trong khảo sát có giá trị từ 1 (Rất không đồng ý) đến 5 (Rất đồng ý).