TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC BÀI THẢO LUẬN MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Đề tài Phân tích các thời kỳ hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, đầu là thời kỳ hình thành những nội dung cơ bản về[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC
BÀI THẢO LUẬN MÔN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Đề tài: Phân tích các thời kỳ hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, đầu là thời kỳ hình thành những nội dung
cơ bản về cách mạng Việt Nam, tại sao?
Hà Nội - 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3 CHƯƠNG 1: PHÂN TÍCH CÁC THỜI KÌ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 4
1.1 Thời kì trước ngày 5/6/1911 4 1.2 Thời kì từ giữa năm 1911 đến cuối năm 1920: Thời kì hình thành tư tưởng cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản 5 1.3 Thời kỳ từ cuối năm 1920 đến năm 1930: Hình thành những nội dung cơ bản tư tưởng về cách mạng Việt Nam 11 1.4 Thời kỳ từ đầu năm 1930 đến đầu năm 1941: Vượt qua thử thách, giữ vững đường lối, phương pháp cách mạng Việt Nam đúng đắn, sáng tạo 13 1.5 Thời kỳ đầu năm 1941 đến tháng 9/1969: Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển, soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta 18
CHƯƠNG 2: THỜI KỲ TỪ CUỐI NĂM 1920 ĐẾN ĐẦU NĂM 1930 – THỜI KỲ HÌNH THÀNH NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ CÁCH MẠNG VIỆT NAM 21
2.1 Hoạt động thực tiễn của HCM từ cuối năm 1920 đến đầu năm 1930 21 2.2 Giải thích vì sao thời kì từ cuối năm 1920 đến đầu năm 1930 là tời kỳ hình thành những nội dung cơ bản về cách mạng Việt Nam 29
2.2.1 Hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc 29 2.2.2 Hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa
và cách mạng chính quốc, cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới 30 2.2.3 Hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cộng sản và cán bộ cách mạng31
KẾT LUẬN 33 TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
Trang 3MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 – 1969) là “Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, Danh nhân văn hoá thế giới” (UNESCO – 1987), là “một trong một trăm nhân vật ảnh hưởng nhất thế kỷ XX” (TIME – 2005) Người là người con ưu tú nhất của dân tộc Việt Nam Điếu văn của BCH TW Đảng Lao động Việt Nam – 1969 viết: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”
Hồ Chủ tịch đã để lại cho dân tộc và nhân loại một di sản đồ sộ, vô cùng quý báu
Đó là cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Trong kho tàng
ấy, Tư tưởng Hồ Chí Minh giữ một vị trí đặc biệt Cùng với Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành “kim chỉ nam cho hành động” của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta Đó là thứ vũ khí lý luận vô cùng sắc bén, là ngọn hải đăng soi đường chỉ lối cho dân tộc Việt Nam tiến về phía trước
Việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng đã được tiến hành từ mấy chục năm nay với sự góp mặt của đông đảo các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Và việc nghiên cứu các giai đoạn hình thành phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh là yêu cầu tất yếu trong quá trình tìm hiểu về Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng
Hồ Chí Minh nói riêng Đó chính là lý do cũng là nội dung của Tiểu luận này
Tiểu luận làm rõ những sự kiện chính trong quãng thời gian hoạt động của Nguyễn
Ái Quốc – Hồ Chí Minh, qua đó chỉ ra những Tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh xuất hiện như thế nào, thấy được những thay đổi, phát triển trong những tư tưởng
ấy so với những thời kỳ trước
Trang 4CHƯƠNG 1: PHÂN TÍCH CÁC THỜI KÌ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ
MINH
1.1 Thời kì trước ngày 5/6/1911
Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh nước mất, nhà tan Xuất thân trong một gia đình nhà nho yêu nước Từ thuở nhỏ tinh thần yêu nước, thương dân và nhân cách của cụ Nguyễn Sinh Sắc có ảnh hưởng lớn lao đến tư tưởng, nhân cách Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc tình cảm của người
mẹ – cụ Hoàng Thị Loan, người mẹ Việt Nam điển hình về tính cần mẫn, tần tảo, đảm đang, hết mực thương yêu chồng, thương yêu các con và ăn ở nhân đức với mọi người, được bà con láng giềng mến phục Cụ Hoàng Thị Loan có ảnh hưởng lớn đến các con bằng tấm lòng nhân hậu và mẫn cảm của người mẹ Hồ Chí Minh đã hấp thụ truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, nền văn hiến của nước nhà và được theo học các vị túc nho và tiếp xúc với nhiều loại sách báo tiến bộ ở các trường, lớp tại Vinh, tại kinh đô Huế, hiểu rõ tình cảnh nước nhà bị giặc ngoại xâm đô hộ, Hồ Chí Minh sớm có tư tưởng yêu nước và thể hiện rõ tư tưởng yêu nước trong hành động
Hồ Chí Minh đã tham gia phong trào chống thuế ở Trung Kỳ (năm 1908), Đầu năm
1910, Hồ Chí Minh đến Phan Thiết Ông dạy thể dục và chữ Quốc ngữ cho học sinh lớp
ba và tư tại trường Dục Thanh của Hội Liên Thành Trong thời gian này, Hồ Chí Minh thường gặp gỡ một số nhà nho yêu nước đương thời, tham gia công tác bí mật, nhận công việc liên lạc và có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào Ông tuy khâm phục Đề Thám (Hoàng Hoa Thám), Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào cả Theo quan điểm của ông, Phan Châu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải cách, điều đó chẳng khác nào "xin giặc rủ lòng thương", còn Phan Bội Châu thì hy vọng Đế quốc Nhật Bản giúp đỡ để chống Pháp, điều đó nguy hiểm chẳng khác nào "đuổi hổ cửa trước, rước báo cửa sau" Hồ Chí Minh thấy rõ là cần quyết định con đường đi của riêng mình Khoảng trước tháng 2 năm 1911, ông nghỉ dạy
và vào Sài Gòn cũng với sự giúp đỡ của Hội Liên Thành Tại đây, Hồ Chí Minh theo học trường Bá Nghệ là trường đào tạo công nhân hàng hải và công nhân chuyên nghiệp cho xưởng Ba Son (bây giờ là trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng), vừa đi bán báo ở khu vực thương cảng để kiếm sống và đồng thời tìm hiểu đời sống công nhân Ở đây, ông học được 3 tháng Sau đó ông quyết định sẽ tìm một công việc trên một con tàu viễn dương
Trang 5để được ra nước ngoài học hỏi tinh hoa của phương Tây Hồ Chí Minh đã nói: “Vào trạc tuổi 13, lần đầu tiên tôi nghe những tiếng Pháp “tự do, bình đẳng, bác ái” Thế là tôi muốn làm quen với nền văn minh Pháp, tìm xem những gì ẩn dấu đằng sau những từ mĩ miều ấy Vì thế tôi nảy ra ý muốn sang xem “Mẫu quốc” ra sao và tôi tới Pari để học hỏi” Hồ Chí Minh muốn tìm hiểu những gì ẩn giấu sau sức mạnh của kẻ thù và học hỏi kinh nghiệm cách mạng trên thế giới Ngày 5-6-1911, Hồ Chí Minh đi ra nước ngoài tìm con đường cứu nước, cứu dân
1.2 Thời kì từ giữa năm 1911 đến cuối năm 1920: Thời kì hình thành tư tưởng cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường của cách mạng vô sản được hình thành từng bước trong quá trình Hồ Chí Minh đi tìm đường cứu nước; đó là quá trình sống, làm việc, học tập, nghiên cứu lý luận và tham gia đấu tranh trong thực tế cách mạng ở nhiều nước trên thế giới Việc Hồ Chí Minh ra nước ngoài xuất phát tứ ý thức dân tộc, từ hoài bão cứu nước Qua cuộc hành trình đến nhiều nước thuộc địa, phụ thuộc, tư bản, đế quốc Người đã xúc động trước cảnh khổ cực, bị áp bức của những người dân lao động Người nhận thấy ở đâu nhân dân cũng mong muốn thoát khỏi ách áp bức bóc lột
Trước hết, Người xác định đúng bản chất, thủ đoạn, tội ác của chủ nghĩa thực dân
và tình cảnh nhân dân các nước thuộc địa Từ năm 1911 đến năm 1917, từ Pháp, Hồ Chí Minh đến nhiều nước trên thế giới Qua cuộc hành trình này, ở Người hình thành một nhận thức mới: Nhân dân lao động các nước, trong đó có giai cấp công nhân, đều bị bóc lột có thể là bạn của nhau, còn chủ nghĩa đế quốc, bọn thực dân ở đâu cũng là kẻ bóc lột,
là kẻ thù của nhân dân lao động
- Ngày 05/06/1911, trên con tàu Đô đốc Latuso Tơrêvin, từ bến cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh) Nguyễn Tất Thành rời tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước Theo hành trình của tàu, Nguyễn Tất Thành đã dừng chân ở cảng Mácxây, cảng Lơ Havơrơ (Le Havre) của Pháp Những ngày đầu tiên trên đất Pháp, được chứng kiến ở Pháp cũng có những người nghèo như ở Việt Nam, Bác nhận thấy
có những người Pháp trên đất Pháp tốt và lịch sự hơn những tên thực dân Pháp ở Đông Dương
Trang 6- Không dừng lại ở Pháp, năm 1912, Nguyễn Tất Thành làm thuê cho một chiếc tàu của hãng Sácgiơ Rêuyni đi vòng quanh châu Phi, đã có dịp dừng lại ở những bến cảng của một số nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Angiêri, Tuynidi, Cônggô, Đahômây, Xênêgan, Rêuyniông,… Đến đâu Bác cũng thấy cảnh khổ cực của người lao động dưới sự áp bức bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị và làm cho Bác rất đau xót Bác liên tưởng một cách tự nhiên đến số phận của người dân Việt Nam, đồng bào khốn khổ của mình Những sự việc như vậy diễn ra khắp nơi trên đường Bác đi qua, tạo nên ở Bác mối đồng cảm sâu sắc với số phận chung của nhân dân các nước thuộc địa
- Nguyễn Tất Thành theo con tàu tiếp tục đi qua Máctiních (Martinique) (Trung Mỹ), Urugoay và Áchentina (Nam Mỹ) và dừng lại ở nước Mỹ cuối năm 1912 Tại đây, Người có dịp tìm hiểu cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Mỹ với bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng trong lịch sử Bác vừa đi làm thuê để kiếm sống vừa tìm hiểu đời sống của những người lao động Mỹ và cả về cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc của những người da đen
- Dừng chân ở nước Mỹ không lâu nhưng Nguyễn Tất Thành đã sớm nhận ra bộ mặt thật của đế quốc Hoa Kỳ Đằng sau khẩu hiệu “cộng hòa dân chủ” của giai cấp tư sản
Mỹ là những thủ đoạn bóc lột nhân dân lao động rất tàn bạo Bác cảm thông sâu sắc với đời sống của người dân lao động da đen và rất căm giận bọn phân biệt chủng tộc, hành hình người da đen một cách man rợ
- Khoảng đầu năm 1913, Nguyễn Tất Thành theo tàu rời Mỹ trở về Lơ Havơrơ, sau đó sang Anh Tại Anh, Người đã hăng hái tham dự những cuộc diễn thuyết ngoài trời của nhiều nhà chính trị và triết học, tham gia Hội những người lao động hải ngoại, ủng hộ cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân Airơlen
Giữa lúc cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất diễn ra ác liệt, tình hình Đông Dương đang có những biến động, vào khoảng cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành từ Anh trở lại Pháp để có điều kiện trực tiếp hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân Năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội của giai cấp công nhân Pháp, bởi theo Người, đây là tổ chức theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại Cách mạng Pháp: Tự do, bình đẳng, bác ái
Trang 7Bước nhận thức mới về quyền tự do, dân chủ của nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh diễn ra qua hoạt động: Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước ở Pháp, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, gửi Yêu sách của nhân dân An Nam tới Hội nghị Vécxây (18-6-1919), đòi quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam Đây là tiếng nói chính nghĩa đầu tiên của đại biểu phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam trên diễn đàn quốc
tế Tiếng nói chính nghĩa đó có ảnh hưởng lớn tới các phong trào yêu nước ở Việt Nam
- Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc Ngày 18-6-1919, đại biểu các nước
đế quốc tham gia chiến tranh họp Hội nghị ở Vécxây (Versailles) (Pháp) Hội nghị này còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari, nhưng thực chất đó là nơi chia phần giữa các nước đế quốc thắng trận và trút hậu quả chiến tranh lên đầu nhân dân các nước thua trận và các dân tộc bị áp bức Thay mặt Hội những người yêu nước Việt Nam tại Pháp, Nguyễn Tất Thành cùng Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường thảo ra bản Yêu sách của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị Vécxây Dưới bản Yêu sách Nguyễn Tất Thành ký tên: Nguyễn Ái Quốc Đây là lần đầu tiên tên gọi Nguyễn Ái Quốc xuất hiện Nguyễn Ái Quốc tới lâu đài Vécxây gửi bản Yêu sách cho văn phòng Hội nghị, sau đó lần lượt gửi bản Yêu sách đến các đoàn đại biểu các nước Đồng minh dự hội nghị Hầu hết các đoàn đại biểu đều có thư trả lời Nguyễn Ái Quốc
Bản Yêu sách gồm tám điểm:
1 Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị;
2 Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xoá bỏ hoàn toàn các toà án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân
An Nam;
3 Tự do báo chí và tự do ngôn luận;
4 Tự do lập hội và hội họp;
5 Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương;
6 Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ;
Trang 87 Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật;
8 Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ
- Nguyễn Ái Quốc còn tự tay viết Yêu sách bằng hai thứ tiếng: một bản bằng chữ quốc ngữ theo thể văn vần, nhan đề Việt Nam “Yêu cầu ca” và một bản chữ Hán nhan
đề ”An Nam nhân dân thỉnh nguyện thư”
- Bản Yêu sách phản ánh nguyện vọng của nhân dân Việt Nam không được hội nghị xem xét Đối với dư luận Pháp, Yêu sách cũng không có tiếng vang như mong muốn, nhưng lại tác động mạnh mẽ đến người Việt Nam trong nước và nước ngoài Một người Việt Nam với tên gọi Nguyễn Ái Quốc đã dũng cảm đưa vấn đề chính trị của Việt Nam ra quốc tế, đòi cho Việt Nam có những quyền cơ bản chính đáng, thiết thực Đây là dấu hiệu mới của cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trên đường đi tới độc lập dân tộc Qua việc bản Yêu sách không được chấp nhận, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy, như sau này Người đã viết: “Chủ nghĩa Uynxơn chỉ là một trò bịp bợm lớn” và
“Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”
- Từ yêu cầu thực tiễn đấu tranh, Nguyễn Ái Quốc thấy cần phải học viết báo để tố cáo tội ác của thực dân Pháp Phong trào công nhân và chủ nghĩa xã hội ở Pháp đã đưa Bác đến với hoạt động báo chí Trong hai năm 1919-1920, Nguyễn Ái Quốc đã viết 5 bài báo Bài đầu tiên là Vấn đề bản xứ, đăng trên báo Nhân đạo (L’ Humanité), ngày 2-8-1919 Bài báo nhắc lại những nội dung chính bản Yêu sách của nhân dân An Nam gửi Hội nghị Vécxây, tháng 6-1919, khẳng định nguyện vọng đó của nhân dân Việt Nam là chính đáng; đồng thời tố cáo, lên án những chính sách cai trị cùng các thủ đoạn đàn áp, cướp bóc của thực dân Pháp ở Đông Dương và tin tưởng rằng nhân dân tiến bộ Pháp sẽ đồng tình, ủng hộ cuộc đấu tranh vì tự do và công lý của nhân dân Việt Nam
- Báo Dân chúng (Le Populaire) đăng bài Đông Dương và Triều Tiên của Nguyễn Ái Quốc Bài báo nhắc đến sắc lệnh của Thiên Hoàng công bố tại Tôkyô ngày 19-8-1919 với nội dung định rõ quyền bình đẳng giữa người bản xứ Triều Tiên với người Nhật trong tất cả các luật lệ Bài báo so sánh chính sách cai trị của đế quốc Nhật ở Triều Tiên và đế quốc Pháp ở Đông Dương, nghiêm khắc lên án chính sách ngu dân của
Trang 9Pháp và đặt câu hỏi: Nước Pháp có thể đối với Đông Dương ít nhất một cách sáng suốt như Nhật đối với Triều Tiên không?
Qua các bài báo trên, chúng ta thấy rõ về mặt tư tưởng, Nguyễn Ái Quốc là một người yêu nước tiến bộ, căm thù chủ nghĩa thực dân Pháp Khát vọng của Người là đấu tranh giải phóng dân tộc, nhưng làm thế nào và đi theo hướng nào để đạt được mục đích
đó, Nguyễn Ái Quốc vẫn còn đang tìm kiếm
Hồ Chí Minh đã tìm thấy và xác định rõ phương hướng đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản qua nghiên cứu Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa (Để trình bày tại Đại hội II Quốc
tế Cộng sản) của Lênin và nhiều tài liệu liên quan đến Quốc tế Cộng sản vào tháng
7-1920 Cùng với việc tích cực tham gia các hoạt động thực tế trong Đảng Xã hội Pháp, Người hiểu biết sâu sắc hơn về chủ nghĩa Lênin, Quốc tế Cộng sản, về cách mạng vô sản,
về phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới Với những nhận thức cách mạng mới, Hồ Chí Minh cùng những người phải tả trong Đảng Xã hội Pháp tại Đại hội ở thành phố Tua (từ ngày 25 đến ngày 30-12-1920), bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên Đây là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của Hồ Chí Minh, bước ngoặt chủ nghĩa yêu nước kết hợp chặt chẽ với lập trường cách mạng vô sản
- Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế phát triển mạnh mẽ Đầu năm 1919, Lênin và những người theo chủ nghĩa Mác ủng hộ lập trường của Lênin họp đại hội ở Mátxcơva, thành lập Quốc tế III – tức Quốc tế Cộng sản Quốc tế Cộng sản đã kiên quyết ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước phương Đông Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin được Đại hội lần thứ hai Quốc tế Cộng sản họp năm
1920 thông qua, đã vạch ra đường lối cơ bản cho phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc Lần đầu tiên trên báo Nhân đạo, ngày 16 và 17-7-1920 đã đăng Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin Tên đầu bài có liên quan đến vấn đề thuộc địa lập tức thu hút sự chú ý của Nguyễn Ái Quốc Trong văn kiện này, Lênin phê phán mọi luận điểm sai lầm của những người đứng đầu Quốc tế II về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, lên án mạnh
mẽ tư tưởng sô vanh, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ích kỷ, đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ
Trang 10của các đảng cộng sản là phải giúp đỡ thật sự phong trào cách mạng của các nước thuộc địa và phụ thuộc, về sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản các nước tư bản với quần chúng cần lao của tất cả các dân tộc để chống kẻ thù chung là đế quốc và phong kiến
- Từ bản Luận cương của Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy phương hướng và đường lối cơ bản của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, trong đó có cách mạng Việt Nam Niềm tin ấy là cơ sở tư tưởng để Nguyễn Ái Quốc vững bước đi theo con đường cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác-Lênin Quyết tâm đi theo con đường của Lênin
vĩ đại, Nguyễn Ái Quốc xin gia nhập Uỷ ban Quốc tế III, do một số đồng chí trong Đảng Xã hội Pháp lập ra, nhằm tuyên truyền vận động gia nhập Quốc tế III
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp họp từ ngày 25 đến ngày 30-12-1920, tại thành phố Tua (Pháp), đã tranh luận gay gắt về việc gia nhập Quốc tế III hay ở lại Quốc tế II, thành lập Đảng Cộng sản, hay giữ nguyên Đảng Xã hội Nguyễn Ái Quốc tham dự đại hội với tư cách là đại biểu chính thức và duy nhất của các nước thuộc địa Đông Dương Tại đại hội lịch sử này, cùng với những người cách mạng chân chính của nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành tham gia Quốc tế III Quốc tế Cộng sản, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, và Người cũng trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên Đó là một sự kiện chính trị vô cùng quan trọng trong đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc và trong lịch sử cách mạng nước ta Nếu như cuộc đấu tranh của Nguyễn Ái Quốc tại Hội nghị Vécxây năm 1919 mới là phát pháo hiệu thức tỉnh nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh chống thực dân Pháp, thì việc Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp năm 1920 đã đánh dấu một bước chuyển biến quyết định, bước nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người:
Từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Lênin
Như vậy, từ năm 1911 đến năm 1920, là thời kỳ Nguyễn Ái Quốc khảo sát, nghiên cứu để lựa chọn con đường giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách nô lệ của bọn thực dân, phong kiến Người đã vượt qua ba đại dương, bốn châu lục Á, Âu, Phi, Mỹ Trải qua những tháng năm lao động kiếm sống, thâm nhập đời sống thực tế của những người lao động nhiều nước trên thế giới, Nguyễn Ái Quốc thấy rõ cảnh bất công, tàn bạo của xã hội
tư bản, Người vô cùng xúc động trước đời sống khổ cực của giai cấp công nhân và nhân dân lao động các nước Bước đầu Bác rút ra kết luận quan trọng là: ở đâu chủ nghĩa tư bản cũng tàn ác và vô nhân đạo, ở đâu nhân dân lao động cũng bị áp bức, bóc lột rất dã
Trang 11man; các dân tộc thuộc địa đều có một kẻ thù chung là bọn đế quốc thực dân Người nhận
rõ giai cấp công nhân và nhân dân lao động các nước đều là bạn, chủ nghĩa đế quốc ở đâu cũng là kẻ thù Sau này đã khái quát thành một chân lý: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột Mà cũng chỉ có một tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”
Cũng từ thực tế lao động, học tập, thâm nhập đời sống những người lao động, phân tích tình hình chính trị thế giới, tiếp cận với chủ nghĩa Mác – Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn con đường cứu nước đúng đắn, đó là con đường cách mạng vô sản mà sau này Người đã đúc kết: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”
Sự lựa chọn và hành động của Nguyễn Ái Quốc phù hợp với trào lưu tiến hóa của lịch sử, chuyển từ chủ nghĩa yêu nước sang chủ nghĩa cộng sản, đã kéo theo cả một lớp người Việt Nam yêu nước chân chính đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin Từ đó chủ nghĩa Mác – Lênin bắt đầu thâm nhập vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, cách mạng Việt Nam từ đây có một phương hướng mới
1.3 Thời kỳ từ cuối năm 1920 đến năm 1930: Hình thành những nội dung cơ bản tư tưởng về cách mạng Việt Nam
Đây là thời kỳ mục tiêu, phương hướng cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam từng bước được cụ thể hóa, thể hiện rõ trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam Hồ Chí Minh tích cực sử dụng báo chí Pháp lên án chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh lương tri nhân dân Pháp và nhân loại tiến bộ, khơi dậy lòng yêu nước của nhân dân các dân tộc thuộc địa và của dân tộc Việt Nam
Năm 1921, Hồ Chí Minh tham gia sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa
Năm 1922, Người được bầu là Trưởng Tiểu ban Nghiên cứu vấn đề dân tộc thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp, sáng lập báo Le Paria bằng tiếng Pháp Hồ Chí Minh đã hoạt động tích cực trong cương vị lãnh đạo hội, đồng thời là người chịu trách nhiệm mọi mặt của tờ Người cùng khổ Những hoạt động sôi nổi đó có ảnh hưởng không nhỏ đến phong trào cách mạng ở các thuộc địa nói chung cũng như Việt Nam nói riêng
Trang 12Hồ Chí Minh sáng lập tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản: Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng (tháng 6-1925), ra báo Thanh niên bằng tiếng Việt, từng bước truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và lý luận cách mạng trong những người yêu nước và công nhân Tổng kết kinh nghiệm các cuộc cách mạng tư sản Anh, Pháp, Mỹ và nhất là từ kinh nghiệm Cách mạng Tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh vạch rõ cách mạng Việt Nam phải có đảng cộng sản với chủ nghĩa Mác - Lênin làm cốt để lãnh đạo; lực lượng cách mạng giải phóng dân tộc là toàn thể nhân dân Việt Nam trong đó nòng cốt là liên minh công nông
Hồ Chí Minh thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh chính trị đúng đắn
và sáng tạo đã chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo cách mạng Việt Nam kéo dài suốt từ cuối thế kỷ XIX sang đầu năm 1930
Các tác phẩm lý luận tiêu biểu:
STT Tên tác
phẩm
Năm xuất bản
1925 Tác phẩm không chỉ tố cáo tội ác của chủ nghĩa đế quốc Pháp
đối với dân tộc Việt Nam cũng như với các thuộc địa khác trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội mà điều quan trọng là đã nêu lên những luận điểm cơ bản về vấn đề dân tộc
và vấn đề thuộc địa Phương hướng của cách mạng giải phóng dân tộc trong các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam được
Hồ Chí Minh cụ thể hóa một bước trên cơ sở phân tích sâu sắc bản chất, thủ đoạn của chủ nghĩa thực dân Pháp
2 Đường
cách
mệnh
1927 Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tổng
kết thực tiễn phong trào cách mạng trong nước và quốc tế, cuốn sách đã trình bày một cách hệ thống những vấn đề cơ bản của lý luận cách mạng, làm cơ sở cho việc hoạch định đường lối của cách mạng Việt Nam
3 Cương
lĩnh
chính trị
1930 Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam
nêu mục tiêu và con đường cách mạng là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng
Trang 13Bảng: Tổng hợp các tác phẩm lý luận tiêu biểu thời kỳ 1920 -1930
1.4 Thời kỳ từ đầu năm 1930 đến đầu năm 1941: Vượt qua thử thách, giữ vững đường lối, phương pháp cách mạng Việt Nam đúng đắn, sáng tạo
Trong giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1941 là một khoảng thời gian dài với biết bao khó khăn, gian khổ, thử thách trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, với ý chí mạnh mẽ và nghị lực phi thường, lòng yêu nước thương dân sâu sắc, đã giúp Hồ Chí Minh vượt qua tất cả mọi khó khăn gian khổ, tiếp tục giữ liên lạc lãnh đạo cách mạng Việt Nam
Do không nắm được tình hình thực tế ở Việt Nam và các nước thuộc địa phương Đông, lại bị chi phối bởi khuynh hướng “tả” lúc bấy giờ Quốc tế Cộng Sản đã chỉ trích
và phê phán đường lối của Hồ Chí Minh vạch ra trong Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là tư tưởng “hữu khuynh”, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi Hội nghị Trung ương tháng 10/1930 của Đảng, theo chỉ đạo của Quốc tế cộng sản đã ra “án Nghị quyết” thủ tiêu chính cương vắn tắt, đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương và hoạt động theo như chỉ thị của Quốc tế Cộng sản Trong thời gian đó những tư tưởng mới mẻ, đúng đắn, sáng tạo của Hồ Chí Minh trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên chẳng những không được hiểu và chấp nhận mà còn bị họ phê phán là “hữu khuynh”, “dân tộc chủ nghĩa”
Trang 14Trước sự lớn mạnh của phong trào cách mạng Đông Dương và sự cấu kết của bọn
đế quốc trong việc bắt bớ, giam cầm các nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam ở trong và ngoài nước, Hồ Chí Minh báo cáo về Văn phòng Ban Phương Đông, đề nghị được chuyển công tác lên Thượng Hải khi tình hình diễn biến ngày càng xấu đi, song đề nghị chưa kịp thực hiện, thì ngày 6-6-1931, Hồ Chí Minh (tên gọi khi đó là Tống Văn Sơ) bị bắt tại số nhà 186, phố Tam Kung (Cửu Long, Hồng Kông) Vượt qua những tháng ngày đầy sóng gió, thoát khỏi nhà tù của thực dân Anh ở Hồng Kông, năm 1934 Hồ Chí Minh trở lại Liên Xô, vào học Trường quốc tế Lênin Sau đó, Người làm nghiên cứu sinh tại Ban Sử của Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Quốc tế Cộng Sản Người học đầy đủ các môn lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, với phương pháp học tập chủ yếu là tự nghiên cứu và thảo luận, kết hợp đi khảo sát thực tế Được học tập tại trường, nhưng Người không quên trách nhiệm bồi dưỡng lý luận cho những cán bộ, đảng viên ở trong nước
Trên cơ sở xác định chính xác con đường cần phải đi của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã kiên trì bảo vệ quan điểm của mình về vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, về cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa và cách mạng vô sản, chống lại những biểu hiện
tả khuynh và biệt phái trong Đảng
Tháng 7-1935, Đại hội VII Quốc tế Cộng sản đã phê phán khuynh hướng “tả” trong phong trào cộng sản quốc tế, chủ trương mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất vì hòa bình, chống chủ nghĩa phát xít Đối với các nước thuộc địa và phụ thuộc, Đại hội VII Hồ Chí Minh bỏ luận điểm “tả khuynh” trước đây về chủ trương làm “cách mạng công nông”, thành lập “chính phủ Xô Viết”,… Sự chuyển hướng đấu tranh của Quốc tế Cộng sản đã chứng tỏ quan điểm của Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam, về Mặt trận dân tộc thống nhất, về việc tập trung mũi nhọn vào chống chủ nghĩa đế quốc là hoàn toàn đúng đắn Trên quan điểm đó, năm 1936, Đảng ta đã đề ra chính sách mới, phê phán những biểu hiện “tả” khuynh, cô độc, biệt phái trước đây
Khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, nhận thấy thời cuộc sẽ có những chuyển biến lớn nên cần phải về nước trực tiếp tham gia lãnh đạo cách mạng Việt Nam Để thực hiện nguyện vọng của mình, ngày 6-6-1938, Người (ký tên Lin) gửi thư cho Quốc tế Cộng sản bày tỏ nguyện vọng về nước hoạt động và trong đó có đoạn viết:
Trang 15“Xin đồng chí giúp đỡ tôi thay đổi tình cảnh đau buồn này…Đừng để tôi sống quá lâu trong tình trạng không hoạt động và giống như là sống ở bên cạnh, ở bên ngoài của Đảng”
Nữ đồng chí Vaxiliêva, Trưởng khoa Phương Đông, đặc trách khu vực Đông Dương của Ban Phương Đông, Quốc tế Cộng sản đã ủng hộ nguyện vọng của Hồ Chí Minh và viết thư đề nghị Ban Bí thư Quốc tế Cộng sản ủng hộ nguyện vọng của Người
Và Quốc tế Cộng sản đã tổ chức một cuộc họp bí mật, trong đó có sự tham gia của các đồng chí G Đimitrốp, Tổng Bí thư Quốc tế Cộng sản và đồng chí Vaxin Côlarốp ra chỉ thị về công tác cho Hồ Chí Minh Sau đó, Quốc tế Cộng sản đã ra Quyết định số 60 (mật): “Sinh viên mang số hiệu 19 (Lin) từ ngày 29-9-1938 đã rời khỏi biên chế của Viện (về nước)”
Đầu tháng 10-1938, Người đáp xe lửa từ Mátxcơva đi về phương Đông Vượt qua biên giới Xô – Trung, Hồ Chí Minh đến Urumsi rồi đi Lan Châu Tại đây, Người được Văn phòng Bát lộ quân chuẩn bị cho một chứng minh thư Trung Quốc, mang tên Hồ Quang, cấp bậc thiếu tá
Từ tháng 2-1939, Hồ Chí Minh viết nhiều bài dưới tiêu đề: “Thư từ Trung Quốc”, tập trung nêu lên họa xâm lược của bọn phát xít Nhật ở Trung Quốc và các quốc gia châu
Á, đồng thời nêu rõ những hoạt động phá hoại của bọn Tờrốtxkít ở Trung Quốc, qua đó gián tiếp báo động về những hoạt động của chúng ở Việt Nam, nhằm nhắc nhở, giáo dục cán bộ, đảng viên nâng cao tinh thần cảnh giác, không thoả hiệp với chúng trong bất cứ vấn đề nào Cùng với những bài báo, Hồ Chí Minh còn gửi thư cho Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, trực tiếp truyền đạt tinh thần Nghị quyết Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, nêu những ý kiến về đường lối, chủ trương của Đảng trong thời kỳ thực hiện Mặt trận dân chủ Đông Dương:
- Về khẩu hiệu đấu tranh: Lúc này Đảng không nên đưa ra những đòi hỏi quá cao, như độc lập dân tộc mà chỉ nên đòi các quyền dân chủ, tự do hội họp, tự do tổ chức,… đấu tranh để Đảng được hoạt động hợp pháp
- Về công tác mặt trận: Phải ra sức tổ chức Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, bao gồm cả những người Pháp tiến bộ ở Đông Dương và giai cấp tư sản dân tộc “Tránh
Trang 16hết sức để họ ở ngoài Mặt trận, vì như thế là đẩy họ rơi vào tay bọn phản động, là tăng thêm lực lượng cho chúng”
- Về vai trò lãnh đạo của Đảng: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất Chỉ trong đấu tranh và công tác hằng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”
- Về giáo dục nội bộ: “Đảng phải đấu tranh không nhân nhượng chống tư tưởng bè phái, và phải tổ chức học tập có hệ thống chủ nghĩa Mác – Lênin để nâng cao trình độ văn hoá và chính trị cho các đảng viên Phải giúp đỡ cán bộ không đảng phái nâng cao trình độ”
- Về quan hệ quốc tế: “Phải duy trì quan hệ chặt chẽ với Đảng Cộng sản Pháp”, “với Mặt trận nhân dân Pháp”, vì mặt trận này “có thể giúp rất nhiều cho ta”
Sau đó, Người báo cáo Quốc tế Cộng sản những ý kiến về đường lối mà Người đã truyền đạt cho Trung ương Đảng ta và tình hình công việc của Người trong 9 tháng qua như: làm phiên dịch tin tức, viết sách nói về Khu vực đặc biệt, và một số bài báo phản ánh những biến cố chính trị, quân sự ở Trung Quốc
Đầu tháng 6-1940, Hồ Chí Minh với bí danh đồng chí Vương đến Thuý Hồ gặp các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp từ trong nước sang Sau đó ít ngày, với bí danh Hồ Quang, Người giới thiệu các đồng chí Cao Hồng Lĩnh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đi học chính trị dài hạn ở Diên An, nhưng sau đó kịp thời hoãn lại vì tình hình thế giới có nhiều biến động Ở Côn Minh, nghe tin phát xít Đức tấn công Pháp (15-6-1940), Chính phủ Pêtanh chấp nhận mọi điều kiện đầu hàng (22-6-1940), tạo ra những điều kiện mới cho sự phát triển của phong trào cách mạng, Hồ Chí Minh quyết định triệu tập cuộc họp tại trụ sở báo Đ.T Tại cuộc họp, Người nhấn mạnh: “Đây là thời cơ thuận lợi cho cách mạng Việt Nam Ta phải tìm mọi cách về nước để tranh thủ nắm thời cơ Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”
Hội nghị tán thành ý kiến của Người và quyết định: Tìm mọi cách về nước
Hạ tuần tháng 12-1940, Hồ Chí Minh cùng một số cán bộ rời Quế Lâm đi xuống Tĩnh Tây (Quảng Tây) Vài ngày sau Tết dương lịch năm 1941, đồng chí Hoàng Văn Thụ
Trang 17đã gặp lãnh tụ Hồ Chí Minh tại Tân Khư (Tĩnh Tây) Thay mặt Trung ương Đảng, đồng chí báo cáo với Người tình hình trong nước, những công việc đang thực hiện và kế hoạch chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương lần thứ tám, đồng thời đề nghị Người nên chọn hướng Cao Bằng để về nước Mấy ngày sau, Người cùng Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp được đồng chí Hoàng Sâm dẫn đường, qua Nậm Bo xuống Nậm Quang (sát biên giới Việt – Trung) Tại Nậm Quang, Hồ Chí Minh mở lớp huấn luyện cho 43 cán bộ cách mạng Việt Nam Chương trình của lớp học rất thiết thực, với các nội dung cơ bản như: Tình hình quốc tế, trong nước; tổ chức đoàn thể quần chúng; cách thức tổ chức, huấn luyện đấu tranh Người cũng căn dặn các học viên trong mối liên hệ với dân có 5 điều nên làm và 5 điều nên tránh Các tài liệu do Người tổ chức biên soạn và giảng dạy, sau đó được in litô thành sách Con đường giải phóng, trong đó nêu ra phương pháp cách mạng chính quyền (1-1941)
Tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng Cộng sản Đông Dương khẳng định, trở thành yếu tố chỉ đạo cách mạng Việt Nam từ hội nghị Trung ương Đảng tháng 5-1941 Ngày 28-1-1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Hồ Chí Minh trở về Tổ quốc Tại Hội nghị Trung ương lần VIII (từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941) họp tại Pác Bó (Cao Bằng) dưới sự chủ trì của Hồ Chí Minh, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã hoàn chỉnh việc chuyển hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam Hội nghị này đã đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu Người khẳng định rõ: "Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng"
Hội nghị Trung ương Đảng đã tạm thời gác lại khẩu hiệu cách mạng điền địa, xóa
bỏ vấn đề lập Chính phủ Liên bang Cộng hòa dân chủ Đông Dương, thay vào đó là chủ trương sẽ thành lập Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nêu chủ trương lập Mặt trận Việt Minh, thực hiện đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở nòng cốt liên minh công nông, nêu ra phương hướng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, v.v… Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng tháng 5-1941 đã hoàn chỉnh thêm một bước
sự chuyển hướng chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam được vạch ra từ Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11-1939 Sự chuyển hướng được vạch ra từ hai cuộc Hội nghị này thực chất là sự trở về với quan điểm của Hồ Chí Minh đã nêu ra từ trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930
Trang 18Tóm lại quá trình hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1931 –
1941 đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam tuy có những lúc bị gián đoạn, không trực tiếp lãnh đạo cách mạng Nhưng cũng trong khoảng thời gian này Hồ Chí Minh đã trải qua những khó khăn thử thách lớn trong sự nghiệp hoạt động cách mạng của mình, tuy nhiên không vì vậy mà ảnh hưởng đến hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian này, Hồ Chí Minh đã đề ra những sách lược, chủ trương, đường lối chiến lược lãnh đạo cách mạng Việt Nam, khắc phục những hạn chế thiếu sót, bất cập của cách mạng Việt Nam trong quá trình hoạt động (1931 – 1941) Đưa sự nghiệp cách mạng nước ta sang trang mới với những thắng lợi mới vĩ đại Những quan điểm cơ bản nhất về đường lối cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam của Hồ Chí Minh được Đảng khẳng định đưa vào thực tiễn tổ chức nhân dân biến thành các phong trào cách mạng để dẫn tới thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945
1.5 Thời kỳ đầu năm 1941 đến tháng 9/1969: Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển, soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta
Trong giai đoạn này, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng cơ bản là thống nhất Trong những lần làm việc với cán bộ, đảng viên, nhân viên các địa phương, ban, bộ, ngành Hồ Chí Minh nhiều lần đưa ra những quan điểm sáng tạo, đi trước thời gian, càng ngày càng được Đảng ta làm sáng tỏ và tiếp tục phát triển soi sáng con đường các mạng Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí minh hình thành và phát triển:
19/5/1941, Hồ Chí Minh sáng lập Mặt trân Việt Minh trước những thay đổi mạnh
mẽ của tình hình trong nước và những biến động to lớn trên thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ VIII của Đảng ở Khuổi Nậm, Pác Bó, Cao Bằng quyết định sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng - khẳng định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập với tiền thân là của Quân đội nhân dân Việt Nam Ngày 18/8/1945, Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Tổng khời nghĩa giành chính quyền Cách mạng Tháng Tám thành công lật đổ chế độ phong kiến hơn nghìn năm, lật đổ ách thống trị thực dân Pháp hơn 80 năm và giành được độc lập dân tộc
– là thắng lợi đầu tiên của chủ nghãi Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt nam