1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án Tiến sĩ Hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

164 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam hiện nay
Tác giả Cao Kim Oanh
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Quang, PGS.TS. Bùi Thị Đào
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài luận án (9)
  • 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án (11)
  • 3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án (11)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu của luận án (12)
  • 5. Những đóng góp mới của luận án (13)
  • 6. Kết cấu của luận án (14)
  • Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI .. 1.1. Tình hình nghiên cứu (15)
    • 1.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (15)
    • 1.1.2. Nhóm công trình nghiên cứu về thực trạng hoạch định chính sách (28)
    • 1.1.3. Nhóm công trình nghiên cứu về hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở một số nước trên thế giới và phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng hoạch định chính sách ở Việt Nam (34)
    • 1.2. Những vấn đề đặt ra cho luận án (37)
    • 1.3. Khái quát câu hỏi nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu của luận án (38)
  • Chương 2 (42)
    • 2.1. Một số khái niệm cơ bản về hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản (42)
      • 2.1.2. Khái niệm chính sách (45)
      • 2.1.3. Khái niệm hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp (49)
    • 2.3. Quy trình hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (53)
      • 2.3.1. C ông đoạn đề xu ấ t chính sách (54)
      • 2.3.2. Công đoạn phân tích chính sách (55)
      • 2.3.3. Công đoạn thông qua chính sách (74)
    • 2.4. Vai trò của hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (76)
    • 2.5. Mối quan hệ giữa hoạch định chính sách với chất lượng văn bản quy phạm pháp luật (77)
    • 2.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (79)
  • Chương 3. (82)
    • 3.1. Thực trạng hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam (82)
      • 3.1.1. Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy pháp luật (82)
      • 3.1.2. Thực tiễn hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam (96)
    • 3.2 Ho ạch đị nh chính sách trong xây d ựng văn bả n quy ph ạ m pháp lu ậ t ở m ộ t (115)
      • 3.2.1. Quy trình chính sách trong xây dựng luật của Canada (116)
      • 3.2.2. Quy trình chính sách trong xây d ự ng lu ậ t c ủ a Anh (121)
      • 3.2.3. Quy trình chính sách trong xây d ự ng lu ậ t c ủ a Pháp (123)
      • 3.2.4. Quy trình chính sách trong xây dựng luật của Hoa Kỳ (125)
  • Chương 4. (129)
    • 4.1. Quan điểm, mục tiêu nâng cao chất lượng hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (129)
    • 4.2. Giải pháp nâng cao chất lượng hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (131)
      • 4.2.1. Hoàn thiện pháp luật về hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (131)
      • 4.2.2. Nâng cao nhận thức của chủ thể thực hiện hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (147)
      • 4.2.3. Giải pháp về tổ chức thực hiện hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (148)
      • 4.2.4. Ki ện toàn tổ chức bộ máy và tăng cường tính chuyên nghiệp của nguồn nhân lực thực hiện hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (152)
      • 4.2.5. Bảo đảm các điều kiện vật chất cho hoạt động hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (154)
      • 4.2.6. Xây dựng bộ tài liệu, công cụ hỗ trợ cho hoạt động hoạch định chính sách (155)

Nội dung

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án M ục tiêu của luận án Thông qua việc nghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận của hoạch định chính sách trong xây dựng VBQPPL, đánh giá thực trạn

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Nghiên cứu và phân tích cơ sở lý luận của hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) nhằm đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi Đề xuất các giải pháp cụ thể để nâng cao chất lượng hoạt động này, bao gồm: (1) Rà soát và đánh giá quy trình hoạch định chính sách trong xây dựng VBQPPL tại Việt Nam; (2) Đánh giá tính hợp lý và khả thi của quy trình này; (3) Xác định các tồn tại, hạn chế và vướng mắc trong quá trình thực hiện.

Tại Việt Nam, có bốn cơ quan có thẩm quyền thực hiện hoạt động hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), và nguyên nhân dẫn đến thực trạng này cần được phân tích kỹ lưỡng Để nâng cao hiệu quả hoạt động hoạch định chính sách, cần đề xuất những giải pháp cụ thể và điều kiện cần thiết nhằm xây dựng những VBQPPL chất lượng, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật trong tương lai.

Nhi ệ m v ụ nghiên c ứ u c ủ a lu ậ n án Đểđạt mục tiêu trên, luận án đặt ra một số nhiệm vụcơ bản sau đây:

Chương 1 tập trung vào việc nghiên cứu tổng quan các công trình liên quan đến đề tài luận án, nhằm chỉ ra những vấn đề mà luận án có thể kế thừa và những nội dung nghiên cứu cần tiếp tục triển khai.

Chương 2 tập trung vào việc phân tích cơ sở lý luận của hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) Nội dung chính bao gồm việc làm rõ các khái niệm liên quan như chính sách, hoạch định chính sách, các chủ thể tham gia vào quá trình này, quy trình hoạch định chính sách, và các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách trong bối cảnh xây dựng VBQPPL.

Chương 3 của luận án tập trung vào việc đánh giá thực trạng hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) Nghiên cứu này phân tích các quy định pháp luật liên quan đến việc ban hành VBQPPL, đồng thời đánh giá thực tiễn thực thi hoạt động hoạch định chính sách, đặc biệt là đối với luật và pháp lệnh Luận án chỉ ra những ưu điểm, thành tựu cũng như những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm cải thiện tình hình.

Chương 4 tập trung vào việc nghiên cứu sinh khẳng định quan điểm và mục tiêu trong hoạt động nghiên cứu Từ đó, họ đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng hoạch định chính sách trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) ở Việt Nam hiện nay.

Phương pháp nghiên cứu của luận án

Luận án tiếp cận, hình thành dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –

Lênin đã phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tạo nền tảng cho tư tưởng Hồ Chí Minh Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay đang tập trung vào việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đồng thời hoàn thiện hệ thống pháp luật để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn hiện tại.

Trong nghiên cứu, tác giả áp dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp để giải thích các vấn đề lý luận cơ bản, đồng thời đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp cho việc hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở chương 1.

Trong chương 2 và chương 3, tác giả áp dụng phương pháp điều tra xã hội học, bao gồm phiếu khảo sát và phỏng vấn sâu, để thu thập thông tin từ các chuyên gia xây dựng chính sách, cá nhân tham gia quy trình hoạch định chính sách, đối tượng bị tác động và các nhà khoa học Những thông tin và ý kiến này được sử dụng để củng cố đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ chế hoạch định chính sách Phương pháp thống kê được áp dụng để đánh giá số liệu hoạt động hoạch định chính sách qua các thời kỳ, trong khi phương pháp luật học so sánh giúp nghiên cứu mô hình và kinh nghiệm quốc tế, từ đó rút ra giá trị tham khảo cho Việt Nam Sự kết hợp các phương pháp nghiên cứu này mang lại nội dung luận án vừa khái quát, vừa cụ thể, đánh giá toàn diện về hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

Những đóng góp mới của luận án

Luận án nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về hoạt động hoạch định chính sách trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) tại Việt Nam Dựa trên những kết quả nghiên cứu trước đó, luận án đã đưa ra những điểm mới cơ bản.

Phân tích khái niệm chính sách và xây dựng định nghĩa về hoạch định chính sách trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là rất quan trọng Đặc điểm của hoạch định chính sách sẽ là cơ sở để nhận diện đối tượng VBQPPL cần thực hiện các hoạt động liên quan.

Hoạch định chính sách đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và cần thiết để cải thiện chất lượng của quá trình này Các yếu tố và mối quan hệ giữa hoạch định chính sách và soạn thảo VBQPPL cần được làm rõ, cùng với những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạch định Đánh giá thực trạng hiện nay tại Việt Nam cho thấy sự cần thiết phải nâng cao chất lượng hoạt động này, từ quy định pháp luật đến thực tiễn thực thi, nhằm phát hiện nguyên nhân của những hạn chế tồn tại Đề xuất một số giải pháp ngắn hạn và dài hạn sẽ giúp đảm bảo hoạt động hoạch định chính sách trong xây dựng VBQPPL diễn ra hiệu quả hơn Đặc biệt, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật và đề xuất mô hình tổ chức, cũng như kiện toàn cơ sở vật chất cho hoạt động này trong tương lai.

Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ đóng góp giá trị tham khảo quan trọng cho việc hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật tại Việt Nam Luận án sẽ là nguồn tài liệu quý báu cho các nghiên cứu tiếp theo.

Để giúp cán bộ, công chức hiểu sâu sắc hơn về công tác hoạch định chính sách, đặc biệt trong giai đoạn đổi mới xây dựng pháp luật và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, công trình này sẽ là nguồn tài liệu hữu ích Ngoài ra, nó còn có thể được áp dụng trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập tại các cơ sở đào tạo về luật học và quản lý nhà nước.

Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án được kết cấu thành 4 chương, bao gồm:

Chương 1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 2 Cơ sở lý luận về hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Chương 3 Thực trạng hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Chương 4 Nâng cao chất lượng hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Tình hình nghiên cứu

Nhóm công trình nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

1.1.1.1 Nghiên cứu khái quát cơ sở lý luận về hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Đối với nghiên cứu hoạch định chính sách của các học giả nước ngoài, cách tiếp cận lịch sử khoa học về chính sách là rất quan trọng, đặc biệt là qua cuốn sách “The Policy Sciences: Recent Trends in Scope and”.

Cuốn sách “Khoa học chính sách: các xu hướng gần đây trong phạm vi và phương pháp” của Harold Dwight Lasswell, biên tập cùng với Daniel Lerner và xuất bản năm 1951, đã đặt nền móng cho khoa học chính sách với cách tiếp cận “định hướng chính sách” trong dân chủ Lasswell nhấn mạnh sự chuyển biến từ việc hoạch định và phân tích chính sách, vốn được xem là công việc của giới tinh hoa, sang định hướng “dân chủ thảo luận” và “tham gia dân chủ” của người dân Cuốn sách cũng đề cập đến các đặc trưng quan trọng của “các khoa học chính sách của dân chủ”.

- Thứ nhất, các nguyên tắc nghiên cứu chính sách phát triển dựa trên phương pháp tiếp cận đa ngành, nhằm mục tiêu thúc đẩy thực hành dân chủ

Khoa học chính sách tập trung vào việc nghiên cứu và phân tích các vấn đề chính sách, từ đó đưa ra các khuyến nghị nhằm giải quyết những vấn đề này.

Harold Dwight Lasswell (1902 – 1978) là một trong những nhà khoa học chính trị hàng đầu của Mỹ, nổi bật với luận án tiến sĩ tại Đại học Chicago Ông từng giữ chức giáo sư luật tại Yale University và là Chủ tịch Hiệp hội Khoa học Chính trị Mỹ cũng như Viện Thế giới về khoa học và nghệ thuật Lasswell được công nhận là một trong những nhà khai sáng quan trọng trong lĩnh vực khoa học xã hội của thế kỷ 20, với những đóng góp đáng kể cho nghiên cứu chính trị.

Phương pháp tiếp cận “các khoa học chính sách” vào thứ ba tập trung vào mục tiêu và định hướng giá trị, với bối cảnh chủ yếu là giải quyết các vấn đề liên quan đến đặc tính dân chủ và nhân phẩm.

Cách tiếp cận và công bố của Lasswell về hoạch định chính sách, mặc dù còn sơ khai, đã đặt ra một tầm nhìn đầy tham vọng cho “các khoa học chính sách” và phương pháp “định hướng chính sách dân chủ”, tạo điều kiện cho các học giả tiếp tục nghiên cứu sau này.

Cùng mạch nghiên cứu “các khoa học chính sách của dân chủ” học giả James Farr, Jacob Hacker & Nicole Kazee (2006), “The Policy Scientist of Democracy:

Bài viết "Chính sách khoa học của dân chủ; Kỷ luật của Harold D Lasswell" trong tạp chí American Political Science Review nhấn mạnh mối liên hệ giữa chính sách và chính trị, cho thấy rằng chính sách không chỉ là một lĩnh vực khép kín mà còn có sự tham gia của các nhà khoa học chính sách Họ không chỉ nghiên cứu để hiểu chính trị mà còn cần thúc đẩy các lựa chọn dân chủ cho giới chính trị Do đó, việc tham gia vào các tranh luận chính sách là cần thiết, và các nhà tư vấn chính sách có thể ảnh hưởng lớn đến quá trình ra quyết định ở cấp cao nhất.

Học giả Aaron Wildavsky trong tác phẩm "Nói thật với quyền lực: nghệ thuật và thủ công của phân tích chính sách" (1979) nhấn mạnh rằng chuyên gia phân tích chính sách không phải là công cụ phục vụ cho quyền lực chính trị Vai trò của họ là vận động và ủng hộ những chính sách mà họ cho là đúng đắn và thuyết phục, thay vì chỉ tạo ra các nghiên cứu theo định hướng của quyền lực Khái niệm "nói thật với quyền lực" thể hiện sứ mệnh của họ trong việc truyền đạt sự thật đến chính quyền, qua đó khẳng định tầm quan trọng và vai trò của chuyên gia phân tích chính sách.

In her 2008 article, "Whatever Happened to Frank and Fearless? The Impact of New Public Management on the Australian Public Service," scholar Kathy MacDermott examines the effects of new public management on public services in Australia She explores how these management reforms have transformed the operational landscape, influencing the principles of accountability and transparency within the public sector MacDermott's analysis highlights the challenges and implications of these changes for public service delivery and governance.

ANUE Press, thuộc Đại học Quốc gia Úc, nhấn mạnh rằng bộ phận tham mưu chính sách, đặc biệt trong hệ thống công chức hành chính, cần tuân thủ nguyên tắc cung cấp "lời khuyên ngay thẳng và không sợ hãi" Học giả này cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của vai trò và sự công tâm của các chủ thể tham mưu chính sách.

Theo tác giả Kingdon (2011) trong cuốn "Chương trình nghị sự, sự lựa chọn thay thế và chính sách công", chu trình hoạch định chính sách được phát triển dựa trên nghiên cứu của Harold Lasswell và David Easton, bao gồm các giai đoạn như xác định vấn đề, lập chương trình, hình thành chính sách, thông qua chính sách, thực thi, đánh giá và kết thúc chính sách Lý thuyết này nhấn mạnh hiệu quả và tác động của chính sách, vượt ra ngoài việc chỉ xem xét các sản phẩm đầu ra như đạo luật Mặc dù mô hình các giai đoạn chính sách hữu ích cho nghiên cứu và ứng dụng, nó vẫn thiếu tính khoa học rõ ràng do không chỉ ra mối quan hệ nhân quả và động lực chính trong quá trình chuyển đổi giữa các giai đoạn, cũng như thiếu sự tương tác giữa các chủ thể tham gia, dẫn đến việc mô hình này không đủ sức ảnh hưởng để trở thành lý thuyết trung tâm trong nghiên cứu và thực hành chính sách.

Một cách nhìn nhận khác về quy trình chính sách là Sabatier P (2007),

Theories of the Policy process (tạm dịch là Các lý thuyết của tiến trình chính sách),

Westview Press và với Lý thuyết về Khung liên minh vận động (The Advocacy

Khung Liên minh (ACF) được phát triển từ những năm 1980, cung cấp các giả thuyết nhân quả quan trọng cho nghiên cứu lý thuyết và thực hành chính sách ACF đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia và lĩnh vực chính sách khác nhau Nó nhấn mạnh rằng quá trình thay đổi chính sách thường kéo dài hàng thập kỷ và thường diễn ra trong các hệ thống chính sách nhỏ (subsystems), nơi có sự tương tác giữa các chủ thể khác nhau ảnh hưởng đến từng lĩnh vực cụ thể Đề xuất chính sách xuất hiện tại nhiều thời điểm khác nhau, và không phải tất cả các chủ thể làm chính sách đều tham gia vào các hệ thống này.

Các công trình nghiên cứu của các học giả chủ yếu chỉ đề cập đến khoa học chính sách, hoạch định chính sách và quy trình chính sách một cách tổng quát Tuy nhiên, chúng chưa đi sâu vào việc giải thích cụ thể các khái niệm, vai trò và sự cần thiết của việc hoạch định chính sách.

Th ứ hai, đối với nghiên cứu hoạch định chính sách của các học giả Việt Nam

Khi bàn về hoạch định chính sách trong xây dựng VBQPPL dưới góc độ lý luận, có thể kểđến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:

Đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng và hoàn thiện chính sách pháp luật bảo đảm phát triển bền vững ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế” được thực hiện bởi Trường Đại học Luật Hà Nội dưới sự chủ trì của PGS.TS Hoàng Thế Liên vào năm 2014.

Đề tài này khẳng định và hoàn thiện cơ sở lý luận về chính sách pháp luật và vai trò của nó trong phát triển bền vững ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế Chính sách pháp luật được hiểu là phương án giải quyết vấn đề mà Nhà nước lựa chọn thực hiện trong dự án luật, là kết quả của quá trình phức tạp giữa các nhà quản lý và hoạch định chính sách Các đặc điểm cơ bản của chính sách pháp luật bao gồm: bắt nguồn từ quan điểm của Đảng về phát triển bền vững và hội nhập quốc tế; xuất phát từ quan điểm của Nhà nước về quản lý xã hội trên các lĩnh vực; có tính kế thừa và phát triển từ các chính sách pháp luật trước đây; và tính “mở” thể hiện ở nội dung và hội nhập với pháp luật quốc tế.

Nhóm công trình nghiên cứu về thực trạng hoạch định chính sách

Khi nghiên cứu về thực trạng hoạch định chính sách trong xây dựng VBQPPL thì các công trình có xem xét về hoạt động hoạch này chủ yếu là:

Báo cáo nghiên cứu của Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp về "Thực trạng hoạt động phân tích chính sách trong quá trình xây dựng luật ở Việt Nam hiện nay" được thực hiện trong khuôn khổ Dự án Phát triển lập pháp quốc gia (NLD) tại Hà Nội năm 2014, là một công trình nghiên cứu chuyên đề toàn diện, cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng hoạch định chính sách trong quá trình lập pháp theo Luật Ban hành.

Báo cáo VBQPPL năm 2008 đã chỉ ra những bất cập trong quy trình hoạch định chính sách qua việc xem xét bốn luật: Luật Thuế bảo vệ môi trường, Luật An toàn thực phẩm, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và Luật Xử lý vi phạm hành chính Kết quả cho thấy có 6/9 chính sách không được đưa ra ngay từ đầu, và trong số 9 chính sách tác động đến đông đảo người dân, chỉ có 3 chính sách mang tính yêu cầu, định hướng Ví dụ, chính sách chuyển hoạt động quản lý an toàn thực phẩm sang cơ chế quản lý theo nhóm sản phẩm, mở rộng khả năng tự bảo vệ của người tiêu dùng và tăng mức phạt tiền đối với tổ chức vi phạm không được đề xuất trong xây dựng Luật 7 Thực tiễn hiện nay cho thấy nhiều bất cập và hạn chế trong hoạch định chính sách.

Chính sách không được xác định ngay từ giai đoạn đề xuất xây dựng luật, dẫn đến những bất cập cơ bản ảnh hưởng đến toàn bộ quy trình làm luật sau này Việc thiếu rõ ràng trong chính sách khiến cho việc phê duyệt kế hoạch trở nên hình thức, làm giảm tính khả thi của kế hoạch trong thực tế Sự thay đổi liên tục trong đề nghị xây dựng Luật xuất phát từ việc không xác định được các chính sách định hướng, cùng với báo cáo RIA sơ bộ thường chỉ dừng lại ở việc thuyết trình về sự cần thiết của Dự thảo mà thiếu thông tin và dữ liệu cần thiết Các thành viên Ban soạn thảo cũng nhận thấy sự thiếu thống nhất trong định nghĩa về “chính sách”, dẫn đến sự mơ hồ trong khái niệm này Hơn nữa, hiện nay chưa có thiết chế hoạch định chính sách chuyên nghiệp tại các cơ quan Nhà nước, và việc đề nghị xây dựng luật chưa được coi trọng đúng mức, khiến cho quá trình thẩm định và thảo luận về các đề nghị này chỉ dừng lại ở sự cần thiết ban hành luật mà không đi sâu vào các vấn đề quan trọng khác.

7 Viện Khoa học pháp lý – Thực trạng hoạt động phân tích chính sách trong quá trình xây dựng luật ở Việt Nam

Dự án Luật đề xuất 22 nội dung chính sách, trong đó kinh phí làm luật chỉ được phê duyệt sau khi đề nghị xây dựng luật được thông qua và có tên trong Chương trình xây dựng luật đã được Quốc hội phê duyệt.

Việc làm luật theo phương thức “vừa thiết kế vừa thi công” dẫn đến chính sách chỉ được hoạch định sau khi soạn thảo luật đã bắt đầu, khiến cho định hướng và giải pháp trong dự thảo chưa rõ ràng Các hoạt động phục vụ cho công tác hoạch định chính sách như điều tra, khảo sát và đánh giá tác động kinh tế - xã hội (RIA) thường được thực hiện một cách sơ sài và gấp gáp, không thu thập đủ số liệu thống kê cần thiết RIA thường được thực hiện song song với quá trình soạn thảo và có xu hướng chỉ tìm kiếm luận cứ để chứng minh cho chính sách đã được lựa chọn, mà không phân tích đầy đủ các phương án khác nhau và tác động của chúng Kết quả là, báo cáo RIA không có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định của cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc chọn lựa phương án chính sách, dẫn đến sự thiếu ổn định và đồng thuận trong các dự thảo luật.

Sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng luật còn hạn chế, và trách nhiệm giải trình của cơ quan chủ trì soạn thảo chưa được nâng cao Các cơ quan soạn thảo cần cải thiện tính minh bạch và khuyến khích sự đóng góp của cộng đồng để đảm bảo quy trình lập pháp hiệu quả hơn.

Trong quá trình soạn thảo luật, các cơ quan thường tiến hành tham vấn ý kiến từ chuyên gia, nhà khoa học và đối tượng chịu tác động thông qua tọa đàm, hội thảo và công khai trên website Tuy nhiên, hoạt động này chưa đạt hiệu quả mong muốn, với trách nhiệm giải trình và phản hồi ý kiến công chúng còn hạn chế Thông tin cho thấy cơ quan soạn thảo luật chưa thực hiện đầy đủ việc giải trình và phúc đáp ý kiến đóng góp Hồ sơ trình dự án luật thường thiếu nội dung phản ánh ý kiến của công chúng và các nhà khoa học Tham vấn công chúng là yếu tố quan trọng trong hoạch định chính sách, cần coi ý kiến tham vấn là nguồn thông tin chủ yếu cho nhà làm luật Việc cung cấp thông tin khổng lồ mà không định hướng cho người dân vào các nội dung quan trọng khiến họ gặp khó khăn trong việc tham gia ý kiến.

Hoạt động của Ban soạn thảo và Tổ biên tập hiện nay còn hình thức và thiếu hiệu quả, với nhiều bất cập trong quy trình và năng lực thể chế Mặc dù Ban soạn thảo và Tổ biên tập có vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu, đánh giá và khảo sát thực tiễn để phân tích và lựa chọn chính sách, nhưng thực tế cho thấy một nhóm chuyên gia nòng cốt (5-7 người) thường đảm nhận các công việc này Nhiều chuyên gia cho rằng chính nhóm chuyên gia nòng cốt, được ưu tiên đầu tư nguồn lực, là yếu tố quyết định cho sự thành công trong quá trình xây dựng Luật.

Năm là, việc làm luật theo kiểu “cắt khúc” đã được thừa nhận là không hiệu quả Chúng ta cần xây dựng và phân tích chính sách một cách công khai, minh bạch, thông qua việc lắng nghe, đối thoại và giải trình Quá trình này bao gồm các hoạt động phân tích, đặt giả thuyết và kiểm chứng, dựa trên tính toán chi phí-lợi ích để đảm bảo sự hợp lý và hiệu quả trong các quyết định chính sách.

Việc lựa chọn giải pháp phù hợp và khả thi nhất là rất quan trọng Tuy nhiên, nguồn lực cho công tác hoạch định chính sách và xây dựng dự án luật lại rất hạn chế, đặc biệt về thời gian Kể từ khi được giao chủ trì soạn thảo và thành lập Ban soạn thảo, cơ quan chủ trì đã bắt đầu "cuộc chạy đua tốc độ" để kịp tiến độ xây dựng Luật.

Việc "đóng khung" trong Chương trình và thực tế cho thấy rất ít dự án Luật có thể giữ đúng tiến độ đề ra Áp lực về thời gian khiến việc kỳ vọng vào các hoạt động tổng kết và nghiên cứu đánh giá được thực hiện bài bản là không thực tế Hạn chế về nguồn nhân lực cũng là một vấn đề lớn, khi tỷ lệ cán bộ, công chức có kỹ năng và kiến thức về hoạch định chính sách còn thấp Các chuyên gia tham gia xây dựng luật chủ yếu tự tích lũy kinh nghiệm mà chưa qua đào tạo bài bản Hơn nữa, hạn chế về kinh phí cũng ảnh hưởng nghiêm trọng, khi ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 20% nhu cầu thực tế cho hoạt động xây dựng Luật, dẫn đến việc các cơ quan soạn thảo phải trông chờ vào nguồn hỗ trợ từ các nhà tài trợ quốc tế.

Tổ biên tập, thường do người đứng đầu đơn vị chủ trì soạn thảo, phải đảm bảo chất lượng chuyên môn trong việc xây dựng Luật, đồng thời dành thời gian cho việc tìm nguồn tài trợ và giải quyết các công việc hành chính, kỹ thuật Nghiên cứu này đã đánh giá toàn diện quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) theo Luật Ban hành VBQPPL năm 2008, chỉ ra những bất cập và đề xuất khuyến nghị để tách bạch quy trình hoạch định chính sách thành giai đoạn riêng, như quy định của Luật Ban hành VBQPPL năm 2015.

Theo TS Đỗ Phú Hải, trong nghiên cứu "Đánh giá chính sách công tại Việt Nam" năm 2013, những hạn chế trong chính sách công được chỉ ra bao gồm sự thiếu đồng bộ và hiệu quả trong thực thi Nguyên nhân của những vấn đề này liên quan đến việc thiếu sự tham gia của cộng đồng và sự chậm trễ trong việc cập nhật các chính sách phù hợp với thực tiễn xã hội.

8 Viện Khoa học pháp lý – Thực trạng hoạt động phân tích chính sách trong quá trình xây dựng luật ở Việt Nam

Tư duy của đội ngũ lãnh đạo về chính sách công hiện nay còn đơn giản, dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng và hiệu quả của chính sách Chính sách công không chỉ là một văn bản quy phạm pháp luật đơn lẻ, mà là tập hợp các quyết định nhằm giải quyết vấn đề cụ thể và đạt được mục tiêu trong thời gian dài Nó cần được thực hiện bởi nhiều cấp trong bộ máy nhà nước và có thể được thể chế hóa thành các văn bản pháp luật, nhưng cũng bao gồm các công cụ chính sách không bắt buộc, như giáo dục và truyền thông, để định hướng phát triển.

Năng lực phân tích chính sách của đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay còn yếu, đặc biệt là trong việc đánh giá tác động của các văn bản quy phạm pháp luật (RIA) Các công chức tại các Bộ ngành thường thiếu hụt hoặc yếu kém trong khả năng phân tích chính sách công Mặc dù có nhiều người giỏi về chuyên môn, nhưng đội ngũ công chức vẫn thiếu chuyên môn cần thiết để thực hiện phân tích chính sách công hiệu quả.

Nhóm công trình nghiên cứu về hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở một số nước trên thế giới và phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng hoạch định chính sách ở Việt Nam

Th ứ nh ấ t , Đối với việc tìm hiểu mô hình hoạch định chính sách của một số nước trên thế giới thì:

GS.TS Phan Trung Lý trong bài viết Quy trình lập pháp và pháp điển hóa ở

Canada 9 đã nhận định: Canada là đất nước có hệ thống chính trị đa đảng theo chếđộ đại nghị, đảng có số ghế nhiều nhất trong Quốc hội sẽ đứng ra lập Chính phủ Các thành viên của Chính phủ cũng đồng thời là hạ nghị sĩ Quốc hội Canada gồm Thượng nghị viện và Hạ nghị viện Canada có một quy trình lập pháp rất khoa học với đội ngũ các chuyên gia soạn thảo chuyên nghiệp làm việc tại Bộ Tư pháp Các dự thảo luật trước khi được Chính phủ trình Quốc hội đã có một giai đoạn soạn thảo kỹ lưỡng với sự tham vấn của các chuyên gia nhiều kinh nghiệm, đặc biệt là sự quan tâm của Chính phủ trong việc cân nhắc cẩn trọng về mặt chính sách đối với mỗi dự án luật Đồng thời, những kinh nghiệm về quá trình hài hoà hoá và pháp điển hoá các văn bản pháp luật được Quốc hội và Chính phủ Canada thực hiện và tổng kết thường xuyên Quy trình lập pháp của quốc gia này cũng chia thành 2 giai đoạn Giai đoạn trước khi trình Quốc hội và Giai đoạn dự luật được trình sang Quốc hội

Mặc dù hệ thống chính trị và pháp luật của Canada khác biệt lớn so với Việt Nam, quy trình lập pháp của Canada có nhiều điểm đáng tham khảo Cần chú trọng nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm từ Canada, nơi có quy trình phân tích chính sách và soạn thảo văn bản chuyên nghiệp, với sự chuyên môn hóa cao Quy trình hoạch định chính sách tại Canada rõ ràng, tập trung, minh bạch và linh hoạt, đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan từ khâu hình thành, đề xuất đến phê duyệt chính sách.

404 Client Error: Not Found for url: https://khotrithucso.com/luan-van-do-an-bao-cao/luat/quy-trinh-lap-phap-va-phap-dien-hoa-o-canada.html.

Theo tác giả Nguyễn Phước Thọ trong bài viết "Một số kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức về xây dựng và ban hành VBQPPL", những kinh nghiệm này có thể áp dụng để cải thiện quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học hỏi từ các quốc gia phát triển, nhằm nâng cao hiệu quả và tính minh bạch trong việc ban hành các văn bản pháp lý.

Mô hình nhà nước và trình độ lập pháp của Cộng hòa Liên bang Đức rất khác với Việt Nam, nhưng kinh nghiệm của Đức trong xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) có thể gợi mở ý tưởng cho Việt Nam trong việc đổi mới quy trình lập pháp Trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, việc xây dựng luật cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa Chính phủ và Quốc hội Cần phân chia quyền lực rõ ràng trong việc xây dựng, ban hành và thi hành luật Tại Đức, Chính phủ liên bang có quyền đề xuất dự án luật mà không cần sự đồng ý của Quốc hội, và Bộ trưởng có thể chủ động trong việc đề xuất sáng kiến lập pháp, trao đổi với các nghị sĩ để tham khảo ý kiến và soạn thảo dự luật theo định hướng chính sách của Thủ tướng.

Nguyên tắc bộ ngành chi phối mạnh mẽ quá trình soạn thảo dự án luật mà không cần sự chỉ đạo trực tiếp từ Thủ tướng Liên bang Tuy nhiên, nếu trong quá trình này xuất hiện vướng mắc lớn về chính sách, Bộ trưởng có thể đề nghị Thủ tướng đưa ra ý kiến chỉ đạo.

Mặc dù có sự phân quyền mạnh giữa quyền hành pháp và lập pháp, nhưng ở Đức, Chính phủ không gặp khó khăn trong việc rút dự án luật khỏi chương trình nghị sự của Quốc hội Trước khi trình dự luật, Bộ trưởng đã làm việc với các nhóm nghị sĩ để thăm dò khả năng chấp nhận Trong quá trình soạn thảo, Bộ chủ trì luôn phối hợp với các nhóm nghị sĩ để tham khảo ý kiến về nội dung dự án luật.

Trong bối cảnh tổ chức quyền lực nhà nước Việt Nam theo nguyên tắc thống nhất có phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, kinh nghiệm của Đức là nguồn tham khảo quý giá Việc áp dụng những kinh nghiệm này sẽ giúp xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp chủ động, linh hoạt ngay từ giai đoạn khởi xướng lập pháp và xây dựng chương trình.

28 các giai đoạn tiếp theo của quy trình xây dựng, ban hành luật, pháp lệnh giữa cơ quan chủ trì soạn thảo với các cơ quan Quốc hội

Mô hình hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật ở các nước có sự khác biệt về thẩm quyền và quy trình, nhưng thường do các bộ đề xuất trình Chính phủ Hoạch định chính sách phải phù hợp với ưu tiên của Chính phủ, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất và khả thi Quy trình xây dựng và phê duyệt chính sách linh hoạt nhằm đạt kết quả tốt nhất Tham vấn và đánh giá tác động chính sách được thực hiện để đảm bảo tính khả thi và tạo sự đồng thuận Chính sách đã phê duyệt là cơ sở để chuyển tải thành nội dung luật, đảm bảo tính liên tục trong soạn thảo văn bản Từ các mô hình này, cần nghiên cứu đề xuất phù hợp cho cơ chế hoạch định chính sách trong xây dựng VBQPPL ở nước ta.

Th ứ hai , Đối với việc đề ra phướng hướng, giải pháp hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Theo PGS.TS Đinh Dũng Sỹ, trong bài viết về mối quan hệ giữa chính sách và pháp luật, tác giả nhấn mạnh rằng việc xây dựng luật cần dựa trên nghiên cứu kỹ lưỡng về chính sách trước khi quyết định thực hiện Đề án chính sách phải bao gồm các nội dung như: báo cáo thực tiễn thi hành pháp luật, chứng minh sự cần thiết xây dựng hoặc sửa đổi luật, nêu rõ nội dung điều chỉnh và mục đích của từng nội dung, dự báo tác động kinh tế - xã hội của dự án luật, và thuyết minh tính khả thi của dự án, bao gồm các điều kiện và nguồn lực cần thiết để đảm bảo thực thi luật khi được ban hành.

Sau khi hoàn thiện Đề án chính sách với đầy đủ nội dung, dự án luật sẽ được Quốc hội chấp thuận đưa vào chương trình xây dựng.

Chính sách và pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ trong hoạt động lập pháp, như được nêu bởi Đinh Dũng Sỹ trong bài viết trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ mối quan hệ này để đảm bảo hiệu quả trong việc xây dựng và thực thi các chính sách Thông tin chi tiết có thể được tìm thấy qua liên kết đã cung cấp, với ngày truy cập là 20.10.2017.

Việc xây dựng luật và pháp lệnh hàng năm giúp Ban soạn thảo tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí cho các hoạt động đánh giá và nghiên cứu chính sách Điều này cho phép họ tập trung vào việc xây dựng dự thảo luật, nghiên cứu và lựa chọn thông tin, chính sách phù hợp, cũng như tham khảo kinh nghiệm và so sánh pháp luật quốc tế Kết quả là, họ có thể thiết kế các điều luật hiệu quả và đưa ra dự thảo luật khả thi, mang lại hiệu quả điều chỉnh cao.

Sau khi Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/7/2016, quy trình hoạch định chính sách đã được tách bạch thành một giai đoạn riêng, ghi nhận đề nghị xây dựng VBQPPL trước khi soạn thảo Tuy nhiên, hiện tại chỉ có một số bài viết thông tin bình luận về điểm mới của Luật mà chưa có nghiên cứu quy mô nào được thực hiện.

Những vấn đề đặt ra cho luận án

Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), nhưng phạm vi và đối tượng của các công trình này không trùng lặp với đề tài hiện tại Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng vấn đề này không chỉ được quan tâm ở Việt Nam mà còn phổ biến ở nhiều quốc gia như Hoa Kỳ, Canada và Anh Tuy nhiên, các công trình khoa học hiện tại chỉ khai thác một số khía cạnh cụ thể mà chưa nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về vấn đề hoạch định chính sách trong xây dựng VBQPPL.

Việc dừng lại ở các công trình hiện tại sẽ làm cho nghiên cứu về quy trình hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam chưa được chuyên sâu và khái quát Nhiều chủ thể vẫn lo lắng về các câu hỏi như: Hoạch định chính sách trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật là gì? Tại sao cần tiến hành hoạt động này? Hoạch định chính sách có phải là bắt buộc cho mọi VBQPPL không? Ai là chủ thể phải thực hiện hoạt động này? Quy trình hoạch định chính sách ra sao? Cần có cơ chế điều chỉnh và giám sát nào để đảm bảo hiệu quả trong hoạt động hoạch định chính sách khi ban hành văn bản pháp luật?

Tác giả luận án sẽ tập trung vào việc giải quyết các vấn đề nghiên cứu quan trọng liên quan đến Việt Nam, với định hướng rõ ràng cho nội dung các chương của luận án Cụ thể, tác giả xác định các công việc cần thực hiện để đạt được mục tiêu nghiên cứu.

Xây dựng một khái niệm thống nhất về chính sách là cần thiết, đặc biệt trong việc phát triển chính sách và hoạch định chính sách, điều này có liên quan chặt chẽ đến hoạt động xây dựng pháp luật Qua đó, chúng ta có thể nhận diện những đặc điểm đặc trưng của hoạt động hoạch định chính sách trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL).

Tác giả luận án sẽ nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động hoạch định chính sách trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và phân tích các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của quá trình này tại Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu trong luận án này sẽ thống nhất quy trình hoạch định chính sách cho việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) Nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết của các công đoạn phân tích chính sách, đánh giá tác động và lấy ý kiến tham vấn trong quá trình xây dựng chính sách Đồng thời, luận án cũng làm rõ tầm quan trọng của đội ngũ chuyên trách trong công tác hoạch định chính sách đối với việc xây dựng VBQPPL.

Tác giả sẽ đề xuất các giải pháp cụ thể để hoàn thiện quy trình hoạch định chính sách trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng hoạt động này tại Việt Nam.

Khái quát câu hỏi nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu của luận án

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu trong luận án một cách hiệu quả, nghiên cứu sinh cần đặt ra các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết cụ thể, nhằm triển khai hoạt động nghiên cứu một cách thống nhất, logic và hiệu quả.

Câu hỏi nghiên cứu số 1: Hoạch định chính sách trong xây dựng VBQPPL là gì? Vai trò của hoạch định chính sách trong xây dựng VBQPPL?

Hoạch định chính sách là quy trình quan trọng, bao gồm các hoạt động nhằm xây dựng chính sách phản ánh chủ trương và đường lối của nhà nước, nhằm giải quyết các vấn đề xã hội cấp thiết Đây là yếu tố chủ đạo giúp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL).

Câu hỏi nghiên cứu số 2: Chủ thể thựchiện hoạt động hoạch định chính sách trong xây dựng VBQPPL?

Hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) sẽ đạt hiệu quả cao hơn khi được thực hiện bởi cơ quan lập pháp, đảm bảo tính công khai và minh bạch trong quá trình này.

31 của mỗi quốc gia, tránh tình trạng giao cho cơ quan hành pháp (hạn chế tình trạng

“vừa đá bóng vừa thổi còi”)

Câu hỏi số 3: Quy trình của hoạch định chính sách trong hoạt động xây dựng VBQPPL bao gồm những giai đoạn nào?

Giả thuyết nghiên cứu: Hoạch định chính sách cần được tiến hành qua các giai đoạn:

- Thông qua chính sách (lựa chọn chính sách)

Câu hỏi số 4: Hạn chế nào còn tồn tại trong quy định pháp luật Việt Nam về hoạch định chính sách trong xây dựng VBQPPL?

Nghiên cứu sinh sẽ phân tích các quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến chủ thể, trình tự thủ tục, thời hạn và nguồn tài chính cho việc hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) Hiện tại, các quy định này chưa rõ ràng, thiếu tính cụ thể và chưa được phân chia thành các giai đoạn thực hiện rõ ràng Hơn nữa, các quy định về chủ thể thực hiện, quy trình, thời hạn và chế độ tài chính cho việc hoạch định chính sách cũng chưa được đảm bảo.

Hoạt động hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) đã được thực hiện tại Việt Nam, tuy nhiên vẫn tồn tại một số hạn chế cần khắc phục Những hạn chế này chủ yếu xuất phát từ quy trình thực hiện chưa đồng bộ và thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan Việc nâng cao hiệu quả trong hoạt động hoạch định chính sách là cần thiết để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả của VBQPPL.

- Hoạch định chính sách đã được thưc hiện tại Việt Nam

- Chưa có cơ quan giám sát hoạch định chính sách trong xây dựng VBQPPL độc lập dẫn đến kết quả của quy trình này chưa cao

- Nguyên nhân: Gồm ba nhóm nguyên nhân: (1) quy định pháp luật; (2) năng lực thực hiện; (3) kinh phí thực hiện.

Câu hỏi số 6: Giải pháp nào phù hợp để nâng cao chất lượng hoạch định chính sách trong xây dựng VBQPPL tại Việt Nam?

Giả thuyết nghiên cứu chỉ ra rằng có ba nhóm nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng hoạch định chính sách trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) tại Việt Nam chưa đạt hiệu quả Dựa trên những nguyên nhân này, nghiên cứu sinh đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện quy trình và kết quả của việc hoạch định chính sách.

Cần hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến quy trình hoạch định chính sách, bao gồm xác định rõ chủ thể thực hiện, quy trình thực hiện và quy chế chi tiêu tài chính cho việc hoạch định chính sách.

- Nâng cao chất lượng hoạch định trên thực tế: Nâng cao năng lực thực hiện hoạch định chính sách; tăng cường nguồn lực tài chính…

Chương 1 của luận án tập trung vào việc rà soát các nghiên cứu liên quan đến hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật Nghiên cứu sinh đã phân loại các công trình thành ba nhóm: (1) các nghiên cứu lý luận về hoạch định chính sách, bao gồm khái quát cơ sở lý luận, vai trò của hoạch định chính sách và mối quan hệ giữa chính sách với văn bản quy phạm pháp luật; (2) các nghiên cứu về thực trạng hoạch định chính sách; và (3) các nghiên cứu so sánh về hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở một số quốc gia và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng hoạch định chính sách tại Việt Nam.

Thông qua việc nghiên cứu các công trình của tác giả trong và ngoài nước về "Hoạch định chính sách trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay", nghiên cứu sinh đã tiếp thu và phát triển các quan điểm tương đồng, làm nền tảng cho phần cơ sở lý luận trong chương 2 của luận án Nghiên cứu này cũng giúp tác giả đánh giá thực trạng hoạch định chính sách và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam trong các chương 3 và 4 của luận án.

Ngày đăng: 16/04/2023, 13:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Trịnh Thị Kiều Anh (2014), Sự cần thiết hoàn thiện quy trình hoạch định chính sách công của Việt Nam thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, Học viện hành chính quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cần thiết hoàn thiện quy trình hoạch định chính sách công của Việt Nam thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Trịnh Thị Kiều Anh
Năm: 2014
15. Bộ Tư pháp – Viện Khoa học pháp lý, Hội thảo Hoạch định chính sách trong hoạt động lập pháp , tháng 6/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạch định chính sách trong hoạt động lập pháp
16. CIEM-Thông tin chuyên đề Tăng cường hiệu quả áp dụng đánh giá tác động pháp luật (RIA) tại Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường hiệu quả áp dụng đánh giá tác động pháp luật
17. Considine, M 1994, Public policy: A critical approach, Macmillan, Melbourne Sách, tạp chí
Tiêu đề: Public policy
18. TS. Nguyễn Văn Cương (chủ biên) (2018), Sổ tay phân tích chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Dự án phát triển lập pháp quốc gia tại Việt Nam (NLD). NXB. Công Thương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay phân tích chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Tác giả: TS. Nguyễn Văn Cương (chủ biên)
Nhà XB: NXB. Công Thương
Năm: 2018
20. TS. Nguyễn Sỹ Dũng – Quy trình phân tích chính sách khám bệnh kê đơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: TS. Nguyễn Sỹ Dũng –
21. Nguyễn Sĩ Dũng, Hoàng Minh Hiếu (2008), Quy trình lập pháp Việt Nam từ soạn thảo và xin ý kiến đến quyết định chính sách, dịch chính sách và thẩm định chính sách, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 15/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình lập pháp Việt Nam từ soạn thảo và xin ý kiến đến quyết định chính sách, dịch chính sách và thẩm định chính sách
Tác giả: Nguyễn Sĩ Dũng, Hoàng Minh Hiếu
Năm: 2008
22. Vũ Cao Đàm (chủ biên) (2011), Kỹ năng phân tích và hoạch định chính sách , Nxb. Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng phân tích và hoạch định chính sách
Tác giả: Vũ Cao Đàm (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Thế giới
Năm: 2011
23. PGS.TS. Nguyễn Minh Đoan (2011), Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 8, tr9 và tr13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và hoàn thiệnhệ thống pháp luật Việt Nam trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Minh Đoan
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
24. GS.TS. Nguyễn Duy Gia (1998), Đề tài Khoa học “Ch í nh s á ch công” (mã số 96 – 98), Học viện hành chính quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách công
Tác giả: GS.TS. Nguyễn Duy Gia
Năm: 1998
25. TS. Hoàng Ngọc Giao (Chủ biên) (2008), Báo cáo kết quả nghiên cứu đánh giá quy trình xây dựng luật, pháp lệnh - thực trạng và giải pháp , Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả nghiên cứu đánh giá quy trình xây dựng luật, pháp lệnh - thực trạng và giải pháp
Tác giả: TS. Hoàng Ngọc Giao (Chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
Năm: 2008
27. Harold Dwight Lasswell, H 1951, The policy orientation, In Lerner & Lasswell (eds), The Policy Sciences, pp. 3-15, Stanford University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: The policy orientation", In Lerner & Lasswell (eds), "The Policy Sciences
29. Kraft, M & Furlong, S (2015), Public policy: politics, analysis, and alternatives, 5th ed, CQ Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Public policy: politics, analysis, and alternatives
Tác giả: Kraft, M & Furlong, S
Năm: 2015
30. Klein R, Marmor T. R.. Moran M., Reid M., Goodin R. E.. Reflections on policy analysis: putting it together again, The Oxford Handbook of Public Policy, 2008 Toronto, Canada Oxford University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reflections on policy analysis
31. GS. Kenichi Ohno – Viện Nghiên cứu kinh tế Nhật Bản, Đổ i m ớ i quy trình làm chính sách c ủ a Vi ệ t Nam, Bài phát biểu Hội thảo về chiến lược công nghiệp hóa ở Việt Nam đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới quy trình làm chính sách của Việt Nam
32. Kingdon, J (2011), Agendas, Alternatives, and Public Policies, New York: Pearson Sách, tạp chí
Tiêu đề: Agendas, Alternatives, and Public Policies
Tác giả: Kingdon, J
Năm: 2011
34. PGS.TS. Hoàng Thế Liên chủ nhiệm (2014), Đề tài cấp Nhà nước “Nghiên c ứu cơ sở khoa h ọ c xây d ự ng và hoàn thi ệ n chính sách pháp lu ậ t b ảo đả m phát tri ể n b ề n v ữ ng ở Vi ệ t Nam trong b ố i c ả nh h ộ i nh ậ p qu ố c t ế” Trườ ng Đạ i h ọ c Lu ậ t Hà N ộ i, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng và hoàn thiện chính sách pháp luật bảo đảm phát triển bền vững ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Tác giả: PGS.TS. Hoàng Thế Liên chủ nhiệm
Năm: 2014
35. PGS. TS. Hoàng Thế Liên (chủ biên) (2011), Sổ tay kỹ thuật soạn thảo, thẩm định, đánh giá tác động của văn bản quy pham pháp luật. Nxb. Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay kỹ thuật soạn thảo, thẩm định, đánh giá tác động của văn bản quy pham pháp luật
Tác giả: PGS. TS. Hoàng Thế Liên (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
Năm: 2011
36. GS.TS. Phan Trung Lý, Quy trình lập pháp và pháp điển hóa ở Canada 37. Mintrom, M (2012), Contemporary policy analysis, Oxford University Press 38. Ministry of Economic Development of New Zealand, Business ComplianceCost Statements- Guidelines for Departments, 6/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: GS.TS. Phan Trung Lý, "Quy trình lập pháp và pháp điển hóa ở Canada "37. Mintrom, M (2012), "Contemporary policy analysis
Tác giả: GS.TS. Phan Trung Lý, Quy trình lập pháp và pháp điển hóa ở Canada 37. Mintrom, M
Năm: 2012
39. Nguyễn Anh Phương (2016), Quy trình chính sách và phân tích chính sách trong hoạt động lập pháp ở Việt Nam . Link: http://chinhsach.vn/quy-trinh- chinh-sach-va-phan-tich-chinh-sach-trong-hoat-dong-lap-phap-o-viet-nam/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình chính sách và phân tích chính sách trong hoạt động lập pháp ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Anh Phương
Năm: 2016

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w