1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập lớn môn pháp luật việt nam đại cương chủ đề 2 bàn về thừa kế thế vị theo quy định của bộ luật dân sự năm 2015

33 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bàn về Thừa kế thế vị theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015
Tác giả Lý Kim Phong, Lê Hoàng Thiên Phúc, Võ Hoàng Phúc, Huỳnh Diệp Mỹ Phụng, Nguyễn Việt Phương
Người hướng dẫn Cao Hồng Quân
Trường học Trường Đại Học Bách Khoa, Đại học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Pháp luật Việt Nam đại cương
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 293,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lí do lựa chọn đề tài (5)
  • 2. Nhiệm vụ của đề tài (6)
  • 3. Bố cục tổng quát của đề tài (7)
  • CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 (7)
    • 1.1. Một số vấn đề lý luận về thừa kế thế vị (8)
      • 1.1.1. Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế (8)
      • 1.1.2. Khái niệm về thừa kế thế vị (9)
    • 1.2. Quy định của pháp luật dân sự về thừa kế thế vị (10)
      • 1.2.1. Điều kiện phát sinh thừa kế thế vị (10)
      • 1.2.2. Chủ thể của quan hệ thừa kế thế vị (11)
      • 1.2.3. Những điểm cần lưu ý khi giải quyết thừa kế thế vị (14)
    • 1.3. Ý nghĩa của việc quy định thừa kế thế vị (15)
  • CHƯƠNG II. THỪA KẾ THẾ VỊ – TỪ THỰC TIỄN ĐẾN KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT (7)
    • 2.1. Vấn đề thừa kế thế vị liên quan đến yếu tố con nuôi (16)
      • 2.1.1 Quan điểm của các cấp Tòa án xét xử vụ việc (19)
      • 2.1.2. Quan điểm của nhóm nghiên cứu về tranh chấp (19)
    • 2.2. Vấn đề thừa kế thế vị liên quan đến yếu tố con riêng (23)
      • 2.2.1 Quan điểm của các cấp Tòa án xét xử vụ việc (24)
      • 2.2.2. Quan điểm của nhóm nghiên cứu về tranh chấp (24)
    • 2.3. Bất cập và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành (26)
      • 2.3.1. Về vấn đề thừa kế thế vị liên quan đến yếu tố con nuôi (27)
      • 2.3.2. Về vấn đề thừa kế thế vị liên quan đến yếu tố con riêng (28)

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA BÀI TẬP LỚN MÔN PHÁP LUẬT VIỆT NAM ĐẠI CƯƠNG CHỦ ĐỀ 2 BÀN VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 Lớp CC02 Nhóm 10 H[.]

Lí do lựa chọn đề tài

"Đời là vô thường, chết cũng không mang theo được gì" - câu nói của thầy Thích Pháp Hòa nhắc nhở chúng ta về quy luật sinh, lão, bệnh, tử mà mọi người đều phải đối mặt Dù có đạt được thành công hay quyền lực, cuối cùng, tất cả đều phải ra đi và không thể mang theo tài sản Vì vậy, nhiều người đã chuẩn bị cho cái chết bằng cách lập di chúc, một văn bản thể hiện ý chí và nguyện vọng về việc chuyển giao tài sản sau khi qua đời Tuy nhiên, cuộc sống đầy bất ngờ, không ai có thể đoán trước tương lai; có thể những người thừa kế sẽ ra đi trước khi nhận tài sản, hoặc di chúc không được lập khi người lập bất ngờ qua đời.

Ai sẽ là người thừa kế những di sản còn dang dở? Tại sao những người không có quan hệ huyết thống hoặc không được ghi tên trong di chúc vẫn có thể thừa hưởng di sản? Đây là những tình huống phát sinh ngoài ý muốn, thể hiện nguyện vọng của di chúc, và lúc này, quy định về Thừa kế thế vị theo Bộ luật dân sự sẽ phát huy vai trò của mình.

Từ những ngày đầu xây dựng đất nước, Đảng và nhà nước đã nhận thức rõ vai trò quan trọng của chế định thừa kế trong pháp luật Điều này được thể hiện qua các hiến pháp và bộ luật, như Điều 19 Hiến pháp 1959, Điều 27 Hiến pháp 1980, và Điều 58 Hiến pháp 1992, đều nhấn mạnh việc bảo vệ quyền thừa kế tài sản tư hữu của công dân Đặc biệt, Bộ luật dân sự 2015 đã đánh dấu bước tiến lớn với sự xuất hiện của chế định thừa kế.

1 1 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật Dân sự (Luật số: 91/2015/QH13) ngày 24 tháng 11 năm

2 Hoàng văn Hoàn, Chế định thừa kế theo Pháp luật Dân sự Việt Nam – Lý luận và Thực tiễn,

[https://www.studocu.com/vn/document/truong-dai-hoc-giao-thong-van-tai/phap-luat-dai-cuong/nhom-2-bai-tieu-luan-

Sự phát triển nhanh chóng của xã hội đã chỉ ra rằng chế định thừa kế thế vị hiện hành chưa đủ để bao quát tất cả các tình huống phát sinh Nhiều quy định vẫn thiếu tính cụ thể và minh bạch, dẫn đến sự không nhất quán và xung đột trong việc áp dụng Điều này ảnh hưởng đến quyền lợi cơ bản của công dân và có thể tác động trực tiếp đến đời sống của các thành viên trong gia đình và xã hội Do đó, cần nghiên cứu sâu hơn về chế định thừa kế thế vị để làm rõ những khúc mắc và đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định này.

Nhóm tác giả thực hiện nghiên cứu đề tài “BÀN VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015” nhằm phục vụ cho bài tập lớn trong chương trình học môn Pháp luật Việt Nam Đại cương, xuất phát từ những lý do quan trọng đã được nêu ra.

Nhiệm vụ của đề tài

Làm rõ các vấn đề lý luận về thừa kế, quyền thừa kế và thừa kế thế vị theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 là rất quan trọng.

Phân tích các quy định pháp luật hiện hành về thừa kế thế vị, bao gồm điều kiện phát sinh, chủ thể liên quan và các loại trừ trong quan hệ thừa kế này.

Ba là, nhận biết ý nghĩa của chế định thừa ké thế vị tỏng thực tiển đời sống xã hội

Nhận xét các vấn đề từ góc độ thực tiễn là cần thiết để phát hiện những bất cập trong pháp luật dân sự về chế định thừa kế thế vị Việc này giúp đưa ra những kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả và tính khả thi của các quy định pháp lý liên quan.

Bố cục tổng quát của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Phần nội dung của tiểu luận gồm 2 chương:

LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

Một số vấn đề lý luận về thừa kế thế vị

1.1.1 Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế

Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý, thừa kế là việc truyền lại tài sản của người đã chết cho người khác theo di chúc hoặc quy định pháp luật Quyền thừa kế được quy định tại Điều 634 - Bộ luật dân sự, bao gồm quyền để lại di sản cho người thừa kế và quyền nhận di sản của người thừa kế Quyền thừa kế liên quan đến quyền sở hữu tài sản cá nhân, được bảo vệ bởi Điều 58 - Hiến pháp, khẳng định rằng Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân Ngoài ra, quyền sử dụng đất đai thuộc sở hữu toàn dân cũng được thừa kế theo quy định pháp luật.

Mặt khác, theo như Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, thừa kế là “Hưởng của người chết để lại cho” 4

Thừa kế là quá trình chuyển giao tài sản từ người đã qua đời cho những người được chỉ định nhận theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật.

Theo Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015, cá nhân có quyền lập di chúc để quyết định về tài sản của mình và để lại tài sản cho người thừa kế theo pháp luật Người thừa kế không phải là cá nhân cũng có quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật.

Trong Bộ luật dân sự 2015, tác giả đã quy định rõ về quyền thừa kế, nhấn mạnh rằng chỉ cá nhân mới có thể để lại di sản thừa kế Đồng thời, luật cũng cho phép người thừa kế không nhất thiết phải là cá nhân nếu thừa kế theo di chúc.

3 Bộ Tư pháp – Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa & Nxb Tư pháp, tr 486

4 Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng & Trung tâm Từ điển học, tr 972

5 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật Dân sự (Luật số: 91/2015/QH13) ngày 24 tháng 11 năm

Theo Điều 609 của Bộ luật Dân sự 2015, quyền thừa kế liên quan đến hai chủ thể: người cho thừa kế và người nhận thừa kế Điều 613 quy định rằng người thừa kế phải là cá nhân còn sống tại thời điểm mở thừa kế hoặc đã được sinh ra và còn sống sau thời điểm đó, nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản qua đời Quyền thừa kế được bảo vệ bình đẳng cho mọi cá nhân theo Điều 610 của Bộ luật Dân sự 2015, khẳng định rằng mọi cá nhân đều có quyền để lại tài sản cho người khác và quyền hưởng di sản Ngoài ra, khoản 2 Điều 32 của Hiến pháp năm 2013 cũng nhấn mạnh rằng quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ.

1.1.2 Khái niệm về thừa kế thế vị

Theo Hán - Việt, “thế” có nghĩa là thay thế, còn “vị” nghĩa là ngôi vị, vị trí Do đó, thừa kế thế vị có nghĩa là thay thế một người nào đó để nhận phần di sản mà người đó lẽ ra được hưởng.

Theo quan điểm của nhóm, thừa kế thế vị là việc thay thế để nhận phần thừa kế mà người trước lẽ ra được hưởng nhưng không thể nhận do lý do bất khả kháng Điều 652 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về thừa kế thế vị.

Nếu con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với người đó, cháu sẽ được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống Trong trường hợp cháu cũng chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản, chắt sẽ được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

6 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật Dân sự (Luật số: 91/2015/QH13) ngày 24 tháng 11 năm

7 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật Dân sự (Luật số: 91/2015/QH13) ngày 24 tháng 11 năm

8 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, [https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh- chinh/Hien-phap-nam-2013-215627.aspx], truy cập ngày 15/3/2023

Tôi không biết!

10 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật Dân sự (Luật số: 91/2015/QH13) ngày 24 tháng 11 năm

Bộ luật dân sự quy định về thừa kế thế vị thông qua việc liệt kê các trường hợp có thể nhận thừa kế, cho phép di chuyển qua bốn thế hệ từ cụ đến chắt, nhưng chưa đưa ra định nghĩa rõ ràng về thừa kế thế vị.

Thừa kế thế vị chỉ phát sinh từ thừa kế theo pháp luật, không liên quan đến di chúc Nếu người thừa kế theo di chúc đã qua đời trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản, di chúc đó sẽ trở nên vô hiệu Thừa kế thế vị không phải là thừa kế theo pháp luật mà là quy trình hưởng di sản theo quy định của pháp luật Trong trường hợp này, cháu và chắt không được coi là thừa kế theo hàng thừa kế, vì điều đó sẽ dẫn đến việc mỗi người nhận phần di sản ngang nhau, điều này không đúng với bản chất của thừa kế thế vị, nơi mà họ chỉ được hưởng chung một phần di sản mà cha hoặc mẹ của họ lẽ ra sẽ nhận nếu còn sống.

Quy định của pháp luật dân sự về thừa kế thế vị

1.2.1 Điều kiện phát sinh thừa kế thế vị

Thừa kế thế vị là quá trình mà con cái thay thế vị trí của cha mẹ để nhận di sản từ ông bà hoặc tổ tiên khi cha mẹ đã qua đời Phần di sản mà con cái nhận được tương ứng với phần mà cha hoặc mẹ của họ sẽ được hưởng nếu còn sống tại thời điểm mở thừa kế Điều này có nghĩa là để thừa kế thế vị, cần có điều kiện là cha mẹ đã mất hoặc qua đời cùng thời điểm với những người để lại di sản.

Để xác định quyền thừa kế, cần có sự kiện cha hoặc mẹ của cháu hoặc chắt qua đời trước hoặc cùng thời điểm với ông, bà (nội, ngoại) hoặc các cụ (nội, ngoại) "Chết trước" có nghĩa là cha hoặc mẹ của cháu hoặc chắt đã không còn sống khi ông, bà (nội, ngoại) mất Trường hợp "chết cùng thời điểm" có thể xảy ra khi các cá nhân có thể chứng minh rằng thời điểm qua đời của họ là đồng thời.

Tôi không biết!

Tôi không biết!

Tiếp đến là, các cá nhân chết mà không có căn cứ để xác định được là ai đã chết trước 13

Người thừa kế thế vị phải còn sống khi người để lại di sản qua đời và phải sinh ra sau thời điểm mở thừa kế Theo quy định của pháp luật Việt Nam, người đã thành thai trước khi người để lại di sản chết cũng được công nhận là người thừa kế, miễn là họ sinh ra còn sống sau thời điểm mở thừa kế Điều này xuất phát từ lý luận rằng người đã chết không có năng lực chủ thể để tham gia vào quan hệ pháp luật.

Thừa kế thế vị có hai điều kiện phát sinh: sự kiện cha hoặc mẹ của người thừa kế phải chết trước hoặc cùng thời điểm với ông bà, và người thừa kế phải còn sống khi người để lại di sản qua đời Để phân tích sự khác biệt giữa thừa kế chuyển tiếp và thừa kế thế vị, cần lưu ý rằng thừa kế chuyển tiếp xảy ra khi con của người để lại di sản chết sau người đó, nhưng di sản chưa được chia.

1.2.2 Chủ thể của quan hệ thừa kế thế vị

Trường hợp cháu được thừa kế thế vị di sản của ông bà:

Theo phân tích của nhóm ở phần 1.2.1, một trong hai điều kiện cần thiết để phát sinh là sự kiện cha hoặc mẹ của cháu hoặc chắt phải chết trước hoặc cùng thời điểm với ông, bà (nội, ngoại) hoặc các cụ (nội, ngoại).

Vấn đề đầu tiên là xác định vị trí của thừa kế thế vị Câu hỏi đặt ra là thế nào là tồn tại và không tồn tại trong trường hợp này Nếu cha mẹ của cháu thuộc Điều 620 và Điều 621 Bộ luật Dân sự năm 2015, liệu cháu có quyền thừa kế thế vị không? Nhóm chúng tôi cho rằng câu trả lời là không, vì nếu cha mẹ không có quyền hưởng di sản theo Điều 621, thì con cũng không thể nhận di sản.

Thừa kế của những người chết cùng thời điểm được xử lý theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 Những người có quyền hưởng di sản thừa kế là những cá nhân trong cùng hàng thừa kế Hàng thừa kế thứ nhất bao gồm vợ, chồng, cha mẹ và con cái Nếu những người này chết cùng thời điểm, họ sẽ không được hưởng di sản của nhau mà sẽ chia cho những người thừa kế khác Trường hợp ngoại lệ xảy ra trong thừa kế thế vị, khi con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản, cháu sẽ được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống.

Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, phần thừa kế của cha mẹ sẽ được chia theo hàng thừa kế thứ nhất Trong trường hợp này, cháu không được nhận phần thừa kế.

Vấn đề kế tiếp là xác định mối quan hệ thừa kế thế vị giữa các bên như cha mẹ đẻ với con đẻ, cha mẹ nuôi với con nuôi, và con riêng với bố dượng, mẹ kế Để phân tích rõ hơn, chúng ta sẽ xem xét ví dụ của ông A có hai người con là B (con đẻ) và C (con nuôi) B có hai con là X (con đẻ) và Y (con nuôi), trong khi C có hai con là M (con đẻ) và N (con nuôi) Nhóm sẽ đánh giá quyền thừa kế thế vị theo bốn trường hợp huyết thống của X, Y, M, N.

X là con đẻ của con đẻ, tức là cháu có cùng huyết thống với ông A, do đó X hoàn toàn có quyền hưởng thừa kế thế vị trong mọi trường hợp.

Y là con đẻ của con nuôi của ông A, do đó được thừa kế thế vị Điều này cũng áp dụng cho con riêng của vợ hoặc chồng, nếu con riêng với mẹ kế hoặc bố dượng được công nhận có mối quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng như cha con, mẹ con theo Điều 654.

M là con nuôi của con đẻ ông A, nhưng không tự động được thừa kế thế vị Để được thừa kế, M cần phải được người để lại di sản công nhận như cháu ruột.

Thứ tư, N là con nuôi của con nuôi tức là cháu không có huyết thống gì với ông A thì

N không có quyền hưởng thừa kế thế vị trong mọi trường hợp.” 15

Thừa kế thế vị chỉ xảy ra khi hàng thừa kế thứ nhất của người đã chết vẫn còn người sống Theo Bộ luật dân sự 2015, nếu người chết không để lại di chúc, cha, mẹ, vợ, chồng và con sẽ là những người thừa kế thứ nhất Nếu không còn ai trong hàng thừa kế thứ nhất, thì hàng thừa kế thứ hai sẽ được hưởng di sản Do đó, thừa kế thế vị chỉ phát sinh khi vẫn còn người sống trong hàng thừa kế thứ nhất.

THỪA KẾ THẾ VỊ – TỪ THỰC TIỄN ĐẾN KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT

Vấn đề thừa kế thế vị liên quan đến yếu tố con nuôi

Theo bản án 18/2018/DS-PT ngày 18/07/2018 của Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên, cụ Nguyễn Văn Đàm và Phạm Thị Sen có 4 người con: Nguyễn Thị Tấn, Nguyễn Văn Bút, Nguyễn Thị Nhẫn và Nguyễn Văn Chính Bà Nhẫn, qua đời năm 2015, có 4 con, trong đó Phạm Thị Tuyết mắc bệnh tâm thần từ nhỏ và mất năm 2016, không có chồng con Ông Bút hy sinh năm 1950 và không có vợ con Bà Tấn, mất năm 2003, có 7 con: Nguyễn Văn K, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị V, Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn G, Nguyễn Văn B và Nguyễn Thị Nh Ông Chính, hy sinh năm 1972, có vợ là Phạm Thị D, nhưng họ không có con đẻ, chỉ có con nuôi là chị Nguyễn Thị.

Bà D không công nhận chị Nguyễn Thị N là con nuôi của mình và ông Chính, mặc dù N là con gái của bà Tấn Ngoài ra, vào năm 1999, bà D đã nhận anh Nguyễn Văn E, con trai của ông Bình (em rể bà D), làm con nuôi.

Năm 1945, cụ Đàm qua đời mà không để lại di chúc Đến năm 1994, cụ Sen lập di chúc, trong đó chỉ định hai con gái là Tấn và Nhẫn thừa kế 538m² đất, cùng với việc bà D cũng được thừa kế 538m² Sau khi cụ Sen qua đời vào ngày 25/6/2007, đã xảy ra tranh chấp giữa bà Tấn, các con của bà Nhẫn và bà D.

Đất tranh chấp có nguồn gốc từ bố mẹ đẻ của cụ Đàm Theo sổ mục kê và bản đồ 299, cụ Sen là người đứng tên sở hữu 1076m2 đất, bao gồm đất thổ cư và đất vườn.

22 Ths Nguyễn Thành Minh Chánh - Trần Quốc Khiết, Thừa kế thế vị có yếu tố con nuôi, con riêng,

Cụ Sen đã nộp đơn xin xác nhận quyền sở hữu nhà và đất, kèm theo di chúc năm 1994, trong đó ghi rõ nguồn gốc đất là "của cha ông để lại từ trước năm 1945" Bà Nguyễn Thị Dũng, con cụ Giảng, xác nhận đất thuộc về bố mẹ cụ Đàm Ông Phạm Văn Vinh, cháu ruột cụ Sen, khẳng định nguồn gốc đất là của các cụ để lại cho cụ Đàm, và cụ Sen đã kết hôn với cụ Đàm và sống trên đất này Tổng di sản được xác định là 1136,8m² Tại phiên tòa, đại diện các bên liên quan cho biết từ năm 2000, cụ Sen bị ốm, không thể tự đi lại Ông Vinh cũng cho biết sức khỏe cụ Sen yếu và trí óc không còn minh mẫn khoảng 10 năm trước khi mất, phù hợp với lời khai của nguyên đơn và những người có quyền lợi liên quan.

Toà án nhận định rằng di chúc năm 1994 đã được lập thành văn bản và có chứng thực từ Phòng công chứng nhà nước số 2 Tuy nhiên, vị trí và tài sản được đề cập trong di chúc hiện không còn tồn tại, đồng thời nội dung di chúc cũng không rõ ràng.

Bản di chúc ngày 01/9/2004 của cụ Sen được lập thành văn bản, có chữ ký của hai người làm chứng là ông Thuật và ông Minh, cùng với xác nhận của trưởng thôn và cán bộ địa chính phường Lam Sơn Mặc dù di chúc ghi tên con gái của cụ Sen là Nguyễn Thị Quỳ, nhưng cụ Sen không có con nào tên Quỳ Bà D cho biết cụ Sen nhờ cháu viết di chúc nhưng không biết ai là người viết Ông Thuật xác nhận không chứng kiến việc lập di chúc và không biết ai đã viết, trong khi ông Minh khẳng định di chúc được lập tại UBND phường Lam Sơn với sự chứng kiến của ông và các cán bộ khác Bà Hải xác nhận cụ Sen và bà D đã mang di chúc đến UBND phường để xin xác nhận, và di chúc đã có chữ ký của các nhân chứng Ông Nguyễn Đức Tuyến cho biết di chúc đã được đọc lại cho cụ Sen nghe và cụ đã điểm chỉ vào di chúc trước mặt mọi người Nội dung di chúc xác định toàn bộ quyền sử dụng diện tích đất 1.168m² là tài sản chung của cụ Đàm và cụ Sen, và cụ Sen đã lập di chúc để định đoạt toàn bộ di sản.

Ngoài 2 bản di chúc trên, ngày 20/05/2001 cụ Sen còn có biên bản bàn giao tài sản nhưng biên bản bàn giao tài sản ngày 20/5/2001 không biết do ai viết, không tuân thủ quy định của pháp luật về di chúc có người làm chứng nên không có giá trị.

Toà án đã xác định rằng các di chúc liên quan là không hợp pháp Tổng khối tài sản chung của cụ Đàm và cụ Sen là 1.136,8m2 Bà D đã có công trong việc trông nom và tôn tạo tài sản, do đó được trích công sức tương ứng với 500m2 đất Như vậy, di sản còn lại của cụ Đàm và cụ Sen là 636,8m2 đất.

Tòa án xác định ông Chính và bà D đã nhận chị Nguyễn Thị N, con của bà Tấn, làm con nuôi, mặc dù không có văn bản chính thức do thời điểm đó Luật chưa yêu cầu Dựa vào hồ sơ quân nhân của ông Chính, giấy báo tử của ông, cùng lời khai của chị N, vợ chồng bà Dùng, ông Thuật (cô ruột của ông Chính) và các nguyên đơn, Tòa án khẳng định rằng chị N đã được nhận làm con nuôi khi ông Chính nhập ngũ và sống với bà D cho đến khi kết hôn Do đó, Tòa án công nhận chị N là con nuôi hợp pháp của ông Chính và bà D.

Cụ Đàm để lại di sản gồm 318,4m2 đất, và hàng thừa kế thứ nhất của cụ bao gồm 5 người: Cụ Sen, bà Tấn, ông Bút, bà Nhẫn, và ông Chính.

Di sản của cụ Sen được chia cho bà Nhẫn, con ông Chính và các con bà Tấn, mỗi người nhận 1/3 di sản, tương đương với 155.66m² Các con của bà Tấn bao gồm anh K, chị T, chị V và anh.

G, chị N, chị Nh, anh B sẽ thế vị cho mẹ Các con bà Nhẫn sẽ thế vị cho mẹ Chị N (con nuôi ông Chính) được hưởng: 1/3 di sản của cụ Sen (được thừa kế thế vị).” 23

2.1.1 Quan điểm của các cấp Tòa án xét xử vụ việc

Tòa án xác định tài sản chung của cụ Đàm và cụ Sen là 1136,8 m² đất Mặc dù cụ Sen để lại hai di chúc trước khi qua đời, nhưng cả hai đều không hợp pháp và không được công nhận Tòa án công nhận chị N là con nuôi hợp pháp của ông Chính và bà D, do đó chị N sẽ được hưởng quyền thừa kế Tuy nhiên, anh E không được công nhận là con nuôi hợp pháp Bà D sẽ nhận một phần di sản vì đã có công tôn tạo và giữ gìn tài sản Phần di sản còn lại sẽ được chia theo quy định của pháp luật.

2.1.2 Quan điểm của nhóm nghiên cứu về tranh chấp

Thứ nhất là nhóm sẽ xác định di sản người quá cố để lại như sau:

Quá trình thu thập tài liệu về nguồn gốc thửa đất tranh chấp 1076m2 cho thấy không có tài liệu nào xác định nguồn gốc trước năm 1983 Ủy ban nhân dân phường Lam Sơn xác định đất bà Phạm Thị D đang quản lý là của bố mẹ đẻ cụ Đàm để lại Các đương sự đều khai rằng đất thuộc về bố mẹ cụ Đàm, và cụ Sen đã kết hôn với cụ Đàm và sống trên đất Mặc dù cụ Đàm không để lại di chúc, sổ mục kê và bản đồ 299 ghi nhận cụ Sen là người đứng tên thửa đất 1076m2 Nhóm nghiên cứu nhận thấy có mâu thuẫn trong lời khai, nhưng việc xác định tài sản chung hay riêng cần dựa vào pháp luật có hiệu lực tại thời điểm tạo lập tài sản Tài sản riêng của vợ chồng được quy định lần đầu tiên tại Việt Nam vào năm 1986 theo Luật Hôn nhân và Gia đình, trong khi trước năm 1945, chế độ cũ và bộ dân luật Bắc Kỳ (1931) điều chỉnh hôn nhân của ông Đàm và bà Sen.

Vấn đề thừa kế thế vị liên quan đến yếu tố con riêng

Theo bản án số 126/2018/DS-PT ngày 10/7/2018 của TAND tỉnh Tây Ninh, vụ tranh chấp thừa kế tài sản giữa các nguyên đơn là ông Trần Văn M, ông Trần Văn L, ông Trần Văn H, bà Trần Kim N và bị đơn Nguyễn Kim T liên quan đến di sản của cụ Trần Văn S (mất năm 2008) và cụ Trần Thị E (mất năm 2005) Cặp đôi này có bốn người con chung, bao gồm ông Trần Văn M, ông Trần Văn L, ông Trần Văn Đ và bà Trần Kim N, cùng với bà NLQ1, con riêng của cụ Trần Thị E, người đã được cụ Trần Văn S chăm sóc từ nhỏ Vấn đề đặt ra là liệu có tồn tại "quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế" theo Điều 654 BLDS hay không, khi mà theo Điều 79 Luật Hôn nhân và gia đình, bố dượng, mẹ kế có thể được xác định là người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất nếu họ đã chăm sóc và nuôi dưỡng con riêng như con của mình.

Công nhận việc nuôi con nuôi thực tế là một vấn đề quan trọng trong pháp luật, liên quan đến quyền thừa kế của người thừa kế hàng thứ nhất từ bố dượng và mẹ kế khi họ qua đời Tuy nhiên, trong trường hợp bà NLQ1 bị tâm thần và không thể chăm sóc cho cụ Trần Văn S, quyền và nghĩa vụ của bố dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc chồng chỉ phát sinh từ một bên.

2.2.1 Quan điểm của các cấp Tòa án xét xử vụ việc

Tòa án quyết định rằng di sản của cụ E để lại sẽ được chia thừa kế theo pháp luật cho các thừa kế hợp pháp, bao gồm cụ S, ông M, ông L, ông H, bà N, bà NLQ1 và các con của ông Đ (thừa kế thế vị), với mỗi phần trị giá 1.618.886.905 đồng.

Di sản của cụ S được định đoạt trong 3 di chúc theo bản án 144 có giá trị 9.064.535.000 đồng, thấp hơn so với tổng di sản cụ để lại là 12.951.095.236 đồng Do đó, các con của ông Đ sẽ được hưởng di sản theo bản án 144, trừ phần của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là bà NLQ1 (bị tâm thần) Phần di sản chưa được định đoạt sẽ được chia thừa kế theo pháp luật cho các con ruột và con riêng, bao gồm bà NLQ1.

2.2.2 Quan điểm của nhóm nghiên cứu về tranh chấp

Di sản của cụ S và cụ E có tổng giá trị là 22.664.416.663 đồng Trong đó, di sản của cụ E có giá trị bằng tiền là 11.332.208.332 đồng, trong khi di sản của cụ S có giá trị 12.951.095.236 đồng, bao gồm một phần di sản chung và một phần từ cụ E Thêm vào đó, cụ S còn có di sản được định đoạt trong 03 bản di chúc với giá trị 9.064.535.000 đồng.

Mặc dù bà NLQ1 sống chung với cụ S từ nhỏ, quan hệ giữa họ chưa được pháp luật công nhận Theo Điều 79 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, cha dượng và mẹ kế có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con riêng của bên kia, nhưng điều này chỉ áp dụng khi có sự sống chung theo quy định.

Theo Điều 70 và Điều 71 của Luật, quyền và nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng cha dượng, mẹ kế chỉ được pháp luật thừa nhận khi có sự chăm sóc từ cả hai phía Trong trường hợp bà NLQ1 bị bệnh tâm thần, không có khả năng chăm sóc ông S, mối quan hệ này chỉ tồn tại từ phía ông S Hơn nữa, Điều 654 Bộ luật Dân sự 2015 quy định rằng con riêng và bố dượng, mẹ kế có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng như cha con, mẹ con sẽ được thừa kế di sản của nhau, theo các quy định tại Điều 652 và Điều 653.

Vì vậy theo luật, bà NLQ1 không được hưởng di sản của bố dượng vì không có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng ông S.

Nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng Điều 654 Bộ luật Dân sự 2015 không quy định rõ tiêu chuẩn đánh giá mối quan hệ giữa con riêng và cha dượng, mẹ kế, đặc biệt về thời gian nuôi dưỡng và chăm sóc lẫn nhau Câu hỏi đặt ra là liệu hành vi chăm sóc từ một phía hay cả hai phía có đủ để phát sinh quan hệ thừa kế hay không Nếu chỉ một bên thể hiện sự chăm sóc nhưng tình cảm giữa họ như cha con, mẹ con, liệu họ có được thừa kế theo pháp luật không? Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra rằng giữa ông S và bà NLQ1 có mối quan hệ chăm sóc tương tự như cha mẹ đẻ và con đẻ theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

Theo Điều 69 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, ông S đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con là bà NLQ1, bao gồm việc trông nom, nuôi dưỡng và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự Bà NLQ1 cũng có quyền sống chung với cha mẹ và được chăm sóc theo quy định tại khoản 3, Điều 70 Hơn nữa, khoản 1, Điều 71 nhấn mạnh rằng cha mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau trong việc chăm sóc con cái.

Bài viết này đề cập đến quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế, nhấn mạnh quyền và nghĩa vụ của cha dượng, mẹ kế trong việc nuôi dưỡng con riêng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 Cụ thể, Điều 79 quy định rằng cha dượng, mẹ kế có trách nhiệm chăm sóc và giáo dục con riêng của bên kia Trong trường hợp của bà NLQ1, người đã sống chung và được chăm sóc bởi bà E và ông S, chị Y (con đẻ của bà NLQ1) có quyền thừa kế di sản theo Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015, mặc dù điều này không phân biệt giữa con ruột và con nuôi.

Trong các văn bản luật tại Việt Nam, chưa có quy định rõ ràng về việc con của con nuôi hoặc con riêng có được thừa kế thế vị hay không Pháp luật chỉ đề cập đến mối quan hệ giữa cha dượng, mẹ kế và con riêng, mà không xem xét mối quan hệ giữa ông/bà và cháu/chắt Theo Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015, khi ông/bà gọi “cháu” hay “chắt”, có thể hiểu rằng họ có quan hệ huyết thống Tuy nhiên, trong hàng thừa kế thứ nhất, chỉ có con đẻ và con nuôi được liệt kê, không có sự xuất hiện của con riêng, dẫn đến việc không có khả năng thừa kế thế vị, mặc dù giữa họ có mối quan hệ nuôi dưỡng và chăm sóc.

Bốn là, giả sử nếu trường hợp bà NLQ1 chết trước các cụ Trần Văn S và cụ Trần Thị

E, thì con ruột bà NLQ1 là chị Lâm Ngọc Y vẫn được thừa kế thế vị để hưởng di sản của cụTrần Văn S và cụ Trần Thị E – theo quan điểm của nhóm nghiên cứu Vì ở trường hợp bàNLQ1 với cụ S có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng giữa cha và con, suy ra khi bà NLQ1 mất trước cụ S và cụ E thì chị Y được thừa kế thế vị.

Bất cập và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành

Nhóm nghiên cứu đã rút ra hai bất cập trong quy định pháp luật hiện hành liên quan đến thừa kế thế vị từ nội dung của Chương I và Chương II.

Sở Tư pháp tỉnh Thừa Thiên Huế đã đưa ra thông tin về việc thừa kế thế vị, trong đó có yếu tố liên quan đến "con nuôi" và "con riêng" Thông tin chi tiết có thể được tìm thấy trên trang web chính thức của Sở Tư pháp tại địa chỉ [stp.thuathienhue.gov.vn](https://stp.thuathienhue.gov.vn/?gd%&cn=1&id&tcq38), truy cập ngày 15/03/2023.

2.3.1 Về vấn đề thừa kế thế vị liên quan đến yếu tố con nuôi

Vấn đề thừa kế thế vị cho con nuôi của người để lại di sản đã gây tranh cãi lâu nay, đặc biệt khi Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định "cháu" mà không phân biệt giữa con ruột và con nuôi Điều này dẫn đến sự hoang mang trong việc áp dụng pháp luật và thiếu tính thống nhất trong các bản án Nhóm nghiên cứu cho rằng cần điều chỉnh điều luật để con đẻ của cả con ruột và con nuôi được hưởng thừa kế thế vị, trong khi con nuôi của con nuôi cần xem xét kỹ lưỡng Nếu có sự kết hợp giữa huyết thống và nuôi dưỡng, cần xác định rõ quyền thừa kế: (1) nếu đời thứ nhất nuôi dưỡng đời thứ hai, nhưng đời thứ hai huyết thống với đời thứ ba, thì được thừa kế; (2) nếu đời thứ nhất huyết thống với đời thứ hai, nhưng đời thứ hai nuôi dưỡng đời thứ ba, thì chỉ được thừa kế nếu được coi như cháu ruột Việc con đẻ của con đẻ được thừa kế thế vị là hiển nhiên và cũng nên áp dụng cho con đẻ của con nuôi, như đã quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Luật Nuôi con nuôi 2010, nhằm bảo vệ quyền lợi của con nuôi và con ruột một cách bình đẳng.

Việc thừa kế thế vị có yếu tố con nuôi và con riêng đang trở thành một vấn đề quan trọng trong pháp luật Theo nghiên cứu, con nuôi của người để lại di sản không tự động trở thành cháu nuôi của người khác, nhưng nếu người để lại di sản yêu thương và chăm sóc cháu như cháu ruột, thì "cháu nuôi" nên được hưởng thừa kế thế vị Điều này cũng áp dụng cho con đẻ và con nuôi của con riêng Nếu thay đổi này được chấp nhận, nó sẽ ảnh hưởng đến quá trình xét xử trong các phiên tòa phân chia di sản, yêu cầu thu thập thêm chứng cứ từ hàng xóm và gia đình để xác thực mối quan hệ yêu thương giữa "cháu nuôi" và ông bà để lại di sản.

2.3.2 Về vấn đề thừa kế thế vị liên quan đến yếu tố con riêng

Bản án số 126/2018/DS-PT ngày 10/7/2018 của TAND tỉnh Tây Ninh đã chỉ ra những bất cập trong quy định về thừa kế tài sản theo Điều 654 Bộ luật Dân sự 2015, đặc biệt là khái niệm “có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con” Cụ thể, cụm từ “như nhau” yêu cầu có sự qua lại trong mối quan hệ để được thừa kế, nhưng trong trường hợp của cụ S và bà NLQ1, mối quan hệ giữa họ đã phát triển thành như cha con Nếu tòa án áp dụng Điều 654 mà không công nhận mối quan hệ này, bà NLQ1 sẽ không được thừa kế di sản của cụ S, gây thiệt thòi cho bà, người đã được coi như con ruột, và khi bà mất, con đẻ của bà cũng sẽ không nhận được di sản của ông S.

Nhóm nghiên cứu đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật bằng cách bổ sung việc thừa nhận quan hệ thừa kế thế vị con riêng đối với cha dượng, mẹ kế Đồng thời, cần công nhận con riêng thuộc hàng thừa kế thứ nhất khi có mối quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng tương tự như cha, mẹ đẻ và con đẻ từ một hoặc hai phía.

Trong trường hợp một bên mất năng lực hành vi dân sự và bên còn lại vẫn còn năng lực, bên chưa mất có trách nhiệm chăm sóc và nuôi dưỡng bên mất Nếu giữa hai bên hình thành tình cảm như cha mẹ và con cái theo Điều 69, Điều 70 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, thì họ có quyền thừa kế di sản của nhau theo quy định tại Điều 652 và 653 của Bộ luật Dân sự 2015.

Trong trường hợp cả cha dượng, mẹ kế và con riêng đều có năng lực hành vi dân sự, nếu họ chăm sóc và nuôi dưỡng lẫn nhau như cha mẹ đẻ và con đẻ, thì Điều 654 Bộ luật Dân sự 2015 sẽ được áp dụng.

Tại địa chỉ 33 Nguyễn Thành Minh Chánh, Trần Quốc Khiết, bài viết nghiên cứu về vấn đề thừa kế thế vị có yếu tố con nuôi và con riêng Nguồn thông tin được trích dẫn từ Nghiên cứu lập pháp, có thể tham khảo tại [http://www.lapphap.vn/Pages/TinTuc/211427/Thua-ke-the-vi-co-yeu-to-con-nuoi con-rieng.html], truy cập ngày 15/03/2023.

Chế định thừa kế thế vị đóng vai trò quan trọng trong quy phạm pháp luật Việt Nam, giúp tòa án nhân dân các cấp giải quyết hàng ngàn vụ tranh chấp thừa kế mỗi năm Tuy nhiên, nhiều vụ án vẫn kéo dài hoặc chưa được xử lý do bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt là các trường hợp liên quan đến con nuôi và con riêng Điều này tạo ra sự cần thiết cấp bách trong việc ban hành quy định rõ ràng về vai trò của con nuôi và con riêng trong thừa kế Nhóm nghiên cứu đã đưa ra kiến nghị về việc xem xét và sửa đổi các quy định pháp luật liên quan đến thừa kế thế vị.

Pháp luật cần công nhận quan hệ thừa kế thế vị giữa con riêng và cha dượng, mẹ kế, đồng thời thừa nhận con riêng thuộc hàng thừa kế thứ nhất nếu điều này hợp tình hợp lý Cần có văn bản pháp luật hướng dẫn cụ thể về cách xác định và chứng minh mối quan hệ nuôi dưỡng giữa con riêng với cha dượng và mẹ kế.

Cần phổ biến quy định về đăng ký con nuôi để bảo vệ quyền lợi cho trẻ em, giải quyết những hiểu lầm không cần thiết Điều này sẽ tạo ra hành lang pháp lý vững chắc cho cả con nuôi và cha mẹ nuôi, đồng thời xây dựng hình ảnh tích cực về con nuôi như một nghĩa tử cao đẹp.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

A VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

1 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật Dân sự năm 2015 (Luật số: 91/2015/QH13)

2 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013

3 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật Lao động (Bộ luật số: 45/2019/QH14) ngày 20 tháng 11 năm 2019, Hà Nội.

4 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật Dân sự (Luật số:

91/2015/QH13) ngày 24 tháng 11 năm 2015, Hà Nội.

5 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Đất đai (Luật số:

45/2013/QH13) ngày 29 tháng 11 năm 2013, Hà Nội.

6 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Nhà ở (Luật số:

65/2014/QH13) ngày 25 tháng 11 năm 2014, Hà Nội.

7 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (Luật số: 68/2006/QH11) ngày 29 tháng 06 năm 2006.

8 Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định 155/2016-NĐ-CP Quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực môi trường, Hà Nội.

9 Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định số 180/2007/NĐ-CP Hướng dẫn chi tiết và quy định một số điều liên quan đến Luật, Hà Nội.

B TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC

1 Bộ Tư pháp – Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa

2 Ths Nguyễn Thành Minh Chánh - Trần Quốc Khiết, Thừa kế thế vị có yếu tố con nuôi, con riêng, [http://www.lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid!1427]

3 Đội Ngũ Luật Sư Công Ty Luật ACC, Thừa kế thế vị áp dụng trong trường hợp nào?

(Cập nhật 2023), [https://accgroup.vn/thua-ke-the-vi-ap-dung-trong-truong-hop-nao/#4- thua-ke-the-vi-ap-dung-trong-truong-hop-nao]

4 ThS Đoàn Thị Ngọc Hải, Thừa kế thế vị theo quy định của pháp luật dân sự,

[https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID$35#:~:text=Th

%E1%BB%ABa%20k%E1%BA%BF%20th%E1%BA%BF%20v%E1%BB%8B%20l

%C3%A0%20m%E1%BB%99t%20ch%E1%BA%BFt%20%C4%91%E1%BB%8Bnh%20c

%E1%BB%A7a%20ph%C3%A1p,%C4%91%E1%BB%83%20cho%20ng

%C6%B0%E1%BB%9Di%20kh%C3%A1c%20h%C6%B0%E1%BB%9Fng.]

5 Nguyễn Văn Hoàng, Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế,

[https://phaptri.vn/quan-he-thua-ke-giua-con-rieng-va-bo-duong-me-ke/]

6 Lawkey, Thừa kế của những người chết cùng thời điểm xử lý thế nào?,

[https://lawkey.vn/thua-ke-cua-nhung-nguoi-chet-cung-thoi-diem-xu-ly-the-nao]

7 ThS NCS Nguyễn Thế Đức Tâm – Lê Bảo Khanh, Công nhận việc nuôi con nuôi thực tế

- Từ văn bản quy phạm pháp luật đến thực tiễn xét xử,

[https://bachkhoaluat.vn/cam-nang/11882/cong-nhan-viec-nuoi-con-nuoi-thuc-te tu-van- ban-quy-pham-phap-luat-den-thuc-tien-xet-xu]

8 Sở Tư pháp tỉnh Thừa Thiên Huế, Thừa kế thế vị có yếu tố “con nuôi”, “con riêng”, [https://stp.thuathienhue.gov.vn/?gd%&cn=1&id&tcq38]

9 Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng & Trung tâm Từ điển học, tr 972

10 Bản án 18/2018/DS-PT ngày 18/07/2018 về tranh chấp di sản thừa kế,

[https://thuvienphapluat.vn/banan/ban-an/ban-an-182018dspt-ngay-18072018-ve-tranh- chap-di-san-thua-ke-33382]

11 Bản án 126/2018/DS-PT ngày 10/07/2018 về tranh chấp thừa kế tài sản,

[https://thuvienphapluat.vn/banan/ban-an/ban-an-1262018dspt-ngay-10072018-ve-tranh- chap-thua-ke-tai-san-55842]

Ngày đăng: 16/04/2023, 05:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật Dân sự năm 2015 (Luật số: 91/2015/QH13) Khác
2. Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 Khác
3. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật Lao động (Bộ luật số Khác
7. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (Luật số: 68/2006/QH11) ngày 29 tháng 06 năm 2006 Khác
8. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định 155/2016-NĐ-CP Quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực môi trường, Hà Nội Khác
9. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định số 180/2007/NĐ-CP Hướng dẫn chi tiết và quy định một số điều liên quan đến Luật, Hà Nội.B. TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w