I. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết Ngay từ khi còn đang trong quá trình tìm tòi con đường giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã có những nhận thức sâu sắc về vai trò, ý nghĩa của nhà nước pháp quyền đối với việc tổ chức và quản lý xã hội. Người chủ trương sau khi Việt Nam giành được độc lập, chúng ta phải xây dựng một nhà nước kiểu mới Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tính nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân thể hiện ở cả mục đích, nguyên tắc tổ chức lẫn phương thức hoạt động của nhà nước. Nhà nước đó phải được tổ chức một cách hợp hiến, hợp pháp; hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật, thể hiện sự kết hợp giữa đức trị và pháp trị… Nó phải thực sự là công cụ quyền lực của nhân dân lao động; phản ánh, thực hiện và bảo vệ lợi ích của nhân dân. Với nhưng ưu điểm của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã chọn phát triển mô hình nhà nước pháp quyền xã hộ chủ nghĩa của dân do dân và vì dân. Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đảng cộng sản Việt Nam đã vận dụng những tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và tiếp tục phát triển phù hợp với điều kiện đổi mới và hội nhập quốc tế. Quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã thể hiện được những giá trị của nhà nước pháp quyền với những đặc trưng của Việt Nam. Từ đó đem lại sự ổn định và phát triển của đất nước Việt Nam thể hiện qua các thành tự về quản lý xã hội trên đầy đủ các mặt đã được quốc tế công nhận. Song bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế những thách thức cần đổi mới để phù hợp với bối cảnh quốc tế và đảm bảo được những giá trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền. Ngoài ra, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào cũng đang trong quá trình xây dựng mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nên việc tổng kết lý luận và thực tiễn từ Việt Nam đặc biệt là tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là yêu cầu cấp thiết. Là một sinh viên Lào đang học tập tại Việt Nam, em ý thức được đây là trách nhiệm của bản thân mình. Chính vì vậy, em chọn vấn đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý xã hội bằng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” làm tiểu luận kết thúc học phần hệ thống chính trị quản lý xã hội với mong muốn tổng kết lý luận và thực tiễn tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
NỘI DUNG
Một số vấn đề lý luận về tư tưởng Hồ Chí Minh và nhà nước pháp quyền
2.1.1 Khái quát chung về tư tưởng Hồ Chí Minh
Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định: Tư tưởng
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện về Cách mạng Việt Nam, phản ánh sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của đất nước Nó kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Định nghĩa này thể hiện bốn nội dung chủ yếu quan trọng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc, bao quát những vấn đề cốt lõi của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cho đến cách mạng xã hội chủ nghĩa.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự hòa quyện giữa tinh hoa văn hóa dân tộc và trí tuệ của thời đại, với mục tiêu giải phóng dân tộc, giai cấp và con người.
Tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành ngọn cờ dẫn dắt cách mạng Việt Nam suốt hơn 70 năm qua, tiếp tục định hướng cho chúng ta trong việc xây dựng một Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ ba nguồn gốc lý luận chính, theo Đảng Cộng sản Việt Nam, bao gồm Chủ nghĩa Mác - Lênin, các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa của nhân loại Trong đó, Chủ nghĩa Mác - Lênin đóng vai trò quyết định nhất trong việc hình thành tư tưởng này.
Hồ Chí Minh đã được trang bị thế giới quan và phương pháp luận Mác xít, giúp Người có sự chuyển biến chất trong tư tưởng cách mạng Nhờ đó, Người có khả năng hấp thụ và chuyển hóa những giá trị tích cực trong văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại Điều này giúp Hồ Chí Minh nhận định, đánh giá và phân tích nhiều học thuyết, quan điểm khác nhau, đặc biệt là những kinh nghiệm thực tiễn một cách khoa học, từ đó nâng cao trí tuệ và tìm ra con đường cứu nước đúng đắn - con đường cách mạng vô sản.
Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết duy nhất xác định mục tiêu giải phóng triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức khỏi nô dịch, bóc lột, đói nghèo và tha hoá Học thuyết này chỉ ra giai cấp công nhân và nhân dân lao động là lực lượng cách mạng, mang lại niềm tin vào khả năng và sức mạnh của chính họ Bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin thể hiện ở tính mở, không cứng nhắc, luôn đòi hỏi sự bổ sung, tự đổi mới và phát triển trong dòng chảy trí tuệ của nhân loại.
Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh
Theo Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm 9 nội dung cơ bản.
Một là, tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Hai là, tư tưởng về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Ba là, tư tưởng về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân.
Bốn là, tư tưởng về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
Tư tưởng về việc chăm lo và bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho tương lai là rất quan trọng Đồng thời, việc giải phóng dân tộc, giai cấp và con người cũng là những nguyên tắc cốt lõi trong tư tưởng này.
Bảy là, tư tưởng về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.
Tám là, tư tưởng về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Chín là tư tưởng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, trong đó cán bộ và đảng viên không chỉ là người lãnh đạo mà còn là những người đầy tớ trung thành của nhân dân.
Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần quý giá của Đảng và dân tộc Việt Nam, dẫn dắt sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi Tài sản tinh thần, mặc dù khó nhận diện cụ thể, lại có khả năng gắn kết cộng đồng và tâm thức dân tộc Trong khi tài sản vật chất có thể mất đi, tài sản tinh thần luôn bền vững, góp phần xây dựng truyền thống văn hóa và hệ thống giá trị chuẩn mực của xã hội, đồng thời định hướng giá trị cho tương lai.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng lý luận quan trọng, định hướng cho Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc xây dựng đường lối đúng đắn và tổ chức lực lượng cách mạng Tư tưởng này đã dẫn dắt nhân dân Việt Nam từ thắng lợi này đến thắng lợi khác trong toàn bộ tiến trình cách mạng, đặc biệt là thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945.
Năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, đánh dấu thắng lợi trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ, dẫn đến thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định rằng tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng Những tư tưởng này đã góp phần vào thành công của công cuộc đổi mới và sẽ tiếp tục dẫn dắt chúng ta trong việc xây dựng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với mục tiêu “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”, đồng thời chỉ đường cho Đảng và nhân dân trong việc thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Sự hình thành và phát triển của nhà nước pháp quyền
Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền gắn liền với phát triển dân chủ đã xuất hiện từ thời cổ đại, được thể hiện qua quan điểm của các nhà tư tưởng như Xôcrat, Arixtốt và Xixêrôn Những tư tưởng này đã được các nhà tư tưởng chính trị và pháp lý sau này như John Locke, Montesquieu, J.J.Rút-xô, I.Kant và Hêghen phát triển thành một thế giới quan pháp lý mới.
Nhiều nhà lý luận và tư tưởng vĩ đại, bao gồm Tômát Jepphecxơn (1743 - 1826), tác giả của Tuyên ngôn độc lập, đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển tư tưởng về Nhà nước pháp quyền.
Mỹ năm 1776), Tômát Pên (1737 - 1809), Jôn A đam (1735 - 1826)…
Những đặc trưng của nhà nước pháp quyền
Thứ nhất, nhà nước pháp quyền là biểu hiện tập trung của chế độ dân chủ.
Thứ hai, nhà nước pháp quyền được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Thứ ba, nhà nước pháp quyền tôn trọng, đề cao và đảm bảo quyền con người trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội.
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
cơ bản của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.2.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Năm 1994, thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền” lần đầu tiên được Đảng ta sử dụng trong văn kiện của Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khoá VII, nêu rõ quan điểm và nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam Nhiệm vụ được xác định là “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, với mục tiêu tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, quản lý xã hội bằng pháp luật và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Những quan điểm này đã đặt nền tảng lý luận cho việc triển khai các giải pháp đổi mới và hoàn thiện bộ máy nhà nước trong các giai đoạn phát triển tiếp theo.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đã nhấn mạnh việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân và xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, đồng thời phát triển hệ thống quan điểm về Nhà nước pháp quyền XHCN Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) khẳng định Nhà nước của dân, do dân và vì dân, đồng thời mở rộng dân chủ như cơ sở chính trị - xã hội của nhà nước pháp quyền Tại Đại hội X (2006), Đảng nhấn mạnh cần xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân Đại hội XI (2011) tiếp tục khẳng định quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Cuối cùng, Đại hội XII (2016) xác định xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị, nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, đồng thời xác định rõ cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước.
2.2.2 Những đặc trưng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một thể chế do nhân dân thành lập, phục vụ lợi ích của nhân dân, và thể hiện quyền làm chủ của họ.
Hồ Chí Minh khẳng định rằng “Nước ta là một nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân vì dân là chủ” và “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là chủ” Ông coi nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, với toàn bộ quyền lực bắt nguồn từ nhân dân và được ủy quyền cho bộ máy nhà nước thực hiện nhằm phục vụ lợi ích của họ Bộ máy nhà nước được thiết lập để thực hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân, với đội ngũ cán bộ, công chức là công bộc của nhân dân Nhà nước được hình thành qua chế độ bầu cử dân chủ, đảm bảo tính chính đáng khi tiếp nhận quyền lực từ nhân dân.
Tư tưởng về một nhà nước của dân, do dân, vì dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp 1946, với mục tiêu xây dựng một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân Đặc điểm này tiếp tục được khẳng định trong các bản Hiến pháp 1959, 1980 và 1992.
Thứ hai, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp
Trong Nhà nước pháp quyền, Hiến pháp là Đạo luật cơ bản, thể hiện ý chí và sự lựa chọn chính trị của nhân dân một cách tập trung và đầy đủ Hiến pháp có hiệu lực pháp lý cao nhất, quy định các chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, cùng với quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Sự hiện diện của Hiến pháp là điều kiện quan trọng để đảm bảo sự ổn định xã hội và an toàn cho người dân.
Hiến pháp cung cấp cơ sở pháp lý quan trọng cho việc duy trì quyền lực nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân Đây là nền tảng hiến định để đánh giá tính hợp hiến của các đạo luật và quyết sách của Nhà nước, cũng như các yếu tố chính trị và xã hội liên quan.
Hiến pháp đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lực của nhân dân, do đó, cần thiết phải xây dựng và thực hiện một cơ chế hiệu quả để phát hiện, đánh giá và xử lý các quy định và hoạt động vi phạm Hiến pháp trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước hiện nay.
Thứ ba, nhà nước pháp quyền Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo đảm vị trí tối thượng của pháp luật trong đời sống xã hội
Pháp luật xã hội chủ nghĩa của Việt Nam là kết quả của việc thể chế hóa đường lối và chính sách của Đảng Cộng sản, bao gồm các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, và quan hệ đối ngoại Pháp luật không chỉ phản ánh ý chí và nguyện vọng của nhân dân mà còn phù hợp với thực tiễn khách quan, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội Do đó, trong bối cảnh Nhà nước pháp quyền, pháp luật cần được hiểu là tính pháp luật khách quan của các quy định, chứ không chỉ là nhu cầu áp dụng và tuân thủ pháp luật một cách chung chung.
Pháp luật của Nhà nước ta thể hiện đường lối và chính sách của Đảng, đồng thời bảo vệ lợi ích của nhân dân Do đó, pháp luật đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của Nhà nước và là thước đo giá trị xã hội, bao gồm công bằng, dân chủ và bình đẳng Những yếu tố này là cần thiết cho sự phát triển bền vững và tiến bộ của xã hội.
Nhà nước pháp quyền yêu cầu xây dựng một hệ thống pháp luật đầy đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội, tạo nền tảng cho trật tự pháp luật và kỷ luật Pháp luật không chỉ phản ánh nhu cầu quản lý xã hội mà còn là hình thức tồn tại của các tổ chức và cơ cấu xã hội cũng như các thiết chế Nhà nước Do đó, việc sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật là cách sống có trật tự và lành mạnh nhất trong xã hội Mọi cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân đều phải tuân thủ nghiêm ngặt Hiến pháp và pháp luật.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cam kết tôn trọng và bảo vệ quyền con người, cũng như các quyền và tự do của công dân Điều này giúp duy trì mối liên hệ chặt chẽ giữa Nhà nước với công dân và giữa Nhà nước với xã hội.
Ngọn cờ bảo vệ quyền con người thuộc về các Nhà nước cách mạng chân chính, đặc biệt là nhà nước xã hội chủ nghĩa Cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam trong hơn bảy mươi năm vì độc lập và tự do chính là vì quyền con người, quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc Đảng ta luôn quan tâm đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân và mở rộng quyền dân chủ Nhiều Hội nghị Trung ương Đảng đã đề cập đến vấn đề này, như văn kiện đại hội Đảng VI, VII, VIII, IX, X và các Nghị quyết trung ương khác Văn kiện Đại hội Đảng VI nhấn mạnh xây dựng chính quyền không có đặc quyền, hoạt động vì lợi ích nhân dân Nghị quyết trung ương 8 khóa VII khẳng định dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của Nhà nước ta, phát huy quyền làm chủ của nhân dân Đại hội Đảng IX xác định phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong các chính sách lớn Đảng và Nhà nước tiếp tục đổi mới phong cách, bảo đảm dân chủ trong quá trình ra quyết định và thực hiện các quyết định.
Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước được tổ chức thống nhất, với sự phân công và phối hợp kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước Điều này đảm bảo việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, đồng thời có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước.
Bắt đầu từ Đại hội Đảng VII (1991), quan điểm về ba quyền và sự phân công, phối hợp giữa các quyền lực nhà nước đã được khẳng định, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước Tại Hội nghị Trung ương VIII (1995), Đảng đã bổ sung quan niệm về quyền lực nhà nước là thống nhất, với sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Nghị quyết Đại hội XI và Cương lĩnh xây dựng đất nước (2011) tiếp tục nhấn mạnh kiểm soát quyền lực trong tổ chức quyền lực nhà nước Nguyên tắc thống nhất quyền lực nhà nước, với sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện ba quyền, đã được hoàn thiện, tạo nền tảng cho mô hình tổ chức Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.
Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý xã hội bằng nhà nước pháp quyền
2.3.1 Nhà nước pháp quyền phải là nhà nước dân chủ, nhà nước của dân, do dân, vì dân
Nhà nước Việt Nam, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là công cụ phục vụ nhân dân, với bản chất dân chủ rõ ràng: "Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân." Quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân, và Điều 1 Hiến pháp 1946 khẳng định rằng "tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam." Bộ máy nhà nước được nhân dân lựa chọn và ủy quyền để thực hiện ý chí của họ Khác với chế độ phong kiến, nhà nước hiện nay là của dân, do dân, và cán bộ, công chức là công bộc của nhân dân Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng các cơ quan Chính phủ là để phục vụ dân, không phải để áp bức dân Người dân có quyền hưởng mọi quyền dân chủ và nghĩa vụ tuân theo pháp luật.
Trong khi khẳng định vai trò chủ thể của nhân dân đối với Nhà nước,
Hồ Chí Minh luôn trăn trở về việc làm cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ và dám sử dụng quyền của mình Ông nhấn mạnh rằng Nhà nước cần hình thành các thiết chế dân chủ để thực thi quyền làm chủ của người dân, đồng thời yêu cầu đội ngũ cán bộ, công chức phục vụ nhân dân với tinh thần cần, kiệm, liêm, chính Để bảo đảm tính chính đáng của chính quyền, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến tổ chức Tổng tuyển cử, giúp nhân dân trực tiếp bầu ra các đại biểu xứng đáng Ông cho rằng Tổng tuyển cử là cơ hội để toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, thể hiện dân chủ và đoàn kết Điều 32 của Hiến pháp 1946 quy định rằng những vấn đề liên quan đến vận mệnh quốc gia sẽ được đưa ra nhân dân phúc quyết, thể hiện hình thức dân chủ trực tiếp mà Hồ Chí Minh đã nhận thức và đề ra từ sớm.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhà nước phải là của dân, do dân, không chỉ được thành lập qua bầu cử dân chủ mà còn phải chịu sự giám sát và kiểm tra của nhân dân Nhân dân có quyền phê bình, xây dựng và giúp đỡ nhà nước, đồng thời có quyền yêu cầu sửa chữa những quyết định không hợp lý Chế độ dân chủ mà Hồ Chí Minh đề ra khẳng định nhân dân là chủ, còn chính phủ là đày tớ phục vụ lợi ích của nhân dân Nhân dân có trách nhiệm hỗ trợ chính phủ thực hiện đúng chính sách để hoàn thành nhiệm vụ được giao Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, được thực hiện thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân, với quyền bãi miễn đại biểu không xứng đáng Các cơ quan nhà nước phải lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân, và nếu chính phủ làm hại dân, nhân dân có quyền đuổi chính phủ.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng trong nhà nước pháp quyền, nhân dân là nguồn gốc sức mạnh và trí tuệ, giúp Nhà nước hoàn thành nhiệm vụ của mình Ông khẳng định rằng kinh nghiệm từ trong nước và quốc tế cho thấy, có lực lượng dân chúng thì mọi việc, dù khó khăn đến đâu, cũng có thể thực hiện Ngược lại, nếu thiếu sự tham gia của nhân dân, ngay cả những việc nhỏ nhất cũng sẽ không thành công Dân chúng có khả năng giải quyết nhiều vấn đề một cách nhanh chóng và hiệu quả, điều mà những người tài giỏi hay các tổ chức lớn đôi khi không thể làm được.
Nhà nước cần tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, hiểu rõ tâm tư và nguyện vọng của họ Vai trò của Nhà nước không phải là thay thế nhân dân, mà là phục vụ và hỗ trợ họ trong việc giải quyết các vấn đề của chính mình Mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân cần được xây dựng trên sự gần gũi, thấu hiểu và hợp tác.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh tầm quan trọng của mối quan hệ giữa Chính phủ và nhân dân, cho rằng "dân như nước, mình như cá" Ông khẳng định rằng tài năng, sức lực và tài sản của nhân dân cần được sử dụng để phục vụ lợi ích của chính họ, trong khi Chính phủ chỉ đóng vai trò hỗ trợ và khuyến khích Ông cũng chỉ ra rằng Chính phủ không thể tồn tại nếu thiếu sự ủng hộ của nhân dân, và ngược lại, nhân dân cần có sự lãnh đạo từ Chính phủ Do đó, sự đoàn kết giữa Chính phủ và nhân dân là điều cần thiết để tạo thành một khối thống nhất.
2.3.2 Nhà nước pháp quyền phải là một nhà nước tôn trọng pháp luật, được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật
Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ vai trò quan trọng của pháp luật trong quản lý xã hội qua kinh nghiệm tiếp xúc với nền văn minh Âu - Mỹ Năm 1919, trong bản Yêu sách gửi Hội nghị Véc-xây, Người yêu cầu thực dân Pháp cải cách nền pháp lý ở Đông Dương, bãi bỏ chế độ cai trị bằng sắc lệnh và thay thế bằng các đạo luật Bản Yêu sách này đã được chuyển thành “Việt Nam yêu cầu ca”, nhấn mạnh sự cần thiết phải có Hiến pháp và khẳng định vai trò của nhà nước trong việc quản lý xã hội bằng pháp luật, thể hiện tư tưởng về một nhà nước dân chủ mới, tôn trọng pháp luật.
Theo tinh thần “thượng tôn luật pháp”, Nhà nước Việt Nam phải được tổ chức và hoạt động một cách hợp Hiến và hợp pháp Ngay sau khi giành được độc lập, Tuyên ngôn khai sinh ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã khẳng định điều này.
Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng một Hiến pháp dân chủ và đề xuất tổ chức Tổng tuyển cử sớm Chỉ trong thời gian ngắn, ông đã thành công trong việc tổ chức cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội và khẩn trương xây dựng Hiến pháp 1946, tạo nền tảng cho nhà nước pháp quyền tại Việt Nam Trong vai trò Chủ tịch nước từ năm 1945 đến 1969, Hồ Chí Minh không chỉ là nhà lập pháp mà còn là nhà hành pháp quan trọng, dẫn dắt Ủy ban soạn thảo Hiến pháp 1946 và 1959, ký 16 đạo luật, 613 Sắc lệnh và nhiều văn bản dưới luật, trong đó có 243 Sắc lệnh liên quan đến tổ chức nhà nước, góp phần hình thành một thể chế nhà nước với các yếu tố cơ bản của nhà nước pháp quyền.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng Nhà nước ta là của dân, với pháp luật dân chủ bảo vệ quyền lợi nhân dân, đồng thời phải nghiêm minh và hiệu quả Ông kêu gọi tăng cường chính quyền nhân dân, thực hiện dân chủ và nghiêm khắc với kẻ thù, đồng thời yêu cầu pháp luật trừng trị nghiêm khắc những kẻ vi phạm Người khuyến khích nhân dân giám sát Chính phủ và nhắc nhở cán bộ phải gương mẫu tuân thủ pháp luật Để xây dựng một nhà nước pháp quyền mạnh mẽ, Hồ Chí Minh chú trọng đến việc đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ, am hiểu pháp luật và có đạo đức Ông đã ký các sắc lệnh thành lập Khoa Pháp lý học và quy chế công chức, nhấn mạnh việc thi tuyển và xây dựng tiêu chuẩn cho cán bộ Bên cạnh đó, Người cũng quan tâm đến việc đưa pháp luật vào đời sống, giáo dục pháp luật cho nhân dân để nâng cao dân trí và khuyến khích sự tham gia của công dân Đối với cán bộ và cơ quan nhà nước, Người yêu cầu tuyên truyền và thi hành Hiến pháp và pháp luật một cách gương mẫu.
2.3.3 Nhà nước pháp quyền kiểu mới, của dân, do dân, vì dân phải là Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hiệu quả
Chủ tịch Hồ Chí Minh, với vai trò là người đứng đầu Nhà nước, luôn trăn trở về việc xây dựng một nhà nước pháp quyền kiểu mới, trong sạch và vững mạnh Ông tìm kiếm các giải pháp hiệu quả nhằm khắc phục những vấn đề cố hữu của các nhà nước kiểu cũ, đặc biệt chú trọng đến hai nội dung cơ bản trong quá trình cải cách.
Để xây dựng một Nhà nước trong sạch và vững mạnh, cần kết hợp chặt chẽ giữa “đức trị” và “pháp trị” Việc giáo dục và nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, công chức, đảng viên là rất quan trọng, đồng thời phải nghiêm trị những hành vi vi phạm pháp luật và thoái hóa đạo đức Các cơ quan nhà nước cần gần gũi với nhân dân, lắng nghe ý kiến và nguyện vọng của họ, đồng thời thực hiện công việc với sự công bằng, liêm chính và trách nhiệm.
Hồ Chí Minh thể hiện sự kiên quyết trong việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, không phân biệt chức vụ của người phạm tội Vào ngày 27-11-1945, ông đã ký Sắc lệnh quy định hình phạt cho tội đưa và nhận hối lộ Tiếp đó, vào ngày 26-01-1946, ông ký “Quốc lệnh” quy định tội tham ô và trộm cắp tài sản công sẽ bị xử án tử hình.
Năm 1946, Hồ Chủ tịch nhấn mạnh rằng chính phủ phải làm gương và sẽ sử dụng pháp luật để xử lý những kẻ hối lộ, không phân biệt cấp bậc Ông đã bác đơn xin ân xá cho nhiều tội phạm nghiêm trọng, kể cả cán bộ cao cấp Trong vai trò Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh thể hiện sự gương mẫu, kết hợp lý trí và tình cảm, đồng thời giữ vững kỷ cương pháp luật Ông không bao che cho sai phạm, nhưng cũng dùng uy tín của mình để cảm hóa và giáo dục những người mắc lỗi, hướng họ về phía cách mạng và tránh vi phạm pháp luật.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phòng ngừa và khắc phục những tiêu cực trong hoạt động của Nhà nước, đặc biệt là ba loại giặc nội xâm: tham ô, lãng phí và quan liêu Ông cho rằng sức mạnh của Nhà nước phụ thuộc vào việc thi hành pháp luật nghiêm minh và đạo đức của những người cầm quyền Ngay từ khi thành lập Chính phủ, Hồ Chí Minh đã chỉ ra sáu căn bệnh cần đề phòng và khuyến khích việc phê bình, tự phê bình để duy trì sự trong sạch của bộ máy nhà nước Ông cảnh báo rằng tham ô, lãng phí và quan liêu không chỉ làm suy yếu tinh thần và đạo đức cách mạng mà còn là mối đe dọa lớn đối với sự tồn vong của đất nước Cuộc đấu tranh chống giặc nội xâm cần được thực hiện song song với việc chống giặc ngoại xâm, đòi hỏi sự quyết tâm cao và ý thức trách nhiệm từ mỗi cán bộ, công chức.